1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Vấn đề chính sách: Sử dụng vốn ODA chưa hiệu quả

33 299 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 33
Dung lượng 367,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

I. Đặt vấn đề Giới thiệu chung. Một đất nước muốn phát triển, ngoài tận dụng các lợi thế sẵn có về con người, tài nguyên thiên nhiên… thì một yếu tố không thể thiếu, đó chính là vốn. Vốn luôn được coi là một trong những yếu tố quyết định cho quá trình sản xuất kinh doanh và tăng trưởng kinh tế của mỗi quốc gia. Vốn đầu tư bao gồm vốn trong nước và vốn đầu tư nước ngoài. Hai nguồn vốn này có mối quan hệ hữu cơ, bổ sung cho nhau. Trong đó nguồn vốn trong nước là nội lực của một quốc gia, đóng vai trò quyết định thì vốn đầu tư nước ngoài cũng đóng vai trò quan trọng kém. Xét đến tình hình Việt Nam hiện nay, khi nền kinh tế trong nước còn chưa vững mạnh, các doanh nghiệp còn non yếu, nếu chỉ dựa vào việc huy động các nguồn vốn trong nước cho đầu tư phát triển thì không đủ đáp ứng cho nhu cầu. Chính bởi vậy mà trong chiến lược phát triển kinh tế theo hướng CNH HĐH, nhà nước ta đã chủ trương tích cực đẩy mạnh thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài, đặc biệt là ODA. Vốn ODA có đặc điểm là có thể cho vay với khối lượng vốn vay lớn, thời gian cho vay dài và lãi suất thấp. Thực tế đã có nhiều Quốc gia thành công trong việc sử dụng hiệu quả vốn ODA của một số quốc gia như Thái Lan, Trung Quốc, Ma – lai – xi – a,… Việc sử dụng nguồn vốn ODA hiệu quả có ý nghĩa quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế xã hội của nước ta. Đặc biệt, nguồn vốn ODA đóng góp rất lớn cho quá trình phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng tiêu biểu là hệ thống giao thông. Tuy nhiên, hiện nay việc sử dụng quản lí vốn ODA trong lĩnh vực giao thông chưa hiệu quả. Theo số liệu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư thì trong giai đoạn từ năm 20102015 có lĩnh vực giao thông là lĩnh vực chiếm phần lớn tổng nguồn vốn ODA (gần 50% tổng số vốn ODA đầu tư vào Việt Nam) với khoảng 50 dự án giao thông cả bé và lớn. Trong số đó có khoảng 15 dự án giao thông lớn chiếm trên 70% tổng số vốn ODA đầu tư cho lĩnh vực giao thông thì có gần một phần hai dự án bị đội vốn, một phần ba dự án bị án bị lãng phí và chưa được giải ngân. Ví dụ như ở Hà Nội có tuyến Cát Linh Hà Đông khởi công xây dựng vào năm 2011 và dự kiến hoàn thành vào 3092017 nhưng đến hiện nay thì dự án này mới chỉ hoàn thành xong giai đoạn I, bên cạnh đó là tuyến Nhổn – ga Hà Nội với tổng chiều dài là 12,5km được khởi công vào năm 2010 và dự kiến hoàn thành vào năm 2015 với tổng số vốn là 1,2 tỉ USD tuy nhiên dự án này đã không hoàn thành đúng dự kiến và hiện nay đã đội vốn thêm gần 400 triệu Euro. Ngoài ra còn có các tuyến lớn như Giáp Bát – Gia Lâm, Nam Thăng Long – Trần Hưng Đạo và tuyến Nam Hồ Tây – Hòa Lạc – Ba Vì cũng đang trong tình trạng chậm tiến độ và khiến cho dự án bị đội vốn lên rất nhiều. Tình trạng hoàn thành chậm tiến độ giao thông đã gây ảnh hưởng lớn tới sự phát triển kinh tế xã hội. Bởi dự án hoàn thành chậm tiến độ nó không chỉ làm gia tăng tình trạng nợ công dẫn tới tình trạng gia tăng gánh nợ lên người dân qua thuế mà nó còn làm cho tình trạng ùn tắc giao thông diễn ra mạnh hơn. Bên cạnh đó, nó làm thất thoát lãng phí nguồn vốn của nước nhà. Ngoài ra, nó còn làm cho giảm uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế dẫn đến khả năng thu hút nguồn vốn đầu tư của nước ta giảm đi và việc sử dụng nguồn vốn ODA nó còn làm giảm tính cạnh trang của các doanh nghiệp trong nước. Chính bởi vậy, đặt ra một yêu cầu cho nước ta trong việc sử dụng hiệu quả nguồn vốn ODA trong lĩnh vực giao thông. Bởi vì, nguồn vốn ODA là một khoản vay có nhiều ưu đãi nhưng để có được ưu đãi thì kèm theo nó là phía chủ đầu tư sẽ đưa những điều kiện gắt gao về các khoản nợ ví dụ như các điều kiện về kinh tế. Các điều kiện này sẽ làm giảm đi khoản thu ngân sách Nhà nước từ thuế của các quốc gia đầu tư vốn ODA cho nước ta. Thêm vào đó nguồn vốn ODA mà chúng ta nhận được không chỉ là tiền mà còn là hiện vật như công nghệ, máy móc của chủ nợ. Và đặc biệt hơn là hiện nay, theo dự báo của WORLD BANK: “Việt Nam rơi vào bẫy thu nhập trung bình”. Chính vì vậy, các điều kiện ưu đãi khi vay ODA sẽ không còn được như trước. Đặt ra yêu cầu hiện nay là cần phải có nhận thức, cách tiếp cận và hành động phù hợp với hoàn cảnh mới để sử dụng nguồn vốn hiệu quả. Gần đây Thủ tướng chính phủ đã ban hành các Quyết định chủ trương đề án “Định hướng thu hút, quản lí và sử dụng nguồn vốn ODA và vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài thời kì 2016 – 2020” vào ngày 17 tháng 02 năm 2016. Với mục tiêu khi chính sách đưa vào thực thi sẽ nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn vay ODA của nước ta trong giai đoạn tới. Đảm bảo hoàn thành các chương trình, dự án ODA đúng tiến độ và thời hạn cam kết, đưa các công trình, dự án vào khai thác, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội của đất nước. II. Phân tích vấn đề và bối cảnh chính sách 2.1. Bối cảnh chính sách. 2.1.1. Bối cảnh trong nước. Trong thời gian qua, với việc đạt được hầu hết các mục tiêu đề ra trong Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm 2011 2015, nước ta đã tạo ra các nền tảng và điều kiện cần thiết để hoàn thành các mục tiêu đề ra trong Chiến lược phát triển kinh tế xã hội 10 năm 2011 2020, đó là tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân 5 năm đạt 6,7 7%năm, GDP bình quân đầu người năm 2020 đạt khoảng 3.200 3.500 USD. Thời kỳ đang và sắp diễn ra giai đoạn 2017 – 2020, bên cạnh những cơ hội thì nước ta cũng phải đối mặt với rất nhiều khó khăn, thách