Phần lớn các nghiên cứu đều đưa ra kết luận FDI có tác động tích cực đến nền kinh tế nước tiếp nhận là có điều kiện, đồng nghĩa với việc, khi bảo đảm những điều kiện nhất định, FDI có va
Trang 1Trường đại học kinh tế quốc dân
Trường đại học kinh tế quốc dân
Trang 2Trường đại học kinh tế quốc dân
Trường đại học kinh tế quốc dân
của việt nam
Chuyên ngành: kinh tế quốc tế Chuyên ngành: kinh tế quốc tế
Mã số: 62310106 Mã số: 62310106
Trang 3Tôi đã đọc và hiểu về các hành vi vi phạm sự trung thực trong học thuật Tôi cam kết bằng danh dự cá nhân rằng nghiên cứu này do tôi tự thực hiện và không vi phạm yêu cầu về sự trung thực trong học thuật Nếu sai, tôi xin chịu mọi trách nhiệm
Hà Nội, ngày tháng năm 2018
Tác giả luận án
Nguyễn Tiến Dũng
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC HÌNH
PHỤ LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu 1
2 Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan và khoảng trống nghiên cứu 3
2.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu nước ngoài 3
2.2 Tổng quan các công trình nghiên cứu trong nước 14
2.3 Khoảng trống nghiên cứu 23
3 Mục tiêu nghiên cứu 26
3.1 Mục tiêu tổng quát 26
3.2 Mục tiêu cụ thể 26
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 27
4.1 Đối tượng nghiên cứu 27
4.2 Phạm vi nghiên cứu 27
5 Câu hỏi nghiên cứu 27
6 Phương pháp và quy trình nghiên cứu 28
6.1 Phương pháp nghiên cứu 28
6.2 Quy trình nghiên cứu 29
7 Những đóng góp mới của Luận án 29
7.1 Những đóng góp mới về mặt học thuật, lý luận 29
7.2 Những đề xuất mới rút ra từ kết quả nghiên cứu 30
8 Kết cấu của Luận án 31
CHƯƠNG 1: 32LÝ THUYẾT VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VỚI MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN KINH TẾ BỀN VỮNG VÀ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ 32
1.1 Lý thuyết về đầu tư trực tiếp nước ngoài 32
1.1.1 Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài 32
1.1.2 Nguyên nhân và các hình thức chủ yếu của đầu tư trực tiếp nước ngoài 34
Trang 51.2 Lý thuyết về mục tiêu phát triển kinh tế bền vững 39
1.2.1 Tăng trưởng và phát triển kinh tế 39
1.2.2 Phát triển bền vững và phát triển kinh tế bền vững 40
1.2.3 Mục tiêu phát triển kinh tế bền vững 43
1.3 Đóng góp của đầu tư trực tiếp nước ngoài vào mục tiêu phát triển kinh tế bền vững 45
1.4 Một số tiêu chí đánh giá tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến mục tiêu phát triển kinh tế bền vững của nước tiếp nhận đầu tư 49
1.4.1 Về nội dung 49
1.4.2 Một số chỉ tiêu cụ thể: 50
1.5 Một số kinh nghiệm quốc tế về FDI với mục tiêu phát triển kinh tế bền vững 52
1.5.1 Kinh nghiệm của Hàn Quốc 53
1.5.2 Kinh nghiệm của Malaixia 56
1.5.3 Kinh nghiệm của Trung Quốc 61
1.6 Một số điều kiện gắn đầu tư trực tiếp nước ngoài với mục tiêu phát triển kinh tế bền vững của nước tiếp nhận 65
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG FDI VỚI MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN KINH TẾ BỀN VỮNG CỦA VIỆT NAM, GIAI ĐOẠN 1988-2017 68
2.1 Mục tiêu phát triển kinh tế bền vững của Việt Nam 68
2.1.1 Mục tiêu phát triển kinh tế giai đoạn 1991-2000 68
2.1.2 Mục tiêu phát triển kinh tế giai đoạn 2001-2010 69
2.1.3 Mục tiêu phát triển kinh tế giai đoạn 2011-2020 70
2.2 Đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam, giai đoạn 1988-2017 72
2.2.1 Đầu tư trực tiếp nước ngoài được cấp phép 73
2.2.2 Tình hình tăng vốn đăng ký 75
2.2.3 Quy mô dự án FDI 78
2.2.4 Cơ cấu vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 79
2.2.5 Tình hình sản xuất kinh doanh của FDI 87
2.2.6 Tác động của FDI tới một số chỉ tiêu kinh tế của Việt Nam 90
2.3 Đầu tư trực tiếp nước ngoài với mục tiêu PTKTBV của Việt Nam 92
2.3.1 Những kết quả đạt được 92
2.3.2 Những hạn chế 97
2.3.3 Nguyên nhân kết quả và hạn chế 109
Trang 6CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP GẮN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VỚI MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN KINH TẾ BỀN VỮNG CỦA
VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2025, TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2035 114
3.1 Cơ hội, thách thức và triển vọng FDI vào Việt Nam 114
3.1.1 Cơ hội FDI vào Việt Nam 114
3.1.2 Những thách thức của FDI tại Việt Nam 117
3.1.3 Triển vọng FDI của Việt Nam đến năm 2025 tầm nhìn 2035 122
3.2 Định hướng thu hút FDI đến năm 2025 124
3.3 Giải pháp gắn FDI với mục tiêu phát triển kinh tế bền vững của Việt Nam đến năm 2025 127
3.3.1 Xây dựng và sớm triển khai Chiến lược thu hút FDI thế hệ mới phù hợp với định hướng, chiến lược và mục tiêu phát triển kinh tế bền vững của Việt Nam 127 3.3.2 Tiếp tục rà soát, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật phù hợp với định hướng và chiến lược phát triển kinh tế bền vững của Việt Nam và Chiến lược thu hút FDI thế hệ mới 128
3.3.3 Sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện và công khai quy hoạch về FDI theo ngành, địa phương và vùng lãnh thổ 130
3.3.4 Tập trung phát triển hạ tầng các đặc khu kinh tế, vùng, địa phương có lợi thế so sánh tạo điều kiện hỗ trợ FDI hoạt động hiệu quả 132
3.3.5 Tiếp tục cải cách thủ tục hành chính, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước 133
3.3.6 Đầu tư phát triển nguồn nhân lực 135
3.3.7 Một số giải pháp khác 137
KẾT LUẬN 141
NHỮNG CÔNG TRÌNH LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN ĐÃ CÔNG BỐ 143
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 144
PHỤ LỤC 157
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
ADB Asian Development Bank Ngân hàng Phát triển Châu Á
APEC Pacific Economic Co-operation Diễn đàn kinh tế Châu Á Thái Bình
Dương ASEAN Association of Southeast Asian
Nations
Hiệp hội các nước Đông Nam Á
ASEM ASEAN European Meeting Diễn đàn hợp tác kinh tế Á - Âu ASEAN Association of Southeast Asian
Nations
Hiệp hội các nước Đông Nam Á
BOT Build - Operate - Transfer Xây dựng - Kinh doanh-Chuyển giao
BTO Build - Transfer - Operate Xây dựng - Chuyển giao - Kinh
doanh CIEM Central Institute of Economic
Management
Viện Nghiên cứu quản lý kinh tếTrung ương
COP 21 Conference of Paris 21 Hội nghị Paris 21 của Liên Hợp
Quốc về biến đổi khí hậu 2015 CPTPP Comprehensive and Progressive
Agreement for Trans-Pacific Partnership
Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến
bộ xuyên Thái Bình Dương
DFID The Department for International
Development
Bộ Phát triển quốc tế Vương quốc Anh
ECO Economic Cooperation Organization Tổ chức Hợp tác kinh tế
FDI Foreign Direct Investment Đầu tư trực tiếp nước ngoài
GDI Gross Domestic Income Thu nhập được quyền chi
Trang 8Chữ viết tắt Nghĩa đầy đủ
GDP Gross Domestic Product Tổng sản phẩm trong nước
GNI Gross National Income Tổng thu nhập quốc dân
ICOR Incremental Capital - Output Ratio Hệ số đầu tư tăng trưởng
INCOTERMS International Commercial Terms Điều kiện thương mại quốc tế
IUCN The International Union for
Conservation of Nature
Hiệp hội bảo tồn thiên nhiên quốc tế
IT Information Technology Công nghệ thông tin
JETRO Japan External Trade Organization Tổ chức Xúc tiến thương mại Nhật Bản
M&A Merger and Acquisition Sáp nhập và mua lại
MNC Multinational Corporation Công ty đa quốc gia
MSC Multi Server Communication Hệ thống truyền thông đa phương
tiện
NICs Newly Industrializing Countries Các nước công nghiệp mới
ODA Offical Development Assistance Hỗ trợ phát triển chính thức
OECD Organisation of Economic
Cooperation and Development
Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế
Trang 9Chữ viết tắt Nghĩa đầy đủ
OLS Ordinary Least Squares Bình phương nhỏ nhất
PCI Provincial Copetition Index Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh PPP Public-Private Partnership Hợp tác Công - Tư
TFP Total Factor Productivity Năng suất nhân tố tổng hợp
TI Transparency International Tổ chức minh bạch quốc tế
TNCs Transnational Corporation Công ty xuyên quốc gia
TPP Trans-Pacific Partnership
Agreement
Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương
UNCED The United Nations Conference on
Environment and Development
Hội nghị thượng đỉnh về Môi trường
và Phát triển của Liên Hợp quốc UNCTAD The United Nations Conference on
Trade and Development
Hội nghị Liên Hợp Quốc về Thương mại và Phát triển
VCCI Vietnam Chamber of Commerce
and Industry
Phòng Công nghiệp và Thương mại Việt Nam
WCED World Commission on
Environment and Development
Hội đồng Thế giới về Môi trường và Phát triển
WTO World Trade Organization Tổ chức Thương mại thế giới
Trang 10DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1: Các khái niệm về FDI 32
Bảng 1.2: Một số chỉ số đánh giá tính bền vững kinh tế của FDI 51
Bảng 1.3: Thu nhập bình quân đầu người theo sức mua tương đương 53
Bảng 1.4: GDP theo giá hiện hành 56
Bảng 1.5: FDI thực tế theo giá hiện hành 62
Bảng 2.1 FDI được cấp giấy phép theo từng giai đoạn 74
Bảng 2.2: Số dự án FDI điều chỉnh vốn đầu tư 76
Bảng 2.3: FDI được cấp phép phân theo vùng 83
Bảng 2.4: Đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam theo hình thức 85
Bảng 2.5: Một số đối tác đầu tư chủ yếu của Việt Nam 86
Bảng 2.6: Tổng sản phẩm trong nước theo giá hiện hành phân theo thành phần kinh tế 88
Bảng 2.7: Tổng sản phẩm trong nước, đầu tư, xuất - nhập khẩu của Việt Nam, giai đoạn 1995-2017 91
Bảng 2.8: Cơ cấu GDP theo giá hiện hành 95
Bảng 2.9: Tỷ trọng đóng góp trong tổng vốn đầu tư và trong GDP theo thành phần kinh tế 97
Bảng 2.10: Tỷ trọng vốn FDI so với GDP 99
Bảng 2.11: Tương quan giữa tỷ lệ đầu tư và tỷ lệ đóng góp vào GDP 100
Bảng 2.12: Hệ số ICOR theo thành phần kinh tế 100
Bảng 2.13: FDI của Hàn Quốc phân theo đối tác tính đến 01/7/2017 102
Bảng 2.14: Cơ cấu doanh nghiệp và lao động ngành chế biến, chế tạo phân theo trình 106
Bảng 2.15: Thu nhập bình quân một tháng của người lao động 108
Trang 11DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1: Tỷ trọng FDI giữa các ngành kinh tế Malaixia giai đoạn 1971-1987 58 Hình 2.1: Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam giai đoạn 1991-2017 75
Hình 2.2: Tình hình tăng vốn đầu tư của các dự án FDI 77
Hình 2.3: Quy mô trung bình một dự án tính theo năm (Triệu USD/dự án) 79
Hình 2.4: Đầu tư trực tiếp nước ngoài phân theo vùng kinh tế tính đến 31/12/2016 84
Hình 2.5: Tỷ trọng FDI theo hình thức đầu tư tính đến 20/12/2017 85
Hình 2.6: Cơ cấu FDI theo đối tác đầu tư tính đến 20/12/2017 87
Hình 2.7: Hệ số ICOR giai đoạn 2011-2015 89
Hình 2.8: GDP theo giá 2010 và FDI thực hiện 93
Hình 2.9: Cơ cấu vốn đầu tư phát triển toàn xã hội 93
Hình 2.10: Cơ cấu GDP theo ngành kinh tế 95
Hình 2.11: Cơ cấu GDP theo thành phần kinh tế năm 2016 98
Hình 2.12: Hệ số ICOR một số quốc gia Đông Nam Châu Á 101
Hình 3.1: Mô hình dự báo FDI thực hiện đến năm 2025 (theo OLS) 123
Hình 3.2: Mô hình dự báo FDI thực hiện đến năm 2025 (theo ARIMA) 124
Trang 12PHỤ LỤC
