1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

SỬ DỤNG KỸ NĂNG MỀM TRONG GIÁO DỤC KHÔNG CHÍNH QUY - TS. Kaustuv Kanti Bandyopadhyay và Priti Sharma

90 136 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 90
Dung lượng 1,5 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤCKỹ năng mềm và ứng dụng của kỹ năng mềm trong giáo dục không chính quy dành cho người lớn 6 Các quan điểm về tập huấn cùng tham gia và việc học của người lớn 8 Sử dụng phân tích t

Trang 1

Tài liệu tập huấn dành cho giáo viên

SỬ DỤNG KỸ NĂNG MỀM TRONG GIÁO DỤC KHÔNG CHÍNH

QUY

Biên soạn bởi:

TS Kaustuv Kanti Bandyopadhyay

và Priti Sharma

Trang 2

SỬ DỤNG KỸ NĂNG MỀM

TRONG GIÁO DỤC KHÔNG CHÍNH QUY

Trang 3

Dịch từ nguyên bản tiếng Anh, Traning Manual for Facilitators: Using Soft Skills

in Non-formal Education, xuất bản lần đầu tiên tháng 1/2016 bởi Society for Participatory Research in Asia (PRIA), Ấn Độ, với sự hỗ trợ của

DVV International, Đức

Bản quyền tiếng Việt © Trung tâm Khu vực về Học tập Suốt đời của tổ chức

SEAMEO tại Việt Nam (SEAMEO CELLL)

Bản quyền ấn phẩm đã được bảo hộ Mọi hình thức xuất bản, sao chụp, thay đổi nộidung của ấn phẩm mà không có sự cho phép bằng văn bản của các bên sở hữu là viphạm pháp luật Các hành vi này có thể sẽ bị truy cứu trách nhiệm dân sự, hình sự

theo quy định của pháp luật

Trang 4

MỤC LỤC

Kỹ năng mềm và ứng dụng của kỹ năng mềm trong giáo dục không chính

quy dành cho người lớn

6

Các quan điểm về tập huấn cùng tham gia và việc học của người lớn 8

Sử dụng phân tích tương giao để hiểu về bản thân 36

40Bảng hỏi về biểu đồ các trạng thái cái tôi và vị thế cuộc sống

Làm việc nhóm và xây dựng tinh thần làm việc nhóm: Bài tập “Ô vuông phânmảnh”

44

Đọc thêm: Làm việc nhóm và xây dựng tinh thần làm việc nhóm 50

Quá trình ra quyết định: Bài tập “Lên kế hoạch dự án” 66

Đọc thêm: Quá trình ra quyết định trong tổ chức 71

Đọc thêm: Xử lý xung đột trong nhóm và trong tổ chức 86

Trang 5

LỜI CẢM ƠN

Tài liệu tập huấn dành cho giáo viên: Sử dụng kỹ năng mềm trong giáo dụckhông chính quy được hợp tác xây dựng bởi tổ chức PRIA (Society forParticipatory Research in Asia), Ấn Độ và tổ chức DVV International, Đức

Tài liệu này được cải biên từ các tài liệu trong cẩm nang Hướng dẫn về Phươngpháp tập huấn cùng tham gia do PRIA xây dựng Chúng tôi xin cảm ơn tất cả cácđồng nghiệp tại PRIA và các tổ chức đối tác đã góp phần xây dựng các phiênbản Tài liệu hướng dẫn về Phương pháp tập huấn cùng tham gia của PRIA

Xin trân trọng cảm ơn Tiến sĩ Rajesh Tandon, Chủ tịch PRIA đã hỗ trợ và hướngdẫn Chúng tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Tiến sĩ UweGartenschlaeger, Giám đốc Khu vực, Văn phòng DVV International khu vực Nam

Á và Đông Nam Á đã hỗ trợ và khích lệ chúng tôi trong quá trình xây dựng tàiliệu này

Chúng tôi xin cảm ơn các đối tác khu vực của văn phòng DVV International ởNam Á và Đông Nam Á đã hỗ trợ việc áp dụng tài liệu trong các khóa tập huấn

về sử dụng kỹ năng mềm trong giáo dục không chính quy, nhờ đó đó tài liệuđược xây dựng và hoàn thiện

Cuối cùng, chúng tôi xin cảm ơn tất cả các đồng nghiệp tại PRIA đã chung tayxây dựng tài liệu hướng dẫn này

TS Kaustuv Kanti Bandyopadhyay

và Priti Sharma

4

Trang 6

GIỚI THIỆU TÀI LIỆU

Tài liệu tập huấn cho giáo viên: Sử dụng các kỹ năng mềm trong giáo dục khôngchính quy được xây dựng để đáp ứng nhu cầu của giáo viên trong lĩnh vực giáodục không chính quy Tài liệu này được thiết kế nhằm mục đích:

 Nâng cao hiểu biết về khái niệm kỹ năng mềm trong giáo dục không chínhquy

 Làm tài liệu tham khảo cho giáo viên về sử dụng kỹ năng mềm trong giáodục không chính quy

 Cung cấp các bài tập, tài liệu, và buổi tập huấn mẫu để sử dụng trong quátrình tập huấn Tài liệu bao gồm các bước và các hoạt động hỗ trợ tập huấn

kỹ năng mềm

Tài liệu này bao gồm các tài liệu tham khảo và ghi chép của giáo viên để hỗ trợcác học phần tập huấn Người sử dụng tài liệu có thể bổ sung thêm các thông tintham khảo và các câu chuyện địa phương để tài liệu phù hợp hơn và sát với ngữcảnh tại khu vực của mình Tài liệu này được biên soạn theo phương pháp tậphuấn cùng tham gia được xây dựng bởi các giáo viên tại PRIA và các tổ chức đốitác qua nhiều thập niên

Tài liệu được chia thành hai phần Phần 1 tập trung vào tính thiết thực của kỹnăng mềm trong giáo dục không chính quy và việc sử dụng phương pháp tậphuấn cùng tham gia trong các khoá tập huấn kỹ năng mềm Phần 2 sẽ dẫn dắtngười sử dụng qua các tiểu học phần khác nhau trong các khoá tập huấn kỹnăng mềm

5

Trang 7

KỸ NĂNG MỀM VÀ ỨNG DỤNG CỦA KỸ NĂNG MỀM TRONG

GIÁO DỤC KHÔNG CHÍNH QUY

DÀNH CHO NGƯỜI LỚN

Theo định nghĩa từ điển, kỹ năng mềm đề cập đến các phẩm chất cá nhân chophép một người có thể giao tiếp hài hòa và hiệu quả với người khác Ở nhữnggóc độ khác, kỹ năng mềm được xem là một tập hợp các phẩm chất cá nhân,thói quen, thái độ và cách ứng xử giúp cho một người trở thành nhân viên tốthoặc thành viên có thể làm việc với người khác trong tổ chức

Các kỹ năng mềm bao gồm đạo đức nghề nghiệp, thái độ, kỹ năng giao tiếp, trítuệ cảm xúc và một loạt các phẩm chất cá nhân khác Nói đến kỹ năng mềm,chúng ta không thể không nhắc đến các kỹ năng cứng Kỹ năng cứng bao gồmcác kỹ năng nghề nghiệp và chuyên môn, ví dụ như kế toán, đánh máy, vậnhành máy móc… Đây là các kỹ năng có tính định lượng và tầm ứng dụng toàncầu Các kỹ năng cứng là những kỹ năng cụ thể cần thiết cho một công việc và

có thể giảng dạy được

 Quản lý thời gian

Chúng ta có thể chia các kỹ năng này thành các kỹ năng nhỏ hơn Ví dụ như kỹnăng giao tiếp sẽ bao gồm giao tiếp bằng ngôn ngữ, bằng cử chỉ phi ngôn ngữ,bằng chữ viết, kỹ năng thuyết trình, v.v Các kỹ năng gây ảnh hưởng gồm có tạođiều kiện thuận lợi, tạo động lực và thương thuyết trong tập thể Các kỹ năng cánhân có thể chia nhỏ thành các kỹ năng liên quan đến trí tuệ cảm xúc, quản lý sựcăng thẳng, tính tự tin, thích nghi, quyết đoán, sự thân thiện và nhiệt tình, v.v.Tuy nhiên trong tài liệu này, chúng tôi chỉ tập trung vào các kỹ năng Hiểu chínhmình, Lãnh đạo, Ra quyết định, Xây dựng tinh thần đồng đội, Giao tiếp và Quản

lý xung đột

Trong những năm gần đây, kỹ năng mềm ngày càng được chú trọng trên khắpthế giới Trong một tổ chức, việc hiểu rõ các khía cạnh kỹ thuật của công việc làquan trọng, nhưng làm sao những kiến thức này có thể chuyển hóa thành sảnphẩm cũng quan trọng không kém Hành vi, thái độ, kỹ năng giao tiếp của một cánhân đóng vai trò quan trọng không chỉ đối với hiệu quả công việc mà còn đối vớiviệc phát triển sự nghiệp Ngày nay, không có cá nhân nào làm việc riêng biệt.Tất cả chúng ta đều có sự kết nối trong một công việc nhất định Nếu một cánhân nào đó có kiến thức uyên bác về lĩnh vực của mình nhưng không có mối

6

Trang 8

quan hệ tốt với cả nhóm và không thể lãnh đạo nhóm hoàn thành một dự án, thìkết quả công việc sẽ bị ảnh hưởng, khiến những người trong cuộc không hàilòng

Chúng ta hãy xem xét tầm quan trọng của kỹ năng mềm trong giáo dục khôngchính quy Về cơ bản, định nghĩa giáo dục không chính quy là “hoạt động giáodục có tổ chức, nằm ngoài hệ thống chính quy đã được thiết lập, với mục đíchphục vụ một đối tượng học xác định với các mục tiêu học tập xác định”.1

Trong nhiều trường hợp, giáo dục không chính quy giúp giải quyết các yếu kémtrong kỹ năng làm việc Với mức độ quan trọng ngày càng tăng dần, nhà tuyểndụng cũng có khuynh hướng tập trung vào các kỹ năng mềm và đánh giá các kỹnăng này thông qua một số bài kiểm tra có sẵn

Trong bối cảnh như vậy, các chuyên gia về giáo dục không chính quy cần côngnhận việc đưa các kỹ năng mềm vào nội dung tập huấn Điều này sẽ tạo ra nhiềumôi trường làm việc tốt hơn và giúp nâng cao năng suất

Các nguồn tài liệu tham khảo thêm:

The Pickle Jar Theory by Jeremy Wright (http://alistapart.com/article/pickle)

Why Soft Skills Matter (www.mindtools.com)

http://training.simplicable.com/training/new/87-soft-skills

1 http://www.un.org/esa/socdev/unyin/newsletters/2011/YouthFlashJune2011

7

Trang 9

CÁC QUAN ĐIỂM VỀ TẬP HUẤN CÙNG THAM GIA VÀ VIỆC HỌC CỦA NGƯỜI LỚN

Các quan điểm về phương pháp tập huấn cùng tham gia

Tập huấn luôn được coi là một quá trình học tập – học các kỹ năng, khái niệm vàhành vi mới Với quan điểm trên, tập huấn chính là một hoạt động giáo dục Tuyvậy, tập huấn thường bị tách riêng khỏi giáo dục chính quy, như giáo dục trongnhà trường Nhìn chung, tập huấn ngầm chỉ giáo dục không chính quy cho ngườilớn nhưng với mục đích và định hướng rõ ràng Quá trình tập huấn cũng baohàm một sự kiện có tổ chức, với những giới hạn về thời gian, địa điểm, conngười

Theo định nghĩa truyền thống, tập huấn là chuyển giao các kỹ năng từ giáo viênsang người học, trong đó giáo viên sẽ xác định những nội dung cụ thể người họccần phải lĩnh hội Cách tiếp cận này của tập huấn dựa trên cơ sở giáo viên biếttất cả mọi thứ và người học như một thùng trống được giáo viên lấp đầy kiếnthức Người học đóng một vai trò thụ động và chỉ học những gì giáo viên truyềnđạt

Cách tiếp cận này không cho phép người học chủ động tham gia tiến trình học

mà giáo viên có toàn quyền kiểm soát nó Tất cả mọi hoạt động từ xác định mụctiêu đến đánh giá người học đều do giáo viên thực hiện Giáo viên chọn phươngpháp tập huấn theo sở thích và sự thuận tiện của bản thân khiến bài giảng mangtính áp đặt Việc nhấn mạnh các vấn đề hay nội dung chủ đạo, và năng lực củagiáo viên chỉ được đảm bảo nếu người đó là một chuyên gia trong lĩnh vực mìnhdạy Cách tiếp cận tập huấn này rất giống cách tiếp cận trong giáo dục chính quyhay giáo dục trong nhà trường

Một quan điểm khác về tập huấn nổi lên vào nửa sau thế kỷ 20 Theo đó, tậphuấn không chỉ giới hạn trong việc “chuyển giao kiến thức chuyên môn” hayngang hàng với “truyền đạt kiến thức” Tập huấn được coi như một quy trìnhkhám phá và phát triển với mục đích không chỉ “biết nhiều hơn” mà còn là “hành

8

Những giả thuyết cơ bản trong phương pháp tập huấn truyền thống

 Sự lĩnh hội kiến thức của người học sẽ tự động dẫn đến hành động hoặc sự thay đổi hành vi;

 Giáo viên “sở hữu” kiến thức và do đó có thể truyền đạt hoặc truyền tải như một “huấn luyện viên”;

 Việc học phụ thuộc chủ yếu vào năng lực giảng dạy của giáo viên và năng lực học tập của người học;

 Tập huấn là trách nhiệm của giáo viên và cơ sở tập huấn;

 Kiến thức và việc tập huấn mang tính trung lập và “khách quan”

Trang 10

xử khác đi” Trọng tâm là xây dựng ý thức suy nghĩ độc lập, đánh giá giá trị, thái

độ và định hướng của một người; “phá băng” các khái niệm và mẫu hành vi đãđịnh hình và đặt câu hỏi, tư duy lại và học lại Đây là một quá trình không chínhquy và liên tục, trong đó cả giáo viên và người học đều học hỏi lẫn nhau Cáchtiếp cận tập huấn này nhằm mục đích giúp người học tự tin quan sát, phê phán,phân tích và phát hiện vấn đề một cách độc lập Nhờ đó, người học tự khám phábản thân và thấy rằng họ cũng giỏi như giáo viên hay bất kỳ người nào khác.Người học sẽ hợp tác thay vì cạnh tranh để được giáo viên chú ý và tán thành.Người học được khuyến khích xem xét tổng thể bối cảnh xã hội và quá khứ khi

họ cố gắng hiểu hiện thực hoàn cảnh của mình Việc học xoay quanh nhu cầucủa chính họ và ngày càng tiến bộ thông qua những lần tư duy và phân tích

Cách tiếp cận này có thể được gọi là tập huấn để thay đổi, chú trọng vào việchọc hơn là tập huấn Học viên được khuyến khích nói lên ý tưởng và khám phánhiều cách giải quyết vấn đề, tự điều tra thực tế trên cơ sở kinh nghiệm của riêngmình Cách tiếp cận tập huấn này nhằm mục đích giải phóng con người khỏi môhình tư duy áp đặt bởi các yếu tố chi phối Phương pháp luận là lấy người họclàm trung tâm, lấy trải nghiệm thực tế làm cơ sở và không giới hạn tư duy sángtạo

Tập huấn cùng tham gia là một chiến lược giáo dục trên cơ sở cách tiếp cận vừa

mô tả ở trên Người học chủ động tham gia vào quá trình giáo dục, và những nhucầu, nghi vấn, tư duy, phân tích và chiến lược để phát triển của họ sẽ thúc đẩytiến trình học

Điều quan trọng là phải nhận thức được rằng Tập huấn cùng tham gia không chỉ

là một tập hợp các kỹ thuật Phương pháp này phát huy trong một bối cảnh lịch

sử, chính trị và xã hội nhất định Khuynh hướng tư tưởng của tập huấn cùngtham gia cần được hiểu rõ, nếu không phương pháp này sẽ trở thành một tậphợp các mưu mẹo và chiêu trò Chúng ta cần nhận thức rõ sự nguy hiểm của

9

Những giả thuyết chính về cách tiếp cận khác trong tập huấn

 Con người không thể được người khác phát triển; họ có thể tự than phát

triển

 Những kiến thức thu được không tự động dẫn đến hành động hay thay đổi hành vi, mà trước hết, con người phải được thuyết phục về tầm quan trọng của sự thay đổi

 Bản thân người học đã là một nguồn thông tin và kiến thức phong phú về thếgiới thực tế

 Tập thể là một công cụ mạnh mẽ để học tập và thay đổi

 Tập huấn và kiến thức không bao giờ là trung lập2

2 Mục đích của tập huấn là để gây ảnh hưởng lên hành vi và thái độ Trong tập huấn cùng tham gia, giáo viên tạo ảnh hưởng lên các học viên để họ tiếp thu các quan điểm và hành

vi mới đối với các vấn đề cần thảo luận Trong tình huống học tập như vậy, giáo viên

cũng phải đưa ra quan điểm và kinh nghiệm của mình trong quá trình thảo luận Ví dụ

như, nếu việc tập huấn tập trung vào giải quyết vấn đề bạo hành phụ nữ, nhóm người học không được giữ quan điểm trung lập Những người trong nhóm phải cùng góp tiếng nói và hợp tác với nhau để giải quyết triệt để vấn đề này.

Trang 11

việc bình mới rượu cũ, khi những hành động và từ ngữ tương tự được sử dụngnhưng ẩn ý cơ bản là khiến con người ta tuân thủ và chấp nhận bị kiểm soát

Tập huấn cùng tham gia nhằm mục tiêu tạo ra sự thay đổi của cá nhân và tậpthể, từ đó củng cố quan điểm thay đổi là hoàn toàn có thể ở cả mức độ cá nhân

và tập thể

Tập huấn cùng tham gia khuyến khích người học biết nghi ngờ về những gì họluôn chấp nhận, tư duy phản biện những trải nghiệm của bản thân, rút ra tri thứcmới qua quá trình phân tích Quá trình giải phóng khả năng suy nghĩ độc lập nàycho phép họ khám phá và sử dụng sức mạnh tiềm ẩn vào những hoạt độngmang tính xây dựng sự tự giác

Tập huấn cùng tham gia công nhận và hợp thức hóa những kiến thức xác thực

và chính xác của mọi người có được qua những kinh nghiệm thực tiễn và kếthợp nó với những hiểu biết mới và các khái niệm đã được tái cấu trúc trên cơ sởphân tích các kinh nghiệm Điều này tạo ra lớp vỏ mới cho kiến thức dẫn đến ýthức làm chủ kiến thức rõ rệt và sẵn sàng để thay đổi thực tế Người học từ đó

mà còn cần các bước quan trọng khác bên ngoài bối cảnh tập huấn

Hạn chế thứ hai thường xảy ra trong việc giúp những người nghèo, người bị ápbức, người bị mù chữ thay đổi số phận Ta luôn có xu hướng định đoạt sự thayđổi cho họ Khi đó sự can thiệp giáo dục về cơ bản là vận động sự hỗ trợ chomột mục đích cụ thể mà chúng ta cho rằng “đúng” Chúng ta có thể khéo léo thaotúng tư duy của họ để họ bắt đầu nghĩ rằng mục đích đó là của chính họ Trongtrường hợp như vậy, chúng ta cũng trở thành kẻ kiểm soát tâm trí giống như cácthế lực áp đặt khác Tập huấn cùng tham gia có thể cung cấp cho người họcnhững lựa chọn, nhưng phải cho phép người học có quyền chấp nhận hoặc từchối bất cứ sự lựa chọn nào

Nếu người học được tạo điều kiện để khám phá và phát triển nội lực qua việchọc trong một môi trường cho phép họ sử dụng các khả năng của mình, nănglực quản lý cuộc sống của họ sẽ được nâng cao Chúng ta cần phải tin tưởng họlàm được Trách nhiệm của chúng ta là giúp đỡ người học “nâng cao ý thức” vàkhai phóng khả năng tiềm ẩn của suy nghĩ và điều tra độc lập, từ đó họ sẽ tựcảm nhận rằng chính bản thân họ là người tạo ra các ý tưởng và khởi xướng cáchành động

10

Trang 12

Tập huấn cùng tham gia và Việc học của người lớn

Tập huấn cùng tham gia là phương pháp dành cho người lớn, do đó, cơ sở lýthuyết của phương pháp này dựa trên các nguyên tắc của việc học tập ở ngườilớn Theo các nguyên tắc này, việc học tập của người lớn diễn ra theo một cáchkhác và trong những điều kiện khác với giáo dục trẻ em chính quy trong nhàtrường Các chương trình dành cho người lớn không hiệu quả có thể một phần là

do sự thiếu hiểu biết về một số nguyên tắc và điều kiện học tập Nếu ta cố tạo ramột môi trường học tập và sử dụng các phương pháp tương tự như trong nhàtrường chính quy thì sẽ dễ đi đến kết luận rằng không thể thay đổi được gì ởngười lớn Một quan niệm sai lầm phổ biến khác cho rằng việc học tập chỉ diễn

ra trong suốt thời thơ ấu và ngừng lại khi trưởng thành và rằng sau đó chúng takhông thể thay đổi được việc học tập này

Trái ngược với các quan điểm trên, con người học hỏi, phát triển và thay đổingay cả trong giai đoạn đã trưởng thành Việc học tập của người lớn sẽ diễn rahiệu quả khi các đặc điểm cơ bản trong cách thức học tập của họ được lấy ralàm nguyên tắc định hướng quá trình học Có năm nguyên tắc chính:

A Người lớn đi học với một sự tự ý thức được xác định rõ ràng, và ta có thể tạo điều kiện cho việc học tập của họ bằng cách giúp họ nâng cao thêm sự tự ý thức này

Nếu sự tự nhận thức về bản thân thấp, người học sẽ nghĩ rằng mình không cókhả năng, thiếu hiểu biết, thiếu kinh nghiệm và bất lực Điều này sẽ ngăn cảnviệc học tập kiến thức mới Ý thức về bản thân thấp có thể là do những hoàncảnh bất lợi tạo ra, bị tách rời khỏi xã hội và bóc lột Nếu giúp đỡ được ngườihọc vượt qua được điều này, người học sẽ nhận ra rằng mình có khả năng, cóthể đóng góp điều gì đó và có tiềm năng để học, từ đó họ sẽ cởi mở hơn với quátrình học tập Tương tự như vậy, ý thức về bản thân quá cao, phi thực tế cũngkhông có lợi cho việc học tập

B Học tập ở người lớn là một trải nghiệm cảm xúc, theo hướng những cảm xúc nhất định gắn liền với việc học và việc học cũng diễn ra qua cảm xúc bên cạnh suy nghĩ hay hành động

Tất cả sự thay đổi đều kéo theo rủi ro Do đó, hoạt động học tập sẽ tạo ra sự lolắng, căng thẳng, có thể là sợ hãi, thất vọng hay bất lực Người học cần đượccảm thông và đối xử mềm mỏng, đặc biệt là đối với những người chưa bao giờđến trường và rất e ngại việc học tập Hơn nữa, cảm xúc đóng vai trò là mộtphương thức học tập quan trọng, là cơ sở cho việc học tập và là một phươngtiện của học tập Chúng ta luôn tránh xa những gì làm cho chúng ta giận dữ, sợhãi hoặc khinh thường Ngược lại, chúng ta hào hứng tìm hiểu, học hỏi thêm vềnhững điều mang đến cho chúng ta cảm xúc tích cực

C Người lớn sẽ tự lựa chọn học hay không học.

11

Trang 13

Việc học tập ở người lớn là tự nguyện và tự chủ Học tập ép buộc không manglại hiệu quả lâu dài Người lớn cần phải có hứng thú và sẵn lòng trước khi họ họcđiều gì đó Nếu việc học không đến từ ý chí tự nguyện hoặc chỉ là kết quả củađộng lực bên ngoài, người học sẽ cần thêm sự hỗ trợ, khích lệ và dẫn hướng.Việc học tập sẽ càng hiệu quả khi người học được tham gia vào quá trình tự địnhhướng, lên kế hoạch và giám sát việc học của bản thân Sự hứng thú sẽ càngđược nâng cao qua những phản hồi về quá trình học theo định hướng mongmuốn

D Người lớn học những gì họ cho là cần thiết đối với cuộc sống và các vấn đề của họ

Khác với việc học tập của trẻ em là để áp dụng trong tương lai, người lớn chỉmuốn những gì mình học hôm nay có thể áp dụng ngay cho ngày mai Nhữngvấn đề mang tính giả thuyết hoặc có nội dung xa rời thực tế của họ được coi là

“lãng phí thời gian” Việc học tập sẽ dễ dàng hơn nếu có các tài liệu mang tínhthực tiễn, liên quan đến những mối quan tâm hiện tại hoặc nhận thức trongtương lai của người học

E Người lớn học dựa trên kinh nghiệm.

Người lớn đến với việc học với một kho tàng phong phú những kinh nghiệmtrong quá khứ mà có thể vừa là một nguồn tài nguyên học tập tiềm năng, vừa làmột trở ngại không thể tránh khỏi, bởi vì những kinh nghiệm này sẽ quyết địnhcách người học hiểu và học những kinh nghiệm mới Hơn nữa, người lớnthường xem trọng kinh nghiệm như chính bản thân và sự hiểu biết của họ về ýnghĩa cuộc sống Đánh giá thấp hoặc phớt lờ các kinh nghiệm của người lớnđồng nghĩa với sự chối bỏ giá trị của một cá nhân Việc chia sẻ kinh nghiệm giữangười học và giáo viên, xem trọng các kinh nghiệm trong quá khứ và hiện tại, sẽgiúp người học sẵn sàng để học tập cái mới

Người lớn mong muốn học những vấn đề “mang tính liên quan”, nhận thứcnhững sự kiện này liên quan đến thực tế như thế nào chứ không chỉ ghi nhớchúng Việc học sẽ trở nên hiệu quả nếu người lớn được vận dụng những kinhnghiệm quá khứ hoặc hiện tại để hiểu rõ hơn về thực trạng của họ, từ đó chuẩn

bị tâm thế cho những trải nghiệm mới

Tầm quan trọng của việc xây dựng môi trường học tập đối với các phương pháp Tập huấn cùng tham gia

Theo những nguyên tắc học tập ở người lớn, rõ ràng cần phải xây dựng một môitrường học tập đặc biệt để người lớn học tập hiệu quả

Môi trường học tập không tự có sẵn mà giáo viên cần phải tạo lập, phát triển,duy trì và nuôi dưỡng nó Đối với người học và quy trình học, việc xây dựng vàduy trì một môi trường hỗ trợ cho việc học tập của cả cá nhân và tập thể, tạođiều kiện cho quá trình chất vấn, phê bình và phản ánh, là rất quan trọng Là giáoviên, chúng ta phải tạo điều kiện cho những nguyên tắc trong học tập người lớnđược áp dụng Một số đặc trưng chính mà môi trường học tập phải có gồm:

12

Trang 14

A Xem trọng người học và kinh nghiệm của họ

Một khía cạnh cơ bản của môi trường trường học tập là xem trọng người học,xem trọng sự độc đáo, các kinh nghiệm, sự đóng góp, kiến thức và khả năng họchỏi, phát triển và thay đổi của họ Hiểu được giá trị và tôn trọng người học là dấuhiệu của việc tạo lập một môi trường học tập hiệu quả và phải được thể hiện quahành động của chính giáo viên, qua các điều kiện tạo ra trong quá trình tập huấn,chứ không chỉ thuần túy là lời nói suông

Cụ thể hơn, các giáo viên trong cả những buổi tập huấn theo chương trình và kếhoạchvà các buổi thảo luận ngoài giờ học) đều phải chú ý quan tâm đến ngườihọc, cố gắng hiểu những điều họ muốn chia sẻ và xem xét làm sao để hỗ trợ họmột cách tốt nhất

B Chia sẻ kinh nghiệm cá nhân

Người lớn học từ kinh nghiệm của bản thân mình, do đó phải tạo điều kiện để họđược học trong một môi trường thân thiện, cởi mở, có thể chia sẻ một cách có

hệ thống và hiệu quả những kinh nghiệm trong quá khứ Tuy nhiên, chia sẻ kinhnghiệm không đồng nghĩa với các buổi kể chuyện không có kết thúc, không cókết luận Việc chia sẻ phải tập trung liên quan đến những mục tiêu học tập cụ thể

do đó cần phải được cấu trúc sao cho người học có cơ hội chia sẻ kinh nghiệmcủa họ liên quan đến những mục tiêu học tập với giáo viên và những người họckhác Đây là lý do tại sao việc tạo điều kiện cho các nhóm nhỏ chia sẻ, bày tỏ,cởi mở, kết nối, lắng nghe và quan tâm đến những người khác là vô cùng quantrọng

Mục đích của việc chia sẻ là để thúc đẩy khả năng tư duy phân tích và để tháchthức nhau thử nghiệm các ý tưởng, cảm giác, hành vi và hành động mới Quátrình chia sẻ không chỉ đơn thuần giữa người học với nhau, mà giáo viên cũngcần tham gia chia sẻ thông tin về bản thân và các kinh nghiệm của mình

C Sự cởi mở

Một nguyên tắc của môi trường học tập là phải tạo được sự cởi mở Cởi mở vớichính bản thân mình, cởi mở với người khác, cởi mở để học, cởi mở đặt ra cáccâu hỏi, cởi mở để xem xét, cởi mở để quan sát Cần phải tạo điều kiện đểngười học và giáo viên cởi mở trong suy nghĩ, cảm xúc cũng như trong hànhđộng – cởi mở với chính mình trong không gian riêng tư, cởi mở với chính mìnhkhi có sự hiện diện của người khác và cởi mở với người khác trước mặt họ Điềunày rất quan trọng, bởi vì việc học diễn ra trong một quá trình suy ngẫm về bảnthân, về những người xung quanh, và về tình huống thực tại Ví dụ như trongmột buổi tập huấn về việc giải quyết vấn đề bạo lực với phụ nữ có sự tham giacủa những người từng trải, nhất thiết phải có một môi trường cởi mở và an toàn

để họ có thể thoải mái chia sẻ những trải nghiệm khó nói nhất và tin tưởng việcchia sẻ này có thể thay đổi cuộc sống của họ

D Tính thách thức

13

Trang 15

Một đặc trưng nữa của môi trường học tập là phải tạo được tính thách thức đốivới học viên Người học phải được gợi mở, gây hứng thú, khen ngợi và tháchthức Đây không phải là một môi trường bị động; không phải là nơi làm việcriêng; mà đây là môi trường để đặt câu hỏi, phê bình, yêu cầu và khơi gợi sựhứng thú Cần phải tạo điều kiện kích thích người học tìm tòi, giúp họ vượt quagiới hạn của khả năng hiện tại, sử dụng tiềm năng một cách sáng tạo, tận dụngkhả năng của mình, giải phóng bản thân và nhận ra được khả năng suy nghĩ độclập của mình

E Sự an toàn

Đặc trưng tiếp theo phải kể đến là sự an toàn và thoải mái về tâm lý Người họccần được thách thức suy nghĩ chứ không phải bị áp đặt kiến thức Người họccần được kích thích phát triển chứ không bị làm thui chột ý chí Giáo viên cầnđưa ra các câu hỏi giúp người học tìm tòi kiến thức mới chứ không nên khiếnngười học cảm thấy không có tiếng nói

Một cảm giác an toàn về tâm lý là một khía cạnh thiết yếu của môi trường họctập: tôi có thể là chính mình, tôi có thể thành thật với chính mình, tôi có thể nhìnchính mình, tôi có thể thử thách bản thân, tôi có thể phạm sai lầm nhưng tôi vẫnđược những người xung quanh chấp nhận, Bên cạnh đó, sự an toàn còn thểhiện ở việc bảo vệ lẫn nhau trong một tập thể Điều này sẽ tạo điều kiện chongười học cởi mở, chấp nhận rủi ro và chia sẻ về chính mình

F Hỗ trợ

Một khía cạnh liên quan là sự hỗ trợ - hỗ trợ về tinh thần, hỗ trợ về trí tuệ, hỗ trợ

về hành động – khả năng có được sự hỗ trợ - hỗ trợ cá nhân, một nhóm nhỏ, tạođiều kiện để người học có thể hỗ trợ lẫn nhau cũng như giảng viên và ngườihướng dẫn có thể hỗ trợ người học và bản thân họ - hỗ trợ bằng hành độngkhông phải bằng lời nói Sự hỗ trợ này cần được duy trì cả trong và ngoài giờhọc Người hướng dẫn cần kêu gọi người học hỗ trợ lẫn nhau

G Ý kiến phản hồi

Và cuối cùng, môi trường học phải tạo điều kiện cho các ý kiến phản hồi – truyềntải thông tin cho mỗi cá nhân và cả nhóm Cơ chế phản hồi phải dễ dàng, thoảimái, không gây khó khăn hay hạn chế; thông tin phản hồi từ từng người từ bảnthân một cách khiêm tốn, phản hồi liên tục về suy nghĩ, cảm xúc và hành độngcủa mỗi người; phản hồi về những gì mỗi người đã học và đã cố gắng

Tóm lại, đó là một số đặc điểm chính của một môi trường học tập hiệu quả Đểxây dựng và duy trì môi trường như vậy, người hướng dẫn phải thực hiện một sốđiều sau:

 Khóa tập huấn phải được thiết kế sao cho người học luôn tham gia một cáchhứng thú Điều này có nghĩa là chủ đề và phương pháp học tập phải gắn liềnvới người học

14

Trang 16

 Giáo viên cần chia sẻ trách nhiệm học tập với người học, làm cho người họccùng tham gia, kêu gọi sự hỗ trợ, cam kết, trách nhiệm, ý kiến phản hồi từngười học về việc xây dựng và duy trì môi trường học tập hiệu quả; khuyếnkhích họ thực hiện vai trò vừa là bạn bè, vừa là người cố vấn, người cho lờikhuyên đối với các bạn cùng học

 Về cơ sở vật chất phục vụ cho việc tập huấn, phải đảm bảo rằng các yếu tốvật chất và hành chính (như thực phẩm, đi lại…) của khóa tập huấn phảiđược điều phối và quản lý tốt, không gây ra bất cứ căng thẳng hay lo lắngnào cho người học Thậm chí những việc nhỏ như sự sạch sẽ, ngăn nắp củaphòng học, sự chuẩn bị hay lắp đặt trước các hỗ trợ kỹ thuật, sự chuẩn bịcác phòng nhỏ cho bài tập nhóm, hạn chế tiếng ồn và sự di chuyển trongphòng (người đến, người đi…) đều là các yếu tố quan trọng giáo viên phảibao quát để đảm bảo rằng người học không bị xáo trộn hoặc phải lo lắngnhững vấn đề này trong quá trình học

 Quan trọng nhất, hành vi của giáo viên sẽ đóng góp đáng kể cho môi trườnghọc hiệu quả Giáo viên chỉ nắm vững kiến thức của khóa tập huấn thôi chưa

đủ, điều quan trọng là họ phải hiểu chính bản thân – hiểu rõ các quan điểm,các giá trị, hành vi, hành động của mình, luôn quan tâm đến người học, ứng

xử khéo léo, đầu tư công sức cho nội dung học, tìm cách nâng cao lòng tựtrọng của người học… Tất cả điều này giúp thiết lập một cấu trúc chuẩn choquá trình tập huấn Giáo viên chuẩn bị gì cho công tác tập huấn? Họ cần làm

gì để thiết lập môi trường học tập hiệu quả? Tất cả các yếu tố này đều sẽ cóảnh hưởng đến người học sau khi khóa học kết thúc

15

Trang 17

Phần này dựa theo quyển “A Manual for Participatory Training Methodology in Development” , tái bản lần thứ 6 năm 2011, do PRIA xuất bản.

16

Những điều kiện cho một quá trình học tập hiệu quả

Một môi trường của những người chủ động – Mọi người học khi họ cảm thấy

cá nhân mình đang tham gia vào một quá trình học cùng với những người

khác

Một bầu không khí tôn trọng –Mỗi cá nhân đều được đánh giá cao và sự

quan tâm được chú trọng

Một môi trường chấp nhận – Chấp nhận một ai đó nghĩa là anh/cô ấy có thể

là chính mình và tự do bày tỏ quan điểm của mình mà không sợ hãi

Một môi trường tin tưởng – là nơi mọi người tin tưởng vào chính mình và

những người khác

Một môi trường tự khám phá – là nơi người học được giúp đỡ để tìm hiểu về

bản thân mình và đáp ứng nhu cầu của mình chứ không phải để những nhu

cầu điều khiển lại mình

Một bầu không khí không có sự đe dọa – để mọi người có thể đối mặt với

nhau và với các ý tưởng mà không sợ hãi

Một bầu không khí cởi mở – Là khi những mối quan tâm, cảm xúc, ý tưởng

và niềm tin cá nhân có thể được bày tỏ và xem xét một cách cởi mở

Nhấn mạnh vào tính độc đáo cá nhân trong học tập – là khi mỗi người hiểu rõ

rằng quan điểm, niềm tin, cảm xúc, và giá trị của cô/anh ấy là quan trọng và

có ý nghĩa

Một môi trường tôn trọng và khuyến khích sự khác biệt – là nơi sự khác biệt

về con người cũng được chấp nhận như sự khác biệt về ý tưởng

Một môi trường cho phép các cá nhân được mắc sai lầm –Việc học sẽ thuận

lợi nếu các sai sót được chấp nhận như là một phần tự nhiên của quá trình

học

Một môi trường chấp nhận các quan điểm khác nhau – Khi các giải pháp thay

thế có thể được chấp nhận mà không chịu áp lực của việc phải tìm ra một

câu trả lời duy nhất ngay lập tức

Nhấn mạnh vào việc hợp tác đánh giá và tự đánh giá – Khi mọi người có thể

tự nhìn nhận chính mình một cách đúng đắn với sự hỗ trợ của những người

cùng học

Trang 18

CÁC PHƯƠNG PHÁP TẬP HUẤN CÙNG THAM GIA

Làm thế nào để lựa chọn những phương pháp tập huấn sao cho nội dung củachương trình tập huấn được chuyển tải một cách tốt nhất? Theo quan điểmtruyền thống, phương pháp thường được ưa chuộng cho bất kỳ lĩnh vực nào làthuyết giảng Nói đến những phương pháp năng động hơn, chúng ta có cácphiên thảo luận nhóm Một số chương trình tập huấn xem việc trình chiếu bàitrình chiếuhoặc phim ảnh là một phương pháp

Tập huấn cùng tham gia có nhiều phương pháp phù hợp với những tiêu chuẩn

cơ bản của việc học hiệu quả, thúc đẩy sự tham gia chủ động của người học, vàtạo được sự hứng thú lâu dài Chúng ta có thể tìm hiểu sơ lược các phươngpháp, suy ngẫm về các nguyên tắc chọn phương pháp, và sau đó đi sâu nghiêncứu mỗi phương pháp, lưu ý đến quy trình, những thuận lợi cũng như các vấn đề

có thể nảy sinh

Lúc này, cần chỉ ra những khác biệt giữa các thuật ngữ “phương pháp”, “côngcụ/phương tiện hỗ trợ” và “kỹ thuật” vì những thuật ngữ này thường được sửdụng hoán đổi nhau Thuật ngữ “phương pháp” chỉ cách thức dạy một chủ đềtheo nghĩa rộng Do đó, giáo viên có thể sử dụng phương pháp thảo luận, giảngbài, hoặc minh họa, v.v “Công cụ” hoặc “phương tiện hỗ trợ” chỉ những loại tàiliệu hỗ trợ khác nhau dùng trong mỗi phương pháp, ví dụ như bài trình chiếuhoặc áp phích cho trong phương pháp giảng bài, đoạn phim hoặc mô hình trongphương pháp minh họa “Kỹ thuật” chỉ sự khác nhau trong cách vận dụng mộtphương pháp Do đó, các kỹ thuật cụ thể trong phương pháp thảo luận nhóm cóthể là thảo luận toàn thể, động não, thảo luận bể cá (một nhóm thảo luận, nhómcòn lại lắng nghe, quan sát, sau đó đổi ngược lại), v.v

Tổng quan về các phương pháp được sử dụng trong Tập huấn cùng tham gia

Các phương pháp dùng trong Tập huấn cùng tham gia không chỉ có thuyết giảng

và thảo luận nhóm, mà còn có cả đóng vai, tình huống giả lập, bài tập và công cụđược thiết kế theo cấu trúc, các dạng nghiên cứu tình huống khác nhau, v.v Một

số trải nghiệm khác cũng được dùng trong Tập huấn cùng tham gia nhằm làmtăng tác động của việc học, chẳng hạn như tham quan thực tế, thực hành, chơitrò chơi, tự học, xem và thảo luận một đoạn phim, v.v

Mục đích của hầu hết các buổi tập huấn là để kết hợp việc nâng cao kiến thức,thay đổi thái độ và phát triển kỹ năng Để có được một sự kết hợp hiệu quả, cầnphải lựa chọn phương pháp thích hợp nhất cho mỗi một khía cạnh nói trên Sửdụng một khung đánh giá sẽ rất hữu ích trong việc xác định phương pháp họctập nào là tốt nhất cho việc phát triển kiến thức, phương pháp nào tốt nhất choviệc phát triển nhận thức, và phương pháp nào tốt nhất cho việc phát triển kỹnăng

17

Trang 19

Các phương pháp hữu ích cho việc phát triển kiến thức: Trong nhóm này chúng

ta có thuyết giảng (chỉ sử dụng lời nói hoặc có công cụ trực quan hỗ trợ như bàitrình chiếu, áp phích, hoặc mô hình) Tiếp đến, chúng ta có tham quan thực tế vàminh họa nhằm giúp người học hiểu rõ bài học hơn Tài liệu đọc dành cho tự họccũng bổ ích, đặc biệt là với những học viên có trình độ đọc cao Bài trình chiếuhoặc phim ảnh mang tính giáo dục cũng có thể được sử dụng nhằm tăng cườngkiến thức về một chủ đề nhất định

Các phương pháp hữu ích cho việc phát triển kỹ năng: Thực hành là cách tốtnhất để học cách làm một thứ gì đó Do đó, thực hành là việc cực kỳ cần thiết đểphát triển kỹ năng trong bất cứ lĩnh vực nào Lý tưởng nhất là trước các phiênthực hành đều có sự minh họa của người có kinh nghiệm Nếu điều kiện chophép, cơ hội học việc thực tế với một người lành nghề giàu kinh nghiệm có thểgiúp nâng cao hơn năng lực của người học

Các phương pháp hữu ích cho việc phát triển nhận thức: Có nhiều phương phápgiúp người học tham gia vào bài học ở mức độ cảm xúc, và hầu hết các phươngpháp này đều dựa vào trải nghiệm – trong quá khứ hoặc hiện tại Một trongnhững phương pháp này là sự đóng vai, trong đó người học sẽ tái hiện lại nhữngtrải nghiệm trong quá khứ một cách tự nhiên Thảo luận theo nhóm nhỏ cũnggiúp học viên tập hợp các trải nghiệm và ý tưởng để cùng nhau phân tích chúng.Tình huống giả lập và các bài tập theo cấu trúc giúp tạo cảm giác “thực tại”; sau

đó những cảm giác này sẽ được phân tích để rút ra những sự hiểu biết rộnghơn Nghiên cứu tình huống – dù là dưới dạng viết, nói, hình ảnh hay bài hát,đều tạo điều kiện cho người học tìm hiểu những trải nghiệm của người kháchoặc học hỏi qua việc phân tích Những cách khác giúp phát triển nhận thức baogồm các công cụ giúp khám phá bản thân, và trò chơi như các trò giúp xây dựnglòng tin, các trò chơi trên bảng giấy, v.v

Học qua trải nghiệm

Tập huấn cùng tham gia chủ yếu dựa trên các nguyên lý của học tập người lớn,vốn cho rằng người lớn học tốt nhất qua trải nghiệm Trải nghiệm của một người– cả trong quá khứ lẫn ở hiện tại – và trải nghiệm của một người khác giúp tạonên một nguồn học tập cơ bản Tuy nhiên, chỉ đơn thuần một trải nghiệm, mộtcảm xúc hay một ấn tượng mơ hồ nào đó không thể tạo nên một tác động họctập hữu hiệu Chúng ta cần phải suy ngẫm về các trải nghiệm ấy, phân tích cấutrúc và động lực của chúng cũng như phản ứng của chúng ta Từ đó, ta có nhậnthức sâu sắc hơn, rút ra được những nguyên tắc có thể áp dụng rộng hơn Dựavào những điều này, chúng ta sẵn sàng trải qua những trải nghiệm tương tựtrong cuộc đời với một tầm nhìn mới được thể hiện qua các hành vi mới

18

Trang 20

Thường thì mỗi chúng ta đều trải qua tất cả các bước này một cách nhanh chóngtheo bản năng trong quá trình học tập học suốt đời của mình Chẳng hạn như khiphải đối mặt với những trải nghiệm khó chịu, chúng ta sẽ tự động rút lui và quyếtđịnh sẽ thử một thứ khác vào những lần sau Trong Tập huấn cùng tham gia,một bước quan trọng là sự suy ngẫm sâu sắc, một việc kiểm tra có tính hệ thống,một sự phân tích các yếu tố đằng sau trải nghiệm, và những yếu tố dẫn đếnphản ứng của chúng ta với trải nghiệm ấy Toàn bộ chu trình học tập qua trảinghiệm được sử dụng một cách có chủ ý nhằm giúp trang bị cho người học sứcmạnh để đương đầu với các trải nghiệm và rút ra những bài học.

Những phương pháp tập huấn có sử dụng Chu trình Học tập qua Trải nghiệmđược gọi là “Học tập qua trải nghiệm” bởi vì chu trình này được sử dụng mộtcách có hệ thống và có mục đích Các ví dụ gồm việc đóng vai, nghiên cứu tìnhhuống, tình huống giả lập, v.v

Chúng ta đã ghi nhận vốn kiến thức và kinh nghiệm của người học chưa? Mộtnguyên lý cơ bản của Tập huấn cùng tham gia là sự công nhận giá trị của kiếnthức và kinh nghiệm thực tiễn của học viên người lớn Nếu chúng ta sử dụng

19

Trang 21

những phương pháp trong đó giáo viên, sách vở hoặc các chuyên gia học thuật

là nguồn kiến thức chính, chúng ta sẽ không thể hiện được sự tôn trọng vớingười học Chương trình tập huấn phải tạo điều kiện cho người học chia sẻnhững trải nghiệm của mình, nhằm công nhận giá trị của những gì họ đã đạtđược trước đó, để thảo luận những vấn đề chung và tổng hợp những thông tinmới với các khái niệm đã biết

Chúng ta có tạo ra một môi trường học tập thuận lợi cho người học không? Tậphuấn cùng tham gia đòi hỏi phải có sự tham gia tích cực hứng thú của học viên.Các phương pháp phải có tính tương tác cao, đặc biệt trong đó người học phảiđược thực hành và được thử thách sự sáng tạo Quá trình học cần phải lý thú vàmang tính khơi gợi, để cho người học cảm thấy mọi khả năng của mình đangđược sử dụng, đồng thời cảm thấy tỉnh táo và hào hứng Việc lựa chọn phươngpháp và việc thiết kế các hoạt động sau đó là những yếu tố quyết định trong việctạo ra một môi trường học tập năng động như thế

Phương pháp được chọn có thúc đẩy cả việc học cá nhân lẫn tập thể không?Việc lựa chọn phương pháp phải đảm bảo rằng mọi học viên đều tiến bộ với nhịp

độ riêng, mà không bị thúc ép hay bỏ lại phía sau Hơn nữa, các phương phápđược sử dụng phải thúc đẩy việc học cộng tác trong đó các học viên học hỏi lẫnnhau, và việc học cũng diễn ra một cách rõ ràng ở cấp độ nhóm Nếu người họcchưa quen biết nhau, các phương pháp phải được lựa chọn nhằm xây dựng lòngtin và không khí cởi mở trong nhóm Một số nội dung cần mang tính cá nhânhơn, chẳng hạn như khi tìm hiểu bản thân Lúc này, mỗi người học cần đượccung cấp không gian học tập riêng, cũng như cần được thử thách với việc họctập độc lập

Khả năng và năng lực của giáo viên là gì? Trước hết phải công nhận rằng khôngphải giáo viên nào cũng có thể sử dụng thành thạo mọi phương pháp Việc thiếukinh nghiệm hoặc thiếu tự tin có thể làm giảm tác động của phương pháp lênviệc học Sự tỉ mỉ trong việc thiết kế phương pháp và việc không ngừng nâng cao

kỹ năng của giáo viên qua thực tập có đánh giá (hoặc học việc) là rất cần thiết đểviệc học diễn ra hiệu quả

Trang 22

Một số hoạt động tập huấn hữu ích khác cũng được mô tả, chẳng hạn như việc

sử dụng tài liệu đọc, minh họa, tham quan thực tế, bài trình chiếu, phim, hìnhảnh, áp phích, trò chơi và hoạt động làm quen Ngoài ra còn có các thông tin phụ

về việc thiết kế và tổng kết việc học tập qua trải nghiệm

Bài giảng

Bài giảng là một phương pháp hiệu quả trong việc giới thiệu thông tin hoặc kháiniệm mới cho một nhóm học viên Một bài giảng súc tích, thú vị và được trìnhbày hay sẽ luôn được người học hưởng ứng Tuy vậy, có rất ít bài giảng đượcchuẩn bị kĩ hoặc lấy người học làm trọng tâm Bên cạnh đó, bài giảng thườngđược sử dụng theo cách một chiều, đơn điệu, mang tính chỉ dẫn và khuyến khích

sự thụ động Nhưng không phải lúc nào cũng vậy Bài giảng vẫn là một phươngpháp có giá trị trong khuôn khổ tập huấn cùng tham gia

Vậy bài giảng nên được sử dụng như thế nào?

Phương pháp giảng bài chủ yếu được dùng để phát triển thêm những kiến thứcvốn có của người học Do đó, một bài giảng cần được bắt đầu từ mức độ hiểubiết hiện tại của người học Việc này có thể được thực hiện bằng cách đặt nhữngcâu hỏi có chọn lọc và liên quan, thay vì bắt đầu giảng bài ngay Từ đó, giáo viên

sẽ phải luôn cố gắng đặt những thông tin mới vào sự hiểu biết sẵn có của ngườihọc bằng cách liên tục đưa ra những ví dụ và minh họa sao cho người học thấyđược sự liên hệ với bản thân

Sử dụng bài giảng

 khi cần truyền đạt thông tin và khái niệm mới đến người học

 khi những trải nghiệm của người học cần được đặt trong khuôn khổ lý thuyết

 khi cần kích thích và thúc đẩy người học tìm hiểu thêm

 khi trình bày một lượng kiến thức bên ngoài được chuyên gia cung cấp

Để có một bài giảng hiệu quả cần

 chuẩn bị bài giảng, làm quen với chủ đề;

 xác định và chuyển bị các phương tiện hỗ trợ nhằm minh họa cho các nội dung sẽ dạy;

 có thể sử dụng một bài trình chiếu PowerPoint để liệt kê các điểm chính Những điểm này cần được giải thích rõ ràng

 chuẩn bị sẵn bảng trắng, bảng flipchart và bút viết bảng khi cần ghi chú những điểm chính;

 đưa ra ví dụ để liên kết chủ đề với đời sống của học viên;

 xâu chuỗi các nội dung một cách lô-gic, có tính liên tục và hệ thống, phát triển lên từ những nội dung đã học;

 đặt câu hỏi để biết liệu người học có đang theo kịp bài giảng;

 kích thích người học đặt câu hỏi;

 giao tiếp qua ánh mắt mắt với người học để đánh giá xem liệu học có đang theo kịp bài học, hoặc liệu họ có đang cảm thấy hứng thú với bài giảng;

Trang 23

 chú ý yêu cầu thời gian, tránh bị quá hăng say, nhưng đồng thời cũng tránh

hy sinh tài liệu quan trọng vì giới hạn thời gian;

 sắp xếp chỗ người sao cho tất cả người học đều có thể nhìn thấy các công

cụ hỗ trợ và nghe được bài giảng một cách rõ ràng; có thể sắp theo một hoặchai vòng tròn nếu có nhiều người học;

 chú ý đến ngôn ngữ cơ thể và nét mặt của mình;

 nói to, rõ ràng, sử dụng ngôn ngữ đơn giản;

 tránh lối giảng giáo điều, cố gắng kích thích người học;

 nếu có hơn một giáo viên thì những giáo viên khác có thể hỗ trợ và giám sát quá trình học

 cho phép trình bày các sự thật,

thông tin và khái niệm trong một

khoảng thời gian khá ngắn

 nhiều chuyên gia với kiến thức và

quan điểm khác nhau có thể tương

tác với người học

 có thể sử dụng với những người

học không biết đọc, viết

 một số lượng đa dạng các tài liệu

vì tập trung và phân tích bài giảng

 nhịp độ dạy-học phụ thuộc vào người dạy

có hứng thú hoặc thời gian

Tài liệu đọc thiết yếu cần được phân phát tại một thời điểm thích hợp, nghĩa làkhi chủ đề đang được dạy Chúng cần phải chính xác, đi thẳng vào vấn đề, vàđược trình bày bằng ngôn ngữ dễ hiểu Mặc dù chúng ta có thể cảm thấy thíchthú với các bài viết và đoạn văn trong sách, chúng ta cũng nên cố gắng trình bàycùng một thông tin một cách đơn giản và súc tích hơn vì bài viết gốc thường có

xu hướng phức tạp Tránh cho người học đọc các tài liệu đầy đủ, vì chúng có thểtốn nhiều công sức

Luôn phân phối thời gian cho việc đọc Chúng ta thường không dành thời giancho việc đọc trong lớp vì cho rằng người học sẽ đọc ngoài giờ học Nếu đó là tàiliệu thiết yếu, cần tích hợp thời gian đọc vào chương trình học

Trang 24

Đừng tự cho rằng học viên sẽ hiểu tài liệu chỉ vì họ đã đọc nó Nếu có thể, hãydành thời gian cho học viên thảo luận về những gì đã đọc, để họ làm rõ nhữngnghi vấn.

Tài liệu đọc bổ sung có thể được phát vào cuối phiên học Nếu được phát cùnglúc với tài liệu đọc thiết yếu, người học có thể mất thời gian quý báu vào việc tìmhiểu những phần không cần thiết

Thực tập và học việc

Thực tập và học việc là những phương pháp cực kỳ quan trọng trong việc tậphuấn kỹ năng Sự khác biệt giữa hai phương pháp này nằm ở chỗ thực tập đượcthực hiện trong các tình huống được kiểm soát, trong khi học việc được thựchiện trong các tình huống trong đời thực và thường kéo dài hơn Quan trọng làtrong cả hai phương pháp, người học phải được giám sát bởi người dạy và nhậnđược phản hồi Hai phương pháp này có thể dùng cho bất cứ kỹ năng nào.Trong quá trình tập huấn, sẽ dễ dàng hơn khi lồng ghép việc thực tập, trong khi

đó, học việc tự bản thân nó có thể đã là cả một quá trình tập huấn

Tham quan thực tế

Những chuyến tham quan thực tế chính là việc minh họa đời thực việc thực,nghĩa là chủ đề cần học đang thực sự diễn ra Một số ví dụ về tham quan thực tếbao gồm: đưa người học đến một bệnh viện trong một khóa học về y tế hoặcđưa người học đến các cộng đồng trong một khóa tập huấn về quy trình đánh giámột dự án có sự tham gia của cộng đồng, đưa công nhân ở cấp cộng đồng đếncác ủy ban để học về chính quyền địa phương, v.v Như vậy việc quan sát, đặtcâu hỏi và hiểu một lần nữa được nhấn mạnh Người học không được khuyếnkhích tham gia vào bất cứ hoạt động nào trong chuyến tham quan Giáo viênphải nhớ chuẩn bị đầy đủ cho chuyến đi trước khi đưa người học đến nơi thamquan Ngược lại, người học phải được hướng dẫn cẩn thận về những gì họ cầnquan sát, và về phép xã giao và những quy tắc cần được tôn trọng

Bài trình chiếu / Phim / Hoạt hình

Trang 25

Bài trình chiếu và phim được sử dụng rộng rãi trong tập huấn Chúng cũng đượcdùng để truyền đạt kiến thức hoặc thông tin nhưng khác với một bài giảng sửdụng bài trình chiếu hoặc phim ở chỗ: trong bài giảng, chúng chỉ được dùng làmtài liệu hỗ trợ Lưu ý rằng trước khi sử dụng bài trình chiếu hoặc phim, người họcphải được hướng dẫn đầy đủ về những gì họ sắp xem và những gì họ cần ghichú lại Nếu không có lời dẫn giải được ghi âm sẵn, cần cung cấp cho người họclời chú thích về các trang chiếu.

Một ưu điểm lớn của việc sử dụng phim và bài trình chiếu là chúng cho phépgiáo viên đem những tình huống đời thực không thể tiếp cận được vào trong việcdạy học Một nhược điểm lớn là bài trình chiếu và phim thường mang tính chỉdẫn mà không tạo ra bất cứ cơ hội tương tác nào cho người học Một cách đểlàm cho phim và bài trình chiếu có tính tương tác hơn là ngưng lại thường xuyên

để hỏi người học về những gì họ hiểu hoặc quan sát được, khuyến khích họ đặtcâu hỏi, v.v Tuy nghiên, điều này hiếm khi được thực hiện và giáo viên có xuhướng để mặc người học khi đoạn phim hay bài trình chiếu bắt đầu Phim và bàitrình chiếu còn có thể được sử dụng trong việc tập huấn kỹ năng, minh họa cácthao tác kỹ năng theo từng bước

Ngày nay, hoạt hình cũng đang được sử dụng rất hiệu quả như một công cụ giaotiếp Hoạt hình là một công cụ giao tiếp mạnh mẽ và hiệu quả Những đoạn phimngắn chứa đựng nhiều thông điệp quan trọng bao gồm thông điệp xã hội đangđược tạo ra dưới hình thức hoạt hình Để hiểu hơn về điều này, hãy xem mộtđoạn phim hoạt hình ngắn tại đây:

https://www.youtube.com/watch?v=XrlLtpcYu1Y

Học tập qua trải nghiệm

Như đã nói ở trên, học tập qua trải nghiệm chỉ những phương pháp học tập – tậphuấn trong đó người dạy sử dụng một trải nghiệm cho mục đích học tập và đitheo các bước của một chu trình học tập qua trải nghiệm Một số phương pháphọc tập – tập huấn sử dụng học tập qua trải nghiệm sẽ được mô tả sau đây cùngvới những lưu ý chung khi sử dụng các phương pháp này

Thảo luận nhóm nhỏ

Đây là phương pháp phổ biến nhất trong nhóm này, vì một cuộc thảo luận nhómnhỏ thường sử dụng các trải nghiệm trong quá khứ của chính người học mộtcách có chủ đích Trong phương pháp này, người học được chia thành cácnhóm 5-6 người và được giao thảo luận một chủ đề thực tế Người học sẽ thảoluận dựa trên cơ sở những trải nghiệm trong quá khứ cũng như dựa trên thái độ

và giá trị của họ để tiếp cận kiến thức và hiểu biết mới sâu sắc hơn Nếu phươngpháp này nhắm đến việc học tập qua trải nghiệm thực tế thì việc thảo luận khôngthể mang tính giả thuyết hoặc suy đoán Cần phải nhận ra rằng việc thảo luận tự

nó không phải là mục đích và toàn bộ chu trình cần phải được hoàn thành, nghĩa

là mỗi nhóm nhỏ sau đó phải trình bày kết quả thảo luận với toàn thể mọi người

và hình thành các nguyên tắc làm việc dựa trên những kết quả ấy Một sai lầmthường thấy là cho thảo luận mà không có sự trình bày và tóm tắt sau đó

Trang 26

 Cho phép người học kiểm soát

nhịp độ, nội dung và trọng tâm

 Tạo điều kiện để người học bày tỏ

ý kiến

 Cho phép người học chứng minh

kiến thức và kỹ năng của mình

 Cho phép người học làm rõ,

chiêm nghiệm và định hình lại

những trải nghiệm của mình

 Giúp tạo cảm giác gắn kết với

nhóm

 Giúp người học tự tin hơn khi họ

nhận ra khả năng tư duy độc lập

của mình và thay đổi qua phương

pháp này

 Tốn thời gian

 Đòi hỏi sự điều tiết tích cực của giáo viên nhằm giữ cho nhóm không đi lạc đề

 Những thành viên nổi trội hoặc hung hăng có thể sẽ “chiếm” lấy cuộc thảo luận

 Thành viên có thể làm việc không nghiêm túc và làm ảnh hưởng đến chất lượng của cuộc thảo luận

 Cần có không gian lớn (hơn không gian dành cho bài giảng)

Thảo luận bể cá

Một nhóm nhỏ khoảng 6-8 người ngồi thành một vòng tròn (vòng tròn bên trong)

ở giữa lớp Những người còn lại ngồi phía ngoài vòng tròn này (tạo thành vòngtròn bên ngoài) để quan sát quá trình Vòng tròn bên trong sẽ thảo luận một chủ

đề cho trước

Hướng dẫn cho vòng tròn bên trong:

Trang 27

 Mỗi người phải phát biểu ít nhất một lần

 Khi một người đang nói, tuyệt đối không xen vào

 Cuộc thảo luận phải xoay quanh vấn đề đặt ra

 Hoặc cả nhóm sẽ quyết định ai là người điều tiết cuộc thảo luận và/hoặcnhóm trưởng sẽ tự xuất hiện

Hướng dẫn cho vòng tròn bên ngoài:

 Lắng nghe chăm chú

 Ghi chú khi cần thiết

 Quan sát (các giao tiếp phi ngôn ngữ trong nhóm)

 Ai là người dẫn dắt cuộc thảo luận?

 Có lãnh đạo mới nào xuất hiện trong quá trình thảo luận không?

 Nhóm có đi đúng theo chủ đề không?

Sau vòng đầu tiên, nhóm vòng tròn bên trong sẽ được nhận phản hồi về nhữngđiểm sau:

 Mọi người có được phát biểu không?

 Có ai chi phối cuộc thảo luận không?

 Nhóm có đạt được mục tiêu không?

Sau phần phản hồi, vị trí sẽ được đảo ngược, nghĩa là vòng tròn bên trong trởthành vòng tròn bên ngoài và vòng tròn bên ngoài trở thành vòng tròn bên trong

để thảo luận về cùng một chủ đề ở vòng đầu tiên

Nghiên cứu tình huống

Trong phương pháp này, trải nghiệm của người khác được cung cấp cho ngườihọc dưới dạng một nghiên cứu tình huống Các trải nghiệm này sẽ được ngườihọc nhận xét và phân tích, sau đó rút ra hoặc đi đến những nguyên tắc mới Trảinghiệm, giá trị và cảm xúc của chính người học sẽ là cở sở cho việc phân tíchtrải nghiệm của người khác Nghiên cứu tình huống (và câu chuyện) có thể đượctrình bày dưới dạng viết hoặc nói hoặc thậm chí dưới dạng phim hoặc bài hát,tùy theo sự phù hợp về văn hóa

Các bước tiến hành

 Trình bày nghiên cứu tình huống

 Chia lớp thành các nhóm nhỏ và giao nhiệm vụ (câu hỏi)

 Tạo cơ hội cho từng cá nhân nhận xét

 Cho người học thảo luận

Trang 28

 Gọt giũa kỹ năng phân tích và nắm bắt vấn đề của người học

 Đặt người học vào những tình huống mà họ ít có cơ hội trải nghiệm trong đờithực

 Đặt người học vào những tình huống quen thuộc ở một nơi khác để tăng tínhgắn kết và cảm nhận giá trị cá nhân

 Giúp tạo ra kiến thức mới thông qua việc nhận xét, phân tích và tổng hợp chung

 Nghiên cứu tình huống đưa ra có thể quá chung chung đối với việc tìm hiểu một vấn đề cụ thể

 Nghiên cứu tình huống được viết bởi người khác sẽ chứa đựng những nhận thức, cảm xúc và ý thức hệ của người viết, và do đó thực tại khách quan dễ có thể bị bóp méo

 Những nghiên cứu tình huống mang tính giả thuyết hoặc được chuẩn bị trước có thể sẽ quá lý tưởng trong thực tế

Hình ảnh/Áp phích

Với hình ảnh và áp phích, các bước, cách sử dụng, các ưu nhược điểm đềutương tự như ở trên Lý do duy nhất để xem đây là một phần riêng biệt là bởichúng là phương tiện rất quan trọng khi làm việc với những học viên không biếtchữ Chúng cũng có thể được dùng theo nhiều cách khác nhau Chúng có thểđược dùng đơn lẻ, hoặc được sắp xếp theo thứ tự liên tiếp, hoặc không hề theomột thứ tự nào Một câu chuyện có thể được thay thế bởi một chuỗi các hìnhảnh, hoặc người học có thể tạo nên một câu chuyện dựa trên những tấm ápphích rời rạc Cách dùng sẽ khác nhau tùy thuộc vào mục đích

Trang 29

B Hoạt động đóng vai cũng có thể được sử dụng để kích thích sự thảo luận vềcác vấn đề phức tạp Một đoạn diễn ngắn bởi giáo viên hoặc người học hoặc

cả hai đều có thể khơi gợi các cuộc thảo luận nhóm sau đó về các vấn đề vàtrải nghiệm tương tự mà học viên từng có Phương pháp học này chủ yếu làthảo luận nhóm, trong đó đoạn diễn chỉ đơn giản là “chất xúc tác” cho việcthảo luận Cách sử dụng này cũng tương tự như khi sử dụng bảng biểu,đoạn phim, v.v

C Trong một số trường hợp nhất định, hoạt động đóng vai có thể được sử dụng

để thực hành một số kỹ năng Chẳng hạn như giáo viên dạy cho người lớn

có thể được tập huấn để thực tập cách tạo động lực cho học viên người lớnbằng cách đóng các vai khác nhau Phương pháp học căn bản ở đây làthông qua việc thực hành và nhận thông tin phản hồi từ người học và ngườidạy sau khi thực hành

D Trong cách thứ tư, hoạt động đóng vai là sự tái hiện các trải nghiệm trongquá khứ, nghĩa là tất cả học viên sẽ cùng tái hiện một vấn đề hoặc tìnhhuống quen thuộc với họ trong quá khứ Chẳng hạn như một nhóm 25 họcviên nữ không biết chữ có thể được chia thành 5 nhóm để chuẩn bị và táihiện lại trải nghiệm làm vợ trong một gia đình Vì tất cả học viên đều cóchung trải nghiệm và tất cả đều tham gia vào vào việc tái hiện, việc học sẽdiễn ra qua hai bước có liên quan chặt chẽ là chuẩn bị và tái hiện

Phương pháp này đặc biệt hữu ích khi người học có trải nghiệm tương tự nhau

và trải nghiệm hoặc vấn đề đó khó có thể hồi tưởng bởi giá trị cảm xúc gắn liềnvới nó Phương pháp này còn có thể được sử dụng khi khả năng hồi tưởng lạimột trải nghiệm trong quá khứ là không đồng đều giữa các học viên Việc tái hiệnthông qua nhập vai là rất phù hợp với những vấn đề liên quan đến các khía cạnhcảm xúc và thái độ phức tạp của việc học

Đây chính là ý nghĩa của đóng vai với tư cách là một phương pháp học tập thôngqua những trải nghiệm có cấu trúc Ba cách dùng trước không được xem là họctập qua trải nghiệm có cấu trúc

Rõ ràng, sự lựa chọn cách dùng hoạt động đóng vai tùy thuộc vào chương trìnhhọc, nhóm người học và khả năng của giáo viên Tuy nhiên, cần lưu ý rằng cáchdùng thứ tư ở trên – hoạt động đóng vai như là một phương pháp học tập thôngqua các trải nghiệm có cấu trúc – mang hàm ý việc học được tiến hành qua việctái hiện lại một trải nghiệm trong quá khứ Đây có thể là một phương pháp cực kỳhữu hiệu nếu trọng tâm của việc học là nhận thức

Tất nhiên, dù là theo cách nào thì cũng phải có một cuộc thảo luận theo saunhằm phân tích sự quan sát hoặc tái hiện Việc phân tích này cần được thựchiện theo chu trình học tập qua trải nghiệm có đúc kết như đã giải thích ở trên.Giáo viên cần phải giúp người học thoát khỏi vai diễn của mình sau đã hoàn tấthoạt động đóng vai Việc tổng kết cần tập trung khơi gợi việc học tập từ hoạtđộng đóng vai

Trang 30

Cần ghi nhớ rằng sự củng cố việc học thực sự thông qua hoạt động đóng vaidiễn ra từ các bước chuẩn bị, tái hiện, thảo luận, xử lý và phân tích với sự kháiquát hóa cho đến tình huống trong đời thực.

 Người tham gia có thể quá nhập tâm vào vai diễn và làm mất sự khách quan trong quá trình phân tích

 Người tham gia có thể quá hứng thú với việc diễn xuất, dẫn đến diễnthái quá hoặc bóp méo vai diễn

 Phải nhấn mạnh rằng người xem cần tập trung quan sát, nếu không việc thảo luận dựa trên sự quan sátsau đó sẽ không đầy đủ

Tình huống giả lập

Khi người học cần ý thức được một điều gì đó, hoặc khi tình huống bao gồmnhiều yếu tố động lực phức tạp tương tác với nhau, mà chỉ có thể hiểu được quamột trải nghiệm trực tiếp, chúng ta có thể sử dụng tình huống giả lập Tình huốnggiả lập là một phương pháp dựa trên trải nghiệm “thực tại” mà tất cả người họcđều có thể tham gia Phương pháp này được thực hiện bằng cách giao các vaidiễn rõ ràng cho từng người tham gia và yêu cầu họ dựng lên tình huống theođúng các vai đã được giao Tình huống giả lập sẽ diễn ra cho đến khi tạo rađược những phản ứng dựa trên cảm xúc thật – người tham gia cần phải thực sựnhập tâm Tuy nhiên, việc học diễn ra một các an toàn vì tình huống xét cho cùngcũng chỉ là giả

Ý nghĩa ban đầu của phương pháp xuất phát từ tình huống giả lập dùng trongviệc huấn luyện phi công, vì tập huấn thực tế là rất rủi ro và bất cứ lỗi nào trongquá trình học cũng sẽ dẫn đến hậu quả khôn lường Điều kiện không khí và ápsuất thực tế được tạo ra trong một buồng lái mô phỏng, và người phi công sẽhọc cách bay

Tuy việc sử dụng tình huống giả lập có thể đem đến việc học hiệu quả, phươngpháp này cần sự chuẩn bị kỹ lưỡng và năng lực không nhỏ của người dạy Việclựa chọn tình huống cũng phải được thực hiện cẩn trọng, phù hợp với trình độ vàđiều kiện, hoàn cảnh của người học Tình huống không nên quá sát với đời sốngthực tế của người học, nếu không họ có thể không thể kiểm soát được cảm xúccủa mình

Các bước tiến hành

Trước tình huống giả lập

Trang 31

 Xác lập các mục tiêu, thiết kế hoặc lựa chọn một tình huống giả lập thíchhợp.

 Lên kế hoạch chi tiết cho việc đúc kết Chuẩn bị sẵn một khung khái niệmlàm nền tảng cho việc thảo luận tình huống

 Vạch ra các vai diễn một cách cẩn thận và chuẩn bị sẵn bản tóm tắt nhân vật

và một danh sách các quy tắc/hướng dẫn Quyết định ai sẽ nhận vai nào Cốgắng đưa tất cả người học vào tình huống, vì tình huống giả lập không nên

 Chuẩn bị sẵn các đạo cụ cần thiết cho các vai diễn

Trong tình huống giả lập

 Giao vai diễn, và cho người tham gia biết về vai diễn của mình Bản tóm tắtnhân vật này cần bao gồm kiểu nhân vật, và cả một số thông tin về tiểu sửnhân vật

 Yêu cầu người tham gia nghiên cứu vai diễn của mình và cố gắng nhập tâm

 Tránh để những người tham gia biết về vai diễn của nhau

 Sử dụng một cách thích hợp để xác định các vai khác nhau, ví dụ như bảngtên

 Giải thích cho người tham gia về tình huống và cho họ bắt đầu tùy vào cách

họ hiểu về vai diễn của mình

 Cho dừng tình huống giả lập khi thích hợp, hoặc khi đã qua phần quan trọng,hoặc khi tình huống trở nên mất kiểm soát

Sau tình huống giả lập

 Cho người học thời gian để thoát khỏi vai diễn của mình

 Yêu cầu người học chia sẻ cảm nghĩ với những câu hỏi rõ rang, ví dụ nhưđiều gì đã xảy ra với bạn trong tình huống giả lập, bạn cảm thấy như thế nào,v.v

 Ghi chú câu trả lời của học viên (trên bảng)

 Cố gắng chỉ ra những tương đương ngoài đời thực khi phân tích các mẫuhình trong dữ liệu

 Đối chiếu những cảm nghĩ này, cung cấp các dữ liệu cần thiết và viết mộtbản tóm tắt

 Cho phép khám phá các tình

huống thực trong đời sống, các

quy trình và hành vi xã hội trong

một không khí khá thân thiện

 Cho phép nghiên cứu các quá trình

xã hội phức tạp

 Người học phải hợp tác và nhập tâm vào vai

 Phương pháp khó vận dụng và đòi hỏi người dạy phải giàu kinh nghiệm và khéo léo

Trang 32

 Được chi phối hoàn toàn bởi nhịp

Mục đích của công cụ này là tạo ra dữ liệu về bản thân người học Tuy nhiênchính người học mới là người quyết định cách sử dụng các thông tin này Do đó,nếu xét về khía cạnh học tập qua trải nghiệm thì các bước tạo ra dữ liệu, xử lý,khái quát hóa và ứng dụng các thông tin từ dữ liệu sẽ được tiến hành bởi từng

cá nhân chứ không phải theo nhóm

 Có thể là một phương pháp tự

nhận thức về bản thân rất hiệu quả

thông qua các bước: tự khảo sát

bản thân, tự chiêm nghiệm và trong

thích và thiên hướng của mình

 Chỉ có thể được áp dụng với ngườihọc biết chữ

 Đòi hỏi người học phải thành thật

và hiểu rõ bản thân để có thể đưa

ra thông tin chính xác

 Sẽ hiệu quả hơn với người học có khả năng nắm bắt các khái niệm trừu tượng

 Việc thiết kế công cụ học tập dạng này đòi hỏi nhiều công sức

Trò chơi học tập

Trò chơi học tập là những phương pháp vui nhộn bao gồm các hoạt động lôi kéođược sự tham gia của toàn thể mọi người, mặc dù ban đầu trông có vẻ tầmthường Phương pháp này bao gồm luật và nguyên tắc chơi và cũng có thể baogồm cả yếu tố mang tính cạnh tranh Các trò chơi thường được sử dụng đểtruyền đạt cảm xúc và tái hiện những hoạt động hàng ngày ví dụ như trò chơi Tínnhiệm (Trust games), trò chơi Lãnh đạo (Leadership games), v.v Sau khi chơixong, cảm xúc của người chơi cần được đúc kết và thống nhất

Mục đích

 Giải thích cách thức làm việc nhóm

Trang 33

 Giải thích những vấn đề có liên quan đến sự tin tưởng, quan hệ xã hội,v.v.

ngay tại chỗ và ngay trong khuôn

khổ của buổi huấn luyện (trải

nghiệm ‘ở đây và ngay bây giờ’)

 Việc tìm và thiết kế trò chơi phù hợp không hề đơn giản

 Trò chơi cần phải mang tính tương tác, đưa ra nhiều lựa chọn và không mang tính chỉ thị (ví dụ như trò chơi đơn giản: ném xúc xắc vàocác ô có các thông điệp chỉ dẫn)

 Trọng tâm của trò chơi phải rõ ràng

để giáo viên không bị nhầm lẫn khi giới thiệu luật chơi Việc chơi với mục đích giải trí đơn thuần mà không hướng đến học tập cũng không phải là mục đích của hoạt động này

Hoạt động làm quen, khởi động

Các hoạt động làm quen, khởi động hay khuấy động bầu không khí không hẳn làcác phương pháp học tập và đóng vai trò đúng như tên gọi của chúng Đặc điểmcủa các hoạt động này là: không có tính đe dọa, vui nhộn và đôi lúc dùng cáchoạt động thể chất để tạo ra không khí học tập thích hợp nhằm giúp các thànhviên có thể tiếp xúc với nhau, tạo ra không khí chung của nhóm và từ đó có thểtiến hành các bước tiếp theo Trò chơi, bài hát hay bài tập thể chất đều có thểđược sử dụng cho mục đích này Mục đích là giới thiệu các thành viên, xác địnhchủ đề của bài tập, xóa bỏ sự đơn điệu hoặc để chuyển từ chủ đề này sang chủ

để khác,v.v

Vai trò của giáo viên trong học tập qua trải nghiệm

Giáo viên có nhiều vai trò và trách nhiệm khi tiến hành một buổi học mà trong đóviệc học tập qua những trải nghiệm có cấu trúc được lấy làm căn bản cho quátrình học tập

1 Chọn lựa phương pháp phù hợp: Trong trường hợp nhóm người học có đủkinh nghiệm về một môn học và không ngại chia sẻ những kinh nghiệm đó thìtốt nhất giáo viên nên tận dụng những kinh nghiệm này của họ Trong trườnghợp người học không có đủ kinh nghiệm hoặc còn ngại chia sẻ kinh nghiệmthì tốt nhất giáo viên nên dùng kinh nghiệm của những người khác theo mộtcách phù hợp nhất Nếu những kinh nghiệm hoặc cảm xúc được bắt nguồn

Trang 34

từ một hoàn cảnh xã hội phức tạp thì nên sử dụng một tình huống giả lậphoặc đơn giản hơn là dùng trò chơi hoặc những phương pháp tương tự.

2 Chuẩn bị: Khi đã chọn được phương pháp phù hợp như nghiên cứu tìnhhuống, đóng vai, v.v giáo viên cần phải chuẩn bị tài liệu để sẵn sàng sửdụng Trong trường hợp có dùng tranh ảnh, giáo viên cần chọn ra và vẽ tranhcho phù hợp; đối với trường hợp đóng vai, giáo viên cần xác định cốt truyệncho kịch bản; với trường hợp nghiên cứu tình huống, giáo viên cần xác địnhtình huống thích hợp và chuẩn bị in sao tài liệu, v.v

3 Tóm tắt các việc cần làm: Những việc nhóm người học cần thực hiện nhưchia sẻ, chú ý, thảo luận, đào sâu và phân tích cần phải được làm rõ Nếunhóm người học biết chữ, việc này có thể được thực hiện trên bảng Nhữnghướng dẫn cần thiết để ghi âm, báo cáo cũng như giới hạn thời gian chocông việc cũng cần phải được làm rõ

4 Chia nhóm 2 : Để việc chia sẻ và phân tích được tốt hơn, các nhóm lớn cầnphải được chia thành các nhóm nhỏ hơn Ngay cả khi giáo viên không phảingười trực tiếp đứng ra chia lớp thành các nhóm nhỏ thì cũng phải đảm bảo

là việc chia nhóm này được thực hiện

5 Duy trì kiểm soát: Mặc dù việc này nghe có vẻ bó buộc nhưng giáo viên ít nhiều cũng cần phải theo dõi các hoạt động như tình huống giả lập, hoạt động đóng vai và trò chơi nhằm đảm bảo việc học tập hiệu quả có thể diễn ra

6 Điều hành thảo luận: Trong lúc các nhóm đang tham gia thảo luận, giáo viêncần theo dõi các nhóm và để ý từ những chi tiết nhỏ nhặt như liệu các nhóm

có làm theo hướng dẫn hay không cho đến các chi tiết quan trọng hơn nhưliệu bài nói chuyện có rõ ràng không hoặc là việc thảo luận có đi đúng hướnghay không, v.v

7 Đúc kết bài học: Việc đúc kết chính là quá trình tóm tắt và chọn lọc những gìngười học đã thảo luận hoặc cảm thấy (chi tiết sẽ được cung cấp sau)

8 Củng cố và tổng kết: Các báo cáo cần phải được các nhóm tóm tắt lại, tìm racác ý tưởng và xu hướng chung, từ đó đúc kết các thông tin lại thành mộtsườn bài dễ hiểu Thường là giáo viên cũng cần phải đưa ra gợi ý trong phầnnày

9 Cung cấp thêm ý kiến, kiến thức của giáo viên: Tập huấn cùng tham giakhông nhất thiết đòi hỏi giáo viên phải là một chuyên gia trong một lĩnh vựcnào đó, đồng thời cũng không bắt buộc giáo viên chỉ được tóm tắt các thông

2 Chia ngẫu nhiên: Để chia một nhóm lớn thành ba nhóm nhỏ, đầu tiên hãy gán cho từng thành viên các con số một, hai, ba và nên bắt đầu từ một phía cho đến khi đếm hết lớp, sau

đó tập hợp những bạn có cùng con số lại với nhau thành nhóm Tương tự nếu cần chia thành nhiều nhóm hơn thì có thể sử dụng các con số lớn hơn

Chia cụ thể: Có thể chia nhóm theo kinh nghiệm làm việc, độ tuổi và các yếu tố khác để tạo

ra sự đa dạng cho lớp học

Trang 35

tin do người học nêu ra Trách nhiệm của giáo viên là cung cấp những thôngtin cần thiết mà người học có thể không biết hoặc không nhận diện được.

Đúc kết và củng cố

Một tình huống học tập thông qua trải nghiệm nhất thiết phải được tiếp nối bằngviệc đúc kết và củng cố Nếu người học đã có sự tăng tiến trong trải nghiệm vềcảm giác thì cần phải cho họ thời gian để có thể thoát ra khỏi khuôn khổ cảmgiác đó, nếu không họ có thể sa đà và cuối cùng đi xa khỏi mục đích của hoạtđộng Việc đúc kết bao gồm việc tổng hợp cảm xúc, tình cảm và trải nghiệm củangười học hoặc bất cứ thứ gì khác mà giáo viên cảm thấy cần thiết Các thôngtin có được cần phải được viết ra công khai để liên hệ chúng với việc học tậptrong những tình huống thực tế Tóm lại, các thông tin được đúc kết cần phảiđược đặt vào tình huống đời thực để mọi người có thể liên hệ chúng trong mộtkhuôn khổ rộng hơn Giáo viên cần phải khơi gợi việc phân tích các thông tin đãđược trình bày và rút tỉa được những nguyên tắc bao quát hơn Khi cần thiết giáoviên có thể cung cấp cho người học những thông tin thêm để họ có thể nắmđược những nguyên tắc bao quát

Khung khái niệm

Khung khái niệm chính là khung lý thuyết khái quát được giáo viên bám sát khichọn lựa nội dung bài học Khung khái niệm có liên quan đến mục tiêu và nộidung bài học: nó xác lập nền tảng cho việc đúc kết và phân tích bài học đó Mụctiêu của giáo viên chính là đặt những thông tin đã được đúc kết vào khung kháiniệm này sau khi đã phân tích và bổ sung thông tin Và khung này cũng cần phảiđược đặt vào/có liên hệ đến thực tế

Các dạng câu hỏi

1 Bạn thấy được gì? Bạn cảm thấy sao? Bạn đã nói những gì khi thảo luận? Những câu hỏi này gợi mở cho người học chia sẻ nhận thức và trải nghiệm của họ Thông tin thu được sẽ được trình bày lên bảng.

2 Tại sao bạn cảm thấy như vậy? Tại sao bạn nói như vậy khi thảo luận? Những câu hỏi này giúp cho người học phân tích lý do và nguyên nhân của hành động, nhận thức và trải nghiệm của bản thân họ.

3 Những tình huống như vậy có thể có trong thực tế không? Khi nào? Và

nó đã bao giờ xảy đến cho bạn chưa? Những câu hỏi này có mục đích đặt trải nghiệm của người học vào thực tế và làm cho trải nghiệm của họ gần với cuộc sống.

Tại sao bạn nghĩ điều này lại xảy ra? Câu hỏi này nhằm phân tích và rút ra nguyên tắc cũng như kết luận từ bài học, vốn là điểm mấu chốt của việc học tập cái mới Nếu thấy cần thiết, giáo viên có thể cung cấp thông tin mở rộng cho người học vào lúc này.

Xem và phân tích, đánh giá đoạn video

Video có thể được sử dụng trong tập huấn bằng nhiều cách Cách thông thườngnhất là trình chiếu một đoạn phim để cung cấp thông tin mới cho người học Mộtcách nữa là dùng video để đánh giá cách hành xử hay hành vi được nhắc đến

Trang 36

Mục đích

- Truyền thụ kiến thức

- Nâng cao ý thức về cá nhân và tập thể

- Nâng cao kỹ năng thông qua việc phân tích, đánh giá video

Các bước tiến hành

- Thống nhất với người học rằng video sẽ được sử dụng và hành vi của họ

sẽ được ghi hình lại Cần phải làm rõ với người học rằng việc này chỉnhằm mục đích phục vụ học tập và quyền riêng tư của họ sẽ được đảmbảo Đoạn video sẽ không được chiếu cho người ngoài và sẽ khôngđược sử dụng để chống lại họ

- Chú ý ghi lại vào video những yếu tố mà giáo viên muốn người học chú ýđến như sự thể hiện cái tôi cá nhân, cách thức giao tiếp, thông điệpkhông lời hay các khía cạnh khác nhau của hành vi, v.v

- Khi ghi hình, cố gắng hết sức để không làm người học mất tự nhiên màthay đổi hành vi của mình

- Chiếu lại cho người học xem, tập trung vào những đoạn mà giáo viênmuốn họ chú ý

- Trong suốt quá trình này, không được đưa ra phê phán chủ quan hayđưa ra phán quyết

- Yêu cầu người học tập trung vào hành vi của họ dựa trên hướng dẫn màgiáo viên đã cung cấp chứ không phải dựa trên cách mà họ xuất hiệntrong đoạn phim

- Khi chiếu phim, để tôn trọng thỏa thuận với người học, cần phải đảm bảo

là không có người ngoài nào có mặt trong lớp

 Đây là một công cụ hữu hiệu để

học tập về bản thân và tập thể vì

hoạt động này mang tính thực tế,

khách quan và nó cung cấp cho

có máy quay

 Người học có thể có xu hướng quá tập trung vào vẻ bên ngoài của mình

 Người học thậm chí có thể cảm thấy sợ và thu mình lại hay bị sốc

 Giáo viên cần phải có kỹ năng sử dụng máy quay

 Hoạt động này đòi hỏi phải lên kế hoạch và chuẩn bị tỉ mỉ

Trang 37

Phần này dựa theo quyển “A Manual for Participatory Training Method in Development ”, tái bản lần thứ sáu năm 2011 bởi PRIA.

Trang 38

SỬ DỤNG PHÂN TÍCH TƯƠNG GIAO ĐỂ HIỂU VỀ BẢN THÂN

Giới thiệu

“Cái tôi” là gì? Cái tôi có thể được định nghĩa là sự kết hợp của kiến thức, trí tuệ,giá trị và thái độ của chúng ta - cả về mặt ý thức và vô thức Đã có rất nhiều lýthuyết được đưa ra với mục đích hiểu được cái tôi (bản ngã) và trải qua hàngtrăm năm, mặc dù loài người đã sớm bắt đầu nghiên cứu một cách khoa học vềvấn đề này nhưng cho đến tận bây giờ thì kiến thức của chúng ta về nó vẫn cònchưa hoàn chỉnh Các nhà khoa học đã tập trung vào nghiên cứu hành động hayhành vi cũng như vào tính cách của cá nhân của con người bởi vì đây chính làđiều duy nhất có thể quan sát được để hé lộ về cái tôi của người đó

Việc phát triển kỹ năng mềm thông qua phương pháp tập huấn cùng tham gia cóliên quan đến cách một người ứng xử với những người khác, đến những động

cơ đằng sau hành vi đó cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến việc thay đổi tronghành vi của một con người

Đa số đều đồng ý rằng cái tôi bao gồm 3 thành tố lớn 3 thành tố này tác độngqua lại và tùy theo mức độ tương hợp giữa chúng với nhau mà đem lại sự bình

ổn hay hỗn loạn trong tính cách con người

Cái tôi nhận thức: Thành tố này đề cập đến khả năng tư duy nhận thức, khả

năng lưu trữ và xử lý thông tin, khả năng ghi nhớ và lý luận Ở một vài cá nhânthì khía cạnh này phát triển rất cao trong khi ở những người khác thì lại khôngđược như vậy Một nền văn hóa đề cao việc tập huấn theo trường lớp bài bản sẽkhuyến khích sự phát triển về khía cạnh nhận thức

Cái tôi cảm xúc: Thành tố này đề cập đến khía cạnh cảm xúc, khả năng cảm

giác và thể hiện cảm xúc Sự phát triển của cái tôi cảm xúc bắt nguồn từ tuổi thơđược yêu thương và nâng niu của mỗi chúng ta Trong những gia đình đề caokhả năng tư duy, những cá nhân có xu hướng bốc đồng, đa cảm và có thiênhướng nghệ thuật thường dễ bị hắt hủi Trong một số nền văn hóa, khả năng ghinhớ thông tin được xem là quan trọng hơn so với khả năng sáng tạo

Cái tôi hành vi: Thường có một giả định rằng hiểu biết nhiều sẽ tự nhiên dẫn

đến sự thay đổi phù hợp về hành vi Thực tế là đa số các hành vi của chúng tađược hình thành từ cảm xúc và niềm tin Việc học tập ở mức độ nhận thức đơnthuần sẽ không hiệu quả và không có tác dụng thay đổi hành vi bằng việc họctập ở mức độ cảm xúc Cuối cùng thì niềm tin cũng sẽ quyết định hành vi củachúng ta

Trang 39

Phân tích tương giao là gì?

Eric Berne, một bác sĩ chuyên khoa tâm thần người Mỹ vào năm 1958 đã đưa ramột lý thuyết dựa trên kinh nghiệm lâm sàng và đưa ra cụm từ Phân tích tươnggiao (Transactional Analysis - hoặc gọi tắt là TA)

- Phân tích tương giao là một lý thuyết về nhân cách và hành vi và là mộtcông cụ mang tính hệ thống cho việc phát triển và thay đổi nhân cách

- Phân tích tương giao cho chúng ta một bức tranh về cấu trúc tâm lý củacon người

- Phân tích tương giao cũng cung cấp lý thuyết về giao tiếp

- Phân tích tương giao đồng thời cũng đưa ra lý thuyết về sự phát triển củatrẻ em - khái niệm về kịch bản sống (life script) giải thích việc lối sốnghiện tại của chúng ta được bắt nguồn như thế nào từ thời thơ ấu

Triết lý của phân tích tương giao

- Mọi cá nhân đều sinh ra hoàn hảo, như những công chúa và hoàng tử

- Mọi cá nhân đều có khả năng suy nghĩ trừ trường hợp bị tổn thương nãonặng nề

- Mọi cá nhân đều quyết định số phận của họ và những quyết định này cóthể được thay đổi

Cấu trúc của phân tích tương giao

Trạng thái cái tôi là một mẫu hình chặt chẽ của cảm giác và kinh nghiệm có liênquan trực tiếp đến mẫu hình chặt chẽ của hành vi tương ứng

Mô hình chức năng của những trạng thái cái tôi

Về mặt chức năng thì trạng thái cái tôi Cha mẹ được biểu hiện dưới dạng Cha mẹnghiêm khắc (Critical Parent - CP) và Cha mẹ chăm sóc (Nurturing Parent - NP) ;trạng thái cái tôi Trẻ em được thể hiện bởi dạng Đứa trẻ thích nghi (Adapted Child -AC) và Đứa trẻ tự nhiên (Natural Child - NC)

Nếu cái tôi Cha mẹ nghiêm khắc (Critical Parent) có đặcđiểm là dễ thất vọng, buồn phiền, có cảm giác lúc nào mìnhcũng đúng, bảo ban, kiểm soát, nghiêm khắc, hay phê phánngười khác thì cái tôi Cha mẹ chăm sóc (Nurturing Parent)lại có tính yêu thương, chăm sóc, quan tâm, thấu hiểu, v.v

Ở trạng thái cái tôi Người lớn (Adult) chúng ta thường đóngvai trò của một chiếc máy tính: xử lý dữ liệu, sắp xếp thôngtin, dự trù khả năng, đưa ra nhận xét hợp lý và cung cấpnhững phản hồi không mang tính phán xét

Khi chúng ta ở trạng thái Đứa trẻ tự nhiên (Natural Child),

ta thường hay cười, chia sẻ niềm vui, cám giác phấn khích,hăng hái và tự do bày tỏ buồn, giận và sợ mà không bị kìmhãm Khi ở trạng thái Đứa trẻ thích nghi (Adapted Child), tathường có hành vi hoặc chống đối hoặc ngoan ngoãn vâng

A

Trang 40

Như đã giải thích ở phần trước, nền tảng của việc phát triển kỹ năng mềm nằm ởchỗ giúp cho con người xây dựng được khả năng hiểu và tự mình thay đổi cóhiệu quả hành vi của bản thân Ở chương này chúng ta sẽ đi sâu vào ba công cụ

tự phân tích bản thân: biểu đồ các trạng thái cái tôi, tương tác kích thích và vị thếcuộc sống Mỗi công cụ này được miêu tả như sau:

Biểu đồ các trạng thái cái tôi

Biểu đồ các trạng thái cái tôi là một biểu đồ miêu tả mức năng lượng một ngườichủ động sử dụng ra bên ngoài khi tiếp xúc với những người khác Đó là mộtbiểu đồ cột thể hiện toàn bộ tính cách của một con người và được sử dụng vớimục đích ghi nhận phản hồi từ những người khác sau khi đã tiếp xúc với người

đó Biểu đồ các trạng thái cái tôi dựa trên giả thuyết bất biến (constancyhypothesis) phát biểu rằng năng lượng tâm lý bên trong một con người thì khôngđổi Ví dụ, nếu một người tập trung năng lượng cho trạng thái cái tôi Đứa trẻ tựnhiên thì những trạng thái cái tôi còn lại sẽ nhận được ít năng lượng hơn

Các dạng tương tác kích thích: Có nhiều dạng tương tác kích thích

- Ngôn ngữ hoặc phi ngôn ngữ

- Tích cực hoặc tiêu cực

- Có điều kiện hoặc không điều kiện

Bất cứ sự tương giao nào cũng là sự trao đổi các tương tác kích thích Sẽ không

có giao tiếp nào được thực hiện mà không có tương tác kích thích phi ngôn ngữ.Tương tác kích thích tích cực làm cho chúng ta cảm thấy an tâm về người khác

và bản thân ta trong khi tương tác kích thích tiêu cực cho chúng ta cảm giác bất

ổn về bản thân, về những người khác, hoặc cả hai Tuy nhiên, một tương táckích thích tiêu cực cũng vẫn tốt hơn là không có tương tác kích thích nào

Tương tác kích thích có điều kiện đề cập đến cái mà con người “làm” trong khitương tác kích thích không điều kiện dành cho trạng thái hiện tại của con người(“đang là”) Có thể tồn tại cả tương tác kích thích có điều kiện tích cực (Ví dụ:

Ngày đăng: 23/05/2018, 18:23

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w