thức trên con đường phát triển kinh tế xã hội. Quá trình hội nhập sâu rộng của đất nước một mặt đem lại thời cơ thuận lợi nhưng mặt khác phải đối mặt với sự cạnh tranh rất quyết liệt, gay gắt trong khi nền kinh tế phát triển chưa thực sự bền vững, sức cạnh tranh của nền kinh tế và năng suất lao động còn chưa cao. Các yêu cầu phát triển rất lớn, nhất là yêu cầu phát triển cơ sở hạ tầng, đảm bảo an sinh xã hội, phúc lợi xã hội, cải thiện đời sống của nhân dân, yêu cầu phát triển giáo dục, y tế, bảo đảm quốc phòng an ninh ngày càng lớn trong khi nguồn lực của Việt Nam còn rất hạn chế. Thêm vào đó là hạn chế về quản trị nhà nước đối với nền kinh tế, những hạn chế về cơ cấu kinh tế, thể chế, pháp luật, cơ chế chính sách vẫn chưa đáp ứng yêu cầu cho sự phát triển và hội nhập quốc tế. Để đẩy nhanh quá trình phát triển, đạt các mục tiêu đề ra trong Chiến lược phát triển kinh tế xã hội 10 năm 2011 2020 và vượt qua bẫy thu nhập trung bình, Đảng và Nhà nước chủ trương huy động mọi nguồn lực trong và ngoài nước, nhất là nguồn lực của xã hội, của tư nhân, trong đó chú trọng các nguồn vốn đầu tư từ bên ngoài (FDI, ODA và vốn vay ưu đãi, kiều hối,...) để phát triển. Trong lĩnh vực hợp tác phát triển, Việt Nam vẫn tiếp tục nhận được sự đồng tình và ủng hộ tích cực của cộng đồng quốc tế, song đi liền với đó hợp tác phát triển với các nhà tài trợ sẽ tiếp tục có những thay đổi căn bản, kết thúc giai đoạn quá độ chuyển đổi từ quan hệ viện trợ phát triển sang quan hệ đối tác. Với những bước đi cụ thể khác nhau, các nhà tài trợ tiếp tục có những điều chỉnh chính sách hợp tác phát triển với Việt Nam theo hướng chuyển dần từ việc cung cấp ODA sang các khoản vay với các điều kiện kém ưu đãi hơn, tập trung mạnh vào thương mại, hợp tác đầu tư hoặc chấm dứt các chương trình hỗ trợ phát triển cho Việt Nam. Đối với các định chế tài chính quốc tế, trước mắt là Ngân hàng thế giới (WB), sau chu kỳ IDA17 vào năm 2017, sẽ dừng cung cấp vốn vay ODA với các điều kiện ưu đãi (IDA) và thay vào đó là vốn vay với các điều kiện kém ưu đãi hơn (IBRD). Theo chiều hướng đó, Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) có thể cũng sẽ dừng cung cấp vốn vay với các điều kiện ưu đãi (ADF) để chuyển sang vốn vay với các điều kiện kém ưu đãi (OCR) trong một hoặc hai năm sau WB. Tuy nhiên thực tế nêu trên khẳng định những thành tựu phát triển mà nước ta đã đạt được trong 30 năm đổi mới, nhờ vậy thế và lực của Việt Nam đã được củng cố và tăng cường, tạo điều kiện thuận lợi để Việt Nam phát huy độc lập, tự chủ trong phát triển. Bên cạnh đó nước ta cũng phải đối mặt với nhiều thách thức, trong đó có những khó khăn về nguồn vốn đầu tư phát triển. Song sự nghiệp đổi mới tiếp tục tạo ra môi trường thuận lợi thu hút các nguồn vốn đầu tư phát triển trong và ngoài nước khiến cho khả năng lựa chọn nguồn vốn đầu tư được rộng mở và đi liền với đó trách nhiệm sử dụng vốn tăng lên làm cho hiệu quả đầu tư sẽ tăng lên mạnh mẽ. 2.1.2. Bối cảnh quốc tế Hiện nay nước ta vẫn đẩy mạnh xu thế chủ đạo là hòa bình, hợp tác và phát triển tiếp tục song tình hình chính trị và an ninh thế giới và khu vực tiếp tục diễn biến phức tạp và khó lường. Trong đó, nền kinh tế thế giới phục hồi chậm chạp và tiềm ẩn nhiều rủi ro đe dọa sự phát triển bền vững trên phạm vi toàn cầu cũng như ở một số khu vực do hậu quả khủng hoảng tài chính, tiền tệ, nợ công,... chậm được khắc phục; xung đột vũ trang khu vực chưa được ngăn chặn và chủ nghĩa khủng bố quốc tế hoành hành. Bên cạnh đó, hội nhập quốc tế diễn ra sâu rộng và mạnh mẽ ở các khu vực và trên phạm vi toàn cầu trong khung khổ các Hiệp định thương mại tự do song phương và đa phương mang lại những cơ hội phát triển to lớn đi kèm với những thách thức cho các quốc gia và dân tộc. Chương trình nghị sự 2030 của Liên hợp quốc vì sự phát triển bền vững (SDGs) và Thỏa thuận Pari về biến đổi khí hậu (COP 21) đã đưa ra những cam kết chính trị và quyết tâm mạnh mẽ của thế giới về xóa bỏ đói nghèo cùng cực, bất bình đẳng và biến đổi khí hậu trên phạm vi toàn cầu trong thời gian tới. Về nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA), mặc dù một số nước thành viên Ủy ban Hỗ trợ Phát triển (DAC) của Tổ chức Hợp tác kinh tế và Phát triển (OECD) đầu tầu cung cấp viện trợ phát triển của thế giới phải đối mặt với những khó khăn về tài chính và ngân sách, nguồn cung ODA của thế giới vẫn tiếp tục được duy trì ổn định cho đến năm 2018. Về chính sách viện trợ toàn cầu, các nước thành viên của Tổ chức OECDDAC sẽ áp dụng chính sách ODA theo hướng gắn các quy định về bền vững nợ của Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) và chính sách cho vay của Ngân hàng Thế giới (WB). Đây được xem là động thái tích cực giúp bảo vệ các nước thu nhập thấp tránh khỏi tình trạng cho vay quá mức. Các khoản viện trợ trong thời gian tới sẽ tập trung vào việc giải quyết các thách thức phát triển toàn cầu, tập trung nhiều hơn vào các quốc gia kém phát triển, kết hợp hài hòa với các nguồn tài trợ phát triển khác, gắn kết chặt chẽ giữa giảm nghèo và phát triển bền vững để hỗ trợ thực hiện Chương trình nghị sự 2030 của Liên hợp quốc vì sự phát triển bền vững (SDGs). Trong thời gian tới nguồn tài trợ phát triển sẽ trở nên phong phú và đa dạng hơn với việc hình thành và đi vào hoạt động các Quỹ, Ngân hàng khu vực hoặc toàn cầu như Quỹ Mekong Nhật Bản về phát triển hạ tầng hiện đại, Ngân hàng Đầu tư hạ tầng châu Á (AIIB) và Ngân hàng các nền kinh tế mới nổi (BRICS Bank),... sẽ mang lại nhiều cơ hội lựa chọn hơn cho các nước chậm phát triển và thu nhập trung bình để tiếp cận các nguồn vốn phù hợp cho đầu tư phát triển 2.2. Xác định và phân tích vấn đề 2.2.1. Đặc trưng tính chất, phạm vi, đối tượng chịu tác động của vấn đề

Trang 1

BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯ HỌC VIỆN CHÍNH SÁCH VÀ PHÁT TRIỂN

KHOA CHÍNH SÁCH CÔNG

BÀI TẬP NHÓM 6

ĐỀ TÀI: VẤN ĐỀ SỬ DỤNG CHƯA HIỆU QUẢ NGUỒN VỐN ODA TRONG LĨNH VỰC GIAO THÔNG VẬN TẢI HIỆN NAY

GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN: TH.S NGUYỄN THỊ THU

MỤC LỤC

Trang 2

I Đặt vấn đề/ Giới thiệu chung 3

II Phân tích vấn đề và bối cảnh chính sách 4

2.1 Bối cảnh chính sách 4

2.1.1 Bối cảnh trong nước 4

2.1.2 Bối cảnh quốc tế 6

2.2 Xác định và phân tích vấn đề 7

2.2.1 Đặc trưng tính chất, phạm vi, đối tượng chịu tác động của vấn đề 7

2.2.2 Nguyên nhân chính tác động đến vấn đề 8

2.3 Xác định nguyên nhân chủ chốt và phân tích vai trò của bên liên quan. .11

III Xác định căn cứ giải quyết vấn đề 12

3.1 Rà soát VBCS hiện tại, xác định các lỗ hổng chính sách 12

3.2 Xem xét kinh nghiệm, bài học, cách nhìn nhận và giải quyết vấn đề 13

3.2.1 Xem xét kinh nghiệm, bài học rút ra 13

3.2.2 Cách nhìn nhận và giải quyết vấn đề 14

3.3 Phân tích khả năng, nguồn lực, phương thức giải quyết vấn đề 15

IV Xác định mục tiêu và các giải pháp chính sách 16

4.1 Xác định quan điểm/ giá trị nền tảng 16

4.2 Xác định mục tiêu chính sách và giải pháp chính sách 16

4.3 Phân tích từng giải pháp dựa trên các tiêu chí 19

V.Phân tích tác động của giải pháp 29

VI Kết luận 32

I Đặt vấn đề/ Giới thiệu chung.

Một đất nước muốn phát triển, ngoài tận dụng các lợi thế sẵn có về con người, tài nguyên thiên nhiên… thì một yếu tố không thể thiếu, đó chính là vốn Vốn luôn được coi là một trong những yếu tố quyết định cho quá trình sản xuất kinh doanh

Trang 3

và tăng trưởng kinh tế của mỗi quốc gia Vốn đầu tư bao gồm vốn trong nước vàvốn đầu tư nước ngoài Hai nguồn vốn này có mối quan hệ hữu cơ, bổ sung chonhau Trong đó nguồn vốn trong nước là nội lực của một quốc gia, đóng vai tròquyết định thì vốn đầu tư nước ngoài cũng đóng vai trò quan trọng kém Xét đếntình hình Việt Nam hiện nay, khi nền kinh tế trong nước còn chưa vững mạnh, cácdoanh nghiệp còn non yếu, nếu chỉ dựa vào việc huy động các nguồn vốn trongnước cho đầu tư phát triển thì không đủ đáp ứng cho nhu cầu Chính bởi vậy màtrong chiến lược phát triển kinh tế theo hướng CNH - HĐH, nhà nước ta đã chủtrương tích cực đẩy mạnh thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài, đặc biệt là ODA.Vốn ODA có đặc điểm là có thể cho vay với khối lượng vốn vay lớn, thời gian chovay dài và lãi suất thấp Thực tế đã có nhiều Quốc gia thành công trong việc sửdụng hiệu quả vốn ODA của một số quốc gia như Thái Lan, Trung Quốc, Ma – lai– xi – a,…

Việc sử dụng nguồn vốn ODA hiệu quả có ý nghĩa quan trọng trong quá trìnhphát triển kinh tế xã hội của nước ta Đặc biệt, nguồn vốn ODA đóng góp rất lớncho quá trình phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng tiêu biểu là hệ thống giao thông.Tuy nhiên, hiện nay việc sử dụng quản lí vốn ODA trong lĩnh vực giao thông chưahiệu quả Theo số liệu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư thì trong giai đoạn từ năm 2010-

2015 có lĩnh vực giao thông là lĩnh vực chiếm phần lớn tổng nguồn vốn ODA (gần50% tổng số vốn ODA đầu tư vào Việt Nam) với khoảng 50 dự án giao thông cả

bé và lớn Trong số đó có khoảng 15 dự án giao thông lớn chiếm trên 70% tổng sốvốn ODA đầu tư cho lĩnh vực giao thông thì có gần một phần hai dự án bị đội vốn,một phần ba dự án bị án bị lãng phí và chưa được giải ngân Ví dụ như ở Hà Nội

có tuyến Cát Linh - Hà Đông khởi công xây dựng vào năm 2011 và dự kiến hoànthành vào 30/9/2017 nhưng đến hiện nay thì dự án này mới chỉ hoàn thành xonggiai đoạn I, bên cạnh đó là tuyến Nhổn – ga Hà Nội với tổng chiều dài là 12,5kmđược khởi công vào năm 2010 và dự kiến hoàn thành vào năm 2015 với tổng sốvốn là 1,2 tỉ USD tuy nhiên dự án này đã không hoàn thành đúng dự kiến và hiệnnay đã đội vốn thêm gần 400 triệu Euro Ngoài ra còn có các tuyến lớn như GiápBát – Gia Lâm, Nam Thăng Long – Trần Hưng Đạo và tuyến Nam Hồ Tây – HòaLạc – Ba Vì cũng đang trong tình trạng chậm tiến độ và khiến cho dự án bị đội vốnlên rất nhiều Tình trạng hoàn thành chậm tiến độ giao thông đã gây ảnh hưởng lớntới sự phát triển kinh tế xã hội Bởi dự án hoàn thành chậm tiến độ nó không chỉlàm gia tăng tình trạng nợ công dẫn tới tình trạng gia tăng gánh nợ lên người dânqua thuế mà nó còn làm cho tình trạng ùn tắc giao thông diễn ra mạnh hơn Bêncạnh đó, nó làm thất thoát lãng phí nguồn vốn của nước nhà Ngoài ra, nó còn làmcho giảm uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế dẫn đến khả năng thu hút nguồn

Trang 4

vốn đầu tư của nước ta giảm đi và việc sử dụng nguồn vốn ODA nó còn làm giảmtính cạnh trang của các doanh nghiệp trong nước Chính bởi vậy, đặt ra một yêucầu cho nước ta trong việc sử dụng hiệu quả nguồn vốn ODA trong lĩnh vực giaothông Bởi vì, nguồn vốn ODA là một khoản vay có nhiều ưu đãi nhưng để cóđược ưu đãi thì kèm theo nó là phía chủ đầu tư sẽ đưa những điều kiện gắt gao vềcác khoản nợ ví dụ như các điều kiện về kinh tế Các điều kiện này sẽ làm giảm đikhoản thu ngân sách Nhà nước từ thuế của các quốc gia đầu tư vốn ODA cho nước

ta Thêm vào đó nguồn vốn ODA mà chúng ta nhận được không chỉ là tiền mà còn

là hiện vật như công nghệ, máy móc của chủ nợ Và đặc biệt hơn là hiện nay, theo

dự báo của WORLD BANK: “Việt Nam rơi vào bẫy thu nhập trung bình” Chính

vì vậy, các điều kiện ưu đãi khi vay ODA sẽ không còn được như trước Đặt ra yêucầu hiện nay là cần phải có nhận thức, cách tiếp cận và hành động phù hợp vớihoàn cảnh mới để sử dụng nguồn vốn hiệu quả

Gần đây Thủ tướng chính phủ đã ban hành các Quyết định chủ trương đề án

“Định hướng thu hút, quản lí và sử dụng nguồn vốn ODA và vốn vay ưu đãi củacác nhà tài trợ nước ngoài thời kì 2016 – 2020” vào ngày 17 tháng 02 năm 2016.Với mục tiêu khi chính sách đưa vào thực thi sẽ nâng cao hiệu quả sử dụng nguồnvốn vay ODA của nước ta trong giai đoạn tới Đảm bảo hoàn thành các chươngtrình, dự án ODA đúng tiến độ và thời hạn cam kết, đưa các công trình, dự án vàokhai thác, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội của đất nước

II Phân tích vấn đề và bối cảnh chính sách

2.1 Bối cảnh chính sách.

2.1.1 Bối cảnh trong nước

Trong thời gian qua, với việc đạt được hầu hết các mục tiêu đề ra trong Kếhoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2011 - 2015, nước ta đã tạo ra các nền tảng

và điều kiện cần thiết để hoàn thành các mục tiêu đề ra trong Chiến lược phát triểnkinh tế - xã hội 10 năm 2011 - 2020, đó là tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân 5năm đạt 6,7 - 7%/năm, GDP bình quân đầu người năm 2020 đạt khoảng 3.200 -3.500 USD

Thời kỳ đang và sắp diễn ra giai đoạn 2017 – 2020, bên cạnh những cơ hội thìnước ta cũng phải đối mặt với rất nhiều khó khăn, thách thức trên con đường pháttriển kinh tế - xã hội Quá trình hội nhập sâu rộng của đất nước một mặt đem lạithời cơ thuận lợi nhưng mặt khác phải đối mặt với sự cạnh tranh rất quyết liệt, gay

Trang 5

gắt trong khi nền kinh tế phát triển chưa thực sự bền vững, sức cạnh tranh của nềnkinh tế và năng suất lao động còn chưa cao.

Các yêu cầu phát triển rất lớn, nhất là yêu cầu phát triển cơ sở hạ tầng, đảm bảo ansinh xã hội, phúc lợi xã hội, cải thiện đời sống của nhân dân, yêu cầu phát triểngiáo dục, y tế, bảo đảm quốc phòng - an ninh ngày càng lớn trong khi nguồn lựccủa Việt Nam còn rất hạn chế Thêm vào đó là hạn chế về quản trị nhà nước đốivới nền kinh tế, những hạn chế về cơ cấu kinh tế, thể chế, pháp luật, cơ chế chínhsách vẫn chưa đáp ứng yêu cầu cho sự phát triển và hội nhập quốc tế

Để đẩy nhanh quá trình phát triển, đạt các mục tiêu đề ra trong Chiến lược pháttriển kinh tế - xã hội 10 năm 2011 - 2020 và vượt qua bẫy thu nhập trung bình,Đảng và Nhà nước chủ trương huy động mọi nguồn lực trong và ngoài nước, nhất

là nguồn lực của xã hội, của tư nhân, trong đó chú trọng các nguồn vốn đầu tư từbên ngoài (FDI, ODA và vốn vay ưu đãi, kiều hối, ) để phát triển

Trong lĩnh vực hợp tác phát triển, Việt Nam vẫn tiếp tục nhận được sự đồng tình

và ủng hộ tích cực của cộng đồng quốc tế, song đi liền với đó hợp tác phát triển vớicác nhà tài trợ sẽ tiếp tục có những thay đổi căn bản, kết thúc giai đoạn quá độchuyển đổi từ quan hệ viện trợ phát triển sang quan hệ đối tác Với những bước đi

cụ thể khác nhau, các nhà tài trợ tiếp tục có những điều chỉnh chính sách hợp tácphát triển với Việt Nam theo hướng chuyển dần từ việc cung cấp ODA sang cáckhoản vay với các điều kiện kém ưu đãi hơn, tập trung mạnh vào thương mại, hợptác đầu tư hoặc chấm dứt các chương trình hỗ trợ phát triển cho Việt Nam

Đối với các định chế tài chính quốc tế, trước mắt là Ngân hàng thế giới (WB), sauchu kỳ IDA-17 vào năm 2017, sẽ dừng cung cấp vốn vay ODA với các điều kiện

ưu đãi (IDA) và thay vào đó là vốn vay với các điều kiện kém ưu đãi hơn (IBRD).Theo chiều hướng đó, Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) có thể cũng sẽ dừngcung cấp vốn vay với các điều kiện ưu đãi (ADF) để chuyển sang vốn vay với cácđiều kiện kém ưu đãi (OCR) trong một hoặc hai năm sau WB

Tuy nhiên thực tế nêu trên khẳng định những thành tựu phát triển mà nước ta đãđạt được trong 30 năm đổi mới, nhờ vậy thế và lực của Việt Nam đã được củng cố

và tăng cường, tạo điều kiện thuận lợi để Việt Nam phát huy độc lập, tự chủ trongphát triển Bên cạnh đó nước ta cũng phải đối mặt với nhiều thách thức, trong đó

có những khó khăn về nguồn vốn đầu tư phát triển Song sự nghiệp đổi mới tiếptục tạo ra môi trường thuận lợi thu hút các nguồn vốn đầu tư phát triển trong vàngoài nước khiến cho khả năng lựa chọn nguồn vốn đầu tư được rộng mở và đi liềnvới đó trách nhiệm sử dụng vốn tăng lên làm cho hiệu quả đầu tư sẽ tăng lên mạnhmẽ

2.1.2 Bối cảnh quốc tế

Trang 6

Hiện nay nước ta vẫn đẩy mạnh xu thế chủ đạo là hòa bình, hợp tác và phát triểntiếp tục song tình hình chính trị và an ninh thế giới và khu vực tiếp tục diễn biếnphức tạp và khó lường Trong đó, nền kinh tế thế giới phục hồi chậm chạp và tiềm

ẩn nhiều rủi ro đe dọa sự phát triển bền vững trên phạm vi toàn cầu cũng như ởmột số khu vực do hậu quả khủng hoảng tài chính, tiền tệ, nợ công, chậm đượckhắc phục; xung đột vũ trang khu vực chưa được ngăn chặn và chủ nghĩa khủng

bố quốc tế hoành hành Bên cạnh đó, hội nhập quốc tế diễn ra sâu rộng và mạnh

mẽ ở các khu vực và trên phạm vi toàn cầu trong khung khổ các Hiệp định thươngmại tự do song phương và đa phương mang lại những cơ hội phát triển to lớn đikèm với những thách thức cho các quốc gia và dân tộc

Chương trình nghị sự 2030 của Liên hợp quốc vì sự phát triển bền vững (SDGs) vàThỏa thuận Pa-ri về biến đổi khí hậu (COP 21) đã đưa ra những cam kết chính trị

và quyết tâm mạnh mẽ của thế giới về xóa bỏ đói nghèo cùng cực, bất bình đẳng vàbiến đổi khí hậu trên phạm vi toàn cầu trong thời gian tới

Về nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA), mặc dù một số nước thànhviên Ủy ban Hỗ trợ Phát triển (DAC) của Tổ chức Hợp tác kinh tế và Phát triển(OECD) - đầu tầu cung cấp viện trợ phát triển của thế giới phải đối mặt với nhữngkhó khăn về tài chính và ngân sách, nguồn cung ODA của thế giới vẫn tiếp tụcđược duy trì ổn định cho đến năm 2018

Về chính sách viện trợ toàn cầu, các nước thành viên của Tổ chức OECD/DAC sẽ

áp dụng chính sách ODA theo hướng gắn các quy định về bền vững nợ của QuỹTiền tệ quốc tế (IMF) và chính sách cho vay của Ngân hàng Thế giới (WB) Đâyđược xem là động thái tích cực giúp bảo vệ các nước thu nhập thấp tránh khỏi tìnhtrạng cho vay quá mức Các khoản viện trợ trong thời gian tới sẽ tập trung vào việcgiải quyết các thách thức phát triển toàn cầu, tập trung nhiều hơn vào các quốc giakém phát triển, kết hợp hài hòa với các nguồn tài trợ phát triển khác, gắn kết chặtchẽ giữa giảm nghèo và phát triển bền vững để hỗ trợ thực hiện Chương trình nghị

sự 2030 của Liên hợp quốc vì sự phát triển bền vững (SDGs)

Trong thời gian tới nguồn tài trợ phát triển sẽ trở nên phong phú và đa dạnghơn với việc hình thành và đi vào hoạt động các Quỹ, Ngân hàng khu vực hoặctoàn cầu như Quỹ Mekong - Nhật Bản về phát triển hạ tầng hiện đại, Ngân hàngĐầu tư hạ tầng châu Á (AIIB) và Ngân hàng các nền kinh tế mới nổi (BRICSBank), sẽ mang lại nhiều cơ hội lựa chọn hơn cho các nước chậm phát triển vàthu nhập trung bình để tiếp cận các nguồn vốn phù hợp cho đầu tư phát triển

Trang 7

2.2 Xác định và phân tích vấn đề

2.2.1 Đ c tr ng tính ch t, ph m vi, đ i t ặc trưng tính chất, phạm vi, đối tượng chịu tác động của vấn đề ưng tính chất, phạm vi, đối tượng chịu tác động của vấn đề ất, phạm vi, đối tượng chịu tác động của vấn đề ạm vi, đối tượng chịu tác động của vấn đề ối tượng chịu tác động của vấn đề ưng tính chất, phạm vi, đối tượng chịu tác động của vấn đềợng chịu tác động của vấn đề ng ch u tác đ ng c a v n đ ịu tác động của vấn đề ộng của vấn đề ủa vấn đề ất, phạm vi, đối tượng chịu tác động của vấn đề ề

Tính chất Triệu chứng và bằng chứng Các bên liên quan

1 Giải ngân

chậm

Theo báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư,Trong giai đoạn từ 1993 đến tháng 6/2017,Việt Nam đã ký kết các khoản vay và viện trợkhông hoàn lại có giá trị khoảng 82,61 tỷUSD (trong đó vốn vay là 74,92 tỷ USD)

Tính đến hết tháng 6/2017, hiện có 810chương trình dự án đang triển khai với số vốnODA và vốn vay ưu đãi, còn lại chưa giải

ngân khoảng 21,167 tỷ USD (Website Văn

phòng Chính Phủ)

Ví dụ như tại Hà Nội, số tiền giải ngân các dự

án đầu tư công đến 20.7.2017 là 302 tỉ đồngchiếm 11,79% kế hoạch vốn được giao

Trong đó, hai dự án giao thông trọng điểm làtuyến đường sắt đô thị Hà Nội đoạn Nhổn-Ga

Hà Nội và tuyến Cát Linh-Hà Đông đều chậmtiến độ cũng như chậm giải ngân Với tuyếnNhổn-Ga Hà Nội, kế hoạch được giao 1.641

tỉ đồng nhưng mới giải ngân được 125 tỉ

đồng.(Theo báo Lao Động)

- Bộ Tài chính

- Bộ Kế Hoạch vàĐầu tư

Sở Kế hoạch vàĐầu tư các địaphương

23 chương trình, dự án trọng điểm chậm tiến

độ thi công Riêng tại Hà Nội, 2 siêu dự ánđường sắt đô thị đều chậm tiến độ Dự án CátLinh – Hà Đông đã chậm tiến độ hoàn thành

đến 3 năm (Theo Báo Mới)

- Nhiều dự án ODA bị “đội” vốn lên rất nhiều

so với dự toán ban đầu

Dẫn chứng là một số dự án đội vốn lên gấp

- Nhà thầu thực thi

dự án

- Ban quản lý dựán

- UBND địaphương

Trang 8

2,6-2,8 lần như dự án tuyến đường sắt đô thị

TP Hồ Chí Minh tuyến 1, đoạn Bến Thành Suối Tiên tăng từ 17.387 tỷ đồng lên 47.325

-tỷ đồng (Theo Báo Mới); dự án đường sắt Cát

Linh – Hà Đông hiện có tổng mức đầu tư của

Dự án là hơn 868 triệu USD (tươngđương18.000 tỷ đồng), tăng hơn 300 triệu

USD so với kế hoạch ban đầu.( Theo báo Đất

Ví dụ như dự án tuyến đường sắt đô thị CátLinh - Hà Đông đã thay đổi phương án thiết

kế, bổ sung thêm một số hạng mục : đổiphương án nhà ga từ hai tầng thành ba tầng;

do bổ sung hạng mục xử lý nền đất yếu khuDepot; do điều chỉnh vật liệu vỏ tàu; do bổsung chi phí đào tạo chuyển giao công nghệ;

do biến động về giá nguyên nhiên vật liệu…

làm tổng vốn dự án bị “đội” lên với chi phíphát sinh “khủng” tăng từ 8.769 tỷ đồng lên47.325 tỷ đồng.Dự án này đã bị chậm tiến độhơn 2 năm đồng thời bị đội vốn hơn 61%

(339 triệu USD) ( Theo CafeF)

-Bộ Kế hoạch vàĐầu tư

- Ban quản lý dự

án cấp Trungương, địa phương

- Nhà thầu thựchiện dự án

2.2.2 Nguyên nhân chính tác đ ng đ n v n đ ộng của vấn đề ến vấn đề ất, phạm vi, đối tượng chịu tác động của vấn đề ề

Trang 9

- Thủ tục rườm rà

Mỗi dự án được giải ngân phải trải qua rất nhiều khâu khácnhau như: thẩm định, phê duyệt, giao vốn, thực hiện, thanhquyết toán Khi sự chậm trễ diễn ra ở một khâu trong quátrình sẽ khiến toàn bộ dự án bị kéo dài

Do các dự án cần có đầy đủ hồ sơ, trong đó quan trọng nhất

là quyết định phê duyệt dự án, tốn một khoảng thời giankhá dài (được quy định tại điều 30, Nghị định 16/NĐ-CP),chủ đầu tư phải đấu thầu thuê tư vấn, lập báo cáo khả thi,thẩm định và phê duyệt dự án, rất dễ gây ra chậm trễ trongviệc giao vốn

- Có sự khác biệt về quy trình thủ tục trong quản lí hành chính và đấu thầu giữa Việt Nam và nhà tài trợ.

Theo Bộ GTVT, mẫu HSMT của gói thầu xây lắp sửdụng vốn vay ODA của các nhà tài trợ như Ngân hàng Thếgiới (WB), Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) không quyđịnh cụ thể tiêu chí đánh giá tính hợp lệ của hồ sơ đề xuất

kỹ thuật như quy định trong nước

Ngoài ra, các mẫu HSMT này không quy định đánh giáchi tiết về kỹ thuật, mặc dù các biểu mẫu của HSMT có yêucầu nhà thầu phải kê khai về nhân sự, thiết bị thi công vàcác yêu cầu trình bày về kế hoạch, biện pháp, tiến độ thicông Điều này dẫn đến những khó khăn trong việc đánhgiá và thẩm định kết quả đánh giá hồ sơ đề xuất kỹ thuậtcũng như không phản ánh đầy đủ, chính xác năng lực củacác nhà thầu tham dự

Ví dụ về chu trình dự án ODA của Chính phủ Việt Nam vàADB:

Chu trình dự án của ADB bao gồm năm giai đoạn:(i) xây dựng chiến lược và chươngtrình quốc gia; (ii) chuẩn

bị dự án; (iii) thẩm định và phê duyệt dự án; (iv) thực hiện

dự án và (v) đánh giá dự án

Chu trình quản lý và sử dụng ODA của Chính phủ

Trang 10

được quy định trong Nghị định 131/CP bao gồm bốn giaiđoạn: (i) xác định dự án; (ii) chuẩn bị và thẩm định dự án;(iii) thực hiện dự án và (iv) chấp nhận, hoàn thành về mặttài chính và bàn giao DA cho người sử dụng và đánh giásau DA

Nguyên nhân khách quan

Nguyên nhân thời tiết, mỗi vùng khác nhau có mùa mưa,nắng khác nhau, dẫn đến các công trình thi công bị ảnhhưởng khá nhiều

- Thiếu minh bạch trong công tác kiểm tra, giám sát các dự

Vốn ODA từ trước năm 2016 được phân bổ theo cơ chế

“cấp phát”, cơ chế này đã hình thành nên hình thức “xin –cho” ODA, dẫn đến các tiêu cực như tham nhũng, lạmquyền Mặc dù sắp tới, Nhà nước Chuyển từ cơ chế sửdụng vốn chủ yếu dựa vào “cấp phát” từ ngân sách nhànước và Nhà nước chịu rủi ro toàn bộ sang cơ chế “Cho

Trang 11

vay lại” Nhà nước đã ban hành Nghị định 52/2017/NĐ-CP

về “cho vay lại nguồn vốn ODA đối với UBND cấp tỉnh,thành phố trực thuộc trung ương” Tuy nhiên hiện tại vẫnchưa có thông tư hướng dẫn thực hiện khiến cho địaphương gặp lúng túng trong quá trình quản lí sử dụngODA

- Bất cập trong quy trình thành lập, quy định chức năng của Ban Quan lí dự án (BQLDA) ODA.

Thời điểm trước khi Nghị định 16/2016/NĐ-CP có hiệulực, việc thành lập BQLDA ODA vẫn chịu sự điều chỉnhcủa điều 39 Nghị đinh 38/2013/NĐ-CP Theo đó, mỗi khimột dự án ODA được triển khai sẽ thành lập một BQLDAmới và khi dự án đó được hoàn thành thì BQLDA cũng sẽđược giải tán Theo Ngân hàng Thế giới (WB) và Ngânhàng Phát triển châu Á (ADB), số lượng BQLDA ODA củahai nhà tài trợ này hiện nay đã lên tới 500 đơn vị trên tổng

số 1.000 đơn vị trong cả nước (tính đến năm 2013) Sốlượng BQLDA như vậy là quá nhiều và dẫn đến sự lãngphí

Bên cạnh đó, nghị định 38/2013/NĐ-CP không quy địnhcác trường hợp không cần thành lập BQLDA dẫn đến tìnhtrạng các dự án ODA nhỏ và siêu nhỏ cũng phải thành lậpBQLDA gây nên sự lãng phí nguồn lực đất nước

- Năng lực của cán bộ BQLDA chưa cao

Số lượng BQLDA quá nhiều Các chức danh chủ chốt củaBQLDA chủ yếu do Chủ đầu tư chỉ định nên thường xảy ra

các trường hợp cán bộ không đủ năng lực quản lí.

Bên cạnh đó, hiện tại vẫn chưa có bộ chỉ số đánh giá hiệuquả công việc cho cán bộ của BQLDA  làm việc khôngmang lại hiệu quả cao

Trang 12

2.3 Xác định nguyên nhân chủ chốt và phân tích vai trò của bên liên quan.

- Trong tất cả các nguyên nhân nêu trên, nguyên nhân chính tác động đến việc sửdụng ODA chưa hiệu quả thuộc về cơ chế sử dụng vốn ODA cả nhà nước Việcduy trì cơ chế “cấp phát” vốn ODA đã dẫn tới nhiều tiêu cực trong quá trình sửdụng vốn Chủ đầu tư không coi ODA là khoản nhà nước đi vay mà nghĩ răng đó làtiền nhà nước cho không để đầu tư phát triển Sử dụng vốn chưa gắn với việc trả

nợ, trách nhiệm đối với nguồn tài chính đi vay còn chưa cao Hậu quả là gây ranhiều thất thoát, thiệt hại lớn trong các công trình dự án ODA

- Bên cạnh đó, nhóm cũng đưa ra một nguyên nhân sâu xa trong quản lí, sử dụngODA còn nhiều bất cập, đó chính là xung đột lợi ích nhóm

Khi đối tác muốn viện trợ vốn cho Việt Nam thì phải trải qua nhiều giai đoạn Từkhi cam kết cho tới ký hợp đồng, rồi từ ký hợp đồng cho tới giải ngân còn nhiềuvấn đề phức tạp và bị ràng buộc bởi nhiều yếu tố Các đối tác đầu tư luôn mongmuốn tiền đầu tư của mình được sử dụng một cách hiệu quả, không lãng phí.Chính bởi vậy mà họ luôn đề cao tính công khai, minh bạch trong các quy trìnhquản lí, sử dụng vốn ODA Khi đối tác phát hiện ra những yếu tố “có vấn đề” thì

họ sẽ dừng viện trợ để xác minh lại ngay Tuy nhiên, nếu chúng ta làm quá côngkhai minh bạch thì sẽ ảnh hưởng tới lợi ích của một nhóm người Đây là điểmnghẽn rất lớn trong việc nâng cao hiệu quả sử dụng ODA

III Xác định căn cứ giải quyết vấn đề

3.1 Rà soát VBCS hiện tại, xác định các l h ng chính sách ỗ hổng chính sách ổng chính sách

- Nghị định 52/2017/NĐ-CP

về “cho vay lại nguồn vốnODA đối với UBND cấptỉnh, thành phố trực thuộctrung ương

- Chưa có thông tư hướng dẫncho nghị định 52, dẫn tới cácđịa phương có nhu cầu vay gặpkhó khăn

- Các địa phương gặp khókhăn về việc nguồn ngân sáchthu không đủ chi ít có cơ hộitiếp cận nguồn vốn vay ODA

từ chính phủ

Trang 13

- Mục tiêu: nâng cao tính chủđộng của địa phương

- Vay nợ ODA phần lớn cóthời gian lên đến 40-50 nămdẫn tới việc hình thành “tư duynhiệm kì” trong quá trình trảnợ

án Quy định việc sử dụngBQLDA đang có cho các dự

án mới

+ Điều 40: Quy định cáctrường hợp không thành lậpBan Quản lý dự án, nhằm tậndụng và khai thác tối đa nănglực của các Ban Quản lý dự

án hiện có, của cơ quan chủquản và chủ dự án để tự quản

lý chương trình, dự án hoặcthuê tư vấn quản lý chươngtrình, dự án

+ Điều 39 quy định về việcthành lập BQLDA

- Việc thành lập 1 BQLDAdẫn đến tiêu cực “lạm quyền”

- Sử dụng BQLDA đã có chocác dự án mới dễ dẫn tới tìnhtrạng các BQLDA thiếu nhânlực chuyên môn cho từng dự

án khác nhau

- BQLDA năng lực chuyênmôn kém  giám sát, quản lí

dự án ODA không hiệu quả

- Thời gian để BQLDA đi vàohoạt động vẫn còn quá dài(mất 45 ngày)

3.2 Xem xét kinh nghiệm, bài học, cách nhìn nhận và giải quyết vấn đề.

3.2.1 Xem xét kinh nghiệm, bài học rút ra

Phần phát hiện lỗ hổng chính sách trên cho ta thấy các lỗ hỏng chính sách cần khắcphục và sửa đổi trong thời gian sắp tới Chúng ta xem xét lại kinh nghiệm trongnước và quốc tế

- Những bài học rút ra

Trang 14

Định hướng thu hút và sử dụng vốn ODA thiếu căn cứ khoa học: hiện tượng đầu

tư trà lan, lãng phí có xu hướng tăng Thiếu sự tập trung hóa trong điều phối quản

lý vốn ODA ODA đã trở thành miền đất màu mỡ của tệ nạn tham nhũng và cácbiến tướng của nhiều dạng thao túng biển thủ ngân quỹ viện trợ

- Kinh nghiệm quản lý ODA ở một số nước trên thế giới

Trung Quốc: quản lý tập trung, thực hiện phi tập trung: Ở Trung Quốc có chiến

lược hợp tác tốt, xây dựng tốt các dự án, cơ chế điều phối và thực hiện tốt, cơ chếtheo dõi và giám sát chặt chẽ

Ba Lan: Vốn vay không hoàn lại vẫn phải giám sát chặt Ba Lan quan niệm để

sử dụng vốn ODA đạt hiệu quả, trước hết phải tập trung đầu tư vào nguồn nhân lực

và năng lực thể chế Cơ sở luật pháp rõ ràng và chính xác trong toàn bộ quá trình làđiều kiện để kiểm soát và thực hiện thành công các dự án ODA Ba Lan đề caohoạt động phối hợp với đối tác viện trợ

Malaysia: Phối hợp chặt chẽ với nhà tài trợ cùng kiểm tra đánh giá Ở

Malaysia, vốn ODA được quản lý tập trung vào một đầu mối là Văn phòng Kinh tế

Kế hoạch Vốn ODA được đất nước này dành cho thực hiện các dự án xóa đóigiảm nghèo, nâng cao năng lực cho người dân

Malaysia công nhận rằng họ chưa có phương pháp giám sát chuẩn mực Songchính vì vậy mà Chính phủ rất chú trọng vào công tác theo dõi đánh giá Kế hoạchtheo dõi và đánh giá được xây dựng từ lập kế hoạch dự án và trong lúc triển khai.3.2.2 Cách nhìn nhận và giải quyết vấn đề

- Việc yếu kém trong quản lí nguồn vốn ODA là một trong những tác nhân dẫn tới

việc sử dụng nguồn vốn không hiệu quả

Trung ương khó kiểm soát hết được đầu tư của địa phương, việc đầu tư vẫn cònphân tán, dàn trải, thiết kế một số chương trình, dự án ODA chưa sát với thực tế,phân bổ ODA còn dàn trải

Trang 15

=> Chính bởi vậy, định kì hàng quý các tỉnh cần báo cáo cho BKHĐT về nguồnvốn cũng như tiến độ của dự án để đưa ra phương hướng và giải pháp cho tiếntrình tiếp theo của dự án.

- Cơ chế sử dụng vốn chủ yếu dựa vào cấp phát từ ngân sách Nhà nước và Nhà

nước toàn bộ chịu rủi ro.

Nghị định 52/2017/NĐ-CP về “cho vay lại nguồn vốn ODA đối với UBND cấptỉnh, thành phố trực thuộc trung ương” đã được ban hành Tuy nhiên chưa có thông

tư hướng dẫn tới các địa phương

=> Ban hành thông tư hướng dẫn cho Nghị định 52

- Trách nhiệm quản lí còn chồng chéo, chưa gắn trách nhiệm cân đối ngân sách,

vay và trả nợ đối với phân bổ, sử dụng vốn cho từng đối tượng cụ thể.

Chính sách Đảng và Nhà nước Quốc Hội ban hành nghị định quy định về các cơquan quản lý về ODA gồm 5 bộ Nhưng khi dự án ODA chưa đạt hiệu quả, tìnhtrạng cha chung không ai khóc vẫn còn tồn tại Vậy phải quy định thống nhất cơquan độc lập chịu trách nhiệm trước những tồn tại những sai phạm khi sử dụng vốnODA Nâng cao tinh thần trách nhiệm, cũng như chất lượng dự án

3.3 Phân tích khả năng, nguồn lực, phương thức giải quyết vấn đề

- Quốc hội và Chính phủ luôn coi việc

thu hút và sử dụng ODA hiệu quả là

vấn đề trọng tâm cần được quan tâm

- Chính phủ luôn nhìn nhận khách quan

những bất cập trong quy chế, luật định

về sử dụng nguồn vốn ODA

- Ban hành những luật, nghị định,

thông tư mới, thay thể những quy định

- Bất cập trong quy trình thực thi quychế, luật định về ODA và các vấn đềliên quan

- Kiểm tra, giám sát chưa chặt chẽ khâuthực thi của các cơ quan có thẩm quyềntham gia vào các dự án ODA

- Luật pháp, quy định đưa ra còn chưachặt chẽ Việc hoạch định các chính

Trang 16

cũ còn nhiều bất cập.

- Nghiêm ngặt, minh bạch hơn trong

quy trình quản lí sử dụng nguồn vốn

ODA

- Một số địa phương đã có những đổi

mới sáng tạo, mang tính tiên phong cho

việc nâng cao chất lượng quản lí, sử

dụng hiệu quả nguồn vốn ODA

sách liên quan còn nhiều yếu kém vàmâu thuẫn

- Tư tưởng, quan điểm, nhìn nhận vềnguồn vốn ODA của người lãnh đạocác cơ quan tham gia các dự án ODAcòn chưa đúng đắn

- Việc Việt Nam ngày càng mở rộng

mối quan hệ hợp tác sâu rộng với các

nước thành công trong việc sử dụng

thành công nguồn vốn ODA sẽ giúp

nước ta học hỏi được những kinh

nghiệm, cách giải quyết những vấn đề

còn bất cập

- Sự nhìn nhận, quan tâm của người

dân cho ODA ngày càng thay đổi theo

hướng tích cực

- Việc thay đổi, sửa đổi chính sách cần

cả một quá trình, không thể một sớmmột chiều trong khi nguồn vốn ODAtài trợ cho Việt Nam có xu hướng giảmdần trong thời gian tới

- Việc sửa đổi, áp dụng chính sách mớirất tốn kém về thời gian và nguồn lực,chưa kể tới khi chính sách đưa vào thựcthi sẽ phát sinh thêm nhiều bất cập

- Các nhà tài trợ ODA sẽ dần tăng lãisuất trả nợ và các điều kiện vay đi kèm

- Việt Nam đang phải đối mặt với vấn

đề nợ công cao, đây là thách thức lớntrong việc thu hút các nguồn vốn ODA

Ngày đăng: 25/05/2018, 01:25

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Tài chính (2016), Thông tư 111/2016/TT-BTC quy định về cơ chế “cho vay lại” đối với chương trình, dự án sử dụng vốn ODA Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư 111/2016/TT-BTC quy định về cơ chế “chovay lại
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2016
5. Thủ tướng Chính phủ (2016), Quyết định 251/2016/QĐ-TTg phê duyệt đề án“Định hướng thu hút, quản lý và sử dụng nguồn vốn ODA và vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài thời kì 2016-2020” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định 251/2016/QĐ-TTg phê duyệt đề án"“Định hướng thu hút, quản lý và sử dụng nguồn vốn ODA và vốn vay ưu đãicủa các nhà tài trợ nước ngoài thời kì 2016-2020
Tác giả: Thủ tướng Chính phủ
Năm: 2016
7. Th.S Nguyễn Thị Thu (2017), Giáo trình Phân tích Chính sách, NXB Đại học Sư Phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Phân tích Chính sách
Tác giả: Th.S Nguyễn Thị Thu
Nhà XB: NXB Đạihọc Sư Phạm
Năm: 2017
2. Chính phủ (2017), Nghị định 52/2017/NĐ-CP quy định về cơ chế “cho vay lại nguồn vốn ODA đối với UBND cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương Khác
3. Chính phủ (2016), Nghị định 16/2016/NĐ-CP về quản lí và sử dụng vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài Khác
4. Chính phủ (2013), Nghị định 38/2013/NĐ-CP về quản lý và sử dụng nguồn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và nguồn vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ Khác
6. Bộ Kế hoạch & Đầu tư (2015), Công văn 2426/BKHĐT-KTĐN ngày 24/4/2015 về rà soát các dự án ODA Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w