Cấu trúc của luận văn N goài phần Mở đầu và Kết luận, nội dung của luận văn được trình bày trong 3 chương: Chương 1: Cơ sở lí luận và thực trạng của vận dụng lý thuyết kiến tạo trong dạ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
VŨ THANH TUYỀN
TỔ CHỨC HỌC TẬP KIẾN TẠO CHỦ ĐỀ VẬT CHẤT VÀ NĂNG LƯỢNG
MÔN KHOA HỌC LỚP 4
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
HÀ NỘI, 2017
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
VŨ THANH TUYỀN
TỔ CHỨC HỌC TẬP KIẾN TẠO CHỦ ĐỀ VẬT CHẤT VÀ NĂNG LƯỢNG
MÔN KHOA HỌC LỚP 4
Chuyên ngành: Giáo dục học (Tiểu học)
Mã số: 60 14 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: TS Lương Việt Thái
HÀ NỘI, 2017
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, với tình cảm chân thành cho phép tác giả được bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc đến:
- Ban giám hiệu, phòng sau Đại học trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
đã tạo điều kiện thuận lợi cho tác giả được học tập, nghiên cứu hoàn thành các chuyên đề của bậc đào tạo Sau đại học
- Các thầy giáo, cô giáo, các nhà khoa học đã giảng dạy và giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
- Tác giả xin được tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến: TS Lương Việt Thái
- Người hướng dẫn khoa học đã tận tình giúp đỡ, chỉ bảo trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
- Tác giả xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu cùng bạn bè đồng nghiệp trường Tiểu học Nghĩa Tân, quận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội cùng gia đình, người thân đã tạo điều kiện giúp đỡ, động viên tác giả trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Dù đã rất cố gắng nhưng luận văn không tránh khỏi những thiếu sót, tác giả rất mong nhận được sự góp ý của quý thầy giáo, cô giáo, các đồng nghiệp
và bạn bè
Hà Nội, tháng 10 năm 2017
Tác giả luận văn
Vũ Thanh Tuyền
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Qua quá trình nghiên cứu tìm hiểu các nội dung liên quan đến đề tài, tôi
có sử dụng tài liệu của một số nhà nghiên cứu và các tác giả khác.Tuy nhiên việc sử dụng các tài liệu đó chỉ mang tính tham khảo Những kết quả và số liệu trong khóa luận chưa được công bố dưới bất kì hình thức nào
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan của mình
Hà Nội, tháng 10 năm 2017
Tác giả luận văn
Vũ Thanh Tuyền
Trang 5DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT
TN Thực nghiệm
ĐC Đối chứng PPDH Phương pháp dạy học
Trang 6MỤC LỤC LỜI CẢM ƠN I LỜI CAM ĐOAN II DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT III MỤC LỤC IV DANH MỤC CÁC BẢNG VI DANH MỤC CÁC HÌNH VII
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẬN DỤNG LÝ THUYẾT KIẾN TẠO TRONG DẠY HỌC KHOA HỌC Ở TIỂU HỌC 4
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 4
1.2 Cơ sở lí luận 6
1.2.1 Lý thuyết kiến tạo trong dạy học 6
1.2.2 Vận dụng lý thuyết kiến tạo trong dạy học Khoa học ở trường Tiểu học 22
1.3 Tìm hiểu thực trạng dạy học môn Khoa học ở trường Tiểu học 35
1.3.1 Thực trạng về thời lượng dạy học môn Khoa học 35
1.3 2 Thực trạng về phương pháp dạy học môn Khoa học 36
1.3.3 Thực trạng về hình thức tổ chức dạy học môn Khoa học 37
1.3.4 Hoạt động chủ yếu của giáo viên ở trên lớp 38
1.3.5 Hoạt động chủ yếu của học sinh ở trên lớp 40
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 42
CHƯƠNG 2: TỔ CHỨC QUÁ TRÌNH DẠY HỌC MỘT SỐ KIẾN THỨC CHỦ ĐỀ VẬT CHẤT VÀ NĂNG LƯỢNG Ở LỚP 4 THEO QUAN ĐIỂM KIẾN TẠO 43
2.1 Mục tiêu dạy học chủ đề Vật chất và Năng lượng môn Khoa học lớp 4 43
2.2 Phân tích cấu trúc, nội dung dạy học chủ đề Vật chất và Năng lượng môn Khoa học lớp 4 44
2.3 Tìm hiểu quan niệm của học sinh về các kiến thức liên quan đến chủ đề Vật chất và Năng lượng 46
2.4 Vận dụng quan điểm của lý thuyết kiến tạo để thiết kế tiến trình dạy học một số nội dung trong chủ đề Vật chất và Năng lượng 48
Trang 72.4.1 Dạy học bài “Sơ đồ vòng tuần hoàn của nước trong tự nhiên”, sách giáo
khoa Khoa học 4 48
2.4.2 Dạy học bài “Nước bị ô nhiễm”, sách giáo khoa Khoa học 4 55
2.4.3 Dạy học bài “Không khí cần cho sự sống”, Khoa học 4 59
2.4.4 Dạy học bài “Nước có những tính chất gì?”, sách giáo khoa Khoa học 4 .64
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 68
CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 69
3.1 Mục đích của thực nghiệm sư phạm 69
3.2 Đối tượng và phương pháp thực nghiệm sư phạm 69
3.2.1 Đối tượng (thực nghiệm tại trường Tiểu học Nghĩa Tân – Hà Nội) 69
3.2.2 Phương pháp thực nghiệm sư phạm 70
3.3 Căn cứ để đánh giá thực nghiệm sư phạm 70
3.4 Tiến hành thực nghiệm sư phạm 71
3.4.1 Khống chế những ảnh hưởng không mong muốn tới kết quả thực nghiệm sư phạm 71
3.4.2 ChuNn bị cho thực nghiệm sư phạm 72
3.5 Kết quả các bài kiểm tra 72
3.5.1 Yêu cầu chung về cách xử lí kết quả định lượng của thực nghiệm sư phạm 72
3.5.2 Kết quả định tính của thực nghiệm sư phạm 80
KẾT LUẬN CHƯƠN G 3 82
KẾT LUẬN – KHUYẾN NGHN 83
TÀI LIỆU THAM KHẢO 85
PHỤ LỤC 88
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1: Thời lượng dạy học môn Khoa học ở Tiểu học 36
Bảng 1.2: Mức độ sử dụng các PPDH trong dạy học Khoa học 36
Bảng 1.3: Mức độ sử dụng các hình thức tổ chức dạy học 37
Bảng 3.1: Thống kê kết quả kiểm tra trước thực nghiệm của lớp đối chứng và lớp thực nghiệm 73
Bảng 3.2: Đánh giá kết quả kiểm tra trước thực nghiệm của lớp thực nghiệm và lớp đối chứng 73
Bảng 3.3: Thống kê kết quả kiểm tra sau thực nghiệm lớp đối chứng và thực nghiệm 75
Bảng 3.4: Tổng hợp kết quả thực nghiệm sư phạm 76
Bảng 3.5: Bảng phân phối tần số 77
Bảng 3.6: Bảng phân phối tần số tích lũy 77
Bảng 3.7: Bảng tổng hợp số liệu xác định các tham số đặc trưng 78
Bảng 3.8: Tổng hợp các tham số: S2, S, V qua các bài kiểm tra 79
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 3.1: So sánh tỉ lệ học lực của học sinh giữa lớp thực nghiệm và lớp đối chứng 74 Hình 3.2: Đồ thị phân bố tần suất 77 Hình 3.3: Đồ thị phân bố tần số lũy tích hội tụ lùi 78
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Chúng ta đang sống trong thời đại nền văn minh, cách mạng khoa học công nghệ phát triển như vũ bão đòi hỏi người lao động phải có năng lực tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề Sự phát triển kinh tế, xã hội của đất nước đang đặt ra những yêu cầu ngày càng cao với hệ thống giáo dục Với sản phNm đặc biệt là con người, giáo dục là động lực cho sự phát triển bền vững của đất nước Để hoàn thành sứ mệnh to lớn của mình, giáo dục phải đổi mới một cách toàn diện từ mục tiêu, nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức
Thực tiễn trong thời gian qua bên cạnh những kết quả đạt được, nền giáo dục vẫn tồn tại những hạn chế nhất định Thực trạng dạy học hiện nay chưa đáp ứng được nhu cầu giáo dục của nước nhà, dẫn đến chất lượng dạy học còn thấp nguyên nhân dẫn đến thực trạng đó là chất lượng việc sử dụng phương pháp chưa tốt, chưa thực sự hiệu quả Vì thế việc sử dụng các phương pháp dạy học như thế nào để phát huy tối đa tính chủ động, sáng tạo của học sinh là một vấn đề đáng quan tâm
Một số phương pháp dạy học tích cực được nhiều nhà nghiên cứu giáo dục cũng như các giáo viên đang trực tiếp giảng dạy quan tâm trong đó có dạy học theo quan điểm của lý thuyết kiến tạo
Ở Tiểu học, môn Khoa học cung cấp các kiến thức để giúp các em hiểu
về những vấn đề tồn tại xung quanh Đó là môn học tích hợp các kiến thức khoa học tự nhiên và khoa học xã hội, đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành phNm chất, năng lực đạo đức của con người Đáp ứng mục tiêu của hệ thống giáo dục và giáo dục Tiểu học, chương trình môn Khoa học đề ra mục tiêu phải khơi dậy tính tích cực trong hoạt động của học sinh Đặc biệt dạy môn Khoa học với nhiều chủ đề đa dạng đòi hỏi tính đầy đủ và chính xác của những tri thức khoa học và người giáo viên phải làm thế nào để xây dựng cho học sinh niềm tin, kiến thức khoa học bằng các biện pháp và phương pháp dạy học khác nhau …
Trang 11Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi chọn đề tài “Tổ chức học tập
kiến tạo chủ đề Vật chất và Năng lượng môn Khoa học lớp 4”
2 Mục đích nghiên cứu
Vận dụng lý thuyết kiến tạo để tổ chức quá trình dạy học môn Khoa học lớp 4 nhằm nâng cao chất lượng học tập môn Khoa học ở Tiểu học
3 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Quá trình dạy học môn Khoa học vận dụng quan điểm của lý thuyết kiến tạo
- Vận dụng lý thuyết kiến tạo để tổ chức quá trình dạy học một số nội
dung chủ đề Vật chất và N ăng lượng môn Khoa học lớp 4
4 Giả thuyết khoa học
N ếu vận dụng lý thuyết kiến tạo để dạy học một số kiến thức thuộc chủ
đề Vật chất và N ăng lượng môn Khoa học lớp 4 thì sẽ giúp học sinh tích cực trong học tập, nắm vững kiến thức, từ đó góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn Khoa học lớp 4 ở Tiểu học
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Hệ thống hoá được cơ sở lý luận của việc vận dụng lý thuyết kiến tạo trong dạy học môn Khoa học lớp 4
5.2 Tổ chức điều tra, khảo sát thực trạng dạy học môn Khoa học lớp 4 theo quan điểm kiến tạo ở trường một số trường Tiểu học trên địa bàn quận Cầu Giấy
5.3 Xây dựng tiến trình dạy học một số kiến thức chủ đề Vật chất và
N ăng lượng vận dụng lý thuyết kiến tạo
Trang 125.4 Tiến hành thực nghiệm sư phạm để đánh giá tính khả thi của đề tài
6 Phương pháp nghiên cứu
- N ghiên cứu lý thuyết: đọc sách báo, tài liệu, các công trình nghiên cứu có liên quan, từ đó phân tích, tổng hợp, vận dụng để xây dựng cơ sở lý luận của đề tài
- N ghiên cứu thực tiễn: Điều tra bằng phiếu và trao đổi trực tiếp với giáo viên tìm hiểu thực trạng dạy học ở một số trường Tiểu học, vốn kiến thức, hiểu biết ban đầu của học sinh liên quan đến nội dung kiến thức chủ đề Vật chất và N ăng lượng môn Khoa học lớp 4
- Thực nghiệm sư phạm để kiểm nghiệm giả thuyết khoa học ban đầu
- Sử dụng phương pháp thống kê toán học để rút ra kết quả định lượng
về điều tra và tổ chức thực nghiệm
7 Đóng góp của luận văn
- Hệ thống hoá được cơ sở lý luận của việc vận dụng lý thuyết kiến tạo trong dạy học môn Khoa học lớp 4
- Xây dựng, đề xuất được quy trình vận dụng lý thuyết kiến tạo trong dạy học môn Khoa học lớp 4 ở Tiểu học
- Thiết kế được tiến trình dạy học một số kiến thức chủ đề Vật chất và
N ăng lượng có vận dụng lý thuyết kiến tạo
8 Cấu trúc của luận văn
N goài phần Mở đầu và Kết luận, nội dung của luận văn được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực trạng của vận dụng lý thuyết kiến tạo trong dạy học Khoa học ở Tiểu học
Chương 2: Vận dụng quan điểm kiến tạo để tổ chức dạy học một số kiến
thức chủ đề Vật chất và N ăng lượng môn Khoa học lớp 4
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 13CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẬN DỤNG LÝ THUYẾT KIẾN TẠO TRONG DẠY HỌC KHOA HỌC Ở TIỂU HỌC 1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề
Từ thời cổ xưa, Socrate đã dùng các câu hỏi trực tiếp dẫn dắt người học
tự nhận ra điểm yếu trong suy nghĩ của họ - đây chính là khái niệm đầu tiên
về kiến tạo
Lý thuyết kiến tạo có bước phát triển mới khi Jean Piaget và John
Dewey phát triển các học thuyết về sự phát triển và giáo dục trẻ em:
Jean Piaget cho rằng: con người học tập thông qua việc thiết lập những chuỗi logic liên tiếp nhau, câu này nối tiếp câu kia Và ông cũng kết luận rằng, logic cũng như phương thức suy nghĩ của trẻ em hoàn toàn khác so với người trưởng thành Đây chính là cơ sở của việc giáo dục dựa trên lí thuyết kiến tạo
John Dewey yêu cầu giáo dục phải dựa trên kinh nghiệm thực tế Ông viết: “N ếu bạn nghi ngờ rằng quá trình học diễn ra như thế nào, hãy tham gia vào các câu hỏi liên tiếp, nghiên cứu, suy nghĩ, cân nhắc các khả năng khác nhau, từ đó hình thành niềm tin dựa vào các bằng chứng cụ thể.”
Các triết gia, nhà tâm lí học có công trong việc tạo thêm những triển vọng mới cho lí thuyết kiến tạo và áp dụng lí thuyết kiến tạo vào thực tiễn là: Lev Vygotsky, Jerome Bruner, và David AusubelR
Vygotsky đã đưa khía cạnh xã hội của việc học vào lí thuyết kiến tạo Ông định nghĩa “vùng tiệm cận đúng” (zone of proximal learning) – điều
mà HS tìm ra vượt qua trình độ phát triển hiện tại của HS (nhưng vẫn nằm trong ngưỡng phát triển tiềm năng của họ) dưới sự hướng dẫn của người lớn hoặc hợp tác với các bạn học có năng lực hơn
Bruner đề xướng thay đổi chương trình dựa trên quan điểm học tập là
Trang 14một quá trình tích cực và mang tính xã hội; trong đó, HS tổ chức nên những ý kiến mới và các khái niệm dựa trên kiến thức hiện tại của họ
Và cho đến ngày nay, lí thuyết kiến tạo được xem là một trong những quan điểm giáo dục hiện đại, góp phần tích cực trong việc rèn luyện kĩ năng
tự học, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh N hững nhà giáo dục hiện đại trên thế giới đã nghiên cứu, viết, và áp dụng lí thuyết kiến tạo vào giáo dục bao gồm: John D Bransford, Ernst von Glasersfeld, Eleanor Duckworth, George Forman, Roger Schank, Jacqueline Grennon Brooks, và Martin G Brooks Ở Việt N am, bước đầu đã có một số công trình nghiên cứu
về lí thuyết kiến tạo như sau: Luận án tiến sĩ Giáo dục học của tác giả Lương Việt Thái (2006), “N ghiên cứu tổ chức quá trình dạy học một số nội dung vật
lí trong môn khoa học tiểu học và môn vật lí ở THCS trên cơ sở vận dụng tư tưởng của lí thuyết kiến tạo” Các tạp chí khoa học của tác giả N guyễn Hữu Châu viết về “Dạy và học theo lối kiến tạo”,“Cơ sở lí luận của lí thuyết kiến tạo trong dạy học”, “Quan điểm kiến tạo trong dạy học”, “Dạy học kiến tạo, vai trò của người học và quan điểm kiến tạo trong dạy học”, tác giả Đỗ Tiến Đạt, Vũ Văn Đức viết về “Vận dụng lí thuyết kiến tạo trong dạy học toán ở tiểu học”, “Module hoá quá trình dạy học toán tiểu học theo quan điểm của lí thuyết kiến tạo”, “Ba mức độ vận dụng lí thuyết kiến tạo vào dạy học toán ở tiểu học”, tác giả Cao Thị Hà viết về “Một số yêu cầu trong việc tổ chức dạy học toán ở trường THPT theo quan điểm kiến tạo”, “Quy trình tổ chức dạy học toán ở trường phổ thông theo quan điểm kiến tạo”,…
Các công trình trên đã nghiên cứu tổng quan về lí thuyết kiến tạo, lí thuyết tương tác; tìm hiểu các luận điểm, cơ sở cơ bản của lí thuyết kiến tạo, xây dựng quy trình tổ chức, đề ra một số yêu cầu và các biện pháp sư phạm trong việc tổ chức dạy học ở các trường phổ thông theo lí thuyết kiến tạo Đồng thời, các tác giả cũng xây dựng cơ sở lý luận của phương pháp dạy học
Trang 15kiến tạo dựa trên cấu trúc ba bình diện của phương pháp dạy học theo Bernd Meier và vận dụng lí thuyết kiến tạo vào giảng dạy một số nội dung cụ thể trong chương trình phổ thông
Tuy nhiên, các công trình chưa nghiên cứu sâu về những yêu cầu cần
có khi thiết kế bài lên lớp theo lí thuyết kiến tạo cũng như hệ thống hoá được
cơ sở lý luận của việc vận dụng lý thuyết kiến tạo trong dạy học môn Khoa học lớp 4, khảo sát thực trạng dạy học môn Khoa học lớp 4 theo quan điểm kiến tạo ở trường một số trường Tiểu học
1.2 Cơ sở lí luận
1.2.1 Lý thuyết kiến tạo trong dạy học
1.2.1.1 Cơ sở tâm lý học của lý thuyết kiến tạo
Khái niệm về kiến tạo có từ thời cổ xưa, thời Socrate; cụ thể là từ cuộc hội thoại của ông với những người học trò của ông Trong cuộc trao đổi này, ông đã đưa ra những câu hỏi trực tiếp để dẫn dắt người học tự mình nhận ra những điểm yếu trong suy nghĩ của họ Cuộc trao đổi này đến nay vẫn được coi là một công cụ quan trọng theo cách kiến tạo mà các nhà giáo dục kiểm tra kiến thức của học sinh và chuNn bị cho việc hình thành kiến thức mới
Jean Piaget và John Dewey đã phát triển các học thuyết về sự phát triển các học thuyết về sự phát triển và giáo dục trẻ em, điều này đã tạo nên bước tiến cho lý thuyết kiến tạo
Lý thuyết kiến tạo là một trong ba lý thuyết tâm lý học cơ bản về học tập của con người N guồn gốc của nó là tâm lý học phát triển của Piaget (1896 - 1980) và lý luận về vùng phát triển gần nhất của Vygotxky
Trong lý thuyết về tâm lý học của Piaget về cấu trúc nhận thức đề cập tới hai vấn đề nổi bật là đồng hoá và điều ứng Theo quan điểm này thì nhận thức là sự thích nghi với môi trường thông qua quá trình đồng hoá hay điều ứng “Đồng hoá xuất hiện trên một cơ chế gìn giữ cái đã biết (có trong trí
Trang 16nhớ) và cho phép người học dựa trên những khái niệm quen thuộc để giải quyết tình huống mới” “Điều ứng chỉ thực sự xuất hiện khi người học sử dụng những cái đã biết để giải quyết một tình huống mới thì thất bại, và để giải quyết các tình huống này thì người học phải điều chỉnh, thậm chí phải bác bỏ những quan niệm cữ hoặc chưa đầy đủ để tạo ra kiến thức mới cho phù hợp với hoàn cảnh mới” [16], [24]
Theo Vygotxky: “mỗi cá nhân đều có vùng phát triển của riêng mình”, thể hiện vốn có, năng lực của bản thân người học Do đó, nếu các hoạt động dạy học được tổ chức trong “vùng phát triển gần nhất” thì sẽ đạt được hiệu quả cao nhất Vùng phát triển gần nhất là khoảng nằm giữa trình độ phát triển hiện tại được xác định bằng trình độ độc lập giải quyết vấn đề và trình độ gần nhất mà các em có thể đạt được với sự giúp đỡ của người lớn hoặc của bạn khi giải quyết vấn đề N goài ra Vygotxky còn nhấn mạnh đến sự thành công của nhận thức phải kể đến vai trò của văn hóa, xã hội và các điều kiện về phương tiện có thể tác động tới quá trình kiến tạo tri thức của mỗi cá nhân [27]
Dựa trên những quan điểm của Piaget và Vygotxky, các nhà nghiên cứu, mở rộng và vận đụng chúng vào lĩnh vực học tập từ đó hình thành nên lý thuyết kiến tạo về học tập Theo lý thuyết này thì quá trình học tập của con người là quá trình biến đổi nhận thức tức là làm thay đổi, phát triển hoặc hoàn chinh các quan niệm vốn có nhưng chưa đầy đủ của người học và chúng được diễn ra trong một môi trường thích hợp trong đó sự tương tác xã hội đóng vai trò hết sức quan trọng N hư vậy bản chất của lý thuyết kiến tạo chỉ ra rằng: người học xây dựng tri thức cho bản thân từ những kinh nghiệm vốn có của bản thân mình ửong điểu kiện tương tác môi trường học tập [19]
Theo từ điển tiếng việt, kiến tạo có nghĩa là xây dựng nên [8] Theo Mebrien và Brandt (1997) thì: “Kiến tạo là một cách tiếp cận “Dạy” dựa trên nghiên cứu về việc “Học” với niềm tin rằng: tri thức được kiến tạo nên bởi
Trang 17mỗi cá nhân người học sẽ trở nên vững chắc hơn rất nhiều so với việc nó được nhận từ người khác” Còn theo Brooks (1993) thì: “Quan điểm về kiến tạo trong dạy học khẳng định rằng học sinh cần phải tạo nên những hiểu biết
về thế giới bằng cách tổng hợp những kinh nghiệm mới vào trong những cái
mà họ đã có trước đó Học sinh thiết lập nên những quy luật thông qua sự phản hồi trong mối quan hệ tương tác với những chủ thể và ý tưởng …”.[24]
Vào năm 1993, M Briner đã viết: “N gười học tạo nên kiến thức của bản thân bằng cách điều khiển những ý tưởng và cách tiếp cận dựa trên những kiến thức và kinh nghiệm đã có, áp dụng chúng vào những tình huống mới, hợp thành tổng thể thống nhất giữa những kiến thức mới thu nhận được với những kiến thức đang tồn tại trong trí óc”.[19]
Mặc dù có những cách diễn đạt khác nhau về kiến tạo trong dạy học, nhưng tất cả các cách nói trên đều nhấn mạnh đến vai trò chủ động của người học trong quá trình học tập và cách thức người học thu nhận những tri thức cho bản thân Theo những quan điểm này, người học không học bằng cách thu nhận một cách thụ động những tri thức do người khác truyền cho một cách áp đặt, mà bằng cách đặt mình vào trong một môi trường tích cực, phát hiện ra vấn đề, giải quyết vấn đề bằng những kinh nghiệm đã có sao cho thích ứng với những tình huống mới, từ đó xây dựng nên những hiểu biết mới cho bản thân
Lý thuyết kiến tạo nhận thức của J Piaget (1896 - 1980) là cơ sở tâm lý học của nhiều hệ thống dạy học, đặc biệt là dạy học phổ thông Do vậy ta có thể nêu vắn tắt các quan điểm chủ đạo chính của lý thuyết kiến tạo nhận thức như sau [19], [23]:
Thứ nhất: Học tập là quá trình cá nhân hình thành các tri thức cho
mình Có hai loại tri thức: tri thức về thuộc tính vật lý, thu được bằng các hoạt động trực tiếp với các sự vật và tri thức về tư duy, quan hệ toán, logic thu được qua sự tương tác với người khác trong các quan hệ xã hội Đó là quá
Trang 18trình cá nhân tổ chức các hành động tìm tòi, khám phá thế giới bên ngoài và cấu tạo lại chúng dưới dạng các sơ đồ nhận thức Sơ đồ là một cấu trúc nhận thức bao gồm một lớp các thao tác giống nhau theo một trật tự nhất định Sơ
đồ nhận thức được hình thành từ các hành động bên ngoài và được nhập tâm
Sự phát triển nhận thức là sự phát triển hệ thống các sơ đồ, bắt đầu từ các giản
đồ cảm giác và vận động
Thứ hai: Dưới dạng chung nhất, cấu trúc nhận thức có chức năng tạo ra
sự thích ứng của cá thể với các kích thích của môi trường Các cấu trúc nhận thức được hình thành theo cơ chế đồng hóa và điều ứng
Thứ ba: quá trình phát triển nhận thức phụ thuộc trước hết vào sự
trưởng thành và chín muồi các chức năng sinh lí thần kinh của học sinh, vào
sự luyện tập và kinh nghiệm thu được thông qua hành động với đối tượng, vào tương tác của các yếu tố xã hội và vào tính chủ thể và sự phối hợp chung của hành động Chính yếu tố chủ thể làm cho các yếu tố trên không tác động riêng rẽ, rời rạc chúng được kết hợp với nhau trong một thể thống nhất trong quá trình phát triển của học sinh
1.2.1.2 Một số luận điểm cơ bản của lý thuyết kiến tạo trong dạy học
Xuất phát từ quan điểm của J Piaget về bản chất của quá trình nhận thức, các vấn đề về kiến tạo trong dạy học đã thu hút ngày càng nhiều các công trình của các nhà nghiên cứu và xây dựng nên những lý thuyết về kiến tạo Là một trong những người tiên phong trong việc vận dụng lý thuyết kiến tạo vào dạy học, Von Glaerfed đã nhấn mạnh một số luận điểm cơ bản làm nền tảng của lý thuyết kiến tạo như sau [8]:
Thứ nhất: Tri thức được tạo nên một cách tích cực bởi chủ thể nhận
thức chứ không phải tiếp thu một cách thụ động từ bên ngoài
Luận điểm này hoàn toàn phù hợp với thực tiễn nhận thức trong dạy học, điều này cũng được thể hiện rất rõ ràng Chẳng hạn ý tưởng về quan hệ
Trang 19“lớn hơn” và “nhỏ hơn” thì giáo viên không thể nói cho học sinh về điều này thông qua trình diễn cho học sinh quan sát một quả nho và một quả táo mà bằng cách tổ chức cho được trẻ em kiến tạo nên thông qua quá trình phản ánh các hoạt động được thực hiện trên tập hợp các đồ vật
Thứ hai: N hận thức là quá trình thích nghi và tổ chức lại thế giới quan
của chính mỗi người N hận thức không phải là khám phá một thế giới độc lập đang tồn tại bên ngoài ý thức của chủ thể
Theo quan điểm này nhận thức không phải là quá trình người học thụ động thu nhận những kiến thức chân lí do người khác áp đặt lên N ếu người học được đặt trong môi trường xã hội tích cực, thì ở đó người học có thể được khuyến khích vận dụng những tri thức và kỹ năng đã có để thích nghi với môi trường mới và từ đó xây dựng nên tri thức mới Đây chính là quá trình nhận thức của học sinh theo quan điểm kiến tạo
Thứ ba, học tập là quả trình mang tính xã hội trong đó trẻ em dần tự
hòa mình vào các hoạt động trí tuệ của người xung quanh Trong lớp học mang tính kiến tạo, học sinh không chỉ tham gia vào việc khám phá, phát minh mà còn tham gia vào cả quá trình xã hội bao gồm việc giải thích, trao đổi, đàm phán và đánh giá
Luận điểm này khẳng định vai trò của sự tương tác giữa các cá nhân trong quá trình học tập Quá trình học tập không chỉ là quá trình diễn ra trong đầu óc mỗi cá nhân mà nó còn luôn có xu hướng vượt ra ngoài tạo nên sự xung đột giữa các cá nhân trong quá trình nhận thức, đó là động lực quan trọng thúc đNy quá trình học tập của học sinh
Thứ tư: Kiến thức và kinh nghiệm mà cá nhân thu nhận phải “Tương
xứng” với những yêu cầu mà tự nhiên và xã hội đặt ra
Luận điểm này định hướng cho việc dạy học theo quan điểm kiến tạo, tránh việc để người học phát triển một cách quá tự do dẫn đến tình trạng hoặc
Trang 20là tri thức người học thu được trong quá trình học tập là quá lạc hậu, hoặc quá
xa vời với tri thức khoa học phổ thông
Thứ năm: Học sinh đạt được tri thức mới theo chu trình: Dự đoán
Kiểm nghiệm (Thất bại) Thích nghi Kiến thức mới
Đây có thể được coi là mô hình tổng quát của quá trình dạy học theo lý thuyết kiến tạo, nó khác với quá trình học tập mang tính thụ động, đó là kiến thức được truyền thụ một chiều từ giáo viên đến học sinh; mô hình này phản ánh sự sáng tạo không ngừng của người học trong quá trình học tập, thể hiện vai trò chủ động và tích cực của người học trong quá trình học tập, coi trọng quy trình kiến tạo kiến thức như mức độ quan trọng của chính kiến thức đó Vậy để tiếp thu một kiến thức mới trước hết phải quan tâm đến các hoạt động của người học, vốn kiến thức đã có của người học, trên cơ sở đó thiết kế các hoạt động tổ chức, chỉ đạo của giáo viên để giúp cho chu trình kiến tạo kiến thức của học sinh diễn ra thuận lợi hơn, học sinh chủ động sáng tạo và phát hiện, chứ không phải thụ động tiếp nhận từ môi trường
Tuy còn có những cách phát biểu khác nhau về những luận điểm nhưng
có thể thấy những điểm chung là [6]:
- Hoạt động là nguồn gốc nảy sinh và phát triển kiến thức Học là quá trình phát hiện và sáng tạo một cách tích cực của chủ thể nhận thức, không phải là sự tiếp thu thụ động từ giáo viên
N hận thức là quá trình tổ chức lại thế giới quan của chính người học thông qua hoạt động trí tuệ và thể chất Vì con người nhận thức thế giới thông qua các hoạt động trí tuệ để giải quyết sự mất cân bằng giữa các kiến thức, kĩ năng đã có với yêu cầu mới của môi trường để thiết lập sự cân bằng mới
N hưng sự cân bằng mới vừa được thiết lập lại mất cân bằng vì thế tạo động lực mới cho sự phát triển
Vai trò chủ động và tích cực của các cá nhân và sự tương tác giữa các
cá nhân là những điều kiện quan trọng trong quy trình kiến tạo kiến thức
Trang 21Trong dạy học theo quan điểm kiến tạo, học sinh được khuyến khích sử dụng các phương pháp riêng của họ để học mà không bị đòi hỏi chấp nhận lối tư duy của người khác N gười học phải là chủ thể của hoạt động nhận thức, họ phải tự ý thức được nhu cầu, hứng thú của việc học tập, từ đó tích cực tìm hiểu kiến thức mới, tích cực tạo ra các xung đột về mặt nhận thức làm động lực cho sự phát triển Vì thế người giáo viên phải tạo được những điều kiện thuận lợi tạo ra các nhu cầu và hứng thú cho học sinh Giáo viên biết tạo ra các “vùng phát triển gần” cho học sinh, để đảm bảo các nhiệm vụ học tập đặt
ra vừa sức, mang tính phát triển N hư vậy, lý thuyết kiến tạo luôn quan tâm đến tâm lí của việc học, quan tâm đến việc thể hiện ra ngoài những đặc điểm tâm lí bên trong của người học như: nhu cầu, hứng thú của học sinh cần tổ chức môi trường học tập, hỗ trợ sự tương tác giữa người học và đối tượng học tập, để giúp người học xây đựng thông tin mới vào cấu trúc tư duy của chính mình, đã được chủ thể điều chỉnh Học không chỉ là khám phá mà còn là sự giải thích, cấu trúc mới kiến thức
- Học là một quá trình có tính xã hội, thể hiện ở hai khía cạnh:
+ Học là một quá trình đáp ứng yêu cầu của xã hội, mục đích mà xã hội đặt ra, chứa đựng và chịu ảnh hưởng của các điều kiện kinh tế, chính trị và xã hội Vậy quá trình nhận thức được thúc đNy bởi các nhu cầu của xã hội, nghĩa
là việc học và sự suy nghĩ của mỗi người được hướng vào việc giải quyết các vấn đề nóng bỏng của xã hội
+ Vai trò tương tác xã hội trong quá trình nhận thức của trẻ bởi vì quá trình nhận thức không chỉ chịu sự tác động củạ các tác nhân nhận thức mà còn chịu sự tác động của các tác nhân văn hoá, xã hội, cảm xúc, ngôn ngữ Do vậy, lý thuyết kiến tạo quan niệm lớp học như một môi trường xã hội tích cực, lớp học không phải là một không gian thu nhỏ với những áp lực được đặt ra
từ phía thầy giáo, lớp học phải là nơi mà ở đó người học được hoà mình vào
Trang 22các hoạt động học tập với những người xung quanh, họ có quyền trao đổi, tranh luận và đưa ra những quyết định
Hai loại kiến tạo trong dạy học [9]:
Thứ nhất: Kiến tạo cơ bản (Radical Constructivism)
Kiến tạo cơ bản là một quan điểm nhận thức, nhấn mạnh tới cách thức
cá nhân xây dựng tri thức cho bản thân trong quá trình học tập
N erida F Ellerton và M A Clementes cho rằng: “Tri thức được kiến tạo một cách cá nhân” Điều này cũng phù hợp với luận điểm của Ernt Von Glaserfeld là “Kiến thức là kết quả của hoạt động kiến tạo của chính chủ thể nhận thức, không phải là thứ sản phNm mà bằng cách này hay cách khác tồn tại bên ngoài chủ thể nhận thức và có thể được truyền đạt hoặc thấm nhuần bởi sự cần cù nhận thức hoặc giao tiếp”.[10]
N hư vậy, có thể nói kiến tạo cơ bản đề cao vai trò của mỗi cá nhân trong quá trình nhận thức và cách thức cá nhân xây dựng tri thức cho bản thân Kiến tạo cơ bản quan tâm đến quá trình chuyển hóa bên trong của cá nhân trong quá trình nhận thức Sự nhấn mạnh tới kiến tạo cơ bản trong dạy học là sự nhấn mạnh tới vai trò chủ động của người học, nhưng cũng nhấn mạnh tới sự cô lập về tổ chức nhận thức của người học
Thứ hai: kiến tạo xã hội (Social Constructivism)
Theo N or Joharuddeen Mohdnor: “Kiến tạo xã hội là quan điểm nhấn mạnh đến vai trò của các yếu tố văn hóa và các điều kiện xã hội và sự tác động của các yếu tố đó đến sự hình thành kiến thức” Kiến tạo xã hội xem xét
cá nhân trong mối quan hệ chặt chẽ với các lĩnh vực xã hội N hân cách của chủ thể được hình thành thông qua sự tương tác của họ với những người khác Kiến tạo xã hội nhìn nhận chủ thể nhận thức trong mối quan hệ sống động với môi trường xã hội.[8], [10]
Trang 231.2.1.3 Mô hình dạy học theo lý thuyết kiến tạo
* Mô hình dạy học truyền thống
- Theo quan điểm truyền thống, quá trình dạy học được xây dựng trên quan điểm thu nhận, nên mục đích của quá trình dạy học là cung cấp cho học sinh một hệ thống kiến thức và kỹ năng chặt chẽ, lôgíc, giúp học sinh rèn luyện các kỹ năng đó Theo quan điểm này ta có mô hình dạy học như sau:
Giới thiệu khái niệm thực hành áp dụng khám phá xa hơn
- Mô hình này đã tồn tại rất lâu và có những ưu điểm sau:
+ Cung cấp cho người học một hệ thống kiến thức lôgíc, chặt chẽ và nhanh chóng Dạy học theo mô hình này luôn giúp cho người học nắm được những khái niệm một cách nhanh chóng thông qua sự truyền thụ của giáo viên, mà không phải mày mò suy đoán và không bao giờ thất bại
+ Rèn luyện cho học sinh một hệ thống kỹ năng, kỹ xảo tương ứng
- Mô hình dạy học này bộc lộ những nhược điểm cơ bản khi người ta quan tâm đến cách thức người học thu nhận kiến thức, những nhược điểm đó là:
+ N ội dung chương trình các môn học thường nặng lý thuyết kinh điển + Trong quá trình dạy học, giáo viên đóng vai trò là người truyền đạt kiến thức và đánh giá khả năng người học thu nhận những kiến thức thông qua khả năng thực hành của họ Bị chi phối bởi quan điểm thu nhận và bị áp lực về nội dung chương trình, nên người thầy không dám tin vào năng lực khám phá của học sinh, không tự tin vào việc tổ chức dạy học mà học sinh đóng vai trò chủ đạo trong việc họ xây dựng nên kiến thức cho bản thân Vì thế, trong quá trình học tập, người học luôn phải chấp nhận kiến thức một cách khiên cưỡng
Trang 24* Mô hình dạy học theo lí thuyết kiến tạo
Dựa trên những quan điểm hoàn toàn khác về bản chất của quá trình nhận thức của học sinh và mục tiêu dạy học theo quan điểm của lý thuyết kiến tạo không chỉ nhằm giúp học sinh có được một hệ thống kiến thức đáp ứng được yêu cầu của xã hội mà còn giúp học sinh trả lời được câu hỏi: làm thế nào để thu nhận được những kiến thức đó Do vậy lý thuyết kiến tạo đã đề xuất ra mô hình dạy học như sau [7]:
Khám phá Câu hỏi của học sinh Khảo sát cụ thể Phản ánh Kiến tạo kiến thức mới
Mô hình dạy học trên cũng chứa đựng sự thay đổi của quan điểm dạy học, trong lớp học theo quan điểm kiến tạo, những kiến thức và kỹ năng đã có của người học luôn được chú ý một cách đặc biệt, nó là một trong các tiền đề
để tổ chức dạy học một nội dung kiến thức mới Hoạt động của mỗi cá nhân
và hoạt động thảo luận theo nhóm hoặc theo lớp là các hoạt động chủ đạo trong quá trình kiến tạo kiến thức mới N hững kiến thức mới được cá nhân hay tập thể tạo nên có ý nghĩa hơn nhiều việc thu nhận các kiến thức đó từ giáo viên Vì vậy, chủ nhân của việc học được đặt đúng vào vị trí của người học chứ không phải là người thầy
Từ những phân tích trên, lý thuyết kiến tạo trong dạy học có các đặc trưng sau:
- Kiến thức do học sinh tự xây dựng nên dựa trên các kiến thức và kinh nghiệm đã có với sự tương tác của học sinh với môi trường học tập
- Quá trình tổ chức dạy học là quá trình diễn ra một cách liên tục theo chu trình: [13]
Trang 25Để thực hiện tốt chu trình này thì:
+ N gười học phải chủ động tích cực đón nhận tình huống học tập mới, chủ động trong việc huy động những kiến thức, kỹ năng đã có vào khám phá tình huống học tập mới
+ N gười học phải chủ động bộc lộ những quan điểm và những khó khăn của mình khi đứng trước một tình huống học tập mới Tích cực và chủ động trao đổi, thảo luận với bạn học và với giáo viên Việc trao đổi này phải xuất phát từ nhu cầu của chính học sinh trong việc tìm kiếm những giải pháp để giải quyết tình huống học tập mới hoặc khám phá sâu hơn các tình huống đó
+ N gười học phải chủ động điều chỉnh lại hệ thống kiến thức của bản thân sau khi lĩnh hội các kiến thức mới
+ Giáo viên phải là người chủ động tạo ra các tình huống học tập của học sinh, là người hướng đẫn, ủng hộ các khả năng sáng tạo của người học hơn là nỗ lực giảng giải và truyền đạt các cách giải đúng cho học sinh
+ Giáo viên phải là người tạo dựng môi trường học tập tích cực đó là môi trường chứa đựng nhiệm vụ học tập nhưng đồng thời nó phải thúc đNy nhu cầu muốn giải quyết nhiệm vụ học tập đó của người học
N hư vậy, các phương pháp: dạy học hợp tác, dạy học khám phá có
KIẾN THỨC ĐÃ CÓ KIẾN THỨC MỚI
THÍCH NGHI
THẤT BẠI
DỰ ĐOÁN
THỰC NGHIỆM
Trang 26hướng dẫn, dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề, … có thể coi là các phương pháp dạy học đặc thù của lý thuyết kiến tạo
* Các loại kiến tạo trong dạy học
Từ các cơ sở tâm lí của Piaget và của Vygotxki đã hình thành hai dạng kiến tạo căn bản và kiến tạo xã hội [12]
* Kiến tạo căn bản
Kiến tạo căn bản bắt đầu từ giả thiết: kiến thức không phải là vật chất,
nó được định rõ trong đầu của mỗi người, được con người biết trên cơ sở trải nghiệm của chính mình
Các nhà kiến tạo căn bản cho rằng, tri thức được kiến tạo một cách cá nhân thông qua cách thức hoạt động của mỗi cá nhân mà người khác không thể thâm nhập
Von Glaserfeld (1984,1989) cho rằng:
- Kiến thức là kết quả của hoạt động kiến tạo của chính chủ thể nhận thức và không thể tồn tại bên ngoài nhận thức
- Kiến thức không phải nhận được một cách bị động mà được chủ thể nhận thức xây dựng lên
- Chức năng của nhận thức là khả năng thích nghi và tạo nên kinh nghiệm thế giới, không phải là khám phá thực tế thế giới
N erida F Eberton và M.A Clementes cho rằng:
- Tri thức được kiến tạo một cách cá nhân Điều này cũng phù hợp với luận điểm của Von Glaserfeld là “Kiến thức là kết quả của hoạt động kiến tạo của chính chủ nhận thức, không phải là thứ sản phNm mà bằng cách này hay cách khác tồn tại bên ngoài chủ thể nhận thức và có thể được truyền đạt hoặc thấm nhuần bởi sự cần cù nhận thức hoặc giao tiếp.” [9], [11]
N ghiên cứu các luận điểm về kiến tạo căn bản, chúng tôi đi đến nhận xét sau: Kiến tạo căn bản khẳng định người học đóng vai trò chủ động trong
Trang 27quá trình nhận thức N gười học tự xây dựng nên kiến thức cho mình trong quá trình học tập
Tuy nhiên, theo cách học này, kiến thức mà người học thu được nói chung mang tính cá nhân, cô lập và thiếu tính xã hội
* Kiến tạo xã hội
Theo quan điểm kiến tạo xã hội, mỗi cá nhân nằm trong một hoàn cảnh
xã hội có một nền văn hóa xã hội nhất định do đó kiến thức mà người học xây dựng được mang tính xã hội Qua quá trình nhận thức của họ luôn xảy ra những quá trình tương tác xã hội, quá trình ấy xảy ra cả trong ý nghĩ và hành động Tương tác xã hội đóng vai trò quan trọng trong công việc xây dựng kiến thức của mỗi cá nhân
Kiến tạo xã hội xem xét cá nhân trong mối quan hệ chặt chẽ với các lĩnh vực xã hội Kiến tạo xã hội không xem xét tiềm năng tư duy cá nhân một cách cô lập mà xét nó trong sự tương tác với môi trường và sự đối thoại Tư duy được xem là một phần của hoạt động mang tính xã hội cá nhân
1.2.1.4 Môi trường học tập kiến tạo
Môi trường học tập kiến tạo là nơi mà học sinh có thể làm việc độc lập với nhau, cũng như hỗ trợ lẫn nhau trong việc sử dụng đa dạng các công cụ
và nguồn thông tin để cùng nhau theo đuổi những mục tiêu học tập với sự trợ giúp của GV [10], [24]
GV tạo môi trường và nội dung học tập phức hợp
Môi trường học tập
Tương tác
Trang 28N hư vậy, môi trường dạy học bao gồm toàn bộ các yếu tố vật chất và hoàn cảnh mà hoạt động dạy và học diễn ra ở trong đó Trong môi trường cụ thể này tính cách cá nhân của người dạy và người học đều được bộc lộ N hư vậy môi trường học tập trở thành một tác nhân không thể thiếu trong quá trình dạy học
Quá trình dạy học được diễn ra với sự tương tác cao giữa ba yếu tố: Giáo viên, học sinh và môi trường Mỗi một nhân tố có vai trò và cách thức hoạt động riêng Giáo viên là người chủ động tạo ra môi trường học tập cho học sinh tương tác học sinh bằng kiến thức và kinh nghiệm của mình tham gia tương tác với môi trường học tập, với bạn dưới sự hướng dẫn của giáo viên
N hư vậy, giáo viên, học sinh và môi trường luôn có sự tương hỗ với nhau Trong đó giáo viên là người tạo ra môi trường dạy học phù hợp, tạo điều kiện để người học tương tác với môi trường từ đó tạo nên kiến thức cho bản thân
Bên cạnh đó trong dạy học kiến tạo cần chú trọng việc phân chia và thảo luận theo nhóm Khi phân chia nhóm cần chú ý đảm bảo về trình độ sao cho trình độ các nhóm có sự đồng đều Có như vậy việc thảo luận mới đạt được hiệu quả cao
N ói tóm lại, để dạy học theo lý thuyết kiến tạo thì cần tạo ra một môi trường học tập thân thiện Sự tương tác giữa học sinh và môi trường dưới sự trợ giúp của giáo viên giúp tạo nên kiến thức mới cho người học
1.2.1.5 Vai trò của người học và người dạy trong quá trình dạy học kiến tạo
Quan điểm kiến tạo cơ bản và kiến tạo xã hội đều khẳng định và nhấn mạnh vai trò trung tâm của người học trong quá trình dạy học, thể hiện ở những điểm sau: [10], [24]
Thứ nhất: N gười học phải chủ động và tích cực trong việc đón nhận
Trang 29tình huống học tập mới, chủ động trong việc huy động những kiến thức, kỹ năng đã có vào khám phá tình huống học tập mới
Thứ hai: N gười học phải chủ động bộc lộ những quan điểm và những
khó khăn của mình khi đứng trước tình huống học tập mới
Thứ ba: N gười học phải chủ động và tích cực trong việc thảo luận, trao
đổi thông tin với bạn bè và với giáo viên Việc trao đổi này phải xuất phát từ nhu cầu của chính bản thân trong việc tìm những giải pháp để giải quyết tình huống học tập mới hoặc khám phá sâu hơn các tình huống đã có
Thứ tư: N gười học phải tự điều chỉnh lại kiến thức của bản thân sau khi
đã lĩnh hội được các tri mới, thông qua việc giải quyết các tình huống trong học tập
Giáo viên có vai trò quan trọng trong việc dạy học theo lý thuyết kiến tạo Khi dạy học theo lý thuyết kiến tạo, giáo viên có những nhiệm vụ sau:
Thứ nhất: Giáo viên cần nhận thức được kiến thức mà học sinh đã có
được trong những giai đoạn khác nhau để đưa ra những lời hướng dẫn thích hợp Lời hướng dẫn phải thỏa mãn ba yêu cầu sau:
Yêu cầu 1: Lời hướng dẫn phải dựa trên những gì mà mỗi học sinh đã biết Yêu cầu 2: Lời hướng dẫn phải tính đến các ý tưởng của học sinh phát
triển tự nhiên như thế nào
Yêu cầu 3: Lời hướng dẫn phải giúp học sinh có sự năng động tinh thần
khi học
Thứ hai: Giáo viên cũng là người “Cộng tác thám hiểm” với học sinh
hay nói cách khác giáo viên cũng là người học cùng với học sinh Vì việc học tập và xây dựng kiến thức cũng diễn ra thông qua mối quan hệ xã hội, giáo viên, học sinh, bạn bè Do đó khi giáo viên cùng tham gia học tập, trao đổi với học sinh thì mỗi học sinh có được cơ hội giao tiếp với nhau, với giáo viên Từ
đó mỗi học sinh có thể diễn đạt thành lời những suy nghĩ, những thắc mắc của mình, có thể đưa ra lời giải thích hoặc chứng minh Và chính lúc đó giáo viên
Trang 30sẽ trao đổi, trả lời, hoặc hỏi những câu hỏi mở rộng hơn, đào sâu hơn những vấn đề mà các em vừa nêu, đồng thời cũng giúp học sinh tổng hợp các ý kiến
để trả lời những thắc mắc của mình
Thứ ba: Giáo viên có trách nhiệm vận động học sinh tham gia các hoạt
động có thể làm tăng các hiểu biết thực sự cho học sinh
Cần lưu ý rằng, tuy đề cao vai trò trung tâm của người học trong quá trình dạy hoc, nhưng quan điểm kiến tạo không làm lu mờ “Vai trò tổ chức và điều khiển quá trình dạy học” của giáo viên Trong dạy học kiến tạo, thay cho việc nỗ lực giảng giải, thuyết trình nhằm truyền thụ tri thức cho học sinh, giáo viên phải là người chuyển hóa các tri thức khoa học thành các tri thức dạy học với việc xây dựng các tình huống dạy học chứa đựng các tri thức cần lĩnh hội, tạo dựng nên các môi trường mang tính xã hội để học sinh kiến tạo, khám phá nên kiến thức cho mình
Trong tất cả các xu hướng dạy học hiện nay, dạy học theo lý thuyết kiến tạo có tiếng nói mạnh mẽ trong giáo dục đặc biệt là trong dạy học Khoa học Lý thuyết kiến tạo đã và đang là một vấn đề mang tính xã hội, được chấp nhận như là một ngôn ngữ của xã hội Tuy nhiên việc áp dụng lý thuyết kiến tạo trong dạy học là rất khó Bất kỳ người giáo viên nào muốn dùng lý thuyết kiến tạo để “chuyển tải kiến thức” đều có thể thất bại Muốn thành công trong việc sử dụng lý thuyết kiến tạo thì phải dạy theo quan điểm học sinh tự xây dựng kiến thức cho chính mình Việc dạy học theo lý thuyết kiến tạo là lôi cuốn, hấp dẫn học sinh nhưng nó đòi hỏi sự nỗ lực cố gắng của cả giáo viên
và học sinh Theo nhà nghiên cứu Cobb và Steef (1983) thì giáo viên cần phải
“liên tục cố gắng để nhìn nhận cả hành động của chính mình và của cả học sinh từ quan điểm của học sinh” N ếu ta thực hiện việc dạy học theo lý thuyết kiến tạo tốt thì hiệu quả của việc dạy học rất cao [23]
Lý thuyết kiến tạo là lý thuyết về việc học nhằm phát huy tối đa vai trò
Trang 31tích cực và chủ động của người học trong quá trình học tập Lý thuyết kiến tạo quan niệm quá trình học toán là học trong hoạt động; học là vượt qua chướng ngại, học thông qua sự tương tác xã hội; học thông qua hoạt động giải quyết vấn đề Tương thích với quan điểm này về quá trình học tập, lý thuyết kiến tạo quan niệm quá trình dạy học là quá trình: Giáo viên chủ động tạo ra các tình huống học tập giúp học sinh thiết lập các tri thức cần thiết; giáo viên kiến tạo bầu không khí tri thức và xã hội tích cực giúp người học tự tin vào bản thân và tích cực học tập Giáo viên phải luôn giao cho học sinh những bài tập giúp họ tái tạo cấu trúc tri thức một cách thích hợp và học sinh giúp đỡ học sinh xác nhận tính đúng đắn của các tri thức vừa kiến tạo [11]
Lý thuyết kiến tạo chú trọng đến vai trò nhận thức của những quá trình nhận thức nội tại và “cài đặt dữ liệu” của riêng từng cá nhân học sinh trong việc học của chính mình Học sinh học tốt nhất khi các em được đặt trong một môi trường xã hội tích cực, ở đó các em có khả năng kiến tạo cách hiểu biết riêng của chính mình Học hợp tác được tổ chức nhằm tạo cơ hội cho học sinh trao đổi, thảo luận cách hiểu và cách tiếp cận vấn đề của mình N hư vậy, theo quan điểm của lý thuyết kiến tạo thì học không phải là một quá trình tiếp thu một cách kỹ lưỡng những kiến thức được đóng gói, được giáo viên truyền đạt một cách áp đặt, mà phải được tiếp thu một cách chủ động N ghĩa là, học sinh phải cố gắng tự tìm tri thức cho mình thông qua việc tái tổ chức các hoạt động của giáo viên Các hoạt động này được hiểu một cách rộng rãi là bao gồm những hoạt động về nhận thức hoặc về ý tưởng
1.2.2 Vận dụng lý thuyết kiến tạo trong dạy học Khoa học ở trường Tiểu học
1.2.2.1 Mục tiêu dạy học Khoa học ở trường Tiểu học
(Theo quyết định số 16/2006/QĐ-BGDĐT ngày 05/5/2006 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về Chương trình giáo dục phổ thông)
Trang 32b) Sự trao đổi chất, sự sinh sản của động vật, thực vật
c) Đặc điểm và ứng dụng của một số chất, một số vật liệu và dạng năng
lượng thường gặp trong đời sống và sản xuất
d) Phân tích, so sánh để rút ra dấu hiệu chung và riêng của một số sự
vật hiện tượng đơn giản trong tự nhiên
c) Yêu thiên nhiên, con người đất nước, yêu cái đẹp, có ý thức bảo vệ
môi trường xung quanh
1.2.2.2 Đặc điểm tâm sinh lí của học sinh Tiểu học
* Đặc điểm về mặt cơ thể
- Hệ xương còn nhiều mô sụn, xương sống, xương hông, xương chân,
Trang 33xương tay đang trong thời kỳ phát triển (thời kỳ cốt hoá) nên dễ bị cong vẹo, gẫy dập,
- Hệ cơ đang trong thời kỳ phát triển mạnh nên các em rất thích các trò
chơi vận động như chạy, nhảy, nô đùa,
- Hệ thần kinh cấp cao đang hoàn thiện về mặt chức năng, do vậy tư
duy của các em chuyển dần từ trực quan hành động sang tư duy hình tượng,
tư duy trừu tượng Do đó, các em rất hứng thú với các trò chơi trí tuệ như đố vui trí tuệ, các cuộc thi trí tuệ,
Chiều cao mỗi năm tăng thêm 4 cm; trọng lượng cơ thể mỗi năm tăng 2kg N ếu trẻ vào lớp 1 đúng 6 tuổi thì có chiều cao khoảng 106 cm (nam) 104
cm (nữ) cân nặng đạt 15,7 kg (nam) và 15,1 kg (nữ) Tuy nhiên, con số này chỉ là trung bình, chiều cao của trẻ có thể xê dịch khoảng 4-5 cm, cân nặng có thể xê dịch từ 1-2 kg Tim của trẻ đập nhanh khoảng 85 - 90 lần/phút, mạch máu tương đối mở rộng, áp huyết động mạch thấp, hệ tuần hoàn chưa hoàn chỉnh
* Đặc điểm về hoạt động và môi trường sống
a Hoạt động của học sinh tiểu học
- N ếu như ở bậc mầm non hoạt động chủ đạo của trẻ là vui chơi, thì đến tuổi tiểu học hoạt động chủ đạo của trẻ đã có sự thay đổi về chất, chuyển từ hoạt động vui chơi sang hoạt động học tập Tuy nhiên, song song với hoạt động học tập ở các em còn diễn ra các hoạt động khác như:
+ Hoạt động vui chơi: Trẻ thay đổi đối tượng vui chơi từ chơi với đồ
vật sang các trò chơi vận động
+ Hoạt động lao động: Trẻ bắt đầu tham gia lao động tự phục vụ bản
thân và gia đình như tắm giặt, nấu cơm, quét dọn nhà cửa, N goài ra, trẻ còn còn tham gia lao động tập thể ở trường lớp như trực nhật, trồng cây, trồng hoa,
+ Hoạt động xã hội: Các em đã bắt đầu tham gia vào các phong trào
của trường, của lớp và của cộng đồng dân cư, của Đội thiếu niên tiền phong,
Trang 34b N hững thay đổi kèm theo
- Trong gia đình: các em luôn cố gắng là một thành viên tích cực, có
thể tham gia các công việc trong gia đình Điều này được thể hiện rõ nhất trong các gia đình neo đơn, hoàn cảnh, các vùng kinh tế đặc biệt khó khăn, các em phải tham gia lao động sản xuất cùng gia đình từ rất nhỏ
- Trong nhà trường: do nội dung, tích chất, mục đích của các môn học
đều thay đổi so với bậc mầm non đã kéo theo sự thay đổi ở các em về phương pháp, hình thức, thái độ học tập Các em đã bắt đầu tập trung chú ý và có ý thức học tập tốt
- Ngoài xã hội: các em đã tham gia vào một số các hoạt động xã hội
mang tính tập thể (đôi khi tham gia tích cực hơn cả trong gia đình) Đặc biệt
là các em muốn thừa nhận mình là người lớn, muốn được nhiều người biết đến mình
* Sự phát triển của quá trình nhận thức (sự phát triển trí tuệ)
a N hận thức cảm tính
- Các cơ quan cảm giác: Thị giác, thính giác, khứu giác, vị giác, xúc
giác đều phát triển và đang trong quá trình hoàn thiện
- Tri giác: Tri giác của học sinh tiểu học mang tính đại thể, ít đi vào
chi tiết và mang tính không ổn định: ở đầu tuổi tiểu học tri giác thường gắn với hành động trực quan, đến cuối tuổi tiểu học tri giác bắt đầu mang tính xúc cảm, trẻ thích quan sát các sự vật hiện tượng có màu sắc sặc sỡ, hấp hẫn, tri giác của trẻ đã mang tính mục đích, có phương hướng rõ ràng Tri giác có chủ định (trẻ biết lập kế hoạch học tập, biết sắp xếp công việc nhà, biết làm các bài tập từ dễ đến khó, )
b N hận thức lý tính
- Tư duy
Tư duy mang đậm màu sắc xúc cảm và chiếm ưu thế ở tư duy trực quan hành động
Trang 35Các phNm chất tư duy chuyển dần từ tính cụ thể sang tư duy trừu tượng khái quát
Khả năng khái quát hóa phát triển dần theo lứa tuổi, lớp 4, 5 bắt đầu biết khái quát hóa lý luận Tuy nhiên, hoạt động phân tích, tổng hợp kiến thức còn sơ đẳng ở phần đông học sinh tiểu học
- Tưởng tượng
Tưởng tượng của học sinh tiểu học đã phát triển phong phú hơn so với trẻ mầm non nhờ có bộ não phát triển và vốn kinh nghiệm ngày càng dầy dạn Tuy nhiên, tưởng tượng của các em vẫn mang một số đặc điểm nổi bật sau:
Ở đầu tuổi tiểu học thì hình ảnh tưởng tượng còn đơn giản, chưa bền
vững và dễ thay đổi
Ở cuối tuổi tiểu học, tưởng tượng tái tạo đã bắt đầu hoàn thiện, từ những
hình ảnh cũ trẻ đã tái tạo ra những hình ảnh mới Tưởng tượng sáng tạo tương đối phát triển ở giai đoạn cuối tuổi tiểu học, trẻ bắt đầu phát triển khả năng làm thơ, làm văn, vẽ tranh, Đặc biệt, tưởng tượng của các em trong giai đoạn này
bị chi phối mạnh mẽ bởi các xúc cảm, tình cảm, những hình ảnh, sự việc, hiện tượng đều gắn liền với các rung động tình cảm của các em
c N gôn ngữ và sự phát triển nhận thức của học sinh tiểu học
Hầu hết học sinh tiểu học có ngôn ngữ nói thành thạo Khi trẻ vào lớp 1 bắt đầu xuất hiện ngôn ngữ viết Đến lớp 5 thì ngôn ngữ viết đã thành thạo và bắt đầu hoàn thiện về mặt ngữ pháp, chính tả và ngữ âm N hờ có ngôn ngữ phát triển mà trẻ có khả năng tự đọc, tự học, tự nhận thức thế giới xung quanh
và tự khám phá bản thân thông qua các kênh thông tin khác nhau
N gôn ngữ có vai trò hết sức quan trọng đối với quá trình nhận thức cảm tính và lý tính của trẻ, nhờ có ngôn ngữ mà cảm giác, tri giác, tư duy, tưởng tượng của trẻ phát triển dễ dàng và được biểu hiện cụ thể thông qua ngôn ngữ nói và viết của trẻ Mặt khác, thông qua khả năng ngôn ngữ của trẻ ta có thể đánh giá được sự phát triển trí tuệ của trẻ
Trang 36d Chú ý và sự phát triển nhận thức của học sinh tiểu học
Ở đầu tuổi tiểu học chú ý có chủ định của trẻ còn yếu, khả năng kiểm
soát, điều khiển chú ý còn hạn chế Ở giai đoạn này chú không chủ định chiếm ưu thế hơn chú ý có chủ định Trẻ lúc này chỉ quan tâm chú ý đến những môn học, giờ học có đồ dùng trực quan sinh động, hấp dẫn có nhiều tranh ảnh,trò chơi hoặc có cô giáo xinh đẹp, dịu dàng, Sự tập trung chú ý của trẻ còn yếu và thiếu tính bền vững, chưa thể tập trung lâu dài và dễ bị phân tán trong quá trình học tập
Ở cuối tuổi tiểu học trẻ dần hình thành kĩ năng tổ chức, điều chỉnh chú
ý của mình Chú ý có chủ định phát triển dần và chiếm ưu thế, ở trẻ đã có sự
nỗ lực về ý chí trong hoạt động học tập như học thuộc một bài thơ, một công thức toán hay một bài hát dài, Trong sự chú ý của trẻ đã bắt đầu xuất hiện giới hạn của yếu tố thời gian, trẻ đã định lượng được khoảng thời gian cho phép để làm một việc nào đó và cố gắng hoàn thành công việc trong khoảng thời gian quy định
e Trí nhớ và sự phát triển nhận thức của học sinh tiểu học
Loại trí nhớ trực quan hình tượng chiếm ưu thế hơn trí nhớ từ ngữ - lôgic
Giai đoạn lớp 1,2 ghi nhớ máy móc phát triển tương đối tốt và chiếm
ưu thế hơn so với ghi nhớ có ý nghĩa N hiều học sinh chưa biết tổ chức việc ghi nhớ có ý nghĩa, chưa biết dựa vào các điểm tựa để ghi nhớ, chưa biết cách khái quát hóa hay xây dựng dàn bài để ghi nhớ tài liệu
Giai đoạn lớp 4,5 ghi nhớ có ý nghĩa và ghi nhớ từ ngữ được tăng
cường Ghi nhớ có chủ định đã phát triển Tuy nhiên, hiệu quả của việc ghi nhớ có chủ định còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như mức độ tích cực tập trung trí tuệ của các em, sức hấp dẫn của nội dung tài liệu, yếu tố tâm lý tình cảm hay hứng thú của các em
g Ý chí và sự phát triển nhận thức của học sinh tiểu học
Ở đầu tuổi tiểu học hành vi mà trẻ thực hiện còn phụ thuộc nhiều vào
yêu cầu của người lớn (học để được bố cho đi ăn kem, học để được cô giáo
Trang 37khen, quét nhà để được ông cho tiền, ) Khi đó, sự điều chỉnh ý chí đối với việc thực thi hành vi ở các em còn yếu Đặc biệt các em chưa đủ ý chí để thực hiện đến cùng mục đích đã đề ra nếu gặp khó khăn
Đến cuối tuổi tiểu học các em đã có khả năng biến yêu cầu của người
lớn thành mục đích hành động của mình, tuy vậy năng lực ý chí còn thiếu bền vững, chưa thể trở thành nét tính cách của các em Việc thực hiện hành vi vẫn chủ yếu phụ thuộc vào hứng thú nhất thời
Nói tóm lại, 6 tuổi vào lớp 1 là bước ngoặt lớn của trẻ thơ Môi trường thay
đổi: đòi hỏi trẻ phải tập trung chú ý thời gian liên tục từ 30 - 35 phút Chuyển từ hiếu kỳ,tò mò sang tính ham hiểu biết, hứng thú khám phá Bước đầu kiềm chế dần tính hiếu động, bột phát để chuyển thành tính kỷ luật, nền nếp, chấp hành nội quy học tập Phát triển độ tinh nhạy và sức bền vững của các thao tác tinh khéo của đôi bàn tay để tập viết, Tất cả đều là thử thách của trẻ, muốn trẻ vượt qua được tốt những điều này thì phải cần có sự quan tâm giúp đỡ của gia đình, nhà trường và xã hội dựa trên sự hiểu biết về tri thức khoa học
* Sự phát triển tình cảm của học sinh tiểu học
Tình cảm của học sinh tiểu học mang tính cụ thể trực tiếp và luôn gắn liền với các sự vật hiện tượng sinh động, rực rỡ, Lúc này khả năng kiềm chế cảm xúc của trẻ còn non nớt, trẻ dễ xúc động và cũng dễ nổi giận, biểu hiện
cụ thể là trẻ dễ khóc mà cũng nhanh cười, rất hồn nhiên vô tư
Vì thế có thể nói tình cảm của trẻ chưa bền vững, dễ thay đổi (tuy vậy so với tuổi mầm non thì tình cảm của trẻ tiểu học đã "người lớn" hơn rất nhiều
Trong quá trình hình thành và phát triển tình cảm của học sinh tiểu học luôn luôn kèm theo sự phát triển năng khiếu: Trẻ nhi đồng có thể xuất hiện các năng khiếu như thơ, ca, hội họa, kĩ thuật, khoa học, khi đó cần phát hiện
và bồi dưỡng kịp thời cho trẻ sao cho vẫn đảm bảo kết quả học tập mà không làm thui chột năng khiếu của trẻ
Trang 38* Sự phát triển nhân cách của học sinh tiểu học
N ét tính cách của trẻ đang dần được hình thành, đặc biệt trong môi trường nhà trường còn mới lạ, trẻ có thể nhút nhát, rụt rè, cũng có thể sôi nổi, mạnh dạn Sau 5 năm học, "tính cách học đường" mới dần ổn định và bền vững ở trẻ
N hìn chung việc hình thành nhân cách của học sinh tiểu học mang những đặc điểm cơ bản sau: N hân cách của các em lúc này mang tính chỉnh thể và hồn nhiên, trong quá trình phát triển trẻ luôn bộc lộ những nhận thức,
tư tưởng, tình cảm, ý nghĩ của mình một cách vô tư, hồn nhiên, thật thà và ngay thẳng; nhân cách của các em lúc này còn mang tính tiềm Nn, những năng lực, tố chất của các em còn chưa được bộc lộ rõ rệt, nếu có được tác động thích ứng chúng sẽ bộc lộ và phát triển; và đặc biệt nhân cách của các em còn mang tính đang hình thành, việc hình thành nhân cách không thể diễn ra một sớm một chiều, với học sinh tiểu học còn đang trong quá trình phát triển toàn diện về mọi mặt vì thế mà nhân cách của các em sẽ được hoàn thiện dần cùng với tiến trình phát triển của mình
1.2.2.3 Vận dụng quan điểm của lý thuyết kiến tạo trong dạy học Khoa học
Dựa trên ý kiến của nhiều nhà khoa học nổi tiếng, V.G.Razumôpxki đã đưa ra chu trình sáng tạo khoa học [17] như sau :
Chu trình sáng tạo khoa học
Các hệ quả lô gic
Thí nghiệm kiểm tra
N hững sự kiện khởi đầu
Mô hình giả định trừu tượng
Trang 39Theo chu trình này, từ sự khái quát hoá những sự kiện đi đến xây dựng
mô hình trừu tượng Từ mô hình rút ra các hệ quả lí thuyết và được kiểm tra bằng thí nghiệm Khi có sự phù hợp giữa kết quả thí nghiệm và hệ quả lí thuyết thì mô hình được chấp nhận Thí nghiệm đóng vai trò cung cấp dữ kiện làm cơ sở cho dự đoán mô hình giả định đồng thời cũng đóng vai trò đánh giá, hợp thức hoá mô hình
N hư vậy, các lí thuyết khoa học được xem như những mô hình được con người xây dựng nên để biểu đạt thực tế Các mô hình này cần phải được hợp thức hoá trên cơ sở xem xét sự phù hợp với các kết quả thực nghiệm Trong quá trình phát triển của khoa học, các mô hình có thể bị thay thế, được hoàn thiện, và ngày càng phong phú, giúp cho con người nhận thức thế giới ngày càng đúng đắn, đầy đủ, sâu sắc, hệ thống hơn
Theo quan điểm kiến tạo về học tập, trong quá trình học tập, học sinh phải xây dựng kiến thức – những mô hình cho bản thân mình Học sinh cũng
có thể có những mô hình riêng ban đầu khi tìm cách giải thích các hiện tượng Trong quá trình học tập, những mô hình này được kiểm nghiệm, có thể bị loại
bỏ hoặc phát triển để thích nghi với tình huống mới
Điểm khác biệt với các nhà khoa học là học sinh không có vai trò xây dựng nên mô hình mới - mô hình khoa học đã tồn tại Để tạo thuận lợi cho học sinh trong quá trình học tập, giáo viên sử dụng những “mô hình trong dạy học”, đây là các mô hình được phát triển đặc biệt để giúp học sinh thuận lợi trong xây dựng những hiểu biết hướng tới các mô hình khoa học
Sự phù hợp trên cho phép ta đánh giá:
- Vận dụng lý thuyết kiến tạo trong dạy học Khoa học tạo thuận lợi cho việc thực hiện các mục tiêu của dạy học Khoa học
- Vận dụng linh hoạt các phương pháp nhận thức của Khoa học là cần thiết và phù hợp trong dạy học kiến tạo các nội dung Khoa học
- Từ việc tìm hiểu các đặc điểm của dạy học kiến tạo và phương pháp nhận thức của Khoa học cho thấy, dạy học kiến tạo sử dụng các phương pháp nhận thức của Khoa học có một số nét đặc trưng sau:
Trang 40- Khoa học có mối quan hệ chặt chẽ với thực nghiệm, đối tượng của nó
là những sự vật, hiện tượng tự nhiên Vì vậy, cần quan tâm tới các tình huống thực tế (quan sát, thí nghiệm) khi xây dựng những tình huống, vấn đề nhằm làm "bộc lộ", “vận hành” những hiểu biết, quan niệm sẵn có của học sinh
- Trong dạy học kiến tạo, những mô hình (quan niệm) sẵn có của học sinh được quan tâm, được vận hành để đưa ra các ý kiến dự đoán, giải thích, … Để đánh giá, kiểm nghiệm các ý kiến, có thể qua lập luận lôgic, tính toán, qua kết quả thống kê các sự kiện, qua trích dẫn các văn bản, … Trong dạy học Khoa học cần quan tâm tới đánh giá, kiểm nghiệm bằng phương pháp thực nghiệm
- Để giúp học sinh xây dựng giả thuyết mới, cần chú ý tới việc cung cấp cho các em những sự kiện thực nghiệm (qua quan sát, thí nghiệm), tới sử dụng phương pháp tương tự
1.2.2.4 Tiến trình chung của việc vận dụng lý thuyết kiến tạo trong dạy học Khoa học ở trường Tiểu học
* Tiến trình dạy học kiến tạo theo một số tác giả phương Tây
Hiện nay, các nhà nghiên cứu đang tìm ra các phương pháp dạy học cụ thể có thể thực hiện các quan điểm của dạy học kiến tạo Theo Minstrel việc tìm hiểu những quan niệm có sẵn của học sinh gợi ý cho việc xây dựng các phương pháp dạy học cũng như các tiến trình dạy học cụ thể Các hướng nghiên cứu đều nhấn mạnh tầm quan trọng của sự phát triển các kiến thức được xây dựng chung giữa thầy và trò trong quá trình dạy học Cuối cùng, quan niệm của thầy, đại diện cho quan điểm khoa học phải là quan niệm chỉ đạo Tuy nhiên, hiện có sự bàn cãi về việc đánh giá các quan niệm có sẵn của học sinh để làm chúng bộc lộ ra Do vậy, các hướng đề xuất có các chi tiết khác nhau tùy theo quan điểm về các quan niệm có sẵn của học sinh
Một số phương pháp dạy học cụ thể đã được đề xuất như sau:
- Phương pháp của N ossbaun và N ovick, gồm ba bước:
Bước 1: Bộc lộ quan niệm có sẵn