1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Nghiên cứu thành phần loài và sự phân bố bò sát ở vườn quốc gia Kon Ka Kinh, tỉnh Gia Lai

74 219 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 74
Dung lượng 14,12 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục đích nghiên cứu Nghiên cứu thành phần loài và sự phân bố Bò sát ở vườn quốc gia Kon Ka Kinh,Tỉnh Gia Lai nhằm xây dựng cơ sở dữ liệu về Bò sát làm cơ sở khoa học cho việc quản lítài

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Vườn quốc gia Kon Ka Kinh được thành lập vào năm 2002, có diện tích tựnhiên là 41.780 ha, nằm về phía Đông Bắc tỉnh Gia Lai, thuộc địa bàn của 5 xã ĐăkRoong, Kon Pne, Kroong (huyện KBang); Xã AJun (huyện Mang Yang) và xã HàĐông (huyện Đăk Đoa) Có địa hình chủ yếu gồm nhiều dãy núi cao của tỉnh Gia

Lai, điển hình là núi Kon Ka Kinh cao 1.748 m Là nơi lưu trữ các mẫu chuẩn của

hệ sinh thái, nguồn tài nguyên sinh vật, các nguồn gen động, thực vật đặc hữu, quýhiếm của vùng Cao nguyên

Do đặc điểm đa dạng về địa hình, độ cao, khí hậu, đất đai và các nhân tố hìnhthành rừng khác đã tạo cho hệ động, thực vật rừng ở Vườn quốc gia Kon Ka Kinhrất phong phú Trong đó phải kể đến các loài bò sát, một trong những loài đóng vaitrò quan trọng trong hệ sinh thái tự nhiên Đây là loài có khu vực sống đa dạng và

có quan hệ dinh dưỡng với nhiều loài thực vật, động vật khác Hầu hết các loài bòsát là nhóm đa thực, có loài hoạt động kiếm ăn ngày, có loài hoạt động kiếm ănđêm Chúng góp phần quan trọng đối với cân bằng sinh thái và sự phát triển kinh tế,văn hóa, xã hội của con người Phần lớn bò sát là những loài có giá trị khoa học,thẩm mỹ, dược liệu và thực phẩm, có ích đối với nông nghiệp… và đang được conngười chú ý tới tìm cách săn bắt, bẫy để đem về nguồn lợi nhuận khá khổng lồ

Ở vườn, người ta cũng mới chỉ biết đến những loài bò sát loài đặc hữu cho vùng

và cho Việt Nam như: Thằn lằn buôn lưới (Sphenomorphus buonluoicus) là loài đặchữu cho vùng Nam Trường Sơn (Lào) và loài đặc hữu cho Việt Nam: Thằn lằn đuôiđỏ… Một danh lục bò sát được thiết lập để làm cơ sở cho việc xây dựng vườn, cũng

là tài liệu khá ít ỏi về bò sát ở đây Chưa có một nghiên cứu cụ thể nào về các loài

bò sát ở vườn quốc gia Kon Ka Kinh

Việc hiểu biết một cách đầy đủ và khoa học về thành phần, đặc điểm sinhthái…của bò sát là một điều rất cần thiết để nâng cao hiệu quả bảo tồn nguồn gen

Từ những cơ sở khoa học và thực tiễn đó, với mong muốn góp phần cung cấpthêm dẫn liệu và cơ sở khoa học cho việc quản lí, bảo tồn nguồn gen sinh vật, nên

Trang 2

chúng tôi đã tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu thành phần loài và sự phân

bố bò sát ở vườn quốc gia Kon Ka Kinh, tỉnh Gia Lai”.

2 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu thành phần loài và sự phân bố Bò sát ở vườn quốc gia Kon Ka Kinh,Tỉnh Gia Lai nhằm xây dựng cơ sở dữ liệu về Bò sát làm cơ sở khoa học cho việc quản lítài nguyên Bò sát trong vùng nghiên cứu

3 Phạm vi nghiên cứu

Các tiểu khu : 414, 432, 433, 436 thuộc phía Tây Nam, Vườn quốc gia Kon

Ka Kinh, Tỉnh Gia Lai

4 Nội dung nghiên cứu

- Điều tra thành phần loài Bò sát tại vùng nghiên cứu

- Điều tra sự phân bố của các loài Bò sát theo sinh cảnh và đai cao

- Đặc điểm sinh thái học của một số loài Bò sát trong vùng nghiên cứu Trên

cơ sở đó đề xuất biện pháp bảo tồn, phát triển nguồn tài nguyên bò sát

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

5.1 Ý nghĩa khoa học

Từ kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần cung cấp dẫn liệu khoa học vềthành phần loài, sự phân bố, đặc điểm sinh thái học một số loài Bò sát của vườnquốc gia Kon Ka Kinh, tỉnh Gia Lai

5.2 Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả nghiên cứu về thành phần loài, phân bố, đặc điểm sinh thái học

của một số loài Bò sát làm cơ sở khoa học cho việc quản lí, bảo tồn các loài Bò sát

ở vườn quốc gia Kon Ka Kinh, tỉnh Gia Lai

5.3 Đóng góp của luận văn

- Lập danh sách thành phần loài bò sát cho Vườn Quốc Gia Kon Ka Kinh

- Một số đặc điểm sinh thái học của một số loài bò ở Vườn Quốc Gia Kon KaKinh

6 Cấu trúc luận văn

Nội dung của luận văn gồm các phần sau

Trang 3

Mở đầu

Chương 1: Tổng quan tài liệu

Chương 2: Đối tượng, địa điểm, thời gian và phương pháp nghiên cứuChương 3: Kết quả và thảo luận

Kết luận và kiến nghị

Tài liệu tham khảo

Phụ lục

Trang 4

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 1.1 Tình hình nghiên cứu Bò sát trên thế giới

Từ đầu thế kỷ XX đến nay, trên thế giới đã có hàng nghìn các công trìnhnghiên cứu thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau về bò sát Từ năm 1962 đến năm 1998,

đã có nhiều chuyên khảo về bò sát như: Guibé J., 1962, Grassé P.et al, 1970,Bellaire A., 1971; Daniet J.D., 1989, Halliday T.R., Adler K., 1994; Goin C J.,Goin O.B 1962; Obst F.J., K Richter, U.Jacob, 1998 Ở Đông dương, công trìnhnổi tiếng nhất được biết đến là của Bourret (1936, 1941, 1942), của Smith (1931,

1935, 1945) tổng hợp kết quả nghiên cứu bò sát ở khu vực Đông Nam Á

1.2 Tình hình nghiên cứu Bò sát ở Việt Nam

Ở Việt Nam nghiên cứu về bò sát bắt đầu từ khi Morice (1875) lập nên danhsách các loài bò sát thu được mẫu ở Nam Bộ mở đầu cho các công trình nghiên cứukhoa học về nhóm động vật này ở nước ta vào thế kỷ XIX Những nghiên cứu về bòsát tiếp theo ở Bắc Bộ có J Anderson (1878), ở Nam Bộ có J Tirant (1885), G.Boulenger (1890), Flower (1896)

Từ đầu thế kỉ XX đến nay, các công trình nghiên cứu Bò sát tiếp tục được thựchiện bởi các nhà khoa học trong và ngoài nước Theo thời gian, điều kiện đất nước

và yêu cầu của cuộc sống, việc nghiên cứu Bò sát được quan tâm ngày càng nhiều

và mở rộng ra nhiều hướng hơn Có thể chia lịch sử nghiên cứu Bò sát ở Việt Namthành ba giai đoạn cơ bản:

* Giai đoạn trước 1954: Tuệ Tĩnh (1623?-1713) nhà y học dân tộc, người đầu

tiên ghi nhận 16 vị thuốc có nguồn gốc từ Bò sát trong 498 bài thuốc của mình (TuệTĩnh, 1972) Sau ông, những nghiên cứu về bò sát hoàn toàn do người nước ngoàithực hiện Các nghiên cứu ở thời kỳ này được các tác giả tiến hành chủ yếu điều trakhu hệ bò sát, xây dựng danh lục bò sát các vùng: Tirant (1985), Boulenger (1903),Smith (1921, 1923, 1924) Trong đó đáng chú ý là các công trình của Bourret R vàcác cộng sự trong khoảng thời gian từ 1924 đến 1944 đã thống kê, mô tả được 177loài và loài phụ Thằn lằn, 245 loài và loài phụ Rắn, 44 loài và loài phụ Rùa trêntoàn Đông Dương, trong đó có nhiều loài của miền Bắc Việt Nam (Bourret R 1936,

