1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu lý thuyết cấu trúc, tính chất của một số cluster kim loại và lưỡng kim loại paladi bằng phương pháp hóa học lượng tử

56 279 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 56
Dung lượng 1,25 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tính chất quang học của các hạt có kích thước nm của các kim loại đã được nghiên cứu trong những năm gần đây và được đưa vào ứng dụng có hiệu quả cao trong công nghiệp hiện đại được ứng

Trang 1

Lời cảm ơn

*****

Khóa luận được hoàn thành tại bộ môn hóa Vô cơ – Hóa lý – Hóa phân tích, Khoa Sinh – Hóa, Trường Đại học Tây Bắc

Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, em xin chân thành cảm ơn cô giáo ThS

Lê Khắc Phương Chi đã tận tình hướng dẫn, động viên và tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất để em hoàn thành khóa luận này

Em xin chân thành cảm ơn đến các thầy cô tại Trung Tâm Khoa Học Tính Toán trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để em hoàn thành khóa luận

Em xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc và chân thành đến thầy cô giáo trong tổ bộ môn hóa Vô cơ – Hóa lý - Hóa phân tích, Ban chủ nhiệm Khoa Sinh – Hóa, thầy cô phòng KHCN - hợp tác quốc tế và trung tâm thông tin thư viện trường Đại học Tây tạo điều kiện giúp đỡ em hoàn thành khóa luận

Em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ và ủng hộ nhiệt tình của bạn bè lớp K55 ĐHSP Hóa học, người thân trong gia đình đã dành cho em sự động viên khích lệ tinh thần tạo điều kiện cho em trong thời gian học tập, rèn luyện và làm khóa luận

Xin trân trọng cảm ơn!

Sơn La, tháng 5 năm 2018

Người thực hiện

Thào Seo Lùng

Trang 2

MỤC LỤC

Lời cảm ơn 1

MỞ ĐẦU 1

I LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1

II MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU 3

III NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 3

IV ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 3

V PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 4

NỘI DUNG 5

CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ THUYẾT 5

1.1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT HÓA HỌC LƯỢNG TỬ [1, 3, 7, 9, 16, 18, 20] 5

1.1.1 Phương trình Schrodinger ở trạng thái dừng 5

1.1.2 Phương trình Schrodinger cho hệ nhiều electron 5

1.1.2.1 Toán tử Hamilton 5

1.1.2.2 Hàm sóng của hệ nhiều electron 7

1.1.2.3 Phương trình Schrodinger của hệ nhiều electron 9

1.1.3 Cấu hình electron và bộ hàm cơ sở 9

1.1.3.1 Cấu hình electron 9

1.1.3.2 Bộ hàm cơ sở 10

1.2 CÁC PHƯƠNG PHÁP TÍNH TOÁN HÓA HỌC [7, 18] 11

1.2.1 Phương pháp Hartree – Fock 12

1.2.2 Phương pháp phiếm hàm mật độ (DFT) 13

1.2.2.1 Mô hình Thomas – Fermi 13

1.2.2.2 Các định lí Hohenberg – Kohn 14

1.2.2.3 Các phương trình Kohn – Sham 14

1.3 CẤU TRÚC VÙNG NĂNG LƯỢNG TRONG CHẤT BÁN DẪN 16

1.4 ĐẠI CƯƠNG VỀ PHỔ TỬ NGOẠI – KHẢ KIẾN (UV – Vis) [2] 17

CHƯƠNG II TỔNG QUAN VỀ HỆ CHẤT NGHIÊN CỨU 20

2.1 HỆ CHẤT NGHIÊN CỨU [12, 13, 19, 20, 21, 25, 26, 28] 20

2.1.1 Cluster kim loại 20

2.1.2 Cluster lưỡng kim loại 23

2.1.3 Kim loại Paladi 24

Trang 3

2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26

2.2.1 Phần mềm tính toán 26

2.2.2 Phương pháp nghiên cứu 27

CHƯƠNG III KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 28

3.1 KHẢO SÁT PHƯƠNG PHÁP TÍNH TOÁN 28

3.2 CẤU TRÚC VÀ TÍNH CHẤT CỦA CLUSTER Pdn 28

3.2.1 Khảo sát dạng bền của các cluster Pdn 28

3.2.2 Tính chất của các cluster Pdn bền 34

3.2.3 Phổ UV-VIS của một số cluster Pdn 39

3.3 Cấu trúc và tính chất của các cluster lưỡng kim loại Pdn-1M 42

3.3.1 Cluster PdM 42

3.3.2 Cluster Pd2M 43

3.3.3 Cluster Pd3M 44

KẾT LUẬN 46

TÀI LIỆU THAM KHẢO 48

Trang 4

DANH MỤC KÍ HIỆU VIẾT TẮT

CGF Constracted Gaussian Functions Bộ hàm Gauss rút gọn

DFT Density Functional Theory Thuyết phiếm hàm mật độ

GTO Gaussian Type Orbitals Quỹ đạo Gaussian

HF Hartreee-Fock Năng lƣợng lƣợng tử ở trạng

thái tĩnh (năng lƣợng điểm đơn)

HOMO Hightest Occupied Molecular Orbital Obitan phân tử bị chiếm cao

nhất

LCAO Linear Combination of Atomic Orbital Tổ hợp tuyến tính các obitan

nguyên tử LCD Liquid Crystal Display Màn hình tinh thể lỏng

LUMO Lowest Unoccupied Molecular Orbital Obitan phân tử không bị

chiếm thấp nhất

OLED Organic Light Emitting Diode Điốt phát quang hữu cơ

PGM Platinum Group Metal

Nhóm kim loại bạch kim (paladi, platin, rhodi, rutheni, iridi và osimi)

SOT Slater Type Orbitals Các quỹ đạo Slater

TD-DFT Time-dependent density functional

theory

Phiếm hàm mật độ phụ thuộc vào thời gian

UV-Vis Ultraviolet Visible Spectroscopy Phổ tử ngoại – khả kiến UHF Uitra High Frequency Tần số cực cao

ZPE Zero Point Energy

Năng lƣợng zero-điểm – năng lƣợng trạng thái cơ bản (năng lƣợng điểm không)

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3 1 Giá trị độ dài liên kết Pd-Pd (Å) và năng lượng liên kết trung bình (eV)

