1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ảnh hưởng của Phật giáo tới thơ Trần Nhân Tông

49 167 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 49
Dung lượng 81,56 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong lịch sử dân tộc Việt Nam, triều đại nhà Trần 1226 – 1400 có những đóng góp không nhỏ trong việc củng cố sự thống nhấtquốc gia, thúc đẩy sự phát triển của văn minh Đại Việt, xây dự

Trang 1

1

Trang 2

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Phật giáo là một trường phái triết học - tôn giáo lớn của nền vănhoá Ấn Độ cổ đại Vấn đề cốt lõi trong Phật giáo là giải thoát nỗikhổ của con người Xét về mặt triết học, Phật giáo được coi là triết

lý thâm trầm sâu sắc về vũ trụ và con người Nó có tầm ảnhhưởng rộng lớn không chỉ Ấn Độ mà còn nhiều quốc gia trên thếgiới, trong đó có Việt Nam Phật giáo du nhập vào Việt Namkhoảng thế kỉ thứ I đến thế kỉ thứ II TCN Thời kì đầu, ảnh hưởngcủa Phật giáo vẫn chưa rõ nét, nhưng với tính nhân văn sâu sắcPhật giáo ngày càng đi sâu vào đời sống con người

Trong lịch sử dân tộc Việt Nam, triều đại nhà Trần ( 1226 – 1400)

có những đóng góp không nhỏ trong việc củng cố sự thống nhấtquốc gia, thúc đẩy sự phát triển của văn minh Đại Việt, xây dựngnền văn hóa Thăng Long rực rỡ, bảo vệ độc lập dân tộc với hào khíĐông A hùng tráng một thời đại; chính vì vậy nên nó được mệnhdanh là một trong hai triều đại vững bền nhất Không những thế,nhà Trần còn được biết đến là một trong những giai đoạn mà đạoPhật thật sự hoà nhập vào lòng dân tộc, phù hợp với tâm tư,nguyện vọng của một dân tộc khao khát hoà bình, yêu độc lập, tự

do Phật giáo đã trở thành cốt tuỷ và hoà nhập với nền văn hóadân tộc lúc bấy giờ

Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước, dân tộc Việt Nam

tự hào đã xây dựng cho riêng mình một thiền phái nhân văn, gầngũi với cuộc sống của người dân và hơn cả nó mang đậm bản sắcdân tộc Đó chính là Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử do vua Trần NhânTông khai mở Trần Nhân Tông được biết đến là một nhà chính trị,một vị vua anh minh, một anh hùng dân tộc, một nhà tu hànhmẫu mực và hơn hết ông còn là nhà thơ tài hoa

Trong xu thế công nghiệp hóa - hiện đại hóa, giao lưu, hội nhậpquốc tế hiện nay, việc bảo tồn, giữ gìn và phát huy giá trị văn hóatinh thần đóng vai trò đặc biệt quan trọng Điều này vừa khẳngđịnh vị trí, nét riêng độc đáo, vừa là điều kiện nâng cao giá trị vănhóa tinh thần của dân tộc Việt Nam Tuy nhiên, trong bối cảnhngày nay, con người, đặc biệt là phần lớn thế hệ trẻ chạy theonhững tư tưởng ngoại lai mà lãng quên đi lịch sử cũng của nước

Trang 3

nhà Đó là một trong những vấn đề vừa mang tính dân tộc vừamang tính thời sự cấp bách Trên cơ sở đó, chúng ta phải có ý thứctrách nhiệm trong việc bảo tồn, gìn giữ và phát huy những giá trịtốt đẹp và lâu đời của nước ta.

Từ những lí do trên, tác giả đã chọn đề tài “Ảnh hưởng của Phậtgiáo tới thơ Trần Nhân Tông” cho nghiên cứu khoa học của mình

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Triết học Phật giáo, xã hội thời Trần, cuộc đời và sự nghiệp của Vua Trần Nhân Tông và triết học Trần Nhân Tông được thể hiện sâu sắc qua các tác phẩm, tài liệu, tạp chí và luận án, từ đó cung cấp những tri thức cơ bản để tác giả đi sâu nghiên cứu đề tài

"Ảnh hưởng Phật giáo tới thơ Trần Nhân Tông”

Nghiên cứu về Phật giáo, “Lịch sử triết học Ấn Độ cổ đại” (2015),

của Nguyễn Thị Toan, nxb ĐHSP đã cung cấp những tài liệu về lýluận cơ bản và tổng quát về lịch sử triết học Ấn Độ cổ đại, đặcbiệt là trường phái triết học Ấn Độ Trong đó, giáo trình đã kháilược về Phật giáo và những vấn đề triết học cơ bản: Bản thể luận,

nhận thức luận và giải thoát luận Bên cạnh đó, cuốn sách “Hỏi

và đáp lịch sử triết học” (2009) của Nguyễn Bá Dương, nxb chính

trị - hành chính trình bày những tư tưởng triết học Phật giáo Ấn

Độ và ảnh hưởng của nó ở nước ta

Nghiên cứu về nhà Trần, “Nhà Trần và con người thời Trần” (2004)

của tác giả Nguyễn Danh Phiệt, Lê Văn Lan, Trần Quốc Tuấn,Trung tâm Unesco Thông tin tư liệu lịch sử và văn hóa Việt Nam;nghiên cứu lịch sử, khảo cổ vùng đất

phát tích nhà Trần, sự hình thành và phát triển triều đại nhà Trần,giới thiệu các vị vua nhà Trần, các vị khai quốc công thần, các

tướng giỏi và các danh nhân văn hoá.“Lịch sử tư tưởng triết học

Việt Nam” (2006) của tác giả Nguyễn Trọng Chuẩn, Nguyễn Tài

Thư, Lê Thị Lan ; Nguyễn Trọng Chuẩn ch.b, nxb Khoa học xãhội – T.1: Từ đầu công nguyên đến thời Trần và thời Hồ; trình bày

về bối cảnh lịch sử và những tư tưởng triết học của Việt Nam từthế kỷ II TCN đến thời Trần và thời Hồ

Trang 4

Về Trần Nhân Tông và thơ của ông, tác phẩm “Trần Nhân Tông - vị

vua Phật Việt Nam” của Thích Thanh Từ, Thích Quảng Liên, Ngô

Văn Quán Tp Hồ Chí Minh : Nxb Tp Hồ Chí Minh, 2004: tập hợpnhững bài viết của nhiều tác giả, nhà nghiên cứu về Trần NhânTông - vị vua Phật Việt Nam, về tư tưởng trí tuệ Phật, giáo lí tinhhoa của đạo Phật Thiền phái Trúc Lâm và trung tâm di tích văn

hoá Yên Tử “Thơ Trần Nhân Tông : Thưởng thức - cảm thụ” của

Đỗ Thanh Dương, Nxb Hội Nhà văn, 2006: Giới thiệu thơ TrầnNhân Tông và nghiên cứu mấy vấn đề về thi pháp cùng những vẻđẹp của thơ ông Đại cương lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam T1: khái quát lịch sử, kinh tế, xã hội và tư tưởng của người Việt thời

kỳ dựng nước, tư tưởng triết học Việt Nam thời kỳ Bắc thuộc Tưtưởng triết học Việt Nam từ thế kỷ X đến thế kỷ XIV, từ thế kỷ XVđến thế kỷ XIX, từ cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX Qua đó,cuốn sách đã nêu lên những vấn đề cơ bản của triết học TrầnNhân Tông

Một số tài liệu được khái quát trên đây liên quan trực tiếp đến quátrình nghiên cứu, giúp tôi có cái nhìn khái quát nhất về tư tưởngtriết học Phật giáo, xã hội thời Trần và cuộc đời, sự nghiệp vuaTrần Nhân Tông cũng như nội dung tư tưởng triết học của ông Từviệc tìm hiểu vấn đề này, vấn đề đặt ra cho chúng ta, đặc biệt làthế hệ trẻ là việc giữ gìn và phát huy những giá trị lịch sử cũngnhư những nét đẹp truyền thống của dân tộc

3 Đối tượng nghiên cứu

Ảnh hưởng của Phật giáo tới thơ Trần Nhân Tông

4 Mục tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu khoa học nhằm cung cấp những thông tin lịch sử cơbản về Phật giáo, xã hội thời Trần và cuộc đời, sự nhiệp Trần NhânTông Bên cạnh đó, đề tài khai thác về ảnh hưởng của Phật giáo tớithơ Trần Nhân Tông để khám ruuphá ra những giá trị sâu sắc mànhững tác phẩm gửi gắm

Nghiên cứu khoa học nhằm đặt ra vấn đề đối người Việt Nam đặcbiệt là thế hệ trẻ nhiệm vụ bảo tồn và giữ gìn những giá trị nhân

Trang 5

văn sâu sắc mà ông cha ta đã để lại, trong đó có thơ Trần Nhân

Tông với ảnh hưởng từ Phật giáo

5 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu đã sử dụng các phương pháp của chủ nghĩaduy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử và các phươngpháp như: liệt kê, quan sát, phân tích, tổng hợp, so sánh, giảithích

6 Kết cấu đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phầnphụ lục, nội dung của đề tài được triển khai thành 3 chương, 8 tiết

NỘI DUNG Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ PHẬT GIÁO NGUYÊN THỦY

1.1 Sự ra đời của Phật giáo

Phật giáo ra đời vào thế kỉ thứ VI TCN – thời kì chiếm hữu nô lệ với

sự phân biệt đẳng cấp khắt khe cùng với sự thống trị của các tưtưởng duy tâm Ngày 15 tháng 4 âm lịch khoảng năm 624 TCN, ởmiền Bắc ấn Độ, phía Nam dãy Hymalaya có một vị thái tử ra đờimang tên Siddhartha (Tất Đạt Đa), con của vua Suddhodam (TịnhPhạn) Siddhartha cưới vợ và có 1 cậu con trai năm 19 tuổi Tuynhiên, năm 29 tuổi vị thái tử quyết định từ bỏ cuộc sống trần tục saukhi tiếp xúc với cảnh đời trong thiên biến vô thường của sinh, lão,bệnh, tử Kể từ đó, ngài đã bắt đầu cuộc hành trình gian truân, vất

vả để đi tìm phương thuốc chữa khổ đau cho nhân thế Trải qua 6năm tu tập khổ hạnh, ép xác ngài thấy rõ đó không phải là conđường thoát khổ và cứu khổ Thái tử quyết định ăn uống bình thườngtrở lại, sau đó suốt 49 ngày đêm ngồi yên tu tập, kiên trì, phấn đấu

và cuối cùng đã giác ngộ, thành Phật dưới gốc cây Bồ đề Cuối cùngvào năm 35 tuổi, Thái tử Tất Đạt Đa đã trở thành Đức Phật Sau khichứng quả, Đức Phật lên đường đi giáo hóa chúng sinh Hơn 45 năm

độ sinh thuyết pháp, ngài đã thu nhận hơn ngàn đệ tử, trở thànhngười có tầm ảnh hưởng lớn nhất đối với nhân dân Ấn Độ cũng như

Trang 6

nhân dân trên toàn thế giới Khoảnh khắc sau, Phật hiện tướng bệnhtật, cuộc đời của ngài đã kết thúc năm 80 tuổi

Sau khi Phật tổ mất, Phật giáo chia làm hai bộ phận: Thượng tọa vàĐại chúng Trong đó, Thượng tọa bộ chủ trương và duy trì cách hànhđạo như lời Phật dạy trong Kinh Tạng Mặt khác, Đại chúng bộ đã sửađổi, bổ sung, cải cách những giáo lí phù hợp với thực tế của thời đại

Tư tưởng triết học Phật giáo được tìm hiểu trong kinh điển rất đồ sộ,

nó bao gồm Kinh tạng, Luật tạng và Luận tạng Trong đó, Kinh tạng ghi lời Phật Thích Ca thuyết phát, Luật tạng - giới luật của người xuấtgia và Luận tạng là các tác phẩm luận giải về Phật Giáo của các caotăng, học giả

-Trải qua 6 thế kỉ, Phật giáo không còn được tôn sùng ở vương quốc

Ấn Độ Thay vào đó nó lan truyền mạnh mẽ và rộng rãi tại các nướcchâu Á, trong đó có Việt Nam

Những năm đầu công nguyên, các nhà buôn và tu sĩ thông quađường biển đã truyền bá giáo lí đạo Phật vào nước ta Cũng có ý kiếncho rằng, Phật giáo du nhập vào thế kỉ V – VI qua đường bộ, bắtnguồn từ Vân Nam Trung Quốc Con đường thứ ba, xuất phát từ TKXIII tại Đông Bắc Ấn Độ, qua con đường Tây Tạng, trườn dọc sông MêCông rồi vào Việt Nam

1.2 Thế giới quan Phật giáo

Thế giới quan Phật giáo nguyên thủy là sự kết hợp của yếu tố tư duybiện chứng và chủ nghĩa nhân văn sâu sắc Bên cạnh đó, Phật giáophủ nhận tư tưởng về đấng sáng tạo Brahman, cũng như phủ nhận

"cái tôi" (Atman) và đưa ra những phạm trù: chân như, pháp, không,

vô thường, vô ngã, nhân duyên, Trong số đó quan niệm cơ bản vànổi bật nhất là vô ngã, vô thường và nhân duyên

Vô ngã: Phật giáo cho rằng không có một cái ngã thường hằng, tất cả

sự vật, hiện tượng trên thế giới này đều không có thật, chỉ là hưkhông, là giả và bản thân con người cũng như vậy Mọi vật đều đềuđược cấu tạo bởi 2 yếu tố đó là : Sắc – vật chất và Danh – tinh thần.Sắc (sắc uẩn) là sự kết hợp của tứ đại: địa, thủy, hỏa, phong Cònlại, Danh (thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn, thức uẩn) là sự phối hợpcủa thất tình: hỉ, nộ, ai, lạc, ái, ố, dục

Trang 7

Vô thường: Theo quan điểm Phật giáo, vô thường là "không chắc

chắn", "thay đổi", "không trường tồn", không mãi mãi ở một trạnhthái nhất định: “tính vỡ đã nằm trong cái cốc”, “hoại diệt là bản chấtcủa chư hành” Tất cả sự vật, hiện tượng trên thế giới này đều biếnđổi theo quá trình sinh - trụ - dị - diệt hay thành - trụ - hoại - không

và con người thì vận hành theo quy luật sinh – lão – bệnh – tử

Nhân duyên: Tất cả mọi sự vật, hiện tượng tồn tại trong vũ trụ đều bị

chi phối bởi luật nhân duyên, đó là mối quan hệ giữa nguyên nhân vàkết quả Cái nhân nhờ có cái duyên mới sinh ra được mà thành quả.Quả lại do cái duyên mà thành ra nhân khác, nhân khác lại nhờ códuyên mà thành quả mới và cứ biến đổi mãi mãi Nói cách khác, mọi

sự vật, hiện tượng trong vũ trụ không đứng độc lập tuyệt đối mà tồntại trong mối liên hệ nương tựa, ràng buộc, tác động qua lại vớinhau

Có thể nói, thế giới quan Phật giáo có điểm đặc sắc hơn so với vớicác tôn giáo khác (không tin có tạo vật chủ), tuy nhiên Phật giáocũng bị đẩy vào chủ nghĩa hư vô khi không thừa nhận sự đứng imtương đối của sự vật, hiện tượng trên thế giới (thuyết vô thường, vôngã)

1.3 Nhân sinh quan Phật giáo

Thừa nhận quan niệm "Luân hồi" và "Nghiệp" trong Upanishad, Phậtgiáo đặc biệt chú trọng triết lý nhân sinh, đặt mục tiêu tìm kiếm sựgiải thoát cho chúng sinh khỏi vòng luân hồi, nghiệp báo để đạt tớitrạng thái tồn tại Niết bàn (Nirvana)

Từ sự lý giải về căn nguyên nỗi khổ của con người, Phật Thích CaMâu Ni đã đưa ra thuyết "Tứ diệu đế" và " Thập nhị nhân duyên" đểgiải thoát chúng sinh ra khỏi mọi nỗi khổ và kiếp nghiệp báo, luânhồi Đây là triết lý nhân sinh chủ yếu của đạo Phật "Tứ diệu đế" làbốn chân lý chắc chắn, hiển nhiên, hoàn toàn cao hơn hết, trong đógồm có:

Khổ đế: Phật giáo coi " đời là bể khổ" Có trăm ngàn nỗi khổ, nhưng

có 8 nỗi khổ trầm luân, bất tận mà bất cứ ai cũng phải gánh chịu là:sinh, lão, bệnh, tử, thụ biệt ly ( yêu thương mà phải chia lìa), Oántăng hội ( oán ghét nhau mà phải sống với nhau), sở cầu bất đắc

Trang 8

( cầu mong mà không được), ngũ thụ uẩn ( năm yếu tố vô thườngnung nấu làm nên sự đau khổ)

Nhân đế (hay Tập đế): Giải thích những nguyên nhân gây nên đau

khổ cho chúng sinh Đó là 12 nguyên nhân ( Thập nhị nhân duyên):

1 Vô minh; 2 Hành; 3 Thức; 4 Danh sắc; 5 Lục nhập; 6 Xúc; 7.Thụ; 8 ái; 9 Thủ; 10 Hữu; 11 Sinh và 12 Lão, tử Trong 12 nhânduyên ấy thì vô minh tức là ngu tối, không sáng suốt là nguyên nhânđầu tiên

Diệt đế: Là lần theo Thập nhị nhân duyên, tìm ra cội nguồn của nỗi

khổ, tiêu diệt nó và đưa chúng sinh thoát khỏi nghiệp chướng, luânhồi, đạt tới cảnh trí Niết bàn

Đạo đế: Chỉ ra con đường diệt khổ đạt tới giải thoát Đó là con đường

"trung đạo", hoàn thiện đạo đức cá nhân gồm 8 nguyên tắc (bátchính đạo):

1 Chính kiến: Hiểu biết đúng đắn

2 Chính tư duy: Suy nghĩ đúng đắn

3 Chính ngữ: Giữ lời nói phải

4 Chính nghiệp: Giữ đúng trung nghiệp

5 Chính mệnh: Giữ ngăn dục vọng

6 Chính tinh tiến: Rèn luyện không mệt mỏi

7 Chính niệm: Có niềm tin vững chắc vào sự giải thoát

8 Chính định: An định, không bị ngoại cảnh chi phối

Tám nguyên tắc này có thể thâu tóm vào 3 điều phải học tập, rènluyện là: Giới - Định - Tuệ ( tức là: giữ giới luật, thực hành thiền định

và khai thông trí tuệ bát nhã)

Đạo đức Phật giáo luôn xem giới luật là những nguyên tắc cơ bảnmang tính bền vững cũng như ổn định và không thay đổi Nó còn làtôn giáo xuất phát từ chính hiện thực con người, nhằm hướng bảnthân con người có thể đi đến hạnh phúc an lạc.Điều đó được thể hiệnthông qua những quy phạm đạo đức như: ngũ giới, lục hòa, tứ vôlượng tâm, Trong đó:

Trang 9

Ngũ giới: là những điều ngăn cấm mà Phật đề ra để ngăn những

tưởng niệm ác, lời nói không hay và hành động bất chính Đó là 5điều:

1 Không được giết hại

2 Không được trộm cướp

3 Không được tà dâm

4 Không được nói sai sự thật

5 Không được uống rượu

Lục hòa: là sáu phương pháp thể hiện nhân cách sống một con người

có đạo đức, đem lại sự hòa thuận, yêu thương, đùm bọc giúp đỡ vàchia sẻ cho nhau, từ vật chất đến tinh thần, từ lời nói cho đến mọiviệc làm trong cuộc sống:

1 Thân hòa đồng trụ (chung sống hòa bình)

2 Khẩu hoà vô tránh (lời nói hòa hợp, không tranh cãi)

3 Ý hoà đồng duyệt (thông cảm, chia sẻ mọi cảnh ngộ)

4 Giới hoà đồng tu (giới hòa cùng tu tập)

5 Kiến hoà đồng giải (cùng nhau học hỏi tiến bộ)

6 Lợi hoà đồng quân (lợi hòa cùng chia)

Tứ vô lượng tâm: là những 4 đặc tính giúp con người trở nên tốt đẹp,

hoàn thiện Nếu mỗi người tự cố gắng thực hành “tứ vô lượng tâm”,không phân biệt tôn giáo, chủng tộc … thì mỗi người sẽ trở thànhmột công dân lý tưởng trong một thế giới hòa bình, an lạc

1. Từ: lòng tốt, yêu thương con người

2. Bi: lòng thương xót, cứu khổ, cứu nạn cho chúng sinh

3. Hỉ: lòng vui, vui cho chúng sinh khi họ làm được điều thiện

4. Xả: tha thứ cho người và hi sinh bản thân cho chúng sinh

Nhân sinh quan là một trong những vấn đề được Phật giáo quan tâmsâu sắc Nó mang tính nhân văn với niềm tin về sự giải thoát conngười từ chiều sâu tâm thức bằng trí tuệ và đạo đức Bên cạnh đó, nó

đề cao tinh thần bình đẳng, khát khao tự do, hạnh phúc vượt lên trên

mọi đối đãi về sự phân biệt đẳng cấp

Tiểu kết chương 1

Trang 10

Như vậy, trên đây, tác giả đã đề cập những vấn đề lý luận cơ bản vềtriết học Phật giáo thông qua lịch sử ra đời của Phật giáo, thế giớiquan và nhân sinh quan Phật giáo Tư tưởng chủ đạo của đạo Phật làdạy con người hướng thiện, có tri thức để xây dựng cuộc sống tốtđẹp yên vui trong hiện tại Đạo Phật không công nhận có một đấngtối cao chi phối đời sống của con người, không ban phúc hay giánghoạ cho ai mà trong cuộc sống mỗi người đều phải tuân theo luậtNhân - Quả, làm việc thiện thì được hưởng phúc và làm việc ác thìphải chịu báo ứng Đạo Phật còn thể hiện là một tôn giáo tiến bộ khikhông có thái độ phân biệt đẳng cấp Khác với một số tôn giáo lớntrên thế giới, đạo Phật chủ trương không có hệ thống tổ chức thế giới

ra, đạo Phật cũng thể hiện tinh thần đoàn kết và không phân biệtgiữa người tu hành và tín đồ, quan điểm của đạo Phật là “Tứ chúngđồng tu”, đó là Tăng, Ni, Phật tử nam và Phật tử nữ đều cùng được tu

và nếu ai có quyết tâm đều có thể thành tựu như Đức Phật

CHƯƠNG 2

XÃ HỘI THỜI TRẦN, CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP TRẦN NHÂN

TÔNG

Tư tưởng triết học Trần Nhân Tông một mặt phản ánh và bị chi phối

bở đặc điểm, nhu cầu của xã hội Việt Nam thời kì nhà Trần; bên cạnh

đó, là sự kế thừa những tôn giáo khác trước đó Chính vì vậy, nghiêncứu vể ảnh hưởng của Phật giáo trong thơ Trần Nhân Tông không thểkhông nghiên cứu về bối cảnh lịch sử - xã hội cũng như những tiền

đề hình thành nên tư tưởng triết học của ông

Trang 11

Năm 1209, khi trong triều có biến loạn, vua Lý Cao Tông phải chạylên Quy Hoá, Thái tử Sảm chạy về Hải Ấp đã được gia đình Trần Lýgiúp đỡ Hoàng tử Sảm đã kết duyên cùng Trần Thị Dung, con gái thứhai của Trần Lý Họ Trần đã tập hợp hương binh giúp nhà Lý dẹp loạn,diệt trừ Quách Bốc (thuộc tướng của Phạm Bỉnh Di), đưa vua Lý trởlại kinh đô Cậu ruột Trần Thị Dung là Tô Trung Từ làm Điện tiền chỉhuy sứ Uy thế họ Trần bắt đầu được đề cao từ khi hoàng tử Sảm lênngôi vào năm 1211, tức là vua Lý Huệ Tông Ông cho đón vợ là TrầnThị Dung về cung lập làm nguyên phi Lúc này, Tô Trung Từ đượcphong Thái uý phụ chính Huệ Tông là người yếu đuối, lại bị Thái hậu

họ Đàm khống chế, nên mọi việc đều phó thác cho Đàm Dĩ Mông,người chức cao, quyền lớn nhưng "không có học thức, không có mưuthuật, lại nhu nhược không quyết đoán, chính sự ngày một đổ nát".Lợi dụng tình hình đó, Đoàn Thượng làm phản, tụ tập bè đảng ở HồngChâu thả sức cướp bóc, khiến triều đình không chế ngự nổi Năm

1216, trước tình thế bức bách của Đàm thái hậu, Lý Huệ Tông đã bímật rời bỏ hoàng cung, cùng với Trần thị Dung trốn đến nơi đóngquân của Trần Tự Khánh Từ đó, vua Lý hoàn toàn phụ thuộc vào thếlực anh em họ Trần Năm 1223, Trần Tự Khánh chết, mọi việc đều uỷquyền cho Trần Thủ Độ (em họ Trần Thừa và Tự Khánh) khi ấy là chỉhuy sứ, quản lĩnh cấm quân Là người cơ mưu, quyết đoán, Trần Thủ

Độ đã sắp xếp để vua Huệ Tông nhường ngôi cho công chúa ChiêuThánh, rồi cắt tóc đi tu ở chùa Chân Giáo Liền sau đó, Trần Thủ Độlại thu xếp cho Lý Chiêu Hoàng lên 7 tuổi lấy con trai thứ của TrầnThừa là Trần Cảnh lên 6 tuổi Một năm sau, vào tháng 12 âm lịchnăm 1225, Trần Thủ Độ ép Chiêu Hoàng nhường ngôi cho chồng, nhà

Trang 12

Trần bắt đầu nắm quyền cai trị Khi lên ngôi, Trần Cảnh (Trần TháiTông) còn nhỏ, mọi việc triều chính đều trong tay Thái sư Trần Thủ

Độ và cha là Nhiếp chính Trần Thừa

Trong quá trình xây dựng chính quyền quý tộc quân chủ vững mạnh,đồng thời củng cố, phát triển kinh tế, văn hóa mang đậm bản sắcdân tộc, xã hội thời đã có sự phân hóa mạnh mẽ Trong gần hai thế

kỉ, nhà Trần đã hình thành và tồn tại 3 giai cấp chính:

