1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Quản lý chi phí đào tạo của các cơ sở giáo dục đại học công lập ở việt nam

236 233 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 236
Dung lượng 3,61 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

+ Quản lý hiệu quả CPĐT tại các cơ sở giáo dục đại học sẽ cho phép so sánh CPĐT giữa các đơn vị, so sánh chi phí giữa các chương trình đào tạo với các vùng địa lý khác nhau, đặc biệt là

Trang 1

MỤC LỤC

MỤC LỤC i

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT iv

DANH MỤC BẢNG vi

DANH MỤC BIỂU ĐỒ viii

DANH MỤC SƠ ĐỒ viii

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ CHI PHÍ ĐÀO TẠO CỦA CÁC CƠ SỞ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC CÔNG LẬP 17

1.1 CHI PHÍ ĐÀO TẠO CỦA CÁC CƠ SỞ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC CÔNG LẬP 17

1.1.1 Khái niệm, đặc trưng và vai trò của các cơ sở giáo dục đại học công lập 17

1.1.2 Chi phí đào tạo trong các cơ sở giáo dục đại học công lập 22

1.1.3 Phân loại chi phí đào tạo đại học 27

1.2 QUẢN LÝ CHI PHÍ ĐÀO TẠO CỦA CÁC CƠ SỞ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC CÔNG LẬP 33

1.2.1 Bản chất của quản lý chi phí đào tạo trong các cơ sở giáo dục đại học công lập 33

1.2.2 Mục tiêu của quản lý chi phí đào tạo trong các cơ sở giáo dục đại học công lập 35

1.2.3 Nguyên tắc quản lý chi phí đào tạo trong các cơ sở giáo dục đại học công lập 36

1.2.4 Phương pháp quản lý chi phí đào tạo trong các cơ sở giáo dục đại học công lập 37

1.2.5 Nội dung quản lý chi phí đào tạo trong các cơ sở giáo dục đại học công lập 39

1.2.6 Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý chi phí đào tạo các cơ sở giáo dục đại học công lập 49

1.3 KINH NGHIỆM QUẢN LÝ CHI PHÍ ĐÀO TẠO CỦA CÁC CƠ SỞ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM 57 1.3.1 Kinh nghiệm quản lý chi phí đào tạo của các cơ sở giáo dục

Trang 2

đại học một số nước trên thế giới 57

1.3.2 Một số bài học kinh nghiệm quản lý chi phí đào tạo cho các cơ sở giáo dục đại học công lập Việt Nam 69

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 73

Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CHI PHÍ ĐÀO TẠO CỦA CÁC CƠ SỞ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC CÔNG LẬP Ở VIỆT NAM 74

2.1 TỔNG QUAN VỀ CÁC CƠ SỞ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC CÔNG LẬP Ở VIỆT NAM 74

2.1.1 Hệ thống giáo dục đại học công lập ở Việt Nam 74

2.1.2 Phân loại các cơ sở giáo dục đại học công lập ở Việt Nam 80

2.1.3 Cơ chế tự chủ tài chính của các cơ sở giáo dục đại học công lập Việt Nam hiện nay 85

2.2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CHI PHÍ ĐÀO TẠO CÁC CƠ SỞ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC CÔNG LẬP Ở VIỆT NAM 87

2.2.1 Mô tả mẫu nghiên cứu 87

2.2.2 Bộ máy quản lý chi phí và chế độ kế toán áp dụng 89

2.2.3 Công tác xây dựng và quản lý chi phí đào tạo theo dự toán và định mức chi 93

2.2.4 Tổ chức nhận diện, phân loại chi phí 98

2.2.5 Quản lý chi phí đào tạo theo các nội dung chi 100

2.2.6 Tổ chức xác định chi phí đào tạo 112

2.2.7 Phân tích thông tin chi phí và đánh giá 116

2.2.8 Quản lý chi phí đào tạo thông qua các công cụ: kiểm tra, giám sát và công khai tài chính 119

2.3 ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CHI PHÍ ĐÀO TẠO CỦA CÁC CƠ SỞ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC CÔNG LẬP Ở VIỆT NAM 122

2.3.1 Những mặt đã đạt được 122

2.3.2 Những bất cập và nguyên nhân 126

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 138

Chương 3 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ CHI PHÍ ĐÀO TẠO CỦA CÁC CƠ SỞ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC CÔNG LẬP Ở VIỆT NAM 140

3.1 ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC ĐẠI HỌC VÀ QUAN ĐIỂM QUẢN LÝ CHI PHÍ ĐÀO TẠO CÁC CƠ SỞ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC CÔNG LẬP VIỆT NAM THỜI GIAN TỚI, TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2030 140

Trang 3

3.1.1 Mục tiêu, định hướng phát triển giáo dục đại học công lập

Việt Nam 1403.1.2 Quan điểm về quản lý chi phí đào tạo các cơ sở GDĐH công lập Việt Nam trong thời gian tới, tầm nhìn đến năm 2030 1423.1.3 Dự báo các nhân tố tác động đến quản lý chi phí đào tạo của các cơ sở giáo dục đại học công lập trong thời gian tới 1463.1.4 Những yêu cầu về giải pháp quản lý chi phí đào tạo đại học

công lập trong thời gian tới 1513.2 HOÀN THIỆN QUẢN LÝ CHI PHÍ ĐÀO TẠO TẠI CÁC CƠ SỞ

GIÁO DỤC ĐẠI HỌC CÔNG LẬP VIỆT NAM TRONG CƠ CHẾ TỰ

CHỦ TÀI CHÍNH 153

3.2.1 Nhóm giải pháp hoàn thiện quy trình và chất lượng quản lý

chi phí đào tạo 1543.2.2 Nhóm giải pháp tăng cường tính công khai tài chính và tự

kiểm tra, giám sát nội bộ 1633.2.3 Nhóm giải pháp hướng tới quản lý chi phí giáo dục đại học

công lập theo mô hình quản lý chi phí của doanh nghiệp 1673.2.4 Thăm dò mức độ cần thiết của các giải pháp 1853.3 ĐIỀU KIỆN THỰC HIỆN CÁC GIẢI PHÁP – CÁC KIẾN NGHỊ

ĐỐI VỚI CƠ QUAN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC 1883.3.1 Cơ chế tự chủ của các cơ sở GDĐH công lập 1883.3.2 Thay đổi cơ chế cấp phát và sử dụng ngân sách cho các cơ

sở giáo dục đại học công lập 1903.3.3 Hoàn thiện chính sách học phí và chia sẻ chi phí đào tạo 1913.3.4 Xây dựng định mức chi phí đào tạo tương ứng với mỗi cấp

chất lượng đào tạo 1923.3.5 Nâng cao hiệu quả đầu tư thông qua việc quy hoạch lại và

giảm bớt quy mô giáo dục đại học 194KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 196KẾT LUẬN 197CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ

ĐỀ XUẤT NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU TIẾP THEO

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 4

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

ABC Chi phí theo hoạt động (Activity Based

costing)

Trang 5

thành lập năm 1997

Liên hiệp quốc

Trang 6

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1: Chi phí học tập tại một số trường đại học ở Anh năm 2013 60Bảng 1.2: Chi NSNN cho giáo dục của một số nước năm 2015 66Bảng 1.3: Suất đầu tư đào tạo đại học so với GDP đầu người năm 2012 67Bảng 1.4: Học phí thường niên của các trường đại học hàng đầu thế giới năm 2013- 2014 68Bảng 2.1: Số lượng các cơ sở giáo dục đại học công lập qua các năm 75Bảng 2.2: Số lượng giảng viên cơ hữu các cơ sở giáo dục đại học, cao

đẳng công lập phân bổ theo vùng tính đến năm 2015 76Bảng 2.3: Tỷ lệ sinh viên quy đổi trên 1 giảng viên tính theo các vùng

năm học 2014-2015 79Bảng 2.4: Các cơ sở giáo dục đại học công lập Việt Nam phân bổ theo

vùng tính đến năm học 2015-2016 81Bảng 2.5: Quy mô đào tạo đại học chính quy theo nhóm ngành năm 2010 83Bảng 2.6: Đặc điểm của mẫu nghiên cứu 88Bảng 2.7: Chi phí đào tạo từ các nguồn kinh phí của các đơn vị giai đoạn 2011-2016 101Bảng 2.8: Chi phí đào tạo của các đơn vị giai đoạn 2011-2016 - theo hệ

đào tạo 103Bảng 2.9: Chi phí đào tạo giai đoạn 2011-2016 của các đơn vị - theo

nhóm mục chi 104Bảng 2.10: Chi tiết chi đào tạo đại học năm 2016 của trường đại học

Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh – thống kê theo nhóm mục và mục chi 107Bảng 2.11: Chi tiết chi đào tạo đại học năm 2016 của trường đại học Đà

Lạt – thống kê theo nhóm mục và mục chi 109Bảng 2.12: Chi phí đào tạo một sinh viên đại học hàng năm theo nhóm

ngành năm 2010 113Bảng 2.13: Chi phí thực tế và chi phí hợp lý đào tạo đại học của các

Trang 7

nhóm ngành năm 2010 115

Bảng 2.14: Tính toán hiệu quả tài chính lớp Bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm 117

Bảng 2.15: Tình hình thực hiện công khai của 55 cơ sở GDĐH công lập 120

Bảng 2.16: Tổng hợp kết quả điều tra đánh giá phương thức quản lý chi phí và công tác kiểm tra, giám sát nội bộ tại các cơ sở GDĐH công lập 122

Bảng 3.1: Mẫu báo cáo tình hình thực hiện dự toán chi phí 176

Bảng 3.2: Mẫu báo cáo kết quả hoạt động SXKD của đơn vị trực thuộc 177

Bảng 3.3: Mẫu báo cáo tổng hợp thu, chi hoạt động đào tạo 179

Bảng 3.4: Mẫu báo cáo tổng hợp chi phí hoạt động nghiên cứu khoa học 181

Bảng 3.5: Bảng các chỉ tiêu đo lường và đánh giá hiệu quả hoạt động bằng phương pháp thẻ điểm cân bằng 184

Bảng 3.6: Kết quả khảo sát tính cần thiết của các giải pháp 186

Trang 8

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 1.1: Tỷ trọng phân bổ ngân sách của nước Anh cho giáo dục đại học theo các lĩnh vực, năm học 2014-2015 61Biểu đồ 2.1: Số lượng các cơ sở GDĐH công lập qua các năm 75Biểu đồ 2.2: Tỷ lệ giảng viên các cơ sở giáo dục đại học công lập năm

học 2016-2017 phân theo trình độ 78Biểu đồ 2.3: Số sinh viên quy đổi trên 1 giảng viên năm học 2014-2015

phân theo vùng 79Biểu đồ 2.4: Các cơ sở GDĐH công lập Việt Nam phân bổ theo vùng

tính đến năm học 2015-2016 82Biểu đồ 2.5: Tỷ lệ đào tạo đại học chính quy theo nhóm ngành năm 2010 84Biểu đồ 2.6: Chi phí đào tạo từ các nguồn kinh phí của các đơn vị giai

đoạn 2011-2016 - Các đơn vị trong mẫu tại phụ lục 1 102Biểu đồ 3.1: Mức độ “rất cần thiết” của các giải pháp 188

DANH MỤC SƠ ĐỒ

Sơ đồ 2.1: Phân cấp quản lý các cơ sở GDĐH công lập 74

Trang 9

MỞ ĐẦU

I Tính cấp thiết của đề tài

Giáo dục, đào tạo và khoa học công nghệ là quốc sách hàng đầu Đầu

tư cho giáo dục là đầu tư chiều sâu, đầu tư cho sự phát triển bền vững của cá nhân và đất nước Cùng với quá trình đổi mới của đất nước, hệ thống GDĐH Việt Nam đã đạt được một số kết quả quan trọng, là nơi cung cấp chủ yếu nguồn nhân lực trình độ cao cho hiện đại hóa, công nghiệp hóa đất nước Đã

có nhiều mô hình các cơ sở giáo dục đại học chất lượng ngày càng cao, trình

độ quản lý của các cơ sở giáo dục và đào tạo cũng ngày càng được nâng lên

Quá trình đổi mới toàn diện GDĐH Việt Nam, tài chính trong các cơ sở GDĐH là một trong những vấn đề quan trọng đòi hỏi phải có những giải pháp quản lý mang tính đột phá Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X đã xác định rõ phương hướng đổi mới chính sách tài chính phát triển giáo dục và đào tạo, đó là: “Đổi mới cơ chế tài chính giáo dục và đào tạo theo hướng xác định đầy đủ chi phí dạy và học, chia sẻ hợp lý trách nhiệm chi trả giữa Nhà nước,

xã hội và người học; Tăng cường hợp tác quốc tế về giáo dục, đào tạo; từng bước xây dựng nền giáo dục hiện đại, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước ”

Bên cạnh việc đa dạng hóa các loại hình đào tạo đại học là yêu cầu phải

có những đổi mới về phương thức quản lý, đặc biệt là quản lý về tài chính và CPĐT phù hợp đối với mỗi loại hình đào tạo Xã hội hóa giáo dục, đòi hỏi giáo dục và đào tạo cũng phải được coi là một loại hình dịch vụ, nhưng không phải là dịch vụ thông thường mà là loại hình dịch vụ đặc biệt Đây là một dịch

vụ đặc biệt, vì nó liên quan đến sản phẩm tiếp nhận tri thức của con người, liên quan đến chính sách và đến toàn xã hội Với quan điểm đào tạo là một dịch vụ, vấn đề đặt ra là phải quản lý được chi phí của dịch vụ đó Bên cạnh

đó, gắn với quan điểm GDĐH là một loại hình dịch vụ, thì cũng cần phải tính toán được hiệu quả hoạt động của dịch vụ này

Nói đến đổi mới tài chính GDĐH, từ trước đến nay người ta chỉ thường nhấn mạnh cải cách ở các mặt: Đa dạng hóa nguồn tài chính; Nâng cao hiệu

Trang 10

quả sử dụng NSNN; Đầu tư hợp lý cho sinh viên; Tăng cường tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các cơ sở đào tạo Tuy nhiên, vấn đề cơ bản để giải quyết hầu hết các cải cách trên lại nằm ở việc phải quản lý hiệu quả CPĐT ngay tại chính các cơ sở GDĐH Điều đó thể hiện qua các mặt:

+ Trong điều kiện tự chủ tài chính hiện nay, để tăng cường hiệu quả sử dụng các khoản kinh phí, hướng tới việc bền vững tài chính nhất thiết đòi hỏi các

cơ sở GDĐH phải nâng cao hiệu quả quản lý CPĐT

+ Quản lý hiệu quả CPĐT tại các cơ sở giáo dục đại học sẽ cho phép so sánh CPĐT giữa các đơn vị, so sánh chi phí giữa các chương trình đào tạo với các vùng địa lý khác nhau, đặc biệt là so sánh giữa các cơ sở giáo dục có cùng nhóm ngành đào tạo, đồng thời giúp các cơ sở GDĐH công lập tính toán chính xác mức độ đóng góp của sinh viên khi được phân cấp tự chủ về tài chính

+ Quản lý hiệu quả CPĐT tại các cơ sở GDĐH sẽ giúp cho Nhà nước có được căn cứ để đề ra các giải pháp cụ thể và có hiệu quả trong điều chỉnh cơ cấu đào tạo đại học theo yêu cầu thực tiễn của tình hình phát triển, thông qua tăng hay giảm khoản hỗ trợ của NSNN và phân loại mức độ tự chủ tài chính của các cơ sở GDĐH công lập;

+ Trong điều kiện các cơ sở GDĐH đang được giao tự chủ tài chính theo quy định tại Nghị định số 16/2015/NĐ-CP, để xác định được giá dịch vụ đào tạo thì phải xác định được CPĐT cần thiết Điều quan trọng là CPĐT đó có thực

sự hợp lý và cần thiết hay không? và chi phí đó có phù hợp với mức chất lượng được kỳ vọng hay không? Đối với các cơ sở GDĐH, khi được giao quyền tự chủ về tài chính thì học phí là nguồn tài chính quan trọng nhất Chính vì vậy, bên cạnh việc nâng cao chất lượng đào tạo, xây dựng “thương hiệu” cho riêng mình thì việc quản lý hiệu quả CPĐT đại học là một bài toán

mà tất cả các cơ sở giáo dục đều muốn thực hiện nhằm có được cơ sở khoa học và thực tiễn trong việc xác định mức thu học phí phù hợp, vừa có thể bù đắp được CPĐT vừa có tính thuyết phục cao để được xã hội và người học chấp nhận

Trên thực tế có thể tồn tại nhiều mức CPĐT một sinh viên đại học tuỳ thuộc vào chất lượng đào tạo, quy mô đào tạo, ngành nghề đào tạo của mỗi

Trang 11

cơ sở đào tạo Tuy nhiên, với một mức chất lượng đào tạo phù hợp hoặc ở mức cao thì CPĐT tối đa hay tối thiểu cho mỗi sinh viên sẽ là bao nhiêu và cơ cấu của CPĐT như thế nào là hợp lý Điều này đòi hỏi cần phải có những nghiên cứu cụ thể để có cơ sở khoa học vững chắc và có biện pháp quản lý CPĐT phù hợp trong các cơ sở GDĐH Do vậy, việc quản lý hiệu quả CPĐT đại học công lập, đặc biệt trong cơ chế tự chủ tài chính là vấn đề mang tính cấp thiết của các cơ sở GDĐH công lập trong giai đoạn hiện nay

Nghiên cứu chọn đề tài “Quản lý chi phí đào tạo của các cơ sở giáo dục đại học công lập ở Việt Nam” làm luận án tiến sĩ xuất phát từ những lí do nêu

trên

II Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích: Tìm ra những quan hệ ràng buộc giữa CPĐT đại học công

lập với các nhân tố ảnh hưởng; đưa ra quy trình, nội dung quản lý, bộ máy tổ chức quản lý và những tác động qua lại giữa hệ thống quản lý và tự chủ tài chính của tổ chức GDĐH công lập Qua đó gợi ý những chính sách kiểm soát chi phí đào tạo trong các cơ sở GDĐH công lập

Nhiệm vụ nghiên cứu: Để đạt được mục đích nghiên cứu, việc nghiên

cứu của đề tài đặt ra nhiệm vụ chủ yếu sau:

Thứ nhất, Hệ thống hóa những vấn đề cơ bản về quản lý CPĐT tại các

cơ sở GDĐH công lập, đặc biệt quản lý CPĐT trong điều kiện tự chủ tài chính Từ đó xây dựng khung lý thuyết cho nghiên cứu của luận án

Thứ hai, Đánh giá thực trạng quản lý chi phí đào tạo của các cơ sở

GDĐH công lập ở Việt Nam trên cơ sở những vấn đề lý luận đã được xây dựng Từ đó, có những gợi ý chính sách

Thứ ba, Đề xuất các giải pháp hoàn thiện quản lý chi phí đào tạo của

các cơ sở GDĐH công lập ở Việt Nam

Để thực hiện được các mục đích nghiên cứu trên, luận án cần giải quyết được các câu hỏi nghiên cứu sau:

Câu hỏi nghiên cứu:

1) Nội hàm và các vấn đề của quản lý CPĐT tại các cơ sở GDĐH công

Trang 12

lập là gì (Bản chất, mục tiêu, nội dung quản lý, nguyên tắc quản lý, các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý CPĐT?)

2) Quản lý CPĐT tại các cơ sở GDĐH công lập có tác động như thế nào đến hoạt động và mục tiêu phát triển của các cơ sở GDĐH? Mối quan

hệ và tác động qua lại của quản lý CPĐT đại học với tự chủ tài chính, với giá dịch vụ đào tạo và chất lượng đào tạo?

3) Thực trạng và những vấn đề hiện nay của quản lý CPĐT trong các cơ

sở GDĐH công lập như thế nào? Việc quản lý CPĐT đại học trong các

cơ sở GDĐH công lập Việt Nam hiện nay đã hợp lý chưa, có điều gì bất cập?

4) Các giải pháp nào được thực hiện để hoàn thiện quản lý chi phí đào tạo tại các cơ sở GDĐH công lập trong điều kiện thực hiện tự chủ tài chính thời gian tới?

III Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

 Đối tượng nghiên cứu

Luận án sẽ tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về quản lý CPĐT của các cơ sở GDĐH công lập ở Việt Nam (không bao gồm những cơ sở GDĐH có cơ chế đặc thù riêng như những trường quân đội, những trường thuộc lĩnh vực an ninh, quốc phòng…)

Phạm vi nghiên cứu

- Về nội dung: Nghiên cứu lý luận và thực tiễn quản lý CPĐT tại các cơ

sở GDĐH đại học, từ đó đưa ra các giải pháp hoàn thiện quản lý CPĐT tại các

cơ sở GDĐH công lập trong điều kiện tự chủ tài chính

- Về không gian: Luận án nghiên cứu việc quản lý CPĐT tại các cơ sở

GDĐH công lập Luận án sử dụng số liệu thu thập từ phiếu khảo sát tại các cơ

sở GDĐH, số liệu thống kê của Bộ GD&ĐT, Bộ Tài chính, đồng thời sử dụng

số liệu trên website phần công khai thông tin của các cơ sở GDĐH công lập Luận án cũng tìm hiểu các trường đại học của một số quốc gia tiêu biểu đã thành công trong công tác quản lý CPĐT đại học để rút ra kinh nghiệm đối với các cơ sở GDĐH công lập Việt Nam

Trang 13

IV Phương pháp nghiên cứu

Xuất phát từ mục đích và câu hỏi nghiên cứu của luận án, tác giả sử dụng những phương pháp nghiên cứu như phương pháp thống kê kế toán, thống kê phân tích, phân tích so sánh và tổng hợp, phương pháp suy luận, phương pháp dự báo Ngoài ra, luận án cũng thực hiện khảo sát để phân tích, đánh giá thực trạng quản lý CPĐT đại học và những bất cập của việc chưa xác định được CPĐT trong việc giao quyền tự chủ cho các cơ sở GDĐH công lập Để đạt được mục tiêu nghiên cứu đề ra, tác giả thực hiện phân tích các nhân tố ảnh hưởng tới quản lý CPĐT đại học để tìm ra các mối quan hệ tương tác, và là định hướng để tìm kiếm các công cụ định lượng trong nghiên cứu CPĐT Đồng thời tác giả cũng sử dụng các số liệu đã được thống kê để phân tích thực trạng các yếu tố cấu thành CPĐT đại học thời gian qua, qua đó thấy được sự biến động của các chỉ tiêu cần phân tích

Tác giả thực hiện thu thập dữ liệu từ nhiều nguồn thông tin khác nhau như:

- Nguồn thông tin thứ cấp:

+ Những vấn đề lý luận đã được đúc rút trong sách, giáo trình chuyên ngành; các số liệu thống kê đã được công bố, các báo cáo tổng hợp từ Bộ GD&ĐT, Bộ Tài chính Việc làm này nhằm đưa ra cơ sở lý luận, trên cơ sở

đó phân tích thực trạng quản lý CPĐT của các cơ sở GDĐH

+ Thu thập và hệ thống hoá các tài liệu của các tác giả ngoài nước, nhằm đúc rút những kinh nghiệm giải quyết vấn đề mà các nước đã thực hiện

+ Hệ thống hoá các văn bản pháp quy liên quan trực tiếp đến quản lý CPĐT đại học ở Việt Nam, từ đó có những đề xuất phù hợp trong thời gian tới

- Nguồn thông tin sơ cấp: Thực hiện khảo sát một số cơ sở GDĐH công

Trang 14

lập mang tính tiêu biểu đại diện cho các khối trường, vùng miền và lĩnh vực đào tạo

Đối tượng khảo sát là lãnh đạo đơn vị, trưởng bộ phận Tài chính – Kế toán, kế toán viên, giảng viên giảng dạy các chuyên ngành về kinh tế trong các cơ sở GDĐH công lập

Tác giả thiết kế bảng hỏi với các câu hỏi liên quan đến thực trạng quản

lý CPĐT tại các cơ sở GDĐH công lập và các nhận định, ý kiến của người được khảo sát, sau đó xin ý kiến các nhà khoa học và chuyên gia để hoàn thiện Để hiểu rõ kết quả khảo sát và bản chất của quản lý CPĐT tại các cơ sở GDĐH công lập trong điều kiện tự chủ tài chính, tác giả thiết kế những câu hỏi gợi ý, câu hỏi mang tính chất đánh giá và nhận định Dựa vào thông tin đã thu thập tác giả tổng hợp, phân tích kết hợp giữa lý luận và thực tiễn

V Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu

Luận án mong muốn sẽ đạt được những ý nghĩa sau:

 Về mặt khoa học: Hệ thống hóa những vấn đề lý thuyết về quản lý

CPĐT tại các cơ sở GDĐH công lập, nội dung và các yếu tố ảnh hưởng tới quản lý CPĐT đại học và việc quản lý CPĐT đại học phù hợp trong điều kiện giao quyền tự chủ tài chính cho các cơ sở GDĐH Luận án cũng đi vào nghiên cứu và tìm hiểu kinh nghiệm quốc tế về vấn đề quản lý CPĐT đại học

 Về mặt thực tiễn: Luận án vận dụng những vấn đề lý luận để làm rõ

việc quản lý CPĐT tại các cơ sở GDĐH công lập; tham khảo kinh nghiệm nước ngoài về quản lý CPĐT đại học; đề xuất việc tính phí linh hoạt theo từng ngành đào tạo, từng loại hình đào tạo của mỗi cơ sở GDĐH trên cơ sở đo được năng lực thu hút tương đương với mức phí của mỗi đơn vị, đồng thời đề xuất các giải pháp tăng cường hiệu quả kiểm soát và quản lý CPĐT gắn liền với cơ

chế tự chủ tài chính tại các cơ sở GDĐH công lập ở Việt Nam

VI Một số điểm mới của luận án

Luận án hy vọng sẽ đạt được những điểm mới sau:

- Luận án sẽ là công trình nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề quản lý CPĐT tại các cơ sở GDĐH công lập ở Việt Nam trong cơ chế TCTC cả về mặt lý thuyết và thực tiễn

Trang 15

- Đánh giá có hệ thống thực trạng quản lý CPĐT tại các cơ sở GDĐH công lập ở Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2011 đến năm 2016, từ đó đề xuất giải pháp hoàn thiện quản lý CPĐT tại các cơ sở GDĐH công lập trong thời gian sắp tới trong cơ chế tự chủ tài chính

- Xây dựng mô hình quản lý CPĐT tại các cơ sở GDĐH công lập theo

mô hình quản lý chi phí của doanh nghiệp

Giả thiết nghiên cứu

Giả thiết nghiên cứu là nếu đưa ra được phương án quản lý CPĐT đại học tối ưu, phù hợp với các cơ sở GDĐH công lập trong cơ chế TCTC; xác định được những trọng tâm giải pháp quản trị chi phí sẽ cho ra được cơ chế quản lý đảm bảo chất lượng đầu ra thỏa mãn được các mục tiêu phát triển, TCTC trong điều kiện hiện nay và xu hướng tương lai đối với các cơ sở GDĐH công lập ở Việt Nam

VII Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, tổng quan tình hình nghiên cứu, kết luận, phụ lục

và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận án bao gồm ba chương:

Chương 1 Những vấn đề cơ bản về quản lý chi phí đào tạo của các cơ sở giáo dục đại học công lập

Chương 2 Thực trạng quản lý chi phí đào tạo của các cơ sở giáo dục đại học công lập ở Việt Nam

Chương 3 Giải pháp hoàn thiện quản lý chi phí đào tạo của các cơ sở giáo dục đại học công lập ở Việt Nam

Trang 16

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

I Tình hình nghiên cứu trong nước

Cơ chế phát triển giáo dục đào tạo là sự tác động tổng hợp của tất cả các yếu tố, các chủ thể tham gia vào quá trình giáo dục đào tạo, tạo nên khuôn khổ pháp lý và động lực cho sự phát triển giáo dục Xét về phương diện kinh

tế và xã hội, đầu tư cho giáo dục đào tạo có cả ý nghĩa cá nhân và ý nghĩa xã hội Đối với mỗi cá nhân đó là đầu tư cho nâng cao năng lực và kỹ năng lao động của bản thân; đối với nền kinh tế xã hội đó là sự đầu tư cho nguồn nhân lực, nguồn vốn con người của dân tộc Vì vậy, chi phí đầu tư cho giáo dục được cả Nhà nước, xã hội, nhà trường, mỗi gia đình và cá nhân quan tâm Tuy nhiên, chưa có nhiều công trình nghiên cứu về quản lý CPĐT của các cơ sở GDĐH, mà chủ yếu là các công trình nghiên cứu chung về lĩnh vực tài chính giáo dục, hoặc chỉ mới đề cập đến một khía cạnh nào đó liên quan đến CPĐT đại học

Trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, sự thay đổi chức năng của các chủ thể gắn liền với các vấn đề như chi phí giáo dục đào tạo, cấp tài chính cho giáo dục đào tạo, cơ chế quản lý và cung ứng hàng hóa dịch vụ giáo dục đào tạo… đóng vai trò rất quan trọng trong việc hình thành

cơ chế phát triển giáo dục đào tạo, sản xuất và cung ứng hàng hóa dịch vụ giáo dục đào tạo Đó là những vấn đề có ý nghĩa quan trọng cả về mặt lý luận

và thực tiễn, đặc biệt là đối với các cơ sở GDĐH

Lý thuyết về tài chính công được phát triển và chú ý ở Việt Nam trong thời gian gần đây, khi nền kinh tế chuyển sang cơ chế thị trường và có hội nhập sâu rộng với thế giới Quản lý tài chính đối với GDĐH cũng là một bộ phận của nền tài chính công, chịu sự điều tiết, chi phối bởi những cơ chế, quy định chung của quản lý Nhà nước nhưng cũng có những đặc trưng riêng biệt xuất phát từ vai trò và vị trí quan trọng của cơ sở giáo dục đại học trong xã hội Đổi mới cơ chế hoạt động tài chính GDĐH là một nội dung quan trọng trong Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Thông báo kết luận

số 37- TB/TW ngày 26/5/2011 của Bộ Chính trị về Đề án “Đổi mới cơ chế hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập” Đây là vấn đề thu hút và nhận

Trang 17

được sự quan tâm của đông đảo các nhà nghiên cứu, các nhà quản lý trong nước Các công trình khoa học trong lĩnh vực này khá phong phú với ý kiến khác nhau, thậm chí trái ngược nhau tùy theo cách tiếp cận Các bài báo, tạp chí bàn về vấn đề tài chính công và quản lý chi tiêu công cho lĩnh vực giáo dục đào tạo rất phong phú; đối tượng nghiên cứu khá rộng và nhiều giải pháp được đề xuất mang tính định hướng cho toàn bộ hệ thống

Trước tiên phải kể đến các bài báo, như: “Tự chủ học phí gắn với đào

tạo chất lượng cao và trách nhiệm xã hội của các trường đại học công lập”

của tác giả Nguyễn Thị Thu Hương đăng trên tạp chí đại học Quốc gia Hà Nội - Tập 27, Số 3-2011 [76], tác giả đã đưa ra nhận định: việc thu học phí tương xứng với trang trải CPĐT của các chương trình đào tạo chất lượng cao

sẽ góp phần tháo gỡ những khó khăn về tài chính cho các trường đại học công lập khi thực hiện cung cấp dịch vụ đào tạo chất lượng cao đáp ứng nhu cầu xã

hội; Bài báo “Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc xác định chi phí đào tạo đại

học ở Việt Nam” của nhóm tác giả Nguyễn Văn Áng, Nguyễn Anh Tuấn và

Phạm Thị Minh Thảo đăng trên tạp chí Khoa học giáo dục - Số 36, tháng 9 năm 2008 [75] đã khẳng định sự cần thiết của việc xác định chi phí đào tạo đại học ở Việt Nam, đề xuất việc tính CPĐT cho một người học bằng cách cộng các khoản chi phí từng bộ phận tính cho từng đối tượng người học; Hay

bài báo “Chi phí, lợi ích đầu tư cho giáo dục đại học Việt Nam và lộ trình cải

cách học phí theo nhóm ngành” của tác giả Phùng Xuân Nhạ và Phạm Xuân

Hoan đăng trên Tạp chí Phát triển Kinh tế số 264, tháng 10-2012 [77] Mặc

dù đã đề cập tới mối quan hệ giữa mức thu học phí và trang trải chi phí, nhưng tác giả (Nguyễn Thị Thu Hương) chưa đề xuất phương thức quản lý phù hợp để trang trải chi phí đào tạo như thế nào cho hợp lý; hoặc mới chỉ đề cập đến sự cần thiết xác định chi phí đào tạo và mối liên quan của chi phí đào tạo với mức học phí, chưa đề cập đến việc chi phí đào tạo đại học như thế nào

là phù hợp và vấn đề tăng cường quản lý chi phí đào tạo sẽ ảnh hưởng như thế nào đến hiệu quả quản lý tài chính tại các trường đại học (Phùng Xuân Nhạ và Phạm Xuân Hoan); đồng thời cơ sở của việc xác định chi phí đào tạo (theo phương án của nhóm tác giả Nguyễn Văn Áng và các cộng sự) đưa ra ở đây chưa phản ánh đầy đủ các yếu tố cấu thành chi phí đào tạo thực tế, và cũng chưa đề cập tới vấn đề quản lý CPĐT

Trang 18

Các công trình nghiên cứu mang tính hệ thống, khá toàn diện về tài chính các cơ sở GDĐH phải kể đến các luận án tiến sĩ Đây cũng là nhóm công trình đồ sộ về số lượng và nghiên cứu khá toàn diện về các vấn đề liên quan đến cơ chế quản lý tài chính nói chung, tài chính cho giáo dục nói riêng

Năm 2008, luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Anh Thái với đề tài “Hoàn

thiện cơ chế quản lý tài chính đối với các trường đại học ở Việt Nam” [73]

đã tập trung phân tích nội dung cơ chế chính sách để quản lý tài chính đối với các trường đại học nói chung, với các đề xuất: tạo nguồn tài chính đa dạng cho đào tạo, xây dựng cơ chế kiểm soát, chính sách học phí, học bổng, hoàn thiện mô hình tổ chức bộ máy quản lý đối với các trường đại học Tuy nhiên, tác giả không đi vào luận giải sâu sắc cách thức thực hiện, trong đó vấn đề mấu chốt để hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính này là phải quản lý tốt CPĐT, để từ đó đưa ra các quyết định đóng góp của người học phù hợp với tình hình đào tạo tại mỗi trường chưa được tác giả đề cập tới; Hay

luận án tiến sĩ của tác giả Vũ Thị Thanh Thủy năm 2012 với đề tài “ uản lý

tài chính các trường đại học công lập ở Việt Nam” [74] đã hệ thống hóa được

cơ sở lý luận về quản lý tài chính, đưa ra quan điểm mới về quản lý tài chính các trường đại học công lập Trong đó, đặt ra mục tiêu quản lý tài chính đối với các trường đại học công lập là tăng thu, tiết kiệm chi, tăng tích lũy hướng đến bền vững tài chính gắn với chất lượng đầu ra Luận án nhấn mạnh quản lý tài chính các trường đại học công lập theo hướng tự chủ tài chính cần được chú trọng trong điều kiện hạn hẹp về NSNN Luận án đã đề xuất khái niệm mới về tự chủ tài chính các trường đại học công lập, trong đó nhấn mạnh tự chủ tài chính đối với các trường đại học công lập nhằm mục tiêu cuối cùng là đảm bảo thu đủ bù đắp chi phí tương ứng với chất lượng đào tạo, hướng tới bền vững tài chính Tuy nhiên luận án chưa đề cập tới việc mức thu như thế nào là đủ bù đắp chi trong các cơ sở GDĐH, trong đó vấn đề mấu chốt là tăng cường hiệu quả quản lý CPĐT để có cơ sở so sánh chi phí và hiệu quả quản lý giữa các cơ sở giáo dục; Năm 2012, tác giả Trần Đức Cân với luận án tiến sĩ

kinh tế “Hoàn thiện cơ chế tự chủ tài chính các trường Đại học công lập ở

Việt Nam” [70] đã đề cập tới việc có ba nhân tố tác động tới cơ chế tự chủ tài

chính của trường đại học công lập, đó là: (1)Mục tiêu phát triển giáo dục đại học, chẳng hạn muốn tạo ra sự cạnh tranh, nâng cao hiệu quả sử dụng ngân

Trang 19

sách, giảm gánh nặng chi ngân sách cho giáo dục đại học, tăng sự minh bạch, trách nhiệm giải trình trước xã hội… thì cần tăng quyền tự chủ cho các trường; (2)Cơ chế, chính sách tài chính của Nhà nước như mô hình tài chính cho GDĐH công lập, hệ thống pháp luật đi kèm, năng lực quản lý của cơ quan chủ quản; (3)Cơ chế tài chính do mỗi trường xây dựng thông qua qui chế chi tiêu nội bộ có đảm bảo tính linh hoạt, hiệu quả hay không…, nó phụ thuộc vào mô hình, năng lực quản lý của nhà trường Tác giả cũng đi vào phân tích cơ chế TCTC từ góc độ trường đại học công lập Nêu ra những thuận lợi, khó khăn, đánh giá hiệu quả ban đầu của cơ chế tới việc tạo và sử dụng nguồn thu, trách nhiệm giải trình tài chính trước xã hội, khả năng tự chủ tài chính của các trường Cụ thể là tác động tới cơ chế phân bổ ngân sách cho các trường, mức thu học phí, khả năng tạo nguồn tài chính từ bên ngoài, qui

mô, cơ cấu, sự đa dạng, hiệu quả sử dụng nguồn thu, vốn ngân sách cấp, qui định việc cung cấp thông tin tài chính cho các cơ quan liên quan, cho người học, đẩy mạnh xã hội hóa Tác giả cũng đề cập tới việc Nhà nước cần đổi mới

cơ chế TCTC như thế nào để thúc đẩy hoạt động tạo nguồn thu, nâng cao hiệu quả sử dụng, trách nhiệm giải trình tài chính của trường đại học công lập, đối với các trường đại học công lập để thực hiện tốt cơ chế tự chủ tài chính cần điều kiện gì Tác giả đã đề cập đến rất nhiều vấn đề liên quan đến TCTC trường đại học công lập, tuy nhiên do phạm vi nghiên cứu của đề tài nên vấn

đề quản lý chi phí đào tạo và chi phí đào tạo như thế nào là phù hợp để có cơ

sở giao quyền và mức độ tự chủ tài chính cho các trường thì không được tác giả đề cập tới

Những công trình nghiên cứu tương đối gần với lĩnh vực nghiên cứu của luận án phải kể đến các đề tài nghiên cứu khoa học Ngay từ năm 1992, tác giả Lưu Đình Mạc – Viện nghiên cứu đại học và giáo dục chuyên nghiệp

đã có đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ “Giá thành đào tạo lao động kỹ

thuật” [68] Tác giả đã đưa ra phương pháp luận và phương pháp tính giá

thành đào tạo lao động kỹ thuật với quan điểm tính toán đúng giá thành đào tạo một lao động kỹ thuật sẽ giúp cho ngành giáo dục đào tạo hiểu đúng được mức chi phí bỏ ra để đào tạo một lao động kỹ thuật, qua đó sẽ giúp cho việc: xác định mức đầu tư hợp lý (giá trị của đầu vào); quản lý chi tiêu trong quá trình đào tạo, đảm bảo chất lượng đào tạo, đồng thời phấn đấu giảm những chi

Trang 20

tiêu không hợp lý; là cơ sở hình thành khung giá các hợp đồng đào tạo Có thể nói ngay tại thời điểm nghiên cứu (năm 1992), tác giả đã thấy được tầm quan trọng của việc xác định và quản lý chi phí đào tạo là vấn đề mấu chốt cho việc quyết định đầu tư phù hợp và quản lý tài chính hiệu quả trong các cơ sở giáo dục Tuy nhiên, đề tài cũng mới chỉ dừng lại ở việc tính giá thành đào tạo lao động kỹ thuật trên cơ sở chọn mẫu một số trường để đưa ra đề xuất, chưa có cái nhìn tổng thể chung và chưa đưa ra phương án chung quản lý chi phí đào tạo đại học; Đề tài cấp bộ năm 2005 của tác giả PGS.TS Vũ Duy Hào –

Trường Đại học Kinh tế quốc dân với tiêu đề “Hoàn thiện cơ chế quản lý tài

chính đối với các trường đại học công lập khối kinh tế ở Việt nam” [67]

Nội dung nghiên cứu của tác giả được xác định là cơ chế quản lý tài chính

và chỉ nghiên cứu trong phạm vi các trường đại học công lập khối kinh tế Trên cơ sở đó tác giả đã khảo sát, phân tích thực trạng cơ chế quản lý tài chính đối với các trường đại học công lập khối kinh tế ở Việt Nam hiện nay, từ đó rút ra những kết quả đạt được cũng như hạn chế và nguyên nhân trong cơ chế quản lý tài chính hiện hành Đồng thời, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính đối với các trường đại học công lập khối kinh tế ở Việt Nam hiện nay Tuy nhiên, vấn đề quản lý chi phí đào tạo cũng chưa được tác giả đề cập tới trong đề tài; Năm 2009, đề tài

nghiên cứu khoa học cấp bộ của PGS.TS Nguyễn Văn Áng “Xác định chi phí

đào tạo đại học ở Việt Nam” [65] đã tập trung nghiên cứu một số cơ sở lý luận

và thực tiễn của xác định chi phí đào tạo, các nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến chi phí đào tạo đại học ở Việt Nam Thông qua việc tính toán chi phí đào tạo thực tế của 4 trường đại học, đó là đại học Bách khoa Đà N ng, đại học Nông nghiệp Hà Nội, đại học Sư phạm Hà Nội và đại học Kinh tế quốc dân, tác giả đã đưa ra đề xuất phương pháp tính toán và xác định CPĐT đại học ở một số trường đại học Việt Nam Tuy đã đề cập khá cụ thể các yếu tố ảnh hưởng đến CPĐT, nhưng đề tài cũng mới chỉ dừng lại ở việc xác định CPĐT trên cơ sở 4 trường đại học để đưa ra đề xuất xác định CPĐT cho 4 trường, trong khi 4 trường này chưa thể đại diện hết cho các loại hình đào tạo, chuyên ngành đào tạo, yếu tố vùng miền… vì vậy chưa có cái nhìn tổng thể chung và chưa đưa ra được phương án quản lý CPĐT trên cơ sở xác định được CPĐT, đặc biệt trong cơ chế tự chủ tài chính của các trường đại học như hiện nay;

Trang 21

Trong năm 2009, GS.TS Mai Ngọc Cường cũng có đề tài nghiên cứu khoa

học cấp bộ“Điều tra thực trạng và khuyến nghị giải pháp thực hiện tự chủ về

tài chính ở các trường đại học Việt Nam”[66] đã tập trung đánh giá thực trạng

các điều kiện tự chủ tài chính của các trường đại học công lập hiện nay; chỉ ra những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân của các trường đại học công lập; đề xuất phương hướng và giải pháp để tiếp tục xây dựng và hoàn thiện các điều kiện tự chủ tài chính trong các trường công lập Đây là một công trình đồ sộ về

số lượng và nghiên cứu khá toàn diện vấn đề liên quan đến TCTC Tuy nhiên, theo tác giả TCTC là một trong những phương cách để tăng cường quản lý tài chính và chia sẻ gánh nặng với Nhà nước về trách nhiệm của các đối tượng khác trong xã hội về phát triển sự nghiệp giáo dục Song một trong những điểm cơ bản để có thể tự chủ được thì cần quản lý tài chính như thế nào, xây dựng quy trình quản lý CPĐT ra sao, tiêu chí để đánh giá một trường đại học công lập có khả năng tự chủ hay không thì trong đề tài chưa được tác giả đề cập tới

II Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài

Ở nước ngoài cũng có khá nhiều công trình nghiên cứu có giá trị, gần với lĩnh vực của đề tài Quản lý tài chính công là nội dung nghiên cứu xuất phát từ các nước có nền kinh tế phát triển, lý thuyết về tài chính công không ngừng được bổ sung và hoàn thiện Các công trình nghiên cứu của các tác giả

như: bài báo “Finance, Management, and Costs of Public and Private Schools

in Indonesia” của nhóm tác giả Estelle James, Elizabeth M King and Ace

Suryadi – Bộ Văn hóa và Giáo dục, Indonexia đăng trên tạp chí Economics of

Education Review, tháng 10 năm 1996 [90], đã đi vào so sánh hiệu quả của

quản lý tài chính giáo dục khối công lập và khối dân lập Bằng việc điều tra, phân tích số liệu của những vấn đề liên quan như: chi phí, hiệu quả của nó tương ứng với mức chi phí bỏ ra, thu nhập của cán bộ công nhân viên chức trong các trường học, số sinh viên được tuyển dụng sau khi tốt nghiệp các trường dạy nghề, cao đẳng và đại học,… để đưa ra những giải pháp khắc phục tình trạng quản lý tài chính ở khối các trường dân lập mang lại hiệu quả hơn khối các trường công lập;

Nghiên cứu của nhóm tác giả Michael F Middaugh, Rosalinda Graham

Trang 22

và Abdus Shahid (đại học Delaware - Hoa Kỳ) về vấn đề chi phí và hiệu quả

giảng dạy “Cost and efficiency of teaching” [94] Đây là nghiên cứu theo đề

xuất của Viện Khoa học Giáo dục NCES năm 2003 Hoạt động của NCES nhằm giải quyết vấn đề nhu cầu dữ liệu về giáo dục, là nguồn cung cấp thông tin đáng tin cậy, hoàn chỉnh và chính xác các chỉ số về tình trạng và xu hướng giáo dục Số liệu của NCES đưa ra thường mang tính kịp thời, hữu ích, có tính chất lượng để Bộ Giáo dục Hoa Kỳ, Quốc hội, thậm chí các quốc gia hoạch định chính sách giáo dục Báo cáo tập trung vào những vấn đề liên quan trực tiếp đến chi phí giảng dạy, và các yếu tố ảnh hưởng đến chi phí giảng dạy Các nguồn dữ liệu cho phân tích này là số liệu liên quan đến giảng dạy và chi phí của đại học Delaware, trên cơ sở so sánh chi phí 4 năm tại đại học Delaware và các trường đại học ở Hoa Kỳ, nghiên cứu chi phí theo phân loại ngành hoặc theo lĩnh vực hoạt động Kết quả của nghiên cứu đưa ra, đó là

sự khác biệt trong chi phí giảng dạy giữa các trường đại học được xác định bởi chi phí trực tiếp cho mỗi giờ giảng dạy cho sinh viên; các yếu tố phụ ảnh hưởng đến chi phí là các thể chế, xếp loại trường… Nghiên cứu cũng đưa ra mức chi phí đào tạo giữa các ngành khác nhau là khác nhau Tuy nhiên nghiên cứu chỉ dừng lại ở việc đưa ra các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến chi phí đào tạo mà không thể đưa ra được một mô hình chi phí toàn bộ, nghĩa là không đề cập đến những chi phí gián tiếp, chi phí phân bổ, và cũng chưa đề cập tới vấn đề quản lý chi phí đào tạo

Bài báo “For-profit higher education: an assessment of costs and

benefits” của tác giả Stephanie Riegg Cellini (đại học Washington – Hoa Kỳ)

đăng trên Tạp chí National Tax Journal năm 2012 [100] Trên cơ sở phân tích

số liệu đầu tư cho giáo dục đại học trong hai năm tại Hoa Kỳ, bài báo đã đưa

ra những đánh giá về chi phí của xã hội và lợi ích mang lại của ngành giáo dục Tác giả đưa ra con số ước tính của người dân phải nộp thuế hàng năm cho chi phí đào tạo một sinh viên, từ đó cũng đề xuất mức trợ cấp hoặc cho vay phù hợp để hỗ trợ học tập cho sinh viên Tác giả cũng đưa ra nhận xét về việc các trường cộng đồng công cộng, chi phí đào tạo ít tốn kém hơn và đóng góp của người học cũng ít hơn, và việc cắt giảm đầu tư NSNN cho giáo dục

có thể sẽ làm ảnh hưởng tới việc mở rộng các đại học cộng đồng Tác giả cũng đề xuất việc khi nghiên cứu về lợi nhuận của giáo dục, cần có những

Trang 23

đánh giá chi tiết về chi phí và lợi ích từ một nền giáo dục phi lợi nhuận đem lại Tuy nhiên, những bài báo nói trên, chúng ta mới chỉ được kế thừa ở các vấn đề liên quan đến quản lý giáo dục chung chung, chỉ mới đề cập tới sự tương quan giữa chi phí đào tạo với học phí mà chưa đi vào nghiên cứu và đưa ra phương án quản lý hiệu quả chi phí đào tạo trong các cơ sở GDĐH

III Đánh giá chung về tình hình nghiên cứu và nh ng vấn đề đ t ra cho

đề tài luận án

Dưới nhiều giác độ khác nhau, những công trình khoa học kể trên mới dừng lại ở mức độ tập trung phân tích và tìm ra cách thức để nâng cao hiệu quả quản lý tài chính giáo dục Trong đó, đa số bàn đến vấn đề quản lý tài chính, vấn đề tự chủ tài chính trong các cơ sở GDĐH, sự cần thiết xác định CPĐT đại học, song đi sâu vào nghiên cứu phương thức và đề xuất các giải pháp tăng cường hiệu quả quản lý CPĐT đối với các cơ sở GDĐH công lập, đặc biệt trong cơ chế TCTC còn vắng bóng

Hơn nữa, khi giáo dục Việt Nam đã hội nhập quốc tế thì cần phải đưa

ra sự chuẩn hóa trong nguyên tắc quản lý về giáo dục để làm cơ sở dễ dàng cạnh tranh với các tổ chức từ nước ngoài vào Cần thấy rõ bản chất, vai trò của các cơ sở GDĐH công lập trong nền kinh tế thị trường hội nhập quốc tế, trong đó nhà trường là đơn vị cung cấp dịch vụ, đáp ứng nhu cầu xã hội Song muốn nâng cao được chất lượng đào tạo tương xứng phải có nguồn kinh phí

để đáp ứng Quản lý CPĐT không hiệu quả là một trong những nguyên nhân dẫn đến việc không nâng cao được chất lượng đào tạo Mặt khác, như phần tính cấp thiết của đề tài đã đề cập, lựa chọn nghiên cứu tại các cơ sở GDĐH công lập, vì: thứ nhất, đây là những đơn vị có nguồn kinh phí hoạt động được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau, trong đó có nguồn NSNN; thứ hai, các

cơ sở GDĐH công lập là những tổ chức đào tạo, giảng dạy có bề dày lịch sử

về nghiệp vụ quản lý kinh tế, tài chính, là những đơn vị cần phải đi tiên phong trong việc quản lý tài chính và có những ứng dụng nhất định từ mô hình của Nhà nước nghiên cứu Tuy vậy, hiệu quả quản lý tài chính đối với các cơ sở GDĐH công lập chưa được tương xứng với những chi phí bỏ ra, chưa có những đánh giá sự phù hợp của mức CPĐT đại học, Lựa chọn nghiên cứu

đề tài “Quản lý chi phí đào tạo của các cơ sở giáo dục đại học công lập ở

Trang 24

Việt Nam” để giải quyết một số vấn đề trên

Từ những đánh giá về tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước như trên, luận án đặt ra nhiệm vụ hệ thống hoá, chọn lọc, phát triển những khái niệm và vấn đề lý luận về quản lý CPĐT đại học công lập ở Việt Nam; tham khảo kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới; phân tích thực trạng quản lý CPĐT tại các cơ sở GDĐH đại học công lập ở Việt Nam để từ đó đề xuất hoàn thiện quản lý CPĐT đại học trong thời gian sắp tới Đồng thời đề xuất các giải pháp tăng cường hiệu quả đầu tư NSNN cho giáo dục đại học và tăng cường hiệu quả quản lý tài chính tại các cơ sở GDĐH đại học thông qua việc quản lý hiệu quả CPĐT đại học

Trang 25

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ CHI PHÍ ĐÀO TẠO CỦA CÁC CƠ SỞ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC CÔNG LẬP

1.1 CHI PHÍ ĐÀO TẠO CỦA CÁC CƠ SỞ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC CÔNG LẬP

1.1.1 Khái niệm, đặc trưng và vai trò của các cơ sở giáo dục đại học công lập

1.1.1.1 Khái niệm, đặc trưng của các cơ sở giáo dục đại học công lập

Trước tiên cần khẳng định các cơ sở GDĐH công lập là đơn vị SNCL,

vì vậy nó cũng mang những đặc trưng chung của các đơn vị SNCL

Nhìn chung, đại bộ phận các sản phẩm của đơn vị SNCL là sản phẩm

có tính phục vụ, không chỉ bó hẹp trong một ngành hoặc trong một lĩnh vực nhất định Những sản phẩm đó khi tiêu dùng thường có tác dụng lan toả

Luật Giáo dục Đại học năm 2012 [22] quy định “cơ sở giáo dục đại học công lập do Nhà nước thành lập, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất và bảo đảm chi thường xuyên”

Khái niệm, mô hình và địa vị pháp lý của cơ sở GDĐH công có sự khác nhau trong hệ thống GDĐH ở mỗi quốc gia Tuy nhiên khái niệm về cơ

sở GDĐH công lập có thể được hiểu như sau: “Cơ sở GDĐH công lập là các

cơ sở giáo dục do chính quyền thành lập và quản lý Nguồn kinh phí đảm bảo cho các cơ sở GDĐH công lập hoạt động phụ thuộc vào chính sách đầu tư tài chính và mức độ xã hội hóa nguồn lực dành cho giáo dục đại học của mỗi quốc gia”

Hệ thống GDĐH ở các nước được tổ chức theo đặc trưng của mỗi quốc gia, phù hợp với bối cảnh thực trạng, mục tiêu của chính sách GDĐH và nguồn lực dành cho GDĐH Mục tiêu giáo dục của mỗi quốc gia tuỳ thuộc vào chế độ chính trị và quan điểm phát triển giáo dục của quốc gia đó Mục tiêu của giáo dục ở nước ta trong giai đoạn hiện nay là: “Đào tạo nhân lực, nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài; nghiên cứu khoa học, công nghệ tạo ra tri thức, sản phẩm mới, phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc

Trang 26

phòng, an ninh và hội nhập quốc tế; Đào tạo người học có phẩm chất chính trị, đạo đức; có kiến thức, kỹ năng thực hành nghề nghiệp, năng lực nghiên cứu và phát triển ứng dụng khoa học và công nghệ tương xứng với trình độ đào tạo;

có sức khỏe; có khả năng sáng tạo và trách nhiệm nghề nghiệp, thích nghi với môi trường làm việc; có ý thức phục vụ nhân dân [22]

Sự phát triển về KT-XH của mỗi quốc gia gắn liền với sự phát triển của tri thức, của khoa học kỹ thuật và công nghệ Trong đó không thể phủ nhận vai trò quan trọng của các cơ sở GDĐH trong việc đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho xã hội Cơ sở GDĐH công lập là một bộ phận của hệ thống GDĐH, vì vậy nó cũng có những đặc trưng giống như bất kỳ một cơ sở GDĐH nào trong xã hội, đó là:

+ Cơ sở GDĐH là chủ thể tham gia nền KT-XH nhưng không trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất tạo ra các sản phẩm vật chất mà đóng góp vào quá trình này thông qua việc cung cấp các sản phẩm dịch vụ Sản phẩm của cơ sở GDĐH có đầy đủ tính chất kinh tế giống như các loại sản phẩm dịch vụ hàng hóa khác vì quá trình sản xuất dịch vụ GDĐH đòi hỏi phải tiêu hao các nguồn lực khan hiếm Sản phẩm của các cơ sở GDĐH cũng được kết tinh từ quá trình lao động của cả người dạy và người học

+ Quá trình hoạt động của cơ sở GDĐH xét về bản chất là quá trình sản xuất tiêu hao lao động sống và lao động vật hóa để tạo ra sản phẩm dịch vụ Cơ sở GDĐH tạo ra sản phẩm dịch vụ trong quá trình tương tác giữa người dạy và người học Lực lượng sản xuất bao gồm người thầy, trang thiết bị, giáo cụ, giáo trình,… trong đó người thầy có vai trò đặc biệt quan trọng Quá trình giảng dạy buộc người thầy phải tiêu hao sức lao động của mình và sử dụng tiêu hao các công cụ khác phục vụ giảng dạy Người thầy tác động trực tiếp đến người học bằng cách truyền đạt kiến thức, hướng dẫn kỹ năng, rèn luyện

ý thức, Đồng thời với quá trình đó, người học được tiếp nhận các “dịch vụ”

mà người thầy đã cung cấp

Quá trình cung ứng dịch vụ đồng thời với quá trình tiêu hao dịch vụ Điều này tạo nên đặc điểm của sản phẩm dịch vụ GDĐH là kết quả lao động không tách rời bản thân người thực hiện

+ Quá trình hoạt động của cơ sở GDĐH diễn ra chịu sự tác động của các yếu

Trang 27

tố về điều kiện sản xuất nhất định giống như bất kỳ quá trình sản xuất của một đơn vị kinh tế nào khác Tuy nhiên, nó có đặc điểm là không phụ thuộc nhiều vào các điều kiện địa lý tự nhiên mà phụ thuộc nhiều vào các điều kiện xã hội

ở môi trường mà nó hoạt động

Hoạt động GDĐH của cơ sở GDĐH chịu ảnh hưởng bởi các quan điểm, ý chí chủ quan của người quản lý Các yếu tố này tác động qua việc dành sự đầu tư cho hoạt động GDĐH hay không, trong đầu tư cho hoạt động GDĐH thì ưu tiên cho hoạt động nào nhất, giải quyết các vấn đề nảy sinh của thị trường GDĐH ra sao Ngoài ra, các yếu tố về trình độ phát triển kinh tế, khoa học công nghệ, văn hóa xã hội là các yếu tố tác động trực tiếp đến hoạt động của cơ sở GDĐH qua nhu cầu sử dụng sinh viên được đào tạo, sử dụng các kết quả nghiên cứu của cơ sở GDĐH, phát triển và bảo tồn các thành tựu văn hóa

Hoạt động cung cấp sản phẩm dịch vụ của mỗi cơ sở GDĐH còn phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố nội lực của bản thân cơ sở GDĐH Chất lượng, năng lực của đội ngũ giảng viên, các điều kiện về CSVC, trang thiết bị, học liệu,… là yếu tố quyết định đến chất lượng quá trình giảng dạy cũng như chất lượng sản phẩm dịch vụ cung cấp cho xã hội

1.1.1.2 Vai trò của các cơ sở giáo dục đại học công lập trong hệ thống giáo dục đại học

Đối với GDĐH, ngoài hiệu quả tài chính, còn cần phải xét đến hiệu quả KT-XH Hiện nay, các cơ sở giáo dục đa dạng hóa rất nhiều loại hình đào tạo với chất lượng cao thấp khác nhau Việc đa dạng hóa này, có thể có hiệu quả về mặt tài chính đối với cơ sở đào tạo, nhưng chưa chắc đã có hiệu quả đối với xã hội khi chưa rõ mức độ phù hợp của đầu ra đối với nhu cầu của thị trường Giải quyết bài toán kết hợp hài hòa giữa hiệu quả tài chính và hiệu quả KT-XH chỉ

có thể là các cơ sở GDĐH công lập

Giáo dục và đào tạo là cách thức quan trọng quyết định cải thiện chất lượng, lực lượng lao động, tăng tích luỹ vốn cho con người, đặc biệt là về mặt kiến thức Do vậy, nó sẽ tạo điều kiện phát triển các công nghệ mới và là nguồn

để duy trì sự tăng trưởng kinh tế Ngày nay, yếu tố khoa học công nghệ được đánh giá cao trong quá trình phát triển của các nước Tăng trưởng kinh tế dài

Trang 28

hạn phụ thuộc rất nhiều vào sự thay đổi nhanh chóng của công nghệ Song sự thay đổi của công nghệ lại chịu sự tác động mạnh mẽ của sự thay đổi về chất lượng lao động GDĐH, trong đó các cơ sở GDĐH công lập với vai trò tiên phong, định hướng, không chỉ dạy những kỹ năng mới, tốt hơn mà còn đào tạo

ra những người có khả năng theo dõi các xu hướng phát triển của công nghệ, đánh giá được những thích ứng của công nghệ đối với triển vọng phát triển của đất nước

Các cơ sở GDĐH công đóng vai trò then chốt trong sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của nhiều quốc gia Ở bất kỳ quốc gia nào, hệ thống GDĐH cũng đóng vai trò then chốt trong sự phát triển kinh tế xã hội, trong đó, hệ thống các cơ sở GDĐH công lập đóng vai trò chủ đạo trong quá trình định hướng phát triển cơ cấu ngành nghề của nền kinh tế thị trường

Hệ thống các cơ sở GDĐH công lập đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển KT-XH của mỗi quốc gia, thể hiện qua các mặt:

+ Sự ra đời và hoạt động của các cơ sở GDĐH công lập thể hiện vai trò của Nhà nước đối với GDĐH: Nhà nước thông qua các hoạt động của cơ sở

GDĐH công lập để điều tiết các nguồn lực xã hội sao cho có hiệu quả nhất, từ

đó điều tiết cơ cấu đào tạo nhân lực hợp lý, duy trì và phát triển giáo dục đào tạo Thông qua các cơ sở GDĐH công lập, Nhà nước muốn đầu tư nhằm đảm bảo lợi ích công về GDĐH Lợi ích này lan tỏa ra toàn xã hội, đảm bảo tất cả mọi người đều có cơ hội bình đẳng tiếp cận với GDĐH

Cơ sở GDĐH công lập là nơi triển khai các chính sách đầu tư phát triển GDĐH của mỗi quốc gia Các cơ sở GDĐH công lập thuộc sở hữu Nhà nước, được chính phủ hoặc chính quyền ở các địa phương cấp ngân sách để triển khai các chính sách phát triển GDĐH của chính quyền các cấp Ở Việt Nam các cơ sở GDĐH công lập được Nhà nước giao kinh phí, tài sản, CSVC

để thực hiện các mục tiêu và chính sách ưu tiên đầu tư cho giáo dục đào tạo của đất nước, đặc biệt là các chính sách xã hội: đào tạo cử tuyển, học bổng chính sách, trợ cấp học tập…

Cơ sở GDĐH công lập giữ vai trò định hướng cho hoạt động và sự phát triển của hệ thống GDĐH của quốc gia Các cơ sở GDĐH công lập định hướng cho phát triển các chương trình đào tạo bằng cách bổ sung, hoàn thiện

Trang 29

các chương trình đã có s n, xây dựng các chương trình đào tạo mới phù hợp với xu thế phát triển của xã hội, định hướng cho NCKH thông qua việc xây dựng các nhóm nghiên cứu mạnh, duy trì các hướng nghiên cứu cơ bản, triển khai các hướng nghiên cứu mới,

Cơ sở GDĐH công lập có sứ mạng đào tạo, cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao, NCKH và chuyển giao công nghệ đáp ứng nhu cầu phát triển của đất nước Trong hệ thống GDĐH, các cơ sở GDĐH công lập có lợi thế hơn các cơ sở GDĐH tư thục về điều kiện đảm bảo chất lượng như đội ngũ cán bộ, CSVC, học liệu, thư viện để thực hiện được các sứ mạng nêu trên

+ Cơ sở GDĐH công lập góp phần thúc đẩy sự hình thành cơ cấu của nền kinh tế quốc dân: GDĐH góp phần đáng kể vào việc làm tăng qui mô vốn

nhân lực cho mỗi ngành Nhà nước thông qua việc xây dựng và phê duyệt kế hoạch đào tạo dài hạn cho mỗi cơ sở GDĐH công lập, mỗi ngành để từ đó điều tiết và phân bổ vốn nhân lực có trình độ cao cho từng lĩnh vực Thông qua việc phân bổ chỉ tiêu cho phép tuyển chọn đầu vào mỗi ngành đại học, Nhà nước sẽ điều tiết nhân lực ở các ngành trong xã hội Đồng thời với các ngành cần ưu tiên, khuyến khích, các địa bàn vùng xâu vùng xa cần nhân lực trình

độ cao, Nhà nước có thể thực hiện các mục tiêu này thông qua các chính sách đối với các cơ sở GDĐH công lập như: không thu học phí đối với sinh viên

sư phạm; ưu đãi điểm chuẩn khi thi tuyển sinh vào cao đẳng, đại học theo khu vực; thực hiện đào tạo hệ cử tuyển…

+ Các cơ sở GDĐH công lập góp phần tích cực trong việc thiết lập sự công bằng xã hội: Công bằng xã hội được hiểu theo nghĩa rộng bao gồm rất

nhiều vấn đề thuộc lĩnh vực khác nhau đều phải giải quyết, trong đó một lĩnh vực cũng rất cần phải có sự công bằng xã hội đó là GDĐH Ở bậc GDĐH, công bằng về giáo dục là làm sao phải đảm bảo quyền được tham dự học đại học của mọi người trong xã hội không phân biệt giới tính, dân tộc, tôn giáo Vấn đề công bằng được tập trung vào việc mở rộng và nâng cao việc học cho phụ nữ ở mọi lĩnh vực, đặc biệt đối với ngành khoa học và công nghệ; đồng thời tạo môi trường thuận lợi để những người học có hoàn cảnh khó khăn có đủ điều kiện cần thiết để có thể tham gia học tập và học có kết quả cao ở bậc đại học Để thực hiện được các vấn đề này chỉ có thể là các cơ

Trang 30

sở GDĐH công lập

Để thực hiện tốt các vai trò nói trên, vấn đề đặt ra cho các cơ sở GDĐH công lập là phải có nguồn lực tài chính đủ lớn để cải cách nâng cao chất lượng, phát huy hiệu quả hỗ trợ, định hướng của các cơ sở GDĐH đối với xã hội Trong khi nguồn NSNN còn hạn hẹp, mức hỗ trợ từ Nhà nước cho các cơ sở GDĐH công lập còn ở mức thấp thì Nhà nước nên giao quyền TCTC ở mức

độ cao cho các đơn vị Có như thế các cơ sở GDĐH công lập mới có thể chủ động tìm kiếm, khai thác, sử dụng các nguồn lực một cách hiệu quả, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo và tiến tới xuất khẩu GDĐH ra thị trường quốc tế

Như vậy, cơ sở GDĐH công lập chiếm vị trí vô cùng quan trọng trong

xã hội và trong bối cảnh của nền kinh tế tri thức toàn cầu, trách nhiệm của cơ

sở GDĐH công lập ngày càng quan trọng đối với sự phát triển của đất nước Đồng thời các cơ sở GDĐH công lập có tính tự chủ rất cao trong các hoạt động chuyên môn, trong phương thức tổ chức quản lý và đào tạo,… Nhận thức

về vai trò, sứ mạng và đặc điểm của cơ sở GDĐH là nền tảng để hoạch định chính sách GDĐH, quyết định một cơ chế quản lý phù hợp để các cơ sở GDĐH công lập hoạt động thực sự có chất lượng, đáp ứng được nhu cầu và kỳ vọng của cả xã hội

1.1.2 Chi phí đào tạo trong các cơ sở giáo dục đại học công lập

1.1.2.1 Quan niệm về chi phí đào tạo đại học

Chi phí là thước đo về khối lượng nguồn lực được sử dụng cho một mục đích nhất định Theo quan điểm kinh tế chính trị của K.Marx: chi phí sản xuất là toàn bộ lao động sống và lao động vật hóa tiêu hao trong quá trình sản xuất Lao động sống là lao động của người công nhân trực tiếp tiêu hao trong quá trình làm việc; lao động vật hóa là các lao động đã được tích lũy dưới dạng các nguyên vật liệu, yếu tố đầu vào và các tư liệu sản xuất khác phục vụ quá trình sản xuất Trong hoạt động GDĐH lao động sống có thể được hiểu chính là lao động của giảng viên và của các cán bộ quản lý, chuyên viên; lao động vật hóa là các yếu tố đảm bảo điều kiện cho việc học tập của sinh viên

và hoạt động giảng dạy của cơ sở giáo dục

Chi cho đào tạo đại học và chi phí đào tạo đại học là hai khái niệm khác nhau Chi cho đào tạo của các cơ sở GDĐH là các khoản chi mà các cơ sở

Trang 31

GDĐH bỏ ra để thực hiện một công việc nào đó (như chi mua TSCĐ, chi lương CBVC…), trong khi CPĐT đại học chỉ bao gồm chi phí tính cho một khoảng thời gian nào đó hoặc xác định cho đối tượng cụ thể nào đó (như chi phí khấu hao/hao mòn TSCĐ, chi phí đào tạo một lớp học trong một năm…)

Từ những lập luận trên có thể hiểu, CPĐT trong các cơ sở GDĐH là các hao phí về lao động của giảng viên và cán bộ viên chức cùng với các hao phí về điều kiện đảm bảo cho việc học tập của sinh viên và hoạt động giảng dạy, đào tạo của cơ sở GDĐH tính trong một khoảng thời gian nhất định (thường là một năm tài chính hoặc một năm học), để các cơ sở GDĐH đạt được những mục tiêu cụ thể và hoàn thành nhiệm vụ được giao

CPĐT đại học có thể được xem xét, nghiên cứu dưới nhiều góc độ: Chi phí của Nhà nước; Chi phí của cơ sở GDĐH; Chi phí của người học Với mỗi góc độ nghiên cứu, CPĐT lại có nội dung, bản chất và quy mô khác nhau:

+ Dưới góc độ của Nhà nước, CPĐT bao gồm toàn bộ các khoản chi mà NSNN chi trả, đầu tư cho đào tạo đại học Dưới góc độ này, CPĐT chủ yếu được tập trung cho các cơ sở GDĐH công lập Đó là những khoản chi phí về tiền lương, phụ cấp, dịch vụ công cộng, vật tư hóa chất, chi nghiệp vụ chuyên môn phục vụ giảng dạy, chi XDCB, đầu tư CSVC ; và cả những chi phí gián tiếp như chi bồi dưỡng chuyên môn, chi tuyên truyền, đào tạo lại

+ Dưới góc độ của người học, CPĐT được hiểu là những chi phí mà người học phải tiêu dùng để có được toàn bộ giá trị hàng hóa và dịch vụ liên quan đến quá trình học của mỗi người Trong quá trình tham gia học tập tại các cơ

sở GDĐH, ngoài việc người học phải trả học phí, lệ phí cho cơ sở giáo dục nơi theo học, người học còn phải trả các khoản tiền liên quan trực tiếp đến quá trình học như chi phí tài liệu, học liệu và chi trả các khoản chi tiêu liên quan đến đời sống, ăn, ở, sinh hoạt phí

+ Dưới góc độ của cơ sở GDĐH, CPĐT là toàn bộ những khoản chi phí hợp lý cần thiết cho việc duy trì và phát triển hoạt động đào tạo của đơn vị trong một khoảng thời gian nhất định có thể được tính theo một năm hoặc một khóa học Đó là các khoản chi của các cơ sở GDĐH cho đầu tư CSVC; các khoản chi tiền lương, chi vật tư hàng hóa, dịch vụ công cộng, chi nghiệp vụ

Trang 32

chuyên môn và các khoản chi cho các hoạt động thường xuyên khác

Quản lý CPĐT đại học được nghiên cứu trong luận án này được giới hạn ở quản lý chi phí của cơ sở GDĐH công lập Dưới góc độ này, luận án sẽ

đi vào nghiên cứu việc quản lý CPĐT của các cơ sở GDĐH công lập Việt Nam trong điều kiện thực hiện cơ chế TCTC

Trong các cơ sở cơ sở GDĐH công lập, mọi hoạt động đều nhằm phục

vụ cho mục tiêu và nhiệm vụ chính là đào tạo Do vậy các khoản chi phí đều

là các CPĐT và phải được quản lý chặt chẽ, hiệu quả Nhiệm vụ của nhà quản

lý là cần xác định được những nội dung chi phí nào là trọng yếu, cần tập trung với mức độ, thời gian và tỷ lệ là bao nhiêu trên tổng số chi phí sẽ chi ra Đối với các cơ sở GDĐH công lập ở nước ta, định mức CPĐT của Nhà nước có ảnh hưởng lớn đến các khoản, định mức chi cho các hoạt động đào tạo và qua

đó cũng ảnh hưởng đến điều kiện đảm bảo cho đào tạo và ảnh hưởng đến CPĐT Đồng thời các định mức đó cũng ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo

1.1.2.2 Mối quan hệ giữa học phí và chi phí bình quân giáo dục đại học

Học phí là khoản tiền mà người học phải nộp cho cơ sở giáo dục để bù đắp chi phí đào tạo Theo đó học phí cần được thu đúng, thu đủ, phù hợp với tính chất ngành đào tạo, nhu cầu của thị trường đối với nguồn nhân lực và phù hợp với khả năng chi trả của người học, được xã hội chấp nhận

Chi phí bình quân GDĐH được xác định trên cơ sở lấy tổng chi phí của

cơ sở GDĐH chia cho các chỉ tiêu như số lượng người học thực tế hoặc số lượng người học quy đổi Chi phí bình quân GDĐH tỷ lệ thuận với CPĐT Xét về bản chất thì chỉ tiêu chi phí bình quân cũng giống như chỉ tiêu giá thành sản phẩm của các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh Sản phẩm của GDĐH là một loại “hàng hóa” đặc biệt Những sản phẩm này được cung cấp bởi các cơ sở GDĐH hoạt động hoàn toàn không phải vì lợi nhuận, nhưng việc cung cầu các hàng hoá này vẫn chịu sự điều tiết của quy luật cung cầu Chính vì vậy khi học phí được thu theo cơ chế giá thị trường thì học phí chính

là giá dịch vụ giáo dục

Chi phí bình quân GDĐH là chỉ tiêu hết sức quan trọng để xác định và

so sánh CPĐT giữa các cơ sở GDĐH với nhau, so sánh với quy định của Nhà

Trang 33

nước để thấy CPĐT có bù đắp được hao phí lao động của các đơn vị đã bỏ ra hay không

Các cơ sở GDĐH rất đa dạng, khác nhau về quy mô, về điều kiện đảm bảo chất lượng giảng dạy … nên CPĐT cũng khác nhau Các cơ sở GDĐH phải mất chi phí thì mới tạo ra sự khác biệt đó, nhưng không phải tất cả các sự khác biệt đó đều đem lại lợi ích cho người học Vấn đề quan trọng là để được hưởng sự khác biệt đó, yếu tố nào người học cần phải trả tiền và phải trả bao nhiêu là hợp lý

Đối với người học, học phí chính là một phần chi phí chiếm tỷ trọng khá lớn trong tổng CPĐT của người học Khi người học tự bỏ thêm chi phí cho GDĐH của chính họ thì họ sẽ phải tính toán đến hiệu quả thu được lợi ích

là bao nhiêu (Ví dụ: Nếu thụ hưởng chương trình đào tạo tốt, học trường có thương hiệu… sẽ thuận lợi cho việc có việc làm và thu nhập cao hơn sau khi tốt nghiệp…) Về phía các cơ sở GDĐH cũng phải đánh giá, so sánh giữa hiệu quả đầu tư vào GDĐH với hiệu quả đầu tư vào các lĩnh vực khác để có được những nhận định chính xác hơn về hiệu quả thực của người học đầu tư cho việc học của chính họ, từ đó sẽ có thêm cơ sở khoa học để điều chỉnh chính sách học phí: nếu hiệu quả đối với người học rất cao thì nên tăng học phí, nếu hiệu quả đối với người học thấp thì nên xem xét điều chỉnh giảm học phí

Khi các cơ sở GDĐH quyết định tăng đầu tư (tăng chi phí) cho hoạt động đào tạo của mình, sẽ có 2 nhóm chi phí: (i) nhóm những khoản chi phí làm tăng chất lượng đào tạo được người học s n sàng chi trả (ví dụ như nâng cao khả năng xin việc); (ii) nhóm những khoản chi phí làm tăng chất lượng đào tạo nhưng người học không s n sàng chi trả (ví dụ chi phí hoạt động khoa học công nghệ, chi phí bài báo trên tạp chí quốc tế) Từ đó các cơ sở GDĐH

có quyết định những khoản đầu tư nào nên tính vào học phí, những khoản đầu

tư nào nên bù đắp từ NSNN hoặc từ nguồn thu sự nghiệp của đơn vị Những khoản chi phí này làm tăng chất lượng đào tạo, dù người học không mong muốn chi trả, nhưng xét về dài hạn hoàn toàn lại có thể là những yếu tố xác định chất lượng giáo dục trong cơ chế tự chủ Đây cũng chính là những yếu tố mang tính hàng hóa công, là những yếu tố không thể áp dụng quy tắc xã hội

Trang 34

hoá

Từ những phân tích trên cho thấy, giá thành dịch vụ đào tạo được xác định bởi CPĐT và chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi CPĐT, hay nói cách khác CPĐT là cơ sở hình thành nên chính sách giá dịch vụ GDĐH Còn học phí của các cơ sở GDĐH được xây dựng theo hướng đáp ứng được CPĐT cần thiết để đảm bảo chất lượng đào tạo và phải phù hợp với khả năng chi trả của người dân, phù hợp với tăng trưởng kinh tế Chính vì vậy quản lý CPĐT trong các cơ sở GDĐH cần hướng đến mục tiêu giá dịch vụ đào tạo của cơ sở giáo dục có thể được thị trường chấp nhận

1.1.2.3 Mối quan hệ giữa chi phí đào tạo và chất lượng đào tạo đại học

CPĐT của các cơ sở GDĐH thực chất là một hàm chi phí chịu sự ảnh hưởng và tác động của các điều kiện cần thiết đảm bảo thực hiện nhiệm vụ đào tạo, mục tiêu đào tạo, đặc biệt là sự kỳ vọng về chất lượng đào tạo Khó

có thể với CPĐT thấp lại có một CLĐT cao, tuy nhiên không phải cứ CPĐT nhiều thì có CLĐT cao Vấn đề quan trọng là các cơ sở GDĐH phải xác định mức chất lượng cần đạt được căn cứ trên khả năng và điều kiện thực hiện

Trong hoạt động kinh doanh dịch vụ, chất lượng của sản phẩm, dịch vụ

có mối liên hệ mật thiết với chất lượng của các yếu tố đầu vào sản xuất và chất lượng, trình độ, kỹ năng… của người lao động tham gia sản xuất Trong khi đó, chất lượng của cả hai yếu tố trên được thể hiện qua giá trị và giá cả của nó mà nhà sản xuất phải bỏ chi phí ra mới mua được Vì vậy, có thể thấy chất lượng sản phẩm, dịch vụ có mối quan hệ mật thiết theo xu hướng đồng chiều với các chi phí sản xuất Các sản phẩm, dịch vụ có chất lượng cao đòi hỏi chi phí sản xuất phải cao hơn GDĐH là một hoạt động kinh doanh dịch

vụ, vì vậy mối quan hệ đồng chiều giữa chất lượng sản phẩm dịch vụ với chi phí cũng không phải là ngoại lệ với giáo dục đào tạo, đặc biệt là GDĐH

Trên thực tế, việc đo lường CLĐT là một vấn đề phức tạp vì sản phẩm của dịch vụ giáo dục đào tạo là vô hình, CLĐT được đánh giá không chỉ bởi sinh viên là những người trực tiếp nhận dịch vụ, mà nó còn được đánh giá bởi phụ huynh, các tổ chức, doanh nghiệp và toàn xã hội – nơi mà các sản phẩm của dịch vụ giáo dục đào tạo đóng góp cho sự phát triển của nền KT-XH

Trang 35

Không phải khi nào tăng các khoản chi cho GDĐH cũng làm tăng CLĐT hoặc CLĐT tăng tương ứng với tăng CPĐT vì chi phí chỉ là một trong những yếu tố cần thiết để gia tăng CLĐT mà không phải là yếu tố duy nhất Tăng CPĐT sẽ làm tăng tương ứng CLĐT chỉ khi nào có sự phối hợp đồng bộ các nhân tố khác nhau dựa trên nền tảng quan trọng cấu thành chất lượng giáo dục và các cơ sở GDĐH có đầy đủ kinh phí đảm bảo cho việc tăng chi phí này Phương án tối ưu của vấn đề quản lý CPĐT mà mỗi cơ sở GDĐH cần hướng tới là làm sao để CPĐT thực tế bằng với CPĐT hợp lý, trong đó:

+ CPĐT thực tế là chi phí mà cơ sở giáo dục chi ra trong một khoảng thời gian nhất định để phục vụ các hoạt động giáo dục đào tạo của đơn vị

+ CPĐT hợp lý là chi phí đủ cho các hoạt động giáo dục đào tạo tương ứng với mức chất lượng cần đạt được, đó là chi phí bình quân sẽ phát sinh đối với các cơ sở GDĐH để đào tạo một sinh viên đạt được một mức chất lượng nào

đó

Để có cơ sở so sánh và đưa ra phương án quản lý CPĐT tối ưu thì CPĐT hợp lý và CPĐT thực tế phải được xác định cùng trong một khoảng thời gian theo một năm hoặc một khóa học CPĐT hợp lý phụ thuộc vào mức CLĐT cụ thể Nếu mục tiêu CLĐT cao thì CPĐT hợp lý phải tăng lên và ngược lại CPĐT thực tế có thể khác so với CPĐT hợp lý do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó nguyên nhân chính là do công tác quản lý chi phí Nếu công tác quản lý chi phí không hiệu quả, lãng phí thì CPĐT thực tế sẽ tăng lên và ngược lại

Cấp CLĐT không chỉ ảnh hưởng đến mức chi phí cao hay thấp mà còn ảnh hưởng đến việc mở rộng hay thu hẹp các khoản mục chi phí Cấp CLĐT càng cao thì khoản mục chi phí có xu hướng mở rộng và ngược lại Ngoài ra, các khoản mục chi phí còn phụ thuộc vào đặc điểm, tính chất, thời gian, phương thức đào tạo của các cơ sở GDĐH, của các ngành và chuyên ngành đào tạo

1.1.3 Phân loại chi phí đào tạo đại học

Việc phân loại chi phí của cơ sở GDĐH tùy thuộc vào đặc điểm của các khoản chi, phụ thuộc vào tính chất phát sinh và mức độ tham gia của các khoản chi, phụ thuộc vào đặc điểm của việc khai thác và sử dụng của mỗi

Trang 36

khoản chi Dưới góc độ CPĐT của các cơ sở GDĐH, CPĐT có thể được phân loại theo nhiều cách khác nhau Trong phạm vi của luận án, tác giả chỉ giới thiệu một số cách phân loại CPĐT liên quan trực tiếp đến vấn đề quản lý CPĐT mà luận án đề cập tới

1.1.3.1 Chi phí thường xuyên và chi phí không thường xuyên

Đây là cách phân loại theo tính chất phát sinh của các khoản chi phí, theo đó CPĐT gồm có chi phí thường xuyên và chi phí không thường xuyên

- Chi phí thường xuyên:

chi hoạt động thường xuyên theo chức năng, nhiệm vụ được cấp có thẩm quyền giao, phục vụ cho công tác thu học phí và lệ phí, như: Tiền lương; tiền công; các khoản phụ cấp lương; các khoản trích nộp bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn theo quy định hiện hành; dịch vụ công cộng; văn phòng phẩm; các khoản chi nghiệp vụ; sửa chữa thường xuyên tài sản cố định và các khoản chi khác theo chế độ quy định

dụng từ nguồn NSNN cấp và nguồn ngoài NSNN đối với các khoản chi theo chức năng, nhiệm vụ được cấp có thẩm quyền giao và một phần từ nguồn thu

sự nghiệp đối với các khoản chi cho các hoạt động sự nghiệp có thu

- Chi không thường xuyên,

Chi không thường xuyên là những khoản chi gắn với việc thực hiện các nhiệm vụ không thường xuyên Trong các cơ sở GDĐH công lập, chi không thường xuyên gồm:

+ Chi thực hiện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ;

+ Chi thực hiện chương trình đào tạo bồi dưỡng cán bộ, viên chức;

+ Chi thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia;

+ Chi thực hiện các nhiệm vụ do Nhà nước đặt hàng;

+ Chi vốn đối ứng thực hiện các dự án có nguồn vốn nước ngoài theo quy định;

Trang 37

+ Chi thực hiện các nhiệm vụ đột xuất được cấp có thẩm quyền giao;

+ Chi thực hiện tinh giản biên chế theo chế độ do Nhà nước quy định (nếu có);

+ Chi đầu tư xây dựng cơ bản, mua sắm trang thiết bị, sửa chữa lớn tài sản cố định thực hiện các dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt;

+ Chi thực hiện các dự án từ nguồn vốn viện trợ nước ngoài;

+ Chi cho các hoạt động liên doanh, liên kết;

+ Các khoản chi khác theo quy định (nếu có)

có những chi phí thường xuyên Riêng chi phí không thường xuyên có thể có hoặc không, tùy theo tình hình và đặc điểm hoạt động của đơn vị Với cách phân nhóm chi phí như trên sẽ đáp ứng được yêu cầu quản lý chi từ nguồn NSNN tại các cơ sở GDĐH công lập, nhưng lại không phù hợp với đặc điểm của một số khoản chi cũng như đặc điểm khai thác kết quả của khoản chi trong mỗi nhóm Ví dụ, chi về mua sắm và sửa chữa TSCĐ có thể dùng cả kinh phí thường xuyên và kinh phí không thường xuyên và nội dung chi này

có đặc điểm hoàn toàn khác các khoản chi còn lại trong nhóm đó

1.1.3.2 Chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp

Đây là cách phân loại chi phí dựa trên mức độ tham gia của các khoản chi Theo cách phân loại này, CPĐT được phân loại cụ thể như sau:

- Chi phí trực tiếp

những công việc liên quan trực tiếp đến hoạt động đào tạo như chi phí tiền lương, tiền công cho giảng viên, cán bộ viên chức; chi phí CSVC phục vụ cho giảng dạy học tập và những chi phí duy trì cho hoạt động bình thường của người học: chi vật tư thực tập, tài liệu học tập…

- Chi phí gián tiếp

như chi cho học tập nâng cao trình độ chuyên môn, chi tuyên truyền, đào tạo lại của các cơ sở GDĐH Đây là những khoản chi mang tính chất lâu dài, có

Trang 38

ý nghĩa cho sự phát triển trong tương lai

GDĐH công lập, giúp nhà quản lý tìm ra các nội dung chi nào cần chú trọng, nội dung chi nào cần giảm bớt Đặc biệt trong trường hợp kinh phí của các cơ

sở GDĐH còn hạn chế, cần tìm ra những khoản chi nào cần thiết, phải ưu tiên

để từ đó nhà quản lý hoạch định chiến lược về nguồn, số lượng và thời gian cho các hạng mục chi, nhất là đối với các khoản chi gián tiếp

1.1.3.3 Chi phí đào tạo cần thiết và chi phí đào tạo thực tế

- Chí phí đào tạo cần thiết

ứng với mức chất lượng cần đạt được Hay nói cách khác, đó là chi phí bình quân sẽ phát sinh đối với các cơ sở GDĐH để đào tạo một sinh viên đạt được một chất lượng nào đó Điều đó đồng nghĩa với việc CPĐT cần thiết phụ thuộc vào mức chất lượng đào tạo cụ thể Nếu mục tiêu chất lượng đào tạo cao thì CPĐT cần thiết phải tăng lên và ngược lại Đối với một số cơ sở GDĐH công lập có chương trình đào tạo chất lượng cao thì chắc chắn CPĐT cho các chương trình này cũng phải cao hơn các chương trình đại trà

- Chi phí đào tạo thực tế

phục vụ các hoạt động giáo dục đào tạo của đơn vị Chi phí đào tạo thực tế có thể khác so với chi phí đào tạo cần thiết do nhiều nguyên nhân khác nhau, như: do công tác quản lý chi phí, do biến động bởi giá cả Nếu công tác quản

lý chi phí không hiệu quả, lãng phí thì CPĐT thực tế sẽ tăng lên và ngược lại

tiêu quản lý CPĐT đặt ra cho các cơ sở GDĐH công lập là tìm ra phương án quản lý tối ưu để CPĐT thực tế bằng với CPĐT cần thiết

1.1.3.4 Chi phí đào tạo bình quân

trong một khoảng thời gian nhất định chia cho tổng số sinh viên của cơ sở GDĐH công lập tham gia học tập trong khoảng thời gian đó Số lượng sinh viên có thể tính theo số sinh viên thực tế hoặc số sinh viên quy đổi Tuy

Trang 39

nhiên, do mức chi phí cho từng hệ đào tạo, từng loại hình đào tạo khác nhau

là khác nhau: CPĐT tiến sĩ khác với CPĐT thạc sĩ hoặc đào tạo đại học; CPĐT sinh viên chính quy khác với CPĐT sinh viên hệ đào tạo thường xuyên; CPĐT sinh viên học tại cơ sở giáo dục khác với CPĐT sinh viên khi đi thuê địa điểm đào tạo , nên CPĐT bình quân cần được xác định trên số sinh viên quy đổi mới đảm bảo được tính chính xác

các ngành, so sánh CPĐT giữa các cơ sở GDĐH với nhau và cho thấy tỷ lệ đầu tư từ NSNN đối với các cơ sở GDĐH công lập đã hợp lý hay chưa

1.1.3.5 Chi phí cố định, chi phí biến đổi và chi phí hỗn hợp

- Chi phí cố định (định phí)

mô đào tạo Đối với các cơ sở GDĐH công lập, chi phí cố định là các khoản chi phí không thay đổi dù đơn vị có thay đổi quy mô đào tạo, như: chi phí hao mòn tài sản, chi lương cơ bản

- Chi phí biến đổi (biến phí)

Đối với các cơ sở GDĐH công lập, chi phí biến đổi là các khoản chi phí phụ thuộc vào quy mô đào tạo của đơn vị Quy mô đào tạo tăng hay giảm sẽ làm cho chi chí này cũng tăng hoặc giảm theo, như: chi vượt giờ của giảng viên, chi phí làm ngoài giờ của cán bộ viên chức, chi phí văn phòng phẩm

- Chi phí hỗn hợp

Thông thường ở mức độ hoạt động cơ bản thì chi phí hỗn hợp thể hiện định phí, khi vượt khỏi mức độ hoạt động cơ bản thì chi phí hỗn hợp bao gồm cả biến phí và định phí Trong thực tế, chi phí hỗn hợp bao gồm: chi phí chung, chi phí quản lý… Các nhà quản lý muốn kiểm soát chi phí cần phải tách chi phí hỗn hợp ra thành chi phí cố định, chi phí biến đổi bằng việc sử dụng các phương pháp: cực đại - cực tiểu, hồi quy bội, đồ thị phân tán, phương pháp bình phương nhỏ nhất

Trang 40

định và chi phí biến đổi cũng chỉ mang tính chất tương đối Ví dụ, số lượng phòng học, máy móc phục vụ giảng dạy học tập như hiện trạng của cơ sở GDĐH chỉ vừa đủ để đào tạo số sinh viên hiện có, nhưng khi số sinh viên của

cơ sở giáo dục tăng lên gấp đôi, hoặc thậm chí chỉ cần tăng khoảng 20% thì bắt buộc đơn vị phải đầu tư thêm CSVC, trang thiết bị máy móc để phục vụ cho việc đào tạo số sinh viên tăng thêm này Khi này, chi phí về tài sản sẽ không thể cố định như ban đầu mà chắc chắn phải tăng lên Hoặc trong một

số trường hợp, không phải cứ quy mô đào tạo tăng thì CPĐT sẽ tăng theo, ví

dụ chi phí của cơ sở GDĐH hầu như không thay đổi nếu sinh viên một lớp tăng từ 25 sinh viên lên 30 sinh viên Chính vì vậy mà còn có chi phí hỗn hợp

là những chi phí có cả yếu tố cố định và yếu tố biến đổi Thông thường ở mức

độ hoạt động cơ bản thì chi phí hỗn hợp thể hiện định phí, khi vượt khỏi mức

độ hoạt động cơ bản thì chi phí hỗn hợp bao gồm cả biến phí và định phí

1.1.3.6 Chi phí khoán

cho thực hiện một công việc nào đó, mà nhà quản lý kỳ vọng người thực hiện chi tiêu sẽ không chi quá số tiền khoán đó Định mức chi khoán thường thấp hơn các định mức chi theo hóa đơn, chứng từ Chi phí khoán thường được sử dụng trong các điều kiện thực hiện tiết kiệm chi, nhằm đơn giản các bước thủ tục kiểm soát chi và chứng từ chi, vừa giảm chi phí Các khoản chi có thể áp dụng chế độ khoán là các khoản chi thường xuyên tại đơn vị, trên cơ sở những chi phí cho các hoạt động đã diễn ra nhiều lần để đơn vị xây dựng mức chi khoán, như: Công tác phí, văn phòng phẩm, nhiên liệu, điện thoại, điện, nước…

khoán thì sẽ chi theo hóa đơn, chứng từ hợp pháp Việc áp dụng hình thức chi phí khoán hay chi phí theo hóa đơn, chứng từ phải được quy định cụ thể trong QCCTNB của đơn vị hoặc quy định bởi văn bản pháp quy của các ban ngành chức năng

1.1.3.7 Chi phí về tài sản cố định

đơn vị chắc chắn cần có các TSCĐ Theo quy định của chế độ kế toán hiện

Ngày đăng: 24/05/2018, 16:51

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w