Trang 5

1941, 1942) Đáng chú ý là những công trình nghiên cứu của Bourret nói nhiều đến

bò sát Bắc Trung Bộ Ông công bố và bổ sung nhiều loài cho danh lục bò sát(Bourret R 1934, 1937, 1939, 1940, 1943) Các cuốn sách chuyên khảo về Bò sátcủa Bourret được coi là tài liệu đầy đủ nhất về Bò sát của vùng Đông Dương (trong

đó chủ yếu là Việt Nam, Lào, Campuchia) [55], [56], [57]

Tổng kết giai đoạn này có 466 loài Bò sát ở Đông Dương trong đó có nhiềuloài ở Việt Nam

* Giai đoạn 1954 – 1975: Đất nước chia làm hai miền, miền Bắc được giải

phóng, người dân làm chủ đất nước, những nghiên cứu Bò sát do các nhà khoa họcViệt Nam đảm nhận Với đòi hỏi của nhà nước cũng như của một số tổ chức, địaphương cần phải thống kê tài nguyên quốc gia phục vụ quy hoạch phát triển kinh tế

Ở Miền Bắc, được mở đầu bằng chuyến khảo sát do Đào Văn Tiến chủ trì tiếnhành ở Vĩnh Linh - Quảng Trị, từ ngày 08 đến ngày 28 tháng 8 năm 1956 Sau đó,hàng loạt những đợt khảo sát do cán bộ Viện Sinh vật học, khoa Sinh Vật trườngĐại học Tổng hợp Hà Nội, trường Đại học sư phạm Hà Nội I tiến hành ở các địaphương: Lạng Sơn, Quảng Ninh, Bắc Giang, Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Thái Nguyên,Bắc Kạn, Hòa Bình, Hà Tĩnh, Vườn Quốc gia (VQG) Cúc Phương…[40] Tuynhiên, những nghiên cứu đều tập trung thống kê phân loại thành phần loài, bước đầutìm hiểu giá trị kinh tế, cũng như giá trị sử dụng chúng ở từng vùng trong nhân dân.Kết quả khảo sát mới dừng ở báo cáo khoa học, mà chưa được công bố trên các tạpchí hay sách chuyên khảo Tuy nhiên, tỉnh Hòa Bình đã công bố tài nguyên của địa

phương mình trong tài liệu Động vật kinh tế tỉnh Hòa Bình do Đặng Huy Huỳnh

chủ biên, năm 1975

Tổng kết thời kỳ này, ở miền Bắc, Trần Kiên, Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúcthống kê 159 loài Bò sát (Trần Kiên, Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc, 1981), kếtquả này đặt cơ sở cho phát triển sau này [40]

Ở Miền Nam: Năm 1955 Marx và Inger công bố loài mới Calamaria buchi cho khoa học Năm 1970 S M Campden – Main ra mắt cuốn “A field guide to the snakes of South Viet Nam ” mô tả 77 loài rắn [44].

Trang 6

* Giai đoạn 1976 đến nay: Đất nước thống nhất, kinh tế phát triển, khoa học

kĩ thuật tiến bộ, đặc biệt sau 1986 đất nước đổi mới giúp cho sự hợp tác nghiên cứukhoa học với quốc tế mạnh mẽ, tạo điều kiện cho nghiên cứu Bò sát được mở rộngtheo nhiều hướng Có thể chia giai đoạn này thành các hướng nghiên cứu chính sau:

- Điều tra, mô tả, phân loại và lập danh lục

Hàng loạt các cuộc khảo sát do nhiều đơn vị tiến hành ở rất nhiều địa phươngkhác nhau đã nảy sinh một yêu cầu thực tế là cần có tài liệu tiếng Việt phục vụnghiên cứu Vì vậy công trình kinh điển về danh lục và định loại thằn lằn, rắn, rùa,

cá sấu của Đào Văn Tiến ra đời (1978, 1979, 1981, 1982) [38], [39] Ông đã thống

kê 71 loài thằn lằn, 165 loài rắn, 32 loài rùa và 2 loài cá sấu Tiếp đến Trần Kiên vàNguyễn Quốc Thắng năm 1980 cho in chuyên khảo “Các loài rắn độc Việt Nam”thống kê mô tả 31 loài rắn độc

Trần Kiên, Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc (1981) nghiên cứu bò sát, ếch nhái

từ năm 1956 - 1975 trên toàn Miền Bắc trong đó thống kê được 159 loài bò sátthuộc 2 bộ, 19 họ

Trần Kiên, Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc (1985) báo cáo danh lục khu hệ bòsát, ếch nhái Việt Nam gồm trong đó 160 loài bò sát Các tác giả còn phân tích sựphân bố địa lý, theo sinh cảnh và ý nghĩa kinh tế của các loài Hoàng Xuân Quang(1993) điều tra thống kê danh lục bò sát, ếch nhái ở các tỉnh Bắc Trung Bộ trong đógồm 94 loài bò sát xếp trong 59 giống 17 họ Tác giả đã bổ sung cho danh lục bòsát, ếch nhái Bắc Trung Bộ 23 loài, phát hiện bổ sung cho vùng phân bố 9 loài Bêncạnh đó tác giả còn phân tích sự phân bố các loài theo sinh cảnh và quan hệ với cáckhu phân bố bò sát trong nước

Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc (1996) công bố danh lục bò sát, ếch nhái ViệtNam trong đó gồm 256 loài bò sát Nhiều công trình đã được công bố nghiên cứu

về khu hệ bò sát, ếch nhái ở những địa phương, các Vườn quốc gia và các khu bảotồn như: Lê Nguyên Ngật, Nguyễn Văn Sáng (1996) nghiên cứu ở Vườn quốc giaCúc Phương trong đó có 42 loài Bò sát thuộc 12 họ 2 bộ Năm 1998, tác giả đã bổ

Trang 7

sung 12 loài cho khu hệ bò sát, ếch nhái Bắc Trung Bộ, trong đó có 1 giống, 1 loàicho khu hệ bò sát, ếch nhái Việt Nam.

Tiếp đó có rất nhiều chương trình nghiên cứu thành phần loài Bò sát được thựchiện: ở Khu bảo tồn Thiên nhiên (KBTTN) Bù Gia Mập của đoàn Điều tra viện Sinhthái và Tài nguyên môi trường (1997), ở Nam Bình Trị Thiên của Ngô Đắc Chứng(1998) [11], ở vùng rừng Tây Quảng Nam của Lê Nguyên Ngật và cs (1999) [24], ởbán đảo Sơn Trà – Đà Nẵng của Đinh Thị Phương Anh và cs (2000) [1], ở vùng núi Sa

Pa – Lào Cai của Lê Nguyên Ngật, Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc (2001) [26], ởKBTTN Pù Mát của Lê Nguyên Ngật, Nguyễn Văn Sáng (2001) [25], ở phía Tây miềnĐông Nam Bộ của Phạm Văn Hòa (2005), ở Phú Yên của Trần Duy Ngọc (2005), ởĐồng Tháp của Hoàng Thị Nghiệp (2006), ở KBTTN Đakrông – Quảng Trị của VõĐình Ba (2007) [4], [12], ở lưu vực hồ Phú Ninh – Quảng Nam của Văn Ngọc Cương(2008), ở KBTTN Pù Huống – Nghệ An của Hoàng Xuân Quang, Hoàng Ngọc Thảo(2008) và cs [30]

Nghiên cứu về BS biển ở Việt Nam còn rất hạn chế, trong giai đoạn này hầunhư chỉ có công trình của Bùi Văn Dương (1978) công bố 10 loài rắn biển Việt Nam[16] và Nguyễn Khắc Hường công bố 4 loài rùa biển Việt Nam [17]

Về công bố giống, loài có mặt, loài mới ở Việt Nam có các công trình sau:Năm 2000: Năm 2003, Lê Khắc Quyết và Ziegler công bố về loài thằn lằn cá sấu

Shinisaurus crocodilurus có mặt ở Yên Tử, đây là báo cáo đầu tiên về sự có mặt của

loài này ở Việt Nam [50] Năm 2005: Darevsky và Orlov công bố loài thằn lằn mới

Leptoseps tetradactylus cho khoa học phát hiện ở miền Trung Việt Nam [46] Kuch

U., D Kizirian, Quang Truong, R Lawson và cs đã công bố một loài rắn cạp nong

Bungarus slowinskii ở sông Hồng [48] Ziegler T và Lê Khắc Quyết về loài rắn mới Calamaria thanhi phát hiện ở Quảng Bình [53] Ziegler T., Vũ Ngọc Thành và Bùi Ngọc Thanh về loài thằn lằn tai ẩn (Tropidophorus noggei) mới phát hiện ở VQG

Phong Nha - Kẽ Bàng [54] L Orlov, Nguyễn Quảng Trường và Nguyễn Văn Sáng

đã công bố loài ô rô mới (Acanthosaura nataliae) phân bố ở Trung Việt Nam và Nam Lào được tách ra từ loài A capra

Trang 8

Về các ấn phẩm xuất bản trong giai đoạn này có: Danh lục BS và Ếch nháiViệt Nam của Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc (1996) công bố 340 loài Sách hướngdẫn định loại rùa Thái Lan, Lào, Việt Nam, Campuchia của Stuart, van Dijk vàHendrie (2000) [37] BS và LC ở VQG Cúc Phương của Hồ Thu Cúc, NguyễnQuảng Trường và cs (2003) trong đó ghi nhận 73 loài BS Hướng dẫn định loại vàthực địa thú, chim, BS, Ếch nhái Ba Bể - Nà Hang của Phạm Nhật, Lê Trọng Trãi, LêMạnh Hùng, Nguyễn Văn Sáng, Nguyễn Quảng Trường Danh lục LC, BS Việt Namcủa Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc, Nguyễn Quảng Trường (2005) trong đó ghinhận 297 loài BS [36] Nhận dạng một số LC, BS ở Việt Nam của Nguyễn VănSáng, Nguyễn Quảng Trường và cs (2005) mô tả đặc điểm nhận dạng, phân bố, mức

độ đe dọa của một số loài LC, BS Việt Nam (trừ Bộ Rùa) Ếch nhái, BS ở KBTTN

Pù Huống của Hoàng Xuân Quang, Hoàng Ngọc Thảo và cs (2008) trong đó công

bố 71 loài BS [30]

Gần đây nhất, cuốn “Herpetofauna of Viet Nam” của Nguyễn Văn Sáng, HồThu Cúc, Nguyễn Quảng Trường (3 2009) trong đó đã công bố 369 loài BS ở ViệtNam [51]

- Nghiên cứu sinh học, sinh thái và ứng dụng

Song song với nghiên cứu thành phần loài và phân loại học đã có một sốnghiên cứu về sinh thái, sinh học của một số loài có giá trị kinh tế như: Sinh tháisinh học rắn hổ mang (Naja naja) châu Á của Trần Kiên năm 1984, Thức ăn hỗnhợp nuôi rắn hổ mang (Naja naja) của Ngô Thị Kim năm 1987

Có thể kể tên các công trình nghiên cứu như: Rắn độc của Trần Kiên, NguyễnQuốc Thắng (1980) Rắn và công dụng của Nguyễn Đăng Khôi (1986), Nuôi Trăncủa Nguyễn Quốc Thắng và Lê Thị Liễu (1987) Khả năng nuôi Tắc kè của NguyễnVăn Sáng (1988) Nghiên cứu đặc điểm hình thái và sinh thái Nhông cát bê-li ởđồng bằng và vùng cát ven biển Thừa Thiên Huế của Ngô Đắc Chứng (1989) Sinhthái học rắn Cạp nong, Cạp nia của Hoàng Nguyên Bình, Trần Kiên (1989) Cơ sởsinh học và sinh thái học của nghề rắn (Hổ mang, Cạp nong, Cạp nia) của HoàngNguyên Bình (1991) Sinh thái học của rắn Hổ mang non nuôi trong lồng của Lê

Trang 9

Nguyên Ngật (1991) Nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái của rắn Ráo trưởngthành nuôi tại Quảng Nam - Đà Nẵng của Đinh Thị Phương Anh (1994) Nghiêncứu kĩ thuật nuôi Ba ba trơn của Hoàng Ngọc Quý (1996) Một số đặc điểm sinhthái học của rắn Hổ mang non nuôi ở trại rắn Cầu Cốc, trường Cao Đẳng Sư PhạmThanh Hóa của Lê Ngọc Nghinh (1997) [4] Nuôi Tắc kè làm thuốc và xuất khẩucủa Lê Kim Biên (1999) [5] Một số đặc điểm sinh thái học của Tắc kè trong điềukiện nuôi của Trần Kiên, Viêngxay (2000) [20] Đặc điểm sinh học của rắn lụcProtobothrops của N L Orlov, Nguyễn Văn Sáng và cs (2001) Lột xác và sinh sản

ở Thạch sùng của Trần Kiên, Ngô Thái Lan (2002) Nghiên cứu đặc điểm phân bố,hình thái của loài rắn Lục vảy lưng ba gờ của N L Orlov và cs (2002) Thành phầndinh dưỡng và giá trị dược học của Ba ba do Nguyễn Thị Vĩnh và cs (2002) nghiên

cứu Nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh học và kiểu nhân của Nhông cát Leiolepis guttata (Cuvier, 1829) ở ven biển Quy Nhơn tỉnh Bình Định của Nguyễn Thành

Hưng (2008) Nghiên cứu đặc điểm hình thái, phân bố, dinh dưỡng và sinh sản của

rắn Lục xanh Trimeresurus stejnegeri (Schmidt, 1925) ở vùng Tây Nam Thừa Thiên Huế của Nguyễn Văn Lanh (2009) Nuôi thử nghiệm Rồng đất Physignathus cocincinus (Cuvier, 1829) tại Bến Tre của Bùi Thị Thúy Bắc (2009) Nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh học và sinh thái của rắn Lục mép trắng Trimeresurus albolabris (Gray, 1842) tại trại rắn Đồng Tâm, tỉnh Tiền Giang của Trần Thị Mộng

Linh (2009)

Ở Đà Nẵng, có một số nghiên cứu như: Đa dạng thành phần loài bò sát, lưỡng

cư ở khu Bà Nà (Hoà Vang, Đà Nẵng) của tác giả Lê Vũ Khôi, Nguyễn Văn Sáng,2003; Điều tra khu hệ động vật, thực vật và nhân tố ảnh hưởng, đề xuất phương ánbảo tồn, sử dụng hợp lí khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà, Đinh Thị Phương Anh,

1997 Nghiên cứu thành phần loài ếch nhái, bò sát khu Bảo tồn thiên nhiên Sơn Tràthành phố Đà Nẵng của tác giả Đinh Thị Phương Anh, Trần Thị Ánh Hường, 2009.[3]

Trang 10

1.3 Tình hình nghiên cứu Bò sát ở vùng Tây Nguyên

Thời kỳ từ 1976 đến 1987 có các cuộc khảo sát của cán bộ Viện Sinh vật học,Khoa Sinh vật của Trường Đại Học Tổng hợp Hà Nội, Trường Đại Học sư phạm HàNội , Trường Đại Học Huế, Viện điều tra quy hoạch rừng, Viện nghiên cứu biểnNha Trang (nay là Viện Hải Dương học) khảo sát nhiều địa phương khác nhau trêntoàn quốc, trong đó có các tỉnh Tây Nguyên như: Kon Tum, Gia Lai, Đăk Lăk, ĐăkNông, Lâm Đồng Các cuộc khảo sát thường tập trung thống kê thành phần loài củamột vùng hay khu vực, phục vụ cho việc quy hoạch phát triển kinh tế, ít có mộtnghiên cụ thể nào về Bò Sát

Ở Tây Nguyên có nghiên cứu như: Kết quả khảo sát đa dạng sinh học bò sát,ếch nhái núi Kon Ka Kinh, tỉnh Gia Lai, của tác giả Nguyễn Văn Sáng, Trần Kiên,năm 2000 Kết quả bước đầu khảo sát lưỡng cư, bò sát ở huyện Đak Mil, tỉnh ĐăkNông của tác giả Trương Thị Vinh Hương, Lê Nguyên Ngật năm 2007 [18]

1.4 Đặc điểm tự nhiên của vườn quốc gia Kon Ka Kinh

Trang 11

1.4.2 Địa hình

Vườn quốc gia Kon Ka Kinh nằm ở nơi tiếp giáp giữa Cao nguyên PleiKu vớiCao nguyên Kon Hà Nừng Là khu rừng gồm nhiều dẫy núi có độ cao trung bình1.200- 1500 m, với đỉnh Kon Ka Kinh cao 1.748 m, độ cao thấp nhất là vùng đấtphía Đông của Vườn với độ cao 600 m Nhìn chung địa hình Kon Ka Kinh thấp dần

từ Bắc xuống Nam, với kiểu địa hình núi trung bình là chủ yếu Trong phạm vi lãnhthổ của Vườn quốc gia có 3 kiểu địa hình chính sau:

- Kiểu địa hình núi cao (N1), chiếm 0,1% diện tích tự nhiên của Vườn Phân

bố ở đỉnh Kon Ka Kinh, có độ cao từ 1.700 - 1.748 m

- Kiểu địa hình núi trung bình (N2), chiếm 98,5% diện tích tự nhiên của Vườn.Phân bố gần như toàn bộ Vườn quốc gia, có độ cao từ 700 -1.700 m

- Kiểu địa hình núi thấp (N3), chiếm 1,4% diện tích tự nhiên của Vườn Phân

bố dọc theo các nhánh của suối Đăk Lorr, có độ cao từ 600- 700 m

1.4.3 Khí hậu

Kon Ka Kinh chịu ảnh hưởng của chế độ khí hậu nhiệt đới gió mùa Caonguyên Một năm có 2 mùa rõ rệt, mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 11 hàngnăm Mùa khô bắt đầu từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau

- Chế độ nhiệt: Nhiệt độ trung bình hàng năm từ 21°C đến 25°C Tháng có

nhiệt độ cao nhất 25°C (tháng 5) Tháng có nhiệt độ thấp nhất là tháng 1, nhiệt độtrung bình là 16°C, riêng khu vực đỉnh Kon Ka Kinh có nhiệt độ dưới 15°C

- Lượng mưa: Tổng lượng mưa trung bình biến động từ 2.000-2.500 mm,

lượng mưa tập trung từ tháng 5 đến tháng 11, chiếm 70- 75% lượng mưa cả năm.Tháng có lượng mưa cao nhất là tháng 8 Tháng có lượng mưa thấp nhất: tháng 1

- Độ ẩm bình quân năm: 78%, độ ẩm cao nhất vào các tháng mùa mưa từ 88%,

các tháng mùa khô có độ ẩm tương đối thấp nhất 69%

- Chế độ gió: Hàng năm có 2 hướng gió chính, các tháng mùa khô có hướng

gió chính là gió mùa Tây Nam, các tháng mùa mưa hướng gió thịnh hành là giómùa Đông Bắc

Trang 12

Sông Ba: Là hệ sông lớn nhất, được bắt nguồn từ các nhánh suối ở phía Bắc xãĐăk Roong, chảy theo hướng Bắc Nam, chảy qua Vườn quốc gia tại tiểu khu 18 vớichiều dài khoảng 11 km Toàn bộ các hệ thống suối ở mạn sườn Đông Bắc, ĐôngNam Kon Ka Kinh thuộc lưu vực của sông Ba, với diện tích khoảng 230 km².Môdun dòng chảy trung bình toàn lưu vực đạt 22,2 l/s/ km², vùng thượng lưu có lưulượng dòng chảy trung bình năm cao 40-50 l/s/ km² Hệ số dòng chảy lưu vực thấp,trung bình đạt 0,41.

Trang 13

Sông Đăk Pne: Được bắt nguồn từ nhiều nhánh suối ở sườn Tây Kon KaKinh thuộc địa bàn xã Kon Pne, với diện tích lưu vực khoảng 144 km² Sông chảytheo hướng Bắc, nhập với sông ĐăkBla tại huyện Kon Plông, chảy qua Thị xã KonTum, nhập với sông PôKô, cung cấp nước cho nhà máy thủy điện Ya Ly, thủy điện

Sê San III

1.4.5 Địa chất và thổ nhưỡng

1.4.5.1 Địa chất

Nền địa chất của Kon Ka Kinh được hình thành từ 4 nhóm đá mẹ sau:

- Nhóm đá Mác ma axit, chủ yếu là đá Gra nít

- Nhóm đá Mác ma kiềm trung tính, chủ yếu là đá Ba zan

- Nhóm đá Phiến sét biến chất, chủ yếu là đá Phiến thạch sét và Phiến thạch mica

- Nhóm vật chất dốc tụ ven suối, chủ yếu là phù sa mới

1.4.5.2 Đất đai:

Trong Vườn quốc gia Kon Ka Kinh có 6 loại đất chính sau:

- Đất Feralit mùn vàng đỏ phát triển trên đá Mác ma axít (FHa):

+ Diện tích: 22.640 ha, chiếm 54,2% diện tích tự nhiên của Vườn quốc gia.+ Phân bố tập trung chủ yếu ở vùng trung tâm và sườn phía Tây Kon Ka Kinh

và trên các đường phân thuỷ, trên đỉnh của các dãy núi cao trên 1200 m

+ Đặc điểm: Được hình thành trong các điều kiện khí hậu lạnh, ẩm, nênthường xuyên có tầng thảm mục thô chưa phân huỷ dày từ 5 - 8 cm, đất tơi xốp vàchua (pH 4,0- 4,6), thành phần cơ giới thịt trung bình và thịt nặng Loại đất nàythích nghi với các loại cây trồng lâm nghiệp như Hồng tùng, Pơ mu, Thông 5 lá

- Đất Feralit mùn nâu vàng phát triển trên đá Mác ma kiềm trung tính (FHk):

+ Diện tích: 5.200 ha chiếm 12,4 diện tích tự nhiên của Vườn quốc gia

+ Phân bố chủ yếu ở phía Đông Bắc Kon Ka Kinh

+ Đặc điểm: đất hơi chua ( PHkcl <5,5), thành phần cơ giới thịt nhẹ đến trungbình, tầng mùn mỏng, đất tơi xốp, độ dày tầng đất trung bình, biến động từ 50 - 100

Trang 14

cm Loại đất này thích nghi với các loại cây trồng lâm nghiệp như Giổi xanh, Bờilời nhớt, Bời lời đỏ, Thông 3 lá, Sao đen

- Đất Feralit mùn vàng đỏ phát triển trên đá sét biến chất (FHs):

+ Diện tích: 1.150 ha chiếm 2,7% diện tích tự nhiên của Vườn quốc gia

+ Phân bố chủ yếu ở phía Tây Bắc Kon Ka Kinh

+ Đặc điểm: Đất ít chua, thành phần cơ giới thịt nhẹ, thịt trung bình, tầng mùnmỏng Loại đất này thích nghi với các loại cây trồng lâm nghiệp Giổi xanh, Bời lờinhớt, Bời lời đỏ, Thông 3 lá, Sao đen

- Đất Feralit đỏ vàng phát triển trên đá Mác ma axit (Fa):

+ Diện tích: 5.500 ha, chiếm 13,2% diện tích tự nhiên của Vườn quốc gia.+ Phân bố chủ yếu trên sườn phía Đông Bắc Kon Ka Kinh, thuộc Cao nguyênKon Hà Nừng, và một số ít diện tích thuộc xã AJun

+ Đặc điểm: đất chua ( PHkcl 3,9- 4,7), có tỷ lệ mùn thấp (0,5- 0,7%), thànhphần cơ giới thịt nhẹ và thịt pha sét, độ dầy tầng đất trung bình Loại đất này thíchhợp với các loại cây trồng lâm nghiệp như Giổi xanh, Bời lời nhớt, Bời lời đỏ,Thông 3 lá, Sao đen

- Đất Feralit nâu đỏ phát triển trên đá Mác ma kiềm trung tính (Fk):

+ Diện tích: 6.690 ha, chiếm 16,0% diện tích tự nhiên của Vườn quốc gia.+ Phân bố chủ yếu ở sườn Đông Kon ka Kinh

+ Đặc điểm: đất có tầng dày (>100 cm), hơi chua ( PHkcl <5,5), thành phần cơgiới thịt nhẹ hoặc thịt trung bình, hàm lượng hữu cơ trong đất tương đối cao

Loại đất này thích hợp với các loại cây trồng nông, lâm nghiệp Đặc biệt là câycông nghiệp như Cà phê, Cao su, cây ăn quả

- Đất phù sa ven sông suối (P):

+ Diện tích: 600 ha, chiếm 1,4% diện tích tự nhiên của Vườn quốc gia

+ Phân bố dọc theo các thung lũng ven sông suối

+ Đặc điểm: đất trung tính (PHkcl 7,0- 7,2), thành phần cơ giới thịt trung bình,

tỷ lệ mùn 2,7- 3,2%, độ dầy tầng đất trung bình 50- 100 cm

Trang 15

Loại đất này thích hợp với các loại cây trồng nông nghiệp như Lúa, Ngô,Khoai, Đậu các loại.

+ Luồng thực vật thuộc khu hệ Bắc Việt Nam có các loài cây thuộc họ đậu, họThầu dầu, họ Mộc lan, họ Dâu tằm, họ Na, họ Re, họ Giẻ Luồng thực vật nàythường phân bố nhiều ở khu vực chịu ảnh hưởng chế độ mưa ẩm nhiệt nhiệt đới.Rừng thường có nhiều loài cây trên đơn vị diện tích và các loài ưu thế có tổ thànhkhông lớn

+ Luồng thực vật thuộc khu hệ Vân Nam - Quý Châu và chân dãy núiHimalaya có các loài cây lá kim của ngành phụ hạt trần như Thông nàng, Hoàngđàn giả, Kim giao, Pơ mu

+ Luồng thực vật thuộc khu hệ Malaixia - Inđônêxia: Đại diện cho luồng thựcvật này là các loài cây thuộc họ Dầu như Chò chai, Chò đen, Chò chỉ, Cẩm

+ Luồng thực vật India- Mianma: Tiêu biểu có các loài cây thuộc họ Bàng nhưChoại, họ Tử vi như Bằng lăng ổi

- Thành phần thực vật

Qua kết quả điều tra hệ thực vật rừng ở Vườn quốc gia Kon Ka kinh bước đầu

đã thống kê được 687 loài thực vật thuộc 459 chi và 140 họ Trong đó ngành thựcvật cây hạt kín 2 lá mầm chiếm đa số (104 họ, 337 chi, 528 loài) Sau đó là ngànhhạt kín 1 lá mầm (15 họ; 82 chi, 111 loài) Các ngành khuyết thực vật có 16 họ, 32chi và 40 loài Ngành hạt trần có 5 họ, 8 chi, 8 loài

Kết quả điều tra trên cho thấy: Vườn quốc gia Kon Ka Kinh có hệ thực vật rấtphong phú, đa dạng về thành phần loài Đặc biệt có rất nhiều loài thực vật đặc hữu,quý hiếm cần phải bảo tồn nguồn gen như sau:

Trang 16

- Các loài đặc hữu: Có 11 loài đặc hữu: Thông đà lạt, Hoa khế, Gõ đỏ, Trắc,Xoay, Bọ nẹt trung bộ, Du moóc, Song bột, Lọng hiệp, Hoàng thảo vạch đỏ.

- Các loài quý hiếm:

Hệ thực vật rừng vườn quốc gia Kon Ka Kinh có 34 loài quý, hiếm, có giá trịbảo tồn nguồn gien và nghiên cứu khoa học, đã được ghi trong sách đỏ Việt Nam vàthế giới

Trong tổng số 34 loài ghi trong sách đỏ, có 24 loài ghi trong sách đỏ Việt Nam,bao gồm 2 loài thuộc cấp E (Cấp đang nguy cấp, bị đe dọa tuyệt chủng), 6 loài ởcấp V (Cấp sẽ nguy cấp, có thể bị đe dọa tuyệt chủng), 7 loài thuộc cấp R (Cấphiếm), 1 loài thuộc cấp bị đe doạ (T), và 8 loài thuộc cấp K (Cấp biết không chínhxác) Theo phân loại của IUCN 1997 có 141 loài nằm trong sách đỏ thế giới gồm 1

loài thuộc cấp E (cấp đang nguy cấp Endangered), 2 loài bị đe dọa ở cấp V (cấp sẽ nguy cấp Vulnerable), 12 loài thuộc cấp hiếm.

-Thảm thực vật rừng

Trang 17

Hình 1.1 Bản đồ thảm thực vật VQG Kon Ka Kinh

Phần lớn diện tích vườn Quốc gia Kon Ka Kinh là rừng nguyên sinh với cáckiểu thảm thực vật rừng chính sau:

Trang 18

- Kiểu rừng kín thường xanh, mưa ẩm á nhiệt đới núi thấp.

- Kiểu rừng kín hỗn giao lá rộng, lá kim mưa ẩm á nhiệt đới núi thấp: đây làkiểu rừng hỗn giao giữa cây lá kim và cây lá rộng Trong đó loài cây lá kim chủ yếuVườn quốc gia Kon ka Kinh chiếm ưu thế

- Kiểu rừng kín thường xanh, mưa ẩm á nhiệt đới

- Kiểu phụ thứ sinh nhân tác

1.4.6.2 Hệ động vật rừng

Kết quả điều tra hệ động vật rừng Vườn quốc gia Kon Ka Kinh cho thấy có

428 loài động vật Trong đó có 223 loài động vật có xương sống ở cạn thuộc 34 bộ

và 74 họ khác nhau và 205 loài động vật không xương sống (Bướm) thuộc 10 họtrong bộ Cánh vẩy

- Các loài đặc hữu: Hệ động vật rừng Vườn quốc gia Kon Ka Kinh có 16 loàiđặc hữu thể hiện như sau:

+ Lớp thú: Có 5 loài thú lớn đặc hữu cho Đông Dương và Việt Nam là: Vượn

má hung (Hylobates), Voọc vá Chân xám (Pygathrix nemaeus), Hổ (Pantheratigerls), Mang Trường Sơn (Muntiacus truongsonenensis) là loài thú mới phát hiệnlần đầu tiên ở Khu Bảo tồn sông Thanh Đak Pring và Mang lớn (Megamuntiacusvuquangensis) là loài thú quý hiếm phát hiện lần đầu tiên ở Vũ Quang

+ Lớp chim: Có 7 loài chim đặc hữu.Trong đó có 3 loài đặc hữu cho Việt Nam:Khướu đầu đen, Khướu mỏ dài, Khướu kon ka kinh và 4 loài đặc hữu cho Việt Nam

và Lào: Khướu đầu xám, Trèo cây mỏ vàng, Gà lôi vằn (Lophura nycthemra) vàThày chùa đít đỏ (Megalaima lagrandieri) Đặc biệt là Khướu kon ka kinh (Garrulaxkonkakinhensis) là một loài mới được phát hiện cho khoa học trong vòng 30 nămtrở lại đây ở khu vực châu Á

+ Lớp Bò sát, Ếch nhái: Có 4 loài đặc hữu cho vùng và cho Việt Nam:

Thằn lằn buôn lưới (Sphenomorphus buonluoicus) là loài đặc hữu cho vùngNam Trường Sơn (Lào) 3 loài đặc hữu cho Việt Nam: Thằn lằn đuôi đỏ, ChàngSapa (Rana chapaensis), Ếch gai sần (Rana verrucospinosa)

1.4.6.3 Các loài quý hiếm:

Trang 19

Ngoài những loài mới phát hiện và những loài có giá trị đặc hữu nêu trên, hệđộng vật rừng Vườn quốc gia Kon ka Kinh còn có 38 loài thú quý hiếm, có giá trịbảo tồn nguồn gien và nghiên cứu khoa học, được ghi trong sách đỏ Việt Nam vàThế giới Như sau:

+ Lớp thú có 10 loài, trong đó có 9 loài ghi trong sách đỏ thế giới, có 7 loài

ghi trong sách đỏ Việt Nam

+ Lớp chim có 14 loài, trong đó có 8 loài ghi trong sách đỏ thế giới và 11 loài

ghi trong sách đỏ Việt Nam

+ Lớp bò sát, ếch nhái có 14 loài ghi trong sách đỏ Việt Nam.

1.5 Đặc điểm xã hội

1.5.1 Dân số, dân tộc, lao động

* Dân số:

Theo số liệu điều tra dân sinh kinh tế của các xã có liên quan đến Vườn quốc

gia tháng 9 năm 2003, tổng dân số toàn vùng hiện có 5.895 hộ, với 30.508 người,phân bố như sau:

- Trong Vườn quốc gia có 70 hộ với 301 người Trong đó:

+ Xã Đắc Roong có 7 hộ, 31 người

+ Xã Kroong có 63 hộ với 270 người

- Trong vùng đệm có 5.825 hộ với 30.207 người Trong đó:

+ Huyện KBang: có 11.064 người, phân bố trong 4 xã: Đăk Roong, Kon Pne,Kroong và xã Lơ Ku

+ Huyện Mang Yang: có 16.128 người, phân bố trong xã Hà Ra và xã AJun.+ Huyện Đăk Đoa: có 3.015 người, phân bố trong xã Hà Đông

- Mật độ dân số tính chung toàn vùng hiện có 19 người/km² Trong đó xã xãAJun mật độ dân số cao nhất 41 người/km², xã có dân số thấp nhất là xã KonPnemật độ 7 người/km²

- Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên toàn vùng 2,8%

* Lao động

- Tổng số lao động trong vùng có 15.039 lao động, chiếm 49,3% dân số

Trang 20

Trong đó:

+ Trong Vườn quốc gia có 151 lao động, chiếm 1,2% tổng số lao động trongvùng Cơ cấu lao động 100% là lao động nông nghiệp

+ Vùng đệm có 14.888 lao động, chiếm 99, % tổng lao động trong vùng

- Cơ cấu lao động theo ngành kinh tế như sau:

+ Nông nghiệp: 14.321 người, chiếm 96,2% lao động vùng đệm

+ Lâm nghiệp: 155 người chiếm 1,0% lao động vùng đệm

+ Tiểu thủ công nghiệp: 47 người, chiếm 0,3% lao động vùng đệm

+ Các ngành khác: 365 người, chiếm 2,5% lao động vùng đệm

Hiện tại lực lượng lao động nông nghiệp vẫn chiếm tỷ lệ lớn (96,2%) Trongkhi đó lao động ngành lâm nghiệp quá ít ỏi (1,0%) Một lao động ngành lâm nghiệpphải đảm nhận bình quân 570 ha đất lâm nghiệp, gồm 462 ha đất có rừng và 108 hađất không có rừng

* Dân tộc

Trong vùng dân tộc Ba Na có tỷ lệ lớn, chiếm 71,3% Phân bố ở tất cả các xãtrong vùng, các xã có tỷ lệ đồng bào Ba Na cao nhất là xã Kon Pne (99,2%), xã HàĐông (97%) Xã Đăk Roong (94,2%); thấp nhất là xã Hà Ra (54,4%)

Dân tộc Kinh chiếm 26,9%, xã có tỷ lệ dân tộc Kinh cao nhất là xã Hà Ra(45,6%), xã AJun (43%)

Dân tộc ít người khác (Tày, Nùng, Hmông, Dao ) chỉ chiếm 1,8% Phân bố

ở các xã AJun, Lơ Ku và xã Kroong

1.5.2 Tập quán canh tác, sinh hoạt văn hoá của các dân tộc

- Cộng đồng dân tộc người Ba Na là người bản địa đã sinh sống lâu đời ở đây,

họ đã được định canh, định cư thành các thôn, bản ven các trục đường giao thông vàven các thung lũng sông suối Với mô hình sở hữu đất đai truyền thống theo hộ giađình, diện tích đất đai canh tác thường manh mún, nhỏ lẻ, cho nên việc áp dụng cáctiến bộ kỹ thuật vào sản xuất gặp nhiều khó khăn

Trang 21

Trong các năm gần đây đồng bào dân tộc đã làm lúa nước 1 vụ và 2 vụ, nhưngphương thức canh tác vẫn lạc hậu, chưa áp dụng các biện pháp thâm canh nên năngsuất không cao

Nét văn hóa lâu đời của đồng bào dân tộc là văn hóa cồng chiêng, lễ hội đâmtrâu, bỏ mả, cưới hỏi mang tính cộng đồng rất cao, họ đánh chiêng, múa hát tậpthể vào các dịp lễ tết, vào các mùa gieo tỉa và cuối mùa thu hoạch

Phong tục tập quán còn mang nét xã hội mẫu hệ, ở đây người phụ nữ được đềcao trong gia đình, con cái mang họ mẹ, nhưng phụ nữ cũng là những người phảilao động nặng nhọc nhất trong các công việc hàng ngày Người đàn ông chỉ làm cácviệc như hạ cây, làm nhà, làm rẫy, đan lát, săn bắn thú rừng

- Cộng đồng các dân tộc ít người khác, chiếm một số lượng rất nhỏ (1,8%) so

với dân số toàn vùng, phân bố rải rác ở 3 xã (AJun, Lơ Ku, Kroong) Do số lượng ít,lại bao gồm 9 dân tộc (Tày, Nùng, Hmông, Dao ) nên các đặc trưng văn hoá riêngcủa từng dân tộc ít có điều kiện biểu hiện Nhưng cũng có đặc điểm chung khác vớicộng đồng người dân tộc Ba Na ở các phong tục ma chay, cưới hỏi Trong sản xuất

họ đã biết thâm canh, tăng vụ Biết kết hợp giữa chăn nuôi và trồng trọt

- Cộng đồng dân tộc kinh đang sinh sống tại các xã trong vùng được hình

thành chủ yếu từ sau ngày giải phóng Miền Nam, thống nhất đất nước Người dân ởnhiều tỉnh thành miền Bắc và miền Trung di cư tự do về Họ có nhiều kinh nghiệmcũng như kiến thức khoa học kỹ thuật sản xuất nông, lâm nghiệp Nhưng do là dânkinh tế mới, đa số họ là những hộ nghèo ở các địa phương khác di cư đến nênthường bị thiếu vốn, thiếu đất để sản xuất

Các nguồn thu nhập chính của nhân dân trong vùng là các sản phẩm nôngnghiệp, chăn nuôi và một phần sản phẩm thu hái từ rừng như chất đốt, mật ong, cácloại nấm

Thực tế cho thấy, kinh tế các cộng đồng dân tộc quanh vùng VQG Kon KaKinh còn rất nhiều khó khăn Tỉ lệ hộ đói, nghèo còn cao, dân sinh, dân trí còn thấp

Cơ sở hạ tầng, giao thông đi lại khó khăn đặc biệt là vào các tháng mùa mưa.Phương tiện nghe nhìn, hệ thống thông tin liên lạc còn chưa phát triển Bên cạnh đó

Trang 22

hiện tượng chặt phá rừng đốt nương làm rẫy, khai thác các tài nguyên rừng đã ảnhhưởng không nhỏ đến đa dạng sinh học của VQG Kon Ka Kinh Bởi vậy, muốn pháttriển kinh tế xã hội xung quanh VQG, nhưng tác động ít đến việc xâm hại tàinguyên rừng thì các nhà chức năng phải có tầm nhìn chiến lược và phát huy đượcthế mạnh của vùng, thực hiện những chương trình cụ thể để nâng cao ý thức bảo tồn

đa dạng sinh học của VQG Kon Ka Kinh

Trang 23

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN VÀ PHƯƠNG

PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu

Các loài Bò sát phân bố ở vườn quốc gia Kon Ka Kinh

2.2 Thời gian, địa điểm nghiên cứu.

2.2.1 Thời gian nghiên cứu

Tháng 6/2010: Thu thập tài liệu, tổng quan các vấn đề liên quan đến đề tài.Tháng 7/2010: Khảo sát và vạch tuyến nghiên cứu trên thực địa

Tháng 7/2010 – 4/2011: Tiến hành thu thập, xử lí, phân tích mẫu

Tháng 4/2011 – 6/2011: Xử lí, thống kê số liệu thu được và viết luận văn

2.2.2 Địa điểm nghiên cứu

Đề tài được thực hiện chủ yếu tại các tiểu khu 414, 432, 433, 436 của Vườnquốc gia Kon Ka Kinh, tỉnh Gia Lai, chia thành 4 tuyến nghiên cứu:

Tuyến 1: Từ vườn thực vật của VQG vào Lán nghiên cứu của Hội động vậthọc Frankfurt, Cộng hòa liên bang Đức (có tọa độ 0210455/1573776), dài 4km(trong đó có 1.5 km nằm ở độ cao dưới 900m; còn 2.5km nằm ở độ cao từ 900-1300m)

Tuyến 2: Từ Lán nghiên cứu (tọa độ 0210412/1573420) đến địa điểm câyThông 5 lá (tọa độ 0212061/1574686), dài 2.5km (trong đó có 0.8km nằm ở độ caotrên 1300m, 1.7km nằm ở độ cao từ 900-1300m)

Tuyến 3: Từ Lán nghiên cứu (tọa độ 0210258/1574289) dọc theo suối lên đếnđỉnh thác Hà Ngoi (tọa độ 0210615/1576930), dài 3km (trong đó có 1,5km nằm ở

độ cao trên 1300m; 1.5km nằm ở độ cao từ 900-1300m)

Tuyến 4: Từ Lán nghiên cứu (tọa độ 0210138/1573972) đến lán cũ Zơ Mut(tọa độ 0208883/1574836), dài 2.5km, trong đó có 0.7km nằm ở độ cao trên 1300m;1.8km nằm ở độ cao từ 900-1300m)

Trang 24

2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Phương pháp nghiên cứu ngoài thiên nhiên

- Phương pháp thu mẫu:

Hình 2.1 Bản đồ các tuyến thu mẫu ở khu vực nghiên cứu

Thời điểm thu mẫu trong ngày khác nhau đối với mỗi nhóm động vật: NhómThằn lằn từ 9 giờ đến 15 giờ hoặc sau 18 giờ Nhóm Rắn và Rùa có thể thu cả banngày và ban đêm

4

3

4

Trang 25

Nơi tiêu biểu tìm thấy Bò sát: dưới các hốc đá, thân cây bị chặt hay đổ ngã,các vật đổ nát trên mặt đất Trong các bụi cây, cành cây thấp và vừa, thực vật sốngdưới nước, khe suối, bờ ruộng

Một số phương pháp bắt Bò sát gặp một cách ngẫu nhiên: Đối với thằn lằn cóthể dùng thanh tre mảnh có dây thắt nút thòng lọng vòng qua đầu con vật và giậtmạnh hoặc dùng câu như câu cá Đối với rắn cách bắt tốt nhất là dùng gậy có kẹphay móc sắt ở đầu gậy để thu mẫu

Việc thu mẫu trên thực địa được thực hiện kết hợp cùng với những thành viên củanhóm nghiên cứu Vooc, kiểm lâm và những người đi rừng trong vùng Một số mẫu vậtđược thu mua ở các chợ địa phương trong vùng nghiên cứu Tập huấn phương pháp thuthập và xử lí bảo quản mẫu vật, cung cấp hóa chất, bình chứa cho cộng tác viên đểthường xuyên thu thập mẫu vật

Mẫu vật mới thu xong rửa sạch, lau khô và chụp ảnh khi còn tươi (nếu có thể)

để có hình ảnh chân thực rồi gắn nhãn và cố định ngay (để bảo quản mẫu và thứcăn) trong dung dịch formol 10% trong 24 giờ (với mẫu lớn thì phải rạch một đườngnhỏ ở bụng hoặc tiêm vào đùi, bụng), rồi bảo quản trong cồn 800

Những loài không thu được mẫu thì chụp ảnh sinh cảnh, phỏng vấn dân địaphương, thợ săn và kiểm lâm

- Quan sát và điều tra

Quan sát động vật có trong tuyến khảo sát, điểm mua bán động vật hoang dã

và những di vật còn lại (rùa, rắn ngâm rượu)

Điều tra qua nhân dân và người săn bắt động vật rừng về thành phần loài, cácđặc điểm sinh thái, sinh học, tình hình khai thác, dụng cụ săn bắt, giá trị sử dụng vàkinh tế Việc điều tra được lặp lại nhiều lần ở nhiều người, nhiều vùng để tăng độtin cậy

Trang 26

2.3.2 Phương pháp nghiên cứu trong phòng thí nghiệm

- Đo và phân tích số liệu về hình thái: Các tiêu chí hình thái cần lấy số liệuđược tham khảo trong các tài liệu có uy tín được công bố gần đây [49], [50] Mỗimẫu vật có một phiếu hình thái riêng

- Định tên khoa học các loài: Mẫu vật sau khi đã phân tích các số liệu về hìnhthái, được định tên khoa học dựa vào các tài liệu của Bộ Khoa học và Công nghệ[7], Campden - Main [44]; Cox M J [45], Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc, NguyễnQuảng Trường [36], [51], Stuart [37], Đào Văn Tiến [38], [39]; Taylor [52]; Bourret

R [55], [56], [57]

- Mô tả và làm mẫu:

Mô tả các đặc điểm chẩn loại của mẫu vật theo các tác giả Nguyễn Văn Sáng,

Hồ Thu Cúc, Nguyễn Quảng Trường [36]; Stuart L [37]

Xây dựng khoá định loại dựa vào các đặc điểm chẩn loại ít biến dị trên cơ sở

tham khảo các tài liệu [dùng trong định loại] và đặc điểm của mẫu vật thu được.

- Đánh giá độ thường gặp:

Đánh giá tần số gặp của loài căn cứ vào tần suất gặp, số lượng cá thể thu được vàphỏng vấn mà chia ra thành ba mức độ: thường gặp (+++) khi có tần suất gặp 75 - 100%tổng số điểm thu mẫu, ít gặp (++) khi có tần suất gặp 50 - 74% tổng số điểm thu mẫu vàhiếm gặp (+) khi tần suất gặp ít hơn 50% tổng số điểm thu mẫu

- Xác định mức độ quý, hiếm và loài đặc hữu: Dựa vào Sách đỏ Việt Nam (2007)[5], Danh lục đỏ IUCN 2006 [58], các văn bản của Chính phủ Việt Nam (Công ướcCITES 2000 [8], Nghị định 32/2006/NĐ – CP [10]) Loài đặc hữu dựa vào công bố củaNguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc, Nguyễn Quảng Trường (2005) [36]

- Nhận xét sự gần gũi của các khu hệ động vật:

Áp dụng chỉ số hệ số Sorensen (1948):

Trong đó: S: Hệ số gần gũi của hai khu hệ B: Số loài của khu hệ B

A : Số loài của khu hệ A C: Số loài chung của hai khu hệ

Trang 27

Hệ số gần gũi biến đổi từ 0 đến 1 Giá trị S càng gần 1 thì mối quan hệ giữa hai khu hệcàng gần gũi, thành phần loài trong hai khu hệ càng gần giống nhau S càng gần 0, mốiquan hệ giữa hai khu hệ càng ít, thành phần loài trong hai khu hệ càng khác nhau.

Trang 28

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN 3.1 Danh sách thành phần loài bò sát ở Vườn Quốc Gia Kon Ka Kinh

Qua tổng số 12 đợt thu mẫu, kết quả định tên số mẫu thu được tại các tuyếnnghiên cứu ở vườn quốc gia Kon Ka Kinh, chúng tôi xác định được 35 loài có mẫu,đồng thời bổ sung 3 loài điều tra qua thợ săn, người dân, cán bộ kiểm lâm và 10 loàiqua tham khảo và tổng hợp tài liệu liên quan [42], bước đầu đã ghi nhận được 48loài Bò sát thuộc 36 giống, 11 họ, 2 bộ ở VQG Kon Ka Kinh

Danh sách thành phần loài được sắp xếp theo danh lục Bò sát của Zhao E.-M

và Adle.K., và bổ sung bằng các tài liệu của Smith M.A., 1935,1943, của Hồ ThuCúc, Nguyễn Văn Sáng, Nguyễn Quảng Trường 2005, 2007, 2009 (Bảng 3.1)

Bảng 3.1 Danh sách thành phần loài Bò sát VQG KKK

Nguồn đối tượng nghiên cứu

3 Giống Rồng đất Physignathus Cuvier, 1829

4 Giống Nhông Calotes Rafinesque, 1815

6 Nhông xám C mystaceus Dumeril et Bibron, 1837 M

5 Giống Acanthosaura Acanthosaura

7 Ô rô Cap ra ** Acanthosaura capra Günther, 1861 M

8 Ô rô Natalia ** Acanthosaura nataliae Orlov, Nguyen M

Trang 29

and Nguyen, 2006

9 Ô rô vảy Acanthosaura lepidogaster Cuvier,

3 HỌ THẰN LẰN

7 Giống thằn lằn thực Takydromus Daudin, 1802

4 HỌ THẰN LẰN

8 Giống Eutropis Eutropis Fitzinger, 1843

12 Thằn lằn bóng hoa E multifasciata Kuhl, 1820 M

9 Giống Lygosoma Lygosoma

13 Thằn lằn bóng Rio Baoring

10 Giống Mabuya Mabuya

Sphenomorphus Sphenomorphus

15 Thằn lằn buôn lưới Sphenomorphus buonluoicus TL

12 Giống Scilcella Scilcella

13 Giống Ophisaurus Ophisaurus

17 Thằn lằn rắn ** O sokolovi Darevsky & Nguyen 1983 M

14 Giống Thằn lằn chân

ngắn Lygosoma Hardwicke & Gray, 1827

18 Thằn lằn chân ngắn Bueme

19 Thằn lằn vạch ** Lygosoma vittigerum Boulenger M

16 Giống Kì đà Varanus Merrem, 1820

21 Kì đà vân V bengalensis nebulosus (Gray, 1831) M

Trang 30

6 HỌ TRĂN BOIDAE

17 Giống Python Python

7 HỌ RẮN NƯỚC COLUBRINAE OPPEL, 1811

18 Giống rắn sọc Elaphe Fitzinger, in Wagler, 1833

26 Rắn sọc đốm đỏ ** E porphyracea (Cantor, 1839) M

19 Giống rắn hổ xiên Pseudoxenodon Boulenger, 1890

27 Rắn hổ xiên mắt Pseudoxenodon macrops Blyth, 1854 M

20 Giống rắn khiếm Oligodon Boie, 1827

28 Rắn khiếm ebehac O eberhardti Pellegrin, 1910 TL

21 Giống rắn khuyết Lycodon Boie, 1826

22 Giống rắn hổ đất Psammodynastes Gunther, 1858

30 Rắn hổ đất nâu ** P pulverulentus (Boie, 1827) M

23 Giống Rắn ráo Ptyas Fitzinger, 1843

24 Giống Rắn sãi Emphiesma Duméril, Bibron &

Duméril, 1854

25 Giống Rắn hoa cỏ Rhabdophis Fitzinger, 1843

26 Giống rắn mai gầm Calamaria Boie, 1826

35 Rắn mai gầm lát C pavimentata Duméril, Bibron and

27 Giống Rắn nước Xenochrophis Gunther, 1864

28 Giống rắn roi Ahaetulla Link, 1807

37 Rắn roi thường ** A prasina Reinhardt, in Boie 1827 M

29 Giống rắn rào Boiga Fitzinger, 1826

38 Rắn rào xanh ** Boiga cyanea (Dumeril et Bibron,

30 Giống rắn hổ mây Pareas Wagler, 1830

31 Giống Rắn cạp nia Bungarus Daudin, 1803

32 Giống Rắn hổ chúa Ophiophagus Gunther, 1846

Trang 31

42 Rắn hổ chúa ** O Hannah M

33 Giống rắn hổ mang Naja Laurenti, 1768

9 HỌ RẮN LỤC VIPERIDAE OPPEL, 1811

34 Giống Rắn lục Trimeresurus Lacépède, 1804

44 Rắn lục mép trắng ** T albolabris Gray, 1842 M

10 HỌ RÙA NÚI TESTUDINIDAE

35 Giống Manouria Manouria

47 Rùa núi viền Manouria impressa (Gunther, 1882) M

11 HỌ RÙA ĐẦU TO PLATYSTERNIDAE

36 Giống Platysternum Platysternum

48 Rùa đầu to ** Platysternum megacephalum (Gray,

Ghi chú: Nguồn đối tượng nghiên cứu: M = mẫu ảnh; QS = ghi nhận qua quan sát trực tiếp ; TL =

