1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại cổ phần tại việt nam

93 317 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 1,4 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Ý nghĩa về mặt thực tiễn: giúp cho các nhà quản trị NHTM đánh giá được mức độ hoàn thành kế hoạch và mức độ tăng trưởng của lợi nhuận nhằm tìm ra những nhân tố tích cực, nhân tố tiêu c

Trang 1

PHẠM ÁNH TUYẾT

PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA

CÁC NHTMCP TẠI VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Tp Hồ Chí Minh – Năm 2017

Trang 2

PHẠM ÁNH TUYẾT

PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA

CÁC NHTMCP TẠI VIỆT NAM

Chuyên ngành: Tài chính - Ngân hàng

Trang 3

hiệu quả hoạt động kinh doanh của các NHTMCP tại Việt Nam”

Tôi cam đoan bài nghiên cứu này là kết quả của quá trình học tập, nghiên cứu khoa học độc lập và nghiêm túc của tôi dưới sự hướng dẫn của TS Nguyễn Văn Thuận Các dữ liệu

và thông tin được sử dụng trong bài luận văn này là trung thực, do tác giả tự thu thập số liệu Tất cả tài liệu tham khảo được sử dụng trong luận văn đều có trích dẫn đầy đủ và rõ ràng

Người cam đoan

Phạm Ánh Tuyết

Trang 4

MỤC LỤC

TRANG PHỤ BÌA

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG BIỂU

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

DANH MỤC CÁC NGÂN HÀNG

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1

1.1 Lý do lựa chọn đề tài 1

1.2 Mục tiêu đề tài 2

1.3 Câu hỏi nghiên cứu: 3

1.4 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu: 3

1.5 Phương pháp nghiên cứu: 3

1.6 Ý nghĩa của đề tài 3

1.7 Bố cục của đề tài 4

CHƯƠNG 2: LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 5

2.1 Các khái niệm: 5

2.1.1 Ngân hàng thương mại 5

2.1.2 Hoạt động của Ngân hàng thương mại 6

2.1.3 Chức năng của ngân hàng thương mại 7

2.1.4 Vai trò của ngân hàng thương mại 8

2.1.5 Hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại 9

2.1.4 Các chỉ số đo lường hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng 11

2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh của NHTM 12

Trang 5

2.2.1 Các nhân tố chủ quan: 12

2.2.2 Nhóm nhân tố khách quan: 17

2.3 Lược khảo các nghiên cứu trước 19

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28

3.1 Giả thuyết nghiên cứu 28

3.1.1 Quy mô tổng tài sản 28

3.1.2 Tỷ lệ giữa tổng dư nợ cho vay và tổng tài sản 28

3.1.3 Tỷ lệ giữa vốn chủ sở hữu và tổng tài sản 29

3.1.4 Tỷ lệ giữa chi phí dự phòng rủi ro và tổng dư nợ cho vay 29

3.1.5 Tỷ lệ giữa thu nhập ngoài lãi và tổng tài sản 30

3.1.6 Tỷ lệ giữa chi phí và thu nhập hoạt động 30

3.1.7 Tôc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) 31

3.1.8 Lạm phát 31

3.2 Mô hình nghiên cứu 32

3.3 Mô tả dữ liệu nghiên cứu 35

3.4 Phương pháp phân tích dữ liệu 35

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU – THẢO LUẬN KẾT QUẢ 40

4.1 Thực trạng các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng 40

4.1.1 Lợi nhuận trên tổng tài sản và tổng vốn chủ sở hữu (ROA, ROE) 40

4.1.2 Thực trạng các nhân tố bên trong ngân hàng 41

4.1.3 Thực trạng các nhân tố vĩ mô 45

4.2 Kết quả nghiên cứu định lượng 47

4.2.1 Phân tích thống kê mô tả 47

4.2.2 Kiểm định sự tương quan và đa cộng tuyến của mô hình 50

Trang 6

4.2.3 Kiểm định lựa chọn mô hình Pooled và mô hình dữ liệu bảng FEM 51

4.2.4 Kiểm định lựa chọn mô hình Pooled và mô hình dữ liệu bảng REM 52

4.2.5 Kiểm định lựa chọn mô hình FEM và mô hình dữ liệu bảng REM 52

4.2.6 Kiểm định phương sai thay đổi 53

4.2.7 Kiểm định tự tương quan 54

4.2.8 Phân tích kết quả hồi quy 54

4.3 Thảo luận kết quả nghiên cứu 55

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 63

5.1 Kết luận 63

5.2 Khuyến nghị 63

5.2.1 Giải pháp phát triển tín dụng, hạn chế rủi ro tín dụng 64

5.2.2 Giải pháp đa dạng hóa thu nhập hoạt động 64

5.2.3 Giải pháp tăng trưởng vốn chủ sở hữu và tăng tính hiệu quả sử dụng vốn 65

5.3 Hạn chế 66

5.4 Hướng nghiên cứu tương lai 66 PHỤ LỤC KẾT QUẢ ĐỊNH LƯỢNG

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 7

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

ATM : Máy giao dịch tự động (Automated teller machine)

BCTC : Báo cáo tài chính

CPI : Chỉ số giá tiêu dùng (Consumer Price Index)

FEM : Mô hình tác động cố định (Fixed Effects model)

GDP : Tổng sản phẩm quốc nội

HĐQT : Hội đồng quản trị

NHNN : Ngân hàng nhà nước

NHTM : Ngân hàng thương mại

NHTMCP : Ngân hàng nhà thương mại cổ phần

REM : Mô hình tác động ngẫu nhiên (Random Effects model)

TCTD : Tổ chức tín dụng

VAMC : Công ty quản lý tài sản của các TCTD Việt Nam

Trang 8

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1: Các hệ số phản ánh hiệu quả hoạt động

Bảng 2.2: Bảng tổng kết các nghiên cứu liên quan

Bảng 3.1: Bảng mô tả các biến trong mô hình

Bảng 4.1: Thống kê mô tả giữa các biến trong mô hình

Bảng 4.2: Kết quả ma trận tương quan

Bảng 4.3: Kết quả kiểm tra đa cộng tuyến với nhân tử phóng đại phương sai Bảng 4.4: Kết quả kiểm định lựa chọn Pooled và FEM

Bảng 4.5: Kết quả kiểm định lựa chọn Pooled và REM

Bảng 4.6: Kết quả kiểm định lựa chọn FEM và REM

Bảng 4.7: Kết quả kiểm định phương sai thay đổi

Bảng 4.8 : Kết quả kiểm tra tự tương quan mô hình

Bảng 4.9: Kết quả mô hình hồi quy GMM

Bảng 4.10: Kết quả ảnh hưởng giữa các biến

Trang 9

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biều đồ 4.1: Tỷ suất lợi nhuận trên tài sản và vốn chủ sở hữu

Biều đồ 4.2: Tổng tài sản - Vốn chủ sở hữu

Biều đồ 4.3: Tỷ lệ giữa vốn chủ sở hữu và tổng tài sản

Biểu đồ 4.4: Dư nợ cho vay trên tổng tài sản – Chi phí dự phòng rủi ro trên tổng dư

nợ cho vay Biểu đồ 4.5: Tỷ lệ giữa thu nhập ngoài lãi và tổng tài sản

Biều đồ 4.6: Tỷ lệ giữa chi phí và thu nhập hoạt động

Biểu đồ 4.7: Tăng trưởng kinh tế - Lạm phát

Trang 10

DANH MỤC CÁC NGÂN HÀNG STT Tên ngân hàng

1 Ngân hàng TMCP An Bình

2 Ngân hàng TMCP Á Châu

3 Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam

4 Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam

5 Ngân hàng TMCP Xuất nhập Khẩu Việt Nam

6 Ngân hàng TMCP Phát triển TP Hồ Chí Minh

7 Ngân hàng TMCP Kiên long

8 Ngân hàng TMCP Quân đội

9 Ngân hàng TMCP Hàng hải Việt Nam

10 Ngân hàng TMCP Nam Á

11 Ngân hàng TMCP Phương đông

12 Ngân hàng TMCP Xăng dầu Petrolimex

13 Ngân hàng TMCP Sài Gòn

14 Ngân hàng TMCP Sài Gòn công thương

15 Ngân hàng TMCP Sài Gòn - Hà Nội

16 Ngân hàng TMCP Sài Gòn thương tín

17 Ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam

18 Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam

19 Ngân hàng TMCP Quốc tế

20 Ngân hàng TMCP Việt Á

21 Ngân hàng TMCP Việt Nam thịnh vượng

22 Ngân hàng TMCP Quốc Dân Việt Nam

23 Ngân hàng TMCP Bưu Điện Liên Việt

Trang 11

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

1.1 Lý do lựa chọn đề tài

Đi cùng với sự phát triển của kinh tế hàng hóa là sự phát triển của Ngân hàng thương mại Sự phát triển của hệ thống các ngân hàng thương mại đã có những tác động lớn và đóng vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển kinh tế xã hội và ngược lại, khi kinh tế phát triển các ngân hàng thương mại cũng ngày càng được hoàn chỉnh và trở thành những định chế tài chính không thể thiếu

Trong những năm gần đây, Việt Nam đã và đang hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế khu vực và thế giới, đã ký kết Hiệp định thương mại tự do (FTA), gia nhập Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC), Hiệp định Đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP) Năm 2016, đây là năm đầu thực hiện kế hoạch 5 năm 2016 -

2020, nền kinh tế cũng như ngành Ngân hàng hội nhập ngày càng sâu rộng trên trường quốc tế, hội nhập trong khu vực ASEAN (AEC) là một tất yếu, hiện Việt Nam đang tham gia hàng loạt các hiệp định thương mại tự do song phương, liên minh khu vực Trong tiến trình hội nhập này, ngành ngân hàng có nhiều cơ hội, nhưng cũng phải đối mặt với không ít tháchthức như cạnh tranh thị trường sẽ tăng hơn, chịu tác động không ít từ những biến động bất lợi của thị trường thế giới và khu vực, các NHTM Việt Nam còn khá mới nên còn thiếu kinh nghiệm, thiếu vốn nên trong hoạt động kinh doanh các NHTM cũng gặp phải ít nhiều khó khăn

Thực hiện Quyết định số 254/QĐ-TTg ngày 1/3/2012 của Thủ tướng phê duyệt đề án "Cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng giai đoạn 2011 - 2015" nhằm lành mạnh hóa tình trạng tài chính và ổn định hoạt động của các tổ chức tín dụng Tính đến ngày 31/12/2016, hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam bao gồm 04 ngân hàng thương mại nhà nước cùng với 31 ngân hàng thương mại cổ phần

Trong thời gian gần đây, thị trường tài chính Việt Nam đã có nhiều thương

vụ sáp nhập ngân hàng thành công, tổ chức sau sáp nhập có những bước phát triển đáng khích lệ Theo sự đánh giá của Tổ chức xếp hạng tín dụng Moody's, việc tăng cường sáp nhập các ngân hàng của Việt Nam là một tín hiệu tích cực, giúp loại bỏ các ngân hàng yếu kém ra khỏi hệ thống Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt

Trang 12

được thì hệ thống ngân hàng vẫn còn những vấn đề chưa được giải quyết dứt điểm, như vấn đề về nợ xấu, tỷ giá còn nhiều áp lực, hệ thống các TCTD, tuy đã được tái

cơ cấu đạt được sự vững mạnh nhất định, nhưng năng lực cạnh tranh khu vực và quốc tế vẫn là những thách thức của hệ thống ngân hàng trong những năm tiếp theo

Vì vậy, việc tìm hiểu, phân tích, đánh giá các nhân tố có ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các NHTM cần được quan tâm xem xét và đánh giá một cách tổng thể, việc này rất cần thiết và rất có ích cho ngành ngân hàng tại Việt Nam Việc hiểu được các nhân tố trên tạo điều kiện thuận cho các nhà quản trị ngân hàng điều hành tốt hoạt động ngân hàng, Ngân hàng nhà nước ban hành ra những chính sách phù hợp và đúng đắn, còn các nhà đầu tư có được quyết định chính xác Và nhờ vậy khung chính sách cũng dần dần được hoàn thiện để phù hợp với lộ trình phát triển của các ngân hàng ở Việt Nam trong giai đoạn toàn cầu hóa hiện nay và tái cấu trúc hệ thống ngân hàng

Xuất phát từ tình hình thực tiễn và những đòi hỏi cấp thiết hiện nay, đặc biệt trong giai đoạn Việt Nam đang hội nhập và toàn cầu hoá, để hoạt động của ngành ngân hàng đáp ứng được nhu cầu sự phát triển của nền kinh tế thì Ngân hàng nhà nước cần đề ra những chính sách phù hợp Chính vì vậy, bài viết: “Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam’’nhằm góp một phần cung cấp ý nghĩa thực tiễn và khoa học cho Việt Nam

Trang 13

1.3 Câu hỏi nghiên cứu:

Những nhân tố nào có ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các NHTMCP tại Việt Nam?

Chiều hướng và mức độ ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam của các nhân tố đó

1.4 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu:

- Phạm vi nghiên cứu: các NHTMCP tại Việt Nam giai đoạn từ năm 2009 đến năm 2016

- Đối tượng nghiên cứu là những nhân tố có ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các NHTMCP tại Việt Nam

1.5 Phương pháp nghiên cứu:

Tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng, thông qua phương pháp thống kê mô tả nhằm xác định những đặc tính cơ bản của dữ liệu đã được thu thập như giá trị trung bình, giá trị lớn nhất, giá trị nhỏ nhất, độ lệch chuẩn, thông qua phân tích tương quan, phân tích hồi quy bằng phương pháp GMM cùng với các kiểm định cần thiết để xác định sự ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các nhân tố nghiên cứu

Để hỗ trợ phân tích, tác giả sử dụng phần mềm Stata để chạy dữ liệu

1.6 Ý nghĩa của đề tài

- Ý nghĩa khoa học: cung cấp các bằng chứng thực nghiệm tại Việt Nam về hiệu quả hoạt động ngân hàng; đồng thời củng cố các lý thuyết đã được nêu ra trong các nghiên cứu trước đây về hiệu quả hoạt động của ngân hàng

- Ý nghĩa về mặt thực tiễn: giúp cho các nhà quản trị NHTM đánh giá được mức độ hoàn thành kế hoạch và mức độ tăng trưởng của lợi nhuận nhằm tìm ra những nhân tố tích cực, nhân tố tiêu cực ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng, từ đó đề ra các giải pháp và chính sách để phát huy nhân tố tích cực, khắc phục hay loại bỏ nhân tố tiêu cực, từ đó có thể đưa ra những quyết định đúng đắn phát triển ngân hàng ngày một lớn mạnh

Trang 14

1.7 Bố cục của đề tài

Đề tài nghiên cứu gồm có 5 chương

- Chương 1: Giới thiệu đề tài nghiên cứu

- Chương 2: Lý luận chung về ngân hàng thương mại và hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại

- Chương 3: Phương pháp nghiên cứu

- Chương 4: Kết quả nghiên cứu – Thảo luận kết quả

- Chương 5: Kết luận và khuyến nghị

Trang 15

CHƯƠNG 2: LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ

HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

2.1 Các khái niệm:

2.1.1 Ngân hàng thương mại

Perter S.Rose (2004) thì ngân hàng là tổ chức tài chính, cung cấp danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng, đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm, dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính

Theo Luật các tổ chức tín dụng số 07/1997/QHX:

“Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp được thành lập theo quy định của Luật này

và các quy định khác của pháp luật để hoạt động kinh doanh tiền tệ, làm dịch vụ ngân hàng với nội dung nhận tiền gửi và sử dụng tiền gửi để cấp tín dụng, cung ứng các dịch vụ thanh toán.”

“Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng phát triển, ngân hàng đầu tư, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác và các loại hình ngân hàng khác.”

Theo Nghị định của Chính phủ số 49/2001/NĐ-CP ngày 12/9/2000 định nghĩa: “NHTM là ngân hàng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận, góp phần thực hiện các mục tiêu kinh tế của nhà nước.”

Theo Luật số 47/2010/QH12 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định:

“Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng có thể được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng bao gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác xã.”

Trang 16

“Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận.”

“Tóm lại: Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng gồm: NHTM, ngân hàng phát triển, ngân hàng đầu tư, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác xã và các loại hình ngân hàng khác

NHTM là một doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ mà nhiệm vụ chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cho vay và cung ứng các dịch

vụ thanh toán”

2.1.2 Hoạt động của Ngân hàng thương mại

Theo điều 98 của Luật tổ chức tín dụng số 47/2012/QH12 quy định:

“Hoạt động của ngân hàng thương mại:

1 Nhận tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm và các loại tiền gửi khác

2 Phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu, trái phiếu để huy động vốn trong nước và nước ngoài

3 Cấp tín dụng dưới các hình thức sau đây:

4 Mở tài khoản thanh toán cho khách hàng

5 Cung ứng các phương tiện thanh toán

Trang 17

6 Cung ứng các dịch vụ thanh toán sau đây:

a) Thực hiện dịch vụ thanh toán trong nước bao gồm séc, lệnh chi, ủy nhiệm chi, nhờ thu, ủy nhiệm thu, thư tín dụng, thẻ ngân hàng, dịch vụ thu hộ và chi hộ; b) Thực hiện dịch vụ thanh toán quốc tế và các dịch vụ thanh toán khác sau khi được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận

Mặc dù hoạt động ngân hàng rất đa dạng và phong phú nhưng các ngân hàng chỉ được thực hiện các hoạt động được nêu trong giấy phép kinh doanh của họ Những chức năng này sẽ do NHNN quyết định theo từng trường hợp cụ thể.”