ELKTB của cluster Pd2 28 Bảng 3 2 Giá trị năng lượng điểm đơn (au/hartree), năng lượng dao động điểm không ZPE (J/mol), năng lượng tổng E (eV) và năng lượng tương đối ∆E (eV) của Pd2 28 Bảng 3 3 Cấu trúc của một số cluster Pdn 30 Bảng 3 4 Giá trị năng lượng đeểm đơn (au/hartree), năng lượngda o động điểm không ZPE (J/mol), năng lượng tổng E (eV) và năng lượng tương đối ∆E (eV) 33 Bảng 3 5 Cấu trúc bền của các cluster Pdn 35 Bảng 3 6 Các thông số của dạng cluster Pdn bền 36 Bảng 3 7 Giá trị năng lượng liên kết Pd-Pd (EPd-Pd) (eV) và năng lượng liên kết trung bình (ELKTB) (eV) 36 Bảng 3 8 Giá trị năng lượng HOMO (eV), LUMO (eV) và mức chênh lệch năng lượng LUMO-HOMO (eV) của một số cluster Pdn 37 Bảng 3 9 Giá trị mức chênh lệch năng lượng LUMO-HOMO của một số vật liệu bán dẫn phổ biến hiện nay 38 Bảng 3 10 Kết quả phổ UV-Vis của một số cluster Pdn 39 Bảng 3 11 Bước sóng cực đại, cường độ dao động của một số cluster Pdn 41 Bảng 3.12 Các thông số về cấu trúc, độ dài liên kết, năng lượng liên kết trung bình (ELKTB), mức chênh lệch năng lượng LUMO-HOMO (ΔELUMO-HOMO) và nhóm điểm đối xứng của cluster PdM 43 Bảng 3.13 Các thông số về cấu trúc, độ dài liên kết, năng lượng liên kết trung bình (ELKTB), mức chênh lệch năng lượng LUMO-HOMO (ΔELUMO-HOMO) và nhóm điểm đối xứng của cluster Pd2M 43 Bảng 3.14 Các thông số về cấu trúc, độ dài liên kết, năng lượng liên kết trung bình (ELKTB), mức chênh lệch năng lượng LUMO-HOMO (ΔELUMO-HOMO) và nhóm điểm đối xứng của cluster Pd3M 44

Trang 6

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 1 1 Mô hình vùng năng lượng trong chất bán dẫn 16 Hình 1 2 Sơ đồ bước chuyển năng lượng của các electron 18 Hình 3 1 Đồ thị biến đổi năng lượng liên kết Pd-Pd (EPd-Pd) và năng lượng liên kết trung bình (ELKTB) của các cluster Pdn 37 Hình 3 2 Đồ thị biến đổi EHOMO (eV), ELUMO (eV) và ∆ELUMO-HOMO (eV) của các cluster Pdn 38

Trang 7

MỞ ĐẦU

I LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế, hiện nay, khoa học công nghệ cũng đã và đang đạt được những thành tựu vượt bậc đánh dấu những bước tiến quan trọng trong sự phát triển của nhân loại Trong đó, đáng chú ý nhất là sự ra đời và phát triển nhanh chóng của một lĩnh vực mới đó là khoa học nano Lĩnh vực này được mở rộng sang vật lý, hóa học, kỹ thuật và nhiều lĩnh vực khác, từ khoa học cơ bản đến ứng dụng công nghệ Trong vài năm trở lại đây, công nghệ nano ra đời đã tạo nên những bước nhảy đột phá trong ngành hóa học vật liệu, điện tử, tin học, y khoa, sinh học, giải trí,… đặc biệt trong cuộc sống được sử dụng rộng rãi như gạc chữa bỏng được phủ nano bạc, pin năng lượng mặt trời, đèn LED, sơn kháng khuẩn nano… Công nghệ nano đã làm thay đổi cuộc sống nhờ vào khả năng can thiệp của con người tại kích thước nanomet (nm) Tại quy mô đó, vật liệu nano thể hiện những tính chất đặc biệt và

lý thú khác hẳn với tính chất của chúng ở các kích thước lớn hơn

Trong số các vật liệu có kích thước nano, các cluster chiếm một vị trí rất quan trọng vì chúng là các khối xây dựng nên khoa học nano Các cluster được định nghĩa là một tập hợp có từ một đến hàng ngàn nguyên tử có kích cỡ nm hoặc nhỏ hơn Chính vì

có kích thước nm nên nó có những tính chất vật lý và hóa học khác biệt với khi ở dạng khối Có lẽ, minh chứng rõ ràng nhất cho hiện tượng này đó chính là việc khám phá ra các cluster kim loại vàng, một vật liệu được biết đến với sự thụ động hóa học của nó ở dạng khối, nhưng lại hoạt động hóa học mạnh và trở thành vật liệu xúc tác tuyệt vời cho nhiều phản ứng như oxi hóa CO, khử NO,… Walter David Knight và các cộng sự

đã mở ra một kỉ nguyên mới trong lĩnh vực nghiên cứu cluster khi điều chế và phát hiện ra các cluster kim loại kiềm có đến 100 nguyên tử bằng cách cho bay hơi kim loại natri và dẫn hơi kim loại qua ống phun siêu âm Sau đó các nghiên cứu được mở rộng với những cluster kim loại có kích thước lớn hơn, nhưng có lớp vỏ giống với các cluster kim loại kiềm đó là các cluster của các kim loại quý như: Au, Ag, Cu, … và các kim loại chuyển tiếp có phân lớp d chưa bão hòa Những electron ở orbitan d chưa bão hòa đóng vai trò quan trọng trong quá trình hình thành liên kết hóa học và vì thế

nó được dự đoán sẽ tạo ra những đặc tính khác biệt đối với các cluster Hơn nữa, các cluster kim loại khi tương tác với ánh sáng, chúng sẽ trải qua các chuyển mức năng lượng, hệ quả là xảy ra các hiện tượng hấp thụ, phát xạ ánh sáng và hiện tượng cộng

Trang 8

hưởng bề mặt Tính chất quang học của các hạt có kích thước nm của các kim loại đã được nghiên cứu trong những năm gần đây và được đưa vào ứng dụng có hiệu quả cao trong công nghiệp hiện đại được ứng dụng trong nghiên cứu về y học, vật liệu bán dẫn… Tuy nhiên, vẫn chưa có lí thuyết đầy đủ để giúp chúng ta dự đoán các cấu trúc bền của các cluster kim loại ở trong các phân tử và các chất rắn Hơn nữa, chúng ta vẫn tương đối ít biết về mối quan hệ phức tạp và tinh vi giữa cấu trúc, electron và nguyên tử với độ bền và khả năng phản ứng của hợp chất Do đó, việc nghiên cứu các tính chất độc đáo, khác biệt và khả năng ứng dụng rộng rãi của các cluster của nhiều kim loại chuyển tiếp đang là mối quan tâm của rất nhiều nhà khoa học trên thế giới Trong đó, paladi là một trong những kim loại chuyển tiếp đang được quan tâm và nghiên cứu hiện nay vì những ứng dụng to lớn của kim lại này trong các lĩnh vực khác nhau như là làm tụ điện trong các đồ điện tử như điện thoại di động, máy tính, tụ gốm nhiều lớp, làm vật liệu chế tạo tiếp điểm do điện trở thấp Paladi cũng được sử dụng trong nha khoa, y học, tinh chế hidro, các ứng dụng hóa học, xử lý nước ngầm và đóng vai trò quan trọng trong công nghệ sử dụng cho các tế bào nhiên liệu, trong đó kết hợp hidro và oxy để phát điện, nhiệt và nước Tuy nhiên các công trình đã công bố về cluster kim loại paladi còn khá khiêm tốn và chưa có hệ thống cả về lý thuyết lẫn thực nghiệm Vì vậy, việc nghiên cứu lý thuyết và tính chất của một số cluster kim loại và lưỡng kim loại paladi là một nhu cầu cấp thiết với hy vọng kết quả thu được cho hệ nghiên cứu có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các nhà khoa học làm thực nghiệm cũng như các nghiên cứu lý thuyết sâu rộng hơn

Hóa học lượng tử là một ngành khoa học ứng dụng cơ học lượng tử vào giải quyết các vấn đề của hóa học Cụ thể nó cho phép tiến hành các nghiên cứu lí thuyết

về cấu trúc phân tử và khả năng phản ứng, giúp tiên đoán nhiều thông số của phản ứng trước khi tiến hành thí nghiệm Hơn thế nữa, cùng với sự tiến bộ của công nghệ số trong thời đại ngày nay, máy tính có thể tính toán một cách nhanh chóng những phép tính phức tạp, giúp cho việc phát triển các phương pháp và phần mềm tính toán hóa học lượng tử Áp dụng các phương pháp và phần mềm này để tính toán không những cho biết các tham số về cấu trúc, về các loại năng lượng, bề mặt thế năng, cơ chế phản ứng, các thông số nhiệt động lực học… mà còn cho chúng ta biết các thông tin về phổ hồng ngoại, phổ khối lượng, phổ UV-VIS Nhờ vậy các phương pháp hóa học lượng

tử và các phần mềm tính toán trở thành công cụ đắc lực trong việc nghiên cứu, khảo

Trang 9

sát các cấu trúc phân tử, cơ chế của rất nhiều phản ứng hóa học trong các điều kiện khác nhau mà đôi khi thực nghiệm rất khó thực hiện hoặc không thể thực hiện được

Với tất cả những lí do trên, chúng tôi chọn đề tài: “Nghiên cứu lý thuyết cấu trúc, tính chất của một số cluster kim loại và lưỡng kim loại paladi bằng phương pháp hóa học lượng tử”

II MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

Áp dụng phương pháp tính toán hóa lượng tử để nghiên cứu cấu trúc bền và tính chất của một số cluster kim loại và lưỡng kim loại paladi

Với các kết quả nghiên cứu, chúng tôi hi vọng các thông số thu được có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các nguyên cứu lý thuyết tiếp theo, đồng thời định hướng cho các nghiên cứu hóa học thực nghiệm

III NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu lí thuyết bằng cách tính toán các tham số cấu trúc đưa vào (input)

hệ thống sử lý cho ra kết quả (output)

Nghiên cứu cơ sở lý thuyết về hóa học lượng tử và các phần mềm tính toán được sử dụng trong hóa học lượng tử như Gaussian 09, Gaussview, ChemCraft, ChemOffice…

Sưu tầm và đọc các bài báo, các tài liệu về các hợp cluster kim loại chuyển tiếp, đặc biệt về cluster kim loại Pdn

Chọn phương pháp tính toán tốt nhất để khảo sát hệ nghiên cứu Sử dụng phương pháp đã chọn để tối ưu hóa cấu trúc, tính năng lượng điểm đơn, năng lượng điểm không, năng lượng HOMO, LUMO, mức chênh lệch năng lượng LUMO-HOMO (band gap), phổ UV-Vis, của các cluster kim loại Pdn… để tìm ra cấu trúc bền và khả năng bán dẫn

IV ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu lý thuyết bằng cách sử dụng phương pháp như phiếm hàm mật độ như B3LYP, B3PW91, BP86, PBE1…, phương pháp phiếm hàm mật độ phụ thuộc thời gian (TD-DFT), phần mềm tính toán hóa học lượng tử Gaussian 09 và các phần mềm hỗ trợ như gaussview 5.0, chemcraft,…để tính toán các tham số cấu trúc, các loại năng lượng để tìm ra cấu trúc bền khảo sát một số tính chất của các cluster kim loại paladi Pdn với n=2-8 và các cluster lưỡng kim loại của paladi Pdn-1M với M=Co, Au và

n=2-4

Trang 10

V PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Để nghiên cứu cấu trúc và tính chất của các cluster kim loại và lưỡng kim loại paladi bằng phương pháp hóa học lượng tử, chúng tôi đã sử dụng phần mềm Gaussian

09 kết hợp với một số phần mềm hóa học hỗ trợ khác như Gaussview, ChemCraft, ChemOffice…

Lựa chọn phương pháp và bộ hàm cơ sở phù hợp để tối ưu hóa cấu trúc, tính các tần số dao động và các loại năng lượng như năng lượng điểm đơn, năng lượng dao động điểm không, năng lượng tổng, năng lượng tương đối, năng lượng liên kết Pd-Pd, năng lượng liên kết trung bình, năng lượng HOMO, LUMO, mức chênh lệch năng lượng LUMO-HOMO, phổ UV-VIS, … của các hệ chất nghiên cứu Cuối cùng chúng tôi sử dụng kết quả tính được ở mức độ tốt nhất để công bố kết quả

Trang 11

NỘI DUNG CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1.1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT HÓA HỌC LƯỢNG TỬ [1, 3, 7, 7, 16, 18, 18]

1.1.1 Phương trình Schrodinger ở trạng thái dừng

Hầu hết các hệ lượng tử đều được khảo sát ở trạng thái dừng, trạng thái mà tại

đó năng lượng của hệ không biến đổi theo thời gian mà chỉ biến đổi theo tọa độ Mục đích chính của hóa học lượng tử là tìm lời giải của phương trình Schrodinger ở trạng thái dừng đó

) ( )

(

ˆ r E r

Trong đó: là toán tử Hamilton

E là năng lượng toàn phần của hệ

 là hàm sóng toàn phần mô tả trạng thái của hệ

Hàm sóng  là hàm liên tục, xác định, đơn trị, khả vi, nói chung là phức và thỏa mãn điều kiện chuẩn hóa:

*d = 2

Nhiệm vụ đặt ra là phải thiết lập và giải phương trình hàm riêng, trị riêng (I.1)

sẽ thu được hai nghiệm là  và E, từ đó cho phép rút ra được tất cả các thông tin khác

về hệ lượng tử Như vậy, khi xét hệ lượng tử ở một trạng thái nào đó thì điều quan trọng là phải giải được phương trình Schrodinger ở trạng thái đó

Đối với hệ (nguyên tử, phân tử hay ion) có N electron và M hạt nhân, bài toán tổng quát là hàm sóng electron toàn phần  và năng lượng electron toàn phần E tương ứng Trên cơ sở đó xác định các thông số cấu trúc, nhiệt động, động hóa học… của hệ

1.1.2 Phương trình Schrodinger cho hệ nhiều electron

q

p pq

N

p M

p

M p

N

Z Z r

r

Z M

H

1 1

1 1 2

1 2

1

12

12

Trang 12

rpq là khoảng cách giữa hai electron p và q

Rα  là khoảng cách giữa hai hạt nhân α và 

rpα là khoảng cách giữa electron p và hạt nhân α

2

là toán tử Laplace có dạng:

2 2 2 2 2

2 2

z y

Mα là tỉ số khối lượng của một hạt nhân α với khối lượng của một electron

Số hạng thứ nhất là toán tử động năng của electron

Số hạng thứ hai là toán tử động năng của hạt nhân

Số hạng thứ ba là toán tử thế năng tương tác hút giữa các electron với hạt nhân

Số hạng thứ tư và số hạng thứ năm là toán tử thế năng tương tác đẩy giữa các electron

và giữa các hạt nhân tương ứng

Trên thực tế, người ta chỉ có thể giải chính xác phương trình đối với hệ 1 electron và 1 hạt nhân (bài toán nguyên tử hiđro và những ion giống hiđro) Đối với hệ nhiều electron, ngoài sự tương tác giữa electron với hạt nhân còn có sự tương tác giữa các electron với nhau Trạng thái của hệ phải được mô tả bởi những hàm sóng phụ thuộc tọa độ của tất cả electron trong hệ Việc giải phương trình Schrödinger đối với các hệ này là rất phức tạp nên thường được tiến hành giải gần đúng dựa trên các mô hình phù hợp sẽ được đề cập ở các phần tiếp theo

Sự gần đúng Born – Oppenheimer: Vì các hạt nhân nặng hơn electron hàng ngàn lần nên chuyển động rất chậm so với electron Do đó, một cách gần đúng, có thể coi hạt nhân là đứng yên so với electron, sự phân bố của electron không phụ thuộc vào vận tốc hạt nhân mà phụ thuộc vào vị trí của hạt nhân

Vì sự gần đúng này, số hạng thứ hai của (I.3) – động năng của hạt nhân có thể

bỏ qua và số hạng thứ năm – tương tác đẩy giữa các hạt nhân được coi là hằng số Toán tử Hamilton của cả hệ trở thành toán tử Hamilton của các electron ứng với năng lượng electron toàn phần Eel

p

q pq

N

p M

p

N

Z H

1

1 1 1

2

Trang 13

minh rpq Do đó, biểu thức của toán tử Hamilton cho hệ nhiều electron là không tường minh và không thể giải được chính xác phương trình Schrodinger

Trong trường hợp chung, bài toán chỉ có thể giải gần đúng theo khuôn khổ mô hình hạt độc lập, bằng cách sử dụng trường thế 1 electron thích hợp thay cho những số hạng

q

p pq

core el

r p

H H

1

1)

)(ˆ)(ˆ

V là thế năng hiệu dụng của 1 electron

Khi đó, phương trình: HˆelelE elel (I.8)

p

core

E p

V p

1.1.2.2 Hàm sóng của hệ nhiều electron

Obitan được hiểu như là một hàm sóng cho một electron Một obitan không gian i (r) là một hàm của vectơ vị trí r

mô tả chuyển động không gian của một electron Để mô tả đầy đủ chuyển động một electron, cần phải xác định đầy đủ spin của nó Một tập hợp đầy đủ mô tả đầy đủ spin của một electron bao gồm hai hàm trực chuẩn α(ω) và (ω), nghĩa là spin lên và spin xuống Hàm sóng mô tả cả phân bố

Trang 14

không gian và spin của electron là obitan spin ( X )

 Từ một obitan không gian i (r),

có thể tạo hai obitan spin tương ứng với spin lên và xuống bằng cách nhân obitan không gian với các hàm spin α và :

)()

()

X  i r hoặc (X)i(r).() (I.13) Hàm sóng thích hợp mô tả một electron là obitan spin Với hệ N electron ta có:

2()

1(

)()

2()

1(

)()

2()

1()( 1/2

N

N N

N

k k

k

j j

j

i i

Để thuận tiện người ta thường viết định thức Slater đã chuẩn hóa bằng cách chỉ đưa ra các phần tử nằm trên đường chéo chính của định thức:

el = χi(1).χj(2)…χk(N) (I.16) Với quy ước đã có mặt hệ số chuẩn hóa (N!)-1/2 Nếu chúng ta luôn chọn các nhãn electron theo thứ tự 1, 2, 3,…, N thì định thức Slater còn được viết ngắn gọn hơn:

Đối với hệ có vỏ electron không kín, hàm sóng của hệ là tổ hợp tuyến tính của nhiều định thức Slater

Trang 15

1.1.2.3 Phương trình Schrodinger của hệ nhiều electron

Phương trình Schrodinger của hệ có dạng:

el el el

[

1 )

- Phương pháp tính lý thuyết (ab-initio): giải (I.18) hoàn toàn dựa trên lý thuyết

- Phương pháp tính bán kinh nghiệm: giải (I.18) có dùng tham số kinh nghiệm thay cho một số tích phân

1.1.3 Cấu hình electron và bộ hàm cơ sở

1.1.3.1 Cấu hình electron

* Cấu hình electron cho biết sự phân bố electron trong hệ lượng tử, việc xác định cấu hình có ý nghĩa quan trọng vì nó liên quan đến việc chọn phương pháp tính thích hợp Gồm có:

* Cấu hình vỏ đóng (Closed shell): Hệ có 2n electron chiếm n orbital không gian

* Cấu hình vỏ mở (Opened shell): Hệ có 2n+1 electron, trong đó 2n electron chiếm n orbital không gian, một electron còn lại chiếm orbital thứ n+1

* Cấu hình hạn chế (Restricted): Là cấu hình mà một hàm không gian được sử dụng chung cho hai hàm spin α và hàm spin β khi có 2 electron ghép đôi Các electron độc thân (nếu có) thuộc về các hàm không gian khác nhau Như vậy, chỉ các MO bị chiếm bởi các electron không ghép đôi mới được xử lý riêng biệt Phương pháp Hartree-Fock với cấu hình này có thể là RHF (với cấu hình vỏ đóng) hoặc ROHF (với cấu hình vỏ mở và trạng thái kích thích)

* Cấu hình không hạn chế (Unrestricted): Là cấu hình mà các hàm spin α và β thuộc hai hàm không gian khác nhau, nghĩa là không suy biến năng lượng Tất cả các

Trang 16

electron đều được xử lí ở các orbital không gian riêng biệt Cấu hình này có thể sử dụng với hệ có 2n hoặc 2n+1 electron ở các dạng vỏ đóng, mở và trạng thái kích thích Phương pháp Hartree-Fock với cấu hình này phải là UHF, phương pháp này cho kết quả tốt trong trường hợp hệ là gốc, ion

1.1.3.2 Bộ hàm cơ sở

Để giải phương trình Schrodinger cho phân tử, người ta thực hiện phép gần đúng đưa obitan phân tử i về dạng tổ hợp tuyến tính của các obitan nguyên tử :

i = C1i1 + C2i2 + … + Cnin (I.19) Trong đó: Ci là hệ số tổ hợp,  là các AO cơ sở

Biểu thức (I.19) được gọi là biểu thức tổ hợp tuyến tính các obitan nguyên tử (Linear Conbination of Atomic Orbital – LCAO) Tập các AO {} được gọi là bộ hàm cơ sở được sử dụng trong hóa lượng tử Về nguyên tắc, số AO tham gia tổ hợp càng lớn thì sự gần đúng càng tốt, tuy nhiên việc tính toán gặp khó khăn Bộ hàm cơ

+ AO kiểu Slater STO: STO S r R A

e

C  

Trong đó: r là vectơ tọa độ obitan

RA là tọa độ hạt nhân nguyên tử A

CS, CG là các hệ số, bao gồm cả phần góc

, α là hệ số mũ của các hàm STO và GTO tương ứng

Trang 17

Mỗi loại AO đều có những ưu, nhược điểm riêng Hàm STO gần đúng hơn hàm Gauss về các đặc trưng định tính của obitan phân tử i Tuy nhiên, lại gặp nhiều khó khăn khi tính toán vì số lượng tích phân 2 electron phải tính hơi nhiều Trong khi đó, dùng hàm GTO thì việc tính tích phân 2 electron dễ dàng hơn, nhưng lại kém chính xác hơn Vì vậy, trong thực tế, thay cho việc sử dụng trực tiếp các STO và GTO, người

ta có hai cách khác nhau để bộ hàm cơ sở tốt hơn:

- Làm khớp một hàm STO với một tổ hợp tuyến tính các hàm Gauss thu được các hàm cơ sở kiểu STO – nG (n>1)

- Tổ hợp tuyến tính các hàm Gauss ban đầu, ta được bộ hàm Gauss rút gọn CGF (Constracted Gaussian Functions)

] (

[ )

d R

1.2 CÁC PHƯƠNG PHÁP TÍNH TOÁN HÓA HỌC [7, 18]

* Các phương pháp bán kinh nghiệm: Sử dụng các tham số rút ra từ thực

nghiệm để thay thế cho các tích phân trong quá trình giải phương trình Schrodinger

Do đó, các phép tính đơn giản hơn, tiết kiệm hơn và vẫn đạt được độ chính xác trong phạm vi cho phép Vì vậy, các phương pháp bán kinh nghiệm vẫn được dùng rộng rãi trong các nghiên cứu hóa học lượng tử, đặc biệt đối với những hệ lớn Trong nhóm phương pháp này có các phương pháp: Huckel mở rộng, phương pháp NDDO, CNDO, INDO, MINDO…

* Các phương pháp gần đúng lí thuyết (phương pháp ab-initio): Có thể chia

các phương pháp ab-initio thành hai nhóm:

- Phương pháp obitan phân tử (Molecular Orbital: MO): Giải phương trình Schrodinger dựa trên cơ sở các hàm sóng obitan phân tử Bao gồm:

Trang 18

+ Phương pháp trường tử hợp Hartree-Fock (HF)

+ Phương pháp hậu Hartree-Fock (Post-HF): Phương pháp nhiễu loạn (MPn), phương pháp tương tác cấu hình (CI), phương pháp tương tác chùm Coupled Cluster (CC)…

- Phương pháp phiếm hàm mật độ (DFT): Giải phương trình Schrodinger dựa trên cơ sở các hàm mật độ electron

1.2.1 Phương pháp Hartree – Fock

Hartree đã xây dựng phương pháp trường tự hợp (Self Consistent Field) xuất phát từ quan niệm về trường thế hiệu dụng trung bình đối với mỗi electron được hợp bởi thế hút của hạt nhân và thế đẩy trung bình hóa do tất cả các electron khác sinh ra

Hàm sóng phản đối xứng đơn giản nhất được sử dụng để mô tả trạng thái cơ bản của một hệ N electron là định thức Slater đơn

aN a a

j ij

N

i

core i N

i i

r H

H H

1 1

) 1

)

1 )

j r ij

H

1 2

j i

ij ij

H

Trong đó: H iii Hˆ(core1) i i(1)Hˆ(core1) i( 1 )d1 (I.29)

Hii là tích phân một electron, biểu diễn năng lượng của một electron trong trường lực hạt nhân trần (không có mặt của electron khác)

Trang 19

2 1 12

*

*

) 2 ( ) 1 (

1 ) 2 ( ) 1

r ij

ij

Jij là tích phân Culông, biểu diễn năng lượng đẩy giữa hai electron (1) và (2) khi hai electron này phân bố ở các obitan i, j khác nhau Sự đẩy này làm tăng năng lượng của hệ

2 1 12

*

*

) 2 ( ) 1 (

1 ) 2 ( ) 1

r ij

j i

ij ij n

i n

j i

ij ij n

1.2.2.1 Mô hình Thomas – Fermi

Năm 1927, Thomas và Fermi chỉ ra sự tồn tại của một phiếm hàm năng lượng

và tìm ra một biểu thức năng lượng Thomas – Fermi cho nguyên tử dựa trên mật độ electron là:

2 1 2 1 3

/ 5 3 / 2

2

1)()

()

3(10

3][

r r

r r dr dr r

R

r dr Z dr r

E TF      

(I.53)

Trong đó, Z là điện tích của hạt nhân, R là vectơ tọa độ của hạt nhân, r là vectơ tọa độ electron Phương trình này chỉ dùng cho nguyên tử (có một hạt nhân) Mô hình Thomas – Fermi quá đơn giản, không dùng được cho phân tử, độ chính xác khi dùng

Trang 20

cho các nguyên tử cũng không cao, chỉ nghiệm đúng trong một số ít trường hợp (coi electron là các hạt độc lập)

1.2.2.2 Các định lí Hohenberg – Kohn

Hohenberg và Kohn đã đưa ra những định lí cơ bản để chỉ ra rằng trạng thái cơ bản trong mô hình Thomas – Fermi có thể được xem như một sự xấp xỉ đối với một lý thuyết chính xác – lý thuyết phiếm hàm mật độ Họ đã chỉ ra rằng một hệ lượng tử N electron chuyển động trong một trường thế ngoài V(r) ứng với toán tử Halmiton có một trị riêng năng lượng và hàm sóng ở trạng thái cơ bản được xác định hoàn toàn bằng cách tối thiểu hóa năng lượng toàn phần như một phiếm hàm của hàm sóng

- Định lí 1: Mật độ electron (r ) xác định thế ngoài V ext (r)

, hàm sóng (r )

cũng như các tính chất khác của hệ ở trạng thái cơ bản

Định lí này cho thấy (r ) xác định năng lượng toàn phần của hệ theo biểu thức:

( [ )]

(

Trong đó, F[(r )] là phiếm hàm Hohenberg-Kohn

- Định lí 2: Đối với một ma trận mật độ thử (r ) sao cho ma trận mật độ thử

đó là không âm và (r)d rN thì ta có năng lượng:

)]

([

r d

ở trạng thái cơ bản, điều này được áp dụng khi xây dựng các phương trình Kohn-Sham

1.2.2.3 Các phương trình Kohn – Sham

Kohn và Sham chia phiếm hàm F[(r )] thành 3 phần khác nhau, theo đó (I.48) được viết lại là:

R r r

T

r

) ( ) ( )]

( [ )

( ) ( 2

1 )]

( [

1 )]

Trang 21

+ Số hạng cuối biểu thị năng lƣợng hút giữa hạt nhân và electron.

Đặt: G r E r   rd r

) ( )]

( [ )]

(

Trong đó,  là thừa số bất định Lagrange

Áp dụng định lí Hohenberg-Kohn thứ hai, theo nguyên lí biến phân với phiếm hàm G Tại điểm dừng, ta có: [ [ ( )] ( ) ] 0

) ( E r   r d r

r d

) ( ) ( )]

( [ )

d R d R r

R r

V r T r

d

d

xc ext

) ( ) ( )

r d

d R d R r

R r

V r

( 2



r r

V eff i i i

) ( )]

( [ )]

( [   

Trang 22

Trong đó: + Ex(HF) là phần trao đổi Hartree-Fock

+ Ex(LSDA) là phần trao đổi trong phương pháp gần đúng mật độ spin địa phương

+ Ex(B88) là phần hiệu chỉnh gradient của hàm trao đổi Becke 88

+ Ec(LYP) là hàm tương đối của Lee, Yang và Parr

+ Ec(VWN) là hàm tương đối của Vosko, Wilk, Nusiar

1.3 CẤU TRÚC VÙNG NĂNG LƯỢNG TRONG CHẤT BÁN DẪN

Tính chất dẫn điện của các vật liệu rắn được giải thích nhờ lý thuyết vùng năng lượng Mô hình vùng năng lượng trong chất bán dẫn đưa ra một quan điểm rõ ràng hơn

về quá trình phát sinh cặp electron - lỗ trống và sự điều chỉnh nồng độ các hạt tải điện bằng các tạp chất Người ta chia ra làm 3 vùng là: vùng hóa trị, vùng dẫn và vùng cấm

Hình 1 1 Mô hình vùng năng lượng trong chất bán dẫn

Trang 23

- Vùng hóa trị là vùng có năng lượng thấp nhất theo thang năng lượng, là vùng

mà electron điện tử bị liên kết mạnh với nguyên tử và không linh động

- Vùng dẫn là vùng có năng lượng cao nhất, là vùng mà các electron sẽ linh động như các electron tự do và electron ở vùng này sẽ là electron dẫn, nghĩa là chất có khả năng dẫn điện khi có các electron tồn tại trên vùng dẫn Tính dẫn điện tăng khi mật độ electron trên vùng dẫn tăng

- Vùng cấm là vùng nằm giữa vùng hóa trị và vùng dẫn, không có mức năng lượng nào, do đó electron không thể tồn tại trên vùng cấm Nếu bán dẫn pha tạp có thể xuất hiện các mức năng lượng trong vùng cấm (mức pha tạp) Khoảng cách giữa đáy vùng dẫn và đỉnh vùng hóa trị gọi là độ rộng vùng cấm hay năng lượng vùng cấm Tùy theo độ rộng vùng cấm lớn hay nhỏ mag chất có thể là dẫn điện hoặc không dẫn điện

Như vậy, tính chất của chất bán dẫn có thể lý giải một cách đơn giản nhờ lý thuyết vùng năng lượng như sau: Các chất bán dẫn có vùng cấm có một độ rộng xác định Ở không độ tuyệt đối (0 ⁰ K), mức Fermi nằm giữa vùng cấm, có nghĩa là tất cả các điện tử tồn tại ở vùng hóa trị, do đó chất bán dẫn không dẫn điện Khi tăng dần nhiệt độ, các điện tử sẽ nhận được năng lượng nhiệt (kB.T với kB là hằng số Boltzmann) nhưng năng lượng này chưa đủ để điện tử vượt qua vùng cấm nên điện tử vẫn ở vùng hóa trị Khi tăng nhiệt độ đến mức đủ cao, sẽ có một số điện tử nhận được năng lượng lớn hơn năng lượng vùng cấm và nó sẽ nhảy lên vùng dẫn và chất rắn trở thành dẫn điện Khi nhiệt độ càng tăng lên, mật độ điện tử trên vùng dẫn sẽ càng tăng lên, do đó, tính dẫn điện của chất bán dẫn tăng dần theo nhiệt độ (hay điện trở suất giảm dần theo nhiệt độ)

Ngoài ra, tính dẫn của chất bán dẫn có thể thay đổi nhờ các kích thích năng lượng khác, ví dụ như ánh sáng Khi chiếu sáng, các điện tử sẽ hấp thụ năng lượng

từ photon, và có thể nhảy lên vùng dẫn nếu năng lượng đủ lớn Đây chính là nguyên nhân dẫn đến sự thay đổi về tính chất của chất bán dẫn dưới tác dụng của ánh sáng (quang-bán dẫn)

1.4 ĐẠI CƯƠNG VỀ PHỔ TỬ NGOẠI – KHẢ KIẾN (UV – Vis) [2]

Cơ sở các phương pháp phổ là quá trình tương tác các bức xạ điện từ đối với các phân tử vật chất Khi tương tác với các bức xạ điện từ, các phân tử có cấu trúc khác nhau sẽ hấp thụ và phát xạ năng lượng khác nhau Kết quả của sự hấp thụ và phát xạ năng lượng này chính là phổ, từ phổ chúng ta có thể xác định ngược lại cấu trúc phân tử

Trang 24

* Bước chuyển dời năng lượng

Ở điều kiện bình thường, các electron trong phân tử nằm ở trạng thái cơ bản, khi có ánh sáng kích thích với tần số  thích hợp thì các electron này sẽ hấp thụ năng lượng và chuyển lên các trạng thái kích thích có mức năng lượng cao hơn Theo cơ học lượng tử, ở trạng thái cơ bản các electron được sắp đầy vào các obitan liên kết ,  hay

n có mức năng lượng thấp, khi bị kích thích sẽ chuyển lên các mức năng lượng cao hơn:  *

,  *

và n  *

, * Hiệu số mức năng lượng giữa hai obitan chính là năng lượng hấp thụ từ nguồn sáng kích thích bên ngoài

Hình 1 2 Sơ đồ bước chuyển năng lượng của các electron

Bước chuyển dời năng lượng  (nm) Năng lượng kích thích (E, Kcal/mol)

Trang 25

Thông thường trong quá trình kích thích electron có kèm theo quá trình quay và dao động của phân tử, do đó năng lượng chung của hệ phân tử bằng tổng năng lượng của các quá trình trên:

E = Eq + Ed + Ee

Trong đó: Ee là năng lượng kích thích electron

Ed là năng lượng dao động của các nguyên tử

Eq là năng lượng quay

Bước nhảy năng lượng đối với sự kích thích electron lớn hơn bước nhảy năng lượng đối với sự dao động và lớn hơn bước nhảy năng lượng ứng với sự quay phân tử:

Ee > Ed > Eq

Trang 26

CHƯƠNG II TỔNG QUAN VỀ HỆ CHẤT NGHIÊN CỨU

2.1 HỆ CHẤT NGHIÊN CỨU [12, 13, 19, 20, 21, 25, 26, 28]

2.1.1 Cluster kim loại

Trong hóa học, cluster được định nghĩa là một tập hợp các nguyên tử liên kết với nhau và có kích cỡ nm hoặc nhỏ hơn Ví dụ, các nguyên tử cacbon và Bo hình thành nên các dạng cluster fulleren và boran Thuật ngữ này đã được F.A Cotton sử dụng vào những năm đầu thập kỉ 60 của thế kỉ trước khi nói đến các hợp chất hai nhân gồm hai nguyên tử kim loại, trong đó mỗi nguyên tử kim loại được bao quanh bởi các phối tử Một loại cluster khác là các hợp chất đa nhân được cấu tạo từ hai hay nhiều nguyên tử kim loại liên kết trực tiếp và hình thành những liên kết bền vững mà không

có các phối tử

Những nghiên cứu về các cluster kim loại đã và đang phát triển không ngừng trong cả lĩnh vực học thuật và công nghiệp từ cuối những năm 1970 cho đến nay Trong thời đại kích thước các thiết bị điện tử ngày càng thu nhỏ lại thì việc nghiên cứu cấu trúc và các tính chất khác biệt của các vật liệu có kích thước nm ngày càng thu hút

sự quan tâm của các nhà khoa học Trong lĩnh vực này, lý thuyết về cấu trúc nguyên tử

và cấu trúc electron của các cluster đã cung cấp những định hướng cơ bản cho việc tạo

ra các vật liệu nano mới được ứng dụng trong công nghệ hiên đại và tương lai Trong một bài báo gần đây, Loth và các đồng nghiệp đã chỉ ra các cấu trúc nano nghịch từ được cấu tạo hai hàng với 6 nguyên tử Fe có thể thành thế hệ mới của các con chip nhớ và các loại ổ đĩa Những thiết bị có sử dụng từ những hạt nano như thế sẽ không những có khả năng lưu trữ cao hơn hơn, linh hoạt hơn mà còn tiết kiệm năng lượng hơn các thiết bị sử dụng silicon hiện nay Hiện nay, hầu hết các hệ thống lưu trữ từ phổ biến vẫn phải dùng hàng triệu nguyên tử để lưu trữ các tín hiệu số 1 hoặc 0

Các phân tử và hợp chất có kích thước nano cũng mở ra những cơ hội tiềm năng cho các ứng dụng trong các lĩnh vực hóa học chất keo, y học, và đặc biệt là trong xúc tác Do có nhiều trạng thái oxy hóa nên các kim loại chuyển tiếp được xem như là vật liệu hoàn hảo cho quá trình xúc tác vì chúng có thể dễ dàng cho và nhận electron trong các quá trình chuyển hóa hóa học Trong thời gian gần đây, các cluster có kích thước bé của các kim loại chuyển tiếp thu hút đáng kể sự chú ý trong việc tìm kiếm lựa chọn các vật liệu có triển vọng thay thế cho các vật liệu xúc tác hiện nay Các chất xúc tác nano này sẽ cải thiện hoạt tính, độ chọn lọc và khả năng thu hồi so với các chất xúc

Trang 27

tác truyền thống Sở dĩ các phân tử nano có hoạt tính xúc tác cao bởi lẽ chúng sỡ hữu những tính chất khác biệt xuất phát từ cấu trúc nano, đó là (i) hệ số thể tích và bề mặt lớn, (ii) nhiều tâm phản ứng và hấp thụ hoạt động, (iii) số phối trí đa dạng và (iv) khả năng chuyển đổi và sắp xếp lại các nguyên tử dễ dàng để tạo điều kiện cho việc hình thành và phá vỡ liên kết hóa học

Cho đến gần đây, việc tìm kiếm các cấu trúc cluster kim loại đặc biệt là của các kim loại chuyển tiếp đang đặt ra những thách thức cho cả những nhà nghiên cứu thực nghiệm và lý thuyết Trên thực tế, nhờ sử dụng các kĩ thuật phổ hiện đại, số lượng các quan sát thực nghiệm thu được ngày càng nhiều, và do đó các tính toán lý thuyết cần được thực hiện để giải thích cho các kết quả thu được này Tuy nhiên, vẫn chưa có hệ thống các quy tắc để có thể giúp chúng ta dự đoán các cấu trúc bền của các cluster kim loại ở trong các phân tử và các chất rắn Hơn nữa, chúng ta vẫn tương đối ít biết về mối quan hệ phức tạp và tinh vi giữa cấu trúc, electron và nguyên tử với độ bền và khả năng phản ứng của hợp chất Nói chung, chúng ta chỉ có thể mong đợi rằng các đặc tính vật lý và hóa học của các cluster nhỏ và vừa (không chứa quá vài trăm nguyên tử,

có đường kính từ 1-3 nm) phụ thuộc mạnh mẽ vào kích thước và hình dạng của chúng,

và những đặc tính này sẽ hoàn toàn khác biệt so với các nguyên tử kim loại và tinh thể kim loại So với vật liệu rời, cluster có số lượng nguyên tử trên bề mặt nhiều hơn do đó chúng có nhiều đặc tính khác biệt hơn do có hiện tượng cộng hưởng bề mặt Ví dụ, trái với đặc thù tính trơ của kim loại vàng ở dạng khối, các hạt nano vàng hay vàng ở dạng bột mịn được phân tán trên các bề mặt oxit kim loại lại có khả năng hoạt động xúc tác độc đáo cho các phản ứng ở pha khí như quá trình oxy hóa CO, epoxy propilen, khử

NO, tổng hợp methanol …

Đến đầu những năm 1980, kích cỡ các cluster được nghiên cứu kỹ là khá nhỏ, chỉ chứa tối đa khoảng 12 nguyên tử, còn những phân tử lớn hơn thì được cho là cơ bản giống với dạng khối và bề mặt của chúng có các điện tử được phân tán một cách ngẫu nhiên Tuy nhiên, quan niệm này đã được thay đổi kể từ khi Knight và các cộng

sự đã điều chế và phát hiện ra các cluster kim loại kiềm có đến 100 nguyên tử Đối với các cluster kim loại Na tổng hợp được, các pic rộng trên phổ khối lượng tương ứng với

hệ thống chứa 8, 20, 40, 58, và 92 nguyên tử Hiện tượng này được giải thích dựa trên việc giải tỏa của các electron s ở lớp ngoài cùng Vì vậy, chúng được xem như là các hạt di chuyển xung quanh một thế giả có dạng hình cầu được tạo nên bởi các các

Trang 28

electron bên trong và các hạt nhân Trạng thái giải tỏa mạnh của các electron hóa trị đã làm nên những đặc trưng quan trọng cho các cluster kim loại: sự hình thành của vỏ điện tử và việc xuất hiện của hiệu ứng vỏ kín tương tự như đối với các nguyên tử tự

do Nói cách khác, cấu trúc electron của các cluster đã cho thấy mô hình thế giả đối xứng cầu được giả thiết cho các cluster kim loại là hợp lý Theo đó, các cluster có số lượng điện tử hóa trị phù hợp với vỏ hình cầu kín, như là 1S|1P|1D|2S|1F|2P| , được tổng hợp nhiều ngay sau đó, và được gọi là các cluster "ma thuật"

Hiệu ứng vỏ điện tử trong các cluster của các kim loại nhóm IB (Cu, Ag, Au) cũng tồn tại, tương tự như đối với các cluster kim loại kiềm vì các orbitan d của chúng

đã được bão hòa Nhiều tài liệu cũng đã tính toán được các cấu trúc có độ bền cao của các ion cluster Agn+, Cun+, Aun+ với n = 3, 9, 21, 35, 41, 59, trong khi các ion tích điện âm của chúng có nhiều cấu trúc khác thường khi n = 7, 19, 33, 39, 57 Bởi vì các cluster này ở trạng thái tích điện đơn, những cation và anion hầu như chứa 2, 8, 20, 34,

40, 58, electron, cũng được mô phỏng tương tự như các cấu trúc vỏ kín của cluster kim loại kiềm Bằng cách giả định rằng các electron đã điền đầy trên các obitan d được định vị và các electron s ngoài cùng thì linh động, các kết quả thực nghiệm thu được

có thể giải thích bằng cách sử dụng mô hình được áp dụng cho các cluster kim loại kiềm Vì thế, các cluster kim loại quý nhóm IB thường được xem giống như các cluster kim loại kiềm Tuy nhiên, có một vài sự khác biệt đáng chú ý giữa các nguyên

tố nhóm IB với kim loại kiềm được gây ra bởi lai hóa sp-d, và các hiệu ứng tương đối đặc biệt quan trọng đối với các nguyên tử nặng như vàng

Trong trường hợp đối với các cluster của các kim loại chuyển tiếp có phân lớp d chưa bão hòa, sự sắp xếp các nguyên tử có thể đóng một vai trò quan trọng hơn so với lớp vỏ electron, ngay cả với những cluster kích thước tương đối nhỏ Các cluster của các kim loại chuyển tiếp điển hình thường không thấy các hiệu ứng vỏ electron rõ ràng như đối với các cluster kim loại nhóm IB vì các electron trên các obitan d chưa bão hòa ít giải tỏa hơn so với các electron s và p Tuy nhiên, những electron d cũng đóng vai trò quan trọng trong quá trình hình thành liên kết hóa học và vì thế nó được dự đoán sẽ tạo ra những đặc tính khác biệt đối với các cluster Mô hình đơn giản của các hạt trong giếng thế hoặc "mô hình Jellium" dường như là chưa đủ để mô tả đối với hệ này Hơn nữa, các cluster kim loại khi tương tác với ánh sáng, chúng sẽ trải qua các chuyển mức năng lượng, hệ quả là xảy ra các hiện tượng hấp thụ, phát xạ ánh sáng và

Ngày đăng: 24/05/2018, 23:41

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w