Phụ lục 1 Đầu tư trực tiếp của nước ngoài được cấp giấy phép 1988 - 2017 157
Phụ lục 2: Đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam theo ngành 158
Phụ lục 3: Vốn đầu tư phát triển toàn xã hội theo giá hiện hành 159
Phụ lục 4: Kết quả dự báo FDI thực hiện 160
Phụ lục 5: Kết quả mô hình hồi quy với các biến GDP-K1-K2-EX1-EX2-IM1-IM2 của Việt Nam giai đoạn 1995-2016 162
Phụ lục 6: Kết quả mô hình hồi quy với các biến GDP-K1-K2 của Việt Nam giai đoạn 1995-2016 163
Phụ lục 7: Kết quả mô hình hồi quy với các biến GDP-K2 của Việt Nam giai đoạn 1995-2016 164
Phụ lục 8: Kết quả mô hình hồi quy với các biến K1-K2 của Việt Nam giai đoạn 1995-2016 165
Phụ lục 9: Kết quả mô hình hồi quy với các biến EX-K2 của Việt Nam giai đoạn 1995-2016 166
Phụ lục 10: Kết quả mô hình hồi quy với các biến IM-K2 của Việt Nam giai đoạn 1995-2016 167
Phụ lục 11: Kết quả tổng hợp dữ liệu điều tra 11.925 doanh nghiệp FDI thời điểm 31/12/2015 169
Phụ lục 12: Kết quả mô hình dự báo FDI 170
Trang 13MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu
Trong quá trình mở cửa, hội nhập, thu hút FDI, phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, bên cạnh kinh tế trong nước, trong nền kinh tế Việt Nam xuất hiện kinh tế
có vốn đầu tư nước ngoài Thực tiễn 30 năm thu hút FDI ở Việt Nam khẳng định FDI
là một khu vực kinh tế quan trọng, đóng góp đáng kể vào tăng trưởng thông qua tăng vốn đầu tư, chuyển dịch cơ cấu, giải quyết việc làm, tiếp nhận công nghệ hiện đại và kinh nghiệm quản lý tiên tiến FDI còn tạo nền tảng chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, mệnh lệnh sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, giảm thiểu các điều chỉnh mang tính phi thị trường nhằm tăng trưởng bền vững nền kinh tế thị trường hay bảo đảm phát triển kinh tế bền vững theo nguyên tắc của nền kinh tế thị trường đầy đủ định hướng XHCN
Tính đến 20/12/2017, có 24.748 dự án FDI còn hiệu lực của các đối tác đầu tư
từ 125 quốc gia và vùng lãnh thổ, với tổng vốn đăng ký đạt gần 319 tỷ USD (kể cả vốn tăng thêm), tổng vốn thực hiện đạt 45,2% vốn đăng ký FDI bổ sung nguồn vốn quan trọng trong tổng vốn đầu tư xã hội (chiếm 22,6% tổng vốn đầu tư toàn xã hội 5 năm 2011-2015, năm 2016 trên 23,4%); gia tăng kim ngạch xuất khẩu (năm 2015 chiếm khoảng 70,5% tổng kim ngạch xuất khẩu, năm 2016 gần 71,6%); góp phần mở rộng thị trường quốc tế, thay đổi cơ cấu mặt hàng xuất khẩu theo hướng tăng tỷ trọng hàng chế biến; đóng góp đáng kể vào thu ngân sách (14,2 tỷ USD trong giai đoạn 2001-
2010, năm 2012 đóng góp 3,7 tỷ USD, năm 2013 - 5 tỷ USD, và năm 2014 - 5,58 tỷ USD, tăng 11,6% so với năm 2013, chiếm 21,25% tổng thu nội địa và chiếm 14,4% tổng thu ngân sách nhà nước); tạo việc làm cho khoảng trên 2,2 triệu lao động trực tiếp
và 4-6 triệu lao động gián tiếp Theo nghiên cứu của WB cứ 1 lao động trực tiếp sẽ tạo việc làm cho từ 2-3 lao động gián tiếp phục vụ trong khu vực dịch vụ và xây dựng
FDI tác động lan tỏa đến các khu vực khác, trong đó có thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế; tạo sức ép cạnh tranh, thúc đẩy đổi mới và chuyển giao công nghệ, nâng cao hiệu quả sản xuất; phát triển công nghiệp hỗ trợ, góp phần đưa Việt Nam từng bước tham gia chuỗi giá trị toàn cầu, góp phần mở rộng quan hệ quốc tế FDI cũng đóng vai trò tích cực trong hỗ trợ cải cách doanh nghiệp trong nước, tạo động lực đơn giản hóa thủ tục hành chính và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Bên cạnh những đóng góp đáng kể trên, FDI bộc lộ nhiều hạn chế, chưa đạt được kỳ vọng và mục tiêu đề ra, chưa gắn với mục tiêu phát triển kinh tế bền vững của
Trang 14Việt Nam: dòng đầu tư từ các nước phát triển vào Việt Nam còn khiêm tốn; FDI chủ yếu hướng vào các ngành thâm dụng lao động, sử dụng nhiều tài nguyên, tận dụng chính sách bảo hộ công nghiệp; đa số công nghệ sử dụng trong các dự án chưa phải công nghệ đạt tiên tiến, hiện đại của thế giới, gây ô nhiễm môi trường, tiêu tốn nhiều năng lượng, sử dụng nguồn tài nguyên không hiệu quả; các dự án FDI hầu hết có quy
mô vừa và nhỏ; thu nhập bình quân của người lao động thấp, nhu cầu về nhà ở, đời sống văn hóa ở các khu tập trung nhiều lao động chưa được đáp ứng; nhiều doanh nghiệp FDI có hiện trạng chuyển giá, lỗ giả, lãi thật gây méo mó các giao dịch trong nền kinh tế và gây thất thu ngân sách
Những năm gần đây xuất hiện những dự án FDI chất lượng không cao, gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng tiêu cực tới đời sống người dân trên địa bàn đầu tư, mục tiêu phát triển kinh tế bền vững của địa phương và của Việt Nam như Vedan Đồng Nai, Tung Kuang Hải Dương, Bauxite Tây Nguyên (Nhân Cơ - Tân Rai), Nhiệt điện Vĩnh Tân Bình Thuận Cá biệt là Formusa Hà Tĩnh, mặc dù mới chỉ ở khâu vệ sinh, vận hành thử nghiệm nhưng gây ra thảm họa môi trường cho vùng biển 4 tỉnh miền Trung là Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên Huế Ước tính thiệt hại lên tới hàng tỉ đô la, ảnh hưởng nghiêm trọng tới kinh tế, xã hội, môi trường của 4 địa phương và cuộc sống của hàng triệu người
Nguyên nhân của tình trạng chưa gắn FDI với mục tiêu phát triển kinh tế bền vững trước hết do điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn trong quá trình mở cửa, hội nhập, thu hút FDI, nhận thức hạn chế về tác động nhiều chiều của FDI trong hội nhập kinh tế quốc tế…, dẫn tới tư duy coi trọng số lượng, coi nhẹ chất lượng, đề cao thành tích thu hút, cấp phép và triển khai dự án FDI kéo dài nhiều năm; tình trạng cạnh tranh không lành mạnh của nhiều địa phương, phá vỡ quy hoạch, không bảo đảm lợi ích chung và mục tiêu phát triển kinh tế bền vững Bên cạnh đó còn có nguyên nhân từ việc thiếu quy hoạch tổng thể, đồng bộ cho khu vực kinh tế này, thiếu cơ chế, biện pháp định hướng, điều tiết, sàng lọc và kiểm soát hiệu quả, gắn với mục tiêu phát triển kinh tế bền vững trong khi mục tiêu của nhà đầu tư nước ngoài là tối đa hóa lợi nhuận
Trong điều kiện Việt Nam là nước thu nhập trung bình thấp; thực hiện lộ trình tham gia AEC, Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - Liên minh Châu Âu, Hiệp định CPTPP ; tình hình kinh tế, tài chính, chính trị khu vực và thế giới thường có biến động bất ổn, khó lường; nhận thức và tiêu chí đánh giá của cộng đồng quốc tế về trình độ phát triển của mỗi quốc gia có sự thay đổi; sự khan hiếm nguồn vốn, cạnh tranh của các nước trong khu vực diễn ra gay gắt , để bảo đảm FDI là một bộ phận, một nguồn lực quan trọng đóng góp vào mục tiêu phát triển kinh tế bền vững của Việt
Trang 15Nam, phòng ngừa, ngăn chặn những tác động tiêu cực phá vỡ mục tiêu phát triển kinh
tế bền vững trong tương lai, đặt ra yêu cầu nghiên cứu, đánh giá tình hình thu hút, quản lý và đóng góp của khu vực kinh tế này để điều chỉnh chính sách phù hợp Chính
vì lý do đó, đề tài: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài với mục tiêu phát triển kinh tế bền vững của Việt Nam” được chọn để nghiên cứu
2 Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan và khoảng trống nghiên cứu
2.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu nước ngoài
2.1.1 Các công trình nghiên cứu về mục tiêu phát triển kinh tế bền vững
* Nghiên cứu về phát triển bền vững
Phát triển bền vững nói chung và phát triển kinh tế bền vững nói riêng của thế giới cũng như của mỗi quốc gia là vấn đề sớm được quan tâm, bàn thảo và nghiên cứu Việc ra đời Câu lạc bộ Rôma (The Club of Rome) tháng 4/1968 với nhiều báo cáo liên quan tới phát triển kinh tế bền vững, trong đó có báo cáo Giới hạn tăng trưởng (The Limits to Growth) Hội nghị của Liên Hợp quốc về con người và môi trường tổ chức tại Stockhom, Thụy Điển, tháng 6/1972, là hành động đầu tiên đánh dấu sự nỗ lực chung của nhân loại về phát triển bền vững, đã thông qua bản tuyên bố về nguyên tắc
và kế hoạch hành động chống ô nhiễm môi trường
Thuật ngữ “phát triển bền vững” xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1980 trong Chiến lược bảo tồn thế giới do IUCN công bố và được phổ biến rộng rãi vào năm 1987 nhờ báo cáo Brundtland (còn gọi là Báo cáo Tương lai chung của chúng ta - OCF) của WCED Phát triển kinh tế bền vững là một trong ba thành tố và là thành tố hàng đầu, quyết định đối với phát triển bền vững Báo cáo OCF tạo tiền đề tổ chức Hội nghị thượng đỉnh UNCED 10 năm một lần: Hội nghi đầu tiên năm 1992 tại Rio de Janeiro (Brazil) phát động Chương trình hành động vì sự phát triển bền vững (Agenda 21); Hội nghị thượng đỉnh vì Phát triển bền vững năm 2002 tổ chức tại Johannesburg, Nam Phi;
và gần đây nhất tháng 6/2012, Hội nghị thượng đỉnh Rio+20 nhóm họp tại thành phố Rio de Janeiro, Brazil, bàn thảo về kinh tế xanh trong bối cảnh phát triển bền vững và xóa nghèo, đưa ra khung hành động và các phương thức, biện pháp để phát triển bền vững thời gian tới
Liên quan tới định hướng phát triển bền vững của thế giới phải kể tới Thỏa thuận Paris về biến đổi khí hậu với sự đồng thuận của 195 nước thành viên Công ước khung của LHQ về biến đổi khí hậu tại Hội nghị thượng đỉnh LHQ về biến đổi khí hậu
Trang 16(COP 21), ngày 12/12/2015 Thỏa thuận Paris được coi là bước đột phá trong việc thuyết phục Chính phủ các nước chọn phương thức phát triển bền vững, cùng hợp tác giảm lượng khí thải gây ô nhiễm khiến nhiệt độ của Trái đất tăng lên, hạn chế tình trạng ấm lên của Trái đất ở mức dưới 2 độ C và nỗ lực cho một mục tiêu lớn hơn là 1,5
độ C Ngày 22 tháng 4 năm 2016, tại Trụ sở LHQ ở New York (Hoa Kỳ), đại diện cho Chính phủ Việt Nam cùng với Lãnh đạo và đại diện Lãnh đạo Nhà nước, Chính phủ của hơn 170 nước ký Thoả thuận Paris về chống biến đổi khí hậu, thể hiện sự quan tâm, nỗ lực của cộng đồng quốc tế với mục tiêu phát triển bền vững và sự nghiêm túc, trách nhiệm của Việt Nam trong cam kết chung tay với cộng đồng quốc tế hướng tới phát triển bền vững Đây là lần đầu tiên trong lịch sử LHQ, một thoả thuận quốc tế có
số lượng nước tham gia ký kết lớn nhất ngay trong ngày đầu tiên của thời hạn 1 năm
ký kết (bắt đầu từ 22 tháng 4 năm 2016 đến 21 tháng 4 năm 2017)
Nghiên cứu của Warford và Partow (1989), Holmberg (1992), Baumol và Oates (1993), Kopp và Smith (1993), Serageldin (1996), Todaro (2000), Tharmir M Salih (2003), có chung nhận định, để phát triển bền vững trong tương lai, tránh các tác động tiêu cực do sự xuống cấp của môi trường sinh thái mang lại, cần có cách ứng xử phù hợp, hài hòa trong khai thác, đầu tư phát triển và bảo tồn Tăng trưởng kinh tế thực tế thấp hơn nhiều so với tăng trưởng GDP được công bố nếu hạch toán cả yếu tố môi trường sinh thái Vì vậy để đảm bảo tăng trưởng và phát triển bền vững, cần có các khoản đầu tư bù đắp và bảo tồn Nếu chỉ tập trung vào mục tiêu hiện tại, thiếu tầm nhìn xa về tương lai sẽ có nguy cơ để lại hậu quả là sự nghèo khó hơn của thế hệ tương lai so với thế hệ hiện tại (MacNiell và cộng sự, 1991) Như vậy, các nghiên cứu về phát triển bền vững tập trung chủ yếu vào bảo vệ môi trường và cân bằng sinh thái, đề cao bền vững môi trường thiên nhiên
