1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tác động của phong cách lãnh đạo và sự không rõ ràng trong công việc đến kết quả công việc thông qua sự tham gia vào dự toán ngân sách bằng chứng thực nghiệm tại việt nam

114 590 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 114
Dung lượng 1,5 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

HCM NGUYỄN THỊ THANH ĐỊNH TÁC ĐỘNG CỦA PHONG CÁCH LÃNH ĐẠO, SỰ KHÔNG RÕ RÀNG TRONG CÔNG VIỆC ĐẾN KẾT QUẢ CÔNG VIỆC THÔNG QUA SỰ THAM GIA VÀO DỰ TOÁN NGÂN SÁCH: BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HCM

NGUYỄN THỊ THANH ĐỊNH

TÁC ĐỘNG CỦA PHONG CÁCH LÃNH ĐẠO, SỰ KHÔNG RÕ RÀNG

TRONG CÔNG VIỆC ĐẾN KẾT QUẢ CÔNG VIỆC

THÔNG QUA SỰ THAM GIA VÀO DỰ TOÁN NGÂN SÁCH:

BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM TẠI VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP Hồ Chí Minh – Năm 2018

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HCM

NGUYỄN THỊ THANH ĐỊNH

TÁC ĐỘNG CỦA PHONG CÁCH LÃNH ĐẠO, SỰ KHÔNG RÕ RÀNG

TRONG CÔNG VIỆC ĐẾN KẾT QUẢ CÔNG VIỆC

THÔNG QUA SỰ THAM GIA VÀO DỰ TOÁN NGÂN SÁCH:

BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM TẠI VIỆT NAM

Chuyên ngành : Kế toán

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS NGUYỄN PHONG NGUYÊN

TP Hồ Chí Minh – Năm 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Trong quá trình thực hiện luận văn với đề tài “Tác động của phong cách

lãnh đạo và sự không rõ ràng trong công việc đến kết quả công việc thông qua

sự tham gia vào dự toán ngân sách: Bằng chứng thực nghiệm tại Việt Nam”,

tôi đã vận dụng kiến thức học tập của mình và với sự trao đổi, hướng dẫn, góp ý của giáo viên hướng dẫn để thực hiện đề tài luận văn thạc sĩ này

Tôi xin cam đoan rằng đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu kết quả nêu trong Luận án là trung thực, có nguồn gốc và trích dẫn rõ ràng Các kết quả của luận văn chưa từng được công bố ở bất cứ công trình nghiên cứu nào

Luận văn được thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS Nguyễn Phong Nguyên

TP Hồ Chí Minh, ngày 27 tháng 12 năm 2017

Nguyễn Thị Thanh Định

Trang 4

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết và lý do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 3

3 Câu hỏi nghiên cứu 4

4 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu 4

5 Tóm tắt phương pháp nghiên cứu 5

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 5

7 Kết cấu luận văn 6

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 7

1.1 Các nghiên cứu nước ngoài 7

1.2 Các nghiên cứu trong nước 9

CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 12

2.1 Khái niệm 12

2.1.1 Dự toán ngân sách 12

2.1.2.Các mô hình dự toán ngân sách 13

2.1.3 Sự tham gia dự toán ngân sách 15

2.1.4 Phong cách lãnh đạo 15

2.1.5 Sự không rõ ràng trong công việc 17

2.2 Lý thuyết nền 18

2.2.1 Lý thuyết phong cách lãnh đạo (leadership theory) 18

2.2.2 Lý thuyết đại diện (agent theory) 21

2.2.3 Lý thuyết tâm lý (psychological theory) 23

2.2.4 Lý thuyết công bằng trong tổ chức (organizational justice theory) 25

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29

Trang 5

3.1 Phương pháp nghiên cứu 29

3.2 Thiết kế nghiên cứu 30

3.2.1 Xây dựng giả thiết 30

3.2.1.1 Mối quan hệ giữa phong cách lãnh đạo và tham gia dự toán ngân sách 30 3.2.1.2 Mối quan hệ giữa sự không rõ ràng trong công việc và tham gia dự toán ngân sách 32

3.2.1.3 Mối quan hệ giữa tham gia dự toán ngân sách và kết quả công việc 34

3.2.2 Mô hình nghiên cứu 36

3.2.3 Xây dựng thang đo 36

3.2.3.1 Qúa trình xây dựng thang đo 36

3.2.3.2 Thang đo phong cách lãnh đạo 37

3.2.3.3 Thang đo sự không rõ ràng trong công việc 38

3.2.3.4 Thang đo sự tham gia vào dự toán ngân sách 38

3.2.3.5 Thang đo kết quả công việc 39

3.3 Thiết kế mẫu nghiên cứu 40

3.4 Mẫu và phương pháp chọn mẫu 40

3.5 Mẫu và phương pháp chọn mẫu 41

3.6 Kỹ thuật sử dụng trong phân tích dữ liệu 41

CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 43

4.1 Thống kê mô tả 43

4.2 Đo lường thang đo và độ tin cậy 46

4.3 Kết quả kiểm định các giả thuyết 53

4.4 Thảo luận kết quả nghiên cứu 56

4.4.1 So sánh kết quả nghiên cứu với đề tài trong nước 56

4.4.2 So sánh kết quả nghiên cứu với đề tài nước ngoài 56

Trang 6

CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý NGHIÊN CỨU 58

5.1 Những nội dung chính của nghiên cứu 58

5.2 Kết luận nghiên cứu 58

5.3 Hàm ý lý thuyết 58

5.4 Hàm ý quản lý 60

5.5 Hạn chế đề tài 61

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 7

DANH MỤC BẢNG BIỂU VÀ HÌNH

Trang

Trang 8

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết và lý do chọn đề tài

Ngày nay, Việt Nam đã trở thành thành viên các hiệp hội kinh tế trong khu vực và toàn cầu như ASEAN, WTO, TPP và đánh dấu bước ngoặt quan trọng khi Việt Nam trở thành chủ nhà đăng cai APEC 2017 Với sự hội nhập vào dòng chảy quốc tế, nền kinh tế Việt Nam ngày càng có nhiều cơ hội và thách thức, để mỗi doanh nghiệp có thể đứng vững trên thị trường cạnh tranh gay gắt đòi hỏi họ phải

trước thị trường rộng lớn và sẽ không vượt qua được những rủi ro thách thức có thể xảy ra nếu không có một kế hoạch dự toán ngân sách hợp lý Dự toán ngân sách là một nội dung cơ bản của kế toán quản trị và là công cụ hữu hiệu đang được các doanh nghiệp áp dụng để kiểm soát ngân sách, theo dõi kế hoạch nhằm tăng lợi nhuận tối ưu

Xây dựng dự toán ngân sách là một công việc quan trọng trong việc lập kế hoạch đối với hoạt động kinh tế bao gồm cả doanh nghiệp, cơ quan nhà nước và cả

cá nhân Đây là một công cụ quản lý của doanh nghiệp, giúp đơn vị xác định các mục tiêu, các chiến lược, xác định thị trường, khách hàng, đối thủ cạnh tranh từ đó

cũng như có thể tìm ra giải pháp để giải quyết hoặc ngăn ngừa trước khi xảy ra Ngoài ra, xây dựng dự toán ngân sách cũng là một công cụ có vai trò quan trọng trong việc phối hợp nỗ lực của các thành viên trong doanh nghiệp để đạt mục tiêu chung của tổ chức Vì vậy, doanh nghiệp cần phải khuyến khích sự tham gia ngân sách của nhân viên để đạt được dự toán ngân sách hoàn hảo

Tham gia dự toán ngân sách là cơ hội để trao đổi thông tin hai chiều giữa cấp trên và cấp dưới Các cấp dưới nắm rõ nhiều khía cạnh công việc của họ hơn bất cứ

ai khác, và khi được tham gia vào dự toán ngân sách, họ sẽ chia sẻ kiến thức, hỗ trợ cho việc đưa ra quyết định của cấp trên và xây dựng dự toán ngân sách hữu hiệu

Trang 9

Ngoài ra, sự tham gia vào dự toán ngân sách có thể cho phép các cấp dưới thu thập nhiều thông tin liên quan đến thực hiện công việc của họ (Earley và Kanfer 1985, Campbell và Gingrich 1986, Marginson và Ogden 2005) Trong quá trình tương tác với cấp trên, các cấp dưới có thể đặt câu hỏi để làm rõ mục tiêu, cách thức làm việc, điều kiện trong môi trường làm việc và các yếu tố khác liên quan đến công việc Trong hoạt động hằng ngày, các thông tin bất cân xứng thường xuyên diễn ra Thông qua việc trao đổi thông tin giữa các bộ phận chức năng trong doanh nghiệp, chất lượng thông tin được nâng cao, doanh nghiệp sẽ có cùng một nguồn dữ liệu, từ

đó tránh được vấn đề thông tin không nhất quán khi xử lý công việc Parker (2006) Trong quá trình hình thành và phát triển công ty, phong cách lãnh đạo có khả năng chi phối tất cả hoạt động trong hiện hữu, hoạt động xây dựng dự toán ngân sách không ngoại lệ Cho dù, mô hình dự toán ngân sách của công ty là bất kỳ hình thức nào thì dự toán ngân sách luôn là quá trình đòi hỏi sự phối hợp hài hòa giữa nhân viên và cấp trên Thông qua công việc này, nhà quản trị sẽ có cơ hội thể hiện

rõ nét phong cách lãnh đạo của mình Tùy vào từng hành vi của cấp trên sẽ có ảnh hưởng rất lợi đến khả năng tham gia vào dự toán ngân sách của nhân viên

Để có thể đề xuất một ngân sách hoạt động phù hợp nhất, đòi hỏi mọi đối tượng tham gia cần được cung cấp đầy đủ thông tin trong phạm vi công việc của họ Khi các chính sách, quy trình, thông tin được tiếp cận rõ ràng, nhân viên thường tự tin và dễ dàng tham gia mọi hoạt động công ty, đóng góp vào sự phát triển của doanh nghiệp Và ngược lại, sự không rõ ràng khiến cho nhân viên lo lắng, bất an kéo dài ảnh hưởng kém đến chất lượng công việc và kết quả công việc của nhân viên

Phong cách lãnh đạo và sự hiểu biết rõ ràng trong công việc là những yếu tố quan trọng giúp nhân viên tìm thấy động lực làm việc từ đó chủ động tham gia dự toán Đã có nhiều tài liệu nghiên cứu cho rằng phong cách lãnh đạo như là tiền đề của

sự tham gia dự toán (Kyj và Parker 2008, Kohlmeyer III, Mahenthiran và cộng sự, 2014) Các nghiên cứu trên thế giới như nghiên cứu của Chenhall và Brownell

Trang 10

(1988), Marginson và Ogden (2005) đã thể hiện mối quan hệ của sự không rõ ràng trong công việc đến sự tham gia dự toán Tuy nhiên, tại Việt Nam các đề tài chủ yếu

là nghiên cứu thực tiễn liên quan đến việc xây dựng hoặc hoàn thiện hệ thống dự toán ngân sách tại một công ty cụ thể như Lê Thu Hằng (2016), Phạm Thị Phương Anh (2014), Nguyễn Thị Minh Đức (2010) Các tác giả này đều nêu lên tình hình thực tế tại Việt Nam là nhiều doanh nghiệp chỉ tập trung vào kế hoạch mà không lập

dự toán ngân sách, từ đó các nghiên cứu đưa ra những biện pháp giúp khắc phục thực trạng

Vì vai trò quan trọng của dự toán ngân sách trong sự phát triển của doanh nghiệp nên hầu hết các công ty lớn tại Việt Nam đều có lập dự toán ngân sách ít nhất trong gian ngắn hạn 1 năm Tuy nhiên các công ty chưa chú trọng đến các yếu

tố nào sẽ ảnh hưởng đến sự tham gia dự toán ngân sách tại đơn vị mình Từ việc nhận thức sự cần thiết của dự toán ngân sách và xem xét những yếu tố nào sẽ tác động đến sự tham gia dự toán ngân sách của công ty trong bối cảnh hiện nay, tác giả

đã chọn đề tài “Tác động của phong cách lãnh đạo, sự không rõ ràng trong công

việc đến kết quả công việc thông qua sự tham gia vào dự toán ngân sách: bằng chứng thực nghiệm tại Việt Nam” nhằm giúp nhà quản trị, lãnh đạo công ty thay

đổi phong cách quản lý, văn hóa, chính sách công ty giúp nhân viên có nhiều động lực tham gia dự toán ngân sách đem lại một kết quả công việc tốt nhất cho nhân viên và tổ chức

2 Mục tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu của đề tài nhằm cung cấp những bằng chứng thực nghiệm liên quan đến việc nâng cao kết quả công việc của nhân viên thông qua việc tham gia

dự toán ngân sách Vì vậy, mục tiêu của nghiên cứu là xây dựng và kiểm định mô hình nghiên cứu nhằm giải thích tác động của phong cách lãnh đạo, sự không rõ ràng trong công việc đến sự tham gia dự toán ngân sách của nhân viên và mối quan hệ giữa sự tham gia dự toán ngân sách đến kết quả công việc Các mục tiêu

cụ thể như sau:

Trang 11

 Đo lường mức độ ảnh hưởng của phong cách lãnh đạo đến sự tham gia dự toán ngân sách tại môi trường Việt Nam

 Đo lường mức độ ảnh hưởng của sự không rõ ràng trong công việc đến sự tham gia dự toán ngân sách tại môi trường Việt Nam

 Đo lường ảnh hưởng của sự tham gia dự toán ngân sách đến kết quả công việc tại môi trường Việt Nam

3 Câu hỏi nghiên cứu

Để lấp đầy khe hổng nghiên cứu trên, tác giả đã đặt ba câu hỏi sau:

 Thứ nhất, mức độ ảnh hưởng của phong cách lãnh đạo đến sự tham gia dự toán ngân sách tại môi trường Việt Nam như thế nào?

 Thứ hai, mức độ ảnh hưởng của sự không rõ ràng trong công việc đến sự tham gia dự toán ngân sách tại môi trường Việt Nam như thế nào?

 Thứ ba, mức độ ảnh hưởng của sự tham gia dự toán ngân sách đến kết quả công việc tại môi trường Việt Nam như thế nào?

4 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu

- Phạm vi nghiên cứu :

Nghiên cứu được thực hiện từ các nhà quản lý đang làm việc trong các doanh nghiệp tại Việt Nam

- Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là phong cách lãnh đạo, sự không rõ ràng trong công việc, sự tham gia lập dự toán ngân sách và kết quả công việc của nhân viên

- Đối tượng khảo sát

Đối tượng khảo sát của đề tài là các nhà quản lý cấp trung và cấp cơ sở những người đã có kinh nghiệm trong tham gia lập dự toán ngân sách trong các đơn vị đang hoạt động tại Việt Nam

Trang 12

5 Tóm tắt phương pháp nghiên cứu

Đề tài chủ yếu sử dụng phương pháp định lượng và đi theo trường phái nghiên cứu thực chứng Đề tài dựa vào một số nghiên cứu trước và các lý thuyết nền như lý thuyết lãnh đạo, lý thuyết đại diện, lý thuyết tâm lý, lý thuyết công bằng trong tổ chức để biện luận mô hình và giải thích mối quan hệ giữa các biến

Thang đo được sử dụng trong đề tài là từ sự kế thừa các tác giả (Nouri và Parker 1998, Kyj và Parker (2008), Lau và Roopnarain 2014) Nghiên cứu chính thức được thực hiện để thu thập dữ liệu bằng cách gửi email và quản lý kết quả thu thập bằng phần mềm Surveymonkey Đối tượng gửi bảng khảo sát chủ yếu là các cấp quản lý từ cơ sở và cấp trung như trưởng nhóm, trưởng/phó bộ phận, trưởng/phó phòng đang làm việc tại Việt Nam và đã có kinh nghiệm trong lập dự toán ngân sách Để đánh giá thang đo, mức độ phù hợp của mô hình nghiên cứu với dữ liệu được thu thập cũng như kiểm định các giả thuyết trong mô hình nghiên cứu, tác giả sử dụng công cụ Smart PLS3

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Theo sự hiểu biết của tác giả, đây là nghiên cứu đầu tiên xem xét mối quan hệ các yếu tố tác động đến sự tham gia dự toán và tác động của sự tham gia đến kết quả công việc tại môi trường Việt Nam

Nghiên cứu này đưa ra những bằng chứng thực nghiệm ủng hộ lý thuyết lãnh đạo (leadership theory), lý thuyết đại diện (agent theory), lý thuyết tâm lý (psychological theory) và lý thuyết công bằng trong tổ chức (organizational justice theory) với bối cảnh thực hiện dự toán ngân sách tại Việt Nam

Đề tài sẽ giúp cho nhà quản lý có những điều chỉnh hành vi lãnh đạo phù hợp cũng như tạo văn hóa công ty thân thiện, gắn kết để mọi cá nhân có thể dễ dàng đưa

ra ý kiến, chủ động tham gia dự toán từ đó làm tăng kết quả công việc của cá nhân

và của tổ chức Nghiên cứu của tác giả cũng giúp công ty đánh giá, xây lại những chính sách rõ ràng liên quan đến trách nhiệm thực hiện công việc, sự công nhận năng lực, hình thức khen thưởng phù hợp sẽ giúp nhân viên có động lực làm việc,

Trang 13

làm tăng sự tham gia trong quy trình xây dựng dự toán Khi đó nhân viên sẽ nắm bắt rõ ràng mục tiêu cần đạt được, thúc đẩy họ tự do sáng tạo, vượt qua khả năng giới hạn của bản thân để hoàn thành tốt công việc, và cũng như lan truyền lòng nhiệt huyết đến những nhân viên khác giúp công ty có kết quả hoạt động tốt nhất

7 Kết cấu luận văn

Đề tài dự kiến có cấu trúc như sau:

Phần mở đầu : Trình bày tổng quan đề tài nghiên cứu gồm tính cấp thiết và lý

do chọn đề tài; câu hỏi và mục tiêu nghiên cứu;ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề

tài; tóm tắt đề tài

Chương 1: Tổng quan nghiên cứu trình bày các nghiên cứu trong và ngoài

nước liên quan đến đề tài

Chương 2: Trình bày các khái niệm chính được sử dụng trong đề tài, cơ sở lý

thuyết có liên quan đến đề tài

Chương 3: Trình bày về phương pháp nghiên cứu gồm phương pháp nghiên

cứu, thiết kế nghiên cứu, xây dựng thang đo và thiết kế mẫu

Chương 4: Trình bày kết quả nghiên cứu và bàn luận gồm thống kê mô tả, đo

lường thang đo và độ tin cậy, kết quả kiểm định các giả thiết và thảo luận kết quả nghiên cứu này so với các đề tài trong và ngoài nước

Chương 5: Kết luận và hàm ý nghiên cứu Chương này sẽ trình bày các kết

luận của nghiên cứu, những hàm ý lý thuyết, quản lý và những hạn chế đề tài giúp định hướng cho những nghiên cứu tiếp theo

Trang 14

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1.1 Các nghiên cứu nước ngoài

Bởi vì tầm quan trọng của sự tham gia dự toán ngân sách, nhà quản lý cần tìm hiểu những yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia dự toán ngân sách để từ đó giúp họ khuyến khích nhân viên và cũng như đánh giá làm thế nào sự tham gia dự toán ngân sách ảnh hưởng đến kết quả công việc Có nhiều nghiên cứu đã đề cập đến các nhân

tố tác động đến sự tham gia dự toán ngân sách Các tác giả Kyj và Parker (2008) cho rằng phong cách lãnh đạo, thông tin bất cân xứng, đánh giá kết quả sử dụng hoàn thành ngân sách có tác động đến sự tham gia dự toán ngân sách thông qua các

cơ chế khuyến khích sự tham gia của nhân viên vào quy trình dự toán ngân sách Phong cách lãnh đạo là một nhân tố có thể ảnh hưởng đến mức độ mà cấp trên khuyến khích sự tham gia của cấp dưới trong quá trình lập ngân sách Người quản

lý với sự quan tâm cao, tôn trọng các cấp dưới và cố gắng phát triển mối quan hệ với cấp dưới dựa trên niềm tin và giao tiếp cởi mở (Fleishman và Harris, 1962; Fleishman và Peters, 1962; Fleishman, 1973; Fleishman, 1998b) Những nhà quản

lý như vậy có khả năng khuyến khích các cấp dưới tham gia trong quá trình lập ngân sách

Theo Shields và Shields (1998), sự bất cân xứng thông tin giữa cấp dưới và cấp trên càng lớn thì khả năng các tổ chức sẽ thúc đẩy sự tham gia của ngân sách để truy cập thông tin cá nhân của cấp dưới Hai tác giả này đã tìm thấy một sự tương quan thuận chiều đáng kể giữa thông tin bất cân xứng và sự tham gia dự toán ngân sách Nếu tồn tại thông tin mất cân xứng giữa các cấp, thông qua sự chia sẻ thông tin, học hỏi lẫn nhau trong quá trình tham gia dự toán ngân sách, các bộ phận có thể hiểu nhau rõ hơn, vấn đề được làm rõ ràng và nguồn thông tin được nhất quán Các cấp dưới đặc biệt quan tâm đến tính công bằng của việc đánh giá hiệu suất công việc Bất cứ khi nào mục tiêu ngân sách được sử dụng để đánh giá thành tích của nhân viên, cấp trên nên khuyến khích sự tham gia của cấp dưới Thông qua việc đóng góp tiếng nói của bản thân trong quá trình xây dựng dự toán ngân sách, nhân

Trang 15

viên có thể đảm bảo sự công bằng trong quá trình đánh giá kết quả công việc.Tương

tự, trong một nghiên cứu khác của Lindquist (1995) cho thấy doanh nghiệp cần phải duy trì công bằng như là một tiền đề cho việc lập ngân sách Tính công bằng gồm sự hợp lý trong phân phối (sự hợp lý về tiêu chuẩn), sự hợp lý trong quy trình (hợp lý quy trình để phát triển các tiêu chuẩn) là những yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia dự toán ngân sách Tác giả này cho rằng khi các nhân viên nhận thức được rằng cách thức phân bổ ngân sách là rõ ràng, công bằng giữa các bộ phận, và phù hợp với nhu cầu, năng lực của nhân viên, họ sẽ chủ động tham gia vào quá trình lập dự toán (Wentzel 2002) đã kết luận có sự tham gia có thể được sử dụng để đưa sự công bằng vào các quy trình ngân sách

Trong đề tài của mình, Marginson và Ogden (2005) đã đưa ra các giả thiết như các yếu sự không rõ ràng trong công việc tác động dương đến cam kết thực hiện ngân sách và tác động âm đến kết quả công việc Thông qua thu thập câu trả lời từ

221 của ba cấp quản lý (cấp cao, câp trung và cấp cơ sở) trong doanh nghiệp trên

270 phiếu gửi, tác giả đã sử dụng chi bình phương để xem xét mối quan hệ giữa các biến Kết quả cho thấy những người có mức độ mơ hồ cao có nhiều khả năng cam kết để đáp ứng ngân sách cao hơn những người có cam kết thấp Bên cạnh đó, tác giả cũng nói lên thực trạng tại một số công ty, dự toán ngân sách thường được áp đặt từ trên xuống, các cấp quản lý không có cơ hội đề xuất hoặc phản hồi về dự toán được giao Vì vậy, tác giả cũng cho rằng để tăng khả năng cam kết thực hiện ngân sách của nhân viên, cần bổ sung thêm các yếu tố giải trình, khen thương, sự tham gia vào dự tóan ngân sách trong các nghiên cứu tiếp theo

Nouri và Parker (1998) đã nghiên cứu sâu mối quan hệ giữa sự tham gia dự toán ngân sách ảnh hưởng đến kết quả công việc thông qua ngân sách đầy đủ (budget adequacy) và tính cam kết thực hiện ngân sách Đề tài thu thập bằng cách gửi bảng khảo sát đến cấp quản lý tại một công ty đa quốc gia có trụ sở chính tại

Mỹ trong lĩnh vực sản xuất hóa học thông qua hệ thống email nội bộ Kết quả thu thập được 135 phản hồi là phù hợp (66.5% tổng khảo sát được gửi) đại diện tổng thể Sau khi phân tích hệ số tương quan, t test tác giả khẳng định mối quan hệ giữa

Trang 16

sự tham gia vào dự toán ngân sách và kết quả công việc là phức tạp và các giả thiết ban đầu được ủng hộ Bên cạnh những hạn chế của đề tài như chỉ thu thập tại một công ty, tác giả cũng đề xuất rằng tham gia dự toán ngân sách sẽ hỗ trợ ngân sách đầy đủ để cấp dưới có thể hoàn thành tốt phạm vi công việc và vì vậy làm tăng kết quả công việc của nhân viên Sự tham gia ngân sách cũng làm tăng tính cam kết tổ chức điều này cũng sẽ làm tăng kết quả công việc cao hơn

Trong lĩnh vực khách sạn Winata và Mia (2005) cho rằng giao tiếp sử dụng công nghệ thông tin tác động đến quá trình tham gia dự toán Trong nghiên cứu, ông

đã tổng hợp các đề tài trước cho thấy rằng việc giao tiếp sử dụng công nghệ của quản lý có thể làm tăng khối lượng, tốc độ, hiệu quả và năng lực xử lý dữ liệu của nhà quản lý Ngoài ra, nó cũng giúp trong việc cải thiện trao đổi thông tin, giao tiếp

và thảo luận cá nhân hoặc nhóm giữa các chức năng, vị trí địa lý và múi giờ khác nhau, vì vậy quá trình tham gia dự toán ngân sách sẽ thuận lợi mang lại hiệu quả cao

Từ những bài nghiên cứu trước Wong-On-Wing, Guo và cộng sự, (2010) đã kết luận rằng cam kết tổ chức, sự thay đổi môi trường và động lực có ảnh hướng đến sự tham gia dự toán ngân sách Các cá nhân có cam kết tổ chức cao sẽ có tình cảm gắn kết với tổ chức do đó họ sẽ có thêm động lực để tham gia Khi môi trường thay đổi, hoặc không chắc chắn sẽ tạo áp lực khuyến khích nhiều người tham gia để

có thể thu thập được nhiều ý kiến, thông tin tốt hơn và đối phó những sự kiện không

dự đoán được trong tương lai Khi nhân viên có động lực cao hơn họ sẽ chủ động tham gia vào ngân sách, cải thiện chất lượng dự toán ngân sách của toàn công ty

1.2 Các nghiên cứu trong nước

Các nghiên cứu Việt Nam liên quan đến xây dựng dự toán ngân sách thường là những đề tài nghiên cứu thực tiễn liên quan đến việc xây dựng hoặc hoàn thiện hệ thống dự toán ngân sách tại một công ty cụ thể

Lê Thu Hằng (2016) đã nêu thực trạng và xây dựng mô hình dự toán ngân sách, quy trình dự toán ngân sách và hệ thống báo cáo dự toán ngân sách tại công ty

cổ phần Thủy sản và xuất nhập khẩu Côn Đảo Tác giả chọn mô hình dự toán ngân

Trang 17

sách là mô hình thông tin từ dưới đi lên để phù hợp với điều kiện tại công ty Trong

đề tài Lê Thu Hằng (2016) cũng đề xuất 3 giai đoạn trong quy trình lập dự toán ngân sách gồm chuẩn bị dự toán, soạn thảo dự toán và theo dõi dự toán ngân sách

Từ những đánh giá thực trạng, tác giả cũng đề xuất những giải pháp nhằm hỗ trợ xây dựng và thực hiện dự toán tại công ty như xây dựng hệ thống chi phí theo mô hình ứng xử , xây dựng hệ thống kỹ thuật phân tích dự báo thông tin thị trường… Phạm Thị Phương Anh (2014) về phương pháp thực hiện đề tài nghiên cứu giống tác giả Lê Thu Hằng (2016) tác giả đánh giá tình hình thực tiễn và đề xuất hoàn thiện công tác dự toán ngân sách tại công ty cổ phần gốm Việt Thành Hoàn thiện sẽ bao gồm cả mô hình và quy trình dự toán để dự toán ngân sách được lập một cách có logic và thống nhất tại công ty Tác giả cũng đề xuất một số quy trình

dự toán cần cải thiện như dự toán bán hàng, dự toán sản suất, dự toán chi phí… Trần Thị Hiền, 2016 tác giả đề xuất để lập dự toán ngân sách hiệu quả, công ty

áp dụng mô hình thông tin phản hồi, có sự phân công phân nhiệm cụ thể cho từng thành viên, chú trọng đến việc theo dõi và điều chỉnh dự toán ngân sách theo từng quý để giúp cấp trên đưa ra quyết định kịp thời, phù hợp với tình hình của công ty Bên lĩnh vực quản trị kinh doanh cũng đã có những nghiên cứu liên quan đến phong cách lãnh đạo như Nguyễn Thị Cẩm Thúy (2011) Tác giả đã chỉ ra ảnh hưởng của lãnh đạo tạo sự thay đổi, ảnh hưởng của giới tính lãnh đạo đến đến sự thỏa mãn và lòng trung thành của nhân viên văn phòng đang làm việc tại Tp.HCM Khuyến khích sự tham gia dự toán ngân sách là công việc quan trọng và cần thiết đối với hoạt động của công ty Tuy nhiên, các đề tài nghiên cứu trên đều nên lên tình hình thực tế tại Việt Nam là nhiều doanh nghiệp chỉ tập trung vào kế hoạch mà không lập dự toán ngân sách, từ đó các nghiên cứu đưa ra những biện pháp giúp khắc phục thực trạng Các đề tài chưa đánh giá chi tiết những yếu tố cụ thế nào có thể tác động đến sự tham gia này, ban lãnh đạo công ty chưa có những thông tin giúp điều chỉnh hành vi, thiết lập quy trình phù hợp vì vậy dự toán ngân sách chưa phát huy vai trò và kết quả kinh doanh mang lại chưa cao Như vậy, với vốn kiến thức hiện tại của tác giả, chưa có nghiên cứu nào tại Việt Nam đề cập đến mối quan hệ giữa

Trang 18

phong cách lãnh đạo và sự không rõ ràng trong công việc với sự tham gia dự toán và ảnh hưởng của sự tham gia này đến kết quả công việc trong một đề tài Đây chính là

phong cách lãnh đạo, sự không rõ ràng trong công việc đến kết quả công việc thông qua sự tham gia vào dự toán ngân sách: bằng chứng thực nghiệm tại Việt Nam” sẽ rất cần thiết cho việc lấp đầy khe hổng nghiên cứu

Kết luận chương 1

Trước khi xác định khe hổng, tác giả cũng giúp người đọc biết được tầm quan trọng của sự tham gia dự toán ngân sách đến kết quả công việc của nhân viên Bên cạnh đó, tác giả cũng trình bày kết quả khảo sát lý thuyết từ các nghiên cứu trước đã xác định những nhân tố tác động đến sự tham gia dự toán ngân sách, cũng như xem xét tình hình thực tế các đề tài luận văn liên quan đến dự toán ngân sách

động của phong cách lãnh đạo, sự không rõ ràng trong công việc đến kết quả công việc thông qua sự tham gia vào dự toán ngân sách: bằng chứng thực nghiệm tại Việt Nam”

Trang 19

CHƯƠNG 2

CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Khái niệm

2.1.1 Dự toán ngân sách

Dự toán là một trong những công cụ được sử dụng rộng rãi bởi các nhà quản

lý trong việc hoạch định và kiểm soát các tổ chức (Horgren và các cộng sự, 1999)

Nó là một kế hoạch chi tiết nêu ra những khoản thu chi của doanh nghiệp trong một thời kỳ nào đó Nó phản ảnh một kế hoạch cho tương lai, được biểu hiện dưới dạng

số lượng và giá trị (Hilton, 1991)

Dự toán ngân sách là những tính toán, dự kiến, phối hợp một cách chi tiết và toàn diện nguồn lực, cách thức huy động và sử dụng nguồn lực để thực hiện một khối lượng công việc nhất định trong một khoảng thời gian nhất định, được biểu hiện bằng một hệ thống các chỉ tiêu về số lượng và giá trị (Huỳnh Lợi,2009) Ngân sách cung cấp phương tiện thiết lập mục tiêu thông qua kế hoạch và tương tác với các hoạt động của công ty

Theo Lebas (2015) thì dự toán ngân sách là những kế hoạch chi tiết Dự toán ngân sách là sự phối hợp tương tác của việc sử dụng các nguồn lực để đưa tổ chức thực hiện theo các kế hoạch đã đề ra

Ngân sách không chỉ là kế hoạch tài chính bao gồm việc thiết lập doanh thu, chi phí mà còn là một công cụ để kiểm soát, phối hợp, đánh giá thành tích công việc

và tạo động lực để hoàn thành tốt công việc (Kenis 1979)

Ngân sách là một công cụ tổ chức phổ biến thường được sử dụng để lập kế hoạch, phối hợp, đánh giá và kiểm soát Nó cung cấp một sự thống nhất các chức năng trong tổ chức (Horngren, 2004), ngân sách ảnh hưởng và bị ảnh hưởng bởi nhiều loại cá thể, cấu trúc, quy trình vĩ mô trong tổ chức Ngân sách có thể được sử dụng theo cách áp đặt hoặc có sự tham gia Ban đầu ngân sách thường được mô tả như là một cách tiếp cận từ trên xuống (top-down approach) nghĩa là dựa trên chiến lược hoạt động, nhà quản lý cấp cao sẽ thống nhất ngân sách mỗi năm Sau đó các

Trang 20

kế hoạch này sẽ được chuyển xuống nhà quản lý cấp thấp hơn Thời gian sau, mọi người chuyển sang phương pháp tiếp theo là một cách tiếp cận từ dưới lên (bottom-

up approach) để khuyến khích sự tham gia từ cấp dưới

Như vậy, dự toán ngân sách là việc thiết lập kế hoạch trong một thời kỳ nhất định, tính toán các mục tiêu cụ thể, các nguồn lực tài chính cụ thể của doanh nghiệp bằng những chỉ tiêu nhằm giúp nhà quản lý có thể nắm rõ nguồn lực của mình cũng như những phán đoán trước tình hình xảy ra với đơn vị, từ đó giúp doanh nghiệp định hướng và sử dụng hiệu quả nguồn lực để đạt mục tiêu mà công ty đề ra

2.1.2.Các mô hình dự toán ngân sách

Mô hình lập dự toán ngân sách là một hệ thống xác định vị trí, mối quan hệ các nhà quản trị, các bộ phận trong việc thực thi dự toán ngân sách Có ba mô hình dự toán ngân sách gồm mô hình thông tin từ trên xuống, mô hình phản hồi, mô hình thông tin từ dưới lên

Mô hình thông tin từ trên xuống

Mô hình thông tin từ trên xuống là mô hình các chỉ tiêu dự toán ngân sách được chỉ định từ nhà quản trị cấp cao sau đó được truyền xuống nhà quản trị cấp trung gian Nhà quản trị cấp trung gian sẽ tiếp nhận và truyền thông tin xuống nhà quản trị cấp cơ sở Nhà quản trị cấp cơ sở sẽ trực tiếp xây dựng kế hoạch tại các bộ phận

Trang 21

trong công ty (Huỳnh Lợi, 2009) Theo mô hình này thông tin được truyền đạt một chiều từ cấp trên và không nhận được phản hồi thông tin từ cấp dưới

Mô hình thông tin phản hồi

Các chỉ tiêu dự toán được ước tính từ ban quản lý cấp cao nhất của doanh nghiệp mang tính dự thảo, được phân bổ xuống các đơn vị cấp trung gian Trên cơ sở đó quản trị cập trung phân bổ cho các đơn vị cấp cơ sở Cán bộ cấp cơ sở dựa trên khả năng và năng lực của mình xác định các chỉ tiêu và phản hồi với cấp trên Quản trị cấp cao tổng hợp kết quả từ các bộ phận trung gian kết hợp với chiến lược toàn doanh nghiệp để xét duyệt dự toán cho từng bộ phận trung gian

Mô hình thông tin từ dưới lên

Trang 22

Các nhà quản lý cấp cơ sở căn cứ vào nhu cầu và năng lực thực tế tại đơn vị để lập các chỉ tiêu dự toán ngân sách, sau đó trình lên cấp quản lý trung gian Cấp trung gian tổng hợp chỉ tiêu dự toán cấp dưới cộng với kết quả dự toán tại đơn vị mình để trình lên nhà quản lý cấp cao Dựa trên kết quả tổng hợp chỉ tiêu của các cấp dưới kết hợp với chiến lược phát triển của công ty, quản lý cấp cao sẽ xét duyệt các chỉ tiêu ở cấp cơ sở và cấp trung gian

2.1.3 Sự tham gia dự toán ngân sách

Sự tham gia dự toán ngân sách được định nghĩa là một quy trình trong đó kết quả của từng cá nhân được ghi nhận, được đánh giá dựa vào kết quả họ đạt được so với dự toán ban đầu họ được tham gia xây dựng (Brownell 1980, Greenberg, Greenberg và cộng sự, 1994, Chong và Johnson 2007) Nhà quản lý thường sử dụng những thông tin liên quan đến ngân sách để làm tiêu chuẩn đánh giá kết quả làm việc của từng cá nhân

Một số tác giả khác như (Milani 1975, Hassel và Cunningham 1993) định nghĩa sự tham gia dự toán ngân sách là phương tiện truyền thông và ảnh hưởng của nhà quản lý trong quá trình lập ngân sách và mức độ ảnh hưởng của họ đối với việc thiết lập các mục tiêu ngân sách

2.1.4 Phong cách lãnh đạo

Northouse (2015) định nghĩa phong cách lãnh đạo là một quá trình ảnh hưởng đến nhóm cá nhân và hướng mọi người để đạt mục tiêu chung Nhà lãnh đạo là những người có hành vi ảnh hưởng đến người khác nhiều hơn hành vi của người khác ảnh hưởng đến họ Hai hình thức lãnh đạo thông thường gồm được chỉ định (assigned) và

tự chủ (emergent) Lãnh đạo được chỉ định dựa trên sức mạnh từ chức vụ hoặc vị trí chính thức trong một tổ chức Kết quả lãnh đạo tự chủ xuất hiện từ những gì đã làm

và làm thế nào để có được sự ủng hộ của những người dưới quyền

Trong tác phẩm của mình Gregoire và Arendt (2014) đã tập hợp định nghĩa về phong cách lãnh đạo trong 100 năm qua:

Trang 23

 Hemphill và Coons (1957): lãnh đạo là hành vi của một cá nhân có ảnh hướng đến các hoạt động của một nhóm hướng tới mục tiêu chung "

 Burns (1978), lãnh đạo là khi mọi người huy động cả thể chế, chính trị, tâm

lý, và các nguồn lực khác để khơi dậy, khuyến khích tham gia và cũng như cố gắng thỏa mãn động lực làm việc của nhân viên cấp dưới

 Jacobs (1970), lãnh đạo là sự tương tác giữa những con người trong đó một người trình bày những thông tin để những người khác trở nên bị thuyết phục với những kết cục của anh ta và kết cục này sẽ được hoàn thiện khi đối tượng cư xử theo những điều được đề nghị hoặc được đòi hỏi

 Richards và Engle (1986), lãnh đạo là quá trình ảnh hưởng tới những hoạt động của nhóm có tổ chức để đạt tới mục tiêu

 Schein (1990) lãnh đạo là khả năng bứt phá khỏi văn hóa nhằm thực hiện một quá trình thay đổi tiến hóa mang tính thích ứng cao

 House, Hanges và cộng sự, (lãnh đạo là khả năng của một cá nhân nhằm gây ảnh hưởng, thúc đẩy, làm cho mọi người góp phần vào hiệu quả và thành công của

tổ chức họ đang làm thành viên

 Yukl, Gordon và cộng sự, (2002),lãnh đạo là quá trình gây ảnh hưởng đến người khác để họ hiểu và đồng ý về những công việc cần thực hiện và thực hiện nó như thế nào một cách hiệu quả quá trình tạo điều kiện thuận lợi cho các cá nhân và tập thể nỗ lực đạt được mục tiêu của tổ chức đề ra

Qua các định nghĩa trên, tác giả có thể kết luận phong cách lãnh đạo là khả năng một cá nhân ảnh hưởng, tác động thông qua môi trường, điều kiện, cũng như phong cách làm việc đến người khác để khuyến khích sự tự nguyện tham gia của họ nhằm hoàn thành mục tiêu công việc của tổ chức

Những đặc điểm của phong cách lãnh đạo :

+ Phong cách lãnh đạo liên quan đến sức ảnh hưởng của cấp trên đến cấp dưới, nếu không có sức ảnh hưởng thì phong cách lãnh đạo sẽ không tồn tại

Trang 24

+ Phong cách lãnh đạo diễn ra trong một nhóm vì nó liên quan đến việc gây

ra ảnh hưởng của một cá nhân đến một nhóm cá nhân khác những người có chung mục tiêu

+ Phong cách lãnh đạo liên quan đến mục tiêu chung Nhà lãnh đạo cố gắng gắn kết mọi người trong tổ chức để hoàn thành nhiệm vụ chung

Khái niệm phong cách lãnh đạo (leadership) và quản lý (management) rất dễ gây nhầm lẫn và bị trùng lắp Quản lý truyền thống tập trung vào các quá trình hoạch định, tổ chức, điều khiển, và kiểm soát Trong khi phong cách lãnh đạo nhấn mạnh đến quá trình gây ảnh hưởng bằng khuyến khích sự tự giác tham gia của nhân viên với mục đích cả tập thể hoàn thành nhiệm vụ Trong khi quản lý cố gắng thiết lập trật tự và ổn định thì phong cách lãnh đạo liên quan đến sự thích nghi và thay đổi cơ cấu Sự nhầm lẫn, không rõ ràng và có sự trùng lắp này vì cả hai đều liên quan đến mục tiêu chung của một nhóm cá nhân Mỗi một hệ thống có chức năng

và cách hoạt động riêng của nó và cả hai đều cần cho tổ chức, trước hết là cần phương hướng hoạt động đúng đắn nghĩa là nhà lãnh đạo sẽ đi đúng hướng, từ đó sẽ

có phương thức thực hiện hợp lý nghĩa là hoạt động quản lý phù hợp với tình hình của tổ chức

2.1.5 Sự không rõ ràng trong công việc

Trách nhiệm công việc không rõ ràng xảy ra khi một người không thể tiếp cận đầy đủ thông tin để thực hiện công việc đầy đủ (Walker Jr, Churchill Jr và cộng sự, 1975) Một nhân viên kinh doanh sẽ cảm thấy không đủ thông tin để thực hiện công việc một cách đầy đủ có thể gặp tình trạng mơ hồ về vai trò dẫn đến tăng sự căng thẳng trong công việc (Moncrief, Babakus và cộng sự, 1997)

Cả hai lý thuyết tổ chức và lý thuyết tổ chức cổ điển đều đề cập đến sự không rõ ràng trong công việc Đối với lý thuyết cổ điển, mọi vị trí trong một cấu trúc tổ chức chính thức đều nên có quy định rõ ràng về nhiệm vụ hoặc trách nhiệm cụ thể liên quan đến vị trí đó Nhiệm vụ cụ thể, hay rõ ràng về các yêu cầu vai trò công việc, nhằm cho phép các cấp dưới tự chịu trách nhiệm về kết quả công việc cụ thể của họ

Trang 25

và giúp cấp trên hướng dẫn, dẫn dắt cấp dưới đi theo Nếu một nhân viên không biết mình có quyền quyết định gì, anh ta dự kiến sẽ đạt được những điều gì, và anh ta sẽ

bị đánh giá như thế nào, anh ta sẽ ngần ngại đưa ra quyết định và sẽ phải dựa vào cách tiếp cận dùng thử và sai sót trong đáp ứng được kỳ vọng của cấp trên

Lý thuyết về vai trò (Kahn và cộng sự, 1964) cũng cho rằng "vai trò mơ hồ hay sự không rõ ràng trong công việc phát sinh khi thiếu thông tin cần thiết có sẵn cho một vị trí nhất định trong tổ chức - điều này sẽ dẫn đến việc đối phó hành vi, cố gắng giải quyết vấn đề để tránh các nguồn căng thẳng bằng cách bắt chước vai trò của những người làm trước, hoặc sử dụng các phương pháp bảo vệ bóp mép tình huống thực tế Do đó, theo lý thuyết về vai trò, sự mơ hồ làm gia tăng khả năng một người sẽ không hài lòng với vai trò của mình, sẽ cảm thấy căng thẳng, họ sẽ cố gắng bóp méo thực tế, và do đó sẽ thực hiện công việc ít hiệu quả hơn

2.2 Lý thuyết nền

Để đưa ra cơ sở xây dựng mô hình và giả thuyết nghiên cứu nhằm đạt mục tiêu nghiên cứu và trả lời các câu hỏi nghiên cứu, tác giả đã sử dụng các lý thuyết nền sau:

2.2.1 Lý thuyết phong cách lãnh đạo (leadership theory)

Lý thuyết lãnh đạo đã trở thành đề tài của nhiều tác giả nghiên cứu trước đây Những năm 1970, các lý thuyết về hành vi lãnh đạo hiệu quả chiếm ưu thế Ví dụ bao gồm lý thuyết con đường mục tiêu (Path-goal) (House và Dessler 1974), lý thuyết LMX (Graen và Cashman 1975) và lý thuyết về quyết định quy chuẩn (Vroom và Yetton 1973) Kể từ cuối những năm 1980, các lý thuyết về sự lãnh đạo lôi cuốn (charismatic leadership) và lãnh đạo tạo sự trao đổi (transformational leadership) lại được đề cập nhiều hơn Khác với những lý thuyết truyền thống, các

lý thuyết về sự lãnh đạo lôi cuốn và lãnh đạo tạo sự trao đổi quan tâm đến các khía cạnh cảm xúc và giá trị nhà lãnh đạo có khả năng gây ảnh hưởng đến nhân viên thay

vì quy trình Trên cơ sở 2 lý thuyết này, một số lý thuyết khác đã được đề xuất bởi (Bass 1985, Bass 1996), (Burns 1978), và Shamir, House và cộng sự, (1993) đề cập

Trang 26

đến lãnh đạo tạo sự trao đổi Các lý thuyết dựa trên lãnh đạo có sức lôi cuốn đã được đề xuất bởi một số nhà lý thuyết, như Conger (1989), Conger và Kanungo (1987),House (1977), và (Shamir, House và cộng sự, 1993)

Thông qua những giải thích của các tác giả, các lý thuyết này đã giúp người đọc có thể hiểu cách thức một nhà lãnh đạo có thể ảnh hưởng đến người khác thông qua sự tiên phong đối đầu với những khó khăn, làm gương bằng những hành động chuẩn mực của mình giúp những người dưới quyền có thể noi theo, cũng họ thực hiện nghiên túc những gì đã cam kết Người lãnh đạo có sức cuốn hút thường hành động theo cách thức khơi dậy những động cơ có liên quan đến sứ mạng của nhóm, của tổ chức Họ luôn thể hiện những mong đợi cao ở những người dưới quyền trong việc thực hiện nhiệm vụ và thể hiện sự tin tưởng vào người dưới quyền Họ khuyến khích sự hứng thú từ cấp dưới với mục đích cuối cùng mọi người sẽ cố gắng gặt hái được nhiều thành công hơn so với kỳ vọng

Phong cách lãnh đạo lôi cuốn Thuyết lãnh đạo lôi cuốn được nghiên cứu đầu tiên của Weber (1947) đã mô tả những đặc điểm tính cách người dưới quyền mong muốn ở cấp trên Weber cho

rằng những người lãnh đạo dạng này họ “không dựa trên quyền lực vị trí hoặc

truyền thống mà dựa trên nhận thức của người dưới quyền về người lãnh đạo là người được phú cho những phẩm chất đặc biệt” (Nguyễn, 2007:169) Trong những

năm gần đây, các nghiên cứu đã sửa đổi và mở rộng lý thuyết này để mô tả lãnh đạo

có sức lôi cuốn trong các tổ chức (Conger (1989),Conger và Kanungo (1987), House, 1977, Shamir, House và cộng sự, (1993))

The House (1977) and Shamir, House và cộng sự, (1993) cho rằng người lãnh đạo lôi cuốn luôn gắn liền những mục tiêu công việc với tầm nhìn, sứ mạng của tổ chức Họ luôn truyền tải những kỳ vọng kết quả công việc cao cũng như thể hiện sự

tự tin rằng cấp dưới có thể hoàn thành nhiệm vụ

Conger và Kanungo (1987) đưa ra thuyết của họ dựa trên những giả định như sức lôi cuốn phụ thuộc vào một số các yếu tố mang tính quy kết (suy diễn) của

Trang 27

người dưới quyền đối với lãnh đạo Và các yếu tố đó là : tầm nhìn, hy sinh vì lợi ích của người dưới quyền, sử dụng những chiến lược độc đáo, đánh giá đúng tình huống, tỉnh ngộ người dưới quyền, tự tin trong giao tiếp, thông tin và sử dụng quyền lực cá nhân (Nguyễn, 2007)

Tuy nhiên, (Bass (1985), Bass 1996) và đa số các học giả đều cho rằng lãnh đạo tạo sự thay đổi là rộng hơn, là bao trùm cả lãnh đạo lôi cuốn Vì người lãnh đạo lôi cuốn tạo sự hấp dẫn với những người cấp dưới bằng hành vi chuẩn mực, phẩm chất tốt đẹp nhưng đây chỉ là điều kiện cần chứ chưa đủ Nhà lãnh đạo tạo sự thay đổi không chỉ lôi cuốn người khác mà còn có sức ảnh hưởng tới những người dưới quyền, hướng họ đến mục tiêu chung của tập thể (Nguyễn, 2007)

Thuyết lãnh đạo tạo ra sự trao đổi Bass và các cộng sự (Bass 1985, Bass 1996) cho rằng lãnh đạo có sự trao đổi chủ yếu dựa vào hành vi của nhà lãnh đạo để tạo sự ra sự ảnh hưởng đến những người phía dưới Những người cấp dưới không chỉ tin tưởng, kính trọng người lãnh đạo mà còn ngưỡng mộ, trung thành và coi họ như một biểu tượng tinh thần Quá trình ảnh hưởng cơ bản được mô tả dưới hình thức thúc đẩy các cấp dưới bằng cách làm cho họ nhận thức được tầm quan trọng của các kết quả công việc và thúc đẩy

họ đạt được lợi ích cho bản thân cũng như lợi ích của tổ chức Lãnh đạo có sự trao đổi (transformational leadership) được phân biệt với vai trò lãnh đạo nghiệp vụ (transactional leadership), bao gồm quá trình trao đổi nhằm thúc đẩy sự tuân thủ của người dưới quyền với yêu cầu lãnh đạo và các quy tắc tổ chức

Lãnh đạo tạo ra sự trao đổi nhấn mạnh đến cảm xúc và giá trị, thu hút, hành vi tượng trưng và vai trò của người lãnh đạo trong việc tạo ra các sự kiện có ý nghĩa cho người dưới quyền (Yukl, 2002: 241) Các nhà lãnh đạo trao đổi có khả năng truyền cảm hứng những người theo họ, để giải quyết và đáp ứng nhu cầu của cấp dưới Thông qua quan tâm nhân viên, kích thích sự sáng tạo, tạo động lực thúc đẩy, lãnh đạo có sự trao đổi sẽ thay đổi hành vi của họ để ảnh hướng đến người dưới

Trang 28

quyền, tạo không khí thỏa mái để họ được tự do phát biểu, họ sẽ tự hào và trung thành với nhà lãnh đạo

Lãnh đạo nghiệp vụ sử dụng phần thưởng hay hình phạt kỷ luật đối với cấp dưới dựa trên kết quả công việc của cấp dưới sẽ đối với họ Lãnh đạo nghiệp vụ bao gồm hành vi khen thưởng ngẫu nhiên, quản lý thụ động và bị động đối với trường hợp bất thường Ví dụ các nhà lãnh đạo chính trị, đạt được điều này bằng cách tạo việc làm và đầu tư chi phí đặc biệt để đổi lấy những phiếu bầu, trong khi các nhà lãnh đạo doanh nghiệp sử dụng công ăn việc làm, lương và chức vụ để thưởng cho những đóng góp và thành tích của nhân viên (Yukl, 2002: 241)

Khi vận dụng lý thuyết lãnh đạo vào hoạt động xây dựng dự toán ngân sách,

người ta đề xuất rằng một số cấp trên thúc đẩy sự tham gia nhân viên để thể hiện phong cách lãnh đạo của họ Người lãnh đạọ giỏi luôn được biết đến là người gần gũi, hòa đồng với nhân viên Họ luôn nỗ lực xây dựng, duy trì mối quan hệ với các cấp dưới bằng sự tin tưởng, sự tôn trọng và hỗ trợ lẫn nhau Như đã được nêu ở trên, việc khuyến khích cấp dưới tham gia dự toán ngân sách như là một phần của cách tiếp cận lãnh đạo, tăng cường giao tiếp cởi mở và có ý nghĩa quan trọng với cả hai phía Khi nhà lãnh đạo xây dựng được môi trường làm việc thân thiện, tích cực

và ở đó trân trọng ý kiến của mọi cá nhân để mọi người thấy rằng họ có sự ảnh hưởng nhất định với các mục tiêu chung của doanh nghiệp thì họ sẽ bắt đầu đề xuất

ý kiến, bày tỏ quan điểm cũng như đưa ra các giải pháp để giải quyết những vấn đề phát sinh trong công việc

2.2.2 Lý thuyết đại diện (agent theory)

Lý thuyết này được sử dụng trong nhiều lĩnh vực như kế toán, tài chính, kiểm soát, và kế toán quản trị Theo Jensen và Meckling (1976) - người đặt nền móng lý thuyết đại diện - xác định mối quan hệ đại diện (hay quan hệ ủy thác) như là quan

hệ hợp đồng mà theo đó các cổ đông (những người chủ -principals), bổ nhiệm, chỉ định người khác, người quản lý công ty (người đại diện -agents), để thực hiện việc quản lý công ty cho họ mà trong đó bao gồm cả việc trao thẩm quyền để ra quyết

Trang 29

định định đoạt tài sản của công ty Lý thuyết về đại diện cho rằng, nếu cả hai bên trong mối quan hệ này (cổ đông và người quản lý công ty) đều muốn tối đa hóa lợi ích của mình, thì có khả năng người quản lý công ty sẽ không phải hành động vì lợi ích tốt nhất cho người chủ, tức các cổ đông Mối quan hệ đại diện còn thể hiện trong mối quan hệ giữa nhà quản lý cấp cao với nhà quản lý các cấp cơ sở hơn trong hệ thống phân quyền, giữa nhà quản lý với người trực tiếp sử dụng các nguồn lực của

tổ chức

Lý thuyết đại diện cho rằng xung đột sẽ phát sinh khi có thông tin không đầy

đủ và bất cân xứng giữa người chủ thể và người đại diện trong công ty Hai ông cho rằng nguồn gốc của mâu thuẫn, xuất phát từ sự không hài hòa trong lợi ích, đặc biệt

về mục tiêu lợi nhuận giữa chủ doanh nghiệp và các điều hành cấp cao, giữa chủ nợ

và chủ doanh nghiệp Do bất cân xứng thông tin và vai trò công việc khác nhau, người đại diện nắm nhiều thông tin hơn người chủ, hay do những yếu tố bất định gây tổn hại cho công ty mà có thể dẫn đến sự vô ý hay cố ý từ những người đại diện này

Để giảm thiểu vấn đề này công ty cần sử dụng các cơ chế thích hợp để có thể hạn chế

sự phân hóa lợi ích giữa người chủ như cổ đông và người đại diện như quản lý công

ty, thông qua thiết lập những cơ chế đãi ngộ thích hợp cho các nhà quản trị, và thiết lập cơ chế giám sát hiệu quả để hạn chế những hành vi không bình thường, tư lợi của người quản lý công ty

Tương tự như vậy, trong lĩnh vực kế toán quản trị, Healy và Palepu (2001) cho rằng giải pháp dung hòa lợi ích giữa nhà quản trị doanh nghiệp (và chủ doanh nghiệp) với lợi ích của nhà đầu tư bên ngoài là hợp đồng tối ưu giữa nhà quản trị với nhà đầu tư, thỏa thuận hợp lý thù lao và tiền thưởng của nhà quản trị Những hợp đồng này thường yêu cầu doanh nghiệp phải sử dụng thông tin được cung cấp bởi hệ thống kế toán quản trị như: hệ thống ngân sách, thông tin kiểm soát chi phí, phân bổ các nguồn lực để nhà đầu tư đánh giá sự tuân thủ những cam kết trong hợp đồng và đánh giá nhà quản trị doanh nghiệp có quản trị các nguồn lực của công

ty gắn với lợi ích của nhà đầu tư bên ngoài

Trang 30

Theo lý thuyết đại diện cho rằng việc tham gia lập ngân sách cho phép nhân

viên đưa một số thông tin, hiểu biết của mình và có thể dẫn đến lợi ích cho cả hai bên: thứ nhất, kết hợp thông tin này vào ngân sách mang lại các mục tiêu ngân sách thực tế hơn và giúp phân bổ các nguồn lực hiệu quả hơn, như vậy sẽ tăng hiệu quả công việc mong đợi và cải thiện việc chia sẻ rủi ro Và thứ hai, do có sự cam kết dựa trên ngân sách, ngân sách này sau đó tạo ra nỗ lực cao hơn từ nhân viên từ đó sẽ làm tăng hiệu quả công việc (Heinle và cộng sự, 2014) Tương tự, Shields và Young (1993) cũng cho rằng một trong những lợi ích chính của việc tham gia dự toán ngân sách là tạo điều kiện cho việc chia sẻ thông tin Chia sẻ thông tin có thể tăng lên hiệu suất cá nhân bằng nhiều cách gồm: (1) cấp trên có thể giúp nhân viên phát triển ý tưởng, chiến lược tốt hơn (Murray, 1990); (2) đảm bảo rằng cấp dưới nhận được hỗ trợ ngân sách đầy đủ (Nouri & Parker, 1998) Đầy đủ về ngân sách là mức độ cá nhân nhận thức rằng các nguồn ngân sách đủ để đáp ứng các yêu cầu công việc Khi nhân viên tin rằng tổ chức sẽ hỗ trợ họ với ngân sách đầy đủ, điều này sẽ làm tăng mối quan hệ nhân viên với tổ chức, nhân viên sẽ cam kết cao hơn với tổ chức Cam kết của tổ chức cao hơn, có thể dẫn đến hiệu suất cao hơn (Maiga 2005)

2.2.3 Lý thuyết tâm lý (psychological theory)

Tâm lý học là môn khoa học liên quan đến trí tuệ (tính cách, nhận thức, động lực) và hành vi (hành động và giao tiếp) Mặc dù có rất nhiều lý thuyết được sử dụng trong kế toán quản trị để giải thích giải thích và dự đoán hành vi, tâm lý học

Lý thuyết tâm lý học khác biệt với các lý thuyết khác khi nó tập trung về cá nhân chứ không phải là tổ chức và xã hội hành vi, các hiện tượng chủ quan như tinh thần chứ không phải hiện tượng khách quan chẳng hạn như giá cả thị trường và số lượng hoặc quy mô tổ chức và công nghệ (Birnberg và Luft 2006)

Lý thuyết tâm lý học cho rằng, hiệu quả của quản trị do năng suất lao động quyết định, nhưng năng suất lao động không chỉ do các yếu tố vật chất quyết định

mà còn do sự thỏa mãn các nhu cầu tâm lý, xã hội của con người

Trang 31

Lý thuyết tâm lý học đã được sử dụng để nghiên cứu kế toán quản trị trong hơn 50 năm, (Argyris 1952, Argyris 1953) dựa vào mối quan hệ của con người và động lực nhóm để điều tra bối cảnh xã hội của ngân sách ảnh hưởng đến suy nghĩ

và hành vi của nhân viên đặc biệt là về động lực và mối quan hệ giữa đồng nghiệp với nhau

Lý thuyết này nhấn mạnh vai trò động lực và tâm lý xã hội ảnh hưởng đến việc giải thích và dự đoán hoạt động kế toán quản trị Trong những năm 1970, kế toán quản trị sử dụng lý thuyết tâm lý để nghiên cứu làm thế nào các cá nhân xử lý các thông tin để lập kế hoạch, kiểm soát và ra quyết định Ban đầu Barefield (1972)

đã kiểm tra làm thế nào việc tổng hợp dư thừa chênh lệch giá thành ảnh hưởng đến các điều chỉnh chênh lệch giá và Mock, Estrin và cộng sự, (1972) điều tra sự phản hồi tương tác của kế toán quản trị với nhận thức và phong cách cá nhân để gây ảnh hưởng đến các quyết định điều hành Kể từ đó lý thuyết tâm lý học có thể được sử dụng để giải thích và dự đoán cả nguyên nhân và ảnh hưởng của kế toán quản trị như đánh giá dự toán ngân sách, kết quả kinh doanh đến hành vi cá nhân gồm các quyết định, điều chỉnh, thỏa mãn và căng thẳng

Xã hội thực sự phát triển thì động lực lớn nhất, quan trọng nhất đó chính là năng lực của con người Nguồn nhân lực là một nguồn lực có vai trò quan trọng quyết định tới sự phát triển của kinh tế xã hội Đầu tư cho nguồn nhân lực là đầu tư mang lại hiệu quả lâu dài và bền vững nhất Khi người lao động điều chỉnh hành vi và thái độ phù hợp với mục tiêu và các giá trị mà tổ chức theo đuổi sẽ giúp cho đơn vị hoạt động hiệu quả và ngày càng phát triên Để hiểu tác động của các hành vi của cá nhân đối với tổ chức, lý thuyết tâm lý được áp dụng trong nghiên cứu kế toán quản trị để nghiên cứu mối quan hệ giữa hành vi cá nhân và kế toán quản trị Birnberg và Luft (2006) trong các quá trình lập ngân sách, kiểm soát và ra quyết định

Lý thuyết tâm lý luôn chú trọng mối quan hệ con người trong doanh nghiệp (quan hệ cấp trên với cấp dưới, quan hệ giữa các bộ phận trong doanh nghiệp với nhau) Trong thiết lập và vận hành hệ thống kế toán quản trị, mối quan hệ này liên

Trang 32

quan đến quá trình hoạch định ngân sách, quá trình kiểm soát đánh giá và ra quyết định phải tạo được động lực và hướng đến việc nâng cao hiệu suất các bộ phận Ví

dụ việc thiết lập các định mức chi phí và các chỉ tiêu đánh giá nếu chỉ quan tâm đến cắt giảm chi phí mà không chú ý đến nâng cao hiệu suất và giải quyết hài hòa lợi ích giữa các bộ phận trong doanh nghiệp có thể sẽ không huy động được mọi người trong doanh nghiệp nỗ lực phấn đấu giảm chi phí và gia tăng lợi nhuận

Vận dụng lý thuyết tâm lý vào trong thực tế cho rằng tham gia lập ngân sách

có ảnh hưởng tích cực đến hiệu quả thông qua các động cơ thúc đẩy và nhận thức (Shields và Shields 1998, Birnberg và Luft 2006) Cơ chế động cơ cũng cho rằng

các cấp dưới được phép tham gia vào việc thiết lập các mục tiêu ngân sách thường

có xu hướng dễ chấp nhận hơn và cam kết thực hiện các mục tiêu ngân sách hơn những người không được phép tham gia vào quá trình thiết lập ngân sách Khi cá nhân cam kết với các mục tiêu ngân sách họ sẽ nỗ lực cao hơn để đạt được những mục tiêu đó Bên cạnh đó, sự tham gia của ngân sách còn làm tăng sự tin tưởng, ý thức kiểm soát và sự tự chịu trách nhiệm của cá nhân với tổ chức (Shields & Shields,1998) Vì vậy, nhân viên ít chống lại sự thay đổi, dễ dàng chấp nhận và cam kết hơn với các quyết định ngân sách (Argyris 1952, Shields và Shields 1998,

Chong và Chong 2002) Ngoài ra, cơ chế nhận thức cho rằng, tham gia lập kế hoạch

ngân sách là một quá trình trao đổi thông tin nôi bộ giữa cấp trên và cấp dưới dẫn đến hiểu rõ hơn về tình hình và nhiệm vụ phải hoàn thành cũng như trong các quá trình quyết định ngân sách, dẫn đến hiệu quả cao hơn Chenhall và Brownell (1988) thấy rằng sự tham gia của ngân sách đã cung cấp công việc có liên quan thông tin làm giảm vai trò mơ hồ, trong khi Kren (1992) nhận thấy rằng việc tham gia làm tăng thông tin liên quan đến công việc đang làm

2.2.4 Lý thuyết công bằng trong tổ chức (organizational justice theory)

Sự công bằng của tổ chức đã được hiểu rộng hơn là tất cả những gì tại nơi làm việc được thể hiện qua những quyết định quản lý được người lao động cảm nhận là hợp lý, bình đẳng, rõ ràng, không thiên vị (Greenberg, Bies và cộng sự, 1991)

Trang 33

Công bằng rất quan trọng đối với mọi người trong công việc vì nhiều lý do Nhận thức về công bằng giúp củng cố sự tin tưởng, giảm bớt nỗi sợ bị lợi dụng và tăng sự hợp tác giữa mọi người trong công ty (Lind 2001) Đối với cá nhân, sự công bằng thỏa mãn nhu cầu của cá nhân về việc kiểm soát (Thibaut và Walker 1975) tự tin, cảm giác an toàn và giảm khả năng gian lận, tăng sự tin tưởng với nhà quản lý Tính công bằng trong tổ chức được phản ảnh theo các cách khác nhau đến công việc của nhân viên gồm sự công bằng trong phân phối, sự công bằng trong quy trình, và sự công bằng trong tương tác Cấp dưới quan tâm về hợp lý trong phân bổ nguồn lực như lương, thưởng, thăng chức và lợi ích thu được sau khi giải quyết tranh chấp đây được gọi là sự công bằng trong phân phối (Adams, 1963) Mọi người cũng thường tham gia vào sự hợp lý trong quy trình ra quyết định để hiểu bằng cách nào và tại sao dẫn đến những kết quả như vậy, đây gọi là sự hợp lý trong quy trình (Leventhal,1980) Cuối cùng các cá nhân cũng quan tâm đến bản chất của việc tương tác với tập thể, đây được gọi là công bằng trong ứng xử

 Công bằng trong phân phối (budget distributive fairness)

Sự công bằng trong kết quả cho thấy nhu cầu của con người là được đối xử (hoặc nhận lương) như nhau trong việc phân phối lợi ích thu được từ kết quả công việc Công bằng trong phân phối, giống như tất cả hình thức công bằng, được căn

cứ dựa trên các giá trị Các giá trị đó là các thước đo hoặc các mẫu mực để phán xét các công bằng được đưa ra Ba thước đo đó được phân biệt bởi căn cứ phân biệt sự công bằng: sự hợp lý, sự bình đẳng và nhu cầu

Sự hợp lý : Qui tắc phân bổ hợp lý đề nghị rằng con người sẽ nhận được sự thưởng công là phù hợp với những gì họ mang lại hoặc đem đến

Sự bình đẳng: Thước đo sự bình đẳng đề xuất rằng tất cả mọi cá nhân đều có

cơ hội ngang nhau về nhận kết quả và phần thưởng, bất chấp các đặc tính khác biệt Nhu cầu : Quy tắc phân loại nhu cầu đề xuất rằng những phần thưởng sẽ được phân bổ trên cơ sở nhu cầu cá nhân

Trang 34

Người lao động có xu hướng đánh giá những gì họ nhận được từ công việc (lương, thưởng, sự ghi nhận) tương xứng với những gì họ bỏ vào (nỗ lực , kinh nghiệm, kiến thức, sự phù hơp) và sau đó sẽ so sánh tử số giữa thành quả đầu ra và các yếu tố đầu vào với người khác (Nguyễn ,2017)

 Công bằng trong quy trình (procedural fairness)

Quy trình ở đây đề cập đến các nguyên tắc chính sách, trình tự, phương pháp tiến hành công việc Công bằng trong quy trình đề cập đến việc thực hiện công khai, minh bạch rõ ràng khách quan, không thiên vị và phù hợp với những tiêu chuẩn đạo đức xã hội trong việc thực hiện một quy trình công việc (ví dụ quy trình đánh giá kết quả công việc quy trình bổ nhiệm, trả lương )

Hai yếu tố quan trọng của sự công bằng trong qui trình là sự kiểm soát qui trình

và giải thích qui trình Sự kiểm soát quy trình (process control) là cơ hội để người lao động có thể bày tỏ quan điểm về kết quả mà mình mong đợi với người ra quyết định Giải thích quy trình (explainations) là những lý do rõ ràng mà nhà quản lý đưa ra cho kết quả mà người lao động nhận được Do vậy, để nhân viên nhìn nhận qui trình là công bằng hợp lý, họ cần có cảm giác mình có thể có chút kiểm soát với những kết quả và họ được lý giải đầy đủ vì sao kết quả đó xảy ra (Nguyễn ,2017)

Như vậy, có thể nói rằng, công bằng trong quy trình là (1): là quy trình cho phép người lao động có tiếng nói và được tham gia đóng góp vào quy trình đó:(2) quy trình có giải thích lý do, cung cấp đầy đủ thông tin tới những người có liên quan; (3) quy trình thể hiện sự tôn trọng đối với những người có liên quan

Vấn đề còn lại khi nghiên cứu về sự công bằng trong tổ chức là sự công bằng trong giao tiếp, ứng xử Công bằng này liên quan đến việc ứng xử của quản lý cấp trên đối với cấp dưới của mình trong việc thực thi các chính sách quy trình của tổ chức Bốn nguyên tắc liên quan đến việc công bằng trong ứng xử đã được xác định

và phát triển là: (1) tính trung thực, (2) sự biện minh, (3) sự tôn trọng, và (4) tính đúng mực

Trang 35

Nhiều nghiên cứu về công bằng trong tổ chức cho thấy rằng điều khiến nhân viên có động lực làm việc và gắn bó lâu dài với công ty nhất chính là khi họ thấy mình được công nhận và trân trọng Bất cứ lời động viên, khen ngợi nào từ lãnh đạo, đặc biệt là trước tất cả mọi người trong công ty cũng đều khiến cho các nhân viên cảm thấy công sức của mình được trân trọng, cởi mở hơn trong việc chia sẻ, giúp đỡ lẫn nhau trong công việc cũng như cuộc sống Yêu cầu quan trọng nhất của hoạt động đánh giá thành tích là phải đối xử công bằng, tránh thiên vị với bất kỳ ai Nhà quản lý chú trọng đến sự công bằng sẽ hiệu quả hơn cũng như cấp dưới của họ có dễ dàng chấp nhận kế hoạch của cấp trên so với nhà quản lý không quan tâm đến tính công bằng (Greenberg, Bies và cộng sự, 1991) Đối với những cá nhân xuất sắc, có đóng góp thành tích cho công ty, nhà lãnh đạo nên tuyên dương trước toàn bộ nhân viên và

có hình thức khen thưởng xứng đáng Ngược lại, với những nhân yếu kém, họ cũng phải có hình thức kỷ luật phù hợp

Kết luận chương 2

Chương 2 giúp người đọc hiểu rõ những khái niệm chính được sử dụng trong đề tài nghiên cứu đó là dự toán ngân sách, sự tham gia dự toán ngân sách, phong cách lãnh đạo, sự không rõ ràng trong công việc và các mô hình lập dự toán ngân sách Đồng thời tác giả cũng giới thiệu những lý thuyết nền được sử dụng trong đề tài để giúp củng cố lập luận xây dựng mô hình giả thuyết : Lý thuyết lãnh đạo, lý thuyết đại diện, lý thuyết tâm lý, lý thuyết công bằng trong tổ chức

Trang 36

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện thông qua hai giai đoạn : nghiên cứu sơ bộ và nghiên cứu chính thức

- Nghiên cứu sơ bộ :

Đầu tiên, tác giả đọc các tài liệu liên quan, sách, báo liên quan đến đề tài, dựa và nghiên cứu của các đề tài trên để xây dựng thang đo phù hợp Tác giả sử dụng thang đo của tác giả Kyj và Parker (2008) để nghiên cứu biến phong cách lãnh đạo, Marginson và Ogden (2005) nghiên cứu biến sự không rõ ràng trong công việc,

đề tài của Nouri và Parker (1998) nghiên cứu biến sự tham gia ngân sách, và kết quả công việc được sử dụng từ Lau và Roopnarain (2014)

Sau đó tác giả sử dụng bảng câu hỏi song ngữ dự thảo để thử nghiệm (pilot test) tại ba lớp cao học kế toán của Trường Đại học Kinh tế TP Hồ Chí Minh nhằm kiểm tra mức độ hợp lý của từ ngữ được sử dụng cũng như nội dung không được hiểu chủ quan, phiến diện để từ đó điều chỉnh thang đo Bước này nhằm kiểm định mức độ hợp lý của các khái niệm và thang đo nghiên cứu trong điều kiện tại Việt Nam

Trang 37

Để đánh giá thang đo, mức độ phù hợp của mô hình nghiên cứu với dữ liệu được thu thập cũng như kiểm định các giả thuyết trong mô hình nghiên cứu, tác giả sử dụng công cụ Smart PLS3

3.2 Thiết kế nghiên cứu

3.2.1 Xây dựng giả thiết

3.2.1.1 Mối quan hệ giữa phong cách lãnh đạo và tham gia dự toán ngân sách

Lập kế hoạch là quá trình xác định các mục tiêu cũng như lựa chọn các phương thức để đạt được các mục tiêu đó Đã từ lâu công việc lập kế hoạch là nhiệm vụ hàng ngày và là chức năng cơ bản của các nhà quản lý Để đảm bảo tính khả thi, kế hoạch ngân sách phải được hoạch định phù hợp và có sự tham gia đầy đủ của các phòng ban trong doanh nghiệp Phong cách lãnh đạo của nhà quản lý đã trở thành một yếu tố quan trọng để khuyến khích sự tham gia của các thành viên trong công ty

Phong cách lãnh đạo được mô tả như những hướng dẫn, khả năng truyền cảm hứng, thúc đẩy tinh thần, tạo động lực và sự gắn kết nhân viên để quy tụ mọi người hoạt động vì một mục đích chung Nhà lãnh đạo phải đảm bảo được rằng các nhân viên đều phải được quan tâm đúng mức và khích lệ tinh thần đúng lúc, điều này sẽ tạo động lực to lớn cho nhân viên hoàn thành tốt công việc và vượt qua những khó khăn Người lãnh đạo không cần phải có mặt mọi lúc mọi nơi nhưng phải là người

lãnh đạo luôn được coi là có sức ảnh hưởng, ý nghĩa vào hoạt động hằng ngày của cấp dưới và do đó hình thành văn hóa tổ chức (Eoyang, 1985) Khi các nhà lãnh đạo

có thể trả lời các câu hỏi liên quan đến những yêu cầu không hợp lý trong công việc của nhân viên, họ sẽ làm tăng động lực của nhân viên và củng cố quan điểm của nhân viên về công việc, qua đó tăng hiệu suất và tính linh hoạt của nhân viên trong công việc (Koene, Vogelaar và cộng sự, 2002)

Trang 38

Mối quan hệ giữa phong cách lãnh đạo và sự tham gia ngân sách đã được tồn tại từ rất lâu trong các nghiên cứu trước đây Hopwood (1972 và 1974) là một trong những học giả đầu tiên quan tâm đến liên kết giữa ngân sách, phong cách lãnh đạo,

và đến kết quả và sự hài lòng trong công việc đối với hoạt động của nhân viên Hopwood nhận thấy rằng cấp trên đánh giá hiệu quả của ngân sách “kìm hãm về ngân sách" (slack budget) có liên quan đến tình trạng căng thẳng trong công việc và mặc dù không được thử nghiệm thực nghiệm, các phong cách kìm hãm về ngân sách sẽ dẫn đến kết quả công việc thấp hơn (Hopwood, 1972: 176)

Trong tài liệu về kế toán của Ansari (1976), ông cho rằng phong cách lãnh đạo

có thể ảnh hưởng đến việc cách thức xây dựng ngân sách Ritchie và Miles (1970) lập luận rằng lãnh đạo tin tưởng và hỗ trợ là một điều kiện tiên quyết để khuyến khích sự tham gia có hiệu quả từ cấp dưới, và Zand (1972) cũng đưa ra nhận xét tương tự Lý thuyết con đường mục tiêu (Path-Goal Theory) trong lý thuyết lãnh đạo cho rằng phong cách lãnh đạo có ảnh hưởng đến kết quả công việc và sự thỏa mãn của cấp dưới (House 1971)

Nhà quản trị sẽ thể hiện phong cách lãnh đạo của họ thông qua việc xây dựng ngân sách Trong mối quan hệ giữa quản lý và hành vi tổ chức, Brownell (1983) cho rằng có mâu thuẫn giữa phong cách lãnh đạo và kết quả như sự thỏa mãn của nhân viên và kết quả công việc Để giải quyết mâu thuẫn này, Brownell (1983) đề xuất sự tham gia ngân sách sẽ làm giảm căng thẳng mối quan hệ này Trong một nghiên cứu khác của Kohlmeyer III, Mahenthiran và cộng sự, (2014) cũng kết luận phong cách lãnh đạo ảnh hưởng đến sự tham gia ngân sách bởi vì cả hai biến này đều liên quan đến sự cam kết tổ chức thông qua nhận thức công bằng Nhà lãnh đạo tận tâm sẽ cho phép các cấp dưới nhiều cơ hội thể hiện khả năng bao gồm cả việc tư vấn, kiến nghị cho cấp trên Sự tham gia ngân sách là một cách thể hiện sự công bằng trong tổ chức, tăng cường niềm tin của nhân viên trong sự công bằng về quy trình dự toán bởi vì nhân viên có cơ hội được đưa ra ý kiến của mình nghĩa là họ luôn được tôn trọng tại nơi làm việc, họ được xem là thành viên quan trọng trong tổ chức Khi

Trang 39

nhân viên nhận được sự khuyến khích, động viên tham gia ngân sách của cấp trên,

họ sẽ càng tin tưởng và có cam kết cao hơn với tổ chức

Như vậy, nhà lãnh đạo hiệu quả sẽ luôn khuyến khích nhân viên tham gia vào hoạt động ngân sách để tạo mối quan hệ cởi mở, gần gũi và tôn trọng nhau bằng cách đối xử với họ công bằng trong công việc (Kyj và Parker 2008) Bên cạnh đó, nhà lãnh đạo sẽ có những nỗ lực đặc biệt để giúp các cấp dưới cảm thấy thoải mái,

dễ dàng đưa ra ý kiến cá nhân từ đó tăng tần suất tham gia dự toán ngân sách của nhân viên Ngược lại, sự thiếu tế nhị trong giao tiếp của lãnh đạo ví dụ như đưa ra những lời chỉ trích đối với cấp dưới trước mặt những người khác, không thấu hiểu,

từ chối lắng nghe ý kiến của họ, cũng như không đưa ra những giải thích hợp lý liên quan đến công việc của họ, điều này sẽ tạo rào cản đối với việc tham gia dự toán ngân sách của nhân viên Qua những lập luận trên, đề tài đề xuất giả thuyết sau:

H1: Phong cách lãnh đạo có tác động dương đến sự tham gia dự toán ngân

sách

3.2.1.2 Mối quan hệ giữa sự không rõ ràng trong công việc và tham gia dự toán ngân sách

Thiết lập mục tiêu, chính sách đánh giá năng lực rõ ràng là công việc cần thiết

để tổ chức có thể tối ưu hóa hiệu suất công việc của các thành viên trong tổ chức Nếu cả tổ chức đều nắm rõ ràng về công việc, mục tiêu, trách nhiệm và kết quả, họ

sẽ cam kết phấn đấu vì mục tiêu đó và hoạt động toàn công ty sẽ trở nên suôn sẻ hơn Ngược lại, nếu mục tiêu mơ hồ, vai trò công việc chồng chéo không rõ ràng, phương pháp đánh giá hiệu suất công việc chưa nhất quán sẽ làm giảm động lực, tinh thần làm việc của nhân viên Họ sẽ không sẵn sàng tham gia các hoạt động đóng góp vào sự phát triển của tổ chức

Từ rất lâu những nghiên cứu sơ khai liên quan đến sự không rõ ràng trong công việc (vai trò mơ hồ) đã được kiểm chứng như Kahn và cộng sự (1964) đã khẳng định rằng vai trò mơ hồ đó là kết quả của quy mô tổ chức và sự phức tạp vượt quá sự hiểu biết của từng cá nhân, sự tăng trưởng nhanh chóng của tổ chức

Trang 40

thường kèm theo sự tái tổ chức thường xuyên, đổi mới liên tục về công nghệ và do

đó đòi hỏi sự thay đổi liên quan đến cấu trúc xã hội, gây rối loạn sự phụ thuộc lẫn nhau, thay đổi môi trường của tổ chức, đặt ra những yêu cầu mới cho các thành viên, và triết lý quản lý mới làm cản trở sự trao đổi thông tin trong toàn tổ chức Nghiên cứu cho thấy 35 phần trăm mẫu nhân viên quốc gia bị xáo trộn do thiếu thông tin, phạm vi công việc của họ Các cuộc phỏng vấn chỉ ra rằng mức độ mơ hồ cao có liên quan đến căng thẳng gia tăng, lo lắng, sợ hãi và thù địch, giảm sự hài lòng công việc, và mất tự tin, dẫn đến năng suất làm việc thấp hơn Smith (1957), trong một nghiên cứu thực nghiệm với 140 sinh viên đại học đã thay đổi một cách

hệ thống số lượng vai trò mơ hồ và đo lường những ảnh hưởng đối với việc giải quyết vấn đề Kết quả cho thấy: (1) khi các nhóm được yêu cầu giải quyết các vấn

đề mà không làm rõ vai trò của từng thành viên, hiệu quả của họ thấp hơn đáng kể

so với khi vai trò được làm rõ; (2) vai trò mơ hồ rõ ràng làm giảm sự hài lòng của nhóm với kinh nghiệm; và (3) mức độ thù địch cao hơn đáng kể với các nhóm có vai trò mơ hồ so với các nhóm kiểm soát Do đó các nghiên cứu trước đây và các bằng chứng thực nghiệm cho thấy vai trò mơ hồ, như xung đột vai trò, dẫn đến kết quả không mong muốn cho cả thành viên tổ chức

Sự không rõ ràng là một trạng thái tâm lý không mong muốn, diễn ra khi một người bị căng thẳng do thiếu thông tin rõ ràng về cơ cấu hay vai trò của họ trong tổ chức Họ thường xuyên lo lắng về mức độ hài lòng hiệu quả công việc, hay nghi ngờ cách thức những người khác đánh giá về mình (Marginson và Ogden 2005) Vai trò mơ hồ xảy ra khi các yêu cầu công việc gửi đến một cá nhân không đủ rõ ràng về các công việc được yêu cầu thực hiện hoặc hiệu quả mong muốn Sự mơ hồ không chỉ ảnh hưởng đến giai đoạn lập kế hoạch và mà còn bao gồm việc xem xét các phương pháp được thực hiện trong việc đánh giá hiệu suất công việc (Chenhall

và Brownell 1988) Kahn và cộng sự (1964) đề xuất rằng sự mơ hồ của vai trò có thể bao gồm: (1) nhiệm vụ nào được mong đợi sẽ được thực hiện, (2) làm thế nào các nhiệm vụ sẽ được thực hiện, (3) đánh giá kết quả hoạt động bằng cách nào, và (4) kết quả của việc hoàn thành công việc hay không hoàn thành Khi mức độ không

Ngày đăng: 24/05/2018, 00:02

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Huỳnh Lợi. (2009) Chương 4 : Dự toán ngân sách hoạt động hàng năm. Kế toán quản trị,(31). TPHCM. Nhà xuất bản thống kê :127-163 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kế toán quản trị,(31)
Nhà XB: Nhà xuất bản thống kê :127-163
9. Argyris, C. (1952). "The Impact of Budget on People, Ithaca, NY: The Controllership Foundation." Inc. Cornell University Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Impact of Budget on People, Ithaca, NY: The Controllership Foundation
Tác giả: Argyris, C
Năm: 1952
11. Argyris, C. (1953). "Human problems with budgets." Harvard Business Review 31(1): 97-110 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Human problems with budgets
Tác giả: Argyris, C
Năm: 1953
12. Barefield, R. M. (1972). "The effect of aggregation on decision making success: a laboratory study." Journal of Accounting Research 10(2): 229-242 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The effect of aggregation on decision making success: a laboratory study
Tác giả: Barefield, R. M
Năm: 1972
16. Blumberg, M. and C. D. Pringle (1982). "The missing opportunity in organizational research: Some implications for a theory of work performance."Academy of management Review 7(4): 560-569 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The missing opportunity in organizational research: Some implications for a theory of work performance
Tác giả: Blumberg, M. and C. D. Pringle
Năm: 1982
18. Brownell, P. (1983). "Leadership style, budgetary participation and managerial behavior." Accounting, Organizations and Society 8(4): 307-321 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Leadership style, budgetary participation and managerial behavior
Tác giả: Brownell, P
Năm: 1983
19. Brownell, P. and M. McInnes (1986). "Budgetary participation, motivation, and managerial performance." Accounting review 61(4): 587-600 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Budgetary participation, motivation, and managerial performance
Tác giả: Brownell, P. and M. McInnes
Năm: 1986
20. Burns, J. M. (1978). "Leadership New York." NY: Harper and Row Publishers Sách, tạp chí
Tiêu đề: Leadership New York
Tác giả: Burns, J. M
Năm: 1978
21. Campbell, D. J. and K. F. Gingrich (1986). "The interactive effects of task complexity and participation on task performance: A field experiment."Organizational Behavior and Human Decision Processes 38(2): 162-180 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The interactive effects of task complexity and participation on task performance: A field experiment
Tác giả: Campbell, D. J. and K. F. Gingrich
Năm: 1986
22. Chenhall, R. H. and P. Brownell (1988). "The effect of participative budgeting on job satisfaction and performance: Role ambiguity as an intervening variable."Accounting, Organizations and Society 13(3): 225-233 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The effect of participative budgeting on job satisfaction and performance: Role ambiguity as an intervening variable
Tác giả: Chenhall, R. H. and P. Brownell
Năm: 1988
23. Chong, V. K. and K. M. Chong (2002). "Budget goal commitment and informational effects of budget participation on performance: A structural equation modeling approach." Behavioral Research in Accounting 14(1): 65-86 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Budget goal commitment and informational effects of budget participation on performance: A structural equation modeling approach
Tác giả: Chong, V. K. and K. M. Chong
Năm: 2002
24. Chong, V. K. and D. M. Johnson (2007). "Testing a model of the antecedents and consequences of budgetary participation on job performance." Accounting and Business Research 37(1): 3-19 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Testing a model of the antecedents and consequences of budgetary participation on job performance
Tác giả: Chong, V. K. and D. M. Johnson
Năm: 2007
26. Conger, J. A. and R. N. Kanungo (1987). "Toward a behavioral theory of charismatic leadership in organizational settings." Academy of management Review 12(4): 637-647 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toward a behavioral theory of charismatic leadership in organizational settings
Tác giả: Conger, J. A. and R. N. Kanungo
Năm: 1987
27. Derfuss, K. (2016). "Reconsidering the participative budgeting–performance relation: A meta-analysis regarding the impact of level of analysis, sample selection, measurement, and industry influences." The British Accounting Review 48(1): 17-37 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Reconsidering the participative budgeting–performance relation: A meta-analysis regarding the impact of level of analysis, sample selection, measurement, and industry influences
Tác giả: Derfuss, K
Năm: 2016
28. Earley, P. C. and R. Kanfer (1985). "The influence of component participation and role models on goal acceptance, goal satisfaction, and performance."Organizational Behavior and Human Decision Processes 36(3): 378-390 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The influence of component participation and role models on goal acceptance, goal satisfaction, and performance
Tác giả: Earley, P. C. and R. Kanfer
Năm: 1985
30. Greenberg, J., et al. (1991). "Establishing fairness in the eye of the beholder: Managing impressions of organizational justice." 135: 111-132 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Establishing fairness in the eye of the beholder: Managing impressions of organizational justice
Tác giả: Greenberg, J., et al
Năm: 1991
31. Greenberg, P. S., et al. (1994). "Participative budgeting: a meta-analytic examination of methodological moderators." Journal of Accounting Literature 13: 117 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Participative budgeting: a meta-analytic examination of methodological moderators
Tác giả: Greenberg, P. S., et al
Năm: 1994
32. Gregoire, M. B. and S. W. Arendt (2014). "Leadership: Reflections over the past 100 years." Journal of the Academy of Nutrition and Dietetics 114(5): S10-S19 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Leadership: Reflections over the past 100 years
Tác giả: Gregoire, M. B. and S. W. Arendt
Năm: 2014
33. Hamner, W. C. and H. L. Tosi (1974). "Relationship of role conflict and role ambiguity to job involvement measures." Journal of Applied Psychology 59(4): 497 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Relationship of role conflict and role ambiguity to job involvement measures
Tác giả: Hamner, W. C. and H. L. Tosi
Năm: 1974
34. Hassel, L. G. and G. M. Cunningham (1993). "Budget effectiveness in multinational companies: An empirical examination of environmental interaction on cognitive and affective effects of two dimensions of budgetary participation." Scandinavian Journal of Management 9(4): 299-318 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Budget effectiveness in multinational companies: An empirical examination of environmental interaction on cognitive and affective effects of two dimensions of budgetary participation
Tác giả: Hassel, L. G. and G. M. Cunningham
Năm: 1993

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm