1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Chính sách đẩy mạnh liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp

19 265 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 95,61 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

I. Tổng quan về chính sách 1. Vấn đề chính sách và bối cảnh chính sách Xuất phát điểm của Việt Nam là nền nông nghiệp lúa nước với hơn 70% dân số lao động trong lĩnh vực nông nghiệp. Có thể coi nông nghiệp là ngành có thế mạnh lớn và cần được quan tâm chú trọng phát triển. Tận dụng tốt lợi thế về nông nghiệp không chỉ giúp Việt Nam đảm bảo an ninh lương thực trong nước mà còn giúp nước ta phát triển thị trường nội địa, gia tăng năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nước. Bởi lẽ, các sản phẩm đầu ra của nông nghiệp chính là sản phẩm đầu vào của ngành công nghiệp. Tuy nhiên, trong một khoảng thời gian dài, lĩnh vực thế mạnh này không được Nhà nước quan tâm đầu tư và phát triển. Do đó, trải qua hơn 40 năm xây dựng và phát triển đất nước, nền nôngnghiệp nước ta vẫn mang tính sản xuất nhỏ lẻ, thiếu gắn kết trong chuỗi sản xuất, có khả năng cạnh tranh thấp đối với hàng nông sản của các quốc gia cùng khu vực như Thái Lan, Cam pu – chia,... Nông dân các vùng sản xuất hàng hoá gặp nhiều khó khăn, thiếu sự trợ giúp của các tác nhân khác trong xã hội. Trước tình hình đó một chính sách tạo liên kết giữa việc sản xuất và tiêu thụ nông sản là rất cần thiết. Sự liên kết này sẽ góp phần thúc đẩy sự hợp tác giữa doanh nghiệp và nông dân, phát huy vai trò của Nhà nước trong quản lí và sử dụng các dịch vụ công trong ngành Nông nghiệp như đưa KHKT vào sản xuất nông sản, thực hiện các nghiên cứu, dự báo thị trương cho tiêu thụ nông sản. Với tầm quan trọng của phát triển nông nghiệp cũng như lợi thế về sự hình thành “liên kết” trong nông nghiệp mang lại, nhóm nghiên cứu lựa chọn chính sách “ĐẨY MẠNH LIÊN KẾT SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ SẢN PHẨM NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM” làm vấn đề nghiên cứu. 2. Khái niệm, hoàn cảnh ra đời và phát triển của chính sách 2.1. Khái niệm chính sách liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp Liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp là một hình thức liên kết kinh tế trong nông nghiệp, là sự phối hợp, gắn chặt với nhau hay nói cách khác là sự thiết lập các mối quan hệ giữa các bên liên quan (người dân,các hộ gia đình, trang trại, hợp tác xã, doanh nghiệp, nhà nước) để tăng quy mô sản xuất, sản xuất có hiệu quả, năng suất cao và tìm được thị trường đầu ra, giảm chi phí giao dịch, tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp với giá trị cao, tăng khả năng cạnh tranh. Liên kết là cơ sở để xác lập các không gian sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp rộng lớn hơn, an toàn hơn, mở ra thị trường mới cho các hoạt động của mỗi đối tác tham gia trên cơ sở hỗ trợ, phân công và hợp tác lao động nhằm tiết kiệm thời gian, tiết kiệm chi phí, đạt hiệu quả cao hơn. Liên kết thường được phân chia thành liên kết dọc và liên kết ngang. Liên kết dọc là liên kết giữa các tác nhân theo đường đi của sản phẩm (từ người sản xuất đến người tiêu dùng), trong khi liên kết ngang là liên kết các tác nhân, các đối tượng cùng tham gia vào các hoạt động tương tự nhau (ví dụ: liên kết các hộ nông dân với nhau, các hợp tác xã). Chính sách liên kết và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp là hệ thống các chủ trương, quan điểm của Đảng, nhà nước, quy định về các ưu đãi và hỗ trợ nhằm khuyến khích liên kết sản xuất gắn với chế biến và tiêu thụ nông sản; quy định về việc quy hoạch, tổ chức triển khai, điều kiện, phạm vi điều chỉnh, vai trò trách nhiệm, quyền của các tổ chức cơ quan trong việc thực hiện việc liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp.