- Đẳng cấp quý tộc, tôn thất – quan lại trong chính quyền quânchủ

- Đẳng cấp những người bình dân, chủ yếu là nông dân các làng

xã, thợ thủ công và thương nhân, địa chủ

- Đẳng cấp nô tỳ

Đẳng cấp quý tộc gọi cách khác là giai cấp quý tộc vương hầu, tônnhất nhà Trần Các vua nhà Trần giữ một vai trò rất đặc biệt, ở đóvua là người nắm giữ quyền tối thượng bao gồm các lĩnh vực của nhànước, xã hội và là người quyết định mọi hình thức nghi lễ, tôn giáocũng như mọi hình thức sử dụng ruộng đất tài sản của nhà nước Bêncạnh đó, những người xuất thân từ tầng lớp chân tay cũng có quyềntham gia bộ máy cầm quyền bởi những chính sách mở rộng thi cử,tuyển chọn quan lại, người tài cho nhà nước Chính tầng lớp này đãlàm pha loãng đi tính chất quý tộc của nhà nước Trần, tạo ra nhữngxáo trộn không nhỏ vào buổi cuối Trần

Đẳng cấp thứ hai chiếm phần lớn hơn cả, họ, êm ả trong tập thể làng

xã Bên cạnh những người nông dân làm ruộng là những người thợthủ công và thương nhân Tuy thủ công là nghề chính, nhưng nhữngngười thợ vẫn gắn với ruộng đồng và nông thôn Thương nhân làtầng lớp hình thành mới nhưng là lực lượng sản xuất chủ yếu và cũng

là đẳng cấp gánh vác nhiều nghĩa vụ nhất trong xã hội Trong luậtpháp hay những chiếu chỉ của nhà vua, những người bình dân đượcgọi chung là “bách tính” hay “dân” Phải gánh chịu hầu hết trọngtrách của xã hội như: sản xuất, nộp thuế, đi lính, bảo vệ đất nước, nhưng về cơ bản những người nông dân có cuộc sống bình yênlạinhanh chóng phát triển Chuyên buôn bán là số ít, hầu hết nghề tayphụ của họ là làm nông cũng như thủ công

Trang 13

Đẳng cấp bị cho thấp hèn nhất là nô tỳ Họ là những người dânnghèo không có tiền phải bán thân, tội nhân bị sung làm nô và tùbinh Nô tỳ chủ yếu có 2 loại: thứ nhât là “gia nô” hay “tư nô” nhữngngười làm trong nhà quý tộc, quan lại; thứ hai là nô tùy của nhànước, chuyên làm những việc đồn điền, làm ruộng và các công việccông cộng khác Gọi là thấp hèn nhất, bởi họ không có tư liệu sảnxuất trong tay, không được kết hợp với các tầng lớp trên, không cóquyền quyết định với chính thân thể của mình và hơn thế họ bị thíchvào mặt mang hàm hiệu của chủ

Cùng với việc kế thừa và phát triển các giá trị tư tưởng và văn hóatruyền thống Việt Nam được hun đúc nên trong tiến trình lịch sử đấutranh dựng nước và giữ nước, tư tưởng triết học Trần Nhân Tông đượchình thành và phát triển còn do ông tiếp thu, chắt lọc các quan điểmkhác nhau của Nho, Lão, Phật Những tôn giáo này xuất phát từnhững luồng tư tưởng bên ngoài, khi du nhập vào Việt Nam đã trảiqua những giai đoạn thăng trầm để tìm được chỗ đứng trong đờisống tinh thần của người Việt Văn hóa bản địa kết hợp hài hòa vớinhững tư tưởng ngoại lai đã tạo nên bản sắc riêng cho dân tộc ViệtNam

Nho giáo du nhập buổi đầu Việt Nam không còn là Nho giáo nguyênthủy, mà đã được cải tạo cho phù hợp với tư tưởng của những nhàcầm quyền lúc bấy giờ Tuy nhiên, không đúng như những thế lựcphong kiến kì vọng, chính sách đồng hóa dân tộc ta hoàn toàn thấtbại Sở dĩ có điều đó là vì, thứ nhất là sự khác biệt về chữ viết ChữHán vốn là một loại chữ tượng hình, nó khác hoàn toàn so với chữquốc ngữ sử dụng kí tự La Tinh Chính vì vậy, chỉ có những con emquan lại và những con em bản địa mới có điều kiện học tập loại ngônngữ khó viết này Thêm vào đó, “nhân dân ta có một lòng nồng nànyêu nước”; để khẳng định tinh thần độc lập, nhân dân ta đã bảo tồn

và phát huy di sản văn hóa cổ truyền, bảo tồn ngôn ngữ, chữ viết, tínngưỡng, phong tục tập quán của dân tộc Nội dung Nho giáo thờiTrần là tư tưởng Thiên mệnh, tư tưởng tôn quân đại thống nhất, đềcao quyền uy của Thiên tử, truyền bá thuyết “tam cương ngũthường”, “tam tòng tứ đức” để làm công cụ tinh thần phục vụ cho

bộ máy quan liêu và thần bí hóa để lợi dụng lòng tin của nhân dân

Trang 14

Nho giáo và Nho học đã có sự khởi sắc hơn thời Lí đặc biệt là trongbối cảnh khoang dung văn hóa, sự dung hợp của “tam giáo đồngnguyên” Ảnh hưởng rõ nét nhất có thể thấy là giáo dục và chế độ thi

cử Không những giảng dạy Nho học, phát triển và hoàn thiện chế độkhoa cử, mà còn tôn tạo Văn Miếu, tế tự Khổng Tử, du nhập kinh điểnlàm cho Nho giáo tạo lên bước ngoặt mới Cũng như những vị vuathời Trần, Nho giáo đã ảnh hưởng không nhỏ đến nội dung tư tưởngcủa Trần Nhân Tông, ông từng nhiều lần đề cập đến điển tích, Kinh,Dịch và những quan điểm, khái niệm của Nho giáo như: “Trong đạonghĩa, khoảng cơ quan, đã lọt lẫn trường Kinh cửa Tổ”1 hay “Sống màkhông giúp gì được cho đời là điều đáng hổ thẹn của kẻ trượng phu”.Không có tầm ảnh hưởng như Nho giáo và Phật giáo, nhưng Đạo giáovẫn có chỗ đứng nhất định trong tiền đề lí luận của Trần Nhân Tông.Đạo giáo du nhập vào Việt Nam cùng với Nho giáo; nhưng sau khi đivào đời sống nhân dân, học thuyết triết học Lão - Trang đã có nhữngbiến đổi để phù hợp với ý chí của các tầng lớp trong xã hội và hơn cả

là để thích ứng với nền văn hóa bản địa Nếu Đạo gia được tiếp thumạnh mẽ ở tầng lớp tri thức thì Đạo giáo lại được tiếp biến ở quầnchúng nhân dân Ví dụ có thể thấy ở đây là là sự phân hóa của Đạogiáo thành 2 khuynh hướng là: Đạo phù thủy và Đạo thần tiên Đạothần tiên với tư tưởng tiêu dao, khoáng đạt, vi vu, sống ung dung tựtại đã ảnh hưởng sâu sắc tới tầng lớp vua, quan, quý tộc Ngược lại,Đạo phù thủy hòa nhập với tín ngưỡng ma thuật cổ truyền của nhândân Thời Trần, Đạo giáo kết hợp với triết lí vô ngã của Phật giáo,tính chất duy lí của Nho giáo và tín ngưỡng dân gian của người Việtnên không hoàn toàn mang tính chất ma thuật thần bí, mà hết sứcchất phác Trong triết học Đạo gia, vua Trần Nhân Tông kế thừa quanđiểm “tiêu dao”, “hòa với tự nhiên”, sống ung dung với nơi non xanhnước biếc; ông cũng đề cao cuộc sống thanh bình, không bon chen,không xô bồ “công danh chẳng trọng, phú quý chẳng màng”, “lánhthị phi, ghê danh sắc”

Sự du nhập của Phật giáo vào nước ta ở những bước căn bản đầutiên thật ra không phải xuất phát từ Trung Hoa, mà chính là đượctruyền sang trực tiếp từ Ấn Độ Dựa trên những chứng liệu lịch sửđáng tin cậy, một số nhà nghiên cứu chuyên sâu, có uy tín về Phật

1

http://www.thivien.net/Trần-Nhân-Tông/Đệ-ngũ-hội/poem-bKgdHQebdkmsNxuJjBhuZQ

Trang 15

giáo đã khẳng định điều này1 Thế kỷ đầu tiên của công lịch, sự hòahợp giữa tín ngưỡng bản địa có sẵn với những sinh hoạt văn hóa,giáo lý cơ bản của Phật giáo đã hình thành nên một loại tín ngưỡngPhật giáo bình dân phù hợp với đời sống tinh thần của nhân dâncũng như phù hợp với tín ngưỡng bản địa ; vì lẽ đó, nên việc thâmnhập của Phật giáo không gặp trở ngại, mà lại còn dễ dàng và nhanhchóng Khi nói đến lịch sử thời Lý - Trần, là người ta nghĩ ngay đếnmột quốc gia Phật giáo, bởi Phật giáo đã thể nhập toàn diện vào đờisống con người, xã hội và dân tộc ta thời ấy Nhờ tín ngưỡng Phậtgiáo mà dân tộc ta có được sự cấu kết lòng dân trong việc dựng nước

và giữ nước để đánh bại giặc ngoại xâm Đó là 3 cuộc kháng chiếnđại thắng Nguyên - Mông vĩ đại.Vào đầu thế kỷ 13, đã có sự dần dầnsáp nhập vào với nhau của ba thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi, Vô NgônThông và Thảo Đường Thiền phái Yên Tử từ đây mà hình thành.Thiền phái này sau đó, dưới sức ảnh hưởng rất lớn của vua Trần TháiTông và Tuệ Trung Thượng Sĩ, đã có một bước phát triển lớn, trởthành thiền phái Trúc Lâm - thiền phái duy nhất dưới đời nhà Trần.Nhìn lại lịch sử thời Trần, chúng ta càng thấy vị trí và vai trò khôngnhỏ của đạo Phật trong việc giữ nước và an dân Về điều này P.Tilich,Nhà nghiên cứu tôn giáo Nga nói: “Tín ngưỡng tôn giáo là mối quantâm cao nhất của con người và tôn giáo là nội dung thiết yếu củavăn hóa” hay trong bài trong bài: “Hãy bay với hai cánh vào hiệnđại” của Giáo sư Cao Huy Thuần: “Chẳng lẽ đạo Phật trí tuệ đã bay

cả rồi qua bên Tây ? Chẳng lẽ Tây phương thừa hưởng hết tinh túycủa Phật giáo? May thay chúng ta rất giàu lòng tin, nhưng buồn thay,lắm khi, nắm nơi vẫn còn mê tín, đó không phải là đạo Phật Không,nhất thiết ta không để gãy đôi cánh trí tuệ của con đại bàng Lý Trần.Nhất quyết ta củng cố lòng tin chân chính” 2

2.2 Trần Nhân Tông – cuộc đời và sự nghiệp

Với Trần Nhân Tông, sự nghiệp để lại cho đời và đạo thật to lớn:Không lĩnh vực nào mà ngài không tỏa sáng, đó là nhận xét và đánhgiá của các học giả và các nhà khoa học ở nhiều lĩnh vực phát biểunhư vậy về ngài

1 Theo Nguyễn Lang, Việt Nam Phật giáo sử luận, in lần thứ 3, Nxb Văn hóa, Hà Nội, 1992

2 Nhân tuần Văn hóa Phật giáo 2012 tại Nghệ An

Trang 16

Trần Nhân Tông tên thật là Trần Khâm, sinh ngày 11 tháng 11 âm lịchnăm Mậu Ngọ niên hiệu Thiệu Long năm thứ 1 (tức 7 tháng 12 năm1258) Ông là con trai đầu lòng của Trần Thánh Tông và NguyênThánh Thiên Cảm hoàng hậu Trần Thị Thiều Theo Đại Việt Sử ký Toànthư (bộ quốc sử Đại Việt biên soạn năm 1479, thời Lê Thánh Tông),Trần Khâm ngay từ khi sinh ra đã được tinh anh thánh nhân, thuầntúy đạo mạo, sắc thái như vàng, thể chất hoàn hảo, thần khí tươisáng, nên vua cha và ông nội - thái thượng hoàng Trần Thái Tông đãgọi ông là Kim Tiên đồng tử Các sách Tam Tổ thực lục và Thánh đăngngữ lục (đều ra đời khoảng thế kỷ XIV) chép biệt hiệu này là KimPhật Cả 2 sách này và Toàn thư đều kể rằng bên vai phải Trần Khâm

có nốt ruồi đen lớn như hạt đậu; người xem tướng đoán rằng hoàng

tử về sau sẽ làm được việc lớn

Năm 1274, ở tuổi 16 tuổi, Trần Khâm được vua cha sách phong làmhoàng thái tử Trần Thánh Tông cũng lập trưởng nữ của Hưng Đạovương Trần Quốc Tuấn (tức Khâm Từ hoàng hậu sau này) làm thái tửphi Nhà vua còn vời các nho sĩ có tài đức trong cả nước về hầu cậnthái tử Tướng Lê Phụ Trần được phong chức Thiếu sư, kiêm Trừ cunggiáo thụ, đảm trách việc dạy học thái tử Bản thân nhà vua cũng viếtthơ giáo huấn cho Trần Khâm Các chú giải của Trần Quang Chỉ trongtranh Trúc Lâm đại sĩ xuất sơn đồ cho biết Trần Khâm đã đạt đượctrình độ cao về các lĩnh vực như quân sự, âm nhạc, lịch số học vàthiên văn học Ông cũng học kỹ về tam giáo Phật-Lão-Nho và amhiểu tường tận giáo pháp nhà Phật Sách Thánh đăng ngữ lục cũngviết: "Bản chất Ngài rất thông minh và hiếu học, có nhiều tài năng,xem khắp hết các sách, thông suốt cả nội điển lẫn ngoại điển”

Tuy ở ngôi thái tử và có hôn nhân hạnh phúc, Trần Khâm có chíhướng xuất gia theo Phật Ông đã nhiều lần xin nhường ngôi Thái tửcho em là Tá Thiên vương Trần Đức Việp, nhưng không được vua chachấp thuận Thậm chí có lần ông trốn lên núi Yên Tử ẩn tu, khiến vuaTrần Thánh Tông phải sai quan quân đi tìm và thỉnh cầu ông về kinh

đô Trần Khâm đành chấp nhận ngôi Thái tử, nhưng ông vẫn sốngthanh tịnh trên tinh thần Phật giáo; ông cũng dành nhiều thời gianđàm đạo với thiền sư Tuệ Trung Thượng Sĩ (tức Hưng Ninh vương TrầnQuốc Tung – anh họ của Trần Thánh Tông) và tôn xưng vị này làmthầy mình Vào năm 1285, Giặc Nguyên - Mông xâm lăng xứ sở, TrầnNhân Tông hai phen cầm binh ra trận cùng với Trần Hưng Đạo dẹp

Trang 17

giặc giữ nước và cả hai lần đều chiến thắng rực rỡ Năm Quý Tỵ

1293, Trần Nhân Tông nhường ngôi cho con là Trần Anh Tông, cònngài lên làm Thái Thượng Hoàng, ở địa vị này 6 năm, ngài dạy bảocon cháu và sắp xếp việc xuất gia

Trần Nhân Tông là một vị hoàng đế mà sự nghiệp nổi hẳn trên cả bamặt : Giữ nước, dựng nước và mở nước Trên cả ba lãnh vực này, TrầnNhân Tông đã có những đóng góp hết sức đặc biệt

Đầu tiên là sự nghiệp giữ nước của Trần Nhân Tông:

Thời Trần Nhân Tông ở ngôi hoàng đế, dân tộc ta phải đương đầu vớimột kẻ thù hung hãn nhất của thời đại: Giặc Mông - Nguyên Trongvòng nửa thế kỷ, bộ tộc Mông Thát đã mở rộng chiến tranh xâm lược

và làm chủ nhiều vùng đất đai rộng lớn ở hai lục địa Á - Âu, lập nênmột đế chế kéo dài từ bờ Hắc Hải đến Thái Bình Dương Thế nhưng

cả ba lần xâm lược Đại Việt, đội quân "bách chiến bách thắng" đóđều bị đánh bại, trong đó có hai lần diễn ra dưới thời Trần Nhân Tông

Để chuẩn bị cho chiến tranh, Trần Nhân Tông ý thức rất sâu sắc về

"thế trận lòng dân" hạt nhân để làm nên chiến thắng Trần NhânTông đã tổ chức hội nghị Bình Than (1282), gồm tướng sĩ để bàn kếgiữ nước Đặc biệt, đầu năm 1285, Trần Nhân Tông đã tổ chức hộinghị Diên Hồng, gồm các bô lão đại diện cho thần dân khắp cả nước,

để rồi từ điện Diên Hồng vang lên tinh thần quyết chiến Rõ ràng làmỗi khi sức mạnh nhân dân vào trận thì không một thế lực nào cóthể vượt thắng được

Vai trò tối cao của Trần Nhân Tông còn thể hiện trong chính sáchdùng người Trần Nhân Tông giao cho Hưng Đạo vương chỉ huy trựctiếp toàn quân, hoặc trọng dụng các tướng lĩnh tài năng dù họ có lỗilầm trong quá khứ như Nhân Huệ vương Trần Khánh Dư được giaolàm Phó tướng, phụ trách toàn bộ thủy quân; hoặc như Chiêu Vănvương Trần Nhật Duật tuổi đời còn rất trẻ vẫn được cử trông coi cảmột vùng Tây Bắc rộng lớn, Nhà sử học đời Lê là Ngô Sĩ Liên nhậnxét: “Tôi từng thấy các danh tướng nhà Trần như Hưng Đạo Vương thìhọc vấn tỏ ra ở bài hịch, Phạm Điện Súy thì học vấn biểu hiện ở câuthơ, không chỉ có chuyện về nghề võ Thế mà dùng binh tinh diệu, hễđánh là thắng, đã tấn công là chiếm được, người xưa cũng không

Trang 18

một ai vượt nổi các ông Đủ biết, nhà Trần dùng người, vốn căn cứvào tài năng của họ để trao trách nhiệm”1.

Không những vậy, Trần Nhân Tông còn được biết đến bởi lối ứng xửngoại giao mềm dẻo, cứng rắn Trong cuộc chiến tranh năm 1285,khi quân Nguyên sắp vào nước ta, Trần Nhân Tông cho sứ đưa thưđến Thoát Hoan, từ chối việc cho mượn đường Đại Việt đánhChampa: “Từ nước tôi đến Champa, đường thủy đường bộ đều khôngtiện” Phương sách ngoại giao của Trần Nhân Tông dù không cảnđược chính sách xâm lược của triều Nguyên, nhưng nó có tác dụnggiúp triều Trần có thêm thời gian chuẩn bị để ứng phó với chiến tranh

mà biết trước sẽ diễn ra; mặt khác, nó góp phần quán triệt tư tưởngtrong nhân dân về bản chất hiếu chiến của kẻ thù để mà dốc lòngcứu nước Vì vậy, điều không phải ngẫu nhiên khi quân lính, mỗingười đều thích vào cánh tay hai chữ "Sát Thát” trước lúc ra trận.Khi chiến tranh diễn ra, Trần Nhân Tông có mặt hầu như khắp mọimặt trận để cùng với tướng lãnh có những quyết sách tối ưu trướcnhững tình thế hiểm nghèo, nổi bật nhất là những quyết định luiquân hoặc phản công chiến lược Trong cuộc kháng chiến năm 1285,Trần Nhân Tôngđã khẳng định sự sáng suốt khi quyết định lui quân ởHải Đông sau khi Nội Bàng thất thủ, rời bỏ Thăng Long, thực hiện

“vườn không nhà trống”, Trong trận thủy chiến (14-2-1285) ở BìnhThan, các trận Trường Yên, Hàm Tử tiêu diệt đạo quân của Toa Đô,đặc biệt là trận quyết chiến chiến lược Bạch Đằng (1288) chôn vùi ýchí xâm lược của Hốt Tất Liệt, Trần Nhân Tông, người vừa hoạchđịnh kế sách, vừa đốc binh ngoài mặt trận

Nhìn lại những trang sử chống ngoại xâm của dân tộc, nhân dân ta

đã đương đầu với biết bao kẻ thù hung bạo và đã lập nên biết baochiến công lừng lẫy, song điều cần khẳng định là cuộc kháng chiếnchống đế quốc Mông - Nguyên thắng lợi ở thế kỷ XIII là một trong haichiến công vĩ đại của dân tộc ta mang tầm thời đại, có ý nghĩa quốc

tế sâu sắc Tổng Bí thư thư Lê Duẩn khẳng định: “Dân tộc ta hơn cácdân tộc khác ở chỗ ngay từ buổi đầu giữ nước dân tộc ta có Bà Trưng,

Bà Triệu; ở chỗ đã hai lần đánh bại những tên sen đầm quốc tế: Mông

- Nguyên và Hoa Kỳ”

1 Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên, Đại Việt Sử ký Toàn thư Bản dịch Viện Khoa Học Xã Hội Việt Nam Ấn bản điện tử, năm 2001, tr.200

Trang 19

Tất cả những lẽ đó đã khẳng định, Trần Nhân Tông không những làmột vị vua hiền, một nhà quân sự tài ba mà còn là nhà ngoại giaoxuất sắc; những đóng góp của ông đã tô sáng thêm trang sử vẻ vangcủa dân tộc.

Tiếp theo là sự nghiệp dựng nước của Trần Nhân Tông:

Sau cuộc kháng chiến chống Mông - Nguyên thắng lợi, dưới sự lãnhđạo của Trần Nhân Tông, công cuộc tái thiết đất nước diễn ra trênnhiều linh vực Nhưng nổi bật nhất phải nói lĩnh vực văn hóa

Một là, Trần Nhân Tông tái dựng về một quá khứ huy hoàng của dântộc bằng việc phong thần cho những người có công với nước, nhưPhù Đổng Thiên Vương, Triệu Quang Phục, Lý Nam Đế, Phùng Hưng,

Lý Thường Kiệt, Việc phong thần cho những anh hùng, liệt nữ vànhững người có công với dân tộc đã được thực hiện từ thời Lý Thái

Tổ, song chỉ đến thời Trần Nhân Tông, mới được tiến hành một cáchđầy đủ và có hệ thống hơn

Căn cứ vào những ghi chép của Lý Tế Xuyên trong Việt điện u linhtập, trong những năm Trùng Hưng thứ nhất (1285) và Trùng Hưng thứ

4 (1288) đã có tới 27 vị được phong thần Các vị thần Việt Nam đếnthời Trần Nhân Tông đã lên tới con số không phải ít Việc làm này củaTrần Nhân Tông có một ý nghĩa cực kỳ lớn lao trong việc tạo dựngtruyền thống đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam.Lần đầu tiên, một thần điện Việt Nam được hình thành với những conngười cụ thể, sống bằng xương bằng thịt trong quá khứ, có sự tích,

có hành trạng, chứ không chỉ gồm những vị thần, vị thánh từ nướcngoài đưa vào, hay được tưởng tượng ra Giáo sư, Tiến sĩ Lê MạnhThát khẳng định: “Trần Nhân Tông gầy dựng một quá khứ anh hùng

và thần thánh cho dân tộc ta, dùng những tấm gương anh hùng liệt

nữ và thần thánh đó để giáo dục cho nhân dân ta sống xứng đángvới tổ tiên, đất nước mình Có thể nói chủ nghĩa yêu nước và anhhùng Việt Nam đã được phát huy cao độ vào thời đại Trần NhânTông Không có quá khứ đó, việc phát huy không thể dễ dàng Đây

có thể là một đóng góp to lớn về đời sống tư tưởng của Trần NhânTông với dân tộc ta”1

1 Lê Mạnh Thát Sđd., tr.171

Trang 20

Hai là, Trần Nhân Tông là một trong rất ít người đi tiên phong trongviệc sử dụng quốc ngữ (chữ Nôm) trong công việc triều chính lẫntrong đời sống xã hội và trong sáng tác văn học Ngày 27 tháng Banăm Mậu Tý (1288), chỉ ít ngày sau khi trở về Thăng Long, Trần NhânTông ban chiếu, tuyên bố lệnh đại xá cho thiên hạ, Trần Nhân Tôngbuộc các quan phải đọc chiếu bằng hai thứ tiếng: Hán và Quốc ngữ.Đại Việt Sử ký Toàn thư chép: “Vua dụ ty Hành khiển giao hảo vớiviện Hàn lâm Lệ cũ, mỗi khi tuyên đọc lời vua, thì viện Hàn lâm lĩnhđưa bản thảo tờ chiếu cho Hành khiển để giảng tập trước Đến khituyên đọc, thì giảng cả âm nghĩa cho dân thường dễ hiểu” Với TrầnNhân Tông, ý nghĩa của việc làm này là cốt để cho quần thần và dânchúng nghe được nội dung chiếu chỉ, bởi trong số họ đa số khôngbiết chữ Hán hoặc có biết cũng chưa đạt đến trình độ thông hiểu hết;mặt khác còn là ở chỗ Việt hóa ngôn ngữ trong dân gian lẫn chốncung đình

Trong đời sống xã hội, những lúc xa giá, tiếp xúc với chốn thôn dã,Trần Nhân Tông sử dụng tiếng Việt trong giao tiếp, vừa thể hiện sựhòa quyện quân dân, vừa có ý nghĩa đề cao tiếng mẹ đẻ, cổ xúynhân dân chăm lo gìn giữ tiếng Việt Đại Việt Sử ký Toàn thư chép:

“Vua từng ngự chơi bên ngoài, giữa đường, hễ gặp gia đồng củavương hầu thì tất gọi chúng mà hỏi: ‘Chủ mày đâu?’, rồi răn các vệ sĩkhông được thét đuổi Đến khi về cung, bảo tả hữu rằng: ‘Ngàythường thì có thị vệ tả hữu, khi quốc gia lắm hoạn nạn thì chỉ có bọnchúng có mặt’”

Một vị hoàng đế, một vị thiền sư, rất giỏi chữ Hán, mà lại buộc quầnthần đọc chiếu với hai thứ tiếng, giao tiếp với dân bằng quốc ngữ,đặc biệt là sáng tác thơ văn bằng chữ Nôm, trong đó diễn đạt những

tư tưởng triết lý cao siêu của Phật giáo, như “Cư trần lạc đạo phú".Đây không phải ngẫu nhiên mà là một tất yếu trong tính thống nhấtgiữa tư tưởng và hành động của Trần Nhân Tông trong sự nghiệp bảo

vệ độc lập dân tộc Từ kinh nghiệm giữ nước trong những thời kỳtrước đó; đồng thời là người lãnh đạo tối cao dân tộc trong một giaiđoạn lịch sử đầy cam go và ác liệt trước một đội quân hung bạo nhưquân đội Mông - Nguyên, Trần Nhân Tông ý thức sâu sắc rằng việcbảo vệ độc lập dân tộc không tách rời với việc xây dựng và phát huychiều sâu của nền văn hóa dân tộc Rõ ràng, việc sử dụng chữ Nômtrong sáng tác “đối với Trần Nhân Tông không chỉ dừng lại ở chỗ

Trang 21

‘nghệ thuật vị nghệ thuật’ mà còn là và chính là ‘nghệ thuật vị nhânsinh’, tức là phải đáp ứng được yêu cầu phát huy tính độc lập dân tộcngay cả trong văn tự”1.

Ba là, Trần Nhân Tông đã sáng lập ra phái Thiền Trúc Lâm Yên Tử.Đây được xem như là mặt nổi bật nhất trong sự nghiệp văn hóa củaTrần Nhân Tông Đầu thế kỷ XII, ba Thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi, VôNgôn Thông và Thảo Đường dần dần thống nhất, trên cơ sở đó hìnhthành phái Thiền Trúc Lâm Đây là thiền phái đầu tiên do một ngườiViệt Nam sáng lập Thiền phái Trúc Lâm đề cao sự tự ngộ, sự nỗ lựcrèn luyện của hết thảy mọi người Dù xuất gia hay tại gia, sống trongchùa hay ở ngoài đời, miễn là biết tu tập, cải tạo tâm từ ác chuyểnthành thiện, từ xao động chuyển thành bình lặng, định tĩnh, biết phátrừ vô minh, tham dục thì đều đi đến con đường giác ngộ

Điều quan trọng nhất là Thiền phái Trúc Lâm đã thể hiện tinh thầnnhập thế hết sức mãnh liệt Bản thân Trần Nhân Tông, khi xuất giavẫn quan tâm đến vận mệnh đất nước Trần Nhân Tông đã chọn Yên

Tử làm trung tâm của Giáo hội Trúc Lâm Tại đây, trên đỉnh núi Yên

Tử, cùng với việc tu chứng, Trần Nhân Tông có thể quan sát được sựđộng tĩnh của các cánh quân xâm lược từ phương Bắc xuống Mặtkhác, Trần Nhân Tông đi khắp các chốn thôn dã, khuyên dân bỏnhững hủ tục, mê tín và thực hành giáo lý Thập thiện Ngay cả đếnthời điểm trước lúc viên tịch, Trần Nhân Tông vẫn căn dặn các đệ tửrằng: “Các người hãy xuống núi lo tu hành, đừng coi sinh tử là việcnhàn”

Cuối cùng là Trần Nhân Tông với sự nghiệp mở nước:

Nói đến mở nước là nói đến “Công cuộc Nam tiến” của dân tộc ta Khinghiên cứu “Công cuộc Nam tiến” của dân tộc ta, Trần Nhân Tôngphải được đặt ở vị trí cao nhất Về sự nghiệp mở nước về phía Nam

mà chính Trần Nhân Tông, “người vừa thiết kế, vừa thi công” như đãtrình bày có hai vấn đề sau đây đã đến lúc cần phải được khẳngđịnh:

1 Nguyễn Hồng Dũng Văn học đời Trần và thơ văn Trần Nhân Tông Kỷ yếuHội thảo Khoa học quốc gia “Thân thế và sự nghiệp Trần Nhân Tông (1258 -1308)”, Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế, tháng 12-2003, tr.114

Trang 22

Một là, sau khi xuất gia tu Phật, Trần Nhân Tông không chỉ tập trung

lo việc đạo mà còn lo cho việc đời Một số tác giả cho rằng: "Nhưngthắng giặc không lâu, Nhân Tông nhường ngôi cho Anh Tông để đitìm một cuộc sống tĩnh tại trong cảnh tu hành, trở thành ông tổ thứnhất của phái Trúc Lâm và gửi hơi thở cuối cùng ở am Ngọa Vân trênnúi Yên Tử tĩnh mịch lúc mới 51 tuổi”, và “Ông muốn dứt bỏ nhữngbận rộn thường tình của xã hội để tìm lẽ huyền vi chi phối cuộc sốngcon người”1 Chắc chắn rằng cách nhìn này không còn có sức thuyếtphục khi chúng ta nhìn vào sự nghiệp mở nước của Trần Nhân Tôngvới việc hai châu Ô, Lý sáp nhập vào Đại Việt là lúc Trần Nhân Tông

đã khoác trên mình áo cà sa

Hai là, vấn đề Trần Nhân Tông mở rộng lãnh thổ “Việc mở nước vượtqua đèo Hải Vân, một dãy núi cao và hiểm trở nhất, chắn ngang conđường thiên lý Bắc - Nam mà không bằng con đường đao binh; vàchắc chắn nếu lịch sử không chọn cuộc hôn nhân Chế Mân - HuyềnTrân mà bằng con đường khác thì xương máu đồng loại cũng phảichất thành sông núi”2 Mặt khác, vượt qua đèo Hải Vân đem lại choĐại Việt hai cửa biển: Tư Hiền và Đà Nẵng vừa sâu, vừa thuận lợi chothủy quân; kết hợp với núi cao hiểm trở không chỉ góp phần bảo vệbiên cương phía Nam mà hơn thế nữa nó đã mở ra bước phát triểnmới về phía Nam của Đại Việt Với ý nghĩa như vậy, nên khi đề cậpđến sự nghiệp mở nước của dân tộc ta, không thể nào phủ định cốnghiến to lớn của Trần Nhân Tông

Làm vua chỉ chăn dân trăm họ Làm Phật cứu độ cả muôn loài

Sau khi xuất gia, Trần Nhân Tông lên núi Yên Tử hoàn thiện hệ thống

tư tưởng thiền phái Trúc Lâm, trở thành nền tảng tư tưởng và đạođức của một thời đại hoàng kim triều Trần, giai đoạn Phật giáo đượccoi là quốc đạo: “Thế tôn bỏ ngai vàng quý báu, nửa đêm vượtthành, bỏ áo rồng cao sang, non xanh cắt tóc, mặc chim thước làm

tổ trên đỉnh đầu, mặc con nhện chăng tơ trên vai cánh, tu pháp tịchdiệt để tỏ đại chân như, dứt cõi trần duyên mà thành bậc chính giác

1 Trần Lê Sáng Tìm hiểu văn phú thời kỳ Trần - Hồ trong Tuyển tập 40 năm tạp chí Văn học, 1960 - 1999, Tập 2, Nxb TP.HCM, 1999, tr.232

2 Lê Cung, Tạp chí đã dẫn, tr.26

Trang 23

Đức tổ ta là Điều Ngự Nhân Tông Hoàng đế ra khỏi cõi trần, thoátvòng tục lụy, bỏ chốn cung vua ra giữa sơn môn…”

Ôngđi tu không phải là để trốn đời, yếm thế mà dành phần đời còn lại để tu tập học đạo, cứu đời và phát triển Thiền phái Trúc Lâm Yên

Tử Có điều, nhà vua cứu đời không phải theo kiểu của một ông vua,

mà là theo kiểu của thánh nhân Làm vua chỉ chăn dân trăm họ LàmPhật cứu độ cả muôn loài

Trên đỉnh Yên Sơn cách biệt với kinh kỳ, vua Phật Nhân Tông vẫn rõ được triều chính, nhiều lần về triều khuyên bảo vua Anh Tông tu dưỡng tâm tính, kìm bớt lòng dục, xa rời tửu sắc, gìn giữ chân tâm… xứng đáng trở thành bậc quân vương tôn kính

Trong kho tàng thi ca cổ điển Việt Nam, Trần Nhân Tông là nhân vật lịch sử rất đặc biệt: Ngài không chỉ là một bậc minh quân lỗi lạc hiếm

có, mà còn là một vị thiền sư đã liễu ngộ Phật pháp, đồng thời, cũng

là một nhà thơ lớn của dân tộc

Tác phẩm thơ của Trần Nhân Tông, trải qua nhiều thời kỳ loạn lạc chiến tranh đã bị thất tán khá nhiều Đến nay, di sản thơ của Trần Nhân Tông đã được sưu tập và lưu giữ chỉ còn khoảng trên dưới 35 bài và một số câu thơ lẻ nằm rải rác ở các bài giảng, ngữ lục, phú Tuy số lượng thơ còn lại khá khiêm tốn, nhưng giá trị về nội dung tư tưởng, nghệ thuật trong thơ Trần Nhân Tông được người đương thời, cũng như các thế hệ đời sau rất tâm đắc, ca ngợi và ngưỡng mộ.Bởi vậy, tấm gương vua Phật tuy ẩn mà lại hiện, tuy mờ mà lại sáng Ngài bứt khỏi cái bình thường để vượt lên thành cái phi thường Bởi thế, hàng ngàn năm qua, bao triều đại thịnh suy trị vì đất nước này, bao người đã làm vua, song có ai được nhân gian ngưỡng vọng, tôn thờ như vua Phật Trần Nhân Tông

Tiểu kết chương 2

Tư tưởng triết học Trần Nhân Tông ra đời không phải ngẫu nhiên mà

nó chịu sự quy định và phản ánh sâu sắc điều kiện lịch sử, xã hội ViệtNam thời kì nhà Trần Sự phân hóa giai cấp ngày một gay gắt trong

xã hội và nhiệm vụ lịch sử lớn lao chống lại cuộc xâm lăng của giặcNguyên Mông chính là cơ sở xã hội và nhu cầu thực tiễn hình thànhnên tư tưởng triết học của Trần Nhân Tông Sự kế thừa, chắt lọc

Trang 24

những yếu tố tư tưởng triết lí chính trị, đạo đức nhân sinh của Nhogiáo, Đạo giáo, Phật giáo cũng như tiếp thu những tư tưởng, trườngphái trước đó đã hình thành một hệ thống triết học với những nétđộc đáo, đặc sắc riêng, mang đậm dấu ấn Việt Nam mang tên TrúcLâm Yên Tử Qua đó, tưởng niệm Phật hoàng Trần Nhân Tông - ôngvua đã khước từ phú quý, vinh hoa, tước vị cao sang, giã biệt chốnphồn hoa, lên non xanh Yên Tử tu hành, trút bỏ một cuộc sống củangười thường để trở thành một nhà thơ nhập thế, một đức Đại HùngĐại Lực, Đại Bi, Đại Trí và Đại Dũng Cuộc đời và sự nghiệp của vuaTrần Nhân Tông là một biểu hiện cao đẹp, tiêu biểu nhất tinh thầnnhập thế “đạo pháp gắn liền với dân tộc” Từ chức vị cao sang củanhà vua, vua Trần trở về ngôi tôn quý nhà Phật Nhà vua đã từ cáinhất thời hữu hạn mà trở về cái vô hạn, vĩnh hằng, , xứng danh làĐức Phật của dân tộc Việt Nam.

CHƯƠNG 3 ẢNH HƯỞNG CỦA PHẬT GIÁO TRONG THƠ TRẦN NHÂN

TÔNG

2.1 Thế giới quan trong thơ Trần Nhân Tông

Kế thừa tư tưởng của thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi, Vô Ngôn Thôngquan điểm và Trần Thái Tông, Tuệ Trung Thượng Sĩ; Trần Nhân Tông

đã đưa ra hệ thống những khái niệm, phạm trù để chỉ bản thể củavạn pháp Với Trần Nhân Tông, “bản” là bản thể, là cái để chỉ bảnnguyên của vũ trụ, nói cách khác đó còn là “ tâm”, “ là tinh yếu củathiền”

Trong “Phật tâm ca”, Tuệ Trung Thượng Sĩ đã từng viết:

“Phật Phật Phật bất khả kiến,

Tâm tâm tâm bất khả thuyết

Nhược Tâm sinh thì thị Phật sinh,

Nhược Phật diệt thì thị Tâm diệt

Diệt Tâm tồn Phật thị xứ vô,

Ngày đăng: 25/05/2018, 12:17

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Bá Dương (2009), Hỏi và đáp lịch sử triết học, NXB Chính trị - hành chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hỏi và đáp lịch sử triết học
Tác giả: Nguyễn Bá Dương
Nhà XB: NXBChính trị - hành chính
Năm: 2009
2. Đỗ Thanh Dương (2006), Thơ Trần Nhân Tông : Thưởng thức - cảm thụ, NXB Hội nhà văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ Trần Nhân Tông : Thưởng thức -cảm thụ
Tác giả: Đỗ Thanh Dương
Nhà XB: NXB Hội nhà văn
Năm: 2006
3. Nhiều tác giả (2004), Nhà Trần và con người thời Trần, Trung tâm Unesco Thông tin tư liệu lịch sử và văn hóa Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà Trần và con người thời Trần
Tác giả: Nhiều tác giả
Năm: 2004
4. Nhiều tác giả (2004), Trần Nhân Tông - vị vua Phật Việt Nam, NXB Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trần Nhân Tông - vị vua Phật Việt Nam
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: NXB Tp. Hồ Chí Minh
Năm: 2004
5. Nhiều tác giả (2006), Lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam, , NXB Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: NXBKhoa học xã hội
Năm: 2006
6. Nguyễn Thị Toan (2015), Lịch sử triết học Ấn Độ cổ đại, NXB ĐHSP Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử triết học Ấn Độ cổ đại
Tác giả: Nguyễn Thị Toan
Nhà XB: NXBĐHSP
Năm: 2015
7. Nguyên Giác (2016), Trần Nhân Tông - Đức vua sáng tổ một dòng Thiền, NXB. Hội nhà văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trần Nhân Tông - Đức vua sáng tổ mộtdòng Thiền
Tác giả: Nguyên Giác
Nhà XB: NXB. Hội nhà văn
Năm: 2016
9. Nhiều tác giả (2008), Vua phật Trần Nhân Tông: Thơ, NXB Văn hoá Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vua phật Trần Nhân Tông: Thơ
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: NXB Vănhoá Thông tin
Năm: 2008
10. Nguyễn Hữu Sơn (2014), Kiểu tác gia Hoàng đế - Thiền sư - Thi sĩ Trần Nhân Tông với sự phát triển Phật giáo và xã hội Việt Nam hiện đại, Số 2 (273). - tr. 47-55- tạp chí Triết học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiểu tác gia Hoàng đế - Thiền sư -Thi sĩ Trần Nhân Tông với sự phát triển Phật giáo và xã hội ViệtNam hiện đại
Tác giả: Nguyễn Hữu Sơn
Năm: 2014
11. Duy Tuệ (2011), Những điều dạy về Phật của Phật hoàng Trần Nhân Tông, NXB Văn hoá Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những điều dạy về Phật của Phật hoàng TrầnNhân Tông
Tác giả: Duy Tuệ
Nhà XB: NXB Văn hoá Thông tin
Năm: 2011
12. Nhiều tác (2012), Trần Nhân Tông và con đường chính pháp:Kỷ yếu hội thảo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trần Nhân Tông và con đường chính pháp
Tác giả: Nhiều tác
Năm: 2012
13. Trần Nhân Tông nhân cách văn hoá lỗi lạc, NXB Văn hoá Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trần Nhân Tông nhân cách văn hoá lỗi lạc
Nhà XB: NXB Văn hoá Thôngtin
15. Đỗ Hương Giang (2017), Triết học Phật giáo Việt Nam thời Trần : Sách chuyên khảo, NXB Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triết học Phật giáo Việt Nam thờiTrần : Sách chuyên khảo
Tác giả: Đỗ Hương Giang
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 2017
16. Nguyễn Hùng Hậu (1996), Góp phần tìm hiểu tư tưởng triết học Phật giáo Trần Thái Tông, NXB Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp phần tìm hiểu tư tưởng triết học Phật giáo Trần Thái Tông
Tác giả: Nguyễn Hùng Hậu
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 1996
17. Đỗ Hương Giang (2013), Vấn đề nhận thức luận trong triết học Phật giáo thời Trần, Số 3 (262). - tr. 61-69.- tạp chí Triết học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đỗ Hương Giang (2013), Vấn đề nhận thức luận trong triết họcPhật giáo thời Trần
Tác giả: Đỗ Hương Giang
Năm: 2013
8. Thích Thanh Quyết (2013), Phật hoàng Trần Nhân Tông (1258 - 1308): Con đường và sự nghiệp Khác
14. Nguyễn Tài Đông (2008) ,Việt Nam hoá Phật giáo ở Trần Nhân Tông. - Số 12. - Tr. 38-46.- tạp chí Triết học Khác
18. www.thivien.net/Trần-Nhân-Tông/author-EY7jN0xHQfiiJpD91KwIgw Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w