1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TIỂU LUẬN LÝ LUẬN DẠY HỌC HIỆN ĐẠI TRONG DẠY HỌC VẬT LÍ NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG TRONG DẠY HỌC

21 378 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 260,98 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đổi mới giáo dục đang diễn ra trên quy mô toàn cầu. Bối cảnh trên tạo nên những thay đổi sâu sắc trong giáo dục, từ quan niệm về chất lượng giáo dục, xây dựng nhân cách người học đến cách tổ chức quá trình và hệ thống giáo dục. Nhà trường từ chỗ khép kín chuyển sang mở cửa rộng rãi, đối thoại với xã hội và gắn bó chặt chẽ với nghiên cứu khoa học – công nghệ và ứng dụng; nhà giáo thay vì chỉ truyền đạt tri thức, chuyển sang cung cấp cho người học phương pháp thu nhận thông tin một cách hệ thống, có tư duy phân tích và tổng hợp. Đầu tư cho giáo dục từ chỗ được xem như là phúc lợi xã hội chuyển sang đầu tư cho phát triển. Trong giáo dục, quy trình đào tạo được xem như là một hệ thống bao gồm các yếu tố: mục tiêu, chương trình đào tạo, nội dung, hình thức tổ chức dạy học, phương pháp dạy học. Phương pháp dạy học là khâu rất quan trọng bởi lẽ phương pháp dạy học có hợp lý thì hiệu quả của việc dạy học mới cao, phương pháp có phù hợp thì mới có thể phát huy được khả năng tư duy, sáng tạo của người học. Bởi vậy, việc đổi mới giáo dục trước hết là việc đổi mới phương pháp dạy học.

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

: Trương Thị Nguyên Trâm : Lê Vũ Trường Sơn

: Nguyễn Thị Thanh Nhiên: Nguyễn Thị Phương Loan: Nguyễn Trần Phước: PGS TS Lê Văn Giáo: LL&PPDH môn Vật Lí: K36

Đà Nẵng, tháng 5 năm 2018

Trang 2

A PHẦN MỞ ĐẦU

Đổi mới giáo dục đang diễn ra trên quy mô toàn cầu Bối cảnh trên tạonên những thay đổi sâu sắc trong giáo dục, từ quan niệm về chất lượng giáo dục,xây dựng nhân cách người học đến cách tổ chức quá trình và hệ thống giáo dục.Nhà trường từ chỗ khép kín chuyển sang mở cửa rộng rãi, đối thoại với xã hội

và gắn bó chặt chẽ với nghiên cứu khoa học – công nghệ và ứng dụng; nhà giáothay vì chỉ truyền đạt tri thức, chuyển sang cung cấp cho người học phươngpháp thu nhận thông tin một cách hệ thống, có tư duy phân tích và tổng hợp.Đầu tư cho giáo dục từ chỗ được xem như là phúc lợi xã hội chuyển sang đầu tưcho phát triển

Trong giáo dục, quy trình đào tạo được xem như là một hệ thống bao gồmcác yếu tố: mục tiêu, chương trình đào tạo, nội dung, hình thức tổ chức dạy học,phương pháp dạy học Phương pháp dạy học là khâu rất quan trọng bởi lẽphương pháp dạy học có hợp lý thì hiệu quả của việc dạy học mới cao, phươngpháp có phù hợp thì mới có thể phát huy được khả năng tư duy, sáng tạo củangười học Bởi vậy, việc đổi mới giáo dục trước hết là việc đổi mới phươngpháp dạy học

Trang 3

vì yêu quý thầy cô mà trẻ học hành…)

Theo từ điển Tiếng Việt: “Động cơ là những gì thôi thúc con người có

những ứng xử nhất định một cách vô thức hay hữu ý và thường gắn liền với những nhu cầu”.

Theo Nguyễn Quang Uẩn: “Động cơ là cái thúc đẩy con người hoạt động

nhằm thỏa mãn nhu cầu, là cái làm nảy sinh tính tích cực và quy định xu hướng của hướng tích cực đó Động cơ là động lực kích thích trực tiếp, là nguyên nhân trực tiếp của hành vi”.

Theo Phạm Trọng Ngọ: “Động cơ học tập là cái mà việc học của họ

phải đạt được để thỏa mãn nhu cầu của mình Nói ngắn gọn, người học học

vì cái gì thì đó chính là động cơ học tập của người học”.

Như vậy, động cơ học tập là yếu tố định hướng, thúc đẩy hoạt động họctập, nó phản ánh đối tượng có khả năng thỏa mãn nhu cầu chiếm lĩnh tri thứccủa người học

Phân loại động cơ học tập:

+ Động cơ bên ngoài (động cơ xã hội): Động cơ dành được điểm tốt hayphần thưởng nào đó

+ Động cơ bên trong (động cơ hoàn thiện tri thức): Động cơ xuất phát từchính nhu cầu của người học, hứng thú, sở thích và động cơ thực hiện hoạtđộng

1.2 Vai trò của động cơ học tập:

Động cơ học tập giúp người học duy trì hứng thú, ham muốn học hỏi,vượt qua trở ngại, đạt đến mục tiêu, tìm tòi cái mới Chính động cơ học tập làm

Trang 4

cho người học vượt qua được những thách thức, nghiệt ngã do sức khỏe, hoàncảnh gia đình, đồng thời hình thành phẩm chất tốt đẹp trong học sinh như tínhtrung thực, tự trọng, nhẫn nại, khiêm tốn, chịu khó, chăm chỉ, đoàn kết, tươngtrợ, thương người, tích cực.

Động cơ học tập đúng đắn hay lệch lạc không chỉ tác động đến kết quảhọc tập mà còn tác động đến quá trình phát triển, hình thành nhân cách của mỗi

cá nhân

1.3 Các biểu hiện của động cơ học tập:

 Thứ nhất: Nhận thức của học sinh về hoạt động học tập

 Thứ hai: Thái độ - cảm xúc của học sinh đối với hoạt động học tập

 Thứ ba: Mức độ thực hiện các hoạt động học tập

1.4 Biện pháp hình thành động cơ học tập:

 Sự hình thành động cơ học tập:

Động cơ học tập không có sẵn, cũng không thể áp đặt từ ngoài vào, màphải được hình thành dần dần trong chính quá trình học sinh đi sâu vào chiếmlĩnh đối tượng học tập, dưới sự hướng dẫn, tổ chức của giáo viên Tức là, động

cơ học tập được hình thành và phát triển trong từng tiết học,qua những việc làmvới tinh thần trách nhiệm cao của cả giáo viên và trò Nhu cầu giải quyết đượcmâu thuẫn một bên “ phải hiểu” một bên “ chưa hiểu” (hay chưa hiểu hết)

Động cơ học tập thường liên hệ mật thiết với hứng thú Nhờ có hứng thú

mà động cơ ngày càng mạnh mẽ hơn Trọng học tập, không chỉ cần có động cơ

mà còn cần có hứng thú thì quá trình học mới đạt được hiệu quả

- Đối với động cơ bên trong: những khó khăn trong học tập đòi hỏi phải

nỗ lực, ý chí để khắc phục nhưng chỉ là khắc phục những trở ngại bên ngoài chứkhông mâu thuẫn với bên trong, do đó học sinh sẽ không bị căng thẳng tâm lí

Từ đó, động cơ bên trong sẽ phát huy tính tự lực, tự giải quyết các trở ngại, pháthuy tính sáng tạo cho học sinh Do đó, hoạt động học tập được thúc đẩy bởiđộng cơ học tâp này được cho là tối ưu

Trang 5

- Đối với động cơ bên ngoài: đôi lúc sẽ mang tính cưỡng chế ( kết quả

học tập trái với mong muốn của cha mẹ) điều này sẽ tạo căng thẳng, hạn chế khảnăng sáng tạo của học sinh

Tuy nhiên, mỗi hoạt động đều được thúc đẩy bởi một động cơ nhất định.Hai động cơ này có mối liên hệ rõ rệt, khi động cơ bên trong được đáp ứng thìđộng cơ bên ngoài cũng được thỏa mãn (việc tiếp thu kiến thức tốt thì điểm sốcủa các em sẽ cao từ đó đáp ứng được yêu cầu của cha mẹ giúp các em có động

Đối với học sinh phổ thông cùng với sự trưởng thành, trình độ nhận thức

và giác ngộ của các em ngày càng được nâng cao Ngoài những cách gợi động

cơ như cho điểm, khen chê, hay thông báo kết quả học tập cho gia đình, để pháthuy tác dụng kích thích, thúc đẩy hoạt động học tập, giáo viên cần phối hợpnhiều cách gợi động cơ khác nhau có chú ý tới xu hướng phát triển của cá nhânhọc sinh, tạo ra một sự phối hợp của nhiều cách gợi động cơ, cách nọ bổ sungcho cách kia Cần phải gợi động cơ cho học sinh bằng cách xuất phát từ nộidung hướng vào những nhu cầu nhận thức, nhu cầu của đời sống, trách nhiệmđối với xã hội

Gợi ý động cơ không phải chỉ là việc làm ngắn ngủi lúc bắt đầu bài học

mà phải thường xuyên suốt quá trình dạy học Vì vậy có thể xem xét và phânbiệt gợi động cơ theo ba giai đoạn là gợi động cơ mở đầu, gợi động cơ trunggian và gợi động cơ kết thúc

- Gợi động cơ mở đầu là gợi động cơ cho bước đặt vấn đề vào một nội

dung tri thức mới Như vậy, trong dạy học Vật lí giáo viên cần thiết phải gợiđộng cơ khi đặt vấn đề tìm hiểu một chương, một bài, một mục mới, một kháiniệm, một định lí, một phương pháp

Trang 6

- Gợi động cơ trung gian là gợi động cơ cho những bước trung gian hoặc

cho những hoạt động tiến hành trong những bước đó để đạt được mục tiêu Gợiđộng cơ trung gian không phải chỉ cho những hoạt động hoặc chủ đề cụ thể màcòn cho cả những hoạt động, những phương thức làm việc có tính chất lâu dàinhư khái quát hóa, quy lạ về quen Gợi động cơ trung gian có một ý nghĩa quantrọng trong việc phát triển năng lực độc lập giải quyết vấn đề Như vây, trongmôn Vật lí, việc gợi động cơ trung gian có thể và cần thiết được tiến hành vàolúc tổ chức cho học sinh tiến hành các hoạt động xây dựng khái niệm, chứngminh định lí, vận dụng khái niệm, định lí để tìm lời giải bài tập

- Gợi động cơ kết thúc trong khi giải quyết vấn đề hoặc khi bắt đầu học

một nội dung nào đó nhiều khi học sinh đặt ra câu hỏi: Học nội dung này để làmgì? Tại sao lại thực hiện hoạt động này? Những câu hỏi này thường không trả lờingay hoặc không trả lời trọn vẹn được ngay Để có câu trả lời học sinh phải đợimãi về sau Khi đã kết thúc nội dung học hoặc khi đã thực hiện xong hoạt động,

để hướng dẫn học sinh giải quyết vấn đề mới đặt ra, giáo viên phải nhấn mạnhhiệu quả, ứng dụng của nội dung hoặc hoạt động đã học trước đó Tức là giáoviên gợi động cơ kết thúc và khi đó học sinh trả lời trọn vẹn câu hỏi ban đầu đặt

ra

Như vậy trong dạy học Vật lí, giáo viên cần thiết phải gợi động cơ kếtthúc và có thể tiến hành gợi động cơ kết thúc khi hướng dẫn học sinh củng cốbài học, nhìn nhận, đánh giá lại cách chứng minh định lí, lời giải bài tập, tìmhiểu ý nghĩa của khái niệm, định lí, bài tập

Kết luận:

Tóm lại, động cơ học tập không có sẵn, cũng không thể áp đặt mà đượchình thành dần dần trong quá trình người học đi sâu chiếm lĩnh đối tượng họctập Từ nhu cầu với các đối tượng học tập, từ những yếu tố bên ngoài mà hìnhthành nên động cơ thúc đẩy hoạt động học tập của người học Đối với giáo viên

có thể tạo động cơ học tập cho người học thông qua nội dung bài học, sử dụngphương pháp, hình thức tổ chức dạy học… nhằm kích thích tính tích cực, tạo

Trang 7

hứng thú học tập cho học sinh để việc học trở thành nhu cầu không thể thiếuđược của người học.

Hãy dạy học theo phương châm: “Dạy học là quan trọng, nhưng dạy

cho HS cách học còn quan trọng hơn Dạy cách học là quan trọng nhưng dạy cho HS cách hình thành và phát triển động cơ học tập còn quan trọng hơn”.

2 Hứng thú:

2.1 Khái niệm:

Theo từ điển Tiếng Việt: “Hứng thú là biểu hiện của một nhu cầu, làm

cho chủ thể tìm cách thỏa mãn, tạo ra thích thú, huy động sinh lực để cố gắng thực hiện”.

Theo Nguyễn Quang Uẩn: “hứng thú học tập là thái độ đặc biệt của chủ

thể đối với đối tượng của hoạt động học tập, mà đối tượng của hoạt động học tập chính là nội dung của môn học đó vì nó vừa có ý nghĩa đối với cuộc sống (tính thiết thực), vừa có khả năng đem lại khoái cảm (cuốn hút về mặt tình cảm) cho chủ thể”.

Hứng thú học tập là loại hứng thú gắn với các môn học trong nhà trường;

nó là thái độ đặc biệt của học sinh với môn học mà học sinh thấy có ý nghĩa và

có khả năng đem lại khoái cảm trong quá trình học tập bộ môn Hứng thú họctập đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng học tập

K.D.Usinxki đã nói “ Một sự học tập mà không có hứng thú gì, chỉ biếthoạt động bằng sức mạnh, cưỡng bức thì sẽ giết chết lòng ham muốn học tậpcủa cá nhân”

Có hai loại hứng thú trong học tập là hứng thú trực tiếp và hứng thú giántiếp

- Hứng thú trực tiếp trong học tập là hứng thú đối với nội dung tri thức,

quá trình học tập, và những phương pháp tiếp thu, vận dụng những tri thức đó.Như vậy, hứng thú trực tiếp được hình thành dựa trên sự say mê của học sinhđối với môn học, cũng như cách thức chiếm lĩnh các tri thức và vận dụng trithức đó

Trang 8

- Hứng thú gián tiếp trong học tập là hứng thú đối với những yếu tố tác

động bên ngoài như được giáo viên khen thưởng, được điểm cộng, đạt điểm caotrong học tập, giáo viên giảng vui, dễ hiểu, do ảnh hưởng của bạn bè… và sẽbiến mất khi những yếu tố này không còn nữa Hứng thú gián tiếp xuất hiện theophản ứng có thể rất mạnh những cũng thường ngắn ngủi

2.2 Vai trò của hứng thú trong học tập:

Chính hứng thú học tập mang lại một số tác dụng đặc biệt như:

- Là yếu tố cần thiết cho sự phát triển nhân cách, tri thức và nhận thức củahọc sinh

- Làm chỗ dựa cho sự ghi nhớ, cho phép học sinh duy trì sự chú ý thườngxuyên và cao độ vào kiến thức vào bài học

- Làm cho hoạt động học trở nên hấp dẫn hơn vì các em được duy trì trạngthái tỉnh táo của cơ thể, giúp học sinh phấn chấn vui tươi, học tập lâu mệt mỏi

- Ảnh hưởng đến tính chất, cường độ, diễn biến, kết quả của dạy và họcgiúp cho hiệu quả của hoạt động này được nâng cao

- Tạo ra và duy trì tính tích cực nhận thức, tích cực hoạt động tiếp thu, tìmhiểu kiến thức

- Giúp điều khiển hoạt động định hướng vì chính cảm xúc hứng thú thamgia điều khiển tri giác và tư duy

- Đóng vai trò trung tâm, tạo cơ sở, động cơ trong các hoạt động nghiêncứu và sáng tạo

- Góp phần quan trọng trong sự phát triển kĩ năng, kĩ xảo và trí tuệ củahọc sinh, làm cho hiệu quả của hoạt động học tập được nâng cao

2.3 Biện pháp hình thành hứng thú trong học tập:

Những yếu tố thuộc về giáo viên:

- Một yếu tố không kém phần quan trọng ảnh hưởng đến hứng thú học tậpcủa học sinh đó là tình cảm giữa giáo viên và trò Vì thế trong quá trình giảngdạy cần tạo không khí học tập thân thiện, tránh gây căng thẳng cho học sinh

Trang 9

- Cùng với trình độ tri thức chuyên môn thì phương pháp sư phạm củagiáo viên cũng là một yếu tố có tác động mạnh đến hứng thú của học sinh đốivới môn học, đối với việc học tập Thực tế đã cho thấy, cùng một nội dung bàigiảng như nhau nhưng giáo viên sử dụng phương pháp dạy học khác nhau sẽ dẫnđến thái độ tiếp thu của người học có sự khác nhau.

- Muốn làm cho mục đích dạy học, nội dung dạy học trở thành thái độ họctập đúng đắn, có khả năng nhận thức được vấn đề và giải quyết được vấn đề mộtcách thông minh sáng tạo ở học sinh thì phương pháp giảng dạy của giáo viêncũng phải là những phương pháp dạy học hiện đại, khoa học Cố thủ tướngPhạm Văn Đồng thường khuyên những người làm công tác giáo dục: “Phươngpháp giảng dạy bao giờ cũng đi đôi với nội dung giảng dạy Anh dạy thế nàogiúp cho người học trò, người sinh viên có khả năng độc lập suy nghĩ, giúp chocái thông minh của họ làm việc, phát triển chứ không phải chỉ giúp cho họ có trínhớ Phải có trí nhớ nhưng chủ yếu là phải giúp cho họ phát triển trí thông minh,sáng tạo Làm sao cho người học trò lúc nghe thầy đã bắt đầu nắm vững nộidung chương trình, nắm vững giáo trình, từ đó gợi cho họ những ý nghĩ mới.Cao hơn một mức nữa, từ đó họ sẽ có những dự kiến sẽ làm ngày mai, ngàykia” Như vậy, giáo viên cần có những phương pháp giảng dạy phù hợp với đặcđiểm tâm sinh lý, đặc điểm nhận thức, nội dung học tập, luôn chú ý tạo “tìnhhuống có vấn đề” nhằm kêu gợi hứng thú học tập, khả năng tư duy sáng tạo củangười học

- Bản thân giáo viên làm cho người học biết liên hệ những kiến thức lýthuyết với thực tế, vận dụng tri thức đã học vào giải quyết tình huống trong thựctiễn sẽ có ảnh hưởng rất lớn đến hứng thú học tập của học sinh

- Mặt khác, thái độ của giáo viên đối với học sinh (thái độ đánh giá côngbằng, vui vẻ, cởi mở, ) cũng có ảnh hưởng mạnh mẽ tới hứng thú học tập củahọc sinh Nếu giáo viên biết đánh giá học sinh một cách công bằng, vui vẻ, cởi

mở, kích thích sinh viên tin vào khả năng nhận thức của mình một cách đúngđắn…thì sẽ thúc đẩy được sự phát triển hứng thú học tập ở học sinh

Những yếu tố thuộc về nhà trường:

Trang 10

- Cơ sở vật chất, phương tiện kỹ thuật là yếu tố quan trọng của hoạt độngday – học Việc đảm bảo của yếu tố này trên thực tế có ảnh hưởng nhất định đếnhứng thú học tập của học sinh Khi có hứng thú học tập, bản thân người học sẽ

có xu hướng đi sâu tìm hiểu về môn học, thích đọc thêm tài liệu, sách báo,… cóliên quan đến nội dung của môn học, bài học Nếu nhu cầu trên không được đápứng sẽ làm giảm tính tích cực, sự nhiệt tình của sinh viên đối với hoạt động họctập mà họ ưa thích

Kết luận : Nghệ thuật giáo dục là hình thành, phát triển hứng thú học tập

Để hiểu về khái niệm “không khí học tập” trước hết ta phải hiểu kháiniệm “ không khí” là gì, phân bố ra sao và có vai trò như thế nào đến đời sốngchúng ta?

“Không khí” là một khái niệm, một thuật ngữ gắn liền với chuyên ngànhhóa học Không khí là hỗn hợp nhiều chất khí không màu, không mùi, không vị

Có khoảng 78% khí nitơ, 21% khí oxi và 1% các khí khác trong không khí sạch.Mật độ không khí phụ thuộc vào độ cao lớp khí quyển so với mặt đất Trong lớptrên của bầu khí quyển, ở độ cao khoảng 100km, không khí loãng hơn, tỉ lệ nitơgiảm đi và tỉ lệ oxit tăng lên

Nếu “không khí là môi trường để hít thở” thì “ không khí học tập là môitrường giáo dục, trong đó tồn tại những qui tắc ứng xử, những tiêu chuẩn đạođức và được biểu hiện ở những mặt khác nhau qua mối quan hệ giữa giáo viênvới học sinh và giữa học sinh với nhau” trong một lớp học

Không khí lớp học tạo nên bởi các yếu tố

Trang 11

- Vật chất: phòng học, âm thanh, ánh sáng, không gian, môi trường sưphạm…

- Tinh thần: quan hệ thầy – trò, trò – trò, trò – xã hội

Các yếu tố ảnh hưởng đến không khí lớp học:

- Giáo viên: Giữ vai trò quan trọng có tính quyết định đối với việc xây dựng bầu

không khí lớp học

+ Giáo viên là nhà quản lý, tổ chức, điều khiển quá trình dạy học Mọi cửchỉ, hành động của giáo viên đều ảnh hưởng trực tiếp đến không khí lớp học

+ Tác phong (lời nói, cử chỉ, điệu bộ, trang phục,…)

+ Trách nhiệm với công việc (giờ giấc, cách truyền đạt,…)

+ Thái độ, ứng xử đối với học sinh (giải quyết tình huống, kiểm tra, đánhgiá,…)

- Học sinh: Góp phần không nhỏ trong việc tác động đến bầu không khí lớp học

+ Tác phong (lời nói, cử chỉ, điệu bộ, trang phục,…)

+ Tinh thần, thái độ học tập (soạn bài, học bài, xây dựng bài,…)

+ Thái độ, ứng xử đối với giáo viên, bạn học

- Các yếu tố khác:

+ Lớp học (vị trí ở nơi yên tĩnh, thoáng mát; phòng học sạch sẽ, vệ sinh;trang trí không quá cầu kì cũng không quá đơn sơ; bàn ghế sắp xếp hợp lí; ánhsáng vừa đủ; số lượng học sinh vừa phải; hệ thống âm thanh tốt;…)

+ Thời điềm (đầu năm, cuối năm, đầu cấp, cuối cấp, gần đến kì thi, kiểmtra,…)

+ Không khí thi đua của trường, lớp, đoàn, đội

+ Ảnh hưởng của giáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ môn (xếp hạnh kiểm,mời phụ huynh,…)

+ Ảnh hưởng của môi trường, xã hội (gia đình, bạn bè, kinh tế thị trường,game, phim ảnh, giải trí,…)

2 Ảnh hưởng của không khí dạy học trong quá trình dạy học Vật lí ở trường phổ thông:

Ngày đăng: 25/05/2018, 11:18

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w