1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thơ vịnh trong ức trai thi tập và quốc âm thi tập của nguyễn trãi

95 472 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 0,96 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với những lí do trên, chúng tôi lựa chọn đề tài: Thơ vịnh trong Ức Trai thi tập và Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi.. Bên cạnh việc nghiên cứu, phân tích các bài thơ cụ thể, nhiều công tr

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

VŨ THỊ HUÊ

THƠ VỊNH TRONG ỨC TRAI THI TẬP VÀ

QUỐC ÂM THI TẬP CỦA NGUYỄN TRÃI

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

HÀ NỘI, 2017

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

VŨ THỊ HUÊ

THƠ VỊNH TRONG ỨC TRAI THI TẬP VÀ

QUỐC ÂM THI TẬP CỦA NGUYỄN TRÃI

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Mã số: 60 22 01 21

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thị Tính

HÀ NỘI, 2017

Trang 3

Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban chủ nhiệm khoa Ngữ văn, đặc biệt là các thầy cô Tổ Văn học Việt Nam, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã giúp tôi hoàn thành khóa học vừa qua

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đối với TS Nguyễn Thị Tính – người đã nhiệt tình, tận tâm hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu

Xin chân thành cảm ơn cơ quan, gia đình và bạn bè đã giúp đỡ tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành luận văn

Hà Nội, tháng 11 năm 2017

Tác giả

Vũ Thị Huê

Trang 4

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và không trùng lặp với các đề tài

khác Các thông tin trích dẫn trong luận văn đã đƣợc chỉ rõ nguồn gốc

Hà Nội, tháng 11 năm 2017

Tác giả

Vũ Thị Huê

Trang 5

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu 2

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 5

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5

5 Phương pháp nghiên cứu 6

6 Dự kiến đóng góp của luận văn 6

7 Cấu trúc luận văn 6

NỘI DUNG 7

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 7

1.1 Khái lược về thơ vịnh 7

1.1.1 Khái niệm thơ vịnh 7

1.1.2 Nguồn gốc và đặc trưng của thơ vịnh 9

1.2 Khái quát về thơ vịnh trong văn học trung đại Việt Nam 10

1.3 Thơ vịnh trong Ức Trai thi tập và Quốc âm thi tập 12

1.3.1 Nguyễn Trãi với Ức Trai thi tập 12

1.3.2 Nguyễn Trãi với Quốc âm thi tập 13

Chương 2 NỘI DUNG THƠ VỊNH TRONG ỨC TRAI THI TẬP VÀ QUỐC ÂM THI TẬP 15

2.1 Những tương đồng về đề tài thơ vịnh trong Ức Trai thi tập và Quốc âm thi tập 15

2.1.1 Vịnh thiên nhiên 15

2.1.2 Vịnh vật 40

2.1.3 Vịnh con người 46

Trang 6

2.2.1 Tính suy tư, chiêm nghiệm, triết lí qua thơ vịnh Ức Trai thi

tập 53

2.2.2 Sự sôi nổi nhiệt thành chí, đạo và tình yêu cuộc sống qua thơ vịnh trong Quốc âm thi tập 57

Chương 3 HÌNH THỨC NGHỆ THUẬT THƠ VỊNH TRONG

ỨC TRAI THI TẬP VÀ QUỐC ÂM THI TẬP 59

3.1 Thể thơ 59

3.1.1 Thể thơ thất ngôn bát cú 60

3.1.2 Thể thơ thất ngôn tứ tuyệt 62

3.1.3 Thể thơ thất ngôn xen lục ngôn 64

3.2 Hình ảnh thơ 66

3.3 Lối ngụ ý, ẩn ngữ 70

3.4 Lối dùng điển tích, điển cố 72

KẾT LUẬN 79

BẢNG THỐNG KÊ 81

TÀI LIỆU THAM KHẢO 87

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Nguyễn Trãi là nhân vật kiệt xuất trong lịch sử dân tộc Thiên tài đó đã

để lại sự nghiệp lớn về nhiều mặt chúng ta còn phải tiếp tục tìm hiểu thêm mới có thể đánh giá đầy đủ, chính xác được Có thể khẳng định: Nguyễn Trãi

đã cắm cột mốc quan trọng đối với lịch sử văn học nước nhà Ông không chỉ

là nhà quân sự, chính trị lỗi lạc mà còn là nhà văn, nhà thơ đại tài Nghiên cứu

về Nguyễn Trãi chưa bao giờ là nhàm chán Đến nay, đã có rất nhiều công trình khoa học về những khía cạnh khác nhau song còn cần phải có nhiều công trình khoa học hơn nữa

Thơ vịnh là loại tác phẩm có số lượng khá lớn trong văn học trung đại Việt Nam Nhiều nhà thơ trung đại sáng tác thơ vịnh và đã thành công như Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Du, Hồ Xuan Hương, Thi nhân xưa lấy các sự vật làm đề tài ngâm vịnh, có khi chỉ vịnh chơi có khi để gửi gắm tâm tư, tình cảm kín đáo của mình Thơ vịnh là loại thơ dễ làm nhưng khó thành công Không phải bài thơ vịnh nào cũng là một tác phẩm văn chương đích thực Ở loại thơ này, giá trị nghệ thuật của các tác phẩm rất khác

xa nhau Không ít tác phẩm chỉ là những ẩn dụ của đạo đức phong kiến, ít tính thẩm mỹ, bên cạnh đó là những tác phẩm có tính thẩm mỹ cao, được đánh giá

là những tác phẩm nghệ thuật xuất sắc Tình hình đó càng đòi hỏi có sự nghiên cứu để xác định giá trị của loại thơ này

Nguyễn Trãi là cây cổ thụ trong nền văn học trung đại Việt Nam Ở mảng thơ vịnh, ông cũng đã đánh dấu được tên tuổi của mình với nhiều tác phẩm có giá trị lớn Nghiên cứu về Nguyễn Trãi là việc làm cần thiết trong giai đoạn lịch sử xã hội ngày nay để ta có thêm hiểu biết về tác giả nói chung, nhân cách con người ông nói riêng Đây là vấn đề hay trong việc nghiên cứu thơ ca Nguyễn Trãi để tìm hiểu thêm, có cái nhìn khái quát về thơ vịnh của ông đồng thời cung cấp hiểu biết, cách tiếp cận đối với thơ vịnh

Trang 8

Với những lí do trên, chúng tôi lựa chọn đề tài: Thơ vịnh trong Ức Trai

thi tập và Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi

2 Lịch sử nghiên cứu

Là một trong những tác gia tiêu biểu của văn học trung đại Việt Nam, thơ văn Nguyễn Trãi đã được nhiều nhà nghiên cứu tìm hiểu cụ thể, sâu sắc

Vấn đề thơ vịnh trong Quốc âm thi tập và Ức Trai thi tập cũng đã được bàn

tới trong không ít công trình nghiên cứu

Trước hết, phải nói rằng, rất nhiều bài thơ của Nguyễn Trãi đã được phân tích, bình giảng, tranh luận Từ những nghiên cứu, phê bình này, tính chất vịnh của các bài thơ đã được các tác giả làm sáng tỏ Hoa Bằng có bài:

Một bài thơ, một nhân cách, một tâm sự của “Người lịch sử” [24] Bùi Văn

Nguyên bình giảng Trúc [24] Bùi Hạnh Cẩn viết: Đọc lại mấy bài thơ chữ

Hán của Nguyễn Trãi [24] Đặc biệt là các bài thơ của Nguyễn Trãi được

đưa vào giảng dạy ở chương trình phổ thông các thời kỳ đã thu hút rất nhiều

nhà nghiên cứu bình luận, giảng giải Trần Đình Sử viết về bài Tùng , Bùi Văn Nguyên bàn bài Trúc, Xuân Diệu, Phạm Tú Châu, Nguyễn Đình Chú, Lã Nhâm Thìn cùng tìm hiểu Cây chuối, Lê Trí Viễn bình về Cảnh tình mùa hè

Các bài viết này đã đề cập đến tính chất vịnh của các bài thơ khá cụ thể, chi tiết, cho thấy nhiều lớp nghĩa ẩn từ những hình ảnh hiển ngôn của các bài thơ

Với Cảnh tình mùa hè, Lê Trí Viễn nhận thấy: “Có liên quan gì giữa cái rỗi

rảnh dài dài và niềm ước mong giàu đủ cho nhân dân khắp nơi? Chắc không ngoài cái tâm, cái chí một đời của ông nhà thơ: lo cho dân, cho nước nhưng

không được toại nguyện” [24, tr.543] Trần Đình Sử khẳng định Tùng là bài thơ ông thích nhất trong Quốc âm thi tập, “đằng sau hình ảnh ước lệ là một

trái tim phập phồng ước mơ và khổ đau với đời” [24, tr.563], “Cả bài thơ toát lên niềm tin mãnh liệt, không lay chuyển được của nhà thơ vào phẩm chất, giá trị của mình”, “chính tâm hồn của Nguyễn Trãi đã làm đổi mới hình tượng

Trang 9

cây tùng trong thơ xưa Cây tùng xưa lánh đời, cô ngạo Còn cây tùng của Nguyễn Trãi bất cứ tình huống nào vẫn hướng về cuộc đời, gắn bó và hữu ích cho đời” [24, tr.562-563] Lê Trí Viễn cũng khẳng định: cây tùng “có sự phân thân làm hai để tự mình ngẫm nghĩ về mình, tự mình vừa là chủ thể, vừa là khách thể để tự mình trò chuyện Hay đúng hơn, cái mình ngày nay tâm tình với cái mình về trước” [24, tr.254] Lã Nhâm Thìn khi phân tích ba bài thơ

Tùng của Nguyễn Trãi cũng đã khẳng định: “Viết bài Tùng, Nguyễn Trãi đã

khai thác đề tài thiên nhiên để thể hiện chủ đề phẩm chất kẻ sĩ quân tử đồng thời gửi gắm những tâm sự có tính chất cá nhân của tác giả” [29, tr.161] Nếu

ở bài Tùng, các tác giả đều nhận thấy sự hóa thân, khẳng định bản thân của Nguyễn Trãi, thì ở bài Cây chuối việc tìm ra nghĩa ẩn từ bút pháp vịnh của

Nguyễn Trãi có phong phú hơn Lã Nhâm Thìn nhận thấy bài thơ là “biểu tượng của sức trẻ và tình xuân” [29, tr.155] Nguyễn Đình Chú cũng khẳng định: “Bài thơ nói về cây chuối “tự bén hơi xuân” nhưng qua đó còn là nói về sức xuân, tình xuân, thậm chí còn là tình yêu nam nữ” [24, tr.570] Khác với

