Tỉnh Hưng Yên thuộc Đồng bằng sông Hồng nằm trong vùng kinh tế trọng điểm của Bắc Bộ, Với hơn 85% số hộ ở nông thôn, 40% số lao động nông nghiệp đóng góp gần 12,84% GDP toàn tỉnh năm 201
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận án “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp
tỉnh HưngYên theo hướng hiện đại “là một công trình nghiên cứu của
riêng tôi, các số liệu sử dụng trong luận án là trung thực và có nguồn gốc
rõ ràng Những kết luận khoa học của luận án này chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác
Tác giả luận án
Hoàng Minh Đức
Trang 4MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Mục lục ii
Danh mục các chữ viết tắt iv
Danh mục các bảng vi
Danh mục các hình, hộp vii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 10
1.1 Các công trình nghiên cứu liên quan đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo định hướng thị trường 10
1.2 Các công trình nghiên cứu liên quan đến đổi mới các hình thức tổ chức và quản lý sản xuất kinh doanh theo hướng hiện đại trong chuyển dịch 13
1.3 Các công trình nghiên cứu liên quan đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng ứng dụng khoa học công nghệ tiến tiến, công nghệ cao 15
1.4 Nghiên cứu liên quan đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng phát triển nông nghiệp bền vững và thích ứng với biến đổi khí hậu 17
1.5 Các công trình tiếp cận chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa 21
1.6 Những vấn đề đặt ra và hướng nghiên cứu của luận án 22
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG NGHIỆP THEO HƯỚNG HIỆN ĐẠI 24
2.1 Cơ sở lý luận về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng hiện đại 24
2.2.Kinh nghiệm thực tiễn về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng hiện đại 51 CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG NGHIỆP TỈNH HƯNG YÊN THEO HƯỚNG HIỆN ĐẠI 64
3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh Tế-xã hội tỉnh Hưng Yên ảnh hưởng đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp 64
3.2 Thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp tỉnh Hưng Yên theo hướng hiện đại 69
3.3 Đánh giá chung và những vấn đề đặt ra đối với chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp tỉnh Hưng Yên theo hướng hiện đại 112
Trang 5CHƯƠNG 4 ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU
KINH TẾ NÔNG NGHIỆP TỈNH HƯNG YÊN THEO HƯỚNG HIỆN ĐẠI 123
4.1 Tác động của bối cảnh quốc tế, trong nước đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp tỉnh Hưng Yên theo hướng hiện đại 123
4.2 Quan điểm và định hướng về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp tỉnh Hưng Yên theo hướng hiện đại 127
4.3 Giải pháp chủ yếu nhằm thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp Hưng Yên theo hướng hiện đại đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2030 137
KẾT LUẬN 151
DANH MỤC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ 153
TÀI LIỆU THAM KHẢO 154
PHỤ LỤC 165
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
AEC : Cộng đồng kinh tế ASEAN (Asean Economic Community) ATVSTP : An toàn vệ sinh thực phẩm
ATSH : An toàn sinh học
CNC : Công nghệ cao
CCKTNN : Cơ cấu kinh tế nông nghiệp
CDCCKTNN : Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp
CMH : Chuyên môn hóa
CNH, HĐH : Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
CCN : Cụm công nghiệp
DN : Doanh nghiệp
DTĐR : Dồn thửa đổi ruộng
ĐVT : Đơn vị tính
FAO : Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc
(The Food and Agriculture Organization of the United Nations)FTA : Hiệp định thương mại tự do (Free Trade Agreement)
GAP : Tiêu chuẩn và thực hành nông nghiệp tốt (Good
Agricultural Practices)
GAHP : Thực hành sản xuất chăn nuôi tốt (Good Animal
Husbandry practice) GDP : Tổng sản phẩm quốc nội ( Gross Domestic Product)
GLOBALGAP : Thực hành nông nghiệp tốt toàn cầu (Global Good
Agricultural Practice) GTSX : Giá trị sản xuất
GTSXNN : Giá trị sản xuất nông nghiệp
HACCP : Hệ thống phân tích mối nguy và Kiểm soát điểm tới hạn
(Hazard Analysis and Critical Control Point System) HTX : Hợp tác xã
ISO : Tổ chức tiêu chuẩn hóa quốc tế (Internationnal
Trang 7Organization for Standardization) IPM : Integrated Pest Management ( quản lý dịch hại tổng hợp) KHKT : Khoa học kỹ thuật
KCN : Khu công nghiệp
KH&CN : Khoa học và công nghệ
LIFSAP : Dự án cạnh tranh ngành chăn nuôi và an toàn thực phẩm NCS : Nghiên cứu sinh
NSNN : Ngân sách Nhà nước
NN&PTNT : Nông nghiệp và phát triển nông thôn
OECD : Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (Organization for
Economic Cooperation and Development) PPP : Hình thức đối tác công tư (Public private partnership) PRA : Đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia của cộng đồng SXKD : Sản xuất kinh doanh
SXNN : Sản xuất nông nghiệp
SRI : Hệ thống canh tác lúa cải tiến(System Rice Intensification) TTCN : Tiểu thủ công nghiệp
TNHH : Trách nhiệm hữu hạn
THT : Tổ hợp tác
UDCNC : Ứng dụng công nghệ cao
UBND : Ủy ban nhân dân
UNEP : Tổ chức môi trường Liên Hiệp Quốc ( United Nations
Environment Programme)
VietGAP : Vietnamese Good Agricultural Practices (thực hành
nông nghiệp tốt Việt Nam) WTO : Tổ chức y tế thế giới(World Health Organization)
WB : Ngân hàng thế giới ( World Bank)
WCED : Ủy ban Thế giới về môi trường và phát triển (World
Commission on Environment and Development)
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Một số nội dung khác nhau giữa cơ cấu kinh tế nông nghiệp
truyền thống và cơ cấu kinh tế nông nghiệp hiện đại
Bảng 3.3 Cơ cấu lao động phân theo ngành kinh tế giai đoạn 201-2016 73
Bảng 3.4 Tốc độ chuyển dịch cơ cấu ngành trồng trọt Hưng Yên 2011-2016 76
Bảng 3.5 Tốc độ chuyển dịch cơ cấu ngành chăn nuôi Hưng Yên 2011-2016 80
Bảng 3.6 Thực trạng tiếp cận thị trường trong chuyển đổi cơ cấu sản
xuất của các nhóm hộ
81
Bảng 3.7 Ý kiến đánh giá của cán bộ địa phương về hướng chuyển đổi
cơ cấu sản xuất nông nghiệp giai đoạn 2011-2016
83
Bảng 3.8 Kết quả tập trung ruộng đất thông qua dồn thửa, đổi ruộng tỉnh
Hưng Yên phân theo huyện, thành phố giai đoạn 2013-2016
85
Bảng 3.9 Hiện trạng tích tụ đất nông nghiệp Hưng Yên giai đoạn 2011-2016 86
Bảng 3.10 Một số chỉ tiêu phản ánh kết quả tập trung ruộng đất 2011-2016 87
Bảng 3.11 So sánh hiệu quả của 1 ha giống lúa BT7 trồng theo cánh
đồng lớn với trồng theo phương thức đại trà phân tán và cá thể
88
Bảng 3.12 Thực trạng liên kết của hộ nông dân trong chuyển dịch cơ cấu
kinh tế nông nghiệp tại Hưng Yên năm 2017
90
Bảng 3.13 Một số chỉ tiêu về trang trại giai đoạn 2011-2016 92
Bảng 3.14 Mức độ khó khăn của hộ, trang trại trong chuyển đổi sản xuất
theo hướng hiện đại
93
Bảng 3.15 Một số HTX kiểu mới tổ chức, sản xuất theo hướng hiện đại 95
Bảng 3.16 Một số tình hình chung về doanh nghiệp nông nghiệp trên địa
bàn tỉnh Hưng Yên năm 2017
97
Bảng 3.17 Hàm lượng đầu tư công nghệ trong sản xuất một số nông sản,
sản xuất theo quy trình tiên tiến, ứng dụng CNC giai đoạn 2011-2016
105
Bảng 3.18 Tỷ trọng giá trị sản xuất, diện tích của một số sản phẩm chất
lượng ứng dụng công nghệ cao so với toàn ngành giai đoạn 2011-2015
106
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1 Các khía cạnh biểu hiện cơ bản của cơ cấu kinh tế nông nghiệp 25 Hình 2.2 Các giai đoạn chuyển đổi cấu trúc nông nghiệp 32 Hình 2.3 Mục tiêu và yêu cầu phát triển nông nghiệp, nông thôn qua các
giai đoạn của chuyển đổi cấu trúc kinh tế
33
Hình 2.4 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp qua các mô hình sản
xuất nông nghiệp theo hướng hiện đại
34
Hình 2.5 Mô hình nông nghiệp phát triển theo hướng hiện đại 36 Hình 2.6 Tái cơ cấu ngành nông nghiệp Đài Loan định hướng xuất khẩu 55 Hình 3.1 Tăng trưởng GDP ngành nông nghiệp Hưng Yên giai đoạn 1997-2016 66 Hình 3.2 Cơ cấu giá trị sản xuất nội ngành nông nghiệp Hưng Yên giai
đoạn 2005-2016
74
Hình 3.3 Khả năng đáp ứng nhu cầu một số nông sản chất lượng cao ở thị
trường Hưng Yên và Hà Nội năm 2015
Hình 3.6 Mô hình liên kết kinh tế có hợp tác xã tham gia làm trung gian
trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp tỉnh Hưng Yên
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Lịch sử phát triển kinh tế các quốc gia trên thế giới cho thấy khu vực nông nghiệp, nông thôn luôn là điểm khởi đầu của quá trình CNH, HĐH đất nước Phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp(CCKTNN) theo hướng từ truyền thống lên hiện đại và phát triển bền vững (PTBV) đã trở thành một xu thế tất yếu Sau 30 năm đổi mới và phát triển sản xuất nông nghiệp nước ta đã đạt được những thành tựu đáng kể từ chỗ thiếu lương thực đến nay đã trở thành quốc gia xuất khẩu gạo đứng thứ 2 thế giới và có kim ngạnh xuất khẩu nông sản trên 30 tỷ USD (năm
2014 đạt 30,86 tỷ USD, năm 2016 đạt 32,10 tỷ USD tăng 5,4% so với năm 2015, trong
đó có 10 mặt hàng xuất khẩu đạt trên 1 tỷ USD)[91] và nông nghiệp đã có quan hệ thương mại ổn định với hơn 160 quốc gia, vùng lãnh thổ trên thế giới [113]
Tuy vậy, nền nông nghiệp nước ta vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập, cơ bản vẫn là một ngành sản xuất manh mún, khả năng cạnh tranh, giá trị gia tăng, thu nhập thấp,
và thiếu tính bền vững, chất lượng nông sản còn hạn chế Tuy có nhiều mặt hàng có khối lượng xuất khẩu lớn nhất, nhì thế giới nhưng chủ yếu xuất khẩu sản phẩm thô, chưa tham gia sâu vào chuỗi giá trị nông sản toàn cầu thu nhập và đời sống của người nông dân còn nhiều khó khăn [34]
Tỉnh Hưng Yên thuộc Đồng bằng sông Hồng nằm trong vùng kinh tế trọng điểm của Bắc Bộ, Với hơn 85% số hộ ở nông thôn, 40% số lao động nông nghiệp đóng góp gần 12,84% GDP toàn tỉnh (năm 2016), trải qua 20 năm từ khi tái lập tỉnh, ngành nông nghiệp cũng đã có bước phát triển, cơ cấu kinh tế nông nghiệp(CCKTNN) chuyển dịch theo hướng sản xuất hàng hóa, thu nhập bình quân đầu người trên 40 triệu đồng, tỷ lệ hộ nghèo còn khoảng 6,81%, bộ mặt nông thôn ngày càng đổi mới Tuy nhiên đến nay ngành nông nghiệp của Hưng Yên cơ bản vẫn
là một ngành có giá trị gia tăng thấp, tỷ trọng sản phẩm ứng dụng công nghệ cao(CNC) chưa nhiều, sản phẩm nông nghiệp chủ yếu tiêu thụ trong nước Với cơ cấu kinh tế nông nghiệp như hiện nay của Hưng Yên chưa được coi là một nền nông nghiệp đủ mạnh để có thể tạo ra bứt phá mới, đủ sức cạnh tranh trên thị trường trong
Trang 11nước và quốc tế Trong những năm gần đây tốc độ tăng trưởng của ngành nông nghiệp có xu hướng giảm(giai đoạn 2011-2015 tốc độ tăng bình quân 2,2%; năm
2014 mức tăng trưởng đạt chưa tới 2%, 2016 tăng 2,56%) [108], công nghiệp, dịch vụ nông thôn phát triển chậm, sự tham gia của các doanh nghiệp (DN) trong chuỗi giá trị sản xuất nông nghiệp(SXNN) còn hạn chế điều đó bắt buộc phải có sự thay đổi, và một trong những hướng quyết định là thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng hiện đại
Đặc biệt trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng cùng với tác động của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, ngành nông nghiệp Việt Nam nói chung, Hưng Yên nói riêng đang đứng trước cơ hội, thách thức to lớn đỏi hỏi phải chuyển dịch theo hướng hiện đại, ứng dụng CNC là yêu cầu tất yếu phù hợp với bối cảnh mới Thủ tướng chính phủ cũng đã phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển kinh
tế - xã hội tỉnh Hưng Yên đến năm 2020 thể hiện trong quyết định số 2111/QĐ-TTg
ngày 28/11/2011 cũng chỉ rõ:“Phát triển nông nghiệp theo hướng hiện đại toàn diện,
hiệu quả, bền vững áp dụng kỹ thuật và công nghệ vào sản xuất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa gắn với chế biến, tiêu thụ tạo ra những sản phẩm sạch, có năng suất và giá trị gia tăng cao; hình thành các vùng sản xuất hàng hóa tập trung, quy mô lớn ”[81] Ngày 13/6/2013 Thủ tướng chính phủ ban hành Quyết định số
899/2013/QĐ-TTg phê duyệt đề án “Tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng
cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững” và đến tháng 11 năm 2017 Thủ tướng
Chính Phủ đã “Quyết định phê duyệt kế hoạch cơ cấu lại ngành nông nghiệp giai đoạn
2017-2020” với những tiêu chí giám sát, đánh giá cụ thể về cơ cấu lại ngành nông
nghiệp đến năm 2020 mỗi văn bản kèm theo những mục tiêu cụ thể, trong đó tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng hiện đại, trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế để nâng cao sức cạnh tranh là một nội dung cấp thiết được thực hiện trong đó
Do vậy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng hiện đại có ý nghĩa đặc biệt quan trọng giúp cho ngành nông nghiệp Việt Nam nói chung, Hưng Yên nói riêng khắc phục được những hạn chế, tạo bứt phá mới trong phát triển và để giải đáp những câu hỏi nghiên cứu đề ra, đồng thời góp phần làm rõ những vấn đề có tính quy luật của việc chuyển dịch từ truyền thống lên hiện đại, góp thêm những luận cứ khoa học xác đáng cho chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp trong mối quan hệ với phát
Trang 12triển thể chế thị trường, cách mạng công nghệ và hội nhập quốc tế Do đó, nghiên cứu
đề tài “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp tỉnh Hưng Yên theo hướng hiện đại”
là có ý nghĩa về lý luận, thực tiễn và tính thời sự cấp bách hiện nay trong bối cảnh mới
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1.Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở hệ thống hóa và làm rõ về lý luận, thực tiễn về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng hiện đại, luận án đi sâu phân tích thực trạng quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp tỉnh Hưng Yên theo hướng hiện đại, đề xuất quan điểm, định hướng và giải pháp chủ yếu nhằm chuyển dịch CCKTNN tỉnh Hưng Yên theo hướng hiện đại đến năm 2025 và tầm nhìn đến năm 2030
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, luận án tập trung thực hiện các nhiệm
vụ cụ thể như sau:
- Hệ thống hóa và làm rõ các vấn đề lý luận, chắt lọc kinh nghiệm trong nước
và quốc tế về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp từ truyền thống lên hiện đại, làm cơ sở xây dựng khung phân tích và lý thuyết của đề tài luận án
- Phân tích, đánh giá thực trạng chuyển dịch CCKTNN theo hướng hiện đại trên địa bàn tỉnh Hưng Yên trên trên các nội dung kinh tế, xã hội, công nghệ, tổ chức, thể chế và môi trường, nhằm làm rõ những kết quả, hạn chế, nguyên nhân và các vấn
đề đặt ra cần giải quyết trong quá trình chuyển dịch theo hướng hiện đại
- Đề xuất, quan điểm, định hướng và các giải pháp chủ yếu nhằm đẩy mạnh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp tỉnh Hưng Yên theo hướng hiện đại đến năm 2025 và tầm nhìn đến năm 2030
Câu hỏi nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên luận án tập trung trả lời các câu hỏi nghiên cứu:
1 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng hiện đại là gì? Cơ cấu kinh tế nông nghiệp hiện đại khác với CCKTNN truyền thống ở những điểm gì?
2 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng hiện đại bao gồm những nội dung cơ bản gì? và chịu sự tác động bởi những yếu tố nào? Chỉ tiêu nào đánh giá chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng hiện đại?
Trang 133 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng hiện đại ở tỉnh Hưng Yên thời gian qua diễn ra như thế nào? Hưng Yên đã làm gì và làm như thế nào để thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng hiện đại một cách có hiệu quả? Giải pháp nào để thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp tỉnh Hưng Yên theo hướng hiện đại?
Giả thuyết nghiên cứu
- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp tỉnh Hưng Yên thời gian qua đã được thực hiện tích cực, tuy nhiên chưa thoát khỏi cách làm cũ và cho đến nay chuyển dịch CCKTNN còn nhiều nội dung, yếu tố chưa hướng đến mục tiêu hiện đại
- Hưng Yên đang ở giai đoạn đầu của quá trình chuyển dịch theo hướng hiện đại còn gặp nhiều khó khăn và cần làm rõ lý luận, mô hình và các giải pháp để thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp tỉnh Hưng Yên theo hướng hiện đại được diễn ra thuận lợi hơn trong giai đoạn tới
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng hiện đại
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Không gian: Đề tài luận án được nghiên cứu trên địa bàn tỉnh Hưng Yên, tập trung
nghiên cứu ở một số huyện, xã và mô hình trọng điểm, đại diện của tỉnh Hưng Yên
Thời gian: Nghiên cứu thực trạng là từ năm 2010 đến năm 2016 Định hướng
và các giải pháp đến năm 2025 và tầm nhìn đến năm 2030
Nội dung: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng hiện đại là một
vấn đề phức tạp và được nhìn nhận dưới nhiều góc độ khác nhau Tuy nhiên trong khuôn khổ luận án tập trung đánh giá các vấn đề có liên quan đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành trồng trọt và ngành chăn nuôi thuộc nội ngành nông nghiệp tỉnh Hưng Yên theo hướng hiện đại còn các nội dung khác của chuyển dịch có liên quan luận án xem xét đề cập ở một mức độ nhất định và phục vụ cho việc đánh giá quá trình
chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp
Trang 144 Phương pháp tiếp cận và phương pháp nghiên cứu của luận án
4.1 Phương pháp tiếp cận
Tiếp cận liên ngành, đa ngành: Đây là tiếp cận liên khoa học, là sự tổng hợp
tri thức của nhiều lĩnh vực, ngành học là quá trình liên kết thiết lập các mối quan hệ qua lại, quy định và ảnh hưởng lẫn nhau giữa những phương pháp và quy trình của nhiều chuyên gia khác nhau[116]
Tiếp cận theo vùng: Nghiên cứu các yếu tố riêng biệt của mỗi vùng từ đó rút
ra được những giải pháp phù hợp với điều kiện đặc thù của từng vùng, địa phương
Tiếp cận có sự tham gia: Tiếp cận có sự tham gia là phương pháp dựa vào cộng
đồng tức là phải dựa trên lợi ích và sự tham gia của cồng đồng trong khu vực đó
Tiếp cận hệ thống: Tiếp cận hệ thống được sử dụng đánh giá quá trình chuyển
dịch CCKTNN ở Hưng Yên theo một hệ thống các yếu tố bên trong và bên ngoài có ảnh hưởng trực tiếp, gián tiếp đến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp
Tiếp cận thị trường: Nhìn nhận việc chuyển dịch CCKTNN dưới tác động của
thị trường, do thị trường quyết định thông qua thị trường mà chủ thể có phương án
thay đổi các yếu tố đầu vào, công nghệ nhằm tạo ra sự chuyển dịch hiệu quả nhất
Tiếp cận phát triển bền vững: Nhìn nhận quá trình chuyển dịch CCKTNN là
một “công cụ” để phát triển và công cụ này nhằm khắc phục những hạn chế trong sản xuất, hướng tới sự phát triển toàn diện về kinh tế, xã hội, môi trường
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng phương pháp định tính kết hợp với nghiên cứu định lượng tuy nhiên phương pháp định tính là chủ đạo, cụ thể sẽ sử dụng các phương pháp sau:
4.2.1 Phương pháp thu thập số liệu
4.2.1.1 Thu thập số liệu đã công bố (số liệu thứ cấp)
Là số liệu thống kê đã công bố trên các phương tiện truyền thông, niên giám thống kê, báo cáo về tình hình kinh tế xã hội, tình hình sản xuất nông nghiệp Các văn bản chính sách có liên quan đến chuyển dịch CCKTNN của tỉnh như các loại báo cáo, tổng kết năm của sở NN&PTNT Hưng Yên, sở kế hoạch đầu tư; niên giám thống kê và các tài liệu khác có liên quan
4.2.1.2 Thu thập số liệu mới (số liệu sơ cấp)
Các số liệu mới về thực trạng chuyển dịch CCKTNN ở tỉnh Hưng Yên được thu thập bằng các phương pháp cụ thể như:
Trang 15Đánh giá nhanh có sự tham gia PRA (Participatory Rural Appraisal) Trước
khi tiến hành chọn điểm điều tra, Nghiên cứu sinh sẽ làm việc với các lãnh đạo, cán
bộ thuộc sở nông nghiệp, phòng nông nghiệp một số huyện về tình hình SXNN thông qua các công cụ đánh giá nhanh như tham vấn chuyên gia, phỏng vấn bán cấu trúc, quan sát thực tế, cùng các cộng sự thông qua việc tiếp cận với người nông dân, điều tra khảo sát thực địa để tìm hiểu về tình hình sản xuất của hộ về quy mô, điều kiện sản xuất, kỹ thuật áp dụng, liên kết với các chủ thể có liên quan nào? Khó khăn và thuận lợi, thách thức và cơ hội từ góc nhìn và nhận thức của người nông dân? Trên cơ
sở đó tác giả lựa chọn điểm, hộ sản xuất để tiến hành điều tra theo phiếu khảo sát đã chuẩn bị trước Các công cụ chủ yếu của PRA sau đây được dùng:
- Phỏng vấn người cung cấp thông tin trực tiếp thông qua phiếu điều tra 3 đối tượng: các hộ sản xuất; các cán bộ lãnh đạo địa phương ở các huyện, xã trực tiếp chỉ đạo sản xuất nông nghiệp, các DN nông nghiệp tham gia liên kết trên địa bàn tỉnh
- Thảo luận nhóm có sự tham gia của các đối tượng khác nhau được mời thông thường một nhóm thảo luận gồm 5-10 người đại diện cho các hộ sản xuất điển hình được tiến hành để đánh giá nhanh tình hình của hộ Kết quả của thảo luận làm nền tảng, cơ sở để tác giả kiểm tra chéo các kết quả phỏng vấn của hộ và lựa chọn hộ để phỏng vấn sâu về tình hình SX theo hướng hiện đại làm căn cứ đánh giá đề tài
* Chọn điểm điều tra, mẫu điều tra Để thu thập thông tin mới đạt được độ tin
cậy và có tính đại diện cho toàn tỉnh Hưng Yên, tác giả tiến hành điều tra 3 huyện đại diện gồm huyện Khoái Châu; Kim Động và huyện Yên Mỹ (chọn mẫu điều tra, điểm điều tra, đối tƣợng điều tra đƣợc tác giả mô tả ở hộp 07 phần phụ lục).
4.2.2 Phương pháp xử lý số liệu
Các số liệu và phiếu điều tra được chúng tôi tiến hành tổng hợp thủ công và
được hệ thống hóa, xử lý và tính toán các chỉ tiêu thông qua công cụ chủ yếu bằng phần mềm Word, Excel trong phần mềm Microsotf trên máy tính
4.2.3 Phương pháp phân tích số liệu
4.2.3.1 Phương pháp thống kê kinh tế
Thông qua phương pháp này mà các số liệu phản ánh sự chuyển dịch được thu thập một cách có hệ thống Các số liệu thống kê mô tả phản ánh về mức độ, thực trạng các vấn đề có liên quan, phản ánh sự biến động cũng như mối liên hệ giữa các nhân tố trong quá trình chuyển dịch CCKTNN Hưng Yên theo hướng hiện đại
Trang 164.2.3.3 Phương pháp nghiên cứu trường hợp (Case Study)
Phương pháp này thông qua việc lựa chọn một số mô hình điển hình tại các xã, huyện đại diện Từ các điển hình đại diện này chúng tôi nghiên cứu toàn diện và đánh giá sâu trên các mặt có liên quan đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng hiện đại từ đúc rút ra những bài học cho các xã, huyện khác
4.2.3.4 Phương pháp chuyên gia
Phương pháp này được sử dụng để tham khảo ý kiến các chuyên gia (là các Nhà khoa học thuộc Học viện khoa học xã hội, ngoài học viện các cán bộ có liên quan các cấp, các cán bộ trong các doanh nghiệp ) tại thời điểm nghiên cứu giúp tác giả có những đánh giá, nhìn nhận, bổ sung các định hướng giải pháp nhằm hoàn thiện mô hình chuyển dịch CCKTNN tỉnh Hưng Yên theo hướng hiện đại
4.2.4 Phương pháp Vectơ định lượng
Đây là phương pháp dùng đề lượng hóa mức độ chuyển dịch giữa hai thời điểm t0 và t1 bằng độ lớn của “góc” hợp bởi hai véc tơ cơ cấu ứng với hai thời điểm đó[29], để lượng hóa tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp giữa hai thời điểm t0 và t1, công thức này được các chuyên gia của WB đề xuất và được sử dụng phổ biến và được lượng hóa theo công thức định lượng sau[17, tr41]:
Trong đó: - Si(t0) là tỷ trọng của ngành i ở thời điểm t0 lấy làm kỳ gốc
-Si(t1) là tỷ trọng của ngành i ở thời điểm t1 lấy làm kỳ nghiên cứu
-α: Là góc được tạo bởi Si(t0) và Si(t1) với 0≤α≤90
-Nếu: Cosα=1 tức α=0 tức là góc giữa 2 véc tơ bằng 0 khi đó hai cơ cấu là đồng nhất và khi đó không có sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Trang 17-Nếu: Cosα=0 tức α=90 tức là góc giữa 2 véc tơ bằng 90o, hai cơ cấu là trực giao khi đó sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế đạt cực đại Hay nói cách khác Cosα càng lớn thì α càng nhỏ hai cơ cấu gần nhau , sự chuyển dịch chậm và ngược lại[40] Tốc
độ chuyển dịch CCKT được xác định theo công thức sau:
α
= 90
Luận án sử dụng công thức này để đánh giá tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế của ngành nông nghiệp Hưng Yên trên cơ sở tỷ trọng các thành phần cấu tạo lên chúng, từ đó có cái nhìn tổng quan về xu thế chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp giúp luận án đưa ra những đánh giá, chính xác, đầy đủ về thực trạng, xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp tỉnh Hưng Yên theo hướng hiện đại
5 Những đóng góp mới về khoa học của luận án
- Hệ thống hóa và làm rõ một số vấn đề cơ bản về lý luận chuyển dịch CCKTNN;
từ đó rút ra các kết luận mang tính quy luật của quá trình chuyển dịch từ truyền thống
lên hiện đại; xây dựng khái niệm, làm rõ nội dung của chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng hiện đại và các yếu tố ảnh hưởng; xây dựng hệ thống các chỉ tiêu đánh giá và các vấn đề lý luận có liên quan
- Phân tích kinh nghiệm chuyển dịch CCKTNN theo hướng hiện đại của một số
quốc gia, vùng lãnh thổ trên thế giới và một số tỉnh, thành ở Việt Nam, từ đó rút ra những bài học có thể áp dụng đối với những điều kiện cụ thể của tỉnh Hưng Yên trong trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp
- Luận án vận dụng những phương pháp đã được xác định trên, tập trung phân tích, đánh giá thực trạng chuyển dịch CCKTNN tỉnh Hưng Yên theo hướng hiện đại trên các nội dung về nguồn lực, thị trường, tổ chức sản xuất, công nghệ và môi trường
- Đề xuất quan điểm, định hướng và hệ thống giải pháp chủ yếu một cách toàn diện,
cụ thể, khả thi nhằm thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp tỉnh Hưng Yên theo hướng hiện đại, bền vững đến năm 2025 và tầm nhìn đến đến năm 2030
Trang 186 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
6.1 Ý nghĩa về mặt lý luận
Luận án giải quyết một cách trực tiếp những vấn đề lý luận về chuyển dịch CCKTNN theo hướng hiện đại làm cơ sở cho nghiên cứu trên địa bàn tỉnh Hưng Yên một cách có hệ thống bao gồm: Làm rõ khái niệm, đặc trưng cơ bản và những nội dung, tiêu chí cơ bản của chuyển dịch theo hướng hiện đại Luận án nhìn nhận và xem xét quá trình chuyển dịch CCKTNN một cách đồng bộ, đồng thời cả về cơ cấu lẫn thể chế, môi trường, bối cảnh phát triển hiện tại, nhấn mạnh vai trò quyết định của KHCN đặc biệt là CNC, vai trò của doanh nghiệp và các tổ chức sản xuất
6.2 Ý nghĩa về mặt thực tiễn
Luận án nghiên cứu trên địa bàn tỉnh Hưng Yên trong bối cảnh phát triển mới, bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng, với sự tác động mạnh của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, cuộc cách mạng công nghệ 4.0 và quá trình biến đổi khí hậu diễn ra gay gắt và đây cũng là bối cảnh Hưng Yên chuyển dần từ một tỉnh nông nghiệp sang một tỉnh công nghiệp, đô thị hóa diễn ra mạnh, không gian cho sản xuất nông nghiệp giảm đi trong khi đó nhu cầu về nông sản đặc biệt là nông sản sạch cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu ngày một tăng Mặt khác hiện nay ở Hưng Yên vẫn còn trên 80% số
hộ ở nông thôn trong đó khoảng gần 40% số hộ chủ yếu sống bằng nghề nông, đời sống còn khó khăn, môi trường đang có những diễn biến phức tạp Trong bối cảnh đó việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp thành công theo hướng hiện đại có ý nghĩa rất quan trọng nhằm tạo ra bứt phá mới trong phát triển
Luận án còn có thể là một tài liệu tham khảo hữu ích trong nghiên cứu và giảng dạy ở các trường khối ngành kinh tế phát triển, kinh tế nông nghiệp, cho các cơ quan hoạch định chính sách và quản lý về nông nghiệp
7 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận án được chia thành 4 chương chính:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chương 2: Cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về chuyển dịch cơ cấu kinh tế
nông nghiệp theo hướng hiện đại
Chương 3: Thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp tỉnh Hưng Yên
theo hướng hiện đại
Chương 4: Định hướng và giải pháp nhằm chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông
nghiệp Hưng Yên theo hướng hiện đại
Trang 19CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
Ngày nay trong bối cảnh mới với sự tác động của thị trường, hội nhập quốc tế sâu rộng, cách mạng công nghiệp 4.0 và biến đổi khí hậu diễn biến phức tạp chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng hiện đại phù hợp với bối cảnh mới đang
là vấn đề thời sự đã, đang và luôn thu hút sự quan tâm của các Nhà khoa học trong và ngoài nước Cho đến nay, ở trong và ngoài nước đã có rất nhiều công trình nghiên cứu có liên quan đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, cụ thể:
1.1 Các công trình nghiên cứu liên quan đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo định hướng thị trường
Cuốn sách “Sự thần kỳ Đông Á tăng trưởng và chính sách công” của ngân hàng thế giới (WB) ấn hành bởi Washington D.C, năm 1993[163] và “ Suy ngẫm lại sự thần
kỳ Đông Á” của hai tác giả Joseph E Stiglitz, Shahid Yusuf, nhà Xuất Bản Trường Đại
học Oxford, 2001 [143] là hai công trình nghiên cứu rất được độc giả quan tâm Trong
“Sự thần kỳ Đông Á tăng trưởng và chính sách công” các chuyên gia của WB cho rằng
chính sách cơ cấu là một trong những nhân tố có vai trò quyết định của sự thần kỳ ở các nước Đông Á như (Nhật Bản, Đài Loan, Singapore, Thái Lan ) và vai trò điều tiết thông qua chính sách của Nhà nước (đầu tư công) có vai trò kích thích sản xuất nông
nghiệp thông qua việc thay đổi cơ cấu sản phẩm nông nghiệp Trong “Suy ngẫm sự
thần kỳ Đông Á”, E Stiglitz và Shahid Yusuf lại chỉ ra ra những xu hướng ngược lại
Quan điểm của hai Ông cho rằng sự chuyển dich cơ cấu kinh tế chủ yếu do thị trường
quyết định quan điểm của hai ông hướng tới việc chuyển đổi sản từ “sản xuất cái mình
có” sang “sản xuất cái thị trường cần” Xét trong bối cảnh ngày nay thì quan điểm
định hướng theo thị trường mở là một quan điểm hiện đại phù hợp với bối cảnh hội nhập Những nghiên cứu này cung cấp những luận điểm gợi mở, sự cân nhắc, chọn lọc đối với can thiệp của Nhà nước vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp trong giai đoạn mới đồng thời giúp tác giả cân nhắc khi xem xét đưa ra những nhân tố chi phối đến quá trình chuyển dịch theo hướng hiện đại
Cùng với quan điểm của E Stiglitz, Shahid Yusuf , nghiên cứu “Lựa chọn
chính sách phát triển nông nghiệp của các nước trong khối OECD”[145] từ năm
1961 đến 2008, xuất bản năm 2010 của tác giả J.Brooks, thông qua các mô hình điển
Trang 20hình ở một số nước Châu Á như Thái Lan đã chỉ ra: Tái cơ cấu nông nghiệp là một quá trình được định hướng bởi thị trường và chính thị trường thúc đẩy nội hàm của chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp về: (1) Tiến bộ kỹ thuật và công nghệ; (2) Phát triển tổ chức và thể chế, Theo tác giả tín hiệu của thị trường là một yếu tố căn bản quyết định các tác nhân tham gia thị trường bao gồm các hộ nông dân, các DNchế biến và kinh doanh, trang trại, người tiêu dùng theo một chuỗi sản xuất và sự hiệu quả của chuỗi là do sự liên kết ở mức độ nào và Nhà nước đóng vai trò là người cung cấp dịch vụ công nhưng không được làm thay đổi tín hiệu của thị trường
Cùng quan điểm trên, (Hayami Ruttan, 1985)[139] cho rằng, thị trường là công cụ để chuyển thu nhập, phải có một thị trường hoàn chỉnh và thu nhập của nông nghiệp sang công nghiệp phải được dùng để sản xuất các vật tư, cải tiến kỹ thuật và đổi mới công nghệ nông nghiệp Theo (G Cavallier, 1996) thì sự hình thành và phát triển các thị trường nông thôn thúc đẩy sự liên kết giữa nông thôn với đô thị, làm dịch
vụ đô thị đến được nông thôn nhằm phát triển nông nghiệp hàng hóa [70, tr 24]
Grunert, K., J Fruensgaard, K jespersen (2005)[138, tr 430] trong nhiều nghiên cứu của mình chỉ ra thị trường trong nước và quốc tế quyết định trực tiếp hay gián tiếp đến quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp Do vậy việc lập kế hoạch phục vụ chuyển đổi sản xuất phải tính đến yếu tố thị trường, các yếu tố công nghệ, nguồn lực Joachim von Braun(2005)[146, tr102] thì cho rằng khi xu thế toàn cầu hóa phát triển thì sẽ đem lại nhiều cơ hội thị trường cho các hộ sản xuất; tuy nhiên để gia nhập thị trường cần giảm chi phí thông qua chuyển đổi sản xuất tập trung, quy mô lớn, thí dụ như trang trại Chỉ có tập trung hóa và chuyên môn hóa thì sản xuất nông nghiệp mới thập nhập thị trường có hiệu quả và đem lại hiệu quả kinh tế cao
Đồng quan điểm trên trong nghiên cứu “New Traits in Agricultural Rural
Economic Restructuring”[141, tr16-19], tác giả Hoàng Hiển đề cập đến những vấn đề
mới trong chuyển dịch CCKTNN và nông thôn Việt Nam trong đó nhấn mạnh đến mục tiêu một mặt duy trì an ninh lương thực, cơ cấu lại sản xuất theo hướng đáp ứng nhu cầu thị trường, đổi mới các mối quan hệ sản xuất ở nông thôn
Công trình nghiên cứu “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành và phát triển các
ngành trọng tâm, mũi nhọn ở Việt Nam” Nxb KHXH, Hà nội năm 1996 do GS.TS
Đỗ Hoài Nam làm chủ biên là kết quả của đề tài Nghiên cứu khoa học cấp nhà nước KX.03.19 Từ phân tích, tổng kết lý luận một cách khá toàn diện, nghiên cứu đã chỉ
Trang 21ra cơ cấu ngành là một nội dung trong tâm của cơ cấu kinh tế và trong đó, các ngành trọng điểm mũi nhọn có tính chất đột phá trong phát triển Từ đó tác giả đã chỉ ra những tiêu chí cần đạt được để xem xét và xác định các ngành kinh tế trọng điểm mũi nhọn Nghiên cứu nhấn mạnh các yếu tố khoa học và công nghệ, lợi thế so sánh và lợi thế cạnh tranh, định hướng thị trường và định hướng xuất khẩu Phát triển các ngành kinh tế trọng điểm mũi nhọn phải tuân theo các tín hiệu của thị trường
Tác giả Đỗ Kim Chung, Nguyễn Phượng Lê với bài viết “Tái cơ cấu ngành nông
nghiệp: Kinh nghiệm quốc tế, quan điểm và định hướng cho Việt Nam”[38, tr53].Trên cơ
sở kinh nghiệm tái cơ cấu nông nghiệp của các nước Đông Nam Á, Đông Bắc Á và các nước khu vực Thái bình Dương, các tác giả đã đưa ra quan điểm định hướng tái cơ cấu nông nghiệp Việt Nam Theo nhóm tác giả, tái cơ cấu nông nghiệp là tái cơ cấu đầu tư công và dịch vụ để có nền nông nghiệp phát triển phù hợp với thị trường, đảm bảo an ninh dinh dưỡng và xây dựng nền nông nghiệp hàng hóa, thực hiện đầu tư công có trọng điểm Từ đó tác giả đề xuất định hướng tái cơ cấu theo hướng thị trường mở và đổi mới phương thức hỗ trợ nông dân và cung cấp dịch vụ cho nông nghiệp
Tác giả Trần Tiến Khai trong bài viết “Tái cơ cấu ngành nông nghiệp: Một
cách nhìn từ thị trường” năm 2015[35, tr 127-136] đã đề cập đến bối cảnh của phát
triển nông nghiệp hiện đại, thị trường xuất khẩu của Việt Nam và những đỏi hỏi của thị trường này Từ đó tác giả đã tiếp cận theo hướng thị trường để trả lời câu hỏi sản xuất cái gì? cho ai? Và sản xuất như thế nào? Theo tác giả để trả lời câu hỏi đó việc tái cơ cấu ngành nông nghiệp phải làm tốt các vấn đề (1) Quy hoạch sản xuất theo định hướng thị trường và sản phẩm chủ lực (2) Đầu tư thích ứng cho nghiên cứu KHCN và sản xuất, chế biến, xuất khẩu những sản phẩm chủ lực (3) Xây dựng các yếu tố cơ bản của nền nông nghiệp mạnh mẽ, hiệu quả cao, có sức cạnh tranh, thích ứng nhanh chóng với các yêu cầu của thị trường Từ đó tác giả đưa ra các giải pháp, các ưu tiên để giải quyết vấn đề của tái cơ cấu theo hướng thị trường Các nghiên cứu này cung cấp cho luận án một số gợi mở về hướng đi của chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng hiện đại
Nghiên cứu “Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở Việt Nam theo hướng hiện
đại: Quan điểm định hướng và phát triển”[34] của tác giả Vũ Thành Hưởng, Trần Hữu
Phước năm 2014 cũng chỉ ra rằng trong thời đại toàn cầu hóa khi thị trường quốc tế được mở rộng, đời sống và thu nhập dân cư tăng lên đó là những cơ hội và thách thức
Trang 22cho sản xuất nông nghiệp ở tất cả các quốc gia Việc tiến hành sản xuất phải do người nông dân làm chủ, họ cần kiểm soát tốt hơn trong các khâu sản xuất, lưu thông và tiêu thụ việc sản xuất phải theo tín hiệu của thị trường và phải đảm bảo chất lượng theo tiêu chuẩn chung về chất lượng, mẫu mã, an toàn và phải được thị trường chấp nhận
Tác giả Chu Tiến Quang trong nghiên cứu “Cơ cấu ngành nông nghiệp nhằm
nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển bền vững” đã cho rằng “Chuyển dịch cơ
cấu kinh tế nông nghiệp hiện đại chính là quá trình thích ứng của SXNN với thị trường tiêu thụ các sản phẩm do ngành nông nghiệp làm ra trong từng giai đoạn phát triển và kết quả của sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp phản ánh mức độ thị trường hóa ở quy mô quốc gia và quốc tế trong điều kiện toàn cầu hóa”[49, tr 198]
Trên cơ sở lập luận này tác giả khẳng định, “Chuyển dịch cơ cấu ngành nông nghiệp
là quá trình thay đổi về quy mô các chuyên ngành sản xuất thuộc ngành nông nghiệp theo hướng thích ứng nhiều hơn với nhu cầu của thị trường đồng thời phát huy được lợi thế so sánh của từng chuyên ngành, tạo ra cơ cấu ngành nông nghiệp mang tính
ổn định cao hơn và phát triển bền vững hơn trong kinh tế thị trường và hội nhập”
1.2 Các công trình liên quan đến đổi mới hình thức tổ chức và quản lý sản xuất kinh doanh theo hướng hiện đại trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp
Theo cách tiếp cận này thì doanh nghiệp sản xuất tập trung, quy mô lớn trong sản xuất nông nghiệp với vai trò là hạt nhân có đủ khả năng kết nối sản xuất phải là một nhân tố thúc đẩy tái cơ cấu ngành nông nghiệp đạt hiệu quả cao Stamm &
Christian trong nghiên cứu của ILO “Phát triển chuỗi giá trị: Phương pháp tiếp cận
và các hoạt động của bảy cơ quan Liên hợp quốc và các cơ hội cho sự phát triển liên ngành” đã cho rằng: doanh nghiệp tư nhân có quy mô lớn đóng một vai trò vô cùng
quan trọng trong việc kết nối các khâu trong toàn bộ chuỗi giá trị nông sản và thu hút các hộ nông dân nhỏ tham gia, bởi doanh nghiệp có tiềm năng về vốn, ứng dụng công nghệ, dễ tham gia thành công vào thị trường [159]
Các tác giả Drost, S., Jeroen van Wijk, Fenta Mandefro trong nghiên cứu “Key
conditions for succcessful value chain partnerships” vào năm 2012 đã nghiên cứu về
quan hệ đối tác trong chuỗi giá trị ở Ethiopia[131], Nghiên cứu chỉ ra rằng trong chuyển đổi SXNN thì các DNchế biến là người kết nối và dẫn dắt người nông dân sản xuất nhỏ lẻ, quy mô nhỏ lẻ tham gia vào chuỗi giá trị Các tiêu chuẩn và quy định về hàng hóa của các nhà bán lẻ và người chế biến có ảnh hưởng lớn tới người sản xuất và
Trang 23thể chế thị trường cần phải có hiệu lực để hỗ trợ cho tất cả các khâu của chuỗi giá trị hoạt động thông suốt và có hiệu quả từ nguyên vật liệu đầu vào, công nghệ, thông tin
Một nghiên cứu khác “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế và vai trò trung tâm của
kinh tế tư bản chủ nghĩa trong nông nghiệp” của các tác giả Terry Marsden, Sarah
Whatmore, Richard Munton[160, tr275] Mục đích của nghiên cứu này là kiểm tra những mối quan hệ giữa chủ thể trong trong sản xuất nông nghiệp Đó là mối quan hệ liên kết giữa các hộ nông dân, các trang trại gia đình, HTX và các doanh nghiệp nông nghiệp Nghiên cứu đã nhấn mạnh đến vai trò đầu tầu của các doanh nghiệp lớn và sự phát triển của kinh tế trang trại gia đình Sự liên kết đã làm thay đổi phương thức kinh doanh và cảnh quan nông trại, hình thành các trang trại lớn theo chế độ cổ phần hóa, vượt khỏi khuôn khổ của một gia đình, một nông hộ
Các nghiên cứu về “Tái cơ cấu trang trại ở cộng hòa liên bang Đức: Hướng
tới một mô hình trang trại mới” của tác giả Olivia J Wilson, Bernd Klages[154, tr
277-291]; “Chuyển dịch cơ cấu nông thôn và các mối liên kết kinh tế nông nghiệp và
nông thôn : Một nghiên cứu New Zealand” của Olivia J Wilson[155, tr 420-430] đều
cho rằng những yếu tố khởi đầu cho quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp bao gồm từ việc tư nhân hóa đất nông nghiệp quốc doanh cho việc hình thành các trang trại tư nhân lớn, các hộ sản xuất chuyên môn hóa sâu và doanh nghiệp quy mô lớn Những yếu tố này sẽ tạo tiền đề cho việc ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất, giảm chi phí và tiết kiệm lao động, giảm giá thành sản phẩm và tăng tính cạnh tranh trong nông nghiệp
Các luận điểm trong mô hình hiện đại hóa nông thôn do [Kunznet, 1984; Haque, 1977; WB, 1993] đều chỉ ra một điểm chung là phát triển nông nghiệp hiện đại mà trong tâm là chuyển dịch CCKTNN phải dựa trên KHCN hiện đại, phải được tổ chức hiện đại đồng bộ ở tất cả các khâu, phải dựa trên một nên sản xuất lớn tập trung và sử
dụng nguồn lực cao (Xem mô hình trang trại hiện đại hình 03 phần phụ lục)
Cùng chủ đề này là nghiên cứu “Các chuỗi giá trị nông nghiệp ở các nước đang
phát triển”[161] của Trieneken Jacques H, xuất bản năm 2011 đã đánh giá các chuỗi
giá trị hàng nông sản của các nước đang phát triển từng bước cải thiện được vị trí của mình trong chuỗi giá trị nông lâm thủy sản toàn cầu và tham gia vào những công đoạn tạo ra giá trị gia tăng cao là các khâu nghiên cứu và phát triển, chế biến, phân phối và tiêu thụ sản phẩm Ông gợi ý rằng việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông
Trang 24nghiệp cần hướng tới phát huy lợi thế từng vùng sao cho phù hợp và hiệu quả
Trong bài viết“Cấu trúc lại hay xây dựng lại nền nông nghiệp-Những cơ sở khoa
học của nó”[36, tr17-23], tác giả Vũ Trọng Khải cũng đã phân tích những cơ sở khoa
học của việc tái cơ cấu nông nghiệp trong bối cảnh ngày nay, nghiên cứu cho rằng cần phải xây dựng lại chiến lược sản phẩm trên phạm vi quốc gia, từng vùng, tiểu vùng nông nghiệp sinh thái đồng thời xây dựng lại nền nông nghiệp thể chế áp dụng phổ biến các mô hình quản lý theo chuỗi ngành hàng, từ trang trại đến bàn ăn, tích cực tích tụ và tập trung ruộng đất, đổi mới toàn diện các hình thức tổ chức như trang trại, kinh tế hộ và coi trọng vai trò của DN trong kết nối các chủ thể với thị trường
Nghiên cứu “Tái cơ cấu ngành nông nghiệp Việt Nam” của tác giả Nguyễn
Đình Long trên tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam năm 2016 đã đề cập đến định hướng và một số giải pháp chủ yếu cho phát triển nông nghiệp hiện đại ở Việt Nam; trong đó nhấn mạnh đến việc giải phóng và phát huy các nguồn lực, đẩy mạnh nghiên cứu ứng dụng CNC, đổi mới hình thức sản xuất, hình thành liên kết theo chuỗi giá trị nông sản hàng hóa lớn gắn với thương mại hiện đại, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao trong nông nghiệp
TS Đặng Kim Sơn, trong cuốn sách “Nông nghiệp, nông dân, nông thôn Việt Nam hôm nay và mai sau”[70] tác giả đã phân tích thực trạng ngành nông nghiệp qua
20 năm đổi mới, khẳng định vai trò của nông nghiệp và chỉ ra những bất cập trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp Tác giả nhận định rằng tổ chức sản xuất và dịch vụ manh mún, sản xuất nhỏ lẻ là lực cản của sản xuất lớn theo hướng hiện đại đồng thời đặt ra những vấn đề lớn trong nền nông nghiệp nước ta cần phải giải quyết, ví dụ tập trung đất đai, lao động, tạo lập các yếu tố, điều kiện cho chuyển dịch
cơ cấu kinh tế nông nghiệp
1.3 Các công trình nghiên cứu liên quan đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng ứng dụng khoa học công nghệ tiến tiến, công nghệ cao
Theo J.H von Thunew (1986) thì nông nghiệp công nghệ cao là nơi hội tụ các thành tựu tiên tiến nhất về công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu, công nghệ thông tin và tự động hóa trong một hệ thống nông nghiệp tập trung nhằm tạo ra một quy mô sản xuất và trình diễn công nghệ có tác dụng tích cực tới chuyển đổi
cơ cấu kinh tế nông nghiệp[32]
Trang 25Mike Baroni(2011) thuộc Học viện quốc gia Hoa kỳ với nghiên cứu “Cầu nối
giữa nông nghiệp và thông tin công nghệ Đổi mới và cấp thiết hướng tới một cuộc cách mạng xanh mới”[153] cho rằng, việc ứng dụng CNC đồng bộ và thường xuyên
ứng dụng công nghệ mới, công nghệ thông tin sẽ là một trong những bước đột phá để
chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp sang trình độ phát triển hiện đại mới(xem
thêm hình 02 phần phụ lục: Mô phỏng mô về hình nông nghiệp công nghệ cao)
Mieke Meurs(2008) trong bài viết “Agricultureal restructuring in
Bulgaria”[151] và Chiristopher Conte, Albert R Karr (2001)[130] trong bài “Ngành nông nghiệp Mỹ: Tầm quan trọng đang thay đổi” nhấn mạnh việc chuyển đổi cơ cấu
kinh tế nông nghiệp trên nền tảng công nghệ mới để tạo ra một nền nông nghiệp hiệu quả cao Việc ứng dụng các quy trình sản xuất tiên tiến, kỹ thuật CNC đã tạo ra một nền nông nghiệp khác biệt với những sản phẩm đặc thù có tính cạnh tranh cao
Một công trình khác với tiêu đề: “Đẩy mạnh phát triển nông nghiệp và
nông thôn cho tăng trưởng: các chính sách áp dụng cho các nước đang phát triển
ở châu Á” của Richard Bolt thực hiện tháng 7/2004 đã đưa ra lập luận việc ứng
dụng KHCN tiên tiến, CNC sẽ tạo ra thặng dư lớn trong nông nghiệp, phần thu nhập vượt này được người nông dân sử dụng để tiêu dùng sản phẩm phi nông nghiệp Tầng lớp trung lưu phát triển và làm tăng nhu cầu tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp có hàm lượng CNC Sử dụng công nghệ cao để tạo ra sản xanh, sạch, tiết kiệm lao động và tăng giá trị gia tăng trong nông nghiệp là hướng đi phổ biến mà nhiều quốc gia đã và đang theo đuổi [157]
Bài viết “Hướng tới nền nông nghiệp công nghệ cao và xây dựng nông thôn tri
thức trong tiến trình tái cơ cấu ngành nông nghiệp Việt Nam, của GS.TS Trần Đức
Viên và TS Nguyễn Việt Long[112, tr322-339], đã phân tích sự phát triển của ngành
nông nghiệp qua các thời kỳ và khẳng định “Tổ chức lại sản xuất nông nghiệp theo
hướng gắn với chuỗi giá trị toàn cầu, mà điểm tựa của công cuộc tái cơ cấu ấy là khoa học công nghệ cao” Trên cơ sở khẳng định công nghệ cao và tri thức trong nông
nghiệp, thể chế thị trường là yếu tố quyết định cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng hiện đại, các tác giả đã đề xuất một số việc cần làm ngay phục vụ tái cơ cấu nông nghiệp trong đó nhấn mạnh đến sự thay đổi về công nghệ
Trong báo cáo đề tài nghiên cứu khoa học “Nghiên cứu giải pháp và đề
xuất mô hình ứng dụng khoa học-Công nghệ để chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông
Trang 26nghiệp huyện Sóc –Sơn - Thành phố Hà Nội” năm 2004 do PGS.TS Nguyễn Đình
Long chủ nhiệm đã đề xuất mô hình ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ đặc biệt
là CNC để thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp có hiệu quả Hay
trong nghiên cứu “Kinh nghiệm nước ngoài về phát triển nông nghiệp đô thị”, Báo
cáo tại hội thảo khoa học do Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hà Nội tổ chức năm 2003, tác giả Đào Thế Tuấn đã đề cập đến kinh nghiệm của một số nước trong khu vực và thế giới về phát triển nông nghiệp công trong quá trình đô thị diễn ra mạnh mẽ từ đó đề xuất các giải pháp công nghệ nhằm chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng nông nghiệp đô thị
1.4 Nghiên cứu liên quan đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng phát triển nông nghiệp bền vững, thích ứng với biến đổi khí hậu
Một hướng nghiên cứu khác về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo
hướng hiện đại là đề cập đến một cơ cấu bền vững Báo cáo “Tương lai của chúng ta”
được trình bày tại Hội đồng thế giới về môi trường và phát triển của Liên Hợp Quốc WCED( Báo cáo Brundtland) năm 1987[127] đã nhấn mạnh phát triển nông nghiệp đảm bảo thỏa mãn những nhu cầu của hiện tại mà không làm phương hại đến khả năng đáp ứng những nhu cầu của “tương lai”, theo yêu cầu của phát triển bền vững, trong đó
có sự lồng nghép giữa sản xuất kinh doanh với bảo tồn thiên nhiên và môi trường sinh thái, xử lý, khắc phục ô nhiễm, sử dụng tiết kiệm tài nguyên, phát triển sản phẩm chủ lực trên thế mạnh của từng vùng sinh thái Việc bảo tồn nền nông nghiệp truyền thống cần đồng thời phát triển một nền nông nghiệp công nghệ cao
Tổ chức quốc tế FAO(1992) trong “World Food Dry", FAO, Rome cũng đề
cập đến việc phát triển nông nghiệp hướng tới việc vừa thỏa mãn các nhu cầu hiện tại của con người về lương thực, thực phẩm, dịch vụ, vừa đáp ứng nhu cầu của thế hệ
mai sau trên nguyên tắc đảm bảo không tổn hại đến môi trường, không giảm cấp tài
nguyên, phù hợp về kỹ thuật và công nghệ, có hiệu quả về kinh tế và được chấp nhận
về phương diện xã hội và môi trường[134, tr121] Quan điểm về phát triển bền vững
tiếp tục được hoàn thiện trong cuốn “Cứu lấy trái đất: Chiến lược vì sự sống bền
vững”; theo đó phát triển bền vững theo 3 trụ cột lồng ghép với nhau trong phát triển
là bền vững về kinh tế, bền vững về mặt xã hội và bền vững môi trường Đến Hội nghị Liên Hợp quốc về môi trường và phát triển năm 1992 tại Rio De Janeiro, Braxin thì khái niệm Phát triển bền vững được sử dụng phổ biến Các nước tham gia đã
thông qua Chương trình Nghị sự 21, một Chương trình hành động toàn cầu để giải
Trang 27quyết các vấn đề môi trường và phát triển “Để đạt được sự phát triển bền vững thì, bảo vệ môi trường phải là một phần không thể tách rời của quá trình phát triển”[114]
Báo cáo Việt Nam 2035 “Hướng tới thịnh vượng, sáng tạo, công bằng và dân
chủ” cũng đã đưa ra thông điệp của Việt Nam là “ Thịnh vượng về kinh tế phải đi đôi với bền vững về môi trường” Việc phát triển có tính bền vững có tác động trực tiếp
đến tăng trưởng ổn định và hướng tới thịnh vượng[4, tr25]
Nghiên cứu về“Nông nghiệp bền vững” đã được quan tâm đẩy mạnh trong một
thập kỷ nay Nói về những nhân tố của phát triển nông nghiệp hiện đại, bền vững mà
nội hàm là chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp Malcom Gillis cũng chỉ ra để
phát triển một nền nông nghiệp hiện đại, bền vững thì cần có (1) Có hệ thống chính trị ổn định và sự tham gia có hiệu quả của người dân vào việc ra quyết định trong quản lý và sử dụng tài nguyên nông nghiệp (2) Có hệ thống kinh tế phù hợp (3) Có công nghệ phù hợp bao gồm công nghệ hiện đại, kết hợp hài hòa với công nghệ bản địa (4)có hệ thống quốc tế đẩy mạnh môi quan hệ bền vững về thương mại và tài chính [152], [9, tr121]
Liên quan đến nông nghiệp bền vững là “Tăng trưởng xanh” và “sản xuất
sạch hơn” Theo WB thì “Tăng trưởng xanh là mô hình tăng trưởng đảm bảo sử dụng hiệu quả tài nguyên sạch với việc tối thiểu hóa ô nhiễm và các tác động đến môi trường”[164], còn theo OECD “Tăng trưởng xanh là mô hình tăng trưởng kinh tế và phát triển, trong khi đảm bảo các tài sản tự nhiên tiếp tục cung cấp tài nguyên và dịch vụ môi trường cho con người”[156, tr8] Với “sản xuất sạch hơn” được Chương
trình môi trường của Liên hợp quốc (UNEP, 1994) và khởi sướng vào năm 1989) cho
rằng “Sản xuất sạch hơn là sự áp dụng liên tục một chiến lược phòng ngừa môi
trường tổng hợp đối với các quá trình sản xuất, các sản phẩm và các dịch vụ nhằm làm giảm tác động xấu đến con người và môi trường”
Cũng có khá nhiều nghiên cứu đề cập đến phát triển nông nghiệp hiện đại và chuyển dịch CCKTNN theo hướng hiện đại ở các đô thị và ven đô được thực hiện bởi
các cá nhân và tổ chức quốc tế, thí dụ như nghiên cứu “Nông nghiệp đô thị và ven
đô”[135] thuộc Chương trình đặc biệt về an toàn lương thực của FAO công bố năm
2001 Đây là một nghiên cứu toàn diện và có tính ứng dụng cao về các mô hình phát
triển nông nghiệp đô thị và ven đô ở các quốc gia đang phát triển như Việt Nam Các
nghiên cứu là những cẩm nang có ý nghĩa khoa học trong việc gợi mở hướng tới mô hình phát triển nông nghiệp mà nhiều quốc gia đang theo đuổi Áp dụng công nghệ
Trang 28hiện đại, CNC để hướng tới một nền nông nghiệp sạch, an toàn và bảo vệ môi trường là một nội dung trọng tâm của nền nông nghiệp hiện đại
Nhiều nghiên cứu của WB và FAO chỉ ra rằng một nền nông nghiệp tương lai
là một nền nông nghiệp thích ứng với biến đổi khí hậu Theo đó nông nghiệp thông minh được FAO định nghĩa đầu tiên trong hội thảo về nông nghiệp, an ninh lương
thực trong điều kiện biến đổi khí hậu năm 2010 “Nông nghiệp thông minh là một
cách tiếp cận mới về phát triển nông nghiệp trong điều kiện biến đổi khí hậu, hướng đến một nền kinh tế xanh và phát triển bền vững[99] với mục tiêu là: tăng năng suất các sản phẩm nông nghiệp bền vững, nâng cao năng lực thích ứng và xây dựng khả năng chống chịu trước biến đổi khí hậu, giảm thiểu phát thải nhà kính” [120], [121] (xem thêm hộp 1 phần phụ lục: Quan điểm về nông nghiệp thông minh)
Liên quan đến nông nghiệp ứng phó với biến đổi khí hậu còn có rất nhiều các nhà khoa học khác trên thế giới quan tâm như Reilly, JM and Schimmelpfenning (1999), Rivington, M.,Matthews (2006), Khush Gurdew(2003) Nghiên cứu của cá ông đã cung cấp những luận điểm quan trọng về nền nông nghiệp hiện đại cần hướng tới và thích nghi trong điều kiện khí hậu có diễn biến phức tạp ảnh hưởng trực tiếp tới
sản xuất nông nghiệp Trong nghiên cứu “Báo cáo tổng quan Việt Nam 2035” các tác
giả chỉ ra biến đổi khí hậu là một trong những vấn đề gây hậu quả toàn cầu nghiêm trọng nhất và Việt Nam là một trong năm quốc gia dễ bị ảnh hưởng bởi biến đổi khí hậu Nghiên cứu cũng chỉ ra trong phát triển cần chú ý tới một số thách thức về môi trường như, cạn kiệt nguồn tài nguyên, suy giảm chất lượng môi trường, nguy cơ do biến đổi khí hậu để từ đó cần có các giải pháp giúp thúc đẩy nhanh việc chuyển đổi sang một nền kinh tế nông nghiệp bền vững, thí dụ như đầu tư thông minh ứng phó với biến đổi khí hậu, thể chế, hệ thống thông tin, công nghệ cao[4, tr26]
Trong nghiên cứu về “Kết hợp nông nghiệp thông minh với phát triển du lịch bền
vững” của Bùi Quang Tuấn (2015) cho rằng cần phải chuyển dịch CCKTNN theo
hướng, hướng tới một nền nông nghiệp thông minh, nông nghiệp xanh sạch và phải kết hợp giữa nông nghiệp thông minh với du lịch sinh thái tạo ra những sản phẩm đặc thù, một mặt ứng phó với biến đổi khí hậu[99]
Vũ Văn Nâm trong cuốn “Phát triển nông nghiệp bền vững ở Việt Nam” đã phân
tích những kinh nghiệm, chuyển biến trong phát triển nông nghiệp bền vững ở nước ta, đánh giá của PTBV trong nông nghiệp gắn với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
để trên cơ sở đó khẳng định, quá trình đẩy mạnh CDCCKTNN, sử dụng các nguồn lực
Trang 29xã hội đảm bảo hiệu quả về kinh tế, xã hội và môi trường Trên cơ sở tác động của công nghệ và phân bổ hiệu quả các nguồn lực từ thị trường cần có các giải pháp quy hoạch, công nghệ, thể chế nhằm tạo lập nền nông nghiệp bền vững ở nước ta[45]
Nghiên cứu “Phát triển nông nghiệp ngoại thành Hà Nội theo hướng nông nghiệp
sinh thái” năm 2004 Phạm Văn Khôi đã đề xuất mô hình chuyển dịch CCKTNN
theo hướng sinh thái và bền vững trong quá trình đô thị hóa theo đó sự chuyển dịch phải hướng tới một nền nông nghiệp hiệu quả không những cung cấp đa dạng về sản phẩm mà phải đảm bảo hướng tới một nền nông nghiệp xanh, sạch, an toàn và bảo vệ cảnh quan môi trường Để làm được điều đó, tác giả cũng nhấn mạnh phải là một nền nông nghiệp có hàm lượng khoa học đặc biệt nhấn mạnh đến công nghệ cao Cũng theo tác giả sản phẩm của nông nghiệp hiện đại không chỉ gồm những sản phẩm hữu hình, đong, đếm được( thóc, gạo, thịt, trứng, sữa ) mà còn là những sản phẩm vô hình như Oxy, cảnh quan, môi trường, dịch vụ du lịch
Nghiên cứu về “Phát triển nông nghiệp sạch và bền vững- lý luận và thực tiễn”
Vũ Trọng Bình trên tạp chí Kinh tế & Phát triển số 196/10 năm 2013 cho rằng quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp phải hướng tới con người mà cụ thể là tạo ra những sản phẩm sạch và có tính bền vững ổn định
Luận án tiến sỹ của Trần Thị Hồng Việt (2006) về “ Những giải pháp chủ yếu
nhằm chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ngoài thành Hà Nội theo hướng nông nghiệp sinh thái” đã hệ thống hóa những vấn đề lý luận và thực tiễn về nông nghiệp
sinh thái và nông nghiệp sinh thái ven đô Tác giả đã phân tích thực trạng cơ cấu và chuyển dịch CCKTNN ở ngoại thành Hà Nội theo hướng sinh thái để từ đó đề xuất các định hướng và giải pháp nhằm chuyển dịch CCKTNN theo hướng nông nghiệp sinh thái dựa trên những tiềm năng, thế mạnh đặc thù[117]
Liên quan đến việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp Việt Nam tháng
11 năm 2015 Trường đại học Kinh tế quốc dân tổ chức hội thảo khoa học quốc gia
“Nông nghiệp, nông thôn Việt Nam đổi mới, hội nhập và phát triển bền vững” Hội
thảo đã thu hút được đông đảo các nhà khoa học và nhà quản lý tham gia và đã có nhiều bài viết đề cập đến tái cơ cấu nền nông nghiệp trong bối cảnh mới nhằm hướng tới một nền nông nghiệp phát triển theo hướng hiện đại trên dưới các khía cạnh về nguồn lực, thể chế, môi trường, tổ chức sản xuất Thí dụ như tác giả: Trần Gia Long
với bài viết “Tái cơ cấu và đổi mới tổng thể ngành nông nghiệp”; Phạm Văn Khôi về
“ Vai trò và xu hướng phát triển nông nghiệp Việt Nam trong quá trình đổi mới, hội
Trang 30nhập và PTBV”; Vũ Thị Minh về“Một số vấn đề trong phát triển nông nghiệp, nông thôn Việt Nam dưới góc nhìn phát triển bền vững” Mỗi tác giả có một góc nhìn khác
nhau về đánh giá thực trạng nhưng đều có một điểm chung về giải pháp là cơ cấu nông nghiệp nước ta trong bối cảnh mới cần phải giải quyết tốt vấn đề, tập trung ruộng đất, phát triển mạnh hạ tầng nông nghiệp, liên kết chặt chẽ 4 nhà, ứng dụng công nghệ cao
1.5 Các công trình tiếp cận chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Có thể nói CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn là con đường phát triển tất yếu của các nước, đặc biệt là các nước đang phát triển bởi nông nghiệp là điểm khởi đầu
của công nghiệp và “Quá trình đại công nghiệp lại xâm nhập ngược vào nông
nghiệp, nông thôn cải biến nông nghiệp từ nông nghiệp tiểu nông thành nông nghiệp thương phẩm, công nghiệp hóa cải biến nông nghiệp từ thuần nông thành nông nghiệp công nghiệp hóa, đô thị hóa”[73, tr9] Cách tiếp cận theo hướng này khá phổ
biến và được các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước rất quan tâm, thí dụ như Lê
Quốc Xử với công trình “Chuyển dịch cơ cấu và xu hướng phát triển của kinh tế
nông nghiệp Việt Nam theo hướng CNH-HĐH, từ thế kỷ XX đến thể kỷ XXI trong nền kinh tế tri thức” Nxb Thống kê, Hà Nội 2001 Nguyễn Thị Tố Quyên về “Nông nghiệp, nông dân, nông thôn trong mô hình tăng trưởng kinh tế mới giai đoạn 2011- 2020” do Nxb Chính trị Quốc gia 2012, Nguyễn Thị Thanh Tâm về “ Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn Nam Định trong quá trình Công nghiệp hóa, hiện đại hóa” Phần lớn các nghiên cứu đều phân tích thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến
chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và đề xuất các giải pháp cho quá trình chuyển dịch trong thời kỳ này
Bên cạnh các cách tiếp cận nêu trên còn có một số công trình nghiên cứu đề cập đến xác định tiêu chí đánh giá chuyển dịch CCKTNN theo hướng hiện đại như:
Nghiên cứu của tác giả Trịnh Thị Kim Liên trong cuốn sách “Chuyển dịch cơ
cấu kinh tế nông nghiệp ngoài thành Hà Nội theo hướng giá trị cao, kinh tế xanh và phát triển bền vững” [40] cũng đã đề xuất những tiêu chí đánh giá ( 9 chỉ tiêu) phản
ánh về sự thay đổi của nền nông nghiệp từ truyền thống sang nền nông nghiệp hiện đại theo hướng giá trị gia tăng cao, kinh tế xanh và phát triển bền vững
Tác giả Nguyễn Tử với công trình “ Một số vấn đề quan điểm và phương pháp
đánh giá hiệu quả kinh tế của chuyển dịch CCKTNN ở nước ta”[39, tr147] Nghiên
cứu làm rõ quan điểm trong chuyển dịch từ truyền thống lên hiện đại phải đảm bảo
Trang 31kết hợp hài hòa giữa tăng trưởng và phát triển, giữa kinh tế và xã hội, kết hợp hiệu
quả sinh thái, phát triển nông nghiệp bền vững với bảo vệ môi trường (Cách tiếp cận
và những gợi mở rút ra phục vụ cho nghiên cứu được nghiên cứu sinh mô tả, tổng hợp qua bảng phục lục 01)
1.6 Những vấn đề đặt ra và hướng nghiên cứu của luận án
1.6.1 Những vấn đề đặt ra cần được tiếp tục nghiên cứu
Qua khảo sát các công trình nghiên cứu nước ngoài và trong nước, cho thấy:
Thứ nhất: Đã có rất nhiều công trình khoa học, bài viết của các tác giả trong và
ngoài nước đề cập đến chuyển dịch CCKTNN từ truyền thống lên hiện đại trên các khía cạnh khác nhau( bối cảnh, Công nghệ, thị trường trong nước và quốc tế, quá trình CNH,
HĐH, tổ chức sản xuất và liên kết kinh tế ) Tuy nhiên cho đến nay vẫn chưa có công
trình nghiên cứu một cách toàn diện về vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng hiện đại, vì đây đang còn là một vấn đề mới của Việt Nam, và đặc biệt là đối với một tỉnh cụ thể như tỉnh Hưng Yên, trong điều kiện không gian nông nghiệp ngày càng thu hẹp nhưng cầu về nông sản, đặc biệt là những nông sản sạch, có giá trị, hàm lượng công nghệ cao ngày một tăng trong bối cảnh hội nhập quốc tế diễn ra sâu rộng, các vấn đề về thị trường, môi trường, biến đổi khí hậu, vấn đề an toàn vệ sinh thực phẩm (ATVSTP) đang có những diễn biến phức tạp
Thứ hai: Hiện nay chưa có một công trình nghiên cứu nào về chuyển dịch cơ
cấu kinh tế nông nghiệp tỉnh Hưng Yên theo hướng hiện đại dưới tác động của bối cảnh mới ở tỉnh Hưng Yên đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2030 dựa trên những luận
cứ khoa học Với luận án này tác giả kỳ vọng là sẽ góp phần làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn chuyển dịch CCKTNN nội ngành nông nghiệp theo hướng hiện đại đối với một tỉnh cụ thể là tỉnh Hưng Yên trên góc độ thị trường, tổ chức sản xuất, công nghệ, môi trường, tiềm năng thế mạnh đó cũng chính là những vấn đề mà thực tiễn phát triển của tỉnh Hưng Yên đang đòi hỏi phải có lời giải đáp thanh thoát
1.6.2 Hướng nghiên cứu của luận án
-Về cách tiếp cận: Luận án nghiên cứu chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông
nghiệp tỉnh Hưng Yên được tiếp cận theo hướng hiện đại trên các nội dung kinh tế, xã hội, thể chế, môi trường, tổ chức sản xuất, công nghệ và được thực hiện dưới góc độ của chuyên ngành kinh tế phát triển
- Về mặt lý luận: Luận án làm rõ cơ sở lý luận, nội dung, các tiêu chí đánh giá và
các nhân tố ảnh hưởng tác động đến chuyển dịch CCKTNN theo hướng hiện đại trên cơ
Trang 32sở này luận giải những vấn đề phổ biến, mang tính quy luật của quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng hiện đại cần giải quyết ở bất kỳ quốc gia nông nghiệp nào trên thế giới Dựa vào kết quả hệ thống hóa về mặt lý luận, Nghiên cứu sinh sẽ xây dựng khung lý thuyết để triển khai các nhiệm vụ nghiên cứu để đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp cơ bản nhằm thúc đẩy chuyển dịch CCKTNN ở tỉnh Hưng Yên theo hướng hiện đại trên các góc độ nguồn lực, thị trường, công nghệ, tổ chức sản xuất
-Về thực tiễn:
Bài học cho quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng hiện đại được rút ra trên cơ sở phân tích lý luận và kinh nghiệm của một số nước, vùng lãnh thổ (Hà Lan, Đài Loan, Thái Lan) và một số tỉnh thành của Việt Nam (Lâm Đồng, Hà Nam) Bài học từ những bước đi, cách làm thành công và những hạn chế cần tránh, khắc phục trong quá trình chuyển dịch theo hướng hiện đại
Trên cơ sở khung phân tích lý thuyết đã xây dựng, luận án tập trung phân tích, đánh giá thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng hiện đại ở tỉnh Hưng Yên giai đoạn 2011-2016; và giải quyết những vấn đề phổ biến, mang tính quy luật quả quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, để từ đó phát hiện ra các vấn đề đặt ra cần tiếp tục giải quyết
Trên cơ sở đánh giá thực trạng ở chương 3, luận án đề xuất định hướng, xây dựng quan điểm và giải pháp chủ yếu nhằm đẩy mạnh quá trình chuyển dịch CCKTNN tỉnh Hưng Yên theo hướng hiện đại đến năm 2025 và tầm nhìn đến năm 2030
Tiểu kết chương 1
Từ việc tổng quan các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học trong nước
và nước ngoài dưới nhiều góc độ tiếp cận khác nhau, tác giả đã tìm ra những khoảng trống tri thức mà tác giả sẽ tập trung giải quyết trong luận án này và là cơ sở cho việc xác định tên đề tài luận án, đối tượng, phạm vi nghiên cứu của luận án và một số đóng góp kỳ vọng trong luận án
Có thể khẳng định, cho đến nay vẫn chưa có một nghiên cứu riêng biệt, trực diện, cụ thể nào ở trong nước và ngoài nước về vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp hướng hiện đại tại tỉnh Hưng Yên dưới tác động của kinh tế thị trường đầy đủ, hội nhập quốc tế sâu rộng và biến đổi khí hậu ngày càng gia tăng Xuất phát
từ thực tiễn này, tác giả lựa chọn vấn đề chuyển dịch CCKTNN của tỉnh Hưng Yên là đối tượng nghiên cứu của luận án tiến sĩ kinh tế, chuyên ngành kinh tế phát triển là cần thiết, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn thiết thực
Trang 33CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ
CẤU KINH TẾ NÔNG NGHIỆP THEO HƯỚNG HIỆN ĐẠI
2.1 Cơ sở lý luận về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng hiện đại
2.1.1 Lý luận về cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp
2.1.1.1 Một số khái niệm cơ bản
* Cơ cấu kinh tế Theo cách tiếp cận hệ thống thì nền kinh tế quốc dân là một hệ
thống kinh tế bao gồm nhiều ngành kinh tế với tư cách là các bộ phận cấu thành và bản thân mỗi một ngành kinh tế lại là một hệ thống được cơ cấu bởi nhiều phân ngành nông
nghiệp được cấu thành bởi nhiều phân ngành Vậy “Cơ cấu kinh tế được hiểu một cách
đầy đủ là một hệ thống kinh tế bao gồm nhiều yếu tố có quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động qua lại lẫn nhau trong những không gian và thời gian nhất định, trong những điều kiện kinh tế xã hội nhất định, nó được thể hiện cả về định tính và định lượng, cả về số lượng và chất lượng, phù hợp với những mục tiêu được xác định của nền kinh tế”[75, tr6]
*Nông nghiệp hiểu theo nghĩa rộng bao gồm nông nghiệp, lâm nghiệp và ngư
nghiệp, là lĩnh vực sản xuất vật chất nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu về lương thực, thực phẩm cho nhân dân, nguyên liệu cho công nghiệp và nguồn hàng cho xuất khẩu [52]
*Cơ cấu kinh tế nông nghiệp: Cơ cấu kinh tế nông nghiệp là một hệ thống kinh
tế trong nông nghiệp, bao gồm các mối quan hệ kinh tế trong sản xuất nông nghiệp(thuộc lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp) có mối quan hệ hữu cơ gắn bó với nhau theo số lượng và những quan hệ tỷ lệ nhất định về mặt lượng và liên quan chặt chẽ về mặt chất, các bộ phận kinh tế tác động qua lại lẫn nhau trong không gian và thời gian nhất định, phù hợp với những điều kiện kinh tế xã hội nhất định nhằm đạt được mục tiêu đề ra với hiệu quả kinh tế cao[30]
Cơ cấu kinh tế nói chung và cơ cấu kinh tế nông nghiệp nói riêng bao gồm nhiều loại khác nhau, tùy theo mục đích nghiên cứu mà có thể xem xét cơ cấu kinh tế nông nghiệp dưới các góc độ khác nhau như cơ cấu ngành, cơ cấu vùng, cơ cấu lãnh thổ, cơ cấu thành phần kinh tế, cơ cấu kỹ thuật, cơ cấu không gian Tuy nhiên CCKTNN thường được xem xét theo ngành(cơ cấu ngành), theo lãnh thổ(cơ cấu lãnh thổ) và theo thành phần kinh tế(cơ cấu thành phần) là chủ yếu Để quan sát sự chuyển dịch ta có thể mô tả các loại cơ cấu kinh tế nông nghiệp như hình 2.1 sau:
Trang 34Hình 2.1 Các khía cạnh biểu hiện của cơ cấu kinh tế nông nghiệp
Nguồn: Ý tưởng từ Ngô Doãn Vịnh, 2005[118]
* Chuyển dịch cơ cấu kinh tế (Structural transformation Economics): Là quá
trình phát triển của các nền kinh tế hoặc các ngành(lĩnh vực kinh tế) từ trình độ thấp lên trình độ cao, kèm theo đó là sự thay đổi về cơ cấu sản phẩm, cơ cấu thành phần kinh tế, hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh, thay đổi về trình độ công nghệ và bố trí không gian trong sản xuất kinh doanh Chuyển dịch cơ cấu kinh tế khác với điều chỉnh cơ cấu kinh tế (Structural adjustment) ở chỗ đây là chương trình do WB và IMF khởi xướng từ đầu những năm 1980 để chính phủ các nước giảm bớt can thiệp trực tiếp vào nền kinh tế, tạo điều kiện cho các thị trường hoạt động [115]
* Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp Từ việc phân tích trên có thể thấy cơ
cấu kinh tế luôn thay đổi theo sự phát triển không ngừng của xã hội từ truyền thống lên hiện đại dưới tác động của nhiều yếu tố, đặc biệt là thị trường, thế chế, khoa học
và công nghệ, nguồn nhân lực chất lượng cao và hội nhập kinh tế quốc tế Đó là một quá trình tích lũy về lượng khi đến một mức nào đó sẽ dẫn đến sự biến đổi về chất của cơ cấu kinh tế hay nói cách khác đó là một sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Theo Chenery(1998) thì “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là một quá trình vận
động thay đổi của cơ cấu kinh tế và thể chế căn bản, cần thiết cho sự gia tăng liên tục của sản phẩm quốc dân, bao gồm sự tích lũy về nhân lực, vật lực, tài lực cùng với sự thay đổi của nhu cầu, sản xuất, thương mại và việc làm”[128, tr197]
Cơ cấu kinh tế
nông nghiệp
CCKTNN theo ngành
CCKTNN theo lãnh thổ (vùng)
Vùng núi trung du Vùng đồng bằng
Vùng ven biển
CCKTNN theo thành phần kinh tế
Kinh tế hộ nông dân, kinh tế trang trại, Doanh nghiệp nông nghiệp, HTX
Yếu tố nội sinh
Yếu tố ngoại sinh
Ngành nông nghiệp thuần
(Trồng trọt, chăn nuôi, dịch vụ)
Ngành lâm nghiệp
Ngành thủy sản
Trang 35Cơ cấu kinh tế nông nghiệp luôn luôn vận động, thay đổi để thích ứng với sự phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động qua các thời kỳ, giai đoạn lịch sử dưới tác động của nhiều yếu tố và sự vận động đó của CCKTNN gọi là
chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp Như vậy, “Chuyển dịch CCKTNN là quá
trình làm thay đổi cấu trúc và các mối quan hệ bên trong của cơ cấu kinh tế nông nghiệp một cách có chủ đích và định hướng nhất định, nghĩa là đưa CCKTNN từ trạng thái truyền thống, lạc hậu sang trạng thái phát triển hiện đại có tính thích nghi, năng động, hiệu quả cao, toàn diện về kinh tế, xã hội, môi trường trên cơ sở nhận thức và vận dụng đúng các quy luật khách quan”[117, tr41] Sự chuyển dịch cơ cấu
kinh tế nông nghiệp được diễn ra trên cơ sở chuyển dịch cơ cấu ngành, chuyển dịch
cơ cấu theo lãnh thổ và chuyển dịch cơ cấu theo các thành phần kinh tế Và sự tương đồng giữa chuyển dịch CCKTNN với điều chỉnh cơ cấu nông nghiệp và rộng hơn là tái cơ cấu nông nghiệp ở chỗ hướng tới mục tiêu của nền nông nghiệp hiện đại, một nền kinh doanh nông nghiệp hiệu quả cao và phát triển bền vững thông qua xác định một cơ cấu hợp lý về nguồn lực, công nghệ, thành phần, tỷ lệ giữa các ngành trong nông nghiệp Tuy nhiên điều cơ cấu nông nghiệp chỉ là sự sắp xếp lại một cách hợp lý hơn những yếu tố cấu thành vốn cố để đạt mục tiêu cao hơn mà không làm thay đổi
về chất của thực thể nền nông nghiệp đang hiện hữu[36, tr138] Trong khi đó tái cơ cấu là sự thay đổi bản chất, căn bản và rộng hơn nhằm chuyển biến toàn bộ nền nông nghiệp từ trạng thái thấp sang trạng thái cao với mục tiêu hiện đại hơn
2.1.1.2 Một số lý thuyết cơ bản về chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Có rất nhiều trường phái lý thuyết về chuyển dịch CCKTNN theo hướng hiện đại Mỗi lý thuyết đều có những điểm mạnh, điểm yếu và hạn chế Việc áp dụng lý thuyết phải sáng tạo, phù hợp với mỗi quốc gia, địa phương, hoàn cảnh kinh tế, điều kiện nguồn lực Trong các lý thuyết này, cần phải kể đến một số lý thuyết sau:
*Lý thuyết phân kỳ phát triển kinh tế: Đại diện của trường phái lý thuyết này
là nhà kinh tế người Mỹ Walter Rostow Trong tác phẩm “Các giai đoạn phát triển kinh tế” ông đã khái quát quá trình phát triển ở mỗi quốc gia trải qua 5 giai đoạn: Giai đoạn 1 là xã hội truyền thống với đặc trưng bởi nền nông nghiệp truyền thống lạc hậu, năng suất thấp, mang tính tụ cung tự cấp, đời sống người làm nông nghiệp còn khó khăn ; Giai đoạn 2 là giai đoạn chuẩn bị cất cánh giai đoạn này đã có những bước tiến triển trong sản xuất như việc áp dụng khoa học kỹ thuật trong sản xuất
Trang 36nông nghiệp và công nghiệp tăng, trình độ lực lượng sản xuất tăng, giáo dục phát triển, nhu cầu đầu tư tăng và giao lưu hàng hóa trong và ngoài nước được thúc đẩy tuy nhiên giai đoạn này về cơ bản vẫn diễn ra trong một nền kinh tế đặc trưng truyền thống, năng suất thấp, Cơ cấu giai đoạn này là nông – công nghiệp; Giai đoạn 3 là giai đoạn cất cánh đây là giai đoạn trọng tâm của giai đoạn phát triển bước vào hiện đại và
ổn định với đặc trưng huy động được nguồn vốn lớn, đa chiều, khoa học công nghệ cao được ứng dụng rộng cả trọng nông nghiệp, thương mại phát triển song hành tạo nên một
cơ cấu công nghiệp – Nông nghiệp – dịch vụ kéo dài từ 20-30 năm Giai đoạn 4 là giai đoạn Trưởng thành với đặc trưng tỷ lệ đầu tư tăng đến 20% GDP, nhiều ngành công nghiệp mới hiện đại ra đời, nông nghiệp đạt năng suất lao động cao và được ứng dụng công nghệ cao Cơ cấu giai đoạn nay tiếp tục là Công nghiệp – dịch vụ- nông nghiệp và kéo dài 60 năm Giai đoạn 5 là giai đoạn tiêu dùng cao gắn với sự phát triển của thị trường, các phúc lợi xã hội được đảm bảo, tỷ lệ dân cư đô thị và lao động có tay nghề chuyên môn cao ”[86] Trong mỗi giai đoạn sẽ có một cơ cấu ngành kinh tế phù hợp đặc trưng Từ đó ông luận giải các tác động xã hội đến nông nghiệp truyền thống trong quá trình phát triển hiện đại Mặc dù có một số hạn chế về cơ sở của sự phân kỳ nhưng
từ Lý thuyết phân kỳ của W.Rostow có thể rút ra một số luận điểm đáng quan tâm sau:
Thứ nhất: Mô hình chỉ ra sự lựa chọn cơ cấu ngành phù hợp ứng với mỗi giai
đoạn phát triển nhất định của mỗi quốc gia Với mỗi quốc gia, mỗi giai đoạn có thể xem xét cơ cấu đang ở giai đoạn nào và cần làm gì cho giai đoạn ấy
Thứ hai: Quá trình chuyển từ một nền kinh tế nông nghiệp truyền thống lạc
hậu sang một nền kinh tế công nghiệp hiện đại có thị trường và khoa học công nghệ phát triển là một quá trình tất yếu khách quan, tuần tự từ thấp đến cao qua các giai đoạn với bối cảnh, môi trường kinh tế xã hội nhất định, điều kiện nhất định Và ngay trong quá trình chuyển đó, bản thân ngành nông nghiệp cũng thay đổi cơ cấu theo hướng từ truyền thống lên hiện đại (tỷ lệ lao động rút bớt khỏi nông nghiệp tăng, dân
cư đô thị và lao động trong các ngành công nghiệp, dịch vụ tăng lên )
Thứ ba: Nền kinh tế được đặt vào quá trình phát triển từ thấp đến cao thông qua
CDCCKT từ việc lấy nông nghiệp làm nền tảng sang cơ cấu lấy công nghiệp làm nền tảng
*Lý thuyết nhị nguyên: Đại diện của trường phái lý thuyết này là nhà kinh tế
học người Mỹ Arthur Lewis khởi sướng vào giữa thập niên 50 của thế kỷ 20 và mô
Trang 37hình này được hai nhà kinh học John Fei và Gustar Rainis phổ biến vào những năm
60 để nghiên cứu về tăng trưởng kinh tế ở các nước đang phát triển
Lý thuyết nhị nguyên đã nhìn nhận sự phát triển của nền kinh tế thông qua chính sách cơ cấu Khu vực kinh tế nông nghiệp truyền thống có năng suất lao động thấp và dư thừa lao động, sản xuất trì trệ, lợi nhuận sụt giảm Để phát triển, cần phải làm tan rã cơ cấu lạc hậu này nhằm tạo tiền đề cho bước chuyển sang một cơ cấu kinh tế hiện đại hơn
Từ đó lý thuyết nhị nguyên cho rằng, để hướng tới cơ cấu mới hiện đại hơn ở các nước đang phát triển cần: (i) Mở rộng khu vực sản xuất công nghiệp với công nghệ hiện đại càng nhanh càng tốt và khu vực này sẽ là nơi thu hút lao động dư thừa từ khu vực nông nghiệp truyền thống; (ii) Khu vực truyền thống cũng phải được phát triển theo hướng hiện đại trong cơ chế thị trường và quy luật thị trường sẽ phá vỡ quan hệ sản xuất truyền thống, kích thích khu vực này phát triển theo sức ép, xu thế của cơ chế thị trường; (iii) Kết quả sản xuất tăng lên do quyết định theo tín hiệu thị trường và năng suất cận biên được hình thành quyết định đến tiền công trong khu vực này[118, tr30-34]
Khu vực truyền thống sẽ phải đặt trong quỹ đạo phát triển hiện đại; sức lao động được giải phóng khỏi khu vực nông nghiệp càng nhanh và sự dư thừa lao động
sẽ càng tăng lên Lượng lao động dư thừa này sẽ di chuyển sang khu vực công nghiệp
và dịch vụ ở các thành phố Khu vực đô thị không thu hút hết lực lượng lao đông dư thừa trong nông nghiệp và nông thôn sẽ đẫn đến thất nghiệp tăng và có thể nảy sinh các vấn đề xã hội Đây là vấn đề phổ biến trong quá trình phát triển ở các nước đang phát triển Từ mô hình nhị nguyên này cần lưu ý :
Một là, song song trong quá trình phát triển công nghiệp và đô thị hiện đại cần
rất quan tâm tới nông nghiệp phát triển theo hướng hiện đại trong quá trình chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế
Hai là, cần phải giải quyết tốt mối quan hệ hữu cơ giữa khu vực nông nghiệp và
khu vực CN&DV Chúng phải hỗ trợ lẫn nhau, là động lực cho nhau để cùng phát triển
Ba là, cần giải quyết tốt vấn đề đào tạo để nâng cao kiến thức và trình độ tay
nghề của lao động nông nghiệp phát triển mạnh các ngành nghề phi nông nghiệp ở nông thôn để tạo việc làm tại chỗ, "ly nông nhưng bất ly hương" để giảm thiểu tối đa thất nghiệp, tệ nạn xã hội và gánh nặng cho đô thị
Trang 38*Lý thuyết về mô hình hai khu vực của Harry T Oshima: Trong cuốn sách
“Tăng trưởng kinh tế ở các nước châu Á gió mùa”[140, tr 47], ông đã phân tích mối
quan hệ giữa khu vực nông nghiệp và công nghiệp trong bối cảnh quá trình chuyển
từ nền kinh tế nông nghiệp sang nền kinh tế công nghiệp theo 3 qua giai đoạn với
những nội dung, mục tiêu, cơ cấu khác nhau: (i) Giai đoạn đầu của quá trình tăng
trưởng với đặc trưng lao động thời vụ trong nông nghiệp thất nghiệp trầm trọng do vậy mục tiêu là đa dạng hóa sản xuất nhằm tăng trưởng phù hợp với khả năng, trình
độ kỹ thuật giai đoạn này, giải quyết việc làm cho lao động nhàn rỗi, (ii) Giai đoạn
thứ hai là hướng tới tạo việc làm đầy đủ thông qua đầu tư phát triển đồng thời cả
nông nghiệp và công nghiệp, tiếp tục phát triển đa dạng hóa, sản xuất theo hướng hàng hóa lớn, phát triển các ngành công nghiệp chế biến, phụ trợ, hình thành các phương thức liên kết CN-NN-DV và thương mại Dấu hiệu kết thúc giai đoạn này là tốc độ tăng trưởng việc làm cao hơn tốc độ tăng trưởng lao động, thị trường lao động thu hẹp, tiền lương thực tế tăng, mức sống của người dân tăng[125] (iii) Giai đoạn thứ 3 là sau khi có việc làm đầy đủ, thực hiện phát triển theo chiều sâu một cách toàn diện các ngành kinh tế, cả nông nghiệp lẫn công nghiệp Đối với nông nghiệp cần ứng dụng công nghệ cao, sử dụng máy móc thiết bị thay thế lao động, áp dụng phương pháp công nghệ sinh học nhằm tăng sản lượng[119, tr30-34] Việc phát triển theo chiều sâu như vậy sẽ dẫn tới hệ quả rút bớt lao động ở khu vực nông thôn chuyển
sang công nghiệp mà vẫn không làm giảm sản lượng nông nghiệp
Mô hình của T.Oshima đã cung cấp một cái nhìn toàn cảnh về những bước phát triển tuần tự từ thấp đến cao, từ nông nghiệp đến công nghiệp, từ truyền thống lên hiện đại của những quốc gia với điểm xuất phát thấp từ nông nghiệp truyền thống, lạc hậu Trong các bước đi, các giai đoạn phát triển luôn có dấu ấn của cơ cấu ngành,
cơ cấu lao động phù hợp, chính sách phát triển, khoa học công nghệ, tổ chức sản xuất dưới tác động của thị trường và hội nhập
*Lý thuyết về mô hình hiện đại hóa, nông nghiệp nông thôn (RM). Ra đời vào những năm 70 của thế kỷ trước và tác giả của nó là các nhà kinh tế như Haque(1977), Kuznet(1984), các nhà kinh tế thuộc Ngân hàng thế giới WB (1980, 1984) Mô hình này chú trọng vào hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn trên cơ sở đẩy mạnh áp dụng KH&CN, sử dụng nguồn lực chất lượng cao, đổi mới tổ chức sản
Trang 39xuất, hiện đại hóa trang trại hướng tới sản xuất hàng hóa lớn để làm tăng năng suất
lao động và thu nhập, tích lũy cho khu vực nông nghiệp nông thôn Mô hình này đã
được áp dụng hiệu quả ở các nước phát triển như nước Anh, Nhật Bản vào những năm đầu 1980 của thế kỷ trước sau đó mô hình này được nhân rộng và áp dụng ở các nước châu Á như Hàn Quốc, Đài Loan và hiện nay đang được áp dụng phổ biến ở các nước đang phát triển và đất nước có thu nhập trung bình như Việt Nam Ở các nước phát triển chỉ tiêu phản ánh mức độ hiện đại hóa thể hiện ở mức độ cơ khí hóa SXNN, tỷ lệ sản phẩm được sản xuất theo các quy trình sản xuất sạch, thân thiện môi trường, chỉ tiêu phản ánh chất lượng dân cư và quá trình hiện đại hóa hoàn thành khi đất nước chuyển sang giai đoạn phát triển công nghiệp[87, tr 14]
*Lý thuyết về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp của Peter Timmer [115]
Kế thừa và phát triển các lý thuyết đi trước về quá trình phát triển nông nghiệp Peter Timmer cũng phân quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế và phát triển nông nghiệp của mỗi quốc gia thành 4 gia đoạn cơ bản: 1- Giai đoạn 1 được đặc trưng bởi năng suất lao động thấp và có xu hướng tăng lên, chuyển dịch lao động sang khu vực công nghiệp, dịch vụ chậm, do vậy chính phủ cần đẩy mạnh nghiên cứu khoa học, hoàn thiện thể chế thị trường, đầu tư cơ sở hạ tầng nhằm tạo môi trường đầu tư, sản xuất vào lĩnh vực công nghệ mới, công nghệ cao và trao đổi hàng hóa, 2- Giai đoạn sản phẩm nông nghiệp dư thừa, lao động nông nghiệp chuyển mạnh sang ngành công nghiệp và chính phủ cần duy trì tăng trưởng ổn định nông nghiệp tạo ra giá trị cao trong điều kiện không gian thu hẹp, 3- Giai đoạn nông nghiệp phát triển mạnh, ở trình độ công nghệ cao và tham gia vào thị trường quốc tế Do được đầu tư cơ
sở hạ tầng, cải thiện thị trường đất đai, lao động, vốn và liên kết kinh tế giữa khu vực nông thôn và thành thị Đặc trưng giai đoạn này là lao động nông nghiệp giảm xuống, và nông nghiệp chịu sự tác động mạnh của thị trường, do vậy chính phủ cần có biện pháp nâng cao giá trị gia tăng và hiệu quả của ngành nông nghiệp, điều tiết hài hòa giữa khu vực nông thôn và thành thị, khắc phục phân hóa giàu nghèo 4- Giai đoạn nông nghiệp phát triển ở trình độ cao trong sự phát triển của công nghiệp, lao động trong nông nghiệp chiếm tỷ trọng thấp, nhu cầu tiêu dùng lương thực ở thành thị giảm thay vào đó là nhu cầu đối với các sản phẩm ứng dụng công nghệ cao, quy trình tiên tiến, sản phẩm sạch
Trang 40tăng Đối chiếu với mô hình này thì Việt Nam chúng ta đang chuyển đổi ở giai đoạn thứ nhất và có một số ngành, lĩnh vực đang chuyển đổi ở giai đoạn thứ hai[2]
Như vậy từ các lý thuyết và các nghiên cứu của các học giả hàng đầu thế giới cho thấy quá trình chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp, nông thôn được chia làm 4 giai
đoạn chủ yếu Giai đoạn 1- thuần nông, sản xuất tự cung, tự cấp với quy mô nhỏ lẻ,
phân tán, dựa trên nền tảng của khoa học công nghệ yếu và lao động thủ công, cơ sở
hạ tầng kém phát triển với mục tiêu giai đoạn này là xóa đói giảm nghèo và kết thúc giai đoạn này thì GDP giảm xuống còn 30-40%, tỷ trọng lao động nông nghiệp xuống
dưới 70%[115]; Giai đoạn 2- Giai đoạn “tiền chuyển đổi”: Giai đoạn này bắt đầu
chuyển sang sản xuất hàng hóa, năng suất lao động tăng mạnh, bắt đầu có sự thăng dư nông sản cho tiêu dùng và xuất khẩu tuy nhiên tỷ trọng lao động nông nghiệp vẫn chiếm trên 50% và kết thúc giai đoạn này GDP giảm xuống còn 15-20% và tỷ trọng lao động nông nghiệp còn dưới 50%.Và trọng tâm chính sách giai đoạn này cần tập trung vào hạ tầng thương mại để kết nối thị trường, cần thu hút doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, hỗ trợ sản xuất hàng hóa và kết nối thị trường nhằm thay đổi hành vi
và lối sống của cư dân nông thôn[115] Giai đoạn 3 là giai đoạn “chuyển đổi” đây là
giai đoạn thị trường nguồn lực đất đai, vốn, lao động, KH&CN trong nông nghiệp phát triển, sản xuất theo hướng tăng quy mô trang trại và cơ khí hóa, phát triển các chuỗi kinh doanh nông nghiệp bền vững dựa trên nền tảng của tri thức và công nghệ cao Và chính sách quan trọng cho phát triển nông nghiệp, nông thôn giai đoạn này là kết nối mạnh mẽ giữa nông thôn, đô thị, đặc biệt về giao thông, viễn thông, logistics, thương mại, tài chính và lao động để không chỉ tạo điều kiện cho phát triển nền nông nghiệp thương mại hóa mà còn giảm bớt cách biệt về điều kiện sống, điều kiện SXKD, điều
kiện tham gia thị trường lao động giữa khu vực nông thôn và thành thị [115, tr 18]
Giai đoạn 3 thường kết thúc với kết quả là: GDP chiếm còn 5-10% và tỷ trọng lao động nông nghiệp so với tổng lao động chỉ chiếm còn 15-20%
Giai đoạn 4- “Đô thị hóa và phát triển”, đây là giai đoạn hiện đại hóa nền
kinh tế với sự phát triển của khu vự đô thị, cả nông nghiệp và công nghiệp đều áp dụng hệ thống quản trị và công nghệ hiện đại trong sản xuất kinh doanh, giai đoạn này nông nghiệp không còn đóng vai trò quan trọng về mặt kinh tế(tỷ trọng sơ cấp trong nền kinh tế chỉ chiếm dưới 5% nhưng các ngành chế biến nông sản và kinh