ghi nhận theo tài liệu trước đây; ĐT = điều tra

Tên việt nam: ** = loài mới cho VQG Kon Ka Kinh

So với tài liệu “Danh lục động, thực vật vườn quốc gia Kon Ka Kinh” củaViện điều tra quy hoạch rừng năm 2003, chúng tôi đã bổ sung thêm 19 loài vàodanh mục thành phần loài bò sát ở VQG Kon Ka Kinh Những loài được chúng tôi

bổ sung: Calotes versicolor, Acanthosaura capra, Acanthosaura nataliae, Lygosoma browringii, Ophisaurus sokolovi, Lygosoma vittigerum, Lygosoma quadrupes, Tropidophorus microlepis, Elaphe porphyracea, Lycodon Laoensis, Psammodynastes pulverulentus, Ptyas mucosa, Ahaetulla prasina, Boiga cyanea, Pareas carinatus Boie,Ophiophagus Hannah, Trimeresurus albolabris, Trimeresurus monticola, Platysternum megacephalum.

Trang 32

Tỉ lệ % (Sovới số giốnghiện biết ởVQG KKK)

Sốlượng

Tỉ lệ % (Sovới số loàihiện biết ởVQGKKK)

1 loài

Trang 33

* Về bậc giống: Xếp theo thứ tự đa dạng: 4 Giống có 3 loài là Calotes, Acanthosaura, Elaphe, Trimeresurus; 4 giống có 2 loài là Lygosoma, Varanus, Ptyas, Bungarus; Các giống còn lại mỗi giống chỉ có 1 loài.

Hình 3.1 Sự đa dạng thành phần loài Bò sát ở VQG Kon Ka Kinh

Trang 34

(chiếm 11.11% so với giống hiện biết VQG Kon Ka Kinh), 8 loài (chiếm 16.67% so

với số loài hiện biết ở VQG Kon Ka Kinh) Kém phong phú nhất có 3 họ (Họ

Boidae, Họ Testusdinidae, Họ Platysternidae) với 1 giống (chiếm 2.78% so với

giống hiện biết VQG Kon Ka Kinh), 1 loài (chiếm 2.08% so với số loài hiện biết ở

VQG Kon Ka Kinh) Sự đa dạng về giống cao hơn về họ và loài Họ Colubrinae có

số giống và số loài chiếm ưu thế trong thành phần loài Bò sát ở VQG KKK Có 4

Giống đa dạng nhất đó là giống Calotes, Acanthosaura, Elaphe, Trimeresurus, 4

giống này đều có 3 loài Như vậy, vùng nghiên cứu có sự đa dạng về loài trong

giống khá thấp

Để nhận định chung về tính đa dạng khu hệ bò sát tại khu vực nghiên cứu,

chúng tôi so sánh số loài bò sát trong vùng nghiên cứu với số loài bò sát có ở toàn

VQG NamViệt

% sovớitoànquốc

VQG NamViệt

% sovớitoànquốc

- So với toàn quốc: Danh mục bò sát năm 2009 đã thống kê toàn quốc có 369

loài bò sát thuộc 131 giống, 24 họ, 3 bộ Thành phần loài bò sát của vùng nghiên

cứu có 48 loài chiếm 13.00% so với số loài toàn quốc, 36 giống chiếm 27.48% so

với số giống toàn quốc, 11 họ chiếm 45.83% so với toàn quốc, 2 bộ chiếm 66.67%

so với số bộ cả nước Thể hiện ở bảng 3.2:

Trang 35

Hình 3.2 So sánh khu hệ bò sát vùng nghiên cứu với khu hệ bò sát Việt Nam

Như vậy, so với khu hệ bò sát Việt Nam thì khu hệ bò sát vùng nghiên cứu cóđại diện 2 bộ (Testudines, Squamata) vắng mặt ở 1 bộ: Bộ cá sấu (Crocodylia); Có

11 họ so với Việt Nam là 24 họ; có 36 giống so với Việt Nam là 131 giống Sự đadạng về bộ và họ cao hơn sự đa dạng về giống

3.3 Mức độ quý hiếm và đặc hữu

Bảng 3.4 Danh sách loài bò sát đặc hữu và quí hiếm ở VQG KKK

BII

5 Trăn đất Python molurus Linnaeus, 1758 CR CR II

B

B

Trang 36

8 Rắn ráo thường P korros Schlegel, 1837 EN

BII

10 Rắn cạp nong B fasciatus Schneider, 1801 EN II

B

B

BIII

14 Rùa núi viền Manouria impressa (Gunther, 1882) VU VU II

B

15 Rùa đầu to ** Platysternum megacephalum (Gray,

1831)

IIB

Ghi chú:

Cột 5: IUCN: Danh lục Đỏ IUCN (2006) Cột 6: SĐVN: Sách đỏ Việt Nam (2007) CR: rất nguy cấp, EN: nguy cấp, VU: sẽ nguy cấp Cột 7: NĐ32: Nghị định 32/2006/NĐ-CP, IIB: Hạn chế khai thác và sử dụng Cột 8: CITES: Công ước CITES

(2002)

Trong số 48 loài bò sát ở bảng 3.4, đã xác định tại khu vực nghiên cứu ởVQG Kon Ka Kinh, chúng tôi đã thống kê được: có loài 1 đặc hữu của Việt Nam làloài thằn lằn đuôi đỏ, 1 loài đặc hữu cho vùng Nam Trường Sơn đó là loài thằn lằnbuôn lưới

Có 2 loài (chiếm 4.17% cấp độ CR), 1 loài (chiếm 2.08% cấp độ VU), đượcghi trong IUCN(2009), 3 loài (chiếm 6.25%) được ghi trong Công ước CITES(2loài cấp II, 1 loài cấp III), 13 loài (chiếm 27.08%) được ghi trong Sách Đỏ ViệtNam, 2007 (5 loài cấp VU, 6 loài cấp EN, 2 loài cấp CR), có 1 loài cấp IB (chiếm2.08%), 10 loài cấp IIB (chiếm 20.83%) được ghi trong nghị định 32/2006/NĐ-CP

Những loài trên đều có những giá trị nhất định đối với đời sống con người,mặt khác số lượng cá thể của chúng ở ngoài tự nhiên đã suy giảm rất nhiều nên

Trang 37

chúng có ý nghĩa về mặt bảo tồn, đáng kể hơn cả là: Rắn hổ chúa, Rắn ráo trâu,Trăn đất, Kỳ đà vân, Kỳ đà hoa.

3.4 Đặc trưng về sự phân bố bò sát

3.4.1 Phân bố theo sinh cảnh

Căn cứ vào hiện trạng môi trường sống của Bò sát ở khu vực nghiên cứu, cóthể phân biệt thành 4 loại sinh cảnh thường gặp dựa vào đặc điểm đặc trưng: sinhcảnh nương rẫy; Sinh cảnh trảng cỏ, cây bụi; Sinh cảnh khe suối; Sinh cảnh rừng Qua các đợt khảo sát, từ tháng 9 năm 2010 đến tháng 2 năm 2011 (mỗi tháng 1đợt, mỗi đợt từ 4 đến 6 ngày), tại 4 sinh cảnh nhận thấy có sự khác nhau về tần suấtgặp bò sát

Tổng hợp theo các đợt nghiên cứu, chúng tôi có bảng phân bố các loài tại mỗisinh cảnh như sau (thể hiện ở bảng 3.5):

Bảng 3.5 Sự phân bố của các loài Bò sát theo sinh cảnh

Ghi chú: 1: Họ; 2: giống; 3: Loài

SC1: Sinh cảnh nương rẫy

SC2: Sinh cảnh trảng cỏ, cây bụi

SC3: Sinh cảnh khe suối

Ngày đăng: 25/05/2018, 15:58

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w