* Nghiên cứu về phát triển kinh tế bền vững và mục tiêu phát triển kinh tế bền vững
Mục tiêu phát triển bền vững về kinh tế hay phát triển kinh tế bền vững và vai trò nguồn lực thực hiện mục tiêu này được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu Năm 1997, trong Báo cáo gửi Ủy ban Châu Âu “The New Economic Sustainable Development - Phát triển bền vững kinh tế mới” James Robertson chỉ ra sự cần thiết phải ủng hộ và phát triển kinh tế theo định hướng mới là phát triển bền vững Để làm được điều này, cần có sự ủng hộ và chuyển dịch chính sách hỗ trợ kinh tế và tài chính
từ phía nhà nước Đây cũng là nhận định của James Nixon (2009), trong nghiên cứu về phát triển kinh tế bền vững: Sáng kiến, chương trình và chiến lược của các thành phố
và các vùng (Sustainable Economic Development: Initiatives, Programs, and
Trang 17Strategices for Cities and Regions), James Nixon phân tích những lợi ích lâu dài mà phát triển kinh tế bền vững mang lại và kết luận thế giới ngày nay cần đi theo hướng phát triển này Nghiên cứu đưa ra các sáng kiến nhằm hướng tới một nền kinh tế xanh, phát triển bền vững, đồng thời cũng chỉ ra những khó khăn, phức tạp khi lựa chọn hướng phát triển kinh tế bền vững, đòi hỏi sự tham gia của toàn xã hội Công việc quan trọng trước hết là giáo dục, tuyên truyền, nâng cao nhận thức và bảo đảm sự cam kết, đồng thuận của toàn xã hội
Liên quan tới lựa chọn hướng phát triển của tổ chức, doanh nghiệp, Hall và Vredenburg (2003) cho rằng nhiều nhà quản lý gặp khó khăn trong đáp ứng các yêu cầu phát triển bền vững Mặc dù rất khó khăn nhưng theo Martinet và Reynaud (2004) mỗi tổ chức vẫn cần chuyển dần sang mục tiêu phát triển bền vững Học tập và giáo dục đóng vai trò rất quan trọng nhằm hướng tới mục tiêu phát triển bền vững (Fenwick, 2007; Nattrass và Altomare, 2002) Theo Cruz và cộng sự (2006), nếu một
tổ chức không quan tâm đến phát triển bền vững và không có trách nhiệm với cộng đồng sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến thương hiệu và lợi ích của tổ chức trong dài hạn Đây cũng là quan điểm của Mostafa Nejati và các cộng sự (2010), mặc dù phát triển bền vững ảnh hưởng tới lợi nhuận và lợi ích của doanh nghiệp trong ngắn hạn, nhưng bằng việc thực hiện mục tiêu phát triển bền vững và trách nhiệm có liên quan góp phần xây dựng hình ảnh tốt cho doanh nghiệp và mang lại lợi ích trong dài hạn Tuy nhiên, để bảo đảm lợi ích dài hạn và xây dựng hình ảnh tốt, doanh nghiệp cần đồng thời quảng
bá về hình ảnh thương hiệu gắn với phát triển bền vững
Về công cụ đánh giá kinh tế bền vững, Fabian Zuleeg (2010), đưa ra và đề xuất
áp dụng chỉ số bền vững kinh tế châu Âu để xếp hạng các nền kinh tế trong khu vực đồng tiền chung châu Âu “European Economic Sustainability Index” Chỉ số này đánh giá khá sát tình hình kinh tế của các nền kinh tế châu Âu, nó cho phép đánh giá đồng thời bền vững về kinh tế trong cả ngắn hạn, trung hạn và dài hạn Chỉ số này được xây dựng dựa trên Sáu chỉ số thành phần: Thâm hụt ngân sách; Nợ quốc gia; Tăng trưởng; Năng lực cạnh tranh; Quản trị quốc gia (hoặc chỉ số tham nhũng); và Chi phí tiếp theo cho sự già hóa dân số
2.1.2 Các nghiên cứu về tác động của FDI
Sự khan hiếm nguồn lực phát triển kinh tế cũng như giới hạn khả năng đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng và phức tạp của người tiêu dùng, ảnh hưởng của yếu tố ngoại lực đến tăng trưởng và phát triển kinh tế mỗi quốc gia ngày càng bộc lộ rõ nét FDI ngày càng khẳng định vai trò quan trọng đối với tăng trưởng, phát triển kinh tế
Trang 18của mỗi quốc gia Trong bối cảnh các mối quan hệ kinh tế phát triển đa dạng làm tăng tính chỉnh thể, ràng buộc lẫn nhau của nền kinh tế thế giới hiện nay, góp phần tích cực vào thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế bền vững của mỗi quốc gia nếu tận dụng hiệu quả cơ hội của toàn cầu hóa, tranh thủ ngoại lực, phát huy nội lực Chính vì vậy nghiên cứu tác động của FDI đối với nước tiếp nhận đầu tư được nhiều nhà quản lý, nhà khoa học nghiên cứu, nhằm hoàn thiện chính sách FDI, phát huy tích cực, hạn chế tiêu cực Các nghiên cứu thường tập trung đánh giá tác động của FDI theo các góc độ vốn đầu
tư, công nghệ, sản lượng, tăng trưởng kinh tế, mở cửa thị trường, lao động…:
* Tác động của FDI đến vốn đầu tư và tăng trưởng kinh tế
Nghiên cứu của Paul Samuelson (1997) cho rằng FDI cung cấp một nguồn vốn quan trọng, bù đắp những thiếu hụt về vốn và khả năng tích lũy hạn chế của các nước đang phát triển, tạo cú huých từ bên ngoài nhằm phá vỡ “vòng luẩn quẩn của sự phát triển” Lall S và Streeten P (1977) đặt câu hỏi về khả năng cung cấp vốn FDI vì trên thực tế FDI cung cấp ít vốn và khá đắt, ngoài ra, sự thống trị của MNC trong nền kinh tế đang phát triển có thể gây bất lợi cho tăng trưởng và phát triển kinh tế Ngoài việc FDI cung cấp một nguồn vốn quan trọng, qua nghiên cứu thực nghiệm của Ấn Độ và sử dụng số liệu của bốn nước Nam Á khác là Pakistan, Bangladesh, Sri Lanka, Nepan, Agrawal (2000) kết luận FDI làm tăng đầu tư trong nước rất nhiều lần, hàm ý tác động liên kết và bổ trợ giữa FDI và đầu tư trong nước, tạo động lực tăng trưởng
Phân tích dữ liệu quý của Thổ Nhĩ Kỳ, giai đoạn 1991-2007, Yılmazer (2010) không tìm thấy một quan hệ nhân quả chặt chẽ giữa FDI và tăng trưởng kinh tế Nghiên cứu chỉ ra tác động FDI tới xuất khẩu và nhập khẩu của Thổ Nhĩ Kỳ là rất nhỏ Trong khi Ekinci (2011), khi xem xét mối quan hệ lâu dài giữa FDI và tăng trưởng kinh tế ở Thổ Nhĩ Kỳ trong thời kỳ 1980-2010 cho thấy một mối quan hệ hai chiều giữa FDI và tăng trưởng kinh tế, nhưng nghiên cứu không thấy bất kỳ mối quan hệ nào giữa FDI và việc làm
Kết quả nghiên cứu về tác động của FDI tới tăng trưởng kinh tế của các nền kinh tế chuyển đổi là rất khác nhau: Lyroudiet & al (2004) kết luận, doanh nghiệp FDI không có bất kỳ tác động đáng kể nào với tăng trưởng kinh tế của các nền kinh tế chuyển đổi, sau khi nghiên cứu tác động của FDI đến tăng trưởng kinh tế của các nước Đông Âu giai đoạn 1995-1998 Nhưng sau khi nghiên cứu với 27 nền kinh tế Đông Âu
và Tây Á, giai đoạn 1990-2002, Değer và Emsen (2006) quan sát thấy FDI có tác động tích cực đến nền kinh tế chuyển đổi Cũng tiến hành nghiên cứu với mẫu là các nước Trung Âu, Đông Âu và các nước có nền kinh tế chuyển đổi thuộc Liên Xô cũ, thời kỳ
Trang 191990-1998, kết quả nghiên cứu với 25 quốc gia của Campos và Kinoshita (2002) chỉ ra việc các nước đang chuyển đổi có quá trình CNH diễn ra mạnh mẽ và lực lượng lao động đào tạo tốt đã mang lại những tác động tích cực tích cực từ FDI đối với tăng trưởng kinh tế
Ali Riza Sandalcilar và Ali Altiner (2012) nghiên cứu về mối quan hệ giữa FDI
và tăng trưởng GDP của nước tiếp nhận thông qua các dữ liệu từ 1995-2011 của 10 quốc gia (Thổ Nhĩ Kỳ, Iran, Pakistan, Azerbaijan, Kazakhstan, Kirghizstan, Uzbekistan, Turkmenistan, Tajikistan và Afghanistan) thuộc ECO đi đến kết luận: FDI
có tác động tích cực mạnh mẽ đối với tăng trưởng GDP của các quốc gia thuộc ECO; ngược lại không quan sát thấy tác động ngược trở lại của GDP đối với dòng vốn FDI; các nền kinh tế chuyển đổi, mới tuyên bố độc lập từ những năm 1990 (như Azerbaijan, Kazakhstan, Turkmenistan và Uzbekistan) cũng nhận được những tác động tích cực của FDI đối với tăng trưởng kinh tế Đặc biệt là sự bổ sung nguồn vốn quan trọng cho ngành năng lượng và tạo việc làm; FDI góp phần hoàn thiện khung pháp lý điều chỉnh FDI, tác động ngược trở lại đối với việc gia tăng quy mô FDI vào các nước thuộc ECO; FDI góp phần tăng tốc quá trình chuyển đổi nền kinh tế theo hướng thị trường mở; FDI và sự thâm nhập của các tập đoàn đa quốc gia tạo điều kiện tốt hơn để các nước khu vực ECO hội nhập quốc tế và tăng cường khả năng cạnh tranh ở cấp độ toàn cầu Kết quả nghiên cứu phản ánh vai trò quan trọng của FDI trong việc gia tăng tính bền vững kinh tế của các nước thuộc ECO
Trường hợp Nigeria, Akinlo (2004), sử dụng dữ liệu giai đoạn 1970 đến 2001, nghiên cứu tác động của FDI đối với tăng trưởng kinh tế cho thấy cả vốn tư nhân và vốn nước ngoài có tác động không đáng kể đến tăng trưởng; Dutse (2008) kết luận FDI có thể thúc đẩy tăng trưởng ở Nigeria thông qua tác động lan tỏa công nghệ cho các doanh nghiệp địa phương, qua đó khuyến khích đổi mới sáng tạo, cho phép nâng cao năng lực công nghệ và phát triển nhân lực
Nghiên cứu về tác động của FDI đến GDP, trường hợp Pakistan, Nadeem Iqbal
và các cộng sự (2014) sử dụng hàm sản xuất Cobb-Douglas và theo lý thuyết của Bhagwati về tác động tích cực hơn của FDI đối với GDP của các nền kinh tế hướng ra xuất khẩu, phân tích số liệu trong 30 năm 1983-2012, cho thấy có mối quan hệ tích cực giữa FDI và GDP của Pakistan Đồng nghĩa với việc giả định FDI tác động tích cực hơn đối với nền kinh tế có chế độ thương mại mở được chấp nhận trong trường hợp của Pakistan Nghiên cứu cũng chỉ ra, dường như văn hóa và điều kiện của nước tiếp nhận có ảnh hưởng tới mức độ tác động của FDI Do vậy, lợi ích kinh tế mà FDI mang lại là không thể dự đoán được
Trang 20Khi nghiên cứu tác động của FDI đến GDP giai đoạn 1987-2011 của Bangladesh, Arafatur Rahaman và Sumit Chakraborty (2015) cũng chỉ ra mối quan hệ tác động qua lại dài hạn giữa FDI và GDP Tuy nhiên khi so sánh với các quốc gia láng giềng Châu Á, FDI vào Bangladesh thấp hơn rất nhiều Nghiên cứu đã khuyến nghị Bangladesh cần tập trung giải quyết một số khâu như phát triển cơ sở hạ tầng, đào tạo tay nghề nguồn nhân lực, tăng cường khả năng cung ứng điện, xây dựng môi trường đầu tư thân thiện và ổn định chính trị góp phần tăng cường thu hút FDI
Các nghiên cứu của Grossman và Helpman (1991), Barro, R J and Martin, X (1995), Hermes và Lensink (2003) chỉ ra FDI đóng vai trò quan trọng trong hiện đại hóa kinh tế và thúc đẩy tăng trưởng ở các nước tiếp nhận Đây cũng là nhận định của De Mello (1999), khi phân tích dữ liệu thời kỳ 1970-1990 của 16 nước phát triển và 17 nước đang phát triển, chỉ ra FDI tác động tích cực và quan trọng đến tăng trưởng; tác động của FDI đối với các nước đang phát triển lớn hơn so với các nước phát triển (đây cũng là kết luận của Johson, 2006)
Sala-i-Nghiên cứu dữ liệu của Trung Quốc nói chung, và chọn mẫu 29 tỉnh, giai đoạn 1989-1999, Buckley và cộng sự (2002) nhận định, điều kiện kinh tế và công nghệ ở nước sở tại làm thay đổi quan hệ giữa FDI với tăng trưởng Các điều kiện của nước sở tại ảnh hưởng mạnh đến mối quan hệ tăng trưởng ở cấp trung ương và cấp tỉnh Kết quả nghiên cứu còn cho thấy FDI ảnh hưởng nhiều hơn tới tăng trưởng kinh tế ở các tỉnh và đạt lợi ích đầy đủ của FDI khi có sự cạnh tranh gay gắt (cả với doanh nghiệp nước ngoài và doanh nghiệp địa phương) ở các thị trường địa phương Từ kết quả nghiên cứu, các tác giả khuyến nghị cần xây dựng và hoàn thiện chính sách ở cấp tỉnh