Lã Nhâm Thìn và Nguyễn Đình Chú, Phạm Tú Châu lại chứng minh rằng bài

thơ Cây chuối của Nguyễn Trãi mang ý vị Thiền [24, tr.573] Các bài thơ chữ Hán: Côn Sơn ca, Dục Thúy sơn trong Ức Trai thi tập cũng có nhiều lời

phẩm bình qua sự cảm nhận từ bút pháp vịnh của nhiều tác giả

Bên cạnh việc nghiên cứu, phân tích các bài thơ cụ thể, nhiều công trình nghiên cứu khái quát về các phương diện khác nhau của thơ ca Nguyễn

Trãi cũng đã ít nhiều nói đến vấn đề vịnh trong Ức Trai thi tập và Quốc âm

thi tập Chẳng hạn: Ức Trai thi tập và thơ chữ Hán đời Trần (Trần Thị Băng

Thanh), Anh hùng và cảm quan anh hùng qua thơ văn Nguyễn Trãi (Bùi Duy Tân), Mượn đá để ngồi (Hoàng Phủ Ngọc Tường), Quốc âm thi tập (Phạm Thế Ngũ), Nguyễn Trãi và đề tài thiên nhiên trong dòng văn học yêu nước

Việt Nam (Đặng Thanh Lê), Tình yêu thiên nhiên trong thơ Nguyễn Trãi (Mai

Trang 10

Trân), Cảm quan mùa xuân trong thơ Nôm Nguyễn Trãi (Nguyễn Hữu Sơn),

Con người cá nhân trong thơ Nôm Nguyễn Trãi (Trần Đình Sử) [24] Trần

Thị Băng Thanh viết: “Nguyễn Trãi miêu tả thiên nhiên cũng chính là để ca ngợi, tưởng nhớ các bậc anh hùng hào kiệt của đất nước; để suy tư về những vấn đề lớn lao của cuộc sống dân tộc; để phát biểu những liên tưởng mang ý nghĩa triết học về mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên, giữa cái đã qua,

đang qua và sắp tới quan hải, Bạch Đằng hải khẩu, Long Đại sơn, v.v là những bài thơ như vậy” [24, tr.426-427]

Về Quốc âm thi tập, Phạm Thế Ngũ cho rằng: “Có nhiều bài trong

Quốc âm thi tập đề tài là vịnh cảnh vật, cỏ cây, chim muông” nhằm thể hiện

“một quan niệm thưởng cảnh”, “cái thẩm mĩ quan của tác giả” [24, tr.645] Tuy nhiên, nhà nghiên cứu chưa khái quát về thơ vịnh của Nguyễn Trãi

Bên cạnh đó còn có một số công trình nghiên cứu về thơ vịnh như luận

án Tiến sĩ Thơ vịnh vật đời Đường của Đinh Thị Hương [9], luận văn tốt nghiệp của Đại học Vinh với đề tài: So sánh thơ vịnh vật trong Hồng Đức

quốc âm thi tập và thơ vịnh vật Hồ Xuân Hương [31], khóa luận tốt nghiệp

của Nguyễn Thị Hồng: Vịnh sử của Nguyễn Khuyến [8], khóa luận tốt nghiệp:

Các “nhân vật lịch sử” trong thơ chữ Hán của Nguyễn Du của Phạm Thị

Thùy [34],… Các công trình này có so sánh với một khía cạnh nào đó về thơ vịnh của Nguyễn Trãi

Nói chung, thơ vịnh của Nguyễn Trãi đã được bàn tới nhiều song chưa toàn diện, hệ thống Đi sâu vào đề tài nghiên cứu này, kế thừa những ý kiến đánh giá, những công trình nghiên cứu, phê bình, tiểu luận của những người

đi trước, coi đó là bước khám phá ban đầu có tính định hướng, chúng tôi

mạnh dạn đi vào đề tài “Thơ vịnh trong Ức Trai thi tập và Quốc âm thi tập

của Nguyễn Trãi” với hi vọng tìm hiểu các đề tài vịnh trong thơ chữ Hán và

chữ Nôm của Nguyễn Trãi một cách toàn diện, hệ thống, đồng thời thấy được

Trang 11

sự khác nhau của thơ vịnh trong Ức Trai thi tập và Quốc âm thi tập Từ đó hiểu thêm về tài năng, vẻ đẹp nhân cách trong con người của “Ức Trai tâm

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Mục đích của luận văn là tìm tòi, phát hiện… những đề tài vịnh trong

nội dung, nghệ thuật trong thơ vịnh của Nguyễn Trãi; so sánh thơ vịnh trong

Quốc âm thi tập và Ức Trai thi tập Qua đó, có cái nhìn sâu sắc về con người,

tư tưởng, tình cảm, thái độ và tài năng của nhà thơ

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Luận văn có nhiệm vụ chỉ ra những đề tài vịnh, khẳng định giá trị nội

dung, nghệ thuật của thơ vịnh trong Ức Trai thi tập và Quốc âm thi tập của

Nguyễn Trãi Luận văn đi sâu tìm hiểu vẻ đẹp nhân cách của Nguyễn Trãi thông qua các yếu tố vịnh

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Thơ vịnh trong Ức Trai thi tập và Quốc âm thi tập

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi nội dung: Để giải quyết những vấn đề mà bài viết đặt ra,

chúng tôi chỉ nghiên cứu hai tập thơ chữ Hán và chữ Nôm của Nguyễn Trãi là

Ức Trai thi tập và Quốc âm thi tập Trong đó tập trung vào những bài thơ

vịnh trong hai tập thơ này

- Phạm vi tư liệu: Nguyễn Trãi toàn tập (1976), Viện sử học, Nxb

Khoa học xã hội, Hà Nội

Trang 12

5 Phương pháp nghiên cứu

Qua quá trình tìm hiểu đề tài, khảo sát và chọn học liệu tiêu biểu từ các công trình nghiên cứu về Nguyễn Trãi, người viết vận dụng những phương pháp sau để giải quyết vấn đề:

6 Dự kiến đóng góp của luận văn

Trên cơ sở nghiên cứu thơ văn chữ Hán và chữ Nôm của Nguyễn Trãi,

luận văn bàn về thơ vịnh trong cuốn Quốc âm thi tập và Ức Trai thi tập

- Có cái nhìn toàn diện hệ thống về thơ vịnh trong thơ Nguyễn Trãi

- Chỉ rõ đặc điểm vịnh và so sánh thơ vịnh trong Quốc âm thi tập và Ức

Trai thi tập Luận văn khẳng định đóng góp to lớn của Nguyễn Trãi trong nền

văn học Việt Nam trung đại, đặc biệt về những đề tài vịnh của Nguyễn Trãi

- Làm cơ sở nghiên cứu, học tập, giảng dạy về thơ văn Nguyễn Trãi

7 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và danh mục Tài liệu tham khảo, nội

dung của luận văn được triển khai trong ba chương:

Chương 1 Những vấn đề chung có liên quan đến đề tài

Chương 2 Nội dung thơ vịnh trong Ức Trai thi tập và Quốc âm thi tập Chương 3 Hình thức nghệ thuật thơ vịnh trong Ức Trai thi tập và Quốc

âm thi tập

Trang 13

NỘI DUNG Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

1.1 Khái lược về thơ vịnh

1.1.1 Khái niệm thơ vịnh

Vịnh là một cách làm thơ của người xưa.Trong chữ vịnh 咏 có bộ khẩu (trong chữ phồn thể của chữ vịnh, bộ khẩu được thay bằng bộ ngôn 詠) ý nói vịnh gắn liền với việc ca, ngâm, đọc

Có nhiều loại thơ vịnh như: thơ vịnh vật, thơ vịnh cảnh, thơ vịnh sử,… Trong chữ Hán, vịnh có hai nét nghĩa chính là ngâm, vịnh, hát hoặc dùng thơ

từ để miêu tả bày tỏ tâm tư, tình cảm

Theo Từ điển Tiếng Việt: “Vịnh là làm thơ về phong cảnh hoặc sự vật

trước mắt (một lối thơ phổ biến thời trước)” [22, tr.914]

Từ điển Hán Việt của Đào Duy Anh giải thích vịnh là ngâm thơ, bài thơ

có ngụ ý [1, tr.518]

Từ điển Bách khoa định nghĩa: Vịnh là làm thơ với cảm hứng hưng phấn nhằm luận bàn hoặc miêu tả cảnh hoặc người Ngâm phong vịnh nguyệt, tức làm thơ về gió trăng lúc nhàn tản Vịnh còn là một thể loại thơ bàn về nhân vật lịch sử (vịnh sử) hoặc miêu tả các cảnh hay sự vật v v

Như vậy, vịnh vốn là phạm trù của thơ Chúng tôi khảo sát trong lịch sử văn học thì thấy vịnh thường chỉ có ở thơ chứ không xuất hiện trong các thể loại văn học khác Người đời sau trong các tài liệu nghiên cứu vẫn thường dùng từ “vịnh ngâm”, “ca vịnh” để chỉ thơ nói chung Vịnh cũng gắn liền với việc miêu tả nhưng đích hướng tới không phải là tả Vịnh thường bắt đầu bằng sự miêu tả Tuy nhiên, tả là nêu lên các đặc điểm của sự vật hiện tượng

để người đọc, người nghe hình dung được sự vật hiện tượng như nó đang tồn tại trước mắt

Trang 14

Ví dụ, Nguyễn Du tả Tú Bà:

Thoắt trông nhờn nhợt màu da,

Ăn gì cao lớn đẫy đà làm sao

Ví dụ bài thơ Tiến sĩ giấy, Nguyễn Khuyến đã mượn hình ông tiến sĩ

làm bằng giấy vốn là thứ đồ chơi quen thuộc của trẻ con thời xưa để bộc lộ cái nhìn về loại người hữu danh vô thực:

Cũng cờ cũng biển cũng cân đai, Cũng gọi ông nghè có kém ai

Mảnh giấy làm nên thân giáp bảng, Nét son điểm rõ mặt văn khôi

Tấm thân xiêm áo sao mà nhẹ, Cái giá khoa danh ấy mới hời

Ghế chéo lọng xanh ngồi bảnh chọe, Tưởng rằng đồ thật hóa đồ chơi

Như vậy, trong vịnh có tả, nhưng tả không phải là đích mà tác giả hướng tới Mục đích của tả là gợi lên đặc điểm của sự vật hiện tượng Còn mục đích của vịnh là một khía cạnh tinh thần tác giả muốn gửi gắm Cho nên vịnh luôn có tính tượng trưng

