1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tư duy tự sự trong tiểu thuyết lịch sử văn hóa của nguyễn xuân khánh (LV02575)

116 154 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 116
Dung lượng 1,8 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khảo sát tiểu thuyết lịch sử - văn hóa của Nguyễn Xuân Khánh, chúng tôi nhận thấy, dường như có một dòng chảy liên tục trong tư duy tự sự của nhà văn.. Lựa chọn nghiên cứu đề tài Tư duy

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

LÊ THỊ HUỆ

TƯ DUY TỰ SỰ TRONG TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ -

VĂN HÓA CỦA NGUYỄN XUÂN KHÁNH

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Mã số: 60 22 01 21

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

Người hướng dẫn khoa học

TS NGUYỄN THỊ TUYẾT MINH

HÀ NỘI - 2017

Trang 2

Lời đầu tiên, tôi xin bảy tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới TS Nguyễn Thị Tuyết Minh, người đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn này

Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, Ban Chủ nhiệm Khoa Ngữ văn và các thầy, cô giáo Bộ môn Văn học Việt Nam đã tham gia giảng dạy, truyền đạt kiến thức, hướng dẫn khoa học, đóng góp ý kiến quý báu và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập cũng như trong quá trình thực hiện luận văn

Cuối cùng xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè đã cổ vũ, động viên

và tạo điều kiện giúp đỡ về mọi mặt để tôi hoàn thành tốt chương trình học tập và nghiên cứu

Hà Nội, tháng 10 năm 2017

Tác giả luận văn

Lê Thị Huệ

Trang 3

Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này

là trung thực và không trùng lặp với các đề tài khác Tôi cũng xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc

Tác giả luận văn

Lê Thị Huệ

Trang 4

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 6

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7

5 Phương pháp nghiên cứu 8

6 Đóng góp của luận văn 8

7 Cấu trúc luận văn 8

CHƯƠNG 1 GIỚI THUYẾT VỀ TƯ DUY TỰ SỰ VÀ TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ - VĂN HÓA CỦA NGUYỄN XUÂN KHÁNH 9

1.1 Giới thuyết về tư duy tự sự 9

1.1.1 Khái niệm tư duy 9

1.1.2 Khái niệm tư duy tự sự 12

1.1.3 Những phương diện cơ bản của tư duy tự sự 14

1.2 Giới thuyết về tiểu thuyết lịch sử 19

1.2.1 Khái niệm tiểu thuyết lịch sử 19

1.2.2 Đặc trưng thể loại 22

1.2.3 Tiểu thuyết lịch sử trong đời sống tiểu thuyết Việt Nam đương đại 23

1.3 Nguyễn Xuân Khánh và thể loại tiểu thuyết lịch sử - văn hóa 25

1.3.1 Nguyễn Xuân Khánh và hành trình viết văn nửa thế kỉ 25

1.3.2 Tiểu thuyết lịch sử - văn hóa của Nguyễn Xuân Khánh trong dòng chảy tiểu thuyết thế kỉ XXI 27

CHƯƠNG 2.TƯ DUY TỰ SỰ TRONG TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ - VĂN HÓA CỦA NGUYỄN XUÂN KHÁNH - NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN 31

ĐỀ TÀI, CẢM HỨNG, NHÂN VẬT 31

2.1 Đề tài lịch sử - văn hóa và thông điệp thế sự 31

2.2 Cảm hứng lịch sử - văn hóa và suy tư thế sự 36

Trang 5

2.3.2 Nhân vật văn hóa 56

CHƯƠNG 3 TƯ DUY TỰ SỰ TRONG TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ - VĂN HÓA CỦA NGUYỄN XUÂN KHÁNH - NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN NGHỆ THUẬT TRẦN THUẬT 72

3.1 Điểm nhìn trần thuật 72

3.1.1 Sử dụng linh hoạt điểm nhìn 72

3.1.2 Điểm nhìn có sự chuyển dịch từ ngoài vào trong 77

3.2 Ngôn ngữ và các biểu tượng 81

3.2.1 Sự đan xen ngôn ngữ lịch sử với ngôn ngữ đời sống 82

3.2.2 Sử dụng các biểu tượng 86

3.3 Giọng điệu đa âm 91

KẾT LUẬN 99 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Giữa sự đa dạng của đời sống văn học Việt Nam những năm đầu thế kỉ XXI, dòng tiểu thuyết lịch sử - văn hoá đã đóng góp những thành tựu quan trọng với những tên tuổi như Nguyễn Xuân Khánh, Võ Thị Hảo, Nguyễn Mộng Giác Họ đã kiến tạo một giá trị mới cho tiểu thuyết Việt Nam, trong

đó, Nguyễn Xuân Khánh là tác giả đạt được nhiều thành công Bộ ba trường

thiên tiểu thuyết Hồ Qúy Ly (2000), Mẫu Thượng Ngàn (2006) và Đội gạo lên

chùa (2011) đã cho thấy một trong những chân dung tiểu thuyết gia hàng đầu,

trong chân dung một nhà văn hóa

Tiểu thuyết lịch sử - văn hóa của Nguyễn Xuân Khánh thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu, phê bình văn học Năm 2012, Nhà xuất bản

Phụ nữ phối hợp với Viện Văn học Việt Nam tổ chức Hội thảo “Lịch sử và

văn hóa, cái nhìn nghệ thuật Nguyễn Xuân Khánh” Hội thảo đã thu hút được

trên 20 bài viết với những kiến giải khác nhau về nghệ thuật tiểu thuyết của Nguyễn Xuân Khánh Nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Điệp - Viện trưởng Viện Văn học khẳng định:“ Ngày nay người ta coi tiểu thuyết lịch sử như một diễn ngôn văn hóa nghệ thuật Vì thế, mỗi nhà văn phải tạo ra một tư tưởng, cái nhìn riêng của anh ta về lịch sử, gắn liền với nó là một thi pháp nghệ thuật Thông qua hiện tượng Nguyễn Xuân Khánh đặt ra một vấn đề sâu hơn, đó là

sự đổi mới tư duy nghệ thuật, diễn ngôn lịch sử, làm cho tiểu thuyết lịch sử của Việt Nam phong phú hơn, khiến người ta yêu lịch sử hơn, biết hưởng thụ

lịch sử trên tinh thần nhân văn hiện đại” [15]

Khảo sát tiểu thuyết lịch sử - văn hóa của Nguyễn Xuân Khánh, chúng tôi nhận thấy, dường như có một dòng chảy liên tục trong tư duy tự sự của

nhà văn Nếu Hồ Quý Ly hướng đến khai thác nhân vật lịch sử và kiến giải về

con đường lựa chọn lịch sử khi vận nước đòi hỏi phải canh tân đổi mới, thì

Trang 7

Mẫu Thượng Ngàn lại hướng đến khai thác vấn đề vấn đề phong tục - nguồn

cội của sức sống dân tộc, và Đội gạo lên chùa hướng đến lí giải vấn đề tôn

giáo trong tình huống con người phải lựa chọn con đường tu thân và cách ứng

xử tùy duyên

Lựa chọn nghiên cứu đề tài Tư duy tự sự trong tiểu thuyết lịch sử, văn

hóa của Nguyễn Xuân Khánh, chúng tôi mong muốn làm rõ hơn những đóng

góp của nhà văn đối với dòng tiểu thuyết lịch sử - văn hóa nói riêng và văn xuôi Việt Nam đương đại nói chung

2 Lịch sử vấn đề

Nối tiếp mạch truyền thống, tiểu thuyết lịch sử đương đại có nhiều tác phẩm gây chú ý với người đọc, có những năm đã từng tạo nên “cơn sốt” trong

đời sống văn học Hồ Qúy Ly, Mẫu Thượng Ngàn và Đội gạo lên chùa của

Nguyễn Xuân Khánh là những tác phẩm nằm trong số đó Cả ba cuốn tiểu thuyết sau khi xuất hiện trên văn đàn đã gây xôn xao dư luận và trở thành hiện tượng văn học nổi bật Bộ ba tiểu thuyết này giành được nhiều giải thưởng

danh giá: Hồ Quý Ly giành được 4 giải (Giải thưởng Cuộc thi tiểu thuyết

1998- 2000 của Hội Nhà văn Việt Nam; Giải thưởng của Hội Nhà văn Hà Nội 2001; Giải thưởng Mai vàng của báo Người lao động 2001; Giải thưởng

Thăng Long của Uỷ ban Nhân dân thành phố Hà Nội 2002); Mẫu Thượng

Ngàn có 2 giải (Giải thưởng Hội Nhà văn Hà Nội 2006; Giải thưởng văn hoá

Doanh nhân 2007); Đội gạo lên chùa xuất bản đầu năm 2011, đầu năm 2012

đã được trao ngay Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam Ba cuốn tiểu thuyết

của Nguyễn Xuân Khánh cũng là những đầu sách bán chạy của thập niên đầu

thế kỉ XXI: Hồ Quý Ly đã tái bản 11 lần; Mẫu Thượng Ngàn tái bản 7 lần; Đội gạo lên chùa đã tái bản 4 lần

Những vấn đề Nguyễn Xuân Khánh đặt ra trong tác phẩm cũng như cách nhà văn chiêm nghiệm về lịch sử, văn hóa trong cả ba cuốn tiểu thuyết

Trang 8

đã trở thành mối quan tâm của đông đảo bạn đọc và các nhà phê bình, nghiên cứu Có thể kể những công trình tiêu biểu sau đây:

Lại Nguyên Ân nhận định: “Tác giả Nguyễn Xuân Khánh vừa khai thác

tối đa các nguồn sử liệu, văn liệu hiện còn, vừa phóng khoáng trong những hư cấu tạo một thực tại tiểu thuyết vừa tương đồng với những thông tin còn lại về một thời đã lùi xa vừa in dấu cách hình dung và trình bày riêng của tác giả” [1]

Phạm Toàn nhận xét: “Nguyễn Xuân Khánh không vì viết về lịch sử

mà lệ thuộc vào sự việc, không rơi vào việc dùng “tiểu thuyết” chỉ để viết lại thông sử nước nhà theo một cách khác” [47]

Đỗ Ngọc Yên khẳng định:“ Qua Hồ Qúy Ly, Nguyễn Xuân Khánh

không chỉ mang đến cho thể loại lịch sử một sinh khí còn nâng vị thế của nó lên một tầm cao mới về nội dung, đề tài, chủ đề và hình thức thể hiện Nguyễn Xuân Khánh đã vượt lên trên những sự kiện lịch sử, thổi vào đó luồng cảm xúc thẩm mĩ của chủ thể sáng tạo, làm cho các sự kiện ấy trở nên sống động hơn, gây hứng thú cho bạn đọc ”[58]

Nhà văn Hồ Anh Thái nhận xét: “Cuốn sách làm tốt hai yếu tố: tiểu thuyết và lịch sử Nhân vật và không khí lịch sử sinh động, có hồn, chuyển tải được những vấn đề cốt lõi của lịch sử và thời đại Viết về một nhân vật lịch sử chủ trương đổi mới ráo riết tìm cách phế bỏ một chính thể cũ nát lỗi thời, quyết tâm xây dựng một xã hội mới bằng phương pháp tàn bạo, hà khắc, thậm chí tàn khốc, Nguyễn Xuân Khánh đã có được thái độ khách quan của một nhà tiểu thuyết và của người khảo sát lịch sử Cũng trong việc lựa chọn viết

về Hồ Qúy Ly và thời đại của ông, tác giả chọn được một phương tiện tốt để gửi gắm nhiều tâm sự của trí thức hôm nay về thời cuộc” [35]

Nhà văn Trung Trung Đỉnh có ý kiến sức hấp dẫn của cuốn tiểu thuyết

Hồ Qúy Ly “ không chỉ ở văn mạch mà cái chính là tác giả đã tự lựa chọn

Trang 9

được cho mình một thế đứng vững chắc và một thế đứng với tư thế của một nhà tiểu thuyết trước những vấn đề hôm qua và hôm nay”.[17]

Trong hội thảo về tiểu thuyết Hồ Qúy Ly do Hội Nhà văn tổ chức đã có

nhiều ý kiến của các nhà văn, nhà nghiên cứu phê bình [35]

Tham luận của Vũ Bão: Nhà văn Nguyễn Xuân Khánh không đi theo vết chân đi trước Ông rẽ trái, đạp đá tai mèo, dẫn nhân vật băng qua những miền đất mới Ông không buông mình trôi theo dòng cháy lịch sử Ông cắt ngang cuộc sống đầy biến động, tìm những nét tinh tế trong tính cách nhân vật, giành không gian cho nhân vật hoạt động

Hoàng Quốc Hải nêu bật cảm tưởng về tiểu thuyết Hồ Qúy Ly:

“đây là cuốn tiểu thuyết lịch sử viết rất nghiêm túc bám sát chính sử Văn chương mượt mà, có sức cuốn hút đọc hết hơn 800 trang vẫn muốn đọc lại” Theo ông, “ tư tưởng chủ đề của tiểu thuyết Hồ Qúy Ly xoay quanh ba chữ

“thời thiên túy” mà tác giả đã khéo léo đề cập ” Cũng trong tham luận này, Hoàng Quốc Hải nêu ra những nguyên nhân dẫn cuốn sách đến thành công như chọn được thời điểm lịch sử, nhân vật mà mình yêu thích và nghiền ngẫm

cả cuộc đời, tạo được cảm hứng tự do, gạt ra mọi ràng buộc, thể hiện tính công bằng lịch sử

Ý kiến của Nguyên Ngọc cho rằng “lâu lắm rồi mới có một cuốn tiểu thuyết chững chạc như thế này Chọn thời đại Hồ Qúy Ly, nhân vật Hồ Qúy

Ly là đúng Tác giả nói được nhiều điều và nói được sâu sắc bởi cách chọn này.”

Châu Diên “nêu ra ba ưu điểm của cuốn tiểu thuyết Hồ Qúy Ly: không

né tránh vấn đề gay cấn, xử lí vấn đề tài tình, sự ảo tưởng tích cực của tác giả thể hiện trong tác phẩm”

Trịnh Đình Khôi nhấn mạnh một số phẩm chất tiêu biểu: Cuốn sách rất

có văn Lâu nay ta chú ý truyện nhiều hơn văn Vấn đề đặt ra có ý nghĩa hiện

Trang 10

đại Tác phẩm giải quyết thỏa đáng nhiều vấn đề lịch sử mà vẫn nóng hổi ý nghĩa hiện đại: các mối quan hệ giữa nhà nước và nhân dân, giữa giới cầm quyền và trí thức, giữa chính trị và văn học

Đỗ Hải Ninh đã chỉ ra: “các nhân vật, sự kiện lịch sử không đơn nghĩa

mà trở nên đa diện khi được soi chiếu từ nhiều góc độ Nhà văn đặt nhân vật trong mối quan hệ phức tạp của gia đình và xã hội” Thế giới trong tiểu thuyết của ông là “ con người của đời thực, con người của cuộc sống thường ngày”,

“đều ở trong thế lưỡng cực, đa trị” Tuy nhiên ở mỗi tác phẩm, nhà văn lại tập trung vào một kiểu nhân vật riêng: “Ở Hồ Qúy Ly, nhà văn chú ý đến những nhân vật có thật của lịch sử, những hình tượng đậm nét để đi đến cái phổ quát của con người Cuộc đời các nhân vật lịch sử cũng như mỗi biến cố, sự kiện chỉ là cái chớp mắt của ngàn năm nhưng nhà văn đã lưu giữ lại những khoảnh khắc đó, tạo dựng thành hình tượng nghệ thuật giàu sức sống như Hồ Qúy Ly,

Hồ Nguyên Trừng, Trần Nghệ Tôn, Trần Khát Chân, Mẫu Thượng Ngàn lại hướng tới những nhân vật hư cấu, vô danh trong lịch sử để dệt lên bức tranh rộng lớn về văn hóa Việt” [15]

Năm 2006 Mẫu Thượng Ngàn ra mắt bạn đọc và lập tức trở thành đối

tượng thu hút sự quan tâm của giới nghiên cứu, phê bình với hàng loạt các bài

viết như: Sức ám ảnh của tín ngưỡng dân gian trong tiểu thuyết Mẫu Thượng

Ngàn của tác giả Trần Thị An (Tạp chí Văn học, số 6/2007); Tác giả Bùi Kim

Ánh với bài viết Đạo mẫu trong tiểu thuyết Mẫu Thượng Ngàn (http:nguvan.hue); Bài viết Sức quyến rũ của Mẫu Thượng Ngàn của tác giả

Vũ Hà (http://hoilhpn.org.vn); Bài viết Mẫu Thượng Ngàn và nội lực văn

chương của Nguyễn Xuân Khánh (trao đổi giữa Việt Báo với nhà nghiên cứu

phê bình Phạm Xuân Nguyên); Bài viết Nguyễn Xuân Khánh tuổi 74 và cuốn

tiểu thuyết mới (của tác giả Quỳnh Châu, http://vnca.cand.com.vn); Bài viết Nguyên lý tính mẫu trong truyền thống văn học Việt của Dương Thị Huyền

Trang 11

(http://vannghequandoi.com.vn); Bài viết Mẫu Thượng Ngàn cơ duyên của

Nguyễn Xuân Khánh của Hòa Bình (http://www.vtc.vn); Bài viết Nơi bắt đầu Mẫu Thượng Ngàn của Nguyễn Xuân Khánh (Báo Tiền Phong cuối tuần, số

11/2007); Bài viết Một cuốn tiểu thuyết hay về văn hóa Việt của nhà văn

Nguyên Ngọc (in trên Việt Báo)

Ngay sau khi xuất bản, tiểu thuyết Đội gạo lên chùa cũng thu hút mạnh

mẽ giới nghiên cứu và bạn đọc Tháng 6 năm 2011, Hội Nhà văn Hà Nội tổ

chức Tọa đàm khoa học “Nguyễn Xuân Khánh đội gạo lên chùa” [19] Nhiều

nhà phê bình cũng có những tham luận tập trung vào vệc tìm hiểu vấn đề Phật giáo trong đời sống văn hóa Việt Nam đã được kiến giải trong tác phẩm Nhà

nghiên cứu Nguyễn Văn Tùng khai thác Cảm hứng Phật giáo [56]; nhà

nghiên cứu Nguyễn Thị Minh Thái tìm hiểu đặc điểm đạo Phật Việt Nam ở

vấn đề Tùy duyên [53]; Phạm Xuân Thạch coi tiểu thuyết này là Một tiếng gọi

khẩn thiết của cái thiện [50]… Sự phân tích, đánh giá của các nhà nghiên cứu,

phê bình đã cho thấy sự đón nhận trân trọng dành cho bộ ba tiểu thuyết của Nguyễn Xuân Khánh

Ngoài những bài viết ở trên, còn một số khóa luận Cử nhân, luận văn Thạc sĩ đi vào tìm hiểu đặc điểm tiểu thuyết của Nguyễn Xuân Khánh thông qua một hoặc cả bộ ba tác phẩm Tuy nhiên, cho đến nay, vẫn chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu chuyên sâu về tư duy tự sự trong tiểu thuyết lịch sử , văn hóa của Nguyễn Xuân Khánh Đó là khoảng trống để chúng tôi

đi sâu nghiên cứu đề tài luận văn của mình Chúng tôi xem ý kiến của các nhà nghiên cứu đi trước là những gợi ý quan trọng để tập trung làm rõ tư duy tự

sự trong tiểu thuyết lịch sử - văn hóa của Nguyễn Xuân Khánh

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Trang 12

Lựa chọn đề tài Tư duy tự sự trong tiểu thuyết lịch sử, văn hóa của

Nguyễn Xuân Khánh, mục đích chúng tôi muốn khái quát những đặc điểm nổi

bật trong phong cách tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh, cả về phương diện nội dung và nghệ thuật Qua đó thấy được những đóng góp riêng của nhà văn ở một đề tài không mới như tiểu thuyết lịch sử

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Luận văn đặt ra nhiệm vụ tìm hiểu quan niệm của nhà văn Nguyễn Xuân Khánh về hai yếu tố lịch sử và tiểu thuyết, cùng với sự kết hợp giữa lịch

sử và văn hóa để từ đó thấy được ý nghĩa nhà văn gửi gắm trong cả ba cuốn tiểu thuyết của mình

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn tập trung làm rõ tư duy tự sự trong

bộ ba tiểu thuyết lịch sử, văn hóa Hồ Qúy Ly, Mẫu Thượng Ngàn và Đội gạo

lên chùa của Nguyễn Xuân Khánh Cụ thể là các phương diện đề tài, cảm

hứng, nhân vật và nghệ thuật trần thuật

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu chính là ba cuốn tiểu thuyết Hồ Qúy Ly (NXB Phụ

nữ, 2000), Mẫu Thượng Ngàn (NXB Phụ nữ, 2006) và Đội gạo lên chùa (NXB Phụ nữ, 2011) của Nguyễn Xuân Khánh Ngoài ra, để làm nổi bật

những nét mới về tư duy nghệ thuật của nhà văn, chúng tôi còn tiến hành so sánh với một số tiểu thuyết lịch sử khác

5 Phương pháp nghiên cứu

Thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng những phương pháp nghiên cứu sau: phương pháp loại hình, phương pháp khảo sát, thống kê, phương pháp liên ngành, phương pháp phân tích, tổng hợp

Trang 13

Ngoài ra, chúng tôi cũng vận dụng một số quan điểm của thi pháp học hiện đại vào việc phân tích tác phẩm để chỉ ra những đóng góp của Nguyễn Xuân Khánh qua bộ ba tiểu thuyết lịch sử - văn hóa

6 Đóng góp của luận văn

Luận văn là công trình đầu tiên đi sâu nghiên cứu về tư duy tự sự của Nguyễn Xuân Khánh để thấy được đóng góp của nhà văn đối với thể loại tiểu thuyết lịch sử - văn hóa Qua khảo sát, phân tích bộ ba trường thiên tiểu

thuyết Hồ Qúy Ly, Mẫu Thượng Ngàn, Đội gạo lên chùa, chúng tôi muốn

góp thêm một tiếng nói khẳng định tài năng của một nhà văn - một nhà văn hóa - một nhà lịch sử Nguyễn Xuân Khánh đối với văn đàn Việt Nam đương đại

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung luận văn được kết cấu gồm ba chương

- Chương 1: Giới thuyết về tư duy tự sự và tiểu thuyết lịch sử - văn hóa của Nguyễn Xuân Khánh

- Chương 2: Tư duy tự sự trong tiểu thuyết lịch sử - văn hóa của

Nguyễn Xuân Khánh - nhìn từ phương diện đề tài, cảm hứng, nhân vật

- Chương 3: Tư duy tự sự trong tiểu thuyết lịch sử - văn hóa của

Nguyễn Xuân Khánh - nhìn từ phương diện nghệ thuật trần thuật

Trang 14

CHƯƠNG 1 GIỚI THUYẾT VỀ TƯ DUY TỰ SỰ VÀ TIỂU THUYẾT LỊCH

SỬ - VĂN HÓA CỦA NGUYỄN XUÂN KHÁNH

1.1 Giới thuyết về tư duy tự sự

1.1.1 Khái niệm tư duy

Chúng ta đang sống ở thế kỉ XXI, “thế kỉ của vốn trí tuệ” Trong thời đại bùng nổ công nghệ thông tin, con người để thích nghi và tồn tại cần phải học rất nhiều thứ Vậy làm sao để con người có thể làm chủ được vốn kiến thức của bản thân và chiếm lĩnh tri thức nhân loại một cách tốt nhất? Điều ấy đòi hỏi mỗi cá nhân phải nỗ lực không ngừng trong việc rèn luyện và phát triển tư duy - nguồn gốc của mọi vấn đề

Tư duy là phạm trù triết học, chỉ những hoạt động tinh thần làm cho

con người có nhận thức và ứng xử đúng đắn Từ điển Bách khoa toàn thư Việt

Nam quan niệm: “Tư duy là sản phẩm cao nhất của vật chất được tổ chức một cách đặc biệt - bộ não con người Tư duy phản ánh tích cực hiện thực khách quan dưới dạng các khái niệm, sự phán đoán, lý luận” [41] Trong triết

học duy tâm, tư duy là sản phẩm của “ý niệm tuyệt đối" với tư cách là bản năng siêu tự nhiên, độc lập, không phụ thuộc vào vật chất Triết học duy vật biện chứng cho rằng, tư duy là một trong các đặc tính của vật chất phát triển

đến trình độ tổ chức cao Về lý thuyết, Karl Marx cho rằng: "Vận động kiểu tư

duy chỉ là sự vận động của hiện thực khách quan được di chuyển vào và được cải tạo/tái tạo trong đầu óc con người dưới dạng một sự phản ánh" [42]

Tư duy là sự phát triển cấp cao của nhận thức, là kết quả của nhận thức Xuất phát điểm của nhận thức là những cảm giác, tri giác và biểu tượng được phản ánh từ thực tiễn khách quan với những thông tin về hình dạng, hiện tượng bên ngoài được phản ánh một cách riêng lẻ Giai đoạn này được

Trang 15

gọi là tư duy cụ thể Ở giai đoạn sau, với sự hỗ trợ của ngôn ngữ, hoạt động tư duy tiến hành các thao tác so sánh, đối chiếu, phân tích, tổng hợp, khu biệt, quy nạp những thông tin đơn lẻ, gắn chúng vào mối liên hệ phổ biến, lọc bỏ những cái ngẫu nhiên, không căn bản của sự việc để tìm ra nội dung và bản chất của sự vật, hiện tượng, quy nạp nó thành những khái niệm, phạm trù, định luật Giai đoạn này được gọi là giai đoạn tư duy trừu tượng

Có thể thấy, tư duy là sản phẩm của một cơ quan vật chất sống có tổ chức cao là bộ óc con người; được hình thành trong quá trình hoạt động thực tiễn của con người Hiện thực khách quan là đối tượng của tư duy và quyết định hoạt động tư duy của con người Do vậy, con người tác động đến thế giới hiện thực như thế nào thì sẽ có những hình thức nhận thức như thế đó Giữa

tư duy và sự phát triển của hoạt động thực tiễn con người có sự gắn bó chặt chẽ và liên hệ biện chứng với nhau Muốn có tư duy phải có hoạt động thực tiễn Ngược lại, muốn hoạt động thực tiễn đạt hiệu quả cao thì phải có tư duy Khi chỉ ra sự phát triển của tư duy phụ thuộc vào sự phát triển của thực tiễn,

Ph.Ăngghen đã khẳng định: "Từ trước đến nay, khoa học tự nhiên cũng như

triết học đã hoàn toàn coi thường ảnh hưởng của hoạt động con người đối với

tư duy của họ Hai môn ấy một mặt chỉ biết có tự nhiên, mặt khác, chỉ biết có

tư tưởng Nhưng chính việc người ta biến đổi tự nhiên, chứ không phải chỉ một mình giới tự nhiên, với tính cách giới tự nhiên, là cơ sở chủ yếu nhất và trực tiếp nhất của tư duy con người, và trí tuệ con người đã phát triển song song với việc người ta đã học cải biến tự nhiên" [42]

Tư duy là trình độ cao của quá trình nhận thức, là sự phản ánh khái quát, gián tiếp, tích cực và sáng tạo về thế giới Ở giai đoạn nhận thức bằng tư duy, sự vật được phản ánh một cách gián tiếp và khái quát trong các khái niệm, phán đoán và suy lý Xét về bản tính, tư duy là một quá trình sáng tạo Nói đến tính sáng tạo của tư duy là nói đến sự hình thành tri thức mới về các

Trang 16

mối liên hệ và quan hệ, về tính quy luật khách quan chi phối sự phát triển của các sự kiện và quá trình lịch sử, về bản chất của các khách thể vi mô, cũng như về diễn biến của hiện thực Trên con đường nhận thức chân lý, chủ thể tư duy không chỉ biết đặt ra các vấn đề mới, mà còn giải quyết chúng bằng những phương pháp thích hợp Đồng thời, đó cũng là quá trình chủ thể tư duy huy động một cách sáng tạo vốn tri thức phong phú đã có, bao gồm cả kinh nghiệm sống, kinh nghiệm nghề nghiệp; huy động không chỉ tri thức lý luận chung, mà cả sự am hiểu cần thiết, cụ thể về những lĩnh vực "có vấn đề" Thiếu vốn tri thức phong phú của cuộc sống sẽ không có tư duy sáng tạo Ngoài ra, trong sự sáng tạo của tư duy ở trình độ lý luận khoa học cao còn

có sự tham gia tích cực của tưởng tượng và trực giác Các tư tưởng, quan niệm, lý thuyết khoa học do tư duy sáng tạo ra cũng như bản thân tư duy có

sự biến đổi, phát triển là do thực tiễn lịch sử - xã hội quyết định Điều này không loại bỏ tính độc lập tương đối của tư duy Tư duy có lôgíc phát triển nội tại riêng, chịu sự chi phối của các quy luật (quy tắc, nguyên tắc) riêng

Từ điển triết học khẳng định: " Tư duy xuất hiện trong quá trình hoạt

động sản xuất xã hội của con người và đảm bảo phản ánh thực tại một cách gián tiếp, phát hiện những mối liên hệ hợp quy luật thực tại" [42] Tư duy

giúp chúng ta nhận thức các sự vật, hiện tượng trong một chỉnh thể thống nhất chứ không phải là sự hiểu biết riêng lẻ, tách rời của các yếu tố, các bộ phận của sự vật, hiện tượng Tư duy trừu tượng là quá trình phản ánh thế giới một cách gián tiếp, khái quát nhờ ngôn ngữ Ở đây, các từ, cụm từ hay ngôn ngữ nói chung, trong khi là hiện thực trực tiếp của tư tưởng, diễn đạt các khái niệm, phán đoán, suy lý, quy luật, lý thuyết, đã có tính chất khái quát và bao hàm cái chung Do vậy, ngôn ngữ càng phát triển, vốn từ vựng càng phong phú thì tư duy gắn liền với nó càng linh hoạt, mềm dẻo, phản ánh càng sâu sắc, chính xác và đầy đủ các mối liên hệ đa dạng, phức tạp của thế giới

Trang 17

Bản chất nhận thức của văn học đã được biết đến từ lâu Nói đến văn học là người ta không quên nói tới các chức năng nhận thức, giáo dục, thẩm

mĩ Lý luận văn học ngày nay đã đặt đúng vị trí thẩm mĩ lên hàng đầu, song cái bản chất nhận thức của văn học vẫn là điều khẳng định Hình tượng văn học với tư cách sản phẩm nhận thức nghệ thuật, là sự thống nhất sinh động giữa cái chung với cái riêng, cái cá biệt Vì vậy, khi nghiên cứu bản chất nhận thức của văn học, nhất thiết đòi hỏi phải chỉ ra đối tượng đặc thù của văn học, phải giải thích cái lô gích vì sao nhận thức trong văn học lại cho phép nhà văn

hư cấu và gắn liền với lí tưởng thẩm mĩ về cuộc sống cũng như tình cảm chủ quan của chủ thể nhận thức và sáng tạo, những điều mà nhận thức khoa học nói chung không chấp nhận Vậy để hiểu được những gì nhà văn muốn nói, không cách nào khác là người đọc phải tìm ra tư duy của nhà văn, tìm ra những ẩn ý đằng sau lớp vỏ bọc ngôn từ của tác phẩm

1.1.2 Khái niệm tư duy tự sự

Phạm vi của tác phẩm tự sự hết sức rộng lớn và có thể được phân loại ở nhiều góc độ khác nhau Dựa vào hình thức lời văn, có thể nói tới các thể loại

cơ bản như anh hùng ca (sử thi), truyện thơ, trường ca (văn vần), tiểu thuyết, truyện vừa, truyện ngắn (văn xuôi), ngụ ngôn (thường dùng cả hai hình thức văn vần và văn xuôi) Dựa vào nội dung thể loại, có thể phân thành các tác phẩm có chủ đề dân tộc, thế sự, đạo đức, đời tư Trong luận văn này, chúng tôi đề cập đến tư duy của thể loại tiêu biểu nhất trong loại tác phẩm tự sự đó

là tư duy tiểu thuyết

Tư duy tiểu thuyết, trước hết là khái niệm dùng trong văn học, dùng trong phạm vi thể loại tiểu thuyết Chính vì sự đặc hữu này mà ta thường thấy xuất hiện kiểu gọi tên: truyện ngắn mang chất tiểu thuyết hay truyện ngắn mang tư duy tiểu thuyết Khái niệm này dùng trong tiểu thuyết chủ yếu tập trung ở tính chất: sự dài hơi Khái niệm tư duy tiểu thuyết không chỉ dùng ở

Trang 18

phạm vi tiểu thuyết với tư cách là thể loại đã sản sinh ra khái niệm (nghĩa hẹp) mà còn được hiểu là hệ hình (paradigme, cách hiểu và vận dụng của Trần Đình Sử) tư duy (theo nghĩa rộng) Theo sự xác định của Milan Kundera, khái niệm này ra đời trong thời hiện đại và nói đến tư duy tiểu thuyết là nói đến tâm thế trước hiện thực hiện hữu, nó là cái nhìn xóa bỏ khoảng cách (không chỉ hiểu ở nghĩa vật chất là khoảng không gian) giữa chủ thể và đối tượng Nói một cách dễ hiểu, nếu tư duy sử thi biểu hiện một khoảng cách lí tưởng giữa chủ thể và đối tượng mà theo M, Bakhtin là

“khoảng cách sử thi” [4], biểu hiện tâm thế của kẻ con cháu trước ông, cha,

đấng bậc thì tư duy tiểu thuyết thay thế nó bằng cái nhìn bình đẳng, nhiều chiều từ đó đem đến một cách tư duy hoàn toàn mới mẻ

Tư duy tiểu thuyết có nguồn gốc từ triết học đời sống, nghĩa là khi có nhận thức về con người, về cuộc sống Những biến động của cuộc đời, của ngoại giới, nhất là những biến động trong lòng người, điển hình cho điều đó

là những biến thái đang diễn ra trong kiếp hiện sinh là những việc con người không thể lường trước được Tư duy tiểu thuyết là phản ánh cái đang diễn ra, cái hiện thực chưa hoàn thành Nó nhìn nhận sự vật, con người cũng tương đối với vô vàn giá trị, khoảnh khắc, do đó tư duy tiểu thuyết đưa đến sự giác ngộ về cá nhân, thức tỉnh ý thức bình đẳng và dân chủ; tư duy tiểu thuyết không khẳng định khoảng cách giữa chủ thể và sự vật, thừa nhận giá trị được nhìn thấy là giá trị tương đối, có góp phần của màu sắc cá nhân, của sự cảm thụ cá nhân Điều này đã dẫn đến hệ quả là sự phong phú của tính cách mà phản ánh rõ nét nhất là trong văn chương: nhiều cách viết của nhiều người, có thể viết về một đối tượng nhưng ở mỗi cây bút là mỗi sự khám phá khác biệt, không trùng lặp

Đặc điểm về tư duy tiểu thuyết là sự trần thuật không khoảng cách, nói khác đi là sự trần thuật ở điểm nhìn hiện tại, ở cái chưa hoàn thành Giọng

Trang 19

điệu và ngôn ngữ có sự đan xen, sự dịch chuyển không có quy tắc, là chất giọng của ngôn ngữ đời thường vốn sinh động và giàu sắc thái Sự bất định,

dự cảm của tác giả về cuộc đời (theo Milan Kundera là sự hiển minh của

lưỡng lự), của cái tôi thử nghiệm của tác giả trong hành trình tác phẩm; có thể

bắt gặp trong tác phẩm những bất trắc, những sự không đoán lường, những chân thật của cõi lòng kiếp hiện sinh Với việc khẳng định tính đa chân lý, xóa bỏ khoảng cách, khẳng định cá nhân như đã nói trên, tư duy tiểu thuyết đã làm cho văn học mở rộng đề tài, chủ đề, tránh được sự nhàm chán đơn điệu, tác phẩm trở nên phong phú

1.1.3 Những phương diện cơ bản của tư duy tự sự

Nhìn vào tiến trình của văn xuôi Việt Nam hiện đại, chúng ta có thể nhận thấy tính phong phú, phức tạp của thi pháp tự sự, của nghệ thuật tự sự trong tất cả các thể loại của nó: vừa như là định hình vừa như là luôn vận động biến đổi Đặc biệt là thể loại tiểu thuyết, với sự luân chuyển của các ngôi kể cùng sự đan xen của các điểm nhìn; với sự phong phú, đa dạng các giọng điệu trần thuật cùng sự pha trộn, chuyển đổi bất ngờ các loại lời người trần thuật đã tạo nên sự mới mẻ về cấu trúc thể loại của tiểu thuyết

Một vấn đề đặt ra đối với văn học nước ta từ sau 1975 nhu cầu đổi mới cách nghĩ, cách viết, đổi mới để tồn tại và phát triển là một vấn đề có thật và cấp thiết Khi cuộc kháng chiến chống Mĩ kết thúc, trở về với quỹ đạo cuộc sống thời bình, văn xuôi dường như vẫn theo dòng chảy cũ khiến công chúng bạn đọc tỏ ra hờ hững, sự nỗ lực của nhà văn không mấy hiệu quả, văn học dường như dậm chân tại chỗ Đại hội Đảng lần thứ VI đã thật sự đem lại niềm tin, sức mạnh cho toàn dân, làm điểm tựa để văn học chuyển mình mạnh mẽ

và mới mẻ Đảng nhận định phải đổi mới, trước hết là đổi mới tư duy, đổi mới cách nghĩ, cách làm Sự giao lưu rộng rãi với các nước phương Tây là một

Trang 20

thuận lợi để văn nghệ sĩ tìm tòi sáng tạo trong sáng tác của mình Những phương diện của tư duy cũng vì thế có sự thay đổi đáng kể

Từ đầu thập kỉ 80, văn xuôi nước ta chuyển sang cảm hứng thế sự, đời

tư (trên thực tế những tác phẩm viết viết theo cảm hứng sử thi vẫn còn nhưng khá mờ nhạt và không gây được tiếng vang lớn) Cảm hứng thế sự mang lại cho văn xuôi nhiều chất tiểu thuyết hơn, trước hết ở khả năng chiếm lĩnh con người ở góc độ đời tư Nếu cảm hứng sử thi quy chiếu mọi vấn đề đời sống về hiện thực lịch sử thì cảm hứng thế sự tìm đến hiện thực con người, quy chiếu

về số phận con người với những quan hệ xung quanh sự tồn tại của nó Với cái nhìn thế sự, đời sống của cá nhân, kinh nghiệm cá nhân mới được coi là đối tượng khám phá chủ yếu, bởi mỗi cá nhân là một thế giới riêng tư, độc đáo, cá biệt Theo M Bakhtin, cá nhân tự phân biệt mình không phải bằng “vị trí” và “số phận” khác nhau mà bằng những “chân lí” và “lẽ phải” khác nhau [4] Niềm tin riêng của con người quy định mọi mặt của nó, cái nhìn sử thi không bao quát được điều này

Phương diện thứ hai của tư duy tự sự là cơ cấu đề tài cũng có sự biến đổi Trước 1975, đề tài về gia đình, tình yêu, hạnh phúc, số phận cá nhân không nhiều, dù có thì hướng xử lí hiện thực ở những tác phẩm này vẫn bị chi phối bởi tiêu chí cộng đồng Sau 1975, cuộc sống thời bình với nhu cầu cân bằng lại trạng thái của con người sau chiến tranh nên sự quan tâm của cả bạn đọc và nhà văn dịch chuyển nhiều hơn sang mảng đề tài đời tư Nhà nghiên

cứu Nguyễn Thị Bình nhận xét: “Chưa bao giờ trong văn học nước ta, gương

mặt của hạnh phúc và tình yêu muôn vẻ được biểu hiện phong phú đến thế và những bi kịch do tình yêu cũng chưa bao giờ được đề cập nhiều đến thế, riết róng đến thế” [5] Có được điều đó là kết quả của việc các nhà văn không còn

bị chi phối bởi “chủ nghĩa đề tài” nữa Giờ đây văn chương lấy con người làm tâm điểm để quy chiếu, vì thế mọi yếu tố khác đều phục tùng yêu cầu khám

Trang 21

phá chính con người Ngay cả khi viết về đề tài người lính, các nhà văn cũng chịu ảnh hưởng bởi quan niệm này Là những nhân vật anh hùng, hình ảnh người lính là đại diện xứng đáng của chính nghĩa cộng đồng sẽ toát lên vẻ đẹp cao cả trong cảm hứng sử thi Nhưng khi soi ngắm họ từ cảm hứng thế sự đời

tư đã làm họ trở nên phức tạp, chân thật và sinh động hơn

Sự thay đổi cảm hứng cũng kéo theo sự thay đổi về không gian và thời gian nghệ thuật Kiểu không gian lịch sử rộng lớn, nơi diễn ra các sinh hoạt cộng đồng của những năm 1945 - 1975 được thay thế bằng không gian sinh hoạt đời thường, không gian mang tính chất riêng tư Đó là khoảng không gian xác thực bắt buộc con người luôn phải bộc lộ đến tận cùng bản chất của mình, không có cơ hội lảnh tránh trách nhiệm cá nhân Không gian ấy tham gia vào cuộc đời mỗi người, gắn liền với những buồn vui, với cảm quan đời sống của con người Một không gian xuất hiện nhiều trong văn học giai đoạn này là không gian của tâm linh, tuy nhiên điều đáng chú ý là thần thánh không còn mang trên mình quyền uy của đấng bề trên nữa mà các nhà văn đã kéo họ gần với cõi người, đặt mọi giá trị vào hệ quy chiếu nhân bản nhằm giải quyết mối quan hệ giữa tính cách và hoàn cảnh Nhà văn như tạo ra bầu không gian

ảo giác, hoang tưởng của tâm linh, của cảm thức tôn giáo, khiến người đọc được đánh thức khi tiếp xúc với không gian của niềm tin bí ẩn này

Cũng như sự thay đổi của không gian, thời gian cũng có sự biến đổi rõ rệt Không còn là thời gian của trật tự tuyến tính mà thay vào đó là thời gian phụ thuộc vào sự trải nghiệm của cá nhân và bị chi phối bởi trạng thái tâm lí tình cảm của cá nhân Thời gian mang cảm quan lịch sử vẫn tồn tại nhưng nó được nhìn qua kinh nghiệm cá nhân nên các mốc thời gian thường không còn nguyên ý nghĩa khách quan Cũng do thiên hướng nắm bắt chiều sâu tâm lí con người nên nhiều tác phẩm giới hạn thời gian sự kiện rất ngắn nhưng thời gian hồi tưởng có thể mở hết biên độ Chính vì thế, quá khứ đồng hiện cùng

Trang 22

thực tại và tương lai, các lớp thời gian chồng lên nhau, có khi nhòe mờ, có khi đứt nối lộn xộn đã phá vỡ cấu trúc truyện truyền thống, đưa kiểu cốt truyện tâm lí lên hàng đầu, đẩy cốt truyện sự kiện xuống hàng thứ yếu, cho phép văn xuôi dung nạp những kĩ thuật “lồng ghép”, “cắt dán” của điện ảnh Cùng với yếu tố không gian, thời gian nghệ thuật giữ vai trò không thể thiếu trong việc bộc lộ đời sống riêng tư của con người

Nhân vật văn học là sự thể hiện quan niệm nghệ thuật của nhà văn về con người Tiểu thuyết ngoài khả năng tái hiện bức tranh toàn cảnh của đời sống xã hội còn có khả năng đi sâu khám phá số phận con người Nhân vật văn xuôi sau 1975 là những con người nhiều trải nghiệm, nội tâm chứa những giằng xé bi kịch, ít thiên về hành động bên ngoài Cuộc đấu tranh nội tâm, những động cơ thúc đẩy dẫn đến nhu cầu tự thú, sám hối Kiểu nhân vật này đặt ra nhiều vấn đề xung quanh khát vọng tự hoàn thiện nhân cách, khả năng

tự vấn, tự nghiệm khiến cho câu truyện trở nên phức tạp đầy tính bất ngờ Cũng chính những nhân vật này cho thấy một đặc điểm thi pháp mới đó là sự coi trọng “vấn đề”, coi trọng “tư tưởng” hơn tính cách, nhân vật vì thế, trở thành phương tiện để nhà văn chuyển tải quan niệm của mình về cuộc sống

Việc xử lí chất liệu hiện thực cũng không đơn thuần chỉ là vấn đề thời

sự - chính trị như trước Nhà văn đã quan tâm nhiều hơn đến những vấn đề tư tưởng mà trọng tâm khám phá là chiều sâu tâm hồn con người, là các vấn đề

tư tưởng, đạo đức, nhân sinh trong cuộc sống thường nhật hàng ngày Sự chủ động về tư tưởng làm nảy sinh khả năng đối thoại khiến cho tư tưởng triết luận phát triển, nhu cầu triết luận cũng phổ biến, tỉ lệ các tác phẩm luận đề cũng vì thế tăng lên Chính những tác phẩm đó nổi lên giọng trần thuật hướng nội, giọng chiêm nghiệm, tự thú Không khó để nhận thấy văn học giai đoạn trước né tránh “cái bi” vì cảm hứng sử thi và định hướng động viên, cổ vũ Nhưng khi văn học lấy con người cá nhân làm trung tâm, hệ giá trị nhân bản

Trang 23

được xác lập thì “cái bi” mới thực sự có chỗ đứng Những biến đổi tích cực của đời sống vẫn mang trong mình những cái bi, và số phận cá nhân đâu phải lúc nào cũng trùng khít với số phận cộng đồng Trong mạch cảm hứng về cái

bi là những sắc thái muôn vẻ của nỗi buồn nhân thế, là sự cảm nhận về cái hữu hạn, bé nhỏ của kiếp người Nói đến cái bi nhưng các nhà văn không chỉ cắt nghĩa nguyên nhân, truy tìm trách nhiệm mà còn để bảo vệ và nuôi dưỡng nhân tính Thông qua phương diện này, tác phẩm tự sự xuất hiện giọng trầm lắng xót xa, thông qua “cái bi” người đọc điều chỉnh lại cách sống, định hướng lại cuộc đời, đó là một khả năng kì diệu của văn học

Trong công cuộc đổi mới ý thức cá nhân được giải phóng, giá trị cá nhân được đề cao, xuất hiện những mâu thuẫn giữa cá nhân và cộng đồng Chính hướng tiếp cận đời sống từ góc độ đạo đức - thế sự đã làm lộ ra những mặt trái của đời sống và con người từ đó tạo điều kiện cho tiếng cười và nó trở thành một dấu hiệu biến đổi quan trọng của văn xuôi giai đoạn này, nó mang đậm sắc thái dân chủ hóa, chi phối cả giọng điệu văn chương, tạo ra những giá trị nhân văn mới Đồng thời tiếng cuời cũng là cũng là một phương diện thể hiện tính tích cực xã hội của văn học khi nó gắn với sức mạnh phê phán Một bằng chứng của dân chủ hóa đó là khuynh hướng trần thuật qua nhiều điểm nhìn Mỗi điểm nhìn mang dấu ấn cá nhân, văn xuôi sẽ trở nên phong phú, đa tầng hơn Chủ đề tác phẩm và tư tưởng tác giả không lộ diện, khó nắm bắt đòi hỏi người đọc khi tiếp cận phải suy nghĩ nhiều hơn, câu chuyện sẽ dừng lại ở lối kết thúc bỏ ngỏ linh động gây hứng thú đối thoại sau khi nó kết thúc Sự thay đổi điểm nhìn trần thuật tạo ra nhiều cơ hội cho nhà văn đổi mới cốt truyện, chú trọng hơn đến cấu trúc tác phẩm

Được coi là cái vỏ của tư duy - ngôn ngữ văn học cũng vận động không ngừng theo sự thay đổi của đời sống và chính sự phát triển của ngôn ngữ thời đại cũng góp phần chi phối tư duy văn học Ngôn ngữ nghệ thuật bớt đi nhiều

Trang 24

vẻ trang trọng du dương mà thay vào đó là thứ ngôn ngữ khẩu ngữ, suồng sã trong giọng điệu góc cạnh trong từ ngữ, văn xuôi thời kì này đặt mình đối lập với thơ ca bởi nhu cầu diễn đạt cá tính, nhu cầu thông tin trong điều kiện ý thức cá nhân được khơi dậy mạnh mẽ Chưa bao giờ trong văn chương lại có nhiều những câu chửi thề với lối nói trần tục, bụi bặm, dân dã đến thế Bên cạnh những nhà văn nam như Nguyễn Huy Thiệp, Tạ Duy Anh, Ma Văn Kháng còn có những nhà văn nữ cũng mạnh dạn thể nghiệm thứ ngôn ngữ

xô bồ của đời sống vào văn chương Ở thời đại bùng nổ thông tin nhu cầu tăng cường tốc độ và lượng thông tin là một nhu cầu chính đáng Tính tốc độ thể hiện ở lối truyện nhanh, mạch truyện dồn dập, lối liệt kê giản lược sự bình luận, đánh giá, kĩ thuật lồng ghép, cắt dán của điện ảnh được sử dụng rộng rãi

vì thế dù mạch văn đi chậm nhưng sức nén của thông tin rất lớn Sự xuất hiện loại truyện mini, cực ngắn được chào đón vì nó phù hợp với lượng thời gian không nhiều của độc giả

Đã có không ít những tranh cãi xung quanh việc thay đổi của văn học nói chung và tư duy của thể loại tự sự nói riêng trong văn học giai đoạn sau

1975, có ý kiến đánh giá lạc quan, tuy nhiên bên cạnh đó cũng còn nhiều ý kiến phản ứng gay gắt, phẫn nộ Nhưng chúng ta không thể phủ nhận chính sự thay đổi đã giúp cho văn học mang được nhiều hơi thở của cuộc sống Trong luận văn này, chúng tôi đi sâu tìm hiểu về đề tài, cảm hứng, nhân vật và những phương diện nghệ thuật: điểm nhìn, ngôn ngữ và giọng điệu trong ba cuốn tiểu thuyết của Nguyễn Xuân Khánh để thấy được những cách tân, sáng tạo của nhà văn về tư duy tự sự

1.2 Giới thuyết về tiểu thuyết lịch sử

1.2.1 Khái niệm tiểu thuyết lịch sử

Tiểu thuyết lịch sử là thể loại viết về đề tài lịch sử, trong đó có nhân vật, sự kiện, thời kì hay tiến trình lịch sử Bởi vậy, nó có sự khác biệt cơ bản

Trang 25

với các thể loại tiểu thuyết khác như tiểu thuyết kiếm hiệp, tiểu thuyết trinh thám, tiểu thuyết phong tục ở cách thức nhà văn tiếp cận đề tài cũng như đối tượng được miêu tả

Một yếu tố tạo nên sự khác biệt giữa người viết tiểu thuyết lịch sử với người viết tiểu thuyết thông thường chính là đối tượng lịch sử, nên yêu cầu nhà văn vừa phải có kiến thức uyên bác, tỉ mỉ như một nhà sử học, vừa có khả năng biến những kiến thức lịch sử khô khan trở thành một tác phẩm nghệ thuật Có thể thấy, chất liệu làm nên tác phẩm của nhà tiểu thuyết lịch sử phải đảm bảo yếu tố chuẩn mực về thời gian, sự kiện, tập quán vì người đọc hoàn toàn có thể kiểm chứng tính đúng đắn đó Những hư cấu của nhà văn phải nằm trong “vùng an toàn” và đảm bảo sự kiện hay nhân vật lịch sử được nhắc đến không bị sai lệch, nhưng đồng thời vẫn phải tạo ra yếu tố hấp dẫn cho tác phẩm của mình Bên cạnh những nhân vật có thật trong lịch sử, nhà văn còn sáng tạo nên những nhân vật hư cấu Bằng tài năng của mình họ sẽ gắn kết hai đối tượng nhân vật này, thậm chí có thể dành sự chăm chút, miêu tả nhiều hơn

về phía nhân vật hư cấu

Vấn đề quan trọng làm rõ khái niệm tiểu thuyết lịch sử là phải phân biệt được đâu là nhà văn và đâu là nhà sử học Mối quan tâm chính của họ là lịch

sử nhưng mỗi người lại có mục đích riêng, và mối quan tâm là không giống nhau Nếu nhà sử học có mục đích chính là khám phá sự thật lịch sử, thì nhà tiểu thuyết lịch sử lại thông qua việc tái hiện lịch sử rút ra những quan niệm

và suy ngẫm về cuộc sống và con người Tôn trọng sự chân thực lịch sử nên nhà sử học quan tâm đến tính chỉnh thể của lịch sử và tính chính xác đến từng chi tiết, còn nhà tiểu thuyết ít bị ràng buộc hơn, ông ta có thể quan tâm đến một khoảnh khắc nào đó trong lịch sử, không bị lệ thuộc vào chi tiết, và sự hư cấu sáng tạo là không thể thiểu Cách miêu tả lịch sử và nhân vật lịch sử của nhà văn cũng khác với nhà sử học Sử gia giới thiệu nhân vật như những danh

Trang 26

nhân anh hùng trong các biến cố, sự kiện lịch sử, còn nhà văn miêu tả nhân vật lịch sử như con người trong tính nhất quán, trong mối quan hệ phức tạp của nó với các mặt đời sống

Khi tìm hiểu về sự hư cấu trong tiểu thuyết lịch sử, các nhà nghiên cứu vừa chú ý đến các yếu tố của tiểu thuyết vừa quan tâm tới sự thật lịch sử trong tiểu thuyết để suy ngẫm chiêm nghiệm Một điều dễ nhận thấy là tiểu thuyết lịch sử thiên về góc độ đời tư của nhân vật Cái nhìn từ góc độ đời tư trong tiểu thuyết lịch sử là nhu cầu phản ánh số phận để qua đó đưa ra cách đánh giá các vấn đề thời đại Nhân vật tiểu thuyết là con người cá nhân, con người

đó sẽ tham gia vào các biến cố lịch sử theo sự sáng tạo của nhà văn, sự sáng tạo và hư cấu đó là không có giới hạn Đó là điều thu hút các nhà tiểu thuyết cũng là sức mạnh của tiểu thuyết lịch sử so với sách lịch sử

Viết tiểu thuyết lịch sử nhưng nhà văn thường không coi việc phản ánh lịch sử là mục đích chính mà qua các yếu tố lịch sử đó nêu lên những vấn đề

có ý nghĩa đối với con người, đối với hiện tại Biêlinxki, nhà nghiên cứu văn

học nước Nga khẳng định: “chúng ta hỏi và chúng ta chất vấn những cái đã

qua để chúng ta giải thích cho hiện tại và chỉ ra tương lai của chúng ta” [8]

Ở quan niệm này, ông đã nhấn mạnh đến mối quan hệ giữa quá khứ với hiện tại trong tiểu thuyết lịch sử

Có những thể loại gần gũi với tiểu thuyết lịch sử như truyện kí lịch sử, truyện dã sử Điểm giống nhau giữa chúng là đều có những yếu tố lịch sử trong tác phẩm Tuy nhiên, ở truyện dã sử nhà văn dựa vào một vài chi tiết lịch sử và hầu như sử dụng những hư cấu, những điều lưu truyền trong dân gian để tạo thành cốt truyện của mình Nhân vật chính trong truyện dã sử cũng là nhân vật hư cấu, truyện thường mang sắc thái kiếm hiệp ly kỳ nhằm tạo sự hấp dẫn Truyện ký lịch sử ngoài yêu cầu phải đảm bảo về tính chính xác lịch sử thì gần như nó loại trừ yếu tố hư cấu

Trang 27

Nhìn chung, tiểu thuyết lịch sử ngày càng có những đổi mới về nghệ thuật, về tư duy tự sự… khiến thể loại thực sự có sức hấp dẫn đối với công chúng

1.2.2 Đặc trưng thể loại

Là một thể loại có tính đặc thù, tiểu thuyết lịch sử có những quy luật sáng tạo riêng so với các thể loại khác Như trên đã trình bày, tiểu thuyết lịch

sử yêu cầu nhà văn viết về đề tài lịch sử trong quá khứ; nguồn dữ liệu từ lịch

sử và đảm bảo được màu sắc lịch sử; nhà văn được quyền hư cấu như một không gian mở của tiểu thuyết, tuy nhiên nhà văn nói chuyện xưa nhưng nhằm mục đích soi chiếu vào hiện tại để làm rõ vấn đề Nói một cách khác, tiểu thuyết lịch sử đòi hỏi rất cao ở người viết: phải xử lí được mối quan hệ giữa sự thực lịch sử và hư cấu, tưởng tượng Thông thường, nhà văn có thể tự

do trong lựa chọn nhân vật, chi tiết, sự kiện lịch sử nhưng ngược lại, cũng bị chính những yếu tố đó quy định Khi viết về một thời đại lịch sử hoặc một nhân vật lịch sử, đối với nhà văn bên cạnh tài năng còn là vấn đề cái nhìn, cách nhìn, đòi hỏi nhà văn không đơn thuần chỉ có vốn sống mà còn là vốn hiểu biết về lịch sử, phong tục tập quán, địa lí, ngôn ngữ, văn hóa để có thể đưa những chi tiết của lịch sử vào tác phẩm “chân thật hơn lịch sử” Tiểu thuyết lịch sử ưu tiên khẳng định tính chất hư cấu của cốt truyện nhưng tạo cho nó cái vẻ giống như thật bởi kết cấu và những hành động Bảo đảm cho độc giả rằng mọi sự đều có thể diễn ra như vậy, tiểu thuyết lịch sử còn giúp

họ hiểu tốt hơn những nguyên nhân và hậu quả của những sự kiện đã qua

Vấn đề tiếp nhận của người đọc cũng ảnh hưởng lớn đến tiểu thuyết lịch sử Tác phẩm văn học nói chung, tiểu thuyết lịch sử nói riêng chỉ trở thành một tác phẩm thực sự khi nó được tiếp nhận Nhà văn cố gắng tạo cho mình một lượng công chúng ủng hộ, nhưng họ cũng bị chính công chúng chi phối lại Ở thời kì đổi mới, cuộc sống con người không đơn giản chỉ là ăn no

Trang 28

mặc lành nữa, mà những nhu cầu về giải trí đối với công chúng không ngừng đòi hỏi được nâng cao, trong đó nhu cầu giải trí bằng văn học cũng đòi hỏi phong phú hơn, mới mẻ hơn Cần thấy rằng, sự thật trong văn học tuy thống nhất với sự thật ngoài đời nhưng rõ ràng chúng chưa bao giờ là một Sự đồng nhất giữa hai loại sự thật này, dù chỉ là vô tình cũng làm phương hại đến sự lung linh đa nghĩa của nghệ thuật Chỉ khi hai yếu tố thông tin sự thật và thông tin thẩm mĩ kết hợp hài hòa thì tác phẩm mới có cơ hội tồn tại lâu dài

Vì vậy đọc văn phải khác đọc sử Những tác phẩm văn học viết về lịch sử dù nổi tiếng đến mấy cũng không thay thế được các bộ chính sử, thông sử Mặt khác, không thể phủ nhận ý nghĩa nhận thức lịch sử của các sáng tác nghệ thuật có giá trị Một người đọc “đích thực” sẽ không được nhầm lẫn giữa tác phẩm văn học viết về lịch sử với những công trình khoa học lịch sử

1.2.3 Tiểu thuyết lịch sử trong đời sống tiểu thuyết Việt Nam đương đại

Tiểu thuyết Việt Nam đương đại là chặng đường chưa dài so với tiến trình vận động của thể loại hơn hai thế kỉ qua, nhưng cũng để lại những dấu

ấn đáng chú ý trong đời sống văn học Với tinh thần đổi mới, văn học đương đại có sự thay đổi lớn lao về tư duy nghệ thuật Là loại hình tự sự có nhiều ưu thế, đáp ứng nhanh nhạy những yêu cầu đổi mới, từ năm 1986 đến nay tiểu thuyết nhanh chóng chiếm giữ vai trò quan trọng trong đời sống văn xuôi Chỉ trong vòng mười năm đầu thế kỉ XXI, người đọc dễ dàng quan sát và khắc nhớ hàng loạt cái tên, những người viết tiểu thuyết như Võ Thị Hảo với

Giàn thiêu; Hồ Anh Thái với Cõi người rung chuông tận thế, Đức

P hật, nàng Savitri và tôi, Mười lẻ một đêm, SBC là săn bắt chuột, Dấu về gió xóa Rồi Cơ hội của chúa, Khải huyền muộn của Nguyễn Việt Hà; Thoạt

kì thủy, Ngồi của Nguyễn Bình Phương; Chuyện của thiên tài của Nguyễn Thế

Hoàng Linh; China Town, Paris 11 tháng 8 của Thuận; Và khi tro bụi, Mưa ở

Trang 29

kiếp sau của Đoàn Minh Phượng; Nháp, Phiên bản, Kín của Nguyễn Đình Tú; Nhiều cách sống, Mất kí ức của Nguyễn Quỳnh Trang…

Thời gian gần đây, công chúng yêu văn học chứng kiến sự nở rộ của các tiểu thuyết viết về đề tài lịch sử Có thể kể một số cuốn tiểu thuyết lịch sử

tiêu biểu như: Người đẹp ngậm oan, Gươm thần Vạn Kiếp của Ngô Văn Phú;

Bão táp cung đình, Thăng Long nổi giận, Vương triều sụp đổ của Hoàng

Quốc Hải; Vua đen của Hoàng Công Khanh; Sông Côn mùa lũ của Nguyễn Mộng Giác; Hồ Qúy Ly, Mẫu Thượng Ngàn, Đội gạo lên chùa của Nguyễn Xuân Khánh; Giàn thiêu của Võ Thị Hảo; Minh sư của Thái Bá Lợi; Hội thề của Nguyễn Quang Thân; Thông reo Ngàn Hống của Nguyễn Thế Quang

Đề tài lịch sử đã tạo nên tiếng vang nhất định cho một số cây bút tiểu thuyết đương đại, đem lại nhiều đóng góp vào quá trình phát triển thể loại, đặc biệt trong khoảng chục năm trở lại đây Người viết tiểu thuyết lịch sử hôm nay đã vượt qua cái khó của chính mình khi cố gắng thoát khỏi “định mệnh thuyết”, sáng tạo lịch sử từ nhân vật như một con người của tiểu thuyết, xóa nhòa những định kiến đã biết trước về nhân vật Số lượng tác phẩm cho thấy ưu thế của tiểu thuyết lịch sử chặng này là sự đa dạng trong phong cách

cá nhân Nguyên nhân chính dẫn đến hiện tượng này là do tính chất dân chủ hóa đã khai phóng cho cá tính sáng tạo và kinh nghiệm cá nhân của nhà văn Những quan niệm quen thuộc trong văn học trước đây bị phá vỡ hoặc được

bổ sung Có nhiều cuốn tiểu thuyết lịch sử trở về với khuynh hướng sử thi, có tác phẩm đi sâu khai thác vấn đề thế sự, có tác phẩm tiếp nối kĩ thuật tự sự của tiểu thuyết lịch sử truyền thống, có tác phẩm tiếp thu lối viết hiện đại của tiểu thuyết phương Tây… Tất cả tạo thành một vườn hoa với đủ cả sắc, hương và một bầu không khí sôi nổi

Hiện thực được phản ánh trong các tiểu thuyết lịch sử thời kì này cũng

vô cùng phong phú, đa dạng Đó có thể là hiện thực của các sự kiện, biến cố

Trang 30

lịch sử nhưng có thể là hiện thực của số phận con người Hiện thực được phản ánh trong tác phẩm không chỉ một chiều mà đa diện, nhiều chiều, thậm chí có khi là hiện thực “xoay chiều, ngược chiều”, hiện thực ở dạng khả năng, tiềm

ẩn những bất ngờ Đó dường như là lịch sử trong cảm nhận riêng, được biết đến qua những trăn trở, khổ đau, vui buồn của từng nhân vật Có nhà văn như Nguyễn Xuân Khánh còn đưa các yếu tố phong tục, văn hóa vào tác phẩm để

mở rộng khả năng phản ánh hiện thực của tiểu thuyết lịch sử

1.3 Nguyễn Xuân Khánh và thