1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vấn đề pháp lý về hoạt động cho vay trong lĩnh vực ngân hàng của pháp luật việt nam

39 151 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 39
Dung lượng 66,99 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤC PHẦN MỞ ĐẦU 3 1. Lý do chọn đề tài 3 2. Tình hình nghiên cứu 3 3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 4 4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 4 5. Phương pháp nghiên cứu 4 6. Bố cục đề tài 5 CHƯƠNG 1. NHỮNG LÝ LUẬN CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THEO PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH 6 1.1. Các khái niệm chung liên quan đến hoạt động cho vay 6 1.1.1. Các khái niệm 6 1.1.2. Vai trò của tín dụng 6 1.1.3. Phân loại tín dụng 6 1.2. Những vấn đề chung về hoạt động cho vay của ngân hàng 7 1.2.1. Khái niệm ngân hàng 7 1.2.2. Khái niệm hoạt động ngân hàng 8 1.2.3. Các dịch vụ truyền thông của ngân hàng 9 1.2.4. Những dịch vụ của ngân hàng 12 1.3. Khái niệm về cho vay của ngân hàng 16 1.4. Nguyên tắc cho vay của ngân hàng 18 1.5. Vai trò của hoạt động cho vay trong nền kinh tế 19 CHƯƠNG 2. QUY ĐỊNH VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY TRONG HỆ THỐNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY 21 2.1. Chủ thể của hợp đồng tín dụng 21 2.2. Các hình thức cho vay 22 2.3. Các quy định về điều kiện cho vay 26 2.4. Các trường hợp hạn chế cho vay 27 2.5. Xử lý vi phạm liên quan đến hoạt động cho vay 28 2.6. Những kết quả đạt được và hạn chế về hoạt động cho vay của ngân hàng ở Việt Nam 31 2.7. Một số giải pháp hoàn thiện 35 PHẦN KẾT LUẬN 37 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 38

Trang 1

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 3

1 Lý do chọn đề tài 3

2 Tình hình nghiên cứu 3

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 4

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 4

5 Phương pháp nghiên cứu 4

6 Bố cục đề tài 5

CHƯƠNG 1 NHỮNG LÝ LUẬN CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THEO PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH 6

1.1 Các khái niệm chung liên quan đến hoạt động cho vay 6

1.1.1 Các khái niệm 6

1.1.2 Vai trò của tín dụng 6

1.1.3 Phân loại tín dụng 6

1.2 Những vấn đề chung về hoạt động cho vay của ngân hàng 7

1.2.1 Khái niệm ngân hàng 7

1.2.2 Khái niệm hoạt động ngân hàng 8

1.2.3 Các dịch vụ truyền thông của ngân hàng 9

1.2.4 Những dịch vụ của ngân hàng 12

1.3 Khái niệm về cho vay của ngân hàng 16

1.4 Nguyên tắc cho vay của ngân hàng 18

1.5 Vai trò của hoạt động cho vay trong nền kinh tế 19

CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY TRONG HỆ THỐNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY 21

2.1 Chủ thể của hợp đồng tín dụng 21

2.2 Các hình thức cho vay 22

2.3 Các quy định về điều kiện cho vay 26

2.4 Các trường hợp hạn chế cho vay 27

Trang 2

2.5 Xử lý vi phạm liên quan đến hoạt động cho vay 28

2.6 Những kết quả đạt được và hạn chế về hoạt động cho vay của ngân hàng ở Việt Nam 31

2.7 Một số giải pháp hoàn thiện 35

PHẦN KẾT LUẬN 37

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 38

Trang 3

PH N M Đ U ẦN MỞ ĐẦU Ở ĐẦU ẦN MỞ ĐẦU

Tín dụng nói chung, tín dụng ngân hàng nói riêng ra đời có ý nghĩa cực kỳquan trọng đối với nền kinh tế Nó góp phần thúc đẩy quá trình luân chuyển vổntrong nền kinh tế, giải quyết mâu thuẫn vốn có của quá trình tái sản xuất xã hội,trong thực tế cùng một lúc có những chủ thể thừa vốn, cũng có những chủ thểthiếu vốn cần có vốn để đáp ứng những khoản chi tiêu kinh doanh của mình.Tình trạng này nếu không được giải quyết nhanh thì nó sẽ làm cho quá trình sảnxuất bị ngưng trệ, nền kinh tế kém phát triển Ngày nay trong thời kỳ Côngnghiệp hoá, Hiện đại hoá đất nước, tín dụng dường như đã đáp ứng được nhữngnhu cầu bức xúc về vốn đó

Hiện nay, nhu cầu vay vốn của khách hàng ở Việt Nam nói chung và cáctỉnh nói riêng ngày càng cao Các ngân hàng tại Việt Nam luôn phải nâng caohiệu quả hoạt động tín dụng của mình bằng cách mở rộng, đẩy mạnh phươngthức huy động vốn để cho vay, đáp ứng nhu cầu vốn của khách hàng, phát hiệnđược những rủi ro có thể xảy ra Từ đó đưa ra giải pháp hạn chế các khoản nợ

quá hạn, khoản nợ xấu của ngân hàng Chính vì vậy, tác giả chọn vấn đề “Vấn

đề pháp lý về hoạt động cho vay trong lĩnh vực ngân hàng của pháp luật Việt Nam” làm đề tài tiểu luận tốt nghiệp cử nhân Luật của mình.

Trang 4

hàng (số 18/2009); “Tội lạm dụng chiếm đoạt tài sản trong hoạt động cho vay của ngân hàng” Luật sư Phan Văn Lãng- Nguồn: Tạp chí Ngân hàng tháng 12/2009 Trên thực tế chưa có công trình cụ thể nào nghiên cứu sâu về “Vấn đề pháp lý về hoạt động cho vay trong lĩnh vực ngân hàng của pháp luật Việt Nam” Chính vì lẽ đó, tác giả nghiên cứu đề tài “Vấn đề pháp lý về hoạt động cho vay trong lĩnh vực ngân hàng của pháp luật Việt Nam” để phân tích rõ hơn

về vấn đề này

3 M c đích, nhi m v nghiên c u ục đích, nhiệm vụ nghiên cứu ệm vụ nghiên cứu ục đích, nhiệm vụ nghiên cứu ứu

- Mục đích nghiên cứu đề tài: Tìm hiểu một cách tổng thể pháp luật hiệnhành về hoạt động cho vay trong lĩnh vực ngân hàng của pháp luật Việt Nam

- Nhiệm vụ nghiên cứu đề tài:

+ Làm rõ các quy định của pháp luật hiện hành về hoạt động cho vay củangân hàng theo pháp luật Việt Nam

+ Thực trạng hoạt động cho vay của các ngân hàng tại Việt Nam

+ Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động cho vay củacác ngân hàng tại Việt Nam

4 Đ i t ối tượng, phạm vi nghiên cứu ượng, phạm vi nghiên cứu ng, ph m vi nghiên c u ạm vi nghiên cứu ứu

- Đối tượng nghiên cứu: Các quy định của pháp luật về hoạt động cho vaytrong lĩnh vực ngân hàng theo pháp luật hiện hành

- Phạm vi nghiên cứu: Tập trung nghiên cứu những vấn đề có liên quan đếnhoạt động cho vay như cho vay, thu nợ, dư nợ, nợ quá hạn, và các khách hàngvay vốn tại ngân hàng

5 Ph ương pháp nghiên cứu ng pháp nghiên c u ứu

Để thực hiện đề tài này người viết đã thực hiện các phương pháp :

+ Tổng hợp: Các quy định về hoạt động cho vay trong lĩnh vực ngân hàngtheo pháp luật hiện hành

+ Phân tích: Các quy định về hoạt động cho vay một cách cụ thể

Trong quá trình nghiên cứu các phương pháp này được vận dụng một cáchlinh hoạt và đan xen lẫn nhau để tạo ra kết quả nghiên cứu

Trang 5

6 B c c đ tài ối tượng, phạm vi nghiên cứu ục đích, nhiệm vụ nghiên cứu ề

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo Tiểuluận gồm có 2 chương:

Chương 1 Những lý luận chung về hoạt động cho vay của ngân hàng theopháp luật hiện hành

Chương 2 Quy định về hoạt động cho vay trong hệ thống pháp luật ViệtNam hiện nay

Trang 6

CH ƯƠNG 1 NHỮNG LÝ LUẬN CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NG 1 NH NG LÝ LU N CHUNG V HO T Đ NG CHO VAY C A ỮNG LÝ LUẬN CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA ẬN CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA Ề HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA ẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA ỘNG CHO VAY CỦA ỦA

NGÂN HÀNG THEO PHÁP LU T HI N HÀNH ẬN CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA ỆN HÀNH 1.1 Các khái ni m chung liên quan đ n ho t đ ng cho vay ệm vụ nghiên cứu ến hoạt động cho vay ạm vi nghiên cứu ộng cho vay

1.1.1 Các khái ni m ệm

- Cấp tín dụng của ngân hàng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác 1

- Tín dụng ngân hàng là quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từngân hàng cho khách hàng trong một thời hạn nhất định với một khoản chi phínhất định

- Cũng như quan hệ tín dụng khác, tín dụng ngân hàng gồm 3 nội dung sau:+ Có sự chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ người sở hữu cho người sửdụng

+ Sự chuyển nhượng này mang tính chất tạm thời hay có thời hạn

+ Sự chuyển nhượng này có kèm theo chi phí

1.1.2 Vai trò c a ủa tín d ng ụng

- Góp phần thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung vốn

- Là công cụ thúc đẩy và nâng cao hiệu quả sản xuất, lưu thông hàng hóa vàtiêu dùng

- Là công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế và góp phần thực hiện chính sách

xã hội

1.1.3 Phân lo i tín d ng ại tín dụng ụng

* Dựa vào mục đích cho vay

Theo tiêu chí này, tín dụng ngân hàng có thể chia thành các loại sau:

- Cho vay mục đích sản xuất kinh doanh công thương nghiệp;

- Cho vay tiêu dùng cá nhân;

Trang 7

- Cho vay bất động sản;

- Cho vay sản xuất nông nghiệp;

- Cho vay kinh doanh xuất; nhập khẩu

* Dựa vào thời hạn cho vay

Theo tiêu chí này, tín dụng ngân hàng có thể chia thành các loại sau:

- Cho vay ngắn hạn: Là loại cho vay có thời hạn đến 1 năm Mục đích củaloại cho vay thường là nhằm tài trợ cho việc đầu tư vào tài sản lưu động;

- Cho vay trung hạn: Là loại cho vay có thời hạn từ trên 1 năm đến 5 năm.Mục đích của loại cho vay này là nhằm tài trợ cho việc đầu tư vào tài sản cốđịnh

- Cho vay dài hạn: Là loại cho vay có thời hạn trên 5 năm Mục đích củaloại cho vay này thường là nhằm tài trợ đầu tư vào các dự án

* Dựa vào mức độ tín nhiệm của khách hàng:

Theo tiêu chí này, tín dụng ngân hàng được chia thành các loại sau:

- Cho vay không có bảo đảm: Là loại cho vay không có tài sản thế chấp,cầm cố hoặc bảo lãnh của người khác mà chỉ dựa vào uy tín của bản thân kháchhàng vay vốn để quyết định cho vay

- Cho vay có bảo đảm: Là loại cho vay dựa trên cơ sở các bảo đảm tiền vaynhư thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh của một bên thứ ba nào khác

1.2 Nh ng v n đ chung v ho t đ ng cho vay c a ngân hàng ững vấn đề chung về hoạt động cho vay của ngân hàng ấn đề chung về hoạt động cho vay của ngân hàng ề ề ạm vi nghiên cứu ộng cho vay ủa ngân hàng

1.2.1 Khái ni m ngân hàng ệm

Ngân hàng là một tổ chức tài chính và trung gian tài chính chấp nhận tiền gửi và định kênh những tiền gửi đó vào các hoạt động cho vay, trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua các thị trường vốn Ngân hàng là kết nối giữa khách hàng

có thâm hụt vốn và khách hàng có thặng dư vốn Thông qua hoạt động nhận gửi, cho vay, và đầu tư các ngân hàng có khả năng “tạo tiền” Sự thay đổi trong khối lượng tiền tệ do ngân hàng tạo ra liên quan chặt chẽ tới tình hình kinh tế, đặc biệt là mức tăng trưởng của việc làm, tình trạng lạm phát, từ đó mà ảnh hưởng tới các mục tiêu kinh tế vĩ mô Đây là một trong những lý do khiến hoạt

Trang 8

động của ngân hàng luôn được đặt dưới một hệ thống các quy định chặt chẽ của Nhà nước nhằm tăng cường hoạt động quản lý, kiểm tra, kiểm soát hoạt động ngân hàng, đồng thời hướngdẫn hoạt động ngân hàng theo hướng có lợi cho nền kinh tế Chính vì có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế nên việc định nghĩa ngân hàng là cần thiết 2

Theo quy định tại khoản 2 điều 4 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010,ngân hàng được hiểu là loại hình tổ chức tín dụng có thể được thực hiện tất cảcác hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này Theo tính chất và mục tiêuhoạt động, các loại hình ngân hàng bao gồm ngân hàng thương mại, ngân hàngchính sách, ngân hàng hợp tác xã

Ngân hàng là 1 loại hình tổ chức có vai trò quan trọng đối với nền kinh tếnói chung và đối với từng cộng đồng địa phương nói riêng Các ngân hàng cóthể được định nghĩa qua chức năng (các dịch vụ) mà chúng thực hiện trong nềnkinh tế Vấn đề là ở chỗ không chỉ chức năng của các ngân hàng đang thay đổi

mà chức năng của các đối thủ cạnh tranh chính sách của ngân hàng cũng khôngngừng thay đổi Thực tế là, rất nhiều tổ chức tài chính – bao gồm cả các công tykinh doanh chứng khoán, công ty môi giới chứng khoán, quĩ tương hỗ và công

ty bảo hiểm hàng đầu đều đang cố gắng cung cấp các dịch vụ của ngân hàng.Ngược lại, ngân hàng cũng đối phó với các đối thủ cạnh tranh (các tổ chức tàichính phi ngân hàng) bằng cách mở rộng phạm vi cung cấp dịch vụ, hướng vềlĩnh vực bất động sản và môi giới chứng khoán, tham gia hoạt động bảo hiểm,đầu tư vào quỹ tương hỗ và thực hiện nhiều dịch vụ mới khác

Ngân hàng là loại hình tổ chức tài chính cung cấp một danh mục và dịch vụtài chính đa hạng nhất, đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán vàthực hiện nhiều chức nằng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanhnào trong nền kinh tế Sự đa hạng trong các dịch vụ và chức năng của ngân hàngdẫn đến việc chúng được gọi là các “Bách hóa tài chính”

xã hội, Trường đại học mở Thành phố Hồ Chí Minh, tr.18

Trang 9

1.2.2 Khái ni m ho t đ ng ngân hàng ệm ại tín dụng ộng ngân hàng

Ở Việt Nam, khái niệm hoạt động ngân hàng được dùng để chỉ các hoạtđộng kinh doanh tiền tệ và làm dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên lànhận tiền gửi và sử dụng số tiền gửi này để cấp tín dụng, cung ứng các dịch vụthanh toán Theo đó, ngân hàng được ghi nhận là loại hình tổ chức tín dụngđược thực hiện các hoạt động ngân hàng và những hoạt động kinh doanh khác

có liên quan đến hoạt động ngân hàng

Theo quy định tại khoản 1 Điều 6 Luật ngân hàng Nhà nước Việt Nam

2010 thì hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh cung ứng thường xuyên mộthoặc một số nghiệp vụ như nhận tiền gửi, cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanhtoán qua tài khoản

Từ định nghĩa trên, hoạt động ngân hàng bao gồm các đặc điểm sau:

+ Hoạt động ngân hàng lấy tiền tệ làm đối tượng kinh doanh trực tiếp.+ Hoạt động ngân hàng chỉ do các tổ chức tín dụng thực hiện

+ Chủ thể quản lý nhà nước là ngân hàng nhà nước

+Hoạt động ngân hàng được điều chỉnh bằng Luật Ngân hàng

+ Hoạt động ngân hàng là một hoạt động kinh doanh đặc thù, tính đặc thùthể hiện ở chỗ rủi ro cao, khó quản lý, khó giảm sát

1.2.3 Các d ch v truy n thông c a ngân hàng ịch vụ truyền thông của ngân hàng ụng ền thông của ngân hàng ủa

- Thực hiện trao đổi ngoại tệ Lịch sử cho thấy rằng một trong những dịch

vụ ngân hàng đầu tiên được thực hiện là trao đổi ngoại tệ – một nhà ngân hàngđứng ra mua, bán một loại tiền này, chẳng hạn USD lấy một lại tiền khác, chẳnghạn Franc hay Pesos và hưởng phí dịch vụ Sự trao đổi đó là rất quan trọng đốivới khách du lịch vì họ sẽ cảm thấy thuận tiện và thoải mái hơn khi có trong tayđồng bản tệ của quốc gia hay thành phố họ đến Trong thị trường tài chính ngàynay, mua bán ngoại tệ thường chỉ do các ngân hàng lớn nhất thực hiện bởi vìnhững giao dịch như vậy có mức độ rủi ro cao, đồng thời yêu cầu phải có trình

độ chuyên môn cao

Trang 10

- Chiết khấu thương phiếu và cho vay thương mại Ngay ở thời kỳ đầu, cácngân hàng đã chiết khấu thương phiếu mà thực tế là cho vay đối với các doanhnhân địa phương những người bán các khoản nợ (khoản phải thu) của kháchhàng cho ngân hàng để lấy tiền mặt Đó là bược chuyển tiếp từ chiết thươngphiếu sang cho vay trực tiếp đối với các khách hàng, giúp họ có vốn để muahàng dự trữ hoặc xây dựng văn phòng và thiết bị sản xuất.

- Nhận tiền gửi: Cho vay được coi là hoạt động sinh lời cao, do đó các ngânhàng đã tìm kiếm mọi cách để huy động nguồn vốn cho vay Một trong nhữngnguồn vốn quan trọng là các khoản tiền gửi tiết kiệm gửi tiết kiệm của kháchhàng – một quỹ sinhlợi được gửi tại ngân hàng trong khoảng thời gian nhiềutuần, nhiều tháng, nhiều năm, đôi khi được hưởng mức lãi suất tương đối cao.Trong lịch sử đã có những kỷ lục về lãi suất, chẳng hạn các ngân hàng Hy Lạp

đã trả lãi suất 16% một năm để thu hút các khoản tiết kiệm nhằm mục đích chovay đối với các chủ tàu ở Địa Trung Hải với lãi suất gấp đôi hay gấp ba lãi suấttiết kiệm

- Bảo quản vật có giá trị: Ngay từ thời Trung Cổ, các ngân hàng đã bắt đầuthực hiện việc lưu giữ vàng và các vật có giá khác cho khách hàng trong kho bảoquản Một điều hấp hẫn là các giấy chứng nhận do ngân hàng ký phát cho kháchhàng (ghi nhận về các tài sản đang được lưu giữ) có thể được lưu hành như tiền– đó là hình thức đầu tiên của séc và thẻ tín dụng Ngày nay, nghiệp vụ bảo quảnvật có giá trị cho khách hàng thường do phòng “Bảo quản” của ngân hàng thựchiện

- Tài trợ các hoạt động của Chính phủ Trong thời kỳ Trung Cổ và vàonhững năm đầu cách mạng Công nghiệp, khả năng huy động và cho vay vớikhối lượng lớn của ngân hàng đã trở thành trọng tâm chú ý của các Chính phủ

Âu – Mỹ Thông thường, ngân hàng đượccấp giấy phép thành lập với điều kiện

là họ phải mua trái phiếu Chính phủ theo một tỷ lệ nhất định trên tổng lượng tiềngửi mà ngân hàng huy động được Các ngân hàng đã cam kết cho Chính phủ Mỹvay trong thời kỳ chiến tranh Ngân hàng Bank of North America được Quốc

Trang 11

hội cho phép thành lập năm 1781, ngân hàng này được thành lập để tài trợ chocuộc đấu tranh xóa bỏ sự đô hộ của nước Anh và đưa Mỹ trở thành quốc gia cóchủ quyền Cũng như vậy, trong thời kỳ nội chiến, Quốc hội đã lập ra một hệthống ngân hàng liên bang mới, chấp nhận các ngân hàng quốc gia ở mọi tiểubang miễn là các ngân hàng này phải lập Quỹ phục vụ chiến tranh.

- Cung cấp các tìa khoản giao dịch Cuộc cách mạng công nghiệp ở Châu

Âu và Châu Mỹ đã đánh dấu sự ra đời những hoạt động và dịch vụ ngân hàngmới Một dịch vụ mới, quan trong nhất được phát triển trong thời kỳ này là tàikhoản tiền gửi giao dịch (demand deposit) – một tài khoản tiền gửi cho phépngười gửi tiền viết séc thanh toán cho việc mua hàng hóa và dịch vụ Việc đưa

ra loại tài khỏan tiền gửi mới này được xem là một trong những bước đi quantrọng nhất trong công nghiệp ngân hàng bởi vì nó cải thiện đáng kể hiệu quả củaquá trình thanh toán, làm cho các giao dịch kinh doanh trở nên dễ dàng hơn,nhanh chóng hơn và an toàn hơn

- Cung cấp dịch vụ ủy thác Từ nhiều năm nay, các ngân hàng đã thực hiệnviệc quản lý tài sản và quản lý hoạt động tài chính cho cá nhân và doanh nghiệpthương mại Theo đó ngân hàng sẽ thu phí trên cơ sở giá trị của tài sản hay quy

mô họ quản lý Chức năng quản lý tài sản này được gọi là dịch vụ ủy thác (trustservice) Hầu hết các ngân hàng đều cung cấp cả hai loại: dịch vụ ủy thác thôngthường cho cá nhân, hộ gia đình; và ủy thác thương mại cho các doanh nghiệp.Thông qua phòng Ủy thác cá nhân, các khách hàng có thể tiết kiệm cáckhoản tiền để cho con đi học Ngân hàng sẽ quản lý và đầu tư khỏan tiền đó chođến khi khách hàng cần Thậm chí phổ biến hơn, các ngân hàng đóng vai trò làngười được ủy thác trong di chúc quản lý tài sản cho khách hàng đã qua đờibằng cách công bố tài sản, bảo quản các tài sản có giá, đầu tư có hiệu quả, vàđảm bảo cho người thừa kế hợp pháp việc nhận được khoản thừa kế Trongphòng ủy thác thương mại, ngân hàng quản lý danh mục đầu tư chứng khoán

và kế hoạch tiền lương cho các công ty kinh doanh Ngân hàng đóng vai trò nhưnhững người đại lý cho các công ty trong hoạt động phát hành cổ phiếu, trái

Trang 12

phiếu Điều này đòi hỏi phòng ủy thác trả lãi hoặc cổ tức cho chứng khoán củacông ty, thu hồi các chứng khoán khi đến hạn bằng cách thanh toán toàn bộ chongười nắm giữ chứng khoán.

1.2.4 Nh ng d ch v c a ngân hàng ững dịch vụ của ngân hàng ịch vụ truyền thông của ngân hàng ụng ủa

Những dịch vụ của ngân hàng phát triển gần đây bao gồm:

- Cho vay tiêu dùng Trong lịch sử, hầu hết các ngân hàng không tích cựccho vay đối với cá nhân và hộ gia đình bởi vì họ tin rằng các khoản cho vay tiêudùng nói chung có quy mô rất nhỏ với rủi ro vỡ nợ tương đối cao và do đó làmcho chúng trở nên có mức sinh lời thấp Đầu thế ký này, các ngân hàng bắt đầudựa nhiều hơn vào tiền gửi của khách hàng để tài trợ cho những món vay thươngmại lớn Và rồi sự cạnh tranh khốc liệt trong việc giành giật tiền gửi và cho vay

đã buộc các ngân hàng phải hướng tới người tiêu dùng như là một khách hàngtrung thành tiềm năng Cho tới những năm 1920 và 1930, nhiều ngân hàng lớn

do Citicorp và Bank of America dẫn đầu đã thành lập những phòng tín dụng tiêudùng lớn mạnh Sau chiến tranh thế giới thứ hai, tín dụng tiêu dùng đã trở thànhmột trong những loại hình tín dụng có mức tăng trưởng nhanh nhất Mặc dầuvậy, tốc độ tăng trưởng này gần đây đã chậm lại do cạnh tranh về tín dụng tiêudùng ngày càng trở nên gay gắt trong khi nền kinh tế đã phát triển chậm lại Tuynhiên, người tiêu dùng vẫn tiếp tục là nguồn vốn chủ yếu của ngân hàng và tạo

ra một trong số những nguồn thu quan trọng nhất

- Tư vấn tài chính: Các ngân hàng từ lâu đã được khách hàng yêu cầu thựchiện hoạt động tư vấn tài chính, đặc biệt là về tiết kiệm và đầu tư Ngân hàngngày nay cung cấp nhiều dịch vụ tư vấn tài chính đa dạng, từ chuẩn bị về thuế và

kế hoạch tài chính cho các cá nhân đến tư nhân về các cơ hội thị trường trongnước và ngoài nước cho các khách hàng kinh doanh của họ

- Quản lý tiền mặt Qua nhiều năm, các ngân hàng đã phát hiện ra rằng một

số dịch vụ mà họ làm cho bản thân mình cũng có ích đối với các khách hàng.Một trong những ví dụ nổi bật nhất là dịch vụ quản lý tiền mặt, trong đó ngânhàng đồng ý quản lý việc thu và chi cho một công ty kinh doanh và tiến hành

Trang 13

đầu tư phần thặng dư tiền mặt tạm thời vào các chứng khoản sinh lợi và tín dụngngắn hạn cho đến khi khách hàng cần tiền mặt để thanh toán.

Trong khi các ngân hàng có khuynh hướng chuyên môn hóa vào dịch vụquản lý tiền mặt cho các tổ chức, hiện nay có một xu hường đang gia tăng vềviệc cung cấp các dịch vụ tương tự cho người tiêu dùng Sở dĩ khuynh hướngnày đang lan rộng là do các công ty môi giới chứng khoán, các tập đoàn tàichính khác cũng cấp cho người tiêu dùng tài khoản môi giới với hàng loạt dịch

vụ tài chính liên quan Một ví dụ là tài khoản quản lý tièn mặt của MerrillLynch, cho phép khách hàng của nó mua và bán chứng khoán, di chuyển vốntrong nhiều quĩ tương hỗ, viết séc, và sử dụng thẻ tín dụng cho khoản vay tứcthời

- Dịch vụ thuê mua thiết bị Rất nhiều ngân hàng tích cực cho khách hàngkinh doanh quyền lựa chọn mua các thiết bị, máy móc cần thiết thông qua hợpđồng thuê mua, trong đó ngân hàng mua thiết bị và cho khách hàng thuê Banđầu các qui định yêu cầu khách hàng sử dụng dịch vụ thuê mua thiết bị phải trảtiền thuê (mà cuối cùng sẽ đủ để trang trải chi phí mua thiết bị) đồng thời phảichịu chi phí sửa chữa và thuế Năm 1987, quốc hội Mỹ đã bỏ phiếu cho phépngân hàng quốc gia sở hữu ít nhất một số tài sản cho thuê sau khi hợp đồng thuêmua đã hết hạn Điều đó có lợi cho các ngân hàng cũng như khách hàng bởi vìbới tư cách là một người chủ thực sự của tài sản cho thuê, ngân hàng có thể khấuhao chúng nhằm làm tăng lợi ích về thuế

- Cho vay tài trợ dự án Các ngân hàng ngày càng trở nên năng động trongviệc tài trợ cho chi phí xây dựng nhà máy mới đặc biệt là trong các ngành côngnghệ cao Do rủi ro trong loại hình tín dùng này nói chung là cao nên chúngthường được thực hiện qua một công ty đầu tư, là thành viên của công sở hữungân hàng, cùng với sự tham gia của các nhà thầu, là thành viên của công ty sởhữu ngân hàng, cùng với sự tham gia của các nhà đầu tư khác để chia sẻ rủi ro.Những ví dụ nổi bật về loại hình công ty đầu tư này là Bankers Trust VentureCapital anh Citicorp Venture, Inc

Trang 14

- Bán các dịch vụ bảo hiểm Từ nhiều năm nay, các ngân hàng đã bán bảohiểm tín dụng cho khách hàng, điều đó bảo đảm việc hòan trả trong trường hợpkhách hàng vay vốn bị chết hay bị tàn phế Trong khi các quy định ở Mỹ cấmngân hàng thương mại trực tiếp bán các dịch vụ bảo hiểm, nhiều ngân hàng hivọng có thể đưa ra các hợp đồng bảo hiểm cá nhân thông thường và hợp đồngbảo hiểm tổn thất tài sản như ôtô hay nhà cửa trong tương lai Hiện nay, ngânhàng thường bảo hiểm cho khách hàng thông qua các liên doanh hoặc các thỏathuận đại lý kinh doanh độc quyền theo đó một công ty bảo hiểm đồng ý đặt mộtvăn phòng đại lý tại hành lang của ngân hàng và ngân hàng sẽ nhận một phầnthu nhập từ các dịch vụ ở đó Một số bang như Delawake và South Dakota đãcho phép ngân hàng cung cấp các dịch vụ bảo hiểm được quy định trên toànquốc Những ngân hàng hoạt động trên toàn quốc nếu được phép sẽ có thể cungcấp các dịchvụ về bảo hiểm thông qua các chi nhánh riêng biệt, những quy môđầu tư của nó chỉ được giới hạn ở mực 10% tổng số vốn chủ sở hữu Gần đây,Citicorp đã thông báo kế hoạch sáp nhập với công ty bảo hiểm Travelers tromgmột số nỗ lực nhằm đưa ra các dịch vụ bảo hiêm đa dạng hơn.

- Cung cấp các kế hoạch hưu trí: Phòng ủy thác ngân hàng rất năng độngtrong việc quản lý kế hoạch hưu trí mà hầu hết các doanh nghiệp lập cho ngườilao động, đầu tư vốn và phát lương hưu cho những người đã nghỉ hưu hoặc tànphế Ngân hàng cũng bán các kế hoạch tiền gửi hưu trí (được biết như IRAS vàKeogle) cho các cá nhân và giữ nguồn tiền gửi cho đến khi người sở hữu các kếhoạch này cần đến

- Cung cấp các dịch vụ môi giới đầu tư chứng khoán Trên thị trường tàichính hiện nay, nhiều ngân hàng đang phấn đấu để trở thành một “bách hóa tàichính” thực sự, cung cấp đủ các dịch vụ tài chính cho phép khách hàng thỏa mãnmọi nhu cầu tại một địa điểm Đây là một trong những lý do chính khiến cácngân hàng bắt đầu bán các dịch vụ môi giới chứng khoán, cung cấp cho kháchhàng cơ hội mua cổ phiếu, trái phiếu và các chứng khoán khác mà không phảinhờ đến người kinh doanh chứng khoán Trong một vài trường hợp, các ngân

Trang 15

hàng mua lại một công ty môi giới đang hoạt động (ví dụ Bank of America muaRobertson Stephens Co.) hoặc thành lập các liên doanh với một công ty môigiới.

- Cung cấp dịch vụ quỹ tương hỗ và trợ cấp Do ngân hàng cung cấp các tàikhoản tiền gửi truyền thống với lãi suất quá thấp, nhiều khách hàng đã hướng tớiviệc sử dụng cái gọi là sản phẩm đầu tư (investment products) đặc biệt là các tàikhoản của quỹ tương hỗ và hợp đồng trợ cấp, những loại hình cung cấp triểnvọng thu nhập cao hơn tài khoản tiền gửi dài hạn cam kết thanh toán một khoảntiền mặt hàng năm cho khách hàng bắt đầu từ một ngày nhất định trong tương lai( chẳng hạn ngày nghỉ hưu) Ngược lại, quỹ tương hỗ bao gồm các chương trìnhđầu tư được quản lý một cách chuyên nghiệp nhằm vào việc mua cổ phiếu, tráiphiếu và các chứng khoán phù hợp với mục tiêu của quỹ (ví dụ: Tối đa hóa thunhập hay đạt được sự tăng giá trị vốn) Trong khi quá trình phát triển của các kếhoạch trợ cấp diễn ra khá chậm do những vụ kiện tụng bởi các đối thủ cạnhtranh chống lại sự mở rộng của ngân hàng sang lĩnh vực dịch vụ mới này thìviệc cung cấp cổ phiếu trong quỹ vốn ngân hàng quản lý chiếm 15% tổng giá trịtài sản của quỹ tương hỗ trong những năm 90 Một vài ngân hàng đã tổ chứcnhững chi nhánh đặc biệt để thực hiện nhiệm vụ này (ví dụ: Citicorp’sInvestment Services) hoặc liên doanh với các nhà kinh doanh và môi giới chứngkhoán Gần đây, hoạt động cung cấp nghiệp vụ quỹ tương hỗ của ngân hàng đã

có nhiều giảm sút do mức thu nhập không còn cao như trước, do những qui địnhnghiêm ngắt hơn và đồng thời do sự thay đổi trong quan điểm đầu tư của côngchúng

- Cung cấp dịch vụ ngân hàng đầu tư và ngân hàng bán buôn Ngân hàngngày nay đang theo chân các tổ chức tài chính hàng đầu trong việc cung cấpdịch vụ ngân hàng đầu tư và dịch vụ ngân hàng bán buôn cho các tập đoàn lớn.Những dịch vụ này bao gồm xác định mục tiêu hợp nhất, tài trợ mua lại Công ty,mua bán chứng khoán cho khách hàng (ví dụ: bảo lãnh phát hành chứng khoán),cung cấp công cụ Marketing chiến lược, các dịch vụ hạn chế rủi ro để bảo vệ

Trang 16

khách hàng Các ngân hàng cũng dấn sâu vào thị trường bảo đảm, hỗ trợ cáckhoản nợ do chính phủ và công ty phát hành để những khách hàng này có thểvay vốn với chi phí thấp nhất từ thị trường tự do hay từ các tổ chức cho vaykhác.

Rõ ràng là không phải tất cả mọi ngân hàng đều cung cấp nhiều dịch vụ tàichính như danh mục dịch vụ mà chúng tôi đã miêu tả ở trên, nhưng quả thậtdanh mục dịch vụ ngân hàng đang tăng lên nhanh chóng Nhiều loại hình tíndụng và tài khỏan tiền gửi mới đang được phát triển, các loại dịch vụ mới nhưgiao dịch qua Internet và thẻ thông minh (Smart) đang được mở rộng và cácdịch vụ mới (như bảo hiểm và kinh doanh chứng khoán) được tung ra hàng năm.Nhìn chung, dạnh mục các dịch vụ đầy ấn tượng do ngân hàng cung cấp tạo ra

sự thuận lợi rất lớn hơn cho khách hàng Khách hàng có thể hoàn toàn thỏa mãntất cả các nhu cầu dịch vụ tài chính của mình thông qua một ngân hàng và tạimột địa điểm Thực sự ngân hàng đã trở thành “bách hóa tài chính” ở kỷ nguyênhiện đại, công việc hợp nhất các dịch vụ ngân hàng, bảo hiểm, môi giới chứngkhoán… dưới một mái nhà chính là xu hướng mà người ta thường gọi làUniversal Banking ở Mỹ, Canada và Anh, là Allginanz ở Đức, và làBancassurance ở Pháp

1.3 Khái ni m v cho vay c a ngân hàng ệm vụ nghiên cứu ề ủa ngân hàng

Cho vay là một hiện tượng kinh tế khách quan, xuất hiện trong xã hội loài người có tình trạng tạm thời thừa và tạm thời thiếu vốn Trong pháp luật dân

sự, hiểu theo nghĩa chung nhất, cho vay là việc một người thỏa thuận để cho người khác được sử dụng tài sản của mình trong một thời hạn nhất địnhvới điều kiện có hoàn trả, dựa trên cơ sở sự tín nhiệm của mình với người đó 3

Vậy ta có thể định nghĩa hoạt động cho vay của ngân hàng như sau: Chovay là một trong những hình thức cấp tín dụng của tổ chức tín dụng, theo đó tổchức tín dụng sẽ chuyển giao cho bên vay (khách hàng) một khoản vốn tiền tệ,

Trang 17

bên vay sẽ sử dụng khoản vốn tiền tệ đó trong một khoảng thời gian nhất định,sau đó sẽ hoàn trả cho tổ chức tín dụng cả gốc và lãi theo hoả thuận.

Từ định nghĩa trên, cho vay là một hoạt động của ngân hàng bao gồmnhững đặc điểm sau:

Thứ nhất, về chủ thể bao giờ cũng có hai bên tham gia: Bên cho vay – làngười có tài sản chưa dùng đến, muốn cho người khác sử dụng để thỏa mãn một

số lợi ích của mình và bên vay – là người đang cần sử dụng tài sản đó để thỏamãn nhu cầu của mình (về kinh doanh hoặc vốn)

Thứ hai, hình thức pháp lý của việc cho vay được thể hiện dưới dạng hợpđồng tín dụng tài sản

Thứ ba, sự kiện cho vay phát sinh bởi hai hành vi căn bản là hành vi ứngtrước và hành vi hoàn trả một số tiền (hay tài sản) nhất định là các vật cùng loại.Thứ tư, việc cho vay bao giờ cũng dựa trên sự tín nhiệm giữa người chovay đối với người đi vay về khả năng hoàn trả tiền vay

Bên cạnh những đặc điểm cơ bản trên thì trong khái niệm cho vay của ngânhàng còn thể hiện những dấu hiệu mang tính chất đặc thù như là:

- Một là việc cho vay của ngân hàng là hoạt động nghề nghiệp kinh doanhmang tính chức năng Đây là quy định mang tính chất đặc thù, mang tính chấtnghề nghiệp kinh doanh được pháp luật quy định cho nó những quyền năng cụthế

- Hai là hoạt động cho vay của ngân hàng không chỉ là một nghề kinhdoanh mà hơn nữa còn là một nghề nghiệp kinh doanh có điều kiện Điều nàythể hiện ở chỗ hoạt động cho vay chuyên nghiệp của ngân hàng phải thỏa mãnmột số điều kiện nhất định như phải có vốn pháp định, phải được Ngân hàngNhà nước cấp giấy phép hoạt động ngân hàng trước khi tiến hành việc đăn kíkinh doanh theo luật định

- Ba là ngoài việc tuân thủ quy định chung của pháp luật về hợp đồng, hoạtđộng cho vay của ngân hàng còn chịu sự điều chỉnh, chi phối của các đạo luật vềngân hàng, thậm chí kể các các tập quán thương mại về ngân hàng Đặc điểm

Trang 18

này, bị chi phối bởi tính chất đặc thù trong nghề nghiệp kinh doanh của các tổchức tín dụng như tính rủi ro cao và sự ảnh hưởng mang tính chất dây chuyềnđối với nhiều lợi ích khác trong xã hội.

1.4 Nguyên t c cho vay c a ngân hàng ắc cho vay của ngân hàng ủa ngân hàng

Hoạt động cho vay của ngân hàng được thực hiện theo các nguyên tắc sau:

- Nguyên tắc thứ nhất: Nguyên tắc tránh rủi ro, bảo đảm an toàn trong hoạt động cho vay.

Trong hoạt động ngân hàng thường có tính rủi ro rất cao và thường mangtính chất dây chuyền đối với nhiều lợi ích khác nhau trong xã hội Đểtránhnhững rủi ro này, các tổ chức tín dụng ngày nay thường thực -hiện việc thẩmđịnh tín dụng với tám biện pháp thẩm định sau: tính cách người đi vay(character), tư cách của người đi vay (capacity), khả năng trả nợ(capability),dòng tiền (cashflow), vốn (capital), điều kiện hoạt động(conditions), tài sảnchung (collectability) và tài sản thế chấp (collateral)

- Nguyên tắc thứ hai: Nguyên tắc phải sử dụng vốn vay đúng mục đích.

Nguyên tắc này đảm bảo cho các tổ chức tín dụng tránh được những rủi ro

từ bên vay, đồng thời đảm bảo được tính thực hiện hợp đồng, nếu bên vay viphạm nguyên tắc này thì bên cho vay có quyền huỷ bỏ hợp đồng và bên vay phảichịu sự điều chỉnh theo pháp luật

- Nguyên tắc thứ ba: Nguyên tắc quản lý mục đích tiền vay

Theo nguyên tắc này mặc dù người đi vay phải thế chấp tài sản để đượcvay tiền, nhưng người cho vay có quyền kiểm tra việc sử dụng vốn vay đối vớingười vay Người vay phải xây dựng dự án, phương án xin vay vốn và phải cótrách nhiệm thực hiện theo đúng hợp đồng đã ký với ngân hàng Mục đích củaviệc đề ra nguyên tắc này là đảm bảo tính hoàn trả của đồng vốn đồng thời quản

lý vốn đầu tư theo đúng định hướng và cơ cấu đầu tư Quản lý vốn đầu tư đúngđịnh hướng từ đó đảm bảo tính cân đối trong nền kinh tế

- Nguyên tắc thứ tư: Nguyên tắc hoàn trả

Trang 19

Theo nguyên tắc này, vốn vay phải được hoàn trả cả gốc và lãi cho ngânhàng sau thời gian vay vốn Thời gian vay vốn là khoảng thời gian kể từ khingười vay lĩnh tiền vay lần đầu tiên đến khi trả hết nợ gốc và tiền lãi Nguyêntắc hoàn trả thể hiện ở hai khía cạnh: khía cạnh thứ nhất là số lượng hoàn trả Sốlượng hoàn trả sẽ bằng tổng số tiền gốc của khoản vay và số lãi phát sinh trongquá trình vay vốn Khía cạnh thứ hai là thời gian hoàn trả Thời gian hoàn trảphải thực hiện theo thoả thuận giữ hai bên được ghi trong hợp đồng vay tiền.

1.5 Vai trò c a ho t đ ng cho vay trong n n kinh t ủa ngân hàng ạm vi nghiên cứu ộng cho vay ề ến hoạt động cho vay

* Đối với nền kinh tế:

Thứ nhất, cho vay là hoạt động kinh doanh chủ yếu của ngân hàng thương mại để tạo ra lợi nhuận

Doanh thu từ hoạt động cho vay mới bù đắp nổi chi phí tiền gửi, chi phí dựtrử, chi phí kinh doanh và quản lý, chi phí vốn trôi nổi, chi phí thuế các loại vàcác chi phí rủi ro đầu tư

Kinh tế càng phát triển, doanh số cho vay của các ngân hàng thương mạicàng tăng nhanh và loại hình cho vay càng trơ nên vô cùng đa dạng ở hầu hếtcác nước phát triển hàng đầu thế giới

Thứ hai, cho vay góp phần thu hút vốn đầu tư cho nền kinh tế.

Do đặc điểm cho vay là quy mô rộng, khách hàng đa dạng mặt khác nó làhình thức kinh doanh chủ yếu của ngân hàng Với vai trò là trung gian tài chínhngân hàng đóng vai trò là cầu nối vốn cho nền kinh tế, giữa người thừa vốn vàngười cần vốn để đầu tư Vì thế mà ngân hàng giải quyết được một trong nhữngđặc điểm của tiền là:

“Tiền có giá trị theo thời gian” các nguồn vốn nhàn rỗi đươc tập hợp và đầu

tư cho các phương án, dự án kinh doanh khác nhau đang cần vốn để thưc hiện

dự án Đáp ứng được nhu cầu vốn của dự án nghĩa là phương án, dự án đã đượcgiải quyết về vấn đề vốn Đây là yếu tố khó khăn, Quan trọng để biến ý tưởngkinh doanh thành thực tế Và chính nó giải quyết được các vấn đề kinh tế xã hội

Ngày đăng: 23/05/2018, 23:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w