Trang 1

I Tổng quan về chính sách

1 Vấn đề chính sách và bối cảnh chính sách

Xuất phát điểm của Việt Nam là nền nông nghiệp lúa nước với hơn 70% dân số lao động trong lĩnh vực nông nghiệp Có thể coi nông nghiệp là ngành có thế mạnh lớn

và cần được quan tâm chú trọng phát triển Tận dụng tốt lợi thế về nông nghiệp không chỉ giúp Việt Nam đảm bảo an ninh lương thực trong nước mà còn giúp nước ta phát triển thị trường nội địa, gia tăng năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nước Bởi lẽ, các sản phẩm đầu ra của nông nghiệp chính là sản phẩm đầu vào của ngành công nghiệp Tuy nhiên, trong một khoảng thời gian dài, lĩnh vực thế mạnh này không được Nhà nước quan tâm đầu tư và phát triển Do đó, trải qua hơn 40 năm xây dựng và phát triển đất nước, nền nôngnghiệp nước ta vẫn mang tính sản xuất nhỏ lẻ, thiếu gắn kết trong chuỗi sản xuất, có khả năng cạnh tranh thấp đối với hàng nông sản của các quốc gia cùng khu vực như Thái Lan, Cam - pu – chia, Nông dân các vùng sản xuất hàng hoá gặp nhiều khó khăn, thiếu sự trợ giúp của các tác nhân khác trong xã hội Trước tình hình đó một chính sách tạo liên kết giữa việc sản xuất và tiêu thụ nông sản là rất cần thiết Sự liên kết này sẽ góp phần thúc đẩy sự hợp tác giữa doanh nghiệp và nông dân, phát huy vai trò của Nhà nước trong quản lí và sử dụng các dịch vụ công trong ngành Nông nghiệp như đưa KHKT vào sản xuất nông sản, thực hiện các nghiên cứu, dự báo thị trương cho tiêu thụ nông sản Với tầm quan trọng của phát triển nông nghiệp cũng như lợi thế về sự hình thành “liên kết” trong nông nghiệp mang lại, nhóm nghiên cứu lựa chọn chính sách “ĐẨY MẠNH LIÊN KẾT SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ SẢN PHẨM NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM” làm vấn đề nghiên cứu

2 Khái niệm, hoàn cảnh ra đời và phát triển của chính sách

2.1 Khái niệm chính sách liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp

Liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp là một hình thức liên kết kinh tế trong nông nghiệp, là sự phối hợp, gắn chặt với nhau hay nói cách khác là

sự thiết lập các mối quan hệ giữa các bên liên quan (người dân,các hộ gia đình, trang trại, hợp tác xã, doanh nghiệp, nhà nước) để tăng quy mô sản xuất, sản xuất

có hiệu quả, năng suất cao và tìm được thị trường đầu ra, giảm chi phí giao dịch, tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp với giá trị cao, tăng khả năng cạnh tranh

Trang 2

Liên kết là cơ sở để xác lập các không gian sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp rộng lớn hơn, an toàn hơn, mở ra thị trường mới cho các hoạt động của mỗi đối tác tham gia trên cơ sở hỗ trợ, phân công và hợp tác lao động nhằm tiết kiệm thời gian, tiết kiệm chi phí, đạt hiệu quả cao hơn

Liên kết thường được phân chia thành liên kết dọc và liên kết ngang Liên kết dọc là liên kết giữa các tác nhân theo đường đi của sản phẩm (từ người sản xuất đến người tiêu dùng), trong khi liên kết ngang là liên kết các tác nhân, các đối tượng cùng tham gia vào các hoạt động tương tự nhau (ví dụ: liên kết các hộ nông dân với nhau, các hợp tác xã)

Chính sách liên kết và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp là hệ thống các chủ trương, quan điểm của Đảng, nhà nước, quy định về các ưu đãi và hỗ trợ nhằm khuyến khích liên kết sản xuất gắn với chế biến và tiêu thụ nông sản; quy định về việc quy hoạch, tổ chức triển khai, điều kiện, phạm vi điều chỉnh, vai trò trách nhiệm, quyền của các tổ chức cơ quan trong việc thực hiện việc liên kết sản xuất

và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp

2.2 Hoàn cảnh ra đời và phát triển chính sách

Cải cách kinh tế năm 1986, nền Nông nghiệp Việt Nam đã có nhiều bước phát triển vượt bậc, kinh tế hộ gia đình được khuyến khích phát triển, ruộng đất theo đó cũng được chia nhỏ và phân tán Qua thời gian, nhu cầu liên kết giữa nông dân và các chủ thể lại được đặt ra một cách bức thiết, để tiến tới một nền nông nghiệp phát triển vững mạnh, có năng suất, chất lượng, sức cạnh tranh ngày càng cao đòi hỏi sản xuất nông nghiệp phải được chuyên môn hóa Do đó, xu hướng tập trung hóa ruộng đất để hình thành các cánh đồng mẫu lớn và mở rộng diện tích sản xuất để phát triển hình thức tổ chức sản xuất trang trại là tất yếu

Nhận thức được tầm quan trọng đó, từ Đại hội Đảng lần thứ VIII năm 1996 Đảng ta đã đưa ra quan điểm phát triển toàn diện nông, lâm, ngư nghiệp “hình thành các vùng tập trung chuyên canh, có cơ cấu hợp lý, có sản phẩm hàng hóa nhiều về số lượng, tốt về chất lượng, đảm bảo an toàn về lương thực trong xã hội” Sau đó, Quốc hội cũng đã ban hành Luật Hợp tác xã Ngày 10/11/1998 Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 06-NQ/TW về vấn đề nông nghiệp, nông thôn nêu từng bước “chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tăng nhanh khối lượng hàng hóa, nhất là hàng nông sản qua chế biến,

Trang 3

tăng kim ngạch hàng xuất khẩu nông sản…” Nhờ đó, sản xuất nông nghiệp nước

ta đã có những chuyển biến tích cực, từ nền sản xuất tự cấp tự túc sang sản xuất hàng hóa; từ một nước thiếu lương thực phải nhập khẩu trở thành một nước đủ lương thực và có lương thực xuất khẩu

Đến Đại hội Đảng lần thứ IX, Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã ra Nghị quyết số 15-NQ/TW ngày 18/3/2002 đã đưa ra chủ trương liên kết sản xuất trong nông nghiệp, nhất là phát triển mối quan hệ giữa sản xuất nông nghiệp và công nghiệp chế biến trong cơ cấu kinh tế nông thôn

Cùng với những chủ trương, đường lối của Đảng, Quốc hội và Chính phủ cũng đã lần lượt ban hành những chính sách cụ thể khuyến khích liên kết trong sản xuất nông nghiệp Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 09/2000/NQ-CP ngày 15/6/2000 về một số chủ trương và chính sách về chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp Tiếp đến, ngày 24/6/2002, Thủ tướng Chính phủ

đã ban hành Quyết định số 80/2002/QĐ-TTg “Về chính sách khuyến khích tiêu thụ nông sản hàng hóa thông qua hợp đồng” để khuyến khích các doanh nghiệp liên kết với nông dân thông qua việc ký kết hợp đồng tiêu thụ nông sản Đồng thời, Bộ Nông Nghiệp đã ban hành Quyết định số 77/2002/QĐ-BNN hướng dẫn thực hiện Quyết định này

Năm 2007, Việt Nam gia nhập WTO, tại Đại hội Đảng lần thứ X Đảng ta đã xác định coi nông nghiệp là ngành kinh tế có tầm quan trọng sống còn, có vị trí trọng yếu trong cơ cấu nền kinh tế quốc dân, cung cấp nguyên liệu cho sản xuất công nghiệp, xuất khẩu,… góp phần thực hiện xóa đói, giảm nghèo bền vững Trong Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 05/02/2007 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X) đã nêu rõ việc tăng cường chỉ đạo phát triển nông nghiệp nông thôn là: “…, hình thành những vùng sản xuất hàng hóa lớn, tập trung…; Phát triển quan

hệ liên kết giữa các hộ sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản, sản xuất muối với các cơ sở chế biến, doanh nghiệp thương mại, dịch vụ, cơ sở nghiên cứu khoa học theo mô hình liên kết “4 nhà”…; Tiếp tục đổi mới và phát triển kinh tế hợp tác

và hợp tác xã trong nông nghiệp, nông thôn…” Ngày 25/ 08/ 2008, Thủ tướng chính phủ cũng đã ban hành Chỉ thị của số 25/2008/CT-TTg về việc tăng cường chỉ đạo tiêu thụ nông sản thông qua hợp đồng

Trang 4

Bên cạnh các chủ trương, chính sách chỉ đạo trực tiếp các hoạt động liên kết sản xuất nông nghiệp, Chính phủ cũng như các Bộ ngành liên quan cũng đã có những chủ trương chính sách hỗ trợ trong quá trình thực hiện liên kết phát triển nông nghiệp như: Quyết định số 107/2008/QĐ-TTg; Nghị định số 41/2010/NĐ-CP; Nghị định số 61/2010/NĐ-CP ; Thông tư số 20/2010/TT-NHNN; Quyết định

số 01/2012/QĐ-TTg …

Sau một thời gian áp dụng, Quyết số 80/2002/QĐ-TTg đã bộc lộ nhiều bất cập, hạn chế và không còn phù hợp với thực tế Chính vì vậy, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 62/2013/QĐ-TTg ngày 25/10/2013 về khuyến khích phát triển hợp tác, liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ nông sản, xây dựng cánh đồng lớn để thay thế Đồng thời, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn ban hành Thông tư 15/2014/TT-BNNPTNT Hướng dẫn thực hiện một số điều tại Quyết định này

Và cho đến nay, sau một thời gian đi vào thực tiễn, Quyết 62/2013/QĐ-TTg cũng đã bộc lộ một số tồn tại nhất định và hiện nay Chính phủ cũng đang nghiên cứu dự thảo xây dựng Nghị định mới về chính sách khuyến khích phát triển hợp tác, liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp Nghị định ban hành sẽ kế thừa các ưu điểm và khắc phục những tồn tại của Quyết định số 62/2013/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ và sẽ bám sát các quy định hiện hành của pháp luật để tạo khung pháp lý cho việc thực hiện hợp tác, liên kết tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp Đồng thời, giải quyết vấn đề cấp bách hiện nay đối với sản xuất nông nghiệp, tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp và quản lý chất lượng, an toàn dịch bệnh, bảo vệ môi trường, nâng cao hiệu quả sản xuất

3 Căn cứ xây dựng chính sách

3.1 Căn cứ chính trị

Đảng ta luôn xác định Nông nghiệp, nông dân, nông thôn có vị trí chiến lược quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Mục tiêu của quá trình phát triển nông nghiệp, nông thôn là không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của dân cư nông thôn trên cơ sở công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; trong đó, phát triển sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp là

Trang 5

then chốt, hướng tới một nền nông nghiệp có khả năng cạnh tranh trong bối cảnh hội nhập

3.2 Căn cứ pháp lý

Chính sách căn cứ vào các quy định hiện hành của pháp luật để tạo khung pháp lý cho việc thực hiện hợp tác, liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp Căn cứ các chương trình, Nghị quyết của Đảng, Quốc hội và Chính phủ;

Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2011 – 2015 Các văn bản pháp luật như: Luật Doanh nghiệp; Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa; Luật Hợp tác xã; Luật Thương mại; Luật An toàn thực phẩm; Luật Phòng chống thiên tai; Luật Bảo

vệ và kiểm dịch thực vật, Luật Thú yLuật đất đai; Luật Bảo vệ môi trường; Luật Thuế; Luật Dân sự…

3.3 Căn cứ kinh tế

Sau hơn 30 năm đổi mới, nông nghiệp Viêt Nam đã có nhiều tiến bộ đáng

kể, giảm nghèo đói, đảm bảo an ninh lương thực, ổn định xã hội Đồng thời, nước

ta cũng trở thành quốc gia đứng đầu thế giới trong xuất khẩu một số mặt hàng nông sản như lúa gạo, cà phê, hạt điều, hạt tiêu, tôm Mặc dù có năng suất cao trong một số sản phẩm nông sản nhưng Việt Nam lại đứng sau các nước trong khu vực

về hiệu quả sản xuất, hiệu quả sử dụng nguồn tài nguyên đất và nước Ngoài ra, thương mại và xuất khẩu nông sản Việt Nam chủ yếu tồn tại dưới dạng nguyên liệu thô, chất lượng thấp nên giá bán luôn thấp hơn các nước khác, việc tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp còn khó khăn Nguyên nhân chính của những tồn tại nói trên đó

là do nền việc sản xuất nhỏ lẻ, manh mún và thiếu sự gắn kết, liên kết mang lại Giữa sản xuất các nông sản hàng hoá, chế biến và tiêu thụ không có sự gắn bó khiến sản xuất phát triển không ổn định và thiếu bền vững

3.4 Căn cứ xã hội

Mô hình sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam chủ yếu là của các hộ gia đình,

cá nhân, thường canh tác, sản xuất theo cách thô sơ, diện tích đất nông nghiệp nhỏ, không tập trung, chưa chú trọng đến chất lượng nông sản, quá lạm dụng thuốc, hóa chất trong nông nghiệp Chăn nuôi chủ yếu tận dụng thức ăn từ việc trồng trọt, thường xuyên bị dịch bệnh, sử dụng chất cấm và dư thừa kháng sinh.Việc sản xuất theo vụ mùa gắn với cây trồng cố định, không có sự liên kết giữa việc sản xuất và

Trang 6

tiêu thụ, chủ yếu là tự tiêu thụ các sản phẩm bằng cách bán ở chợ, hoặc cho các thương nhân nhỏ Người nông dân trường ít quan tâm hoặc thiếu thông tin về thị trường tiêu thụ lâu dài, việc thu mua của các doanh nghiệp thiếu sự đảm bảo 3.5 Căn cứ về khoa học công nghệ và môi trường

Hiện nay, khoa học công nghệ đang phát triển nhanh chóng, đạt được nhiều thành tựu to lớn Công tác nghiên cứu, sản xuất và chuyển giao giống cây trồng, vật nuôi thời gian qua được chú trọng và đã có nhiều tiến bộ, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng, khả năng cạnh tranh của ngành nông nghiệp Việc ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, chăn nuôi hay chế biến, sản xuất nông sản cũng được các doanh nghiệp và người nông dân quan tâm

4 Nghiên cứu và dự báo môi trường chính sách

4.1 Môi trường trong nước

- Trải qua một khoảng thời gian dài tập trung cho phát triển các lĩnh vực công nghiệp nặng nhưng không thành công, Chính phủ đã chủ trương quay lại phát triển lợi thế sẵn có về nông nghiệp Sự quan tâm của Nhà nước về nông nghiệp ngyà càng lớn, đặc biệt được thể hiện qua “Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng, phát triển bền vững và trong điều kiện hội nhập kinh tế thế giới” cũng như chương trình “Nông thôn mới” Vấn đề về sản xuất và tiêu thụ nông sản luôn là các vấn đề trọng tâm được bàn luận trong các kì họp Quốc hội Các chính sách về nông nghiệp luôn được bổ sung và cải thiện để đáp ứng cho phát triển

- Xu hướng liên kết qua tổ chức của ND ngày càng phổ biến trong sản xuất: HTLK

ND là xu hướng phát triển mạnh mẽ trong tương lai, nhu cầu không chỉ từ phía ND

mà còn từ phía DN, thị trường Các mô hình liên kết đang tăng mạnh về số lượng

và là lựa chọn của nhiều ND, đặc biệt là mô hình liên kết tôt hợp tác THT là hệ quả khách quan của nhu cầu liên kết và hợp tác linh hoạt giữa những người sản xuất nhỏ trong giai đoạn hiện nay

- Sự thay đổi trong nhận thức của người nông dân đã được cải thiện đáng kể Do ảnh hưởng của vấn đề biến đổi khí hậu cũng như sức ép cạnh tranh từ nông sản nhập khẩu nước ngoài, các hộ sản xuất ngày càng quan tâm hơnn đến vấn đề tìm đầu ra mang ít rủi ro cho sản phẩm của mình Tư duy sản xuất, tiệu thụ mang tính

Trang 7

chất nhỏ lẻ, hộ gia đình dần được thay thế Người nông dân tìm đến các hợp tác liên kết để đảm bảo năng suất, chất lượng cho nông sản của mình, liên kết với các doanh nghiệp trong khâu tiêu thụ

4.2 Môi trường quốc tế

- Năm 2018, theo cam kết của tổ chứa AEC, Việt Nam sẽ phải miễn thuế cho các mặt hàng nhập khẩu từ các quốc gia thành viên Mặt khác, các hiệp định thương mại được kí kết cũng làm gia tăng các mặt hàng nhập khẩu với mẫu mã đa dạng và giá thành hợp lí vào nước ta Đây là một thách thức lớn đối với hàng nông sản Việt Nam

5 Mục tiêu của chính sách

Nếu chính sách được thực hiện có hiệu quả sẽ thúc đẩy chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp Việt Nam từ việc sản xuẩt tự cung tự cấp sang một nền nông nghiệp thương mại hoá cao và hướng tới xuất khẩu Bên cạnh đó, chính sách còn góp phần tăng cường hiệu quả của thu mua nông sản của nông dân, tăng tính chủ động của người dân trong việc xác định giá trị nông sản cũng như quyết định thị trường tiêu thụ Đồng thời chính sách sẽ đưa KHCN vào trong nông nghiệp, đổi mới công nghệ trong kinh tế nông thôn nhằm nâng cao năng suất và chất lượng nông sản Ngoài những mục đích trên thì một mục đích gián tiếp khác mà chính sách mong muốn đạt được đó là cải thiện, nâng cao chất lượng cuộc sống của bà con nông dân, gia tăng hiệu quả kinh tế - xã hội

II Thực thi chính sách và những vấn đề tồn tại trong thực thi chính sách

1 Tình hình chung sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam hiện nay

Theo kết quả thống kê diện tích đất đai năm 2015, của Bộ Tài Nguyên và Môi trường, nhóm đất nông nghiệp có diện tích là 27.302.206 ha chiếm 82,43% tổng diện tích tự nhiên và chiếm 87,07% tổng diện tích đất đã sử dụng; còn lại là nhóm đất phi nông nghiệp và nhóm đất chưa sử dụng

Trang 8

Biểu đồ 1 Diện tích các nhóm đất

Như vậy, có thể thấy diện tích đất nông nghiệp Việt Nam là rất lớn Hiện nay, diện tích và cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp đã có sự chuyển dịch theo hướng tăng diện tích đất cây trồng có giá trị, thích ứng với biến đổi khí hậu đặc biệt là sau đợt hạn hán ở Miền Trung, Tây Nguyên và hạn hán xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long Tuy nhiên, vẫn còn những bất cập, hạn chế như công tác quản lý nhà nước

về đất đai vẫn còn những hạn chế, chưa phát huy được tiềm năng đất đai, hiệu quả

sử dụng đất chưa cao; diện tích đất nông nghiệp vẫn còn manh mún, chậm hình thành các mô hình phát triển vùng chuyên canh, các cánh đồng mẫu lớn

Tốc độ tăng trưởng nông nghiệp bình quân giai đoạn 2011 - 2015 đạt 3,13% Chất lượng tăng trưởng tiếp tục được cải thiện, tỷ trọng giá trị gia tăng trong tổng giá trị sản xuất ngành đã tăng từ 57% (2010) lên khoảng 68% (2015); năng suất lao động

xã hội ngành nông, lâm, thủy sản tăng gần gấp đôi từ 16,3 triệu đồng năm 2010 lên khoảng 31 triệu đồng năm 2015 Giá trị sản phẩm thu được trên 1ha đất trồng trọt

đã tăng từ 54,6 triệu đồng/ha năm 2010 lên khoảng 82 - 83 triệu đồng/ha năm 2015; cứ mỗi ha mặt nước nuôi trồng thủy sản tăng từ 103,8 triệu đồng/ha (2013) lên 177,4 triệu đồng/ha (2014) và khoảng 183 triệu đồng/ha (2015) Thu nhập của người dân nông thôn năm 2015 tăng khoảng 2 lần so với năm 2010 Năm 2016, tổng giá trị các mặt hàng xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt khoảng trên 32,1 tỷ USD Hệ thống thủy lợi, đê điều được nâng cấp, đầu tư, với hơn 2,7 tỷ USD nguồn vốn ODA trong giai đoạn 2010 – 2015 đầu tư cho phát triển nông nghiệp, nhiều công trình thủy lợi, giao thông nông thôn… được xây dựng, nâng cấp, sửa chữa

2 Tình hình thực hiện chính sách

Trang 9

Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm, chú trọng, kiện toàn hệ thống pháp luật, chính sách về liên kết sản xuất và tiêu thụ trong nông nghiệp Ban hành hàng loạt các chỉ thị, văn bản pháp luật, nghị định, thông tư, kế hoạch, tạo điều kiện về hành lang pháp lý, vốn, thông tin, thị trường để nông dân, các hợp tác xã, các doanh nghiệp

có thể tổ chức việc liên kết sản xuất và kinh doanh đi đúng hướng và có hiệu quả

2.1 Thực trạng liên kết sản xuất và tiêu thụ trong nông nghiệp

Sau 30 năm đổi mới, nông nghiệp Viêt Nam đã có nhiều tiến bộ đáng kể, năng suất tăng đã góp phần giảm nghèo đói, đảm bảo an ninh lương thực và ổn định xã hội Việt Nam cũng trở thành một trong số các nước đứng đầu thế giới về xuất khẩu một số mặt hàng nông sản như lúa gạo, cà phê, tôm… Có được sự thành công

đó, một phần là do chính sách liên kết sản xuất và tiêu thụ thụ nông sản của nhà nước Từ sau khi Quyết định số 80/2002/QĐ-TTg được ban hành, nhiều địa phương đã chủ động thực hiện, xu hướng liên kết càng ngày càng được phổ biến ở nước ta

Các doanh nghiệp và nông dân đã triển khai liên kết dưới các hình thức sau: Hợp đồng thu mua gắn với đầu tư hoặc ứng trước vốn, vật tư, giống (áp dụng phổ biến đối với các ngành hàng mía đường, bông, lâm sản); Hợp đồng thu mua với thương lái (áp dụng phổ biến đối với các ngành hàng lúa gạo, cà phê); Hợp đồng mua nông sản không gắn với đầu tư (áp dụng trong nhiều ngành hàng, tại nhiều địa phương) Bước đầu xác lập mối quan hệ bền chặt giữa sản xuất, chế biến, sản phẩm sản xuất

ra đảm bảo chất lượng, tạo ra vùng nguyên liệu ổn định để có thể xuất khẩu

Mặt khác, doanh nghiệp cũng chủ động kế hoạch sản xuất kinh doanh và sử dụng

có hiệu quả các trang thiết bị máy móc Còn nông dân thông qua hợp đồng sản xuất, tiêu thụ đã yên tâm đầu tư sản xuất, thực hiện tốt các biện pháp kỹ thuật Nhiều hộ cũng đã mạnh dạn đầu tư chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi, tăng năng suất, sản lượng, tổ chức sản xuất theo mô hình trang trại, tạo ra khối lượng sản phẩm hàng hóa lớn, hạ giá thành sản phẩm và tăng thu nhập Từ đó họ cũng dần thay đổi cách thức làm ăn, thấy được sự cần thiết và tự nguyện hợp tác với nhau

Để tạo ra sự liên kết sâu rộng hơn và phù hợp với thực tế mới Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 62/2013/QĐ-TTg Sau quyết định này, các tỉnh đã tích cực triển khai liên kết gắn sản xuất với tiêu thụ nông sản, xây dựng cánh đồng

Trang 10

lớn Đến nay số lượng mô hình cánh đồng lớn tăng lên rõ rệt, cả về số lượng cũng như diện tích xây dựng mô hình Việc liên kết theo cánh đồng lớn trong cả nước phát triển mạnh về diện tích lúa; trong đó tập trung nhiều ở vùng đồng bằng sông Cửu Long và bắt đầu mở rộng ra nhiều loại cây trồng khác như: ngô, mía, rau, chè… Các mô hình này đều cho hiệu quả rõ rệt đối với nông dân và các hợp tác xã,

tổ hợp tác và doanh nghiệp tham gia liên kết

Người nông dân tiêu thụ được sản phẩm, giá cả ổn định, ít rủi ro, doanh nghiệp chủ động về nguồn cung sản phẩm nông nghiệp, chất lượng được quản lý, giá cả ổn định, thuận lợi trong quá trình liên kết với nông dân và có sự cam kết rõ ràng về số lượng, chất lượng, thời gian cung cấp với sản phẩm thông qua hợp đồng liên kết Các hộ nông dân có động lực tổ chức sản xuất theo mô hình trang trại, tạo ra khối lượng sản phẩm hàng hóa lớn, hạ giá thành sản phẩm và tăng thu nhập Doanh nghiệp yên tâm đầu tư hợp tác liên kết với nông dân làm ăn lâu dài

Cho đến nay, cả nước ta đã có nhiều Liên hiệp Hợp tác xã, Hợp tác xã nông nghiệp

đã được thành lập và hoạt động tương đối hiệu quả.Theo thống kê của Cục Kinh tế Hợp tác và Phát triển nông thôn thì đến hết năm 2016, cả nước có 19 Liên hiệp Hợp tác xã nông nghiệp, có 10.756 Hợp tác xã nông nghiệp, nhiều nhất là ở vùng Đồng bằng sông Hồng (31%), Bắc Trung bộ (21,1%), Đông Bắc bộ (16,9%), Đồng bằng sông Cửu Long (11,7%) Trong đó số lượng Hợp tác xã nông nghiệp thành lập mới năm 2016 là 1.100 Hợp tác xã, tuy nhiên số Hợp tác xã giải thể, sáp nhập nhiều nên có giảm hơn so với năm 2015

Chất lượng hoạt động của các Hợp tác xã có nhiều chuyển biến mạnh Số Hợp tác

xã hoạt động có hiệu quả từ chiếm khoảng 10% năm 2014 tăng lên trên 30% năm

2016 Cùng với đó, doanh thu bình quân của các Hợp tác xã đã đạt 1,1 tỷ đồng/HTX, lợi nhuận bình quân khoảng 200 triệu/HTX, thu nhập bình quân của thành viên và người lao động là 1,5triệu đồng/tháng

Theo Thống kê của Tổng cục Thống kê, số doanh nghiệp ngành Nông – Lâm – Thủy sản năm 2015 là 3.640 doanh nghiệp, chiếm dưới 1% tổng số DN Trong khi

đó nước ta có khoảng 70% dân số sống ở nông thôn và chủ yêu làm việc trong ngành Nông – Lâm – Thủy sản Trong 8 tháng đầu năm 2016, số lượng doanh nghiệp đăng ký thành lập mới của ngành Nông – Lâm – Thủy sản tăng 1,7%, trong

Ngày đăng: 25/05/2018, 01:32

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w