Với các khái niệm, các định nghĩa về thuật ngữ “thơ vịnh” như trên, có thể thấy, thơ vịnh là loại thơ lấy sự vật, sự việc, con người là trung tâm tác phẩm, thông qua việc miêu tả đối tượng ở những mặt, phương diện nào đó để thể hiện tâm tư, tình cảm, hoài bão, chí hướng, tư tưởng của nhà thơ

Trang 15

1.1.2 Nguồn gốc và đặc trưng của thơ vịnh

Thơ vịnh có nguồn gốc từ thơ ca Trung Quốc Trước khi có mặt ở Việt Nam, thơ vịnh đã có lịch sử lâu dài ở Trung Quốc Đối tượng của thơ vịnh là thế giới tự nhiên, những sự vật, những con người hoặc những sự kiện cả trong lịch sử hay đời sống hằng ngày Vì đối tượng rộng như vậy nên thơ vịnh chiếm số lượng lớn trong thơ ca trung đại Việt Nam nói chung, thơ Nguyễn Trãi nói riêng

Thơ vịnh khác thơ ca bình thường, nó luôn biểu lộ thái độ, tình cảm của nguời làm thơ trước đối tượng được đem ra làm khách thể Có thể nói, thơ vịnh là những áng văn chương nhằm xác định giá trị của đối tượng dưới góc

độ của một lý tuởng nào đó

Nguời làm thơ vịnh có thể bộc lộ thái độ khen chê, tán thưởng hay phê phán, tự hào, khâm phục…trước đối tượng được vịnh tùy theo góc nhìn nhận

Có thể từ góc nhìn đạo đức, góc nhìn dân tộc

Thơ vịnh có đối tượng là các sự vật, thiên nhiên, con người, thời thế,

Nó có thể là tùng trúc cúc mai, long ly quy phượng, hay đóa hồng, con kiến, con cóc, con muỗi, gió, mưa, sấm, chớp, trăng, sao Người ta thường căn cứ, dựa vào những đặc điểm, đặc tính tự nhiên nổi bật, dễ nhận thấy được đông đảo mọi người trong cộng đồng nào đó thừa nhận, nhân đặc điểm đó người ta gửi gắm một triết lý, tư tưởng, tình cảm nào đó

Thơ vịnh lấy đặc tính nổi bật của đối tượng được vịnh chỉ là chỗ dựa, là phương tiện, là một loại phù hiệu để thể hiện cho một tinh thần của chủ thể thẩm mỹ - tức người vịnh - thi nhân Những đặc tính của đối tượng là cái cớ không thể thiếu để triển khai tư tưởng, bày tỏ tình cảm, triết lý Do vậy có thể

hiểu: Thơ vịnh dùng sự vật, sự việc, con người,… làm đối tượng trung tâm

của tác phẩm để thông qua những đặc điểm, tính chất, hành trạng, việc làm,… của đối tượng mà gửi gắm nỗi niềm Thơ vịnh phản ánh tâm trạng, mang đậm dấu ấn cá nhân nhưng cũng đi theo thị hiếu thẩm mỹ của thời đại

Trang 16

Do chỗ mượn đối tượng là tự nhiên, vạn vật, con người,…để nói chí,

để triết lý, trữ tình, thơ vịnh một cách tự nhiên luôn hướng tới kiến tạo những tầng thứ ngữ nghĩa ngoài ngôn từ Tỷ hứng được huy động làm thủ pháp nghệ thuật tiêu biểu của loại hình thơ đề vịnh

1.2 Khái quát về thơ vịnh trong văn học trung đại Việt Nam

Thơ vịnh là loại tác phẩm có số lượng khá lớn trong văn học trung đại Việt Nam Nhiều nhà thơ trung đại sáng tác thơ vịnh Thi nhân xưa lấy các đề tài sự vật, con người, thiên nhiên, thời thế,…làm đề tài ngâm vịnh, có khi chỉ vịnh chơi có khi để gửi gắm tư tưởng, tình cảm kín đáo của mình

Ở Việt Nam, hầu hết các tác giả văn học trung đại nổi bật như Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Công Trứ, Cao Ba Quát, Nguyễn Khuyến đều có loại thơ này

Thơ vịnh trong văn học trung đại Việt Nam giai đoạn từ thế kỉ X đến thế kỉ XIV có trong sáng tác của nhiều nhà thơ Có thể kể đến các tên tuổi như Hứa Đại Xá (1119 -1180) là người đã từng theo học thiền sư Đạo Huệ, được

vua Lý Anh Tông rất tin dùng Bài thơ Thạch mã (Ngựa đá) của ông là bài thơ vịnh vật Trần Tung, tức Tuệ Trung Thượng sĩ (1230 – 1291) có bài Giản để

tùng (Cây tùng ở đáy khe) Lý Đạo Tái (1251 -1334) cũng đã có các bài thơ

vịnh vật như: Cúc hoa (Hoa cúc), Thạch thất (Nhà đá)… Nhìn chung, giai

đoạn này thơ vịnh chưa phong phú về đề tài như ở các giai đoạn sau, nhưng cũng đã tạo nên phần nào diện mạo của mình để rồi ở những chặng đường tiếp theo sẽ khẳng định được khả năng bao quát đời sống bằng sự mở rộng đề tài, đối tượng phản ánh

Thành tựu của thơ vịnh thế kỉ XV phải kể đến sự xuất hiện của đại thi

hào Nguyễn Trãi với nhiều bài thơ vịnh trong Quốc âm thi tập và Ức Trai thi

tập Bên cạnh đó có thể kể đến cây bút tiêu biểu như Lê Thánh Tông với Hồng Đức quốc âm thi tập,

Trang 17

Đến giai đoạn từ thế kỉ XVI đến thế kỉ XVII, thành tựu thơ vịnh gắn với tên tuổi của các nhà thơ lớn như Nguyễn Bỉnh Khiêm (tác giả tiêu biểu thế kỷ XVI), ngoài ra còn có thể kể đến như Đặng Minh Khiêm, Đỗ Nhân, Hà Nhậm Đại, Phùng Khắc Khoan, Giáp Hải, Lê Công Triều,…

Giai đoạn văn học từ đầu thế kỉ XVIII đến giữa thế kỉ XIX được coi là giai đoạn đạt được nhiều thành tựu rực rỡ nhất với những tên tuổi chói sáng như Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Du viết rất nhiều và rất thành

công các bài thơ vịnh Trong tập thơ Thanh Hiên thi tập, Bắc hành tạp lục,

Nam trung tạp ngâm có rất nhiều bài là thơ vịnh con người, vịnh vật xuất sắc

Có thể nói, mảng thơ vịnh của Nguyễn Du đã đánh dấu bước phát triển của thơ vịnh trong giai đoạn này, đã góp phần thể hiện rõ thêm tư tưởng, quan niệm về lẽ sống ở đời của nhà thơ Hồ Xuân Hương là một phụ nữ đầy cá tính, tài năng và đầy sức sống mãnh liệt Thơ của bà cũng như chính con người bà, luôn căng tràn sức sống, luôn thể hiện cái khao khát đến bỏng rát về hạnh phúc Với khoảng hơn 40 bài thơ Nôm Đường luật để lại, Xuân Hương

có đến 12 bài thơ vịnh vật, vịnh thiên nhiên như bài thơ Đèo Ba Dọi, Cái

quạt, Quả mít, Mảng thơ Nôm vịnh của Hồ Xuân Hương rất độc đáo, đặc

sắc từ nội dung đến nghệ thuật thể hiện

Giai đoạn nửa sau thế kỉ XIX là thời kỳ đất nước ta phải đương đầu với cuộc xâm lăng của thực dân Pháp Tuy nhiên, thơ vịnh thời kỳ này được tiếp tục với các nhân vật tên tuổi như Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, Nguyễn Khuyến, Tú Xương,

Qua sơ lược về thơ vịnh Việt Nam thời trung đại chúng tôi nhận thấy đây là một loại thơ ra đời từ rất sớm, được nhiều nhà thơ sử dụng và phát triển mạnh trong nền văn học trung đại Việt Nam Thông qua sự vân động, phát triển của thơ vịnh, có thể thấy được phần nào sự vận động phát triển của văn học dân tộc

Trang 18

1.3 Thơ vịnh trong Ức Trai thi tập và Quốc âm thi tập

1.3.1 Nguyễn Trãi với Ức Trai thi tập

Ức Trai thi tập là một tác phẩm đặc sắc của Nguyễn Trãi, cũng là tập

thơ hay của dòng thơ chữ Hán Việt Nam Toàn bộ thơ chữ Hán của Nguyễn Trãi còn lại cho chúng ta khoảng 105 bài, có thể chia thành bốn giai đoạn sáng tác như: Thơ làm khi chưa thành công; thơ làm sau khi thành công và làm quan ở triều; thơ tỏ ý chán nản và muốn về nghỉ; làm thơ trong thời ở ẩn tại Côn Sơn; thơ làm trong thời đoán là sang Trung Quốc

Đối tượng vịnh trong Ức Trai thi tập phong phú Trong đó, phần lớn là

những bài thơ vịnh thiên nhiên, có thể là những danh lam thắng cảnh đẹp, kì vĩ của đất nước như núi Dục Thúy, chùa Đông Sơn, cửa Thần Đầu, núi Long Đại, Côn Sơn, chùa Hoa Yên, núi Yên Tử, Vịnh con người là những bậc anh hùng như Chu Công Đán, Tể tướng Trương Cửu Linh, ông Từ Trọng Phủ, Tô Đông Pha, Những nghệ sĩ lớn như Lý Bạch, Bá Nha, Chung Tử Kỳ, Vịnh vật chủ yếu là những đồ vật cao quý như cây kiếm, bức tranh, Qua mảng thơ đề vịnh

trong Ức Trai thi tập, Nguyễn Trãi thể hiện những suy tư, triết lí về cuộc đời,

những chiêm nghiệm về thời cuộc, về nỗi đau của bản thân

Mảng thơ vịnh trong Ức Trai thi tập, chúng tôi nhận thấy Nguyễn Trãi

có một niềm tự hào sâu sắc về thiên nhiên tươi đẹp, kì vĩ; về lịch sử gìn giữ nền độc lập của dân tộc và đất nước Luận bàn về sự vật, con người để soi chiếu vào bản thân, thấy được sự tương đồng giữa sự vật, con người đó với

chính mình Những bài thơ vịnh trong Ức Trai thi tập cho thấy một Ức Trai

có công lao lớn đối với dân tộc đất nước nhưng chịu nhiều đau thương

Tóm lại, thơ vịnh trong Ức Trai thi tập chiếm vị trí quan trọng trong

toàn bộ tập thơ Thông qua mảng thơ vịnh bằng chữ Hán, Nguyễn Trãi kí thác tâm sự thầm kín của mình về thời thế, bản thân và cuộc đời Chúng ta thấy được một Nguyễn Trãi đầy suy tư, chiêm nghiệm, triết lí