để tối đa hoá lợi ích tăng trưởng của FDI và cải cách thị trường là một chính sách chung rất thành công
* Tác động của FDI tới công nghệ và sản lượng
Hermes and Lensink (2003) cho rằng FDI thúc đẩy tiến bộ về công nghệ của nước sở tại, tốc độ tăng trưởng của các nước đang phát triển phụ thuộc nhiều vào khả năng tiếp nhận và hấp thụ công nghệ mới Theo Hermes và Lensink để khai thác hiệu quả đóng góp của FDI, nước tiếp nhận đầu tư cần phát triển thị trường tài chính đến một trình độ nhất định để huy động tiết kiệm, khuyến khích các doanh nghiệp trong nước đầu tư đổi mới công nghệ Johnson (2006) sau khi nghiên cứu lượng hóa mối quan hệ giữa các dòng vốn FDI tiềm năng và tăng trưởng kinh tế ở nước tiếp nhận, đi đến kết luận FDI có tác động tích cực đối với tăng trưởng thông qua tác động lan tỏa công nghệ và di chuyển các dòng vốn Sử dụng phân tích kinh tế lượng, tác giả tìm
Trang 21thấy bằng chứng thực nghiệm các dòng vốn giúp đẩy nhanh tăng trưởng kinh tế ở các nước đang phát triển chứ không phải ở các nước phát triển; Girma (2005) chỉ ra FDI
có tác động tràn làm tăng sản lượng ở trong các doanh nghiệp nội địa của nước tiếp nhận, từ đó làm tăng năng lực của cả nền kinh tế các nước này
Nghiên cứu của Insel & Sungur (2003) và Nair-Reichert & Weinhold (2000) chỉ ra FDI tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế của nước chủ nhà thông qua chuyển giao công nghệ và tác động lan tỏa Đây cũng là nhận định của Javorcik (2004), rằng đi kèm với FDI thường là công nghệ hiện đại hơn, kinh nghiệm và kỹ năng quản lý tiên tiến hơn Trong quá trình hoạt động, công nghệ và kinh nghiệm của nhà đầu tư nước ngoài có thể được chuyển giao cho các cơ sở sản xuất ở nước sở tại Hoạt động hợp tác kinh doanh và cạnh tranh tạo cơ hội và kích thích các doanh nghiệp trong nước học tập kinh nghiệp, đổi mới công nghệ, tăng năng suất và thúc đẩy phát triển kinh tế nước sở tại
Borensztein, E., Degregorio, J and Lee, J.W (1998) đánh giá tác động của FDI với tăng trưởng kinh tế của 69 nước đang phát triển giai đoạn 1970-1989 bằng phương pháp hồi quy đưa ra kết luận, FDI là phương tiện quan trọng để chuyển giao công nghệ, đóng góp tăng trưởng kinh tế nhiều hơn so với đầu tư trong nước Song, để sản xuất có năng suất cao hơn đầu tư trong nước, nước tiếp nhận FDI phải có đủ ngưỡng tối thiểu về vốn con người; Tác động có điều kiện cũng là kết luận của Blomstrom và cộng sự (1992), khi chia các nước đang phát triển thành hai nhóm có thu nhập thấp và cao để nghiên cứu, rằng FDI chỉ tác động tích cực tới tăng trưởng kinh tế của nước tiếp nhận đầu tư khi nước này đạt được tới một mức thu nhập và phát triển nhất định, để có thể tiếp thu công nghệ mới
Bên cạnh những kết luận về tác động tích cực của FDI tới công nghệ và sản lượng của nước tiếp nhận, có không ít các nghiên cứu chỉ ra tác động của FDI đến công nghệ, sản lượng của nước sở tại là không đáng kể, thậm chí không có: Trong nghiên cứu trường hợp Venezuela, Aitken B.J và Harrison’s, A.E (1999) không thấy có tác động tràn tích cực của công nghệ Kết quả nghiên cứu còn cho thấy FDI làm tăng sản lượng ở các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài nhưng làm giảm sản lượng doanh nghiệp trong nước Đây cũng chính là kết luận của Haddad và Harrison’s (1993) khi sử dụng số liệu của Ma rốc, chỉ ra ảnh hưởng lan tỏa của FDI tới sản lượng là rất nhỏ
Nghiên cứu của Imad A Moosa (2002) cho thấy FDI góp phần phát triển các ngành có lợi thế so sánh, các ngành có lợi nhuận cao và các ngành có khả năng cạnh tranh cao của nước tiếp nhận đầu tư FDI góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực trong nước và tăng khả năng cạnh tranh của nền kinh tế Tuy nhiên, đây cũng
Trang 22chính là nguy cơ dẫn tới sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành thiếu cân đối và những lợi ích tương ứng của công nghệ nước ngoài đưa vào nước sở tại có thể không đáng kể hoặc thậm chí không có
Trong bối cảnh có rất nhiều kết quả thực nghiệm trong các tài liệu học thuật về đánh giá tác động của FDI đối với nước tiếp nhận và ít có dấu hiệu hội tụ, Lipsey, R
E and Sjoholm, F., (2004) có nghiên cứu về “Tác động của FDI lên nước sở tại: Tại sao có những tác động khác biệt?” Qua việc xem lại từng nghiên cứu để làm rõ các câu hỏi nghiên cứ và dữ liệu được sử dụng; khảo sát các nghiên cứu với dữ liệu của Indonesia để kiểm tra các hàm ý của các kết luận nghiên cứu, Lipsey và Sjohlm đã cho rằng, nhìn chung các doanh nghiệp FDI có điều kiện tiếp cận với công nghệ cao hơn,
từ đó nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, dịch vụ, hạ giá thành, mang lại phúc lợi tiêu dùng cao hơn Tuy nhiên, với mỗi quốc gia, mỗi doanh nghiệp trong nước có khả năng hưởng lợi khác nhau từ sự có mặt của các doanh nghiệp FDI Có thể có các quốc gia hoặc ngành công nghiệp, trong đó ngành trong nước quá nhỏ hoặc quá lạc hậu để học hỏi công nghệ từ các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Trong những trường hợp đó, khu vực trong nước có thể bị phá sản bởi cạnh tranh từ các công ty nước ngoài cao cấp Tác động của FDI đối với khu vực kinh tế trong nước phụ thuộc không chỉ vào trình độ phát triển kinh tế mà còn vào hệ thống chính sách thương mại
và đầu tư nước sở tại
* Tác động đến thị trường của nước tiếp nhận đầu tư
Nghiên cứu của Khoa kinh tế trường đại học Western Michigan (2002) dựa trên
số liệu tổng hợp từ các nước nhận đầu tư trực tiếp của Nhật Bản kết luận FDI tác động đến thị trường xuất nhập khẩu của nước nhận đầu tư Tác động của FDI đến xuất nhập khẩu của nước nhận đầu tư phụ thuộc vào thị trường mục tiêu mà đầu tư hướng tới Tùy thuộc nhóm thị trường mà nó phục vụ, FDI sẽ không hoặc có khả năng làm gia tăng phạm vi thương mại quốc tế của nước nhận đầu tư ở mức độ khác nhau Nhìn chung FDI giúp mở rộng phạm vi thương mại của nước nhận đầu tư, nhất là thị trường xuất khẩu bởi xu hướng phát triển của FDI trong giai đoạn này là hướng về xuất khẩu Thông qua FDI, hàng hóa của các nước đang phát triển có thể thâm nhập dễ dàng hơn vào thị trường thế giới bởi bên cạnh các lợi thế về vốn, công nghệ, các doanh nghiệp nước ngoài thường có một mạng lưới thị trường rộng lớn Bên cạnh đó, các nhà đầu tư thường có nhiều khả năng và kinh nghiệm tìm kiếm thị trường, cũng như các hoạt động xúc tiến thương mại, giúp doanh nghiệp FDI của nước nhận đầu tư nhanh chóng nắm bắt nhu cầu và biến động của thị trường thế giới
Trang 23Khi nghiên cứu đóng góp của FDI đến tăng trưởng kinh tế của Mexico cả về lý thuyết và thực nghiệm, giai đoạn 1960-1995, Ramirez (2000) nhận thấy, FDI tác động tích cực đến xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế thông qua năng suất lao động Nghiên cứu rút ra kết luận, để phát huy tác động tích cực của FDI với xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế, cần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, bảo đảm đủ khả năng tiếp nhận được kinh nghiệm quản lý và công nghệ mới Bên cạnh đó Ramirez cũng chỉ ra gia tăng tiêu dùng chính phủ có tác động tiêu cực tới tăng năng suất lao động, tăng trưởng kinh tế và hạn chế đóng góp của FDI
* Tác động của FDI tới tạo việc làm, nâng cao tay nghề, cải thiện đời sống người lao động
Nghiên cứu của Koojaroenprasit, S (2012), sử dụng phương pháp hồi quy đa biến đánh giá tác động của FDI đến nền kinh tế Hàn Quốc, với nguồn dữ liệu thứ cấp
về kinh tế vĩ mô hàng năm của Hàn Quốc, giai đoạn 1980-2009, đưa ra kết luận FDI
có tác động tích cực đến nâng cao chất lượng nhân lực và tạo việc làm Sử dụng FDI, đầu tư trong nước, việc làm, xuất khẩu và vốn con người là các biến nội sinh cho tăng trưởng kinh tế, kết quả cho thấy có sự tác động mạnh mẽ và tích cực của FDI đối với tăng trưởng kinh tế của Hàn Quốc Hơn nữa, nghiên cứu chỉ ra FDI có tác động tích cực và đáng kể đến nguồn nhân lực, việc làm và xuất khẩu Trong khi đầu tư trong nước không có tác động đáng kể đến tăng trưởng kinh tế Hàn Quốc Ảnh hưởng tương tác của FDI đến nguồn nhân lực và FDI với xuất khẩu cho thấy chuyển giao công nghệ
và kiến thức cao của FDI có tác động tích cực đến tăng trưởng
Nghiên cứu của Slaughter, M J (2002), sau khi phân tích dữ liệu của 7 ngành công nghiệp thuộc 16 quốc gia, giai đoạn 1982-1990, chỉ ra FDI có tác động tích cực đến việc nâng cao tay nghề, kỹ năng của người lao động Nhu cầu đối với lao động có tay nghề cao cũng gia tăng khi có sự gia tăng của FDI, trong nghiên cứu trường hợp của Mexico giai đoạn 1975-1988 (Freenstra và Hanson, 1995) FDI tác động tích cực đối với tạo việc làm, trong đó đầu tư mới tạo được nhiều việc làm hơn so với đầu tư theo hình thức M&A là kết quả nghiên cứu của Jenkins (2006)
Các nghiên cứu về tác động của FDI tới tạo việc làm, nâng cao tay nghề, cải thiện đời sống người lao động cho các kết quả rất khác nhau Bên cạnh các kết luận về tác động tích cực của FDI tới tạo việc làm, đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn, cải thiện đời sống người lao động cũng không ít nghiên cứu không tìm thấy các tác động tích cực từ FDI đến tạo việc làm: Theo Ekinci (2011), không thấy bất cứ mối quan hệ nào giữa FDI với việc làm; hay khả năng tạo ra cơ hội việc làm mới của FDI là rất hạn chế (Saray, 2011)…
Trang 242.1.3 Nghiên cứu về đầu tư trực tiếp nước ngoài với mục tiêu phát triển kinh tế bền vững
Cho đến nay, việc nghiên cứu, đánh giá tác động của FDI tới mục tiêu phát triển kinh tế bền vững của nước tiếp nhận đầu tư còn rất ít Chủ yếu vẫn là các nghiên cứu
về tác động của FDI tới các nguồn lực, các chỉ tiêu tăng trưởng, phát triển kinh tế của nước tiếp nhận đầu tư và ít nhiều có những đánh giá về tính bền vững của FDI Kết quả đưa ra về các tác động trực tiếp của khu vực kinh tế này đến nền kinh tế, cũng như tác động tràn hay lấn át gián tiếp đối với các khu vực kinh tế khác không có tính thống nhất Một số nghiên cứu khẳng định không thấy hoặc thấy không rõ nét tác động tích cực từ FDI tới nước tiếp nhận đầu tư, FDI có tác động khác nhau với từng nhóm nước
và ở từng giai đoạn khác nhau và không tạo lợi ích như mong muốn:
- Nghiên cứu của Carkovic và Levine (2002) kết luận FDI không có ảnh hưởng tích cực đến phát triển kinh tế và không có bằng chứng thực nghiệm đáng tin cậy hỗ trợ cho nhận định FDI làm tăng tốc độ tăng trưởng kinh tế trong dài hạn, một số tác động tích cực quan sát được cũng chỉ trong khoảng 5 năm liên tiếp Lipsey (2004) cũng kết luận "
cố gắng tìm thấy mối quan hệ phù hợp giữa mức độ tác động của dòng vốn FDI và tăng trưởng kinh tế nước tiếp nhận không cho thấy mối quan hệ mạnh mẽ và nhất quán" Aitken, Hansen và Harrison (1997) và Aitken, Hansen và Lipsey (1999) nhấn mạnh tất cả việc tăng năng suất thường quy cho sự hiện diện của FDI trong một quốc gia có thể chỉ là một ước vọng; không thực sự thấy tác động tràn của FDI tới tăng hiệu quả và năng suất của các doanh nghiệp nội địa, cũng như tốc độ tăng trưởng kinh tế của các nước đang phát triển Đầu tư của TNCs không nhằm khuyến khích tăng năng suất do cạnh tranh, hơn nữa chỉ đơn giản là bóp nghẹt ngành công nghiệp non trẻ và các doanh nghiệp trong nước
- Durham (2004) không xác định bất kỳ mối quan hệ tích cực nào giữa FDI và tăng trưởng kinh tế, tuy nhiên nghiên cứu cung cấp bằng chứng cho thấy những tác động tích cực của FDI phụ thuộc vào khả năng hấp thụ của nước sở tại Kenichi Ohno (2014) cũng nhận định FDI chỉ thực sự đóng vai trò tích cực cho mục tiêu phát triển kinh tế của nước tiếp nhận trong giai đoạn đầu công nghiệp hóa Để duy trì và phát huy tốt nhất khả năng đóng góp của FDI vào mục tiêu phát triển kinh tế bền vững ở giai đoạn tiếp theo cần chuẩn bị và bảo đảm các nhân tố nội lực đủ mạnh
Phần lớn các nghiên cứu đều đưa ra kết luận FDI có tác động tích cực đến nền kinh tế nước tiếp nhận là có điều kiện, đồng nghĩa với việc, khi bảo đảm những điều kiện nhất định, FDI có vai trò quan trọng trong thực hiện các mục tiêu phát triển kinh
tế bền vững của nước tiếp nhận đầu tư:
Trang 25- MacDougall-Kemp (1960), K.Kojima (1978) chứng minh FDI làm gia tăng sản lượng và kích thích tăng trưởng nhờ khai thác có hiệu quả các yếu tố đầu vào Đặc biệt với vốn, công nghệ, mạng lưới marketing, FDI góp phần thúc đẩy công nghiệp hóa ở các nước đang phát triển Ayanwale (2007) kết luận, FDI nếu thực sự đại diện cho công nghệ mới và năng suất cao hơn sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Bên cạnh đó,
có rất nhiều nghiên cứu khẳng định FDI thúc đẩy tăng trưởng nước sở tại thông qua tác động của nó đối với thương mại (Bhagwati, 1978; Balasubramanyam và cộng sự, 1996; Athukorala và Chand, 2000) Các nghiên cứu phát hiện ra khi một quốc gia thông qua chiến lược xúc tiến xuất khẩu để phát triển kinh tế, FDI có tác động tích cực đến tăng trưởng
- Nghiên cứu của Archibugi & Iammarino (2002) kết luận không thể đánh giá thấp vai trò quan trọng của FDI trong chuyển giao công nghệ và kích thích hoạt động sáng tạo đối với nước chủ nhà Phân tích dữ liệu các công ty Nhật Bản, Todo (2006) cũng khẳng định hiệu ứng lan tỏa tích cực của R & D phát sinh bởi các công ty nước ngoài vào việc cải thiện năng suất của doanh nghiệp trong nước Nghiên cứu về trường hợp của Trung Quốc, Yao & Wei (2007) cũng chỉ ra FDI là một trong những yếu tố quan trọng góp phần tăng trưởng kinh tế bền vững ở Trung Quốc
- Nhiều nghiên cứu thực nghiệm về mối quan hệ giữa FDI và tăng trưởng kinh
tế thống nhất FDI thúc đẩy tăng trưởng thông qua các yếu tố ngoại tích cực, chuyển giao công nghệ, phát triển nguồn nhân lực và mở cửa nền kinh tế (Borensztein, De Gregorio và Lee, 1998; Bende-Nabende và Ford, 1998; Caves, 1996) Caves (1996) lập luận việc chuyển giao và giới thiệu các quy trình mới của FDI, kỹ năng quản lý, bí quyết công nghệ và việc mở cửa, thâm nhập thị trường quốc tế của các công ty, tất cả đều có những đóng góp tích cực nhất định vào tăng trưởng kinh tế Trong nghiên cứu của Jose De Gregorio (2003) về các nước Mỹ Latin cho giai đoạn 1950-1985 cho thấy bất cứ khi nào FDI tăng một điểm phần trăm của GDP, tăng trưởng kinh tế tăng 0,6%
so với mức tăng 0,2% khi tổng đầu tư (gồm trong nước cộng nước ngoài) tăng 1 điểm phần trăm của GDP Điều này chỉ ra FDI có hiệu quả cao hơn gấp ba lần đầu tư nội địa đối với tăng trưởng
- Theo nghiên cứu của OECD (2002), FDI mang lại nhiều lợi ích cho nước tiếp nhận đầu tư và được mô tả như là một nguồn lực của phát triển kinh tế, hiện đại hóa sản xuất và tạo việc làm, theo đó lợi ích tổng thể (phụ thuộc vào các chính sách của chính phủ chủ nhà) có thể "tác động lan tỏa công nghệ, phát triển nguồn nhân lực, thúc đẩy hội nhập thương mại quốc tế và đặc biệt xuất khẩu, giúp tạo ra một môi trường kinh doanh cạnh tranh hơn, tăng cường phát triển của doanh nghiệp, làm tăng năng
Trang 26suất sử dụng các nhân tố và cải thiện hiệu quả sử dụng tài nguyên" Điều đó có nghĩa nếu nước tiếp nhận có những chính sách phù hợp thì có thể bảo đảm FDI thực sự trở thành một nguồn lực quan trọng góp phần phát triển bền vững kinh tế
- Kết luận từ một cuộc khảo sát được tiến hành bởi Booz & Co và AMCHAM với trường hợp cụ thể của Ấn Độ cũng chỉ ra nếu các vấn đề cơ sở hạ tầng tốt, quy trình đơn giản hóa, giảm quan liêu, chính sách kinh tế ổn định , được giải quyết thỏa đáng, những ràng buộc FDI gắn với mục tiêu phát triển kinh tế bền vững được đưa ra dù có nghiêm ngặt cũng sẽ không ảnh hưởng đến dòng vốn FDI FDI có những đóng góp đáng
kể cho mục tiêu phát triển bền vững và xây dựng một nền kinh tế xanh ở Ấn Độ
- Nghiên cứu của Alfaro và cộng sự (2004), Javorcik (2004), Alfaro, Chanda, Kalemli-Özcan và Sayek (2006) có chung nhận định việc FDI có tác động tích cực tới mục tiêu phát triển kinh tế bền vững của nước tiếp nhận hay không phụ thuộc vào những điều kiện nhất định Alfaro và cộng sự (2004), Javorcik (2004) kết luận FDI có tác động tích cực đến mục tiêu phát triển kinh tế bền vững khi thị trường tài chính của nước sở tại đã được phát triển Trong khi Alfaro, Chanda, Kalemli-Özcan và Sayek (2006) thấy rằng, với sự hiện diện liên tục của đầu tư nước ngoài, các nền kinh tế có thị trường tài chính phát triển tốt, tỷ lệ tăng trưởng gần gấp đôi những nền kinh tế có thị trường tài chính kém phát triển, hay phát triển thị trường tài chính là một điều kiện cần thiết cho FDI đóng góp vào phát triển kinh tế nước tiếp nhận
Các nghiên cứu cho thấy, với hầu hết các quốc gia, FDI chỉ có tác động tích cực
ở các nước đang phát triển và giai đoạn đầu của thời kỳ công nghiệp hóa; tự bản thân FDI không thực sự có đóng góp tích cực vào mục tiêu phát triển kinh tế bền vững của nước tiếp nhận đầu tư Để đạt được kỳ vọng có FDI đóng góp tích cực vào phát triển kinh tế bền vững, nước tiếp nhận cần phải chuẩn bị và hoàn thiện những điều kiện vật chất, kinh tế, kỹ thuật, cũng như chính sách và pháp luật liên quan
2.2 Tổng quan các công trình nghiên cứu trong nước
2.2.1 Các công trình nghiên cứu về mục tiêu phát triển kinh tế bền vững
Liên quan đến phát triển kinh tế bền vững và đầu tư phát triển kinh tế bền vững của Việt Nam và các địa phương có thể kể đến Luận án Tiến sĩ Kinh tế Chính trị của Nguyễn Hữu Sở (2009), “Phát triển kinh tế bền vững ở Việt Nam” và Luận án Tiến sĩ Kinh tế của Hoàng Thị Thu Hà (2015), “Đầu tư phát triển bền vững về kinh tế trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh” Luận án của Nguyễn Hữu Sở luận giải một số vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển bền vững và phát triển kinh tế bền vững; đánh giá, phân tích kinh nghiệm phát triển kinh tế bền vững của Nhật Bản, Thái Lan, Trung Quốc,
Trang 27Malaysia; thực trạng phát triển kinh tế của nền kinh tế Việt Nam và những vấn đề đặt
ra về phát triển bền vững để rút ra các bài học kinh nghiệm và đề xuất các giải pháp cơ bản bảo đảm phát triển kinh tế bền vững trong thời gian tới
Luận án của Hoàng Thị Thu Hà (2015), bên cạnh việc luận giải một số vấn đề
lý luận về phát triển bền vững và phát triển kinh tế bền vững, đi vào phân tích đầu tư phát triển và đầu tư phát triển kinh tế bền vững; nghiên cứu kinh nghiệm đầu tư phát triển của một số thành phố (Thẩm Quyến - Trung Quốc, Seoul - Hàn Quốc, Hà Nội) để rút ra bài học kinh nghiệm và đề xuất một số giải pháp tăng cường đầu tư phát triển kinh tế bền vững trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh đến năm 2020 Nghiên cứu, đánh giá vai trò, tác động, yêu cầu và điều kiện bảo đảm FDI là một nguồn lực quan trọng đóng góp vào mục tiêu phát triển kinh tế bền vững của một quốc gia không phải là đối tượng nghiên cứu chính của hai luận án này
Về chỉ tiêu đánh giá tính bền vững kinh tế, trên cơ sở nghiên cứu phương pháp tính chỉ số bền vững kinh tế châu Âu, nghiên cứu đặc điểm kinh tế và thực trạng nguồn
dữ liệu của Việt Nam, Nguyễn Công Mỹ (2011) đã đề xuất tính chỉ số bền vững kinh tế cấp tỉnh dựa trên Ba chỉ tiêu là: tốc độ tăng GDP các tỉnh; tỷ lệ thâm hụt ngân sách không tính phần hỗ trợ từ trung ương; chỉ số cạnh tranh cấp tỉnh Kết quả dường như có
ý nghĩa khi xếp hạng khá sát tình hình phát triển kinh tế địa phương Tuy nhiên, chỉ với
Ba chỉ tiêu này chưa đủ căn cứ để đánh giá về tính bền vững kinh tế của địa phương
Các tiêu chí đánh giá sự phát triển kinh tế bền vững cũng như một số vấn đề lý luận cơ bản về phát triển kinh tế bền vững còn được đề cập trong tác phẩm “Phát triển nhanh và bền vững nền kinh tế Việt Nam (thời kỳ 2011-2020)” của Bùi Tất Thắng (2010) Tác giả phân tích một số lý thuyết phát triển kinh tế tác động đến việc lựa chọn
mô hình phát triển kinh tế bền vững cũng như nghiên cứu bài học phát triển bền vững của một số nước Đông Á Trên cơ sở nghiên cứu hiện trạng, khả năng phát triển nhanh, bền vững của nền kinh tế Việt Nam và yêu cầu bức thiết của bối cảnh kinh tế trong nước, khu vực và quốc tế đề xuất một số chính sách và giải pháp nhằm bảo đảm phát triển kinh tế Việt Nam bền vững giai đoạn 2011-2020
Chiến lược phát triển bền vững Việt Nam giai đoạn 2011-2020, ban hành kèm theo Quyết định số 432/QĐ-TTg ngày 12/4/2012 của Thủ tướng Chính phủ đề cập khá
rõ nét mục tiêu phát triển kinh tế bền vững của Việt Nam giai đoạn 2011-2020: Bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, đặc biệt là các cân đối lớn; giữ vững an ninh lương thực, an ninh năng lượng, an ninh tài chính; chuyển đổi mô hình tăng trưởng sang phát triển hài hòa giữa chiều rộng và chiều sâu; từng bước thực hiện tăng trưởng xanh, phát triển kinh tế ít các bon; sử dụng tiết kiệm, hiệu quả mọi nguồn lực Mục tiêu phát triển kinh
Trang 28tế bền vững của Việt Nam được giám sát và đánh giá thông qua Mười chỉ tiêu chủ yếu: Hiệu quả sử dụng vốn đầu tư (ICOR); Năng suất lao động xã hội; Tỷ trọng đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp vào tốc độ tăng trưởng chung; Mức giảm tiêu hao năng lượng để sản xuất ra một đơn vị GDP; Tỷ lệ năng lượng tái tạo trong cơ cấu sử dụng năng lượng; Chỉ số giá tiêu dùng (CPI); Cán cân vãng lai; Bội chi Ngân sách nhà nước; Nợ của Chính phủ; Nợ nước ngoài Và dựa trên Bốn định hướng lớn: Duy trì tăng trưởng kinh tế bền vững, từng bước thực hiện tăng trưởng xanh, phát triển năng lượng sạch, năng lượng tái tạo; Thực hiện sản xuất và tiêu dùng bền vững; Đảm bảo an ninh lương thực, phát triển nông nghiệp, nông thôn bền vững; Phát triển bền vững các vùng và địa phương Tuy nhiên, Chiến lược chưa thể hiện chiều hướng của mục tiêu phát triển kinh tế bền vững Các chỉ tiêu đưa ra chưa được luận giải, định lượng cụ thể, như thế nào để được coi là bền vững, bền vững ngắn hạn, trung hạn, dài hạn Ví dụ ICOR bao nhiêu là bền vững, bao nhiêu không được coi là bền vững? CPI cần kiểm soát ở mức nào?
Mục tiêu phát triển kinh tế bền vững được thể hiện rõ ràng hơn trong Báo cáo Việt Nam 2035 do Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Nhóm Ngân hàng Thế giới xây dựng (2016) Báo cáo phản ánh khát vọng hướng tới mục tiêu phát triển bền vững, thịnh vượng của Việt Nam nói chung và mục tiêu phát triển kinh tế bền vững nói riêng: GDP bình quân đầu người đạt tối thiểu 18.000 USD (tính theo sức mua tương đương bằng đô-la Mỹ năm 2011); đa số người dân sống tại khu vực đô thị (trên 50%); tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ chiếm trên 90% GDP và trên 70% lao động của nền kinh
tế làm việc trong các ngành công nghiệp và dịch vụ; tỉ trọng đóng góp của kinh tế tư nhân trong GDP chiếm tối thiểu 80%; chỉ số phát triển con người đạt trên 0,7 Các nhà khoa học tham gia nhóm nghiên cứu đưa ra một số chỉ tiêu để bảo đảm Việt Nam đạt mục tiêu vào năm 2035 đó là: tốc độ tăng trưởng GDP bình quân đầu người từ nay đến năm 2035 tối thiểu phải đạt 6.0%/năm; tỷ lệ đô thị hóa đạt từ 34-35%/năm; các ngành phi nông nghiệp tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng nhanh gấp đôi so với nông nghiệp; cần có những nỗ lực có ý nghĩa hơn để khuyến khích khu vực tư nhân phát triển nhằm bảo đảm mức đóng góp 80% GDP
Đây có thể được coi là một chiến lược phát triển kinh tế bền vững dài hạn hơn của Việt Nam, bên cạnh các chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm đã, đang và
sẽ triển khai nhằm hướng tới một Việt Nam thịnh vượng, sáng tạo, công bằng và dân chủ vào năm 2035 Trên cơ sở nghiên cứu, đánh giá mục tiêu, khát vọng, phân tích, đánh giá các cơ sở lý luận và thực tiễn, nghiên cứu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Nhóm Ngân hàng Thế giới đề xuất sáu khâu đột phá mà Việt Nam cần tập trung thực
Trang 29hiện: 1 Xây dựng thể chế hiện đại và nhà nước hiệu quả; 2 Hiện đại hóa nền kinh tế
và phát triển khu vực tư nhân trong nước có năng lực cạnh tranh cao; 3 Phát triển năng lực đổi mới sáng tạo; 4 Bảo đảm công bằng và thúc đẩy hòa nhập xã hội; 5 Phát triển bền vững về môi trường và tăng cường khả năng chống chịu với biến đổi khí hậu;
6 Nâng cao hiệu quả của quá trình đô thị hóa, tăng cường kết nối giữa thành phố và các vùng phụ cận
Thời gian gần đây, bên cạnh rất nhiều các công trình nghiên cứu thực nghiệm, đánh giá thực trạng, tác động, đưa ra các giải pháp tăng cường thu hút FDI, cũng như các giải pháp nâng cao hiệu quả giải ngân và chất lượng các dự án FDI, đánh giá những tác động hai mặt của khu vực FDI đối với nền kinh tế nước nhận đầu tư để có những kiến nghị điều chỉnh phù hợp, các nghiên cứu về phát triển kinh tế bền vững, một trong ba trụ cột của phát triển bền vững, cũng rất được quan tâm nghiên cứu Các công trình nghiên cứu khoa học đã góp phần vào việc xây dựng, sửa đổi, hoàn thiện các chính sách thu hút, quản lý FDI trong thời gian qua Đồng thời khẳng định phát triển kinh tế bền vững nói riêng và phát triển bền vững nói chung phải là đích hướng đến của mỗi doanh nghiệp, mỗi quốc gia và toàn nhân loại Tuy nhiên, tính đến nay, theo tác giả, chưa có công trình khoa học nào được công bố nghiên cứu một cách có hệ thống về FDI với tư cách là một nguồn lực quan trọng đóng góp vào mục tiêu phát triển kinh tế bền vững của nước tiếp nhận đầu tư
Các nghiên cứu về phát triển kinh tế bền vững chỉ ra sự tồn tại độc lập phạm trù phát triển kinh tế bền vững khác với phát triển bền vững Các nghiên cứu về mục tiêu phát triển kinh tế bền vững cung cấp bộ tiêu chí có thể sử dụng để đo lường, đánh giá trạng thái phát triển kinh tế bền vững Kết hợp cả hai nhóm nghiên cứu này có thể khẳng định tồn tại phạm trù phát triển kinh tế bền vững và cũng hiện hữu bộ tiêu chí đánh giá mục tiêu phát triển kinh tế bền vững
2.2.2 Các nghiên cứu về tác động của FDI
Tại Việt Nam, có rất nhiều các nghiên cứu về FDI đã được thực hiện Trong đó, phần lớn là các nghiên cứu tập trung phân tích tác động của FDI tới tăng trưởng, xuất khẩu và tạo việc làm; thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả thu hút và quản lý FDI
ở các giai đoạn và chuyên ngành khác nhau như: Luận án Tiến sĩ của Nguyễn Chí Dũng (1996) “Hoàn thiện cơ chế tổ chức và quản lý hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam”; Luận án Tiến sĩ của Hoàng Văn Huấn (1995) “Hoàn thiện chính sách và giải pháp thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam”; Luận án Tiến
sĩ của Đỗ Thị Thủy (2001) “Đầu tư trực tiếp nước ngoài với sự nghiệp CNH-HĐH ở
Trang 30Việt Nam giai đoạn 1988-2005”… Bên cạnh đó là một số nghiên cứu về chính sách thu hút vốn đầu tư, môi trường đầu tư, luật đầu tư như: Luận án Tiến sĩ của Ngô Thu
Hà (2009) “Chính sách thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào Trung Quốc và khả năng vận dụng tại Việt Nam”; Luận án Tiến sĩ của Đỗ Nhất Hoàng (2002) “Sự hình thành
và phát triển của Luật Đầu tư nước ngoài trong hệ thống pháp luật Việt Nam”; Luận án Tiến sĩ của Nguyễn Thị Ái Liên (2011) “Môi trường đầu tư với hoạt động thu hút đầu
tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam”…
Phần lớn các nghiên cứu tại Việt Nam đều cho rằng FDI đóng vai trò tích cực đối với tăng trưởng, phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam Nghiên cứu của Phạm Thị Hoàng Anh & Lê Thu Hà (2012) sử dụng mô hình VAR để phân tích mối quan hệ giữa FDI và tăng trưởng kinh tế tại Việt Namchỉ ra rằng FDI có tác động tích cực tới tăng trưởng kinh tế của Việt Nam và ngược lại FDI góp phần kích thích xuất khẩu, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, công nghệ… Tuy nhiên, bằng cách tiếp cận khác, một
số nghiên cứu chỉ ra tác động không rõ nét, tính thiếu bền vững, bản chất hai mặt và những vấn đề kinh tế xã hội nảy sinh của FDI: Nghiên cứu của Trần Minh Tuấn (2010) chỉ ra bên cạnh những đóng góp tích cực, FDI cũng gây ra không ít tác động tiêu cực cho nền kinh tế như: hiện tượng chuyển giá, trốn thuế, nhiều doanh nghiệp có trình độ công nghệ trung bình, thậm chí lạc hậu gây ô nhiễm môi trường…; Luận án Tiến sĩ của Trần Quang Thắng (2012) “Những vấn đề kinh tế xã hội nảy sinh trong đầu tư trực tiếp nước ngoài của một số nước Châu Á và giải pháp cho Việt Nam”, cũng đã đi sâu phân tích tác động tiêu cực và tính khách quan của 9 vấn đề kinh tế xã hội đặc thù nảy sinh liên quan đến FDI Trên cơ sở luận giải, luận án đưa ra các giải pháp xử lý, phòng ngừa những vấn đề kinh tế xã hội nảy sinh trong FDI tại Việt Nam đến năm 2020 Thông qua các vấn đề kinh tế xã hội nảy sinh trong thu hút FDI tại Việt Nam giai đoạn 2001-2010, nghiên cứu phần nào làm rõ tính thiếu bền vững nảy sinh từ khu vực này
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Kim Nhung (2017) cho rằng FDI có tác động tích cực đến tăng trưởng trong dài hạn, nhưng trong ngắn hạn FDI không có tác động đến tăng trưởng Trong khi đó, nghiên cứu của Đỗ Thiên Anh Tuấn (2014) chỉ ra rằng tình trạng chuyển giá, trốn thuế, tránh thuế để giảm thiểu nghĩa vụ tài chính của doanh nghiệp FDI rất phổ biến và gây thất thu lớn đối với ngân sách
Đến nay, ở Việt Nam, chỉ có một số nghiên cứu đi sâu xem xét tác động của FDI, chủ yếu tới tăng trưởng: Nghiên cứu “Tác động của FDI tới tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam” trong khuôn khổ Dự án SIDA “Nâng cao năng lực nghiên cứu chính sách
để thực hiện chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam thời kỳ 2001-2010” của Nguyễn Thị Tuệ Anh và Cộng sự (2006) cho rằng FDI có mối liên hệ chặt chẽ với
Trang 31tăng trưởng GDP Các nghiên cứu của Nguyễn Thị Phương Hoa (2011), Freeman (2002), Nguyễn Mại (2003), từ việc nghiên cứu tổng quát FDI tại Việt Nam, trên cơ sở
sử dụng phương pháp định tính và dựa vào số liệu thống kê, đều đưa ra kết luận FDI
có tác động tích cực tới tăng trưởng thông qua kênh đầu tư và cải thiện nguồn nhân lực; Lê Xuân Bá (2006), bằng cách tiếp cận hẹp, dựa vào khung khổ phân tích được vận dụng trên thế giới, phân tích tác động của FDI tới tăng trưởng kinh tế thông qua hai kênh quan trọng nhất là vốn đầu tư và các tác động tràn Kết quả từ việc kết hợp cả hai phương pháp phân tích định tính và định lượng khẳng định FDI đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam Tuy nhiên, tác động tràn xuất hiện rất hạn chế và chỉ thông qua hai kênh liên kết sản xuất và cạnh tranh, đồng thời chỉ thể hiện rõ ở doanh nghiệp tư nhân mà không rõ ở doanh nghiệp Nhà nước trong ngành chế biến thực phẩm
Sử dụng phương pháp bình phương nhỏ nhất (OLS) để kiểm định sự lan tỏa công nghệ từ FDI ở ngành công nghiệp chế biến Việt Nam, Lê Quốc Hội (2008) chỉ ra
sự tham gia của doanh nghiệp FDI có tác động tích cực, lan tỏa công nghệ theo chiều dọc tới các doanh nghiệp trong các ngành công nghiệp chế biến của Việt Nam Điều này có ý nghĩa, các doanh nghiệp trong nước được hưởng lợi lan tỏa công nghệ thông qua quan hệ thương mại, cung cấp sản phẩm đầu vào, hoặc trao đổi lao động Tuy nhiên, kết quả ước lượng cũng chỉ ra không có tác động của lan tỏa công nghệ theo chiều ngang, ngược lại, sự có mặt của doanh nghiệp FDI gây tác động tiêu cực tới doanh nghiệp trong nước cùng ngành Tác giả kết luận, có sự lan tỏa công nghệ từ doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp trong nước ở các ngành công nghiệp chế biến của Việt Nam thông qua kênh thương mại và liên kết sản xuất; mức độ của lan tỏa công nghệ phụ thuộc vào khả năng hấp thụ công nghệ của các doanh nghiệp trong nước
Với mô hình kinh tế lượng và kiểm định tương quan, nhiều nghiên cứu đã đưa
ra kết luận về vai trò tích cực của FDI đối với nền kinh tế: Vũ Văn Hưởng (2007) cho rằng Tỷ lệ vốn FDI trên tổng số vốn đầu tư toàn xã hội có tác động tích cực đến GDP trên đầu người và FDI cũng tác động tích cực đến hoạt động XNK của Việt Nam; Nguyễn Phú Tụ và Huỳnh Công Minh (2010) chỉ ra, trong giai đoạn 2003-2007, FDI
và tăng trưởng kinh tế của Việt Nam có mối quan hệ hai chiều tích cực FDI có tác động tích cực tới tăng trưởng kinh tế của Việt Nam và tăng trưởng kinh tế cao là dấu hiệu tích cực để thu hút các nhà đầu tư nước ngoài đến Việt Nam
Bằng phân tích thực nghiệm, một số nghiên cứu gần đây chỉ ra mối quan hệ tích cực giữa FDI và tăng trưởng kinh tế của Việt Nam: bài nghiên cứu của Trịnh Hoài Nam và Nguyễn Mai Quỳnh Anh (2015), “Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài
Trang 32đối với tăng trưởng kinh tế: Trường hợp Việt Nam” giai đoạn 1990-2013 đăng trên International Knowledge Sharing Platform chỉ ra FDI, đầu tư trong nước, mở cửa thị trường, giáo dục trung học có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế, trong khi lạm phát, tiêu dùng chính phủ có tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế; qua phân tích OLS về ảnh hưởng của hai yếu tố cạnh tranh giữa các tỉnh và sự thay đổi của luật pháp tới mối quan hệ giữa FDI và GDP hai khu vực Bắc Trung bộ và Duyên hải Nam Trung
bộ, giai đoạn 2001-2010, Nguyễn Đình Chiến và Kezhong Zhang (2012), nhận thấy FDI và GDP ở hai khu vực này có mối quan hệ tác động qua lại chặt chẽ với nhau, kể
cả ở những tỉnh có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn và đặc biệt đúng với các tỉnh có điều kiện kinh tế - xã hội thuận lợi như Đà Nẵng Nghiên cứu chỉ ra, không có sự canh tranh mạnh mẽ giữa các tỉnh thuộc Bắc Trung bộ và Duyên hải Nam Trung bộ vì có hiện tượng các tỉnh có CPI cao hơn nhưng lại thu hút được ít FDI hơn trong giai đoạn 2001-2010 Trong khi đó, sự công khai, minh bạch và khả năng tiếp cận thông tin trên trang thông tin điện tử, chất lượng cơ sở hạ tầng, việc hoàn thiện hệ thống luật pháp và gia nhập các diễn đàn kinh tế, thương mại có tác động mạnh mẽ tới khả năng thu hút FDI Cụ thể, Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp ban hành năm 2005 và việc Việt Nam gia nhập WTO năm 2007 góp phần gia tăng mạnh mẽ FDI đăng ký đầu tư vào hai khu vực này
Luận án Tiến sĩ của Nguyễn Văn Thanh (2001), “Vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với sự phát riển kinh tế bền vững của các nước Đông Á và bài học đối với Việt Nam” Thực chất Luận án đi vào phân tích các đóng góp của FDI đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế của Đài Loan, Hàn Quốc, Thái Lan, Malaysia và ảnh hưởng của FDI đối với nền kinh tế Việt Nam trong những năm đổi mới để rút ra một
số kinh nghiệm, đề xuất định hướng chính sách và giải pháp nhằm đẩy mạnh thu hút FDI vào Việt Nam trong những năm tới chứ chưa đi vào làm rõ mối quan hệ, vai trò và những đóng góp trực tiếp của FDI đối với mục tiêu phát triển kinh tế bền vững của nước tiếp nhận Luận án chưa phân tích rõ nét yêu cầu, điều kiện bảo đảm FDI thực sự
là một nguồn lực quan trọng đối với phát triển kinh tế bền vững để khuyến nghị chính sách phù hợp
Báo cáo tổng kết 25 năm thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài của Bộ Kế hoạch
và Đầu tư tại Hội nghị Tổng kết 25 năm thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài diễn ra tại
Hà Nội ngày 27/3/2013 đánh giá khá toàn diện về tính hình thu hút, quản lý và hoạt động của FDI Trên cơ sở đó đề xuất những định hướng cơ bản thu hút và sử dụng vốn
FDI trong thời gian tới Báo cáo chỉ ra Năm khía cạnh tác động tích cực: Một là, đóng góp tích cực vào tăng trưởng, tỷ trọng đóng góp vào GDP tăng dần theo từng năm; Hai
Trang 33là, tác động tích cực, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu các ngành trong nền kinh tế cũng
như cơ cấu nội bộ từng ngành theo hướng CNH - HĐH; Ba là, góp phần thúc đẩy việc
chuyển giao công nghệ cả về máy móc, thiết bị, tri thức và kinh nghiệm quản lý, từ đó
có ảnh hưởng nhất định trong việc cải thiện trình độ công nghệ trong nước; Bốn là,
góp phần tạo việc làm, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và thay đổi cơ cấu lao động; Năm là, góp phần trong việc hội nhập kinh tế quốc tế, nâng cao năng lực quản lý kinh tế, quản trị doanh nghiệp; thúc đẩy quá trình cải cách doanh nghiệp nhà nước; đổi mới thủ tục hành chính và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường; xây dựng và hoàn
thiện đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước về ĐTNN Và Năm vấn đề tồn tại: Một là, hiệu
quả tổng thể nguồn vốn ĐTNN chưa cao, giá trị gia tăng tạo ra tại Việt Nam và khả năng tham gia chuỗi giá trị thấp, định hướng thu hút FDI theo ngành, đối tác còn hạn
chế; Hai là, mục tiêu thu hút công nghệ (công nghệ cao và công nghệ nguồn), chuyển giao công nghệ chưa đạt được yêu cầu; Ba là, hiệu ứng lan tỏa của khu vực ĐTNN sang khu vực khác của nền kinh tế còn hạn chế; Bốn là, một số dự án chất lượng chưa cao, quy mô bình quân dự án nhỏ, tỷ lệ giải ngân thấp so với yêu cầu; Năm là, đời
sống người lao động chưa cao, tranh chấp và đình công có xu hướng gia tăng, có hiện tượng chuyển giá, trốn thuế Kết quả phân tích chỉ ra tính chưa thực sự bền vững của khu vực kinh tế FDI Tuy nhiên, việc đi sâu nghiên cứu về mối quan hệ giữa FDI với mục tiêu phát triển kinh tế bền vững không phải nội dung nghiên cứu và trình bày của báo cáo
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Tuệ Anh và cộng sự (2014), “Nghiên cứu điều chỉnh chính sách đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam đến năm 2020”, Đề tài nghiên cứu thuộc Chương trình KH&CN trọng điểm cấp nhà nước KX.01/11-15, mặc
dù nghiên cứu tác động của FDI không phải nội dung chính của đề tài, đã dành một chương (Chương IV) nghiên cứu hiệu quả FDI ở Việt Nam từ năm 1988 đến 2013, đánh giá khá toàn diện về tác động của FDI tới kinh tế Việt Nam làm căn cứ đề xuất giải pháp điều chỉnh chính sách FDI của Việt Nam Việc đánh giá tính bền vững và mối quan hệ giữa FDI với mục tiêu phát triển kinh tế bền vững của Việt Nam không phải là nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
2.2.3 Các công trình nghiên cứu về đầu tư trực tiếp nước ngoài với mục tiêu phát triển kinh tế bền vững
Tại Việt Nam, những năm gần đây, có một số nghiên cứu về định hướng thu hút FDI bảo đảm phát triển bền vững đối với một số vùng kinh tế: Luận án tiến sĩ kinh tế của Trần Thị Tuyết Lan (2014) chỉ ra những tác động tiêu cực của FDI đối với việc phát triển bền vững vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ Đối chiếu với quan điểm về FDI
Trang 34theo hướng bền vững ở vùng kinh tế trọng điểm do tác giả đưa ra: là đầu tư của tổ chức, cá nhân nước ngoài vào vùng kinh tế trọng điểm của nước khác, đáp ứng yêu cầu của quy hoạch, định hướng phát triển vùng đó; có tác động tích cực đến sự phát triển của vùng nhằm bảo đảm kết hợp hài hòa, hợp lý giữa phát triển kinh tế, phát triển
xã hội và bảo vệ môi trường không chỉ đối với vùng kinh tế trọng điểm, mà còn tác động lan tỏa đến các vùng khác cả trong hiện tại và tương lai, tác giả khuyến nghị một
số giải pháp thúc đẩy FDI theo hướng bảo đảm phát triển bền vững tại vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ có ý nghĩa về cả mặt lý luận và thực tiễn
Cùng nghiên cứu về mối quan hệ giữa FDI với phát triển bền vững vùng kinh
tế, Nguyễn Thị Thanh Mai (2016), đi vào nghiên cứu đóng góp của FDI với phát triển bền vững của vùng Đồng bằng Sông Hồng Trong đó, đóng góp của FDI đối với phát triển bền vững về kinh tế của vùng, được nghiên cứu với ý nghĩa là một trong ba khía cạnh của phát triển bền vững, và được đánh giá thông qua các tiêu chí: tăng trưởng kinh tế, năng suất lao động và chuyển dịch cơ cấu kinh tế Qua nghiên cứu thực trạng đóng góp của FDI vào phát triển bền vững về kinh tế vùng Đồng bằng Sông Hồng, tác giả rút ra một số kết luận rất có ý nghĩa tham khảo, đặc biệt là đối với các vùng kinh tế như: Hiệu quả vốn đầu tư (hệ số ICOR của FDI) bị sụt giảm; đóng góp yếu tố vốn của khu vực FDI là thấp hơn so với đóng góp yếu tố vốn của khu vực Nhà nước và ngoài nhà nước; đóng góp yếu tố lao động đối với tăng trưởng kinh tế của khu vực FDI lớn hơn so với khu vực Nhà nước và ngoài nhà nước; đóng góp của TFP có tăng lên đôi chút trong giai đoạn 2008-2014 so với giai đoạn 2003-2007, tuy nhiên tỷ lệ này vẫn chiếm tỷ trọng rất nhỏ (8,75%) Hướng tiếp cận và lựa chọn chỉ tiêu phân tích, đánh giá đóng góp của FDI vào phát triển bền vững về kinh tế của tác giả có một số điểm tương đồng với nghiên cứu này
Báo cáo PCI hằng năm của VCCI đo lường hiệu quả môi trường kinh doanh với các chỉ số phản ánh mức độ thuận lợi trong triển khai hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và đánh giá của doanh nghiệp với môi trường đầu tư các tỉnh nói riêng và của Việt Nam nói chung Trong đó, năm 2017 là năm thứ 8 VCCI tách các doanh nghiệp FDI ra thành một tổ hợp riêng để đánh giá mức độ hài lòng và tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp FDI Đây là một kênh thông tin tham khảo quan trọng, góp phần thúc đẩy cải thiện môi trường đầu tư của các địa phương và của Việt Nam theo hướng thuận lợi, minh bạch Tuy nhiên, đánh giá chất lượng, hiệu quả kinh tế của doanh nghiệp FDI gắn với mục tiêu phát triển kinh tế bền vững và mối quan hệ giữa cải thiện môi trường đầu tư với bảo đảm đầu tư bền vững không phải nội dung phản ánh chính của báo cáo
Trang 352.3 Khoảng trống nghiên cứu
Các nghiên cứu thực nghiệm về tác động của FDI đối với nền kinh tế nước tiếp nhận đầu tư cho kết quả không thống nhất trong các trường hợp khác nhau Điều này tạo nên ba trường phái điển hình trong đánh giá tác động của FDI
* Trường phái thứ nhất khẳng định FDI có vai trò tích cực đối với nền kinh tế
và mục tiêu phát triển kinh tế bền vững của nước tiếp nhận đầu tư, cụ thể như:
- FDI giúp đẩy mạnh tốc độ tăng trưởng kinh tế, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực, thúc đẩy phân công lao động quốc tế và hội nhập, tạo tiền
đề tham gia và khai thác có hiệu quả chuỗi giá trị sản phẩm toàn cầu Đồng thời, thông qua việc tao ra những doanh nghiệp mới, thu hút thêm lao động, giải quyết một phần nạn thất nghiệp, cải thiện đời sống người lao động
- FDI đem lại cho nước tiếp nhận nguồn vốn bổ sung quan trọng, khắc phục một phần tình trạng thiếu hụt vốn, góp phần giải quyết mâu thuẫn giữa nhu cầu phát triển với nguồn tài chính hạn hẹp trong thời kỳ đầu công nghiệp hoá Điều này càng đặc biệt quan trọng đối với những nước hạn chế vốn trong nước, có cơ hội bổ sung vốn
mà không phải lo gánh nặng nợ công Hơn nữa, FDI còn có khả năng kích thích nguồn vốn trong nước vào các dự án đầu tư thông qua tác động lan tỏa và nhu cầu liên kết sản xuất, kinh doanh
- FDI đi kèm với di chuyển máy móc thiết bị và công nghệ mới giúp nước nhận đầu tư tiếp cận với tiến bộ công nghệ, kỹ thuật mới, nâng cao giá trị các sản phẩm trong nước, sản xuất các sản phẩm chất lượng cao có giá trị gia tăng cao Quá trình chuyển giao công nghệ giúp nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực, tiết kiệm chi phí và nâng cao khả năng cạnh tranh của các sản phẩm trong nước Bên cạnh đó, việc chuyển giao công nghệ đi kèm với FDI buộc các doanh nghiệp trong nước cũng phải đầu tư cải tiến công nghệ, nâng cao năng suất lao động và chất lượng sản phẩm, dịch vụ
- Cùng với FDI, những kiến thức về quản lý kinh tế, quản trị doanh nghiệp tiên tiến, hiện đại được du nhập vào trong nước, tạo môi trường cạnh tranh, giúp các tổ chức sản xuất trong nước bắt kịp phương thức quản lý công nghiệp hiện đại, lực lượng lao động quen dần với phong cách làm việc công nghiệp cũng như hình thành dần đội ngũ doanh nhân giỏi
- Quá trình vận hành dự án, FDI gắn liền với việc tuyển dụng, đào tạo, sử dụng lao động trong nước góp phần hình thành đội ngũ lao động chất lượng cao đáp ứng yêu cầu của nhà đầu tư cũng như sự nghiệp công nghiệp hóa và phát triển kinh tế bền vững
Trang 36- Hoạt động R&D của FDI cũng được đánh giá rất cao Lợi ích mang lại từ R&D đôi khi lớn hơn rất nhiều so với việc di chuyển vốn Đây chính là lý do, nhiều quốc gia tiếp nhận đầu tư đưa ra các chính sách ưu đãi đặc biệt nhằm khuyến khích các tập đoàn lớn thành lập và triển khai các chi nhánh nghiên cứu và phát triển ở nước mình
- FDI còn góp phần phát triển mở cửa thị trường hàng hoá nước ngoài, giúp các doanh nghiệp trong nước tiếp cận với thị trường thế giới thông qua liên doanh và mạng sản xuất, cung ứng trong khu vực và toàn cầu Đây là con đường nhanh nhất và có hiệu quả cao nhất giúp các doanh nghiệp trong nước tiếp cận với thị trường nước ngoài
* Đối lập với trường phái thứ nhất, qua một số trường hợp điển hình, trường phái thứ hai phủ định và hoài nghi về bảo đảm tính bền vững kinh tế có thể mang lại cho nền kinh tế nước tiếp nhận đầu tư từ khu vực FDI:
- Vốn FDI thực tế triển khai tại nước tiếp nhận đầu tư là thấp và khá đắt đỏ nếu so sánh giữa đóng góp của FDI và sự tiêu hao nguồn lực Đồng thời, với sự thống trị của các MNC trong một nền kinh tế đang phát triển có thể gây bất lợi cho tăng trưởng và phát triển kinh tế FDI làm tăng sản lượng ở các doanh nghiệp
có vốn đầu tư nước ngoài nhưng lại làm giảm sản lượng đối với doanh nghiệp trong nước (Haddad M And Harrison’s A E., 1993; Kopp R and Smith V K., 1993) Thậm chí còn xảy ra tình trạng FDI chèn lấn nhằm loại bỏ doanh nghiệp trong nước để chiếm lĩnh thị trường
- Không những việc chuyển giao công nghệ lạc hậu, gây ô nhiễm môi trường rất phổ biến mà những lợi ích tương ứng của công nghệ nước ngoài đưa vào nước sở tại
có thể không đáng kể hoặc thậm chí là không có (Imad A Moosa, 2002) Trong nhiều trường hợp không thấy có dấu hiệu tích cực nào của tác động tràn công nghệ (Aiken B
J and Harrison’s A E., 1999), và ảnh hưởng lan truyền của FDI tới sản lượng là rất nhỏ (Haddad M and Harrison’s A E., 1993) Trong trường hợp có sự chuyển giao công nghệ tích cực thì để khu vực FDI có năng suất cao hơn đầu tư trong nước, nước tiếp nhận FDI phải có đủ ngưỡng tối thiểu về vốn con người (Borensztein E., Jose De Gregorio and J-W Lee, 1998) Do vậy nguy cơ nước tiếp nhận đầu tư trở thành bãi rác công nghệ cho các nhà đầu tư nước ngoài là hiện hữu
- Cơ cấu kinh tế chuyển dịch mất cân đối do FDI thường tập trung vào các ngành có lợi thế so sánh, các ngành có lợi nhuận và khả năng cạnh tranh cao của nước tiếp nhận đầu tư (Imad A Moosa, 2002), không bảo đảm mục tiêu phát triển cân đối, hài hòa và bền vững về kinh tế của nước tiếp nhận đầu tư
Trang 37- Sử dụng không hiệu quả các nguồn lực và nguy cơ cạn kiệt tài nguyên Việc tranh thủ mọi nguồn lực, khai thác triệt để mọi nguồn tài nguyên sẵn có của nước tiếp nhận nhằm bảo đảm lợi nhuận tối đa chuyển về nước đầu tư là nguy cơ của tình trạng lãng phí, sử dụng không hiệu quả nguồn lực, gây cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên
và gây ô nhiễm môi trường
* Dung hòa giữa hai trường phái, trường phái thứ ba thừa nhận FDI vừa có mặt tích cực nhưng đồng thời cũng tiềm ẩn nhiều tác động tiêu cực đối với nền kinh tế và mục tiêu phát triển kinh tế bền vững của nước tiếp nhận Đồng thời khẳng định, để thu được lợi ích thực sự từ FDI, đặc biệt gắn với mục tiêu phát triển kinh tế bền vững, nước tiếp nhận đầu tư cần chuẩn bị sẵn sàng về cơ sở hạ tầng, nguồn nhân lực, thể chế
và các công cụ chính sách điều tiết và quản lý hiệu quả
Nghiên cứu của Esiyok & Ugur (2015) chỉ ra, việc mở cửa thị trường, tiềm năng thị trường, giáo dục trung học ở cấp tỉnh tạo sức hút đáng kể đối với FDI, trong
đó các công ty đa quốc gia và chính MNCs tác động đến thúc đẩy xuất khẩu của địa phương, địa phương lân cận và cả nước
Ngoài ra, có nhiều nghiên cứu chỉ ra, FDI ảnh hưởng khác nhau đối với các quốc gia khác nhau, các ngành, lĩnh vực khác nhau trong một nền kinh tế, tác động tích cực với quốc gia này, ngành này nhưng lại ảnh hưởng tiêu cực tới quốc gia khác, ngành khác và hình thức đầu tư khác nhau cũng có ảnh hưởng khác nhau
Có thể thấy chủ đề FDI và tác động của nó tới nước tiếp nhận đầu tư nhận được rất nhiều sự quan tâm nghiên cứu của các chuyên gia, nhà khoa học trong nước cũng như quốc tế Kết quả nghiên cứu phản ánh một bức tranh đa chiều, không đồng nhất về vai trò và tác động của FDI đối với mục tiêu phát triển kinh tế bền vững của nước tiếp nhận đầu tư Bên cạnh rất nhiều các công trình nghiên cứu thực nghiệm, đánh giá thực trạng, tác động, đưa ra các giải pháp tăng cường thu hút FDI, còn có các nghiên cứu hướng tới các giải pháp nâng cao hiệu quả giải ngân và chất lượng các dự án FDI bảo đảm mục tiêu phát triển kinh tế bền vững, cũng như đánh giá những tác động hai mặt của FDI đối với nền kinh tế nước nhận
để có những kiến nghị điều chỉnh chính sách phù hợp Các công trình nghiên cứu khoa học có liên quan góp phần vào việc xây dựng, sửa đổi, hoàn thiện chính sách thu hút, quản lý FDI ngày càng hiệu quả
Những năm gần đây, các nghiên cứu về chỉ tiêu đánh giá, mục tiêu và các giải pháp bảo đảm phát triển kinh tế bền vững, một trong ba trụ cột của phát triển bền
Trang 38vững, cũng rất được quan tâm nghiên cứu Kết quả đi đến thống nhất, phát triển kinh tế bền vững nói riêng và phát triển bền vững nói chung phải là đích hướng đến của mỗi doanh nghiệp, mỗi quốc gia và toàn nhân loại
Tuy nhiên, tính đến nay, theo sự tìm hiểu của tác giả, chưa có công trình khoa học nào đã được công bố tập trung nghiên cứu về FDI với tư cách là một nguồn lực quan trọng đóng góp vào mục tiêu phát triển kinh tế bền vững của nước tiếp nhận Các nghiên cứu về FDI ít gắn với mục tiêu phát triển kinh tế bền vững Ngược lại, các nghiên cứu về phát triển kinh tế bền vững thường ít gắn với FDI Do đó, luận án là nghiên cứu góp phần lấp khoảng trống nghiên cứu gắn FDI với mục tiêu phát triển kinh tế bền vững
Luận án tiếp cận theo hướng, bên cạnh những đóng góp quan trọng, FDI bộc lộ những hạn chế trong nền kinh tế Việt Nam, chưa bảo đảm đóng góp tích cực vào mục tiêu phát triển kinh tế bền vững Tuy nhiên, FDI vẫn là một nguồn lực quan trọng và thực sự cần thiết trong thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế bền vững, đóng góp tích cực vào hiện thực hóa các mục tiêu phát triển kinh tế bền vững của Việt Nam khi có sự sẵn sàng cả về số lượng, chất lượng của các nguồn lực, hạ tầng cơ sở, hạ tầng kỹ thuật,
sự hoàn thiện của thể chế và các công cụ quản lý, điều tiết hiệu quả Điều này đặt ra yêu cầu đánh giá, sàng lọc đối tác, cơ cấu, chất lượng nguồn vốn, công nghệ, ngành nghề, địa bàn và hình thức đầu tư phù hợp, sự sẵn sàng về thể chế, hạ tầng cơ sở, các nguồn lực trong nước, cũng như các công cụ chính sách điều tiết, quản lý có hiệu quả
để FDI đóng góp tích cực vào mục tiêu phát triển kinh tế bền vững
3 Mục tiêu nghiên cứu
3.1 Mục tiêu tổng quát
Nghiên cứu, đánh giá tác động, mối quan hệ giữa FDI với mục tiêu phát triển kinh tế bền vững của Việt Nam Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, luận án đề xuất giải pháp chính sách gắn FDI với mục tiêu phát triển kinh tế bền vững của Việt Nam đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2035
Trang 39- Phân tích, đánh giá thực trạng FDI với mục tiêu phát triển kinh tế bền vững của Việt Nam giai đoạn 1988 - 2017
- Nghiên cứu kinh nghiệm của một số quốc gia về FDI với mục tiêu phát triển kinh tế bền vững, rút ra bài học cho Việt Nam
- Đề xuất định hướng và giải pháp chính sách gắn FDI với mục tiêu phát triển kinh tế bền vững của Việt Nam đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2035
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu FDI với tư cách là một nguồn lực quan trọng góp phần thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế bền vững thông qua một số chỉ tiêu phản ánh mức độ đóng góp vào phát triển kinh tế bền vững
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu mối quan hệ, đánh giá tác động của FDI với mục tiêu phát triển kinh tế bền vững của Việt Nam từ năm 1988 đến năm 2017, theo 4 giai đoạn 1988-1990; 1991-2000; 2001-2010; 2011-2017, trên một số khía cạnh: đóng góp vốn, công nghệ, lao động, đóng góp thu ngân sách, tăng trưởng GDP, xuất nhập khẩu, mở cửa thị trường, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển những ngành nghề, sản phẩm Việt Nam
có lợi thế cạnh tranh
Nghiên cứu kinh nghiệm của một số quốc gia về FDI với mục tiêu phát triển kinh tế bền vững, rút ra bài học đối với Việt Nam
5 Câu hỏi nghiên cứu
- FDI như thế nào được đánh giá là gắn với mục tiêu phát triển KTBV?
- Tiêu chí đánh giá đóng góp của FDI với mục tiêu phát triển KTBV là gì?
- FDI có đóng góp như thế nào vào thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế bền vững của Việt Nam giai đoạn 1988 - 2017?
- Tỷ trọng đóng góp và tương quan so sánh giữa FDI với các khu vực kinh tế khác trong nền kinh tế thể hiện như thế nào?
- Định hướng và giải pháp nào gắn FDI với mục tiêu phát triển kinh tế bền vững của Việt Nam đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2035?
Trang 406 Phương pháp và quy trình nghiên cứu
6.1 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu, luận án sử dụng kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: thu thập, nghiên cứu tài liệu, công trình khoa học trong nước và quốc tế liên quan đến nội dung nghiên cứu, thông qua tìm kiếm tại các thư viện, hướng dẫn của các nhà khoa học, tài khoản của các trang thông tin khoa học do Viện Đào tạo sau đại học trường Đại học Kinh tế quốc dân cung cấp, các báo, tạp chí khoa học và mạng internet… nhằm phân loại, so sánh, đánh giá, làm rõ khoảng trống nghiên cứu
- Phương pháp thống kê, thu thập số liệu: khai thác và sử dụng các nguồn số liệu sơ cấp (khai thác dữ liệu thu được từ 11.925 mẫu điều tra doanh nghiệp FDI năm
2015 của Tổng cục Thống kê) và thứ cấp liên quan đến đề tài từ các kênh thông tin chính thức trong nước và quốc tế như: Tổng cục Thống kê, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Tổng cục Hải quan, Ngân hàng Thế giới… để phân tích, so sánh tác động của FDI so với doanh nghiệp trong nước, giữa các loại hình doanh nghiệp FDI với nhau và giữa FDI của Việt Nam với FDI của một số nước nhằm đánh giá đóng góp của FDI với nền kinh tế và mục tiêu phát triển kinh tế bền vững của Việt Nam
- Phương pháp thống kê mô tả để so sánh tình hình, đóng góp của FDI giữa các giai đoạn và gắn với mục tiêu phát triển kinh tế qua các thời kỳ; so sánh giữa đóng góp của FDI với đóng góp của đầu tư trong nước; mức độ kết nối giữa FDI với nhau và với phần còn lại của nền kinh tế
- Phương pháp phân tích, so sánh: trên cơ sở nguồn số liệu đánh giá thực trạng FDI với mục tiêu phát triển kinh tế bền vững của Việt Nam thông qua phân tích tỷ trọng đóng góp của FDI; so sánh tương quan đóng góp giữa FDI và các khu vực kinh
tế khác và giữa các loại hình doanh nghiệp FDI với nhau thông qua một số chỉ tiêu như vốn, công nghệ, lao động, ngân sách, XNK; so sánh tương quan một số chỉ tiêu của FDI tại Việt Nam với một số nước trong khu vực ở những giai đoạn phát triển tương tự; phân tích một số kinh nghiệm quốc tế để rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
- Phương pháp kiểm định tương quan và dự báo: sử dụng một số phần mềm phân tích và dự báo thống kê như OLS, ARIMA để kiểm định tương quan giữa FDI với một số chỉ tiêu kinh tế và dự báo FDI đến năm 2025, như tương quan giữa FDI với GDP, với tổng đầu tư, với xuất nhập khẩu