2.1.3 Chức năng của ngân hàng thương mại

Nhìn chung, NHTM có các chức năng sau:

 Chức năng trung gian tài chính

Với chức năng trung gian tín dụng, NHTM là "cầu nối" giữa người thừa vốn

và người thiếu vốn, NHTM đóng vai trò vừa là người đi vay và vừa là người cho vay

Đối với người có vốn nhàn rỗi, họ sẽ nhận được một khoản tiền lãi Đối với người thiếu vốn, họ sẽ giải quyết được nguồn vốn cho kinh doanh

Đối với ngân hàng, họ sẽ tìm được lợi nhuận cho bản thân mình từ chênh lệch giữa lãi suất cho vay và lãi suất tiền gửi hoặc hoa hồng môi giới

Đối với nền kinh tế, chức năng này có vai trò quan trọng trong việc kích thích quá trình luân chuyển vốn, thúc đẩy sản xuất kinh doanh, ngân hàng đã biến vốn nhàn rỗi không hoạt động thành vốn hoạt động

 Chức năng trung gian thanh toán

Với hoạt động này, NHTM đã tạo điều kiện cho việc thanh toán giữa các tổ chức kinh tế, các cá nhân… được thuận tiện, giảm thiểu rủi ro và tiết kiệm được chi phí cho họ cũng như tiết kiệm chi phí cho xã hội, đồng thời tốc độ luân chuyển nguồn vốn kinh doanh của khách hàng cũng được nhanh hơn Bởi vì việc thanh toán qua ngân hàng được thực hiện tập trung, chuyên nghiệp và có công nghệ cao Và NHTM cũng thu được phí dịch vụ thanh toán làm tăng lợi nhuận cho ngân hàng

Trang 18

Ngày nay, khi nền kinh tế ngày càng phát triển thì hoạt động thanh toán cũng ngày càng phát triển theo Để thanh toán qua ngân hàng thì khách hàng cần có số dư tiền gửi tại ngân hàng, điều này làm tăng nguồn vốn cho ngân hàng

 Chức năng tạo tiền

Đây là chức năng chủ yếu của NHTM, với một lượng tiền cung ứng ban đầu, thông qua hoạt động nhận tiền gửi, cho vay và thanh toán bằng chuyển khoản của

hệ thống NHTM đã làm tăng lượng tiền cung ứng so với ban đầu

Với chức năng "tạo tiền", hệ thống NHTM đã làm tăng phương tiện thanh toán trong nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu thanh toán, chi trả của xã hội

Chức năng này cũng chỉ ra mối quan hệ giữa tín dụng ngân hàng và lưu thông tiền tệ Một khối lượng tín dụng mà ngân hàng thương mại cho vay ra làm tăng khả năng tạo tiền của ngân hàng thương mại, từ đó làm tăng lượng tiền cung ứng

2.1.4 Vai trò của ngân hàng thương mại

Ngân hàng thương mại giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế thể hiện qua các nội dung sau:

 Ngân hàng thương mại là nơi cung cấp vốn cho nền kinh tế: Để nền kinh

tế phát triển cần phải có một lượng vốn lớn đầu tư cho hoạt động sản xuất kinh doanh và các hoạt động khác Với nguồn vốn huy động được, NHTM đã cung cấp vốn đến mọi hoạt động kinh tế thông qua hoạt động tín dụng, đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn cho quá trình sản xuất kinh doanh Nhờ có hoạt động của hệ thống NHTM, các doanh nghiệp, cá nhân có điều kiện mở rộng sản xuất kinh doanh, cải tiến máy

móc, công nghệ để tăng năng suất lao động, nâng cao hiệu quả kinh tế

 Ngân hàng thương mại là cầu nối các doanh nghiệp với thị trường: Hoạt

động của NHTM giúp cho các doanh nghiệp có thêm vốn để tiếp cận với dây chuyền sản xuất hiện đại, công nghệ từ các nước tiên tiến ngoài vốn tự có của các

doanh nghiệp

 Ngân hàng thương mại là một công cụ để Nhà nước điều tiết vĩ mô nền

kinh tế: NHTM được Nhà nước cấp vốn cho hoạt động và sử dụng như công cụ để

quản lý hoạt động tiền tệ, điều tiết chính sách tiền tệ quốc gia Nhà nước điều tiết

Trang 19

ngân hàng, ngân hàng dẫn dắt thị trường thông qua hoạt động tín dụng và thanh toán giữa các NHTM trong hệ thống từ đó góp phần mở rộng khối lượng tiền cung ứng trong lưu thông và thông qua việc cung ứng tín dụng cho các ngành trong nền kinh tế, NHTM thực hiện việc dẫn dắt các luồng tiền tập hợp và phân chia vốn của

thị trường, điều khiển chúng một cách có hiệu quả

Ngân hàng thương mại là cầu nối nền tài chính quốc gia với nền tài chính quốc tế: Một trong các điều kiện quan trọng góp phần thúc đẩy sự hội nhập

nền kinh tế quốc gia với nền kinh tế thế giới đó là nền tài chính quốc gia Nền tài chính quốc gia là cầu nối với nền tài chính quốc tế thông qua hoạt động của NHTM trong các lĩnh vực kinh doanh như nhận tiền gửi, cho vay, nghiệp vụ thanh toán, nghiệp vụ ngoại hối và các nghiệp vụ khác Đặc biệt là các hoạt động thanh toán quốc tế, buôn bán ngoại hối, quan hệ tín dụng với các ngân hàng Nhà nước của NHTM trực tiếp hoặc gián tiếp tác động góp phần thúc đẩy hoạt động thanh toán xuất nhập khẩu và thông qua đó NHTM đã thực hiện vai trò điều tiết tài chính trong nước phù hợp với sự vận động của nền tài chính quốc tế

2.1.5 Hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại

Hiệu quả là một khái niệm được sử dụng rộng rãi trong hầu hết các lĩnh vực như kinh tế, kỹ thuật, xã hội Ở những

Một câu hỏi được đặt ra khi nghiên cứu về hiệu quả hoạt động của ngân hàng là: Tại sao các nhà nghiên cứu phân tích, các nhà quản lý, các cổ đông và khách hàng lại quan tâm đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng? Câu trả lời của câu hỏi này sẽ khác nhau khi đứng ở gốc độ khác nhau Đối với những nhà nghiên cứu, họ quan tâm đến hiệu quả hoạt động kinh doanh vì hoạt động ngân

Trang 20

hàng ảnh hưởng đến cả nền kinh tế, không có dịch vụ ngân hàng hiệu quả thì nền kinh tế không thể hoạt động trơn tru và hiệu quả Theo quan điểm của các nhà quản

lý, các ngân hàng hoạt động kém hiệu quả là đang gặp nhiều rủi ro và có khả năng phá sản cao hơn những ngân hàng hoạt động hiệu quả; trong một thị trường năng động và cạnh tranh thì chỉ có các ngân hàng hoạt động có hiệu quả mới tồn tại và duy trì thị phần của mình còn những ngân hàng kém hiệu quả cuối cùng sẽ được loại bỏ Từ quan điểm của cổ đông, các ngân hàng hoạt động có hiệu quả đảm bảo đem lại lợi nhuận hợp lý cho họ Đối với khách hàng thì chỉ có các ngân hàng hoạt động hiệu quả mới có thể cung cấp dịch vụ có chất lượng tốt hơn với giá cả hợp lý Perter S.Rose (2004) thì bản chất NHTM là một tổ chức tài chính tiến hành các hoạt động kinh doanh vì mục tiêu lợi nhuận Mục tiêu của hầu hết các ngân hàng cũng giống như những tổ chức kinh tế khác là tối đa hóa lợi nhuận Lợi nhuận được ví như mạch máu trong cơ thể con người, con người chỉ sống được khi có máu lưu thong trong cơ thể Hoạt động ngân hàng cũng vậy, một ngân hàng muốn tồn tại

và phát triển thì hoạt động kinh doanh phải có lợi nhuận, như thế có thể bảo toàn được vốn, gia tăng thị phần, thu hút được nhiều vốn đầu tư trong và ngoài nước Vì vậy, tỷ suất lợi nhuận thu được từ kinh doanh đóng vai trò như một thước đo hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng

Trong một bài nghiên cứu thực nghiệm năm 2010, Ngân hàng Trung ương Châu Âu – ECB nhận xét một số điểm như sau: thứ nhất, để đánh giá một ngân hàng hoạt động có hiệu quả hay không, cần xem xát mức độ bền vững của lợi nhuận

mà ngân hàng tạo ra; thứ hai, lợi nhuận mà các ngân hàng tạo ra được dùng để bù đắp các khoản lỗ, sau đó là giữ lại để tăng cường vốn để hướng đến mục tiêu tăng trưởng lợi nhuận trong tương Nghiên cứu của Lottea J.Mester (2003) về việc đo lường hiệu quả hoạt động của các NHTM đã nêu ra các yếu tố đầu vào mà ngân hàng sử dụng như lao động, vốn ngân hàng, chi phí hoạt động để tạo ra các yếu tố đầu ra như các khoản lợi nhuận từ tín dụng, lợi nhuận từ tiền gửi… Còn nghiên cứu của Mariana Tomova (2005) cho rằng hiệu quả hoạt động ngân hàng được đo lường bằng sự chênh lệch giữa các yếu tố đầu vào và các yếu tố đầu ra