Trang 19

1.3.2 Nguyễn Trãi với Quốc âm thi tập

Nguyễn Trãi được xem như nhà thơ lớn đầu tiên viết thơ chữ Nôm, đồng thời cũng là người sáng tác thơ Nôm Đường luật có số lượng nhiều bậc nhất trong nền thơ cổ điển dân tộc Xem xét giá trị tự thân cũng như vai trò, vị

trí thơ đề vịnh của tập thơ trong toàn cảnh nền văn học truyền thống, Quốc âm

thi tập gợi mở nhiều vấn đề lý thú về nội dung và nghệ thuật

Quốc âm thi tập có tất cả khoảng 254 bài, chia làm 4 mục: Vô đề (192

bài), Thời lệnh môn (21 bài), Hoa mộc môn (34 bài), Cầm thú môn (7 bài) Vô

đề chia ra: Ngôn chí 21 bài; Mạn thuật 14 bài; Trần tình 9 bài; Thuật hứng 25

bài; Tự thán 41 bài; Tự thuật 11 bài; Bảo kính cảnh giới (Gương báu răn đe)

61 bài; và nhiều bài có tựa riêng v.v nghĩa là đề tài rất phong phú, ý tứ rất dồi dào

Nếu ỨC Trai thi tập vịnh thiên nhiên chủ yếu là các danh lam thắng cảnh đẹp, kì vĩ của đất nước thì Quốc âm thi tập vịnh thiên nhiên là các cỏ

cây hoa lá, cim thú, rùng suối như tùng, cúc, trúc, mai, sen, cây mía, cây đa,…Vịnh con vật như mèo, con lợn, con trâu, chim nhạn, chim hạc,… Qua

đó, Nguyễn Trãi gửi gắm tâm sự của một người nặng lòng với giang sơn xã tắc đồng thời cũng bộc lộ tình yêu thiên nhiên đất nước

Khác với thơ chữ Hán, hình ảnh được vịnh trong Quốc âm thi tập có

thể là những hình ảnh ước lệ tượng trưng của thơ ca cổ điển như tùng cúc trúc mai, chim hạc, chim nhạn,… cũng có những hình ảnh gần gũi, bình dị, mộc mạc như cây chuối, hoa dâm bụt, con mèo, con trâu, con lợn,…

Trong Ức Trai thi tập, những bài thơ đề vịnh Nguyễn Trãi sử dụng

nhiều nghệ thuật cổ như sử dụng điển, thể thơ Đường luật Thơ vịnh trong

Quốc âm thi tập, Nguyễn Trãi lại sử dụng nhiều thể thơ thất ngôn xen lục

ngôn, hình ảnh, ngôn ngữ thơ mộc mạc, giản dị, dân dã

Trang 20

Nhìn chung, có thể nói thơ đề vịnh trong Quốc âm thi tập chiếm vị trí

lớn trong toàn bộ tập thơ với đề tài vịnh phong phú, sáng tạo tương xứng với tầm vóc, giá trị và vị trí tập thơ trong tiến trình phát triển của thơ vịnh trong nền văn học dân tộc Thông qua mảng thơ vịnh bằng chữ Nôm, xuất hiện một Nguyễn Trãi nhiệt thành chí, đạo và tình yêu cuộc sống tha thiết

Vị trí của thơ vịnh trong Ức Trai thi tập và Quốc âm thi tập rất quan

trọng, đề tài vịnh phong phú, chiếm một dung lượng lớn ở cả hai tập thơ

Trong đó Ức Trai thi tập thường vịnh những hình ảnh thiên nhiên hùng tráng,

kì vĩ Vịnh con người là những bậc anh hùng có khí phách với tấm lòng suy tư

sâu lắng, những chiêm nghiệm về đời sống Quốc âm thi tập chủ yếu vịnh các

loại hoa quả thảo mộc như tùng, cúc, trúc, mai,…biểu tượng cho người quân

tử hay vịnh vật cũng là những vật dân dã đời thường gắn với cuộc sống ẩn dật của thi nhân qua đó thể hiện tấm lòng của một nhà Nho hành đạo nhưng lại thất thời

Nam Thơ vịnh trong Ức Trai thi tập và Quốc âm thi tập có vị trí quan trọng,

đề tài vịnh phong phú, chiếm một dung lượng lớn ở cả hai tập thơ

Trang 21

Chương 2 NỘI DUNG THƠ VỊNH

TRONG ỨC TRAI THI TẬP VÀ QUỐC ÂM THI TẬP

2.1 Những tương đồng về đề tài thơ vịnh trong Ức Trai thi tập và Quốc

âm thi tập

2.1.1 Vịnh thiên nhiên

Đây là đề tài vịnh chính của thơ ca trung đại Riêng với Nguyễn Trãi, ông có nhiều chùm thơ vịnh thiên nhiên như tùng, cúc, trúc, mai, sen,…trong thơ Nôm và các danh lam thắng cảnh đất nước trong thơ chữ Hán

Xét về đối tượng miêu tả, thơ vịnh thiên nhiên là loại thơ lấy thế giới tự nhiên làm đối tượng miêu tả, thường là các hiện tượng tự nhiên, cỏ cây hoa lá, các danh lam thắng cảnh,… Vì đối tượng rộng như vậy nên thơ vịnh thiên nhiên chiếm số lượng rất lớn trong thi ca trung đại Việt Nam nói chung và thi

ca Nguyễn Trãi nói riêng

Thơ vịnh thiên nhiên của văn học Việt Nam thường có những bài vịnh

cỏ cây hoa lá, vịnh danh lam thắng cảnh, vịnh các hiện tượng tự nhiên,… Ở Nguyễn Trãi thơ vịnh thiên nhiên cỏ cây hoa lá thường được viết bằng chữ Nôm, vịnh danh lam thắng cảnh thường được viết bằng chữ Hán Dưới đây,

chúng tôi liệt kê thơ vịnh thiên nhiên của Nguyễn Trãi ở cả tập thơ Ức Trai

thi tập và Quốc âm thi tập và thống kê các kiểu loại thiên nhiên được đề vịnh

qua những sáng tác đó

Thống kê Ức Trai thi tập và Quốc âm thi tập, chúng tôi thấy thơ vịnh

thiên nhiên chiếm phần lớn trong sáng tác của Nguyễn Trãi Tổng hai tập thơ

có 76/359 bài thơ là vịnh thiên nhiên (chiếm 21,2%) Trong đó tập thơ Ức

Trai thi tập có 29/76 bài (chiếm 38,2%), Quốc âm thi tập có 47/76 bài (chiếm

61,8%) Điều này cho thấy nhà thơ hướng ngòi bút của mình nhiều về thiên nhiên

Trang 22

Ức Trai thi tập thiên nhiên được vịnh chủ yếu là các danh lam thắng

cảnh, sơn xuyên nhạc thủy, các hiện tượng tự nhiên Quốc âm thi tập chủ yếu

là thơ vịnh các hoa quả thảo mộc

Trong 29 bài thơ vịnh thiên nhiên của tập thơ chữ Hán, Nguyễn Trãi chủ yếu vịnh các danh lam thắng cảnh như Vân Đồn, Bạch Đằng, Thần Phù, Chí Linh, Hàm Tử, Chương Dương,…có tới 26/29 bài (chiếm 89,7%), vịnh các hiện tượng tự nhiên như phong, vũ, nguyệt, tuyết, mây, trăng,… có 3/29 bài (chiếm 10,3%)

Trong 47 bài thơ vịnh thiên nhiên của tập thơ Quốc âm thi tập, Nguyễn

Trãi chủ yếu vịnh cỏ cây hoa lá như tùng, cúc, trúc, mai, liên, đào, ba tiêu, mẫu đơn,…có tới 34/47 bài (chiếm 72,3%), vịnh các hiện tượng tự nhiên 13/47 bài (chiếm 27,7%)

Với truyền thống thi ca trung đại “cổ thi thiên ái thiên nhiên mỹ” (Hồ Chí Minh), Nguyễn Trãi dành một số lượng khá lớn thơ ca viết về thiên nhiên Tìm hiểu kho tàng thơ ca của Nguyễn Trãi để lại cho hậu thế, chúng ta thấy nét đặc sắc trong những bài thơ của ông, đặc biệt là những bài về thiên nhiên

2.1.1.1 Thơ vịnh cỏ cây, hoa lá, chim muông…

Một mảng đề tài lớn trong đề mục vịnh thiên nhiên của Nguyễn Trãi là những bài thơ vịnh cỏ cây hoa lá, chim thú, rừng suối… Mảng đề vịnh này chủ yếu xuất hiện trong thơ Nôm, không thấy xuất hiện trong thơ chữ Hán Thiên nhiên gắn với cuộc đời thăng trầm đầy bi kịch của Nguyễn Trãi, thể hiện tâm tư của nhà thơ trong những hoàn cảnh khác nhau, là bản trường ca

ngàn đời của người anh hùng, của một nhà tư tưởng, nhà văn hóa lớn

Vịnh thiên nhiên là tùng cúc trúc mai, Nguyễn Trãi từ những đặc điểm của loài để nói tới những phẩm chất tốt đẹp, đáng khâm phục, ngợi ca của

người quân tử Những câu thơ Nguyễn Trãi viết trong bài thơ Tùng như sự

khẳng định nhân cách của chính ông, một con người cả đời canh cánh nỗi

Trang 23

lòng “ưu quốc ái dân” Nguyễn Trãi tìm về thiên nhiên, để lại hàng trăm bài

thơ chữ Hán và chữ Nôm, hầu như bài thơ nào cũng toát lên vẻ đẹp lồng lộng thanh cao và cứng cỏi như dáng tùng vững chãi giữa tuyết sương, soi chiếu

tâm tư của chính nhà thơ Đây được xem là “bài thơ tâm huyết về cuộc đời, về

sự nghiệp, về niềm tin được cống hiến trọn đời cho con người và đất nước”

[24, tr.559]:

Thu đến cây nào chẳng lạ lùng, Một mình lạt thuở ba đông

Lâm tuyền ai rặng già làm khách?

Tài đống lương cao ắt cả dùng

Đống lương tài có mấy bằng mày ? Nhà cả đòi phen chống khỏe thay

Cội rễ bền dời chẳng động, Tuyết sương thấy đã đặng nhiều ngày

Tuyết sương thấy đã đặng nhiều ngày,

Có thuốc trường sinh càng khỏe thay

Hổ phách phục linh nhìn mấy biết, Dành còn để trợ dân này

Đây là ba bài thơ vịnh vật liên hoàn, câu đầu bài sau lặp lại câu cuối hoặc một phần câu cuối của bài trước Do thống nhất trong một chủ đề mà ta

có thể xem như ba khổ của một bài thơ

Ba bài thơ miêu tả đặc điểm và tính năng của cây tùng Đây là một loại cây không bị ngoại cảnh tác động Mặc dù vào thu, theo quy luật tự nhiên, mọi loại cây đều bị biến dạng, trở nên lạ lùng, riêng cây tùng ngược lại quy

Trang 24

luật ấy, cứ tiếp tục xanh tươi, bất chấp cái rét của “ba đông” Xanh tươi không phải để làm cảnh chốn lâm tuyền mà để làm rường cột (đống lương), có tác dụng lớn (cả dùng) Tài lương đống của nó mấy cây bì kịp Bao phen nó đã

chống đỡ một cách mạnh mẽ cho những ngôi nhà lớn: Nhà cả đòi phen chống

khỏe thay Có được công dụng ấy đâu phải một sớm một chiều mà rễ con, rễ

cái phải nhiều năm trời lan rộng ăn sâu cho cội cắm chặt vào đất ngày một bền chắc, gió bão có lay dời cũng chẳng mảy may lay động, tuyết sương có cào xé bao ngày cũng chẳng hề chi Nó vẫn sừng sững giữa trời Nếu không được dùng để chống đỡ nhà cả thì nó lại trở thành thứ thuốc cứu dân Trong

nhựa cây tùng có chứa chất hổ phách, phục linh, những thứ thuốc quý được

hình thành trong khoảng thời gian trăm năm, ngàn năm:

Hổ phách phục linh nhìn mấy biết Dành còn để trợ dân này

Điều làm cho những bài thơ vịnh này được đánh giá cao là bởi tầng nghĩa ẩn sâu sau sự vật được miêu tả Ấy là tâm sự thầm kín của Ức Trai Cuộc đời Nguyễn Trãi đã trải qua nhiều thăng trầm, thử thách nhưng trong bất

kì hoàn cảnh nào ông cũng giữ trọn khí tiết: Tuyết sương thấy đã đặng nhiều

ngày Cũng có khi tài năng phẩm chất của ông cũng không được mọi người

biết đến, phải về ở ẩn nhưng lòng vẫn không thôi hy vọng sẽ có ngày được ra

giúp dân giúp nước, ông giữ vững niềm tin: Tài đống lương cao ắt cả dùng

Tùng là hình tượng của bậc đại trượng phu, có tài lương đống, Trúc là

hình tượng kẻ sĩ quân tử, vượt lên những cám dỗ của cuộc sống Người đời quý trúc, ưa trúc chính vì thế Cây trúc xuất hiện trong những bài thơ Nôm Nguyễn Trãi khá đa dạng, phong phú Với trúc, Nguyễn Trãi thân mật, yêu quý viết bằng những câu thơ mượt mà trìu mến:

Hoa liễu chiều xuân cũng hữu tình,

Ưa mày vì bởi tiết mi thanh

Trang 25

Đã từng có tiếng trong đời nữa, Quân tử ai chẳng mảng danh?

(Trúc, bài 1)

Trong bài thơ đầu tiên của chùm thơ viết về trúc, Nguyễn Trãi đã nêu bật được đặc điểm nổi bật của trúc: khí tiết thanh cao, tấm lòng trong sạch không màng danh lợi, phú quý Nguyễn Trãi ưa trúc, quý trúc bởi tiết trúc thanh, không chịu thả lỏng mình trong cám dỗ tầm thường Phẩm chất đó của trúc cũng là vẻ đẹp của người quân tử dù lạc vào chốn phồn hoa đô hội, sống giữa xa hoa phú quý, cũng giữ được khí tiết thanh cao của mình

Đến bài thơ thứ hai của chùm thơ, Nguyễn Trãi lại ca ngợi sự cứng rắn,

sự rèn luyện của tiết trúc:

Danh quân tử, tiết nhiều ngày, Bảo khách tri âm mới biết hay

Huống lại nhưng nhưng chẳng bén tục, Trượng phu tiết cứng khác người thay

(Trúc, bài 2)

Ý tứ của bài thơ không ngớt lời ngợi ca khí chất hùng dũng, rắn rỏi của trúc trước phong ba cuộc đời Nếu ở trên khí tiết thanh cao là danh quân tử của trúc, đến đây tiết cứng lại là phẩm chất trượng phu của trúc Đó không chỉ

là sự vững chắc bên ngoài mà là sự vững vàng rắn rỏi, là nghị lực phi thường

ở nội tâm bên trong, ở rèn luyện đạo đức của mình, vượt hết những cám dỗ bình thường của cuộc sống

Cây đa già miêu tả một cây đa già đã tìm cho mình được một chỗ

dưỡng thân giữa chốn lâm tuyền, cứ mỗi lần xuân đến lại có lộc mới xanh tươi, cũng như chủ thể trữ tình, mỗi lần xuân đến là thấy vui Tuy gốc đa không dùng làm rường cột được nhưng những tán lá của nó đã làm được những việc hữu ích là tỏa bóng cho dân tránh nắng:

Trang 26

Tuy đà chửa có tài lương đống, Bóng cả nhờ còn rợp đến dân

Hai câu thơ nhằm ngụ ý tuy tác giả không có tài lương đống nhưng cũng đã làm được việc cho dân nhờ

Một bông cúc tự nhiên thường nở vào mùa thu, đúng vào thời tiết các loài không thể nở Đặc tính tự nhiên này của hoa cúc là nguồn gợi tứ cho thi nhân, là chất liệu ẩn dụ cho những phẩm chất vượt trội của tinh thần người quân tử Hoa cúc nở vào mùa thu là sự hiện hữu sinh động cho sức mạnh tinh thần, do kết quả của công phu rèn luyện Nó thể hiện cốt cách vượt trội và đạo đức thanh khiết Đặc điểm tự nhiên này của bông cúc theo cách nhìn của nhà nho, được nhân hóa làm biểu tượng cho sức mạnh tinh thần, đạo đức, sự ưu trội của riêng một nhóm nhỏ kẻ sĩ Trong những bài thơ đề vịnh của nhà nho nói chung, bông cúc hoàn toàn hiện diện với mục đích ký thác tỷ dụ như vậy:

Nào hoa chẳng bén khí dầm hâm,

Có mấy bầu sương nhụy mới đâm

Trùng cửu chớ hiềm thu đã muộn, Cho hay thu muộn tiết càng thơm

(Cúc)

Nguyễn Trãi coi bông cúc nở trong sương cũng giống như người quân

tử tu dưỡng đạo đức, cốt cách, tinh thần Khó khăn gian khổ là điều kiện rèn luyện họ, là cơ hội để họ thể hiện những phẩm chất riêng có của mình Cái đẹp của hình tượng bông cúc trong thơ vịnh của nhà nho là cái đẹp của tinh thần nội tại, của những phẩm chất đạo đức và tài năng vượt trội, của nhân vi,

của sự cố gắng, cái đẹp đó mang tính thực tại, thực hữu

Có thể thấy, trong những câu thơ vịnh này, Nguyễn Trãi miêu tả tiết cứng của trúc, cái thanh của mai không chỉ là để miêu tả vẻ đẹp của các loài cây mà còn để đề cao vẻ đẹp của con người

Trang 27

Nguyễn Trãi đã nhiều lần mượn hình ảnh hoa mai để ví với phẩm chất trong sáng thanh khiết của người quân tử Mùa xuân đến, hoa mai tốt tươi, tràn đầy sức sống, đặc biệt đây là loài hoa có tiết sạch Ông hết lời ca ngợi sức sống, cốt cách tinh thần của mai nhằm khẳng định sự kiên trinh, bản lĩnh sống vững vàng của người quân tử:

Xuân đến nào hoa chẳng tốt tươi,

Ưa mày vì tiết sạch hơn người

(Mai, bài 1)

Ở hai câu đề của bài thơ Mai, Nguyễn Trãi đã cảm nhận vẻ đẹp của

cành mai giữa mùa đông:

Giữa mùa đông, trỗi thức xuân, Nam chi nở, cực thanh tân

(Thơ mai)

Trong hai câu thơ này, Nguyễn Trãi đã dùng rất nhiều động từ, tính từ

để miêu tả trạng thái của mai giữa mùa đông giá lạnh Những cụm từ trỗi thức

xuân, cực thanh tân đã làm nổi bật sức sống mãnh liệt của mai trong những

ngày đông giá Cành mai vẫn nở, vẫn toát lên vẻ thanh tân trong thời tiết khắc nghiệt Đó chính là một biểu tượng đẹp cho sự kiên nghị của người quân tử Đến hai câu luận ta bắt gặp cây mai già tượng trưng cho người quân tử càng già càng giữ trọn vẹn cốt cách, càng trải qua giá lạnh càng vững bền tinh thần:

Càng thuở già, càng cốt cách, Một phen giá, một tinh thần

(Thơ mai)

Bốn câu thơ lục ngôn xen lẫn trong bài thơ thất ngôn như nổi đậm, như chạm khắc sắc nét giữa đất trời đông một cây mai rắn rỏi phong sương vững bền với thời gian Và đó cũng chính là một biểu tượng đẹp cho người quân tử luôn kiên trinh, vững vàng trước mọi biến cố thăng trầm của cuộc sống Hình

Trang 28

tượng bông mai kia có lẽ cũng chính là cuộc đời của Nguyễn Trãi Cũng một thời sống hào hứng với biết bao niềm tin yêu, hy vọng và đến khi tuổi già phải lui về ẩn ở Côn Sơn, bạn cùng trăng gió, mặt đá rêu phơi, tiếng thông reo… Hình ảnh cây mai tiêu biểu cho phẩm chất, cốt cách, sức sống của con người

và cũng là nỗi lòng đầy bi kịch của nhà thơ

Nguyễn Trãi đã khai thác những phẩm chất tương đồng của cây trúc, cây mai để xây dựng biểu tượng đôi nhằm làm nổi bật khí phách, phẩm tiết trong sạch, cứng cáp của người quân tử Đúng như nhà nghiên cứu Trần Ngọc

Vương đã khẳng định: “Những người bạn muôn thưở ở trong thơ các nhà nho

ẩn dật cũng được Nguyễn Trãi gọi về họp mặt đông đủ trong thơ ông: mai, tùng, cúc, trúc, trăng, gió, mây, núi Tất cả những thứ đó là bạn - bằng những phẩm chất của nó tương xứng với phẩm chất nào đó mà người quân tử muốn đạt tới hay mang sẵn ở trong mình” [24, tr.753]

Như vậy, Nguyễn Trãi đã cảm nhận, nhìn thấy sự tương đồng giữa vẻ đẹp của cây trúc, cây mai với những vẻ đẹp, phẩm cách của con người Trúc mai từ những loài cây quen thuộc, tươi đẹp trong cuộc sống đã trở thành những biểu tượng cho khí cốt con người Nếu trúc mai trong ca dao là biểu tượng cho thôn nữ xinh xắn, thanh thoát, mềm mại thì trúc mai trong thơ Nôm Nguyễn Trãi lại là biểu tượng cho phẩm cách, khí tiết của người quân tử

Biểu tượng trúc mai xuất hiện trong thơ Nôm Nguyễn Trãi trước hết đã thể hiện được vẻ đẹp nhân cách, lý tưởng của một bậc ẩn sĩ Nguyễn Trãi luôn

ôm ấp lý tưởng phò vua giúp nước làm nên nghiệp lớn Song, lý tưởng ấy không phải nhằm mục đích bon chen đến chốn cửa quyền, tham lấy chút danh lợi cho bản thân, mà là để thực hiện giấc mộng kinh bang tế thế của bậc quân

tử Được thời thì ra làm quan (xuất), đem cái tài để phò vua bình trị thiên hạ, khi lý tưởng không thực hiện được thì thôi làm quan, lui về ở ẩn (xử) Để tu thân, Nguyễn Trãi rút lui khỏi chốn quan trường, tìm về với cảnh điền viên,

xa lánh vòng danh lợi, sống cuộc đời trong sạch của một bậc ẩn sĩ

Trang 29

Bên cạnh những bài thơ vịnh cảnh theo truyền thống với những biểu tượng thiên nhiên gắn với người quân tử như “tùng trúc cúc mai” còn là những loài hoa cỏ bình thường nhưng lại toả ra phẩm chất thi nhân của

Nguyễn Trãi tinh tế nhất Bài thơ Cây chuối là một trong số đó:

Tự bén hơi xuân tốt lại thêm, Đầy buồng lạ, màu thâu đêm

Tình thư một bức phong còn kín, Gió nơi đâu gượng mở xem

Nhan đề của bài thơ rất mộc mạc: Cây chuối Nhưng quả thực bài thơ

lại hàm chứa một ý thơ sâu kín, nhiều tầng Bài thơ nói về cây chuối “tự bén hơi xuân” qua đó còn nói về sức xuân, tình xuân, thậm chí là tình yêu nam nữ

Vì vịnh nên Ức Trai không sa đà vào chi tiết, vào dáng cây, thế cây,…

mà chỉ cốt ghi lấy ấn tượng Cái đọt chuối màu xanh cẩm thạch đang đung đưa trước làn gió xuân ngầm ý là cho sức sống, sức xuân Như một cô gái biết mình là đẹp, đang có mối tình đẹp, cây chuối dường như e ấp, ngượng ngập vì duyên may, vì có trong đời mình, trong lòng mình một hạnh phúc lớn lao, trọn vẹn Tâm trạng ấy được hình tượng lên bằng một bức tranh “tình thư”, một cuốn thư còn niêm phong dán kín Nguyến Trãi đã nhận ra dưới góc độ thơ mộng, duyên dáng, đa tình Vừa giải bày, vừa gói gém những chuyện động trời nhưng đang ở dạng ẩn chìm, chưa hé lộ Kín đáo, tình tứ nhưng cũng biết bao phấp phỏng, hồi hộp, đợi chờ:

Tình thư một bức phong còn kín, Gió nơi đâu gượng mở xem

Dĩ nhiên, tình lang của cây chỉ có thể là mùa xuân, là ngọn gió Ngọn gió ấy cũng mỏng manh lướt qua để làm cái việc mở bức “tình thư” còn phong kín đó Bức thư là thực, tình thư là ảo, có tưởng như không Đọc thư tình, trước hết thao tác mở thư phải nhẹ nhàng, phải trân trọng, “một tấm lòng

Trang 30

đối với một tấm lòng”, phải “gượng mở” Bởi tình thư có khía cạnh vất chất, nhưng chủ yếu, quan trọng hơn là khía cạnh hồn người Chính vì lẽ đó, trong

sự ứng xử không thể suồng sã, thô kệch “Gió nơi đâu?”- câu hỏi tu từ ở đây rất gợi, như một sự mời mọc, nhưng cũng rất nhã: “gượng mở xem” Bài thơ

có một giá trị rất đáng quý Từ cây chuối nói tới sức xuân, nói tới xuân tình, xuân ý, nói tới tình yêu của tuổi trẻ trong sự sống nhân bản của con người

Nguyễn Trãi đã gây ấn tượng sâu sắc bởi sự cảm thụ của nhà thơ trước cái đẹp của sức xuân Người con gái đẹp vốn là biểu tượng ấy, sức trẻ ấy toát

ra hương thơm Vẻ đẹp của cây chuối gặp xuân được chiêm ngưỡng bởi một tâm hồn thơ đa tình, nhạy cảm Bài thơ cũng cho thấy một phần tâm hồn phong phú của Nguyễn Trãi Bên cạnh người anh hùng nhưng Nguyễn Trãi cũng rất đa tình, phong tình

Chan hoà với thiên nhiên là vậy nhưng Nguyễn Trãi hiếm có những phút giây thanh thản trong lòng Cuộc đời nhiều thăng trầm, nghi hoặc khiến lúc nào ông cũng phải trăn trở, ngẫm nghĩ:

Phượng những tiếc cao, diều hãy liệng, Hoa thì hay héo, cỏ thuờng tươi

(Tự thuật, bài 9)

Phượng những tiếc cao, muốn bay cao, tiếc rằng chưa có cơ hội để

được bay cao Nguyễn Trãi biết mình có tài “kinh bang tế thế”, nhưng còn bị đơn độc, bị kiềm tỏa, lại chưa có binh lực, tài lực để thực hiện kế sách đánh giặc, nên còn phải nấn ná chờ đợi cơ hội, đó là điều vô cùng đáng tiếc Bọn

xâm lăng như cú diều, nhởn nhơ bay liệng (diều hãy liệng) Ví như ở đời Hoa

thường hay héo, cỏ thì tươi Hoa quý hoa đẹp thì thường hay héo sớm, còn

như loài cỏ dại chả có giá trị gì, lại thường tốt tươi mơn mởn Lẽ đời vô lý, như cái sự héo sự tươi cứ nhơn nhơn mà xanh như cỏ, thật đáng buồn! Vịnh thiên nhiên, Nguyễn Trãi muốn bộc bạnh nỗi lòng của mình về cuộc sống, về

Trang 31

thế sự Thực chất đó là những trải nghiệm đau đớn trong cuộc đời Nguyễn Trãi Tất nhiên, viết những dòng thơ như thế, chắc chắn ông không khỏi ngậm ngùi Nhưng đọc chúng, người ta có thể hình dung rõ nét sự thanh sạch trong tâm hồn con người đã hết lòng vì dân vì nước

Như vậy, loại thơ vịnh cỏ cây, hoa lá, những bài vịnh các loài cây như tùng cúc trúc mai… Nguyễn Trãi hiện lên trong thơ của mình đầy niềm kiêu hãnh, tự tin về tài năng, khả năng nhằm khẳng định bản thân Những bài vịnh các loài cỏ cây hoa lá khác Nguyễn Trãi nhằm khái quát quy luật tự nhiên, xã hội và những vấn đề của cuộc sống

2.1.1.2 Thơ vịnh thiên nhiên là các danh lam thắng cảnh

Thơ chữ Hán ta bắt gặp nhiều địa danh gắn với quãng đời sôi nổi, với hoài bão “chí quân trạch dân”, với tầm nhìn bao quát lịch sử, chiêm nghiệm

thời thế một cách cụ thể Nhiều nhà nghiên cứu đã nhận định: “với cái nhìn

của một vị tướng, một anh hùng cứu quốc đã từng chiến thắng xâm lăng, của một người có tinh thần dân tộc cao độ, Nguyễn Trãi đã vạch được những nét bút hùng tráng khi miêu tả thiên nhiên của tổ quốc” [24, tr.799] Thiên nhiên

trong thơ chữ Hán của Nguyễn Trãi mang “những nét bút hùng tráng kiểu sử

thi” [24, tr.799] Đây là điểm gặp gỡ giữa Nguyễn Trãi với Trương Hán Siêu,

Phạm Sư Mạnh, Trần Nhân Tông, Nguyễn Xưởng và nhiều nhà thơ khác khi

đề vịnh địa danh lịch sử Ở đây vừa có nét hào hùng của những di tích lịch sử của Trương Hán Siêu, Phạm Sư Mạnh, vừa có nét nghiêm trang mà khỏe khoắn, siêu thoát mà chân chất của những ngôi chùa trên núi, cảnh chiều hôm của Trần Nhân Tông, Huyền Quang, có cái thanh thoát đượm chút bâng khuâng của nhóm thơ Bích Động, cái cảnh sông hồ bát ngát, sáng tươi của Mạc Đĩnh Chi Hào quang của những cuộc chiến thắng chống ngoại xâm đã đem đến cho thơ văn Lí Trần, Lê sơ, cả những thời đại về sau những đường nét, màu sắc, âm thanh kì vĩ khi miêu tả Hàm Tử, Chương Dương, Chí Linh, Thần Phù, Bạch Đằng,…

Trang 32

Cũng giống như nhiều thi nhân khác, nhiều khi Nguyễn Trãi vịnh thiên nhiên cũng chính là để ca ngợi, tưởng nhớ các bậc anh hùng, hào kiệt của đất nước, để suy tư về những vấn đề lớn lao của cuộc sống dân tộc, để phát biểu những liên tưởng mang ý nghĩa triết học về mối quan hệ giữa con người với

thiên nhiên, giữa cái đã qua, đang qua, sắp tới,… Quan hải, Bạch Đằng hải

khẩu, Long Đại nham,… là những bài thơ như thế Đối với Nguyễn Trãi, non

sông đất nước Việt Nam không thiếu những danh lam thắng cảnh, những di tích lịch sử rất đáng tự hào:

Tam thập niên tiền hồ hải thú,

Tư du kỳ tuyệt thắng Tô tiên

(Thú hồ hải ba mươi năm về trước,

Cuộc chơi này lạ tuyệt, còn hơn cuộc chơi của Tô tiên.)

Nguyễn Trãi đã đặt chân lên hầu hết những nơi chốn đã trở thành danh lam thắng cảnh của đất nước: chùa Đông Sơn, núi Dục Thúy, cửa Thần Đầu, Côn Sơn, chùa Hoa Yên, núi Yên Tử,… Vịnh danh lam thắng cảnh trong thơ Nguyễn Trãi khá phong phú, thông qua những địa danh lịch sử ông khái quát

vẻ đẹp của đất nước, ca ngợi những di tích Vịnh những cảnh tượng thiên nhiên kì vĩ lớn lao để thấy được sự nhỏ bé, hữu hạn của cuộc đời,…

Trong khoảng mười năm giữ chức “quan lạnh”, sống nhàn tản, Nguyễn Trãi chủ yếu đọc sách, làm thơ, đốt hương thơm, uống trà, trồng cúc, ngắm hoa, ngắm trăng, ngẫm chuyện đời, nhìn về quá khứ, giữ mình trong sạch, ngao du sơn thủy, ngắm cảnh non sông, để lại những bài thơ hào hứng nhất của mình Đặc biệt ông hay tìm đến những di tích lịch sử, nơi từng ghi dấu

chiến công của dân tộc thuở trước Bạch Ðằng hải khẩu thể hiện chí khí của

người anh hùng trong Ức Trai, bao trùm toàn bài thơ là cảm hứng lịch sử, là niềm tự hào dân tộc Nguyễn Trãi đến thăm cửa biển Bạch Đằng với cánh

Trang 33

buồm thơ lộng gió tâm hồn thi sĩ Hình ảnh “cánh buồm thơ nhẹ” là một nét

Ngạc đoạn kình khoa sơn khúc khúc, Qua trầm kích chiết ngạn tằng tằng

(Như cá sấu bị chặt, cá kình bị mổ, núi chia từng khúc một, Như mũi qua chìm, cây xích gãy, bên bờ lớp lớp chồng.) Núi nhấp nhô từng khúc như cá sấu bị chặt, cá kình bị mổ Kình ngạc tượng trưng cho lũ giặc dữ, Nguyễn Trải chỉ ra lũ giặc phương Bắc bị quân ta tiêu diệt trên Bạch Đằng Giang Bờ bãi lớp lớp như giáo gươm bị chìm gãy chồng chất lên, là hình ảnh ẩn dụ gợi tả sự thất trận của lũ giặc Nam Hán, giặc Tống, giặc Nguyên Mông thuở nào Hai câu thơ có hình tượng kỳ vĩ, hàm súc giàu chất liên tưởng, mang cảm hứng lịch sử oai hùng Sông Bạch Đằng, cửa biển Bạch Đằng là tử địa quân xâm lược phương Bắc:

Bạch Đằng một cõi chiến tràng, Xương phơi trắng đất, máu màng đỏ sông

(Đại Nam Quốc sử diễn ca)

Nguyễn Trãi nhận ra những mối tương quan trời đất, con người khi suy ngẫm trước cảnh trời đất vô cùng, ngậm ngùi cho mối hận anh hùng, suy

ngẫm về gốc rễ vững bền của đất nước Bài thơ Quan hải ông đã khẳng định:

Trang 34

Phúc chu thủy tín dân do thuỷ, Thị hiểm nan bằng mệnh tại thiên

Hoạ phúc hữu môi phi nhất nhật, Anh hùng di hận kỉ thiên niên

(Thuyền bị lật mới tin rằng dân là như nước, Cậy đất hiểm cũng khó dựa, mệnh là ở trời

Họa phúc có manh mối không phải một ngày, Anh hùng để mối hận mấy nghìn năm sau.) Nhìn thiên nhiên đất trời Nguyễn Trãi luận bàn về anh hùng, theo ông anh hùng là phẩm chất cá nhân, nhưng muốn thành nghiệp lớn phải gắn với nhân dân như thuyền với nước Nguyễn Trãi đã coi trọng điểm tích cực, đúng

đắn trong quan niệm của người xưa Những câu thơ tiếp của Bạch Ðằng hải

khẩu trở nên sâu lắng trong suy tưởng Ông khẳng định quan hà hiểm yếu

Sông Bạch Đằng hiểm yếu do thiên nhiên sắp đặt ra, là nơi để bậc anh hùng

dụng binh chống giặc, lập nên bao chiến công lừng lẫy “Tiếng thơm đồn mãi

/Bia miệng chẳng mòn” (Phú sông Bạch Đằng - Trương Hán Siêu) Phép đối

tạo nên vần thơ đẹp, ca ngợi núi sông hiểm trở, dân tộc Đại Việt có nhiều anh

Trang 35

Vãng sự hồi đầu ta dĩ hĩ, Lâm lưu phủ ảnh ý nan thăng

(Quay đầu xem việc cũ, ôi xong rồi!

Cúi xuống dòng mò bóng, ý khôn nói xiết.) Cũng nói về hồn thiêng sông núi, cũng nói về đất nước con người Việt Nam, ca ngợi sức mạnh Việt Nam, thi nhân chỉ qua một cửa biển, một dòng sông Bạch Đằng đã lột tả được cái thần của điều cần nói Mỗi chữ, mỗi câu thơ, mỗi hình ảnh về cửa biển Bạch Đằng nhà thơ nói đến như nâng cao tầm vóc lớn lao của dân tộc để chúng ta yêu thêm sông núi Tổ quốc, yêu thêm truyền thống anh hùng của dân tộc, tin tưởng vào tiền đồ xán lạn của đất nước

muôn đời Có thể kết luận Bạch Ðằng hải khẩu là bài thơ kiệt tác tiêu biểu

cho hồn thơ trang trọng, hào hùng, tráng lệ của Nguyễn Trãi

Miêu tả cảnh Vân Đồn, có hai quả núi đứng đối nhau, khoảng giữa là một dòng nước chảy, ở đó người ta lấy gỗ cắm cờ làm thủy môn, đời Lý có nước Qua Oa, Xiêm La đi thuyền đến buôn bán với nước ta:

Vọng trung ngạn thảo thê thê lục, Đạo thị Phiên nhân trú bạc loan

(Vân Đồn)

(Nhìn vào thấy cỏ ở bờ rờn rờn lục, Nghe nói đó là vùng người Phiên đỗ tàu.) Đây là núi Long Vĩ, đầu tỳ vào bờ cao, đuôi ngăn mé biển, thuyền bè qua lại thường gặp sóng gió, cũng là một nơi hiểm yếu:

Tùng lâm địa xích cương Nam Bắc, Long Vĩ sơn hoành hạn yếu xung

(Quá hải)

(Rừng tùng ngăn đất làm giới hạn cho Bắc Nam, Núi Long Vĩ chặn ngang làm chỗ ngăn trở hiểm yếu.)

Trang 36

Rồi cửa Thần Phù, sông Bạch Đằng, núi Dục Thúy, núi Long Đại,… Nguyễn Trãi vừa có cái nhìn hào hứng của nhà thơ, vừa có tầm mắt hùng vĩ của vị anh hùng cứu nước, tự mình cũng đã góp công vào việc tiêu diệt kẻ thù, bảo vệ giang san gấm vóc Ông rất tự hào về núi Dục Thúy, không những

vì núi này đẹp như cảnh tiên rơi cõi người, đây lại là chỗ di tích của một danh nhân đời nhà Trần:

Hữu hoài Trương thiếu bảo,

Bi khắc tiểu hoa ban

(Dục Thúy sơn)

(Thấy cảnh nhớ đến Trương thiếu bảo, Bia khắc đã lốm đốm hoa rêu.)

Trong bài Vọng Doanh, sau khi đã trở lại chơi núi Dục Thúy (Ninh

Bình), cửa Đại An (Nam Định), ông tuyên bố rằng chuyến đi chơi này thú vị

lạ lùng, hơn hẳn chuyến đi ba năm trước – có lẽ là lần đi Thanh Hóa tìm

“chân chúa”, hơn cả cuộc đi chơi của Tô Đông Pha trên sông Xích Bích xưa:

Vọng Doanh đầu mộ hệ ngâm thuyền, Thi cảnh liêu nhân vãn hứng khiên

Dục Thuý vũ tình phong tự ngọc, Đại An triều tướng thủy như thiên

Y y viễn thụ thanh yên lý, Diểu diểu bình sa bạch điểu tiền

Tam thập niên tiền hồ hải thú,

Tư du kỳ tuyệt thắng Tô tiên

Trang 37

Chiều lớn cảnh Đại An nước như trời

Lờ mờ rặng cây xa ở trong làn khói xanh, Bát ngát bãi sông phẳng ở trước đàn chim trắng

Thú hồ hải ba mươi năm về trước, Cuộc chơi này lạ tuyệt, còn hơn cuộc chơi của Tô tiên.) Ông cũng thường vịnh cảnh chùa: chùa Đông Sơn ở xã Vĩnh Lũ, huyện Đông Triều, quán Ngọc Thanh cũng ở huyện ấy, chùa Hoa Yên, nơi tu luyện của Yên Kì Sinh, vua Nhân Tông nhà Trần cũng tu ở đó,… Những cảnh trí ấy đưa lại cho ông sự bình thản trong tâm hồn:

Đoản trạo hệ tà dương, Thông thông yết thượng phương

Vân qui thiền sáp lãnh, Hoa lạc giản lưu hương

Nhật mộ viên thanh cấp, Sơn không trúc ảnh trường

Cá trung chân hữu ý, Dục ngữ hốt hoàn vương

Trang 38

Một địa danh nữa mà ta không thể không nhắc đến khi tìm hiểu về vẻ đẹp thiên nhiên trong thơ Nguyễn Trãi, đó chính là Côn Sơn Thời thơ ấu,

Nguyễn Trãi từng sống với mẹ, ông ngoại tại đấy Côn Sơn ca được xem là

một trong những bài thơ tiêu biểu nhất, thể hiện sự giao cảm giữa thi sĩ với

thiên nhiên, cũng là bài ca tâm trạng thời thế, triết lý về cuộc đời Ức Trai:

Côn sơn hữu tuyền,

Kỳ thanh linh linh nhiên, Ngô dĩ vi cầm huyền

Côn sơn hữu thạch,

Vũ tẩy đài phô bích, Ngô dĩ vi đạm tịch

(Côn Sơn có khe, Tiếng nước chảy rì rầm,

Ta lấy làm đàn cầm

Côn Sơn có đá, Mưa xối rêu xanh đậm,

Ta lấy làm chiếu thảm.) Cảnh đẹp thứ nhất là suối Côn Sơn, tiếng nước chảy róc rách như tiếng đàn cầm Cảnh đẹp thứ hai là đá, mưa sạch rêu biếc như chiếu êm Cảnh đẹp thứ ba là rừng thông, tán lá như những chiếc lọng rủ bóng đáng yêu gắn bó với tâm hồn nhà thơ Suối, đá, trúc, thông là nơi nương tựa, nâng đỡ tâm hồn, đối tượng để thi nhân cùng với thiên nhiên giao hòa giao cảm, để “ta cho là đàn cầm”, để “ta cho là đệm chiếu”, “ta nghỉ ngơi” trong rừng thông, “ta ngân nga” bên rừng trúc Hình ảnh thơ là âm thanh, là màu sắc gắn liền với cảm giác, với tâm hồn thi sĩ bằng những liên tưởng vô cùng thiết tha, đằm thắm:

Nham trung hữu tùng, Vạn lí thúy đồng đồng,

Trang 39

Ngô ư thị hồ yển tức kỳ trung

Lâm trung hữu trúc, Thiên mẫu ấn hàn lục, Ngô ư thị hồ ngâm tiếu kỳ trắc

(Trong núi có thông, Muôn dặm rờn rợn biếc một vùng,

Ta tha hồ ngồi nghỉ ở trong

Trong rừng có trúc, Nghìn mẫu in biếc lục,

Ta tha hồ ngâm nga bên gốc.) Gắn bó, chan hoà với suối, đá, thông, trúc Côn Sơn, chính là biểu lộ tấm lòng của Nguyễn Trãi đối với quê cũ yêu thương

Côn Sơn ca được ra đời sau khi Nguyễn Trãi đã làm xong nhiệm vụ kẻ

sĩ thời đất nước loạn ly là giúp minh quân giành giang sơn, đem lại thái bình cho trăm họ Sĩ khí đã thành, công danh đã toại, ông muốn quay về để sống cuộc sống an nhàn, giản dị nơi Côn Sơn:

Vấn quân hà bất qui khứ lai?

Bán sinh trần thổ trường giao cốc, Vạn chung cửu đỉnh hà tất nhiên,

Ẩm thủy phạn sơ tùy phận túc

(Người sao còn chửa về đi!

Nửa đời bụi bặm hoài lăn lóc!

Muôn chung chín đỉnh có làm gì!

Miễn là cơm rau miễn tri túc.)

Và như một thiền sư đạt đạo, ông đã thấu rõ những hệ lụy nhân sinh trong cõi đời, cõi vô thường:

Trang 40

…Quân bất kiến Đổng Trác hoàng kim doanh nhất ổ?

Nguyên Tải hồ tiêu bát bách hộc?

Hựu bất kiến Bá Di dữ Thúc Tề, Thú Dương ngạ tử bất thực túc?

Hiền ngu lư ng giả bất tương mâu, Diệc các tự cầu kỳ sở dục

Nhân sinh bách tuế nội, Tất cánh đồng thảo mộc

Hoan bi ưu lạc điệt vãng lai, Nhất vinh nhất tạ hoàn tương tục

Khâu sơn hoa ốc diệc ngẫu nhiên,

Tử hậu thùy vinh cánh thùy nhục?

(Ngươi chăng thấy Đổng Trác ngọc vàng chất đầy nhà?

Nguyên Tải hồ tiêu tám trăm hộc?

Lại chẳng thấy Bá Di với Thúc Tề, Thú Dương chết đói không ăn thóc?

Hiền ngu dù chẳng giống nhau đâu, Cũng đều muốn thỏa lòng sở dục

Người đời trong trăm năm, Rốt cuộc như thảo mộc.) Giàu sang, danh vọng, hiền, ngu… đều còn lại nấm cỏ trên đồi Thấy được điều đó, ít nhiều Nguyễn Trãi từng thấm đượm tư tưởng của đạo Phật và của Lão giáo Hai tư tưởng ấy quyện lẫn vào thơ ông để cho chúng ta thấy được nét thanh cao của những người chọn niềm vui trong cảnh sông núi, vui thú điền viên, xa lánh cái ồn ào của chốn lợi danh

Thiên nhiên như được thổi hồn theo dòng cảm xúc của thi sĩ, với Ức Trai thiên nhiên không chỉ mang vẻ đẹp đơn thuần mà đó còn là người bạn tâm giao, là tiếng nói tâm tình, là nơi gửi gắm ưu tư thế sự…

Ngày đăng: 24/05/2018, 18:08

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Duy Anh (2003), Từ điển Hán - Việt, Nxb. Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Hán - Việt
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: Nxb. Văn hóa thông tin
Năm: 2003
2. Lại Nguyên Ân (1997), Từ điển văn học Việt Nam từ nguồn gốc đến hết thế kỷ XIX, Nxb. Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển văn học Việt Nam từ nguồn gốc đến hết thế kỷ XIX
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb. Giáo dục
Năm: 1997
3. Lê Bảo (2001), Nguyễn Trãi nhà văn và tác phẩm trong nhà trường, Nxb. Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Trãi nhà văn và tác phẩm trong nhà trường
Tác giả: Lê Bảo
Nhà XB: Nxb. Giáo dục
Năm: 2001
4. Xuân Diệu (1980), Sáu trăm năm Nguyễn Trãi, Nxb. Tác phẩm mới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sáu trăm năm Nguyễn Trãi
Tác giả: Xuân Diệu
Nhà XB: Nxb. Tác phẩm mới
Năm: 1980
5. Xuân Diệu (1981), Các nhà thơ cổ điển Việt Nam, Nxb. Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các nhà thơ cổ điển Việt Nam
Tác giả: Xuân Diệu
Nhà XB: Nxb. Văn học
Năm: 1981
6. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (2004), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi
Nhà XB: Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2004
7. Lê Thị Hạnh (2007), Nghệ thuật sử dụng điển tích, điển cố trong Ức Trai thi tập của Nguyễn Trãi, Khóa luận tốt nghiệp, Thƣ viện Đại học Sƣ phạm Hà Nội 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật sử dụng điển tích, điển cố trong Ức Trai thi tập của Nguyễn Trãi
Tác giả: Lê Thị Hạnh
Năm: 2007
8. Nguyễn Thị Hồng (2015), Vịnh sử của Nguyễn Khuyến, Khóa luận tốt nghiệp, Thƣ viện Đại học Sƣ phạm Hà Nội 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vịnh sử của Nguyễn Khuyến
Tác giả: Nguyễn Thị Hồng
Năm: 2015
9. Đinh Thị Hương (2012), Thơ vịnh vật đời Đường, Luận án Tiến sĩ, Thư viện Quốc Gia Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ vịnh vật đời Đường
Tác giả: Đinh Thị Hương
Năm: 2012
10. Đinh Gia Khánh (1978), Giáo trình văn học Việt Nam (tập 1), Nxb. Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình văn học Việt Nam
Tác giả: Đinh Gia Khánh
Nhà XB: Nxb. Đại học và Trung học chuyên nghiệp
Năm: 1978
11. Đinh Gia Khánh (1998), Văn học Việt Nam thế kỷ X – Nửa đầu XVIII, Nxb. Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam thế kỷ X – Nửa đầu XVIII
Tác giả: Đinh Gia Khánh
Nhà XB: Nxb. Giáo dục
Năm: 1998
12. Đinh Gia Khánh (2005), Điển cố Văn học, Nxb. Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điển cố Văn học
Tác giả: Đinh Gia Khánh
Nhà XB: Nxb. Văn học
Năm: 2005
13. Phương Lựu (1997), Góp phần xác lập hệ thống quan niệm văn học trung đại Việt Nam, Nxb. Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp phần xác lập hệ thống quan niệm văn học trung đại Việt Nam
Tác giả: Phương Lựu
Nhà XB: Nxb. Văn học
Năm: 1997
14. Bùi Văn Nguyên, Phan Sỹ Tấn (1963), Giáo trình lịch sử văn học Việt Nam, Nxb. Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình lịch sử văn học Việt
Tác giả: Bùi Văn Nguyên, Phan Sỹ Tấn
Nhà XB: Nxb. Giáo dục
Năm: 1963
15. Bùi Văn Nguyên (1980), Nguyễn Trãi, Nxb Văn Hóa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Trãi
Tác giả: Bùi Văn Nguyên
Nhà XB: Nxb Văn Hóa
Năm: 1980
16. Bùi Văn Nguyên (1984), Văn chương Nguyễn Trãi, Nxb. Đại học và Trung cấp chuyên nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn chương Nguyễn Trãi
Tác giả: Bùi Văn Nguyên
Nhà XB: Nxb. Đại học và Trung cấp chuyên nghiệp
Năm: 1984
17. Bùi Văn Nguyên (1992), Thơ quốc âm Nguyễn Trãi, Nxb. Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ quốc âm Nguyễn Trãi
Tác giả: Bùi Văn Nguyên
Nhà XB: Nxb. Giáo dục
Năm: 1992
18. Bùi Văn Nguyên, Hà Minh Đức (1999), Thơ ca Việt Nam hình thức và thể loại, Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ ca Việt Nam hình thức và thể loại
Tác giả: Bùi Văn Nguyên, Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 1999
19. Nguyễn Tôn Nhan (1999), Từ điển Văn học cổ điển Trung Quốc, Nxb. Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Văn học cổ điển Trung Quốc
Tác giả: Nguyễn Tôn Nhan
Nhà XB: Nxb. Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 1999
20. Nhiều tác giả (1980), Kỷ niệm 600 năm ngày sinh Nguyễn Trãi, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ niệm 600 năm ngày sinh Nguyễn Trãi
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: Nxb. Khoa học xã hội
Năm: 1980

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w