Trang 21

Tóm lại, hiệu quả hoạt động phản ánh việc sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực, máy móc, công cụ và trang thiết bị, vật liệu hoặc việc sử dụng hợp lý để có thể tăng sản lượng hàng hoá, cung cấp dịch vụ tốt cho khách hàng và giảm chi phí Hiệu quả hoạt động cũng phản ánh sự lãng phí làm tiêu hao tài nguyên và lợi nhuận của tổ chức Trong môi trường kinh doanh cạnh tranh khốc liệt thì việc giảm chi phí là một lựa chọn tốt nhất để mang lại hiệu quả

2.1.4 Các chỉ số đo lường hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng

Lợi nhuận là mục tiêu cuối cùng của các ngân hàng thương mại Tất cả các chiến lược được thiết kế và hoạt động thực hiện nó là để thực hiện mục tiêu lớn này Để đo lường hiệu quả hoạt động của NHTM có nhiều tỷ lệ được sử dụng như ROA, ROE, NIM…

Lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA): theo Ongore (2013), ROA là chỉ tiêu cho thấy khả năng sinh lời của một ngân hàng Theo (Khrawish, 2011) ROA là một

tỷ lệ lợi nhuận trên tổng tài sản Nó đánh giá khả năng quản lý của các nhà quản trị ngân hàng để tạo thu nhập bằng cách sử dụng tài sản của ngân hàng theo ý của họ Nói cách khác, ROA cho thấy nguồn lực của ngân hàng được sử dụng để tạo ra thu nhập Nó còn cho thấy hiệu quả của việc quản lý một ngân hàng trong việc tạo ra thu nhập ròng từ tất cả các nguồn lực của tổ chức Wen (2010) cho biết ROA cao hơn cho thấy công ty có hiệu quả hơn trong việc sử dụng các nguồn lực của nó

Lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE): theo Ongore (2013), ROE là một

tỷ số tài chính liên quan đến lợi nhuận mà một doanh nghiệp kiếm được so với tổng

số tiền vốn cổ phần đã đầu tư ROE là những gì mà các cổ đông xem xét trả lại cho nhà đầu tư của họ Một doanh nghiệp có lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu cao có nhiều khả năng tạo tiền mặt nội bộ Do đó, ROE cao hơn thì công ty tốt hơn về mặt tạo ra lợi nhuận Điều này được giải thích thêm bởi Khrawish (2011) rằng ROE là

tỷ suất lợi nhuận thuần sau thuế chia cho tổng vốn cổ phần Nó đại diện cho tỷ suất lợi nhuận thu được từ các quỹ đầu tư vào các ngân hàng của các cổ đông ROE phản ánh mức độ hiệu quả của việc quản lý ngân hàng đang sử dụng lợi ích của cổ

Trang 22

đông Như vậy, có thể suy luận rằng ROE càng có hiệu quả hơn quản lý sử dụng vốn cổ đông

Lãi suất ròng (NIM): theo Ongore (2013), NIM là thước đo sự khác biệt giữa thu nhập lãi từ ngân hàng và số tiền lãi trả cho người cho vay của họ (ví dụ như tiền gửi) NIM thường được biểu diễn bằng tỷ lệ phần trăm của khoản tiền lãi

mà ngân hàng thu được trong một khoảng thời gian cụ thể trừ đi số tiền lãi vay của các khoản vay mượn chia cho tổng tài sản Gul và cộng sự (2011), NIM được định nghĩa là thu nhập lãi ròng chia cho tổng tài sản thu nhập Lãi suất ròng tính khoảng cách giữa thu nhập lãi mà ngân hàng nhận được từ khoản vay và chứng khoán và chi phí lãi vay của các khoản vay Lãi suất ròng càng cao thì lợi nhuận của ngân hàng càng cao ổn định hơn Do đó, NIM là một trong những thước đo quan trọng của lợi nhuận của ngân hàng Tuy nhiên, theo Khrawish (2011), lãi suất ròng có thể phản ánh các hoạt động cho vay gặp rủi ro vì liên quan đến việc khách hàng không thể trả nợ vay theo điều khoản đã thỏa thuận dẫn đến ngân hàng bị mất vốn

Tóm lại, mỗi nhà quản trị, nhà nghiên cứu có những quan điểm riêng về hiệu quả hoạt động kinh doanh, tùy vào mục tiêu của việc nghiên cứu mà họ đặt ra khi phân tích những hệ số tài chính Vì vậy, do những khó khăn và hạn chế trong việc thu thập số liệu ở Việt Nam, tác giả bài luận văn này dựa trên ROA và ROE để phản ánh hiệu quả hoạt động kinh doanh của các NHTMCP

2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTM

Một ngân hàng muốn tồn tại và phát triển thì điều kiện quyết định đó là hoạt động phải có hiệu quả Ngân hàng hoạt động có hiệu quả hay không lại phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau Tuy nhiên, tác giả chỉ đề cập đến 2 nhóm nhân tố chính, đó là nhóm nhân tố khách quan bên ngoài ngân hàng và nhóm nhân tố chủ quan bên trong ngân hàng Và sự tác động của 2 nhóm nhân tố này đến chất lượng hoạt động của ngân hàng còn tùy thuộc các yếu tố cụ thể khác của từng ngân hàng

2.2.1 Các nhân tố chủ quan:

Nhóm các nhân tố chủ quan tác giả muốn trình bày trong bài nhiên cứu chủ yếu là các nhân tố liên quan đến nội tại của một ngân hàng Các nhân tố này bao

Trang 23

gồm: các chỉ tiêu rút ra từ báo cáo tài chính, năng lực của nhà quản trị ngân hàng, khả năng ứng dụng các tiến bộ khoa học công nghệ trong hoạt động, các sản phẩm dịch vụ mà ngân hàng cung cấp, năng suất lao động, trình độ chuyên môn của nhân

sự ngân hàng

a/ Năng lực tài chính:

Năng lực tài chính của NHTM chính là khả năng tài chính để ngân hàng thực hiện và phát triển các hoạt động kinh doanh một cách hiệu quả Khi phân tích và đánh giá năng lực tài chính của một NHTM, điều mà các nhà phân tích quan tâm đầu tiên là khả năng một ngân hàng mở rộng vốn chủ sở hữu như thế nào, vì một ngân hàng được đánh giá là mạnh hay yếu thông qua nguồn vốn chủ sở hữu, vốn chủ sở hữu có thể bù đắp tạm thời các khoản lỗ cho đến khi phát sinh lợi nhuận và được giữ lại để tạo nên vốn bổ sung Theo Berger (1995) vốn chủ sở hữu càng lớn giúp ngân hàng chống đỡ hay bù đắp những rủi ro tài chính bao gồm cả rủi ro phá sản, từ đó làm gia tăng lợi nhuận của ngân hàng Hoạt động ngân hàng luôn tiềm ẩn nhiều rủi ro, mà trong đó rủi ro nợ xấu được các ngân hàng quan tâm hơn hết, khi tỷ

lệ nợ xấu gia tăng, năng lực tài chính giúp cho các ngân hàng sử dụng lợi nhuận để

bù đắp khoản tổn thất, dự phòng rủi ro phát sinh từ nợ xấu Năng lực này có ảnh hưởng lớn đến việc ngân hàng có khả năng huy động vốn nhàn rỗi từ nền kinh tế hay không Theo Bourke (1989) đã cho rằng các ngân hàng quản trị vốn tốt có thể tiếp cận nguồn vốn rẻ hơn, thị trường tốt hơn, ít rủi ro hơn

b/ Khả năng áp dụng các tiến bộ khoa học, công nghệ:

Ngày nay, với sự phát triển vượt bậc của khoa học kỹ thuật, việc khai thác và ứng dụng những tiến bộ đó trong các sản phẩm dịch vụ của ngân hàng cũng góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của ngân hàng Ta có thể thấy rõ những ngân hàng có khả năng ứng dụng nhiều công nghệ hiện đại sẽ có sức cạnh tranh cao hơn

so với những ngân hàng sử dụng công nghệ truyền thống

Áp dụng các tiến bộ về khoa học, công nghệ vào hoạt động ngân hàng, đặc biệt trong hệ thống thanh toán, cung cấp tiện ích ngân hàng điện tử hiện đại, mở rộng khả năng tiếp cận các sản phẩm dịch vụ cho mọi người dân mang lại hiệu quả cho

Trang 24

hoạt động của NHTM Trình độ của một ngân hàng được đánh giá dựa trên quy mô đầu tư vào các nghiên cứu ứng dụng, trang bị các công cụ, phần mềm hiện đại, mang tính đặc trưng cũng như khả năng mở rộng mạng lưới của các ngân hàng với nhau

c/ Chất lượng lao động:

Nguồn nhân lực luôn là nhân tố quan trọng quyết định đến thành công hay thất bại của bất kỳ tổ chức nào Trong quá trình toàn cầu hóa hiện nay, mức độ canh tranh của các ngân hàng ngày càng cao dẫn đến để giữ được thị phần, các ngân hàng cần cung cấp những sản phẩm, dịch vụ mới, đa dạng và phù hợp với nhu cầu của khách hàng Do đó, chất lượng lao động luôn là yếu tố hàng đầu và các ngân hàng hướng đến nhằm nâng cao chất lượng phục vụ, đáp ứng nhu cầu ngày một cao và thường xuyên thay đổi của thị trường

Lĩnh vực ngân hàng là một trong những lĩnh vực gắn nhiều với rủi ro đạo đức nghề nghiệp Điều này đặt ra yêu cầu các nhân viên ngân hàng ngoài việc có trình

độ chuyên môn cao còn phải có đạo đức nghề nghiệp tốt, giúp ngăn ngừa các rủi ro

có thể xảy ra trong hoạt động kinh doanh, đồng thời giảm những tổn thất không đáng có, giảm thiểu các chi phí trong hoạt động Theo Ward, D., Bechet, T P., & Tripp, R (1994), mục tiêu đặt ra cho ngành Ngân hàng để có nguồn nhân lực chất lượng cao cần đảm bảo nguyên tắc SMART (Specific- Rõ ràng; Measurable- đo lường được; Attainable- Có thể đạt được; Relevant- Thích hợp; Time-bound - Lộ trình cụ thể)

d/ Quy mô tổng tài sản:

Athanasoglou và cộng sự (2005), tài sản của ngân hàng là một biến cụ thể của ngân hàng ảnh hưởng đến khả năng sinh lợi của một ngân hàng Tài sản ngân hàng bao gồm các tài sản hiện tại, danh mục tín dụng, tài sản cố định và các khoản đầu tư khác Quy mô tổng tài sản của ngân hàng tăng lên liên quan đến độ tuổi của ngân hàng

Lý thuyết ngân hàng khẳng định rằng một ngân hàng có lợi thế kinh tế theo quy mô lên đến một mức độ nhất định, vượt quá các quy mô không được quy định

Trang 25

Điều này có nghĩa là lợi nhuận sẽ tăng lên cùng với sự gia tăng về quy mô và giảm ngay khi có những bất lợi về quy mô Như vậy, mối quan hệ giữa quy mô ngân hàng và lợi nhuận có thể là tích cực hoặc tiêu cực ( Athanasoglou và cộng sự, 2006).

Quy mô có ảnh hưởng quan trọng đến lợi nhuận của chính ngân hàng thương mại đó Lý thuyết kinh tế về quy mô cho rằng các tổ chức lớn sẽ hiệu quả hơn và có thể cung cấp được dịch vụ tại mức giá thấp hơn nhờ vào lợi thế kinh tế quy mô, qua

đó sẽ thu về lợi nhuận cao hơn Quy mô ngân hàng tăng lên thì thị phần của ngân hàng cũng được mở rộng, khả năng tiếp cận với nhiều đối tượng khách hàng hơn giúp ngân hàng thương mại cung cấp sản phẩm, dịch vụ của mình đến với khách hàng một cách nhanh chóng và hiệu quả hơn, thúc đẩy tăng doanh thu, lợi nhuận của NHTM, đồng thời tăng giá trị thương hiệu của ngân hàng mình so với các ngân hàng khác Quy mô tài sản tăng lên đòi hỏi khả năng quản lý tốt hơn, nếu không quản lý tốt sẽ dẫn đến rủi ro cao hơn gây ra ảnh hưởng không tốt đến hiệu quả hoạt động ngân hàng

e/ Dư nợ cho vay:

Trong hầu hết các bài nghiên cứu, biến đại diện cho quy mô các khoản vay thường được tính bằng công thức: Dư nợ cho vay/Tổng tài sản ngân hàng Trong quá trình phân tích một ngân hàng, tỷ lệ này cũng là chỉ tiêu thể hiện rủi ro thanh khoản Chỉ tiêu này phản ánh phần tài sản có của ngân hàng được phân bổ vào những loại tài sản có tính thanh khoản thấp nhất

Tuy nhiên, lợi nhuận của ngân hàng phần lớn từ hoạt động tín dụng Hoạt động này đóng góp rất lớn vào thu nhập của ngân hàng, thể hiện qua chỉ tiêu thu nhập lãi

Dư nợ tín dụng càng lớn thì ngân hàng có thu nhập từ lãi càng cao dẫn đến tỷ lệ thu nhập trên tổng tài sản (ROA) càng cao Vì vậy, nhân tố này phần nào phản ánh năng lực của các nhà quản lý trong việc quản trị ngân hàng (Aydogan, 1990) Tuy nhiên, chất lượng danh mục đầu tư cho vay có ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận của ngân hàng Các rủi ro cao nhất mà ngân hàng phải đối mặt là những khoản lỗ từ các khoản nợ quá hạn (Đặng, 2011)

Trang 26

f/ Vốn chủ sở hữu

Để đánh giá độ lành mạnh tài chính của một NHTM thì một trong những chỉ

số được khuyến khích sử dụng là tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản (IMF, 2006) Chỉ số này càng cao giúp ngân hàng ứng phó với rủi ro tốt hơn do các hoạt động của ngân hàng an toàn hơn nhưng đồng thời cũng làm giảm nhiều cơ hội kinh doanh hiệu quả

Theo Athanasoglou và cộng sự (2005), vốn chủ sở hữu là một trong những yếu tố cụ thể của ngân hàng ảnh hưởng đến lợi nhuận của ngân hàng Vốn chủ sở hữu là số tiền quỹ riêng có sẵn để hỗ trợ hoạt động kinh doanh của ngân hàng và hoạt động như một bộ đệm trong trường hợp có bất lợi tình huống

Theo Ally (2014), tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản được coi là một trong những tỷ lệ cơ bản của vốn sức mạnh Dự kiến tỷ lệ này càng cao, nhu cầu cấp vốn bên ngoài càng thấp và lợi nhuận của ngân hàng Nó cho thấy khả năng của ngân hàng để hấp thụ thiệt hại và xử lý rủi ro với cổ đông.Tỷ lệ tài sản đối với tổng tài sản dự kiến sẽ có mối quan hệ tích cực với khả năng sinh lời mà các ngân hàng có vốn đầu tư nước ngoài phải đối mặt giảm chi phí phá sản làm giảm chi phí tài trợ và rủi ro (Berger, 1995)

g/ Tỷ lệ nợ xấu

Tỷ lệ nợ xấu phản ánh chất lượng và rủi ro trong hoạt động cho vay của ngân hàng Ngân hàng nào không kiểm soát được nợ xấu dẫn đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng bị suy giảm, nghiên cứu của Công Tâm và Minh Hà (2012), Sufian và Chong (2008), Athanasoglou và cộng sự (2006) đã chứng minh cho kết quả này

Tỷ lệ nợ xấu được xác định bằng các lấy tổng nợ xấu trên tổng dư nợ cho vay Đây là một trong những chỉ tiêu quan trọng nhằm giúp người phân tích đánh giá được mức độ lành mạnh tài chính của ngân hàng, nếu tỷ lệ này càng cao thì ngân hàng có thể sẽ đi đến tình trạng phá sản (IMF, 2006)

h/ Tổng thu nhập ngoài lãi:

Ngoài nguồn thu nhập chính từ lãi, các ngân hàng thương mại còn có thu nhập

từ các hoạt động như thanh toán, dịch vụ thẻ, tài trợ thương mại, kinh doanh ngoại

Trang 27

hối, chứng khoán… Theo lý thuyết quản lý danh mục đầu tư, việc đa dạng các danh mục đầu tư giúp ngân hàng giảm thiểu được rủi ro thị trường để đạt được lợi nhuận

kỳ vọng Ngày nay, giữa các ngân hàng có sự cạnh tranh gay gắt nên việc đa dạng các sản phẩm, dịch vụ kinh doanh khác ngoài những hoạt động kinh doanh truyền thống là rất cần thiết cho các ngân hàng gia tăng lợi nhuận

Theo Hoàng Ngọc Tiến và Võ Thị Hiền (2010), việc đa dạng hóa thu nhập hoạt động cũng đồng nghĩa với việc giúp các ngân hàng phân tán rủi ro trong hoạt động kinh doanh giữa các sản phẩm dịch vụ ngân hàng

i/ Chi phí hoạt động trên thu nhập hoạt động

Để đảm bảo hoạt động ngày càng hiệu quả, lợi nhuân gia tăng qua các năm, nhà quản trị ngân hàng thường chú trọng mở rộng đầu tư công nghệ hiện đại, ứng dụng kỹ thuật vào hoạt động thông tin, giao tiếp, đẩy mạnh quảng cáo Việc ứng dụng công nghệ hiện đại nhằm phục vụ khách hàng nhanh chóng, quảng cáo giúp cho thông tin đến khách hàng đầy đủ, từ đó có thể tăng thu nhập cho ngân hàng

Tỷ lệ chi phí hoạt động trên thu nhập hoạt động phản ánh chất lượng quản trị chi phí, nghiên cứu của Công Tâm và Minh Hà (2012) cho rằng ngân hàng nào kiểm soát tốt chi phí hoạt động thì sẽ đạt hiệu quả cao hơn Các nghiên cứu của Sufian và Chong (2008) và Sufian (2011) cũng đã chứng minh cho kết quả này

2.2.2 Nhóm nhân tố khách quan:

Nhóm các nhân tố khách quan là các yếu tố bên ngoài ngân hàng như chính trị, pháp luật, kinh tế, xã hội, công nghệ, tâm lý và thói quen của con người,…

a/ Tăng trưởng kinh tế:

Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 bắt nguồn từ khủng hoảng ngân hàng, đã cho thấy mức nhạy cảm của lợi nhuận các ngân hàng với chu kỳ kinh

tế Khi nền kinh tế tăng trưởng, sản xuất của các doanh nghiệp gia tăng, môi trường đầu tư của ngân hàng được mở rộng, lợi nhuận tăng Ngược lại, khi nền kinh tế suy thoái, sản xuất đình trệ, đầu tư của ngân hàng bị thu hẹp làm cho lợi nhuận giảm Gul và cộng sự (2011) đã chỉ ra rằng 1 quốc gia có nền kinh tế phát triển mạnh

mẽ ở sẽ gia tăng lợi nhuận của ngân hàng ở chính quốc gia đó

Trang 28

Vì vậy, hiểu được mối quan hệ giữa những biến động của chu kỳ kinh tế và hiệu quả hoạt động của ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong việc đánh giá sự lành mạnh và ổn định của hệ thống ngân hàng

b/ Lạm phát:

Lạm phát được định nghĩa là gia tăng trong giá của các sản phẩm hàng hóa và dịch vụ, giá trị của một loại tiền tệ bị mất đi theo thời gian Hay nói cách khác, lạm phát là sự suy giảm giá trị tiền tệ của một quốc gia này so với các loại tiền tệ của các quốc gia khác Khi lạm phát tăng cao, các ngân hàng gặp nhiều khó khăn trong việc huy động vốn Để huy động được nguồn vốn, ngân hàng tăng lãi suất huy động sát với diễn biến lãi suất của thị trường vốn Do lạm phát cao, các giao dịch hàng hóa thường được thanh toán trực tiếp bằng tiền mặt, trong điều kiện lạm phát tiền mặt lại khan hiếm nên các NHTM cũng khó khăn khi phát triển các dịch vụ phi tín dụng, nhất là là dịch vụ thanh toán qua ngân hàng Như vậy, khi lạm phát tăng cao

đã làm cho thị trường vốn bị suy yếu, thậm chí có thể bị phá vỡ, gây ra ảnh hưởng lớn đến hoạt động của các NHTM Theo Perry (1992), lạm phát có tác động tích cực hoặc tiêu cực đến hiệu quả của hoạt động ngân hàng, điều này tùy thuộc vào việc có dự đoán trước được lạm phát

lý khá đầy đủ thì cơ sở pháp lý của Việt Nam còn chưa đầy đủ do thời gian dài là

Trang 29

nền kinh tế kế hoạch tập trung, đây cũng là trở ngại cho sự phát triển của ngành ngân hàng Việt Nam

d/ Các nhân tố vĩ mô khác:

NHTM được xem là trung gian tài chính, là cầu nối giữa nơi có nguồn vốn nhàn rỗi và nơi có nhu cầu về vốn trong nền kinh tế Vì vậy, bất kỳ sự biến đổi nào trong các nhân tố vĩ mô như môi trường kinh doanh, chính trị, xã hội cũng sẽ ảnh hưởng đến hoạt động ngân hàng Khi môi trường kinh doanh, chính trị, xã hội ổn định, các NHTM sẽ có được những điều kiện thuận lợi trong quá trình hoạt động, và khả năng sử dụng vốn và trả nợ vay của các doanh nghiệp được bảo đảm

Khi nền kinh tế phát triển gắn với sự ổn định của các nhân tố vĩ mô, nhu cầu

sử dụng vốn của các doanh nghiệp gia tăng tạo điều kiện cho các NHTM trong việc tăng quy mô tín dụng, giảm các rủi ro nợ xấu do năng lực tài chính của các công ty được nâng cao Tuy nhiên, khi các nhân tố vĩ mô này không ổn định, hoạt động của các NHTM đối mặt với những nhân tố bất lợi như: các doanh nghiệp giảm quy mô sản xuất kinh doanh dẫn đến giảm nhu cầu vay vốn; mất khả năng thanh toán, tăng

tỷ lệ nợ xấu làm giảm lợi nhuận ngân hàng

Việt Nam đang trên đà hội nhập ngày một sâu rộng vào nên kinh tế thế giới, do

đó những biến động trong môi trường vĩ mô của các quốc gia khác trên thế giới, nhất là các đối tác thương mại lớn của Việt Nam cũng có những ảnh hưởng không

hề nhỏ đến hiệu quả hoạt động của các NHTM Việt Nam

2.3 Lược khảo các nghiên cứu trước

Các nghiên cứu nước ngoài

- Nghiêu cứu của Althanasoglou và cộng sự (2005) nghiên cứu sử dụng mô hình GMM với penal data từ năm 1985 đến năm 2001 của các ngân hàng Hi Lạp trong việc trả lời câu hỏi: “Các yếu tố nội tại, yếu tố ngành và các yếu tố vĩ mô tác động đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng như thế nào?” Nghiên cứu cho đưa ra kết quả: các yếu tố nội tại thì vốn chủ sở hữu, hiệu suất lao động có tác động dương và rõ ràng, còn chi phí hoạt động có tác động âm đến hiệu quả hoạt động ngân hàng Yếu tố vĩ mô như lạm phát, chu kỳ kinh doanh có tác động tích

Trang 30

cực tới hiệu quả hoạt động ngân hàng Yếu tố quy mô ngân hàng không cung cấp bằng chứng thực nghiệm tác động tới hiệu quả hoạt động của ngân hàng

- Nghiên cứu của Sufian và Chong (2008) nhằm tìm hiểu và đánh giá, phân tích các nhân tố tác động tới khả năng sinh lời của các ngân hàng Philippin trong suốt giai đoạn 1990-2005 Bài nghiên cứu đã tìm ra các yếu tố có tác động đáng kể đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng Các kết quả thực nghiệm cho thấy rằng quy mô, rủi ro tín dụng, dư nợ cho vay có ảnh hưởng tiêu cực tới hiệu quả hoạt động, trong khi thu nhập ngoài lãi và vốn hóa có tác động tích cực Trong giai đoạn nghiên cứu, kết quả cho thấy: biến lạm phát có tác động ngược chiều đến hiệu quả kinh doanh của ngân hàng, trong khi tác động của tăng trưởng kinh tế, cung tiền

và việc vốn hóa thị trường chứng khoán không giải thích một cách rõ ràng sự biến thiên về hiệu quả hoạt động của các ngân hàng Philippin

- Nghiên cứu của Vong và Chan (2009) sử dụng tỷ suất lợi nhuận trên tài sản ROA để đánh giá hiệu quả trong hoạt động kinh doanh của các ngân hàng tại Macao Nghiên cứu đã sử dụng dữ liệu bảng cùng với phương pháp hồi quy tuyến tính để phân tích, dữ liệu của nghiên cứu được lấy từ báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, bảng cân đối kế toán của các NHTM khoảng thời gian 15 năm kể từ năm 1993 đến 2007 Kết quả, các ngân hàng có quy mô vốn chủ sở có tác động tích cực đến hiệu quả hoạt động Các biến dư nợ tín dụng trên tổng tài sản, rủi ro tín dụng, chi phí thuế trên lợi nhuận và thị phần có tương quan ngược chiều tới hiệu quả hoạt động ngân hàng Còn các biến thuộc nhóm vĩ mô thì chỉ có tỷ lệ lạm phát

là có ảnh hưởng đáng kể đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng

- Nghiêu cứu của Sehrish, Faiza và Khalid (2011) về các yếu tố tác động đến

tỷ suất lợi nhuận của các ngân hàng ở Pakistan Bài nghiên cứu đánh giá tỷ suất lợi nhuận bằng các chỉ tiêu như ROA, ROE, NIM và ROCE Nghiên cứu đã sử dụng dữ liệu bảng cùng với phương pháp hồi quy tuyến tính để phân tích, số liệu được tác giả thu thập từ báo cáo tài chính của 15 ngân hàng trong khoảng thời gian 5 năm

2005 –2009 Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng quy mô ngân hàng (Size), dư nợ cho vay (Loan), huy động vốn (Deposits), tăng trưởng kinh tế (GDP) và lạm phát (INF)

Trang 31

có ảnh hưởng tích cực đến tỷ suất lợi nhuận Ngược lại vốn thị trường (MC) và vốn chủ sở hữu (Capital) lại có tác động tiêu cực đến tỷ suất lợi nhuận của các ngân hàng ở Pakistan và không có ý nghĩa thống kê

- Nghiên cứu của Sufian (2011) với kỹ thuật phân tích hồi quy dữ liệu bảng của 11 ngân hàng tại Hàn Quốc năm 1992 - 2000 nhằm nghiên cứu hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng Hàn Quốc thông qua chỉ tiêu ROA và ROE Kết quả chỉ ra rằng rủi ro tín dụng và chi phí hoạt động có ảnh hưởng tiêu cực đến lợi nhuận của ngân hàng, trong khi đó tính thanh khoản, quy mô tài sản, tỷ lệ vốn chủ

sở hữu trên tổng tài sản, sự tập trung của của hệ thống ngân hàng nội địa, tính đa dạng từ nguồn thu và các khoản thu phí dịch vụ, giá trị vốn hóa trên thị trường chứng khoán có ảnh hưởng cùng chiều với hiệu quả hoạt động kinh doanh ngân hàng Các biến GDP và lạm phát là không xác định được mối quan hệ với hiệu quả hoạt động ngân hàng

- Nghiên cứu của Deger Alper và Adem Anbar (2011) sử dụng kỹ thuật phân tích hồi quy dữ liệu bảng giai đoạn 2002 đến 2010 để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động ngân hàng thương mại tại Thổ Nhĩ Kỳ thông qua các chỉ tiêu ROA và ROE Kết quả bài nghiên cứu cho thấy, tổng tài sản có tác động cùng chiều đến ROA và ROE, tỷ lệ thu nhập ngoài lại trên tổng tài sản có tác động tích cực và có ý nghĩa với ROA nhưng không có ý nghĩa với ROE; tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tài sản và tỷ lệ chi phí dự phòng rủi ro tín dụng trên tổng dư nợ có tác động tiêu cực và có ý nghĩa thống kê với ROA nhưng không có ý nghĩa với ROE Các biến vĩ mô thì lãi suất thực có tác động tích cực đến lợi nhuận ngân hàng còn tăng trưởng kinh tế (GDP) thực tế và tỷ lệ lạm phát không có tác động nhiều đến lợi nhuận ngân hàng

- Nghiên cứu của Husni Ali Khrawish (2011) sử dụng mô hình hồi quy Pooled OLS để nghiên cứu trên dữ liệu bảng để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng tại Jordan từ năm 2000-2010 Các biến được sử dụng như: biến phụ thuộc: ROA, ROE; biến độc lập: tổng tài sản, vốn chủ sở hữu,

dư nợ vay trên tổng tài sản, tăng trưởng GDP và lạm phát Kết quả nghiên cứu: quy

Trang 32

mô vốn chủ sở hữu có sự tương quan cùng chiều với ROA, ROE, tỷ lệ lạm phát và tăng trưởng GDP có sự tương quan ngược chiều với ROA, ROE

- Nghiên cứu của Vincent Okoth Ongore (2013) sử dụng mô hình hồi quy GLS

để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng tại Kenya từ năm 2001-2010 Các biến được sử dụng như: biến phụ thuộc: ROA, ROE, NIM; biến độc lập: Vốn, chất lượng tài sản, khả năng thanh khoản, hiệu quả quản

lý, tăng trưởng kinh tế GDP và lạm phát Kết quả nghiên cứu cho thấy sự đầy đủ về vốn, chất lượng tài sản và hiệu quả quản lý ảnh hưởng đáng kể đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại ở Kenya Tuy nhiên, ảnh hưởng của thanh khoản đối với hoạt động của các ngân hàng thương mại không mạnh Tăng trưởng kinh tế, lạm phát, có mối tương quan tiêu cực tương đối mạnh với tài chính hiệu quả của các ngân hàng thương mại ở Kenya

- Nghiên cứu của Zawadi Ally (2014) sử dụng mô hình hồi quy hiệu ứng cố định (FEM) được sử dụng trên bảng tổng hợp từ 23 ngân hàng từ năm 2009 đến

2013 tại Tanzania Các biến được sử dụng như: biến phụ thuộc: ROA; biến độc lập: Vốn, chất lượng tài sản, khả năng thanh khoản, chi phí quản lý, tăng trưởng kinh tế GDP, lãi suất thưc và lạm phát Kết quả thực nghiệm cho thấy các yếu tố đặc thù của ngân hàng (bị ảnh hưởng bởi quản lý ngân hàng) ảnh hưởng đáng kể đến khả năng sinh lợi của các ngân hàng ở Tanzania Tuy nhiên, các yếu tố kinh tế vĩ mô dường như không ảnh hưởng đáng kể đến khả năng sinh lợi của các ngân hàng

Nghiên cứu trong nước

- Nguyễn Công Tâm và Nguyễn Minh Hà (2012) nghiên cứu hiệu quả hoạt động ngân hàng, sử dụng kỹ thuật phân tích hồi quy dữ liệu bảng với hướng tiếp cận những ảnh hưởng cố định (Fixed Effects) Bài nghiên cứu sử dụng mẫu gồm 28 ngân hàng tại 6 quốc gia thuộc khu vực Đông Nam Á giai đoạn 2005-2011 Nghiên cứu tìm thấy tác động của mức an toàn vốn, chất lượng tài sản, khả năng thanh khoản, chất lượng quản trị chi phí và lãi suất thị trường lên hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng Trong đó, 3 yếu tố chất lượng tài sản, khả năng thanh khoản, chất lượng quản trị chi phí tác động cùng chiều còn 2 yếu tố còn lại lãi suất thị

Trang 33

trường và mức độ an toàn vốn có tác động ngược chiều lên hiệu quả hoạt động của ngân hàng

- Trịnh Quốc Trung và Nguyễn Văn Sang (Tạp chí Công nghệ ngân hàng năm 2013) nghiên cứu dựa vào dữ liệu của 39 NHTM tại Việt Nam giai đoạn 2005 đến

2012 và tác giả sử dụng mô hình Tobit để hồi quy và xác định các yếu tố có tác tác động đến hiệu quả hoạt động ngân hàng thông qua các chỉ tiêu ROA và ROE Kết quả: tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản có tác động cùng chiều đến lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA) nhưng lại ngược chiều với lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE); tổng chi phí hoạt động trên doanh thu có tác động ngược chiều với ROA và ROE; tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tài sản tác động cùng chiều đến lợi nhuận; tỷ lệ

nợ xấu tác động ngược chiều đến hiệu quả hoạt động của của NHTM

- Nghiên cứu của Trần Việt Dũng (Tạp chí ngân hàng tháng 8.2014) sử dụng

dữ liệu bảng với phương pháp ước lượng moment tổng quát dựa trên dữ liệu của 22 ngân hàng giai đoạn 2006 đến 2012 nhằm hệ thống các cơ sở lý luận về các nhân tố tác động đến tỷ suất sinh lời của các NHTM Việt Nam Kết quả nghiên cứu cho thấy, cổ phần hóa có tác động tích cực đến khả năng sinh lời của các ngân hàng và

sự hiện diện của cổ đông ngoại chưa có ảnh hưởng rõ rệt tới hiệu quả hoạt đông của các ngân hàng Bên cạnh đó, các ngân hàng được tìm thấy hiệu quả hơn khi nắm giữ nhiều vốn chủ sở hữu Các biến vĩ mô, nhất là chu kỳ kinh tế có tác động một cách

rõ nét đến hiệu quả hoạt động

- Nguyễn Việt Hùng (2008) sử dụng phương pháp DEA đo lường hiệu quả

thu từ lãi và thu ngoài lãi Kết quả bài nghiên cứu: các biến quy mô tài sản, tỷ lệ vốn chủ

sở hữu trên tổng tài sản, hệ số đòn bẩy tài chính có mối quan hệ tích cực đến hiệu quả nhưng mức độ ảnh hưởng không lớn Các biến tỷ lệ tiền gửi trên dư nợ, tỷ lệ dư

nợ trên tổng tài sản, tỷ lệ dư nợ quá hạn trên tổng dư nợ, tỷ lệ tư bản hiện vật trên tổng tài sản và tỷ lệ thu từ lãi trên thu từ hoạt động có tác động ngược chiều đến hiệu quả hoạt động ngân hàng

Trang 34

Bảng 2.2: Bảng tổng kết các nghiên cứu liên quan

Althanasoglou

và cộng sự (2005)

Sufian và Chong (2008)

Vong và Chan (2009)

Trang 35

Sehrish, Faiza

và Khalid (2011)

Sự tập trung của ngân hàng nội địa

Tính đa dạng từ nguồn thu

Thu nhập dịch vụ

Giá trị vốn hóa trên thị trường chứng

khoán

(-) (-) (+) (+) (+) (+) (+) (+) (+)

Sufian (2011)

ROA

ROE

Quy mô tài sản

Thu nhâp ngoài lãi/Tổng tài sản

(+) (N) (N)

Deger Alper và Adem Anbar (2011)

Trang 36

Husni Ali Khrawis (2011)

Khả năng thanh khoản

Hiệu quả quản lý

GDP

Lạm phát

(+) (-) (N) (+) (-) (-)

Vincent Okoth Ongore (2013)

Zawadi Ally (2014)

Nguyễn Công Tâm và Nguyễn Minh

Hà (2012)

Trang 37

(+) (-)

Trịnh Quốc Trung và Nguyễn Văn Sang (2013)

Nghiên cứu của Trần Việt Dũng (2014) (Với: (+): tác động tích cực; (-): tác động tiêu cực; (N): không có tác động)

Như vậy, ở hầu hết các nghiên cứu trong và ngoài nước sử dụng ROA, ROE, NIM để đo lường hiệu quả hoạt động của các NHTM, và các biến đại diện cho các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt kinh doanh của các NHTM như: quy mô tổng tài sản, nguồn vốn, dư nợ cho vay, tỷ lệ chi phí dự phòng rủi ro trên tổng tài sản, tỷ

lệ nợ xấu, chất lượng quản lý, chi phí hoạt động, thu nhập hoạt động, tỷ lệ lạm phát, tăng trưởng kinh tế, lãi suất Đây là cơ sở cho việc xây dựng mô hình nghiên cứu về hiệu quả hoạt động của các NHTM tại Việt Nam

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

Chương 2 đã trình bày các cơ sở lý thuyết về hiệu quả hoạt động của ngân hàng, các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả hoạt động kinh doanh và các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các NHTMCP

Bên cạnh đó chương này đã tổng kết kết quả của các nghiên cứu thực nghiệm trước đây đối với các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng

ở các quốc gia trên thế giới Trong đó, các nhân tố bên trong thường được sử dụng gồm có quy mô tài sản, vốn chủ sở hữu, dư nợ cho vay, quy mô tiền gửi, và rủi ro tín dụng, đòn bẩy tài chính, thu nhập và chi phí hoạt động Các nhân tố bên ngoài tác động đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các ngân hàng bao gồm: tỷ lệ lạm phát và tốc độ tăng trưởng kinh tế, lãi suất

Trang 38

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Giả thuyết nghiên cứu

3.1.1 Quy mô tổng tài sản

Thông thường quy mô của ngân hàng thường tỷ lệ thuận với hiệu quả hoạt động ngân hàng Emery (1971) tìm thấy các ngân hàng lớn sẽ thu về nhiều lợi suất hơn bởi vì ngân hàng có quy mô lớn sẽ có lợi thế huy động vốn với giá rẻ hơn, do

đó giảm được chi phí trong hoạt động kinh doanh Stiroh và Rumble (2006) cho rằng mối quan hệ trên là nghịch biến bởi vì quy mô càng lớn thì càng khó khăn về quản lý, cụ thể là ngân hàng phải đương đầu với khó khăn, nhất là khi quy mô tăng chỉ để chạy theo một chiến lược tăng trưởng theo chiều ngang thì sẽ tăng thêm chi phí mà không đem lại hiệu quả Ngoài ra chi phí đại diện, chi phí cho các thủ tục hành chính và chi phí khác cũng tăng lên nhiều Bên cạnh đó Athanasoglou cùng nhóm nghiên cứu (2006) đã chỉ ra rằng tác động của quy mô ngân hàng tác động đến hiệu quả hoạt động ngân hàng là không đáng kể Nhóm tác giả này giải thích rằng các ngân hàng nhỏ thường tập trung phát triển nhanh hơn, thay vì cải thiện hiệu quả hoạt động các ngân hàng mới thành lập thường đưa ra những chính sách nhằm tăng cường hiệu quả hoạt động bằng việc đặt mục tiêu chính là tăng quy mô,

mở rộng thị phần, nên sau vài năm thành lập các ngân hàng này không có lãi Từ những nghiên cứu trên và tình hình thực tế ở Việt Nam, tác giả đưa ra giả thuyết:

Giả thuyết H 1 : Quy mô ngân hàng thương mại càng lớn thì hiệu quả hoạt động ngân hàng càng cao

3.1.2 Tỷ lệ giữa tổng dư nợ cho vay và tổng tài sản

Lợi nhuận của ngân hàng phần lớn từ hoạt động tín dụng Hoạt động này đóng góp rất lớn vào thu nhập của ngân hàng, thể hiện qua chỉ tiêu thu nhập lãi Dư nợ tín dụng càng lớn mang lại thu nhập từ lãi của ngân hàng thương mại càng cao dẫn đến

tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA) càng cao Vì vậy, biến này phần nào phản ánh năng lực của các nhà quản lý trong quản trị ngân hàng

Trang 39

Nghiên cứu của Alpher và Anbar (2011), Nguyễn Việt Hùng (2008) chỉ ra yếu

tố này và ROA có mối quan hệ ngược chiều Ngược lại, nghiên cứu của Sufian (2011), chỉ ra quan hệ này là cùng chiều

Giả thuyết H 2 : Tỷ lệ giữa tổng dư nợ cho vay và tổng tài sản càng lớn hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng càng cao

3.1.3 Tỷ lệ giữa vốn chủ sở hữu và tổng tài sản

Các bằng chứng thực nghiệm cho thấy có nhiều tác giả nghiên cứu tỷ lệ giữa

vốn chủ sở hữu và tổng tài sản có ảnh hưởng thế nào đến khả năng sinh lời của ngân hàng trong hoạt động kinh doanh Vong và Chan (2009) khi nghiên cứu các ngân hàng ở thị trường Macao trong giai đoạn 1993-2007 đã tìm thấy ảnh hưởng của tỷ lệ này đến lợi nhuận ngân hàng Nghiên cứu của Nguyễn Việt Hùng (2008), Sufian (2011), Gul và cộng sự chỉ ra rằng quy mô vốn chủ sở hữu có tương quan tích cực đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng Hai chỉ tiêu này được lấy từ bảng cân đối kế toán hàng năm của các ngân hàng.Tỷ lê vốn chủ sở hữu được đo lường bằng

và sự an toàn, lành mạnh về tài

ngân hàng sử dụng đ n u

thể làm cho lợi nhuận của ngân hàng giảm khi chi phí vốn vay cao

Giả thuyết H 3 : Tỷ lệ giữa vốn chủ sở hữu và tổng tài sản càng lớn thì hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng càng cao

3.1.4 Tỷ lệ giữa chi phí dự phòng rủi ro và tổng dư nợ cho vay

Rủi ro tín dụng là một trong những rủi ro quan trọng trong hoạt động ngân hàng, là tổn thất có khả năng xảy ra đối với nợ của tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết Tỉ lệ giữa số tiền trích lập dự phòng rủi ro tín dụng trên tổng

dư nợ được sử dụng để đo lường rủi ro tín dụng Chỉ số này càng cao cho thấy chất lượng các khoản tín dụng của ngân hàng đang tiêu cực và khả năng thu hồi nợ thấp

Dự phòng rủi ro tín dụng được trích lập và hạch toán vào chi phí hoạt động để dự phòng cho những tổn thất có thể xảy ra đối với các khoản tín dụng (nợ) của ngân

Trang 40

hàng Để cải thiện lợi nhuận, ngân hàng cần cải thiện việc kiểm tra, giám sát rủi ro tín dụng

Nghiên cứu của Nguyễn Việt Hùng (2008) cũng chỉ ra rằng tỷ lệ giữa nợ xấu

và tổng dư nợ có ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các ngân hàng Nghiên cứu của Sufian và Chong (2008) cho thấy tỉ lệ giữa chi phí dự phòng rủi ro và tổng dư nợ càng cao thì ngân hàng thu được lợi nhuận càng thấp

Giả thuyết H 4 : Tỷ lệ giữa chi phí dự phòng rủi ro và tổng dư nợ càng cao thì hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng càng thấp

3.1.5 Tỷ lệ giữa thu nhập ngoài lãi và tổng tài sản

Ngoài nguồn thu nhập chính từ lãi, các hoạt động kinh doanh khác cũng đem lại thu nhập cho các NHTM như thanh toán, dịch vụ thẻ, tài trợ thương mại, kinh doanh ngoại hối, chứng khoán… Theo lý thuyết quản lý danh mục đầu tư, việc đa dạng các danh mục đầu tư giúp ngân hàng giảm thiểu được rủi ro thị trường để đạt được lợi nhuận kỳ vọng

Nghiên cứu của Sufian (2011), Alper và Anbar (2011) cho thấy thu nhập ngoài lãi có tương quan cùng chiều với hiệu quả hoạt động ngân hàng

Giả thuyết H 5 : Tỷ lệ giữa thu nhập ngoài lãi và tổng tài sản càng cao thì hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng càng cao

3.1.6 Tỷ lệ giữa chi phí và thu nhập hoạt động

Trong đó, chi phí hoạt động, thu nhập hoạt động lấy từ bảng kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng Chỉ tiêu này cho biết một đồng thu nhập được tạo ra thì cần bỏ ra bao nhiêu đồng chi phí (ở đây là chi phí hoạt động) Chỉ tiêu này phản ánh khả năng bù đắp của thu nhập cho chi phí trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng Chi tiêu này cũng phản ánh chất lượng quản trị chi phí Việc quản trị chi phí của một ngân hàng có ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng đó

Nghiên cứu của Công Tâm và Minh Hà (2012) cho rằng ngân hàng nào kiểm soát tốt chi phí hoạt động thì sẽ đạt hiệu quả cao hơn, nghiên cứu của Nguyễn Việt Hùng (2008) chỉ ra rằng tỷ lệ giữa chi phí và thu nhập hoạt động có tương quan tiêu cực với hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng

Ngày đăng: 24/05/2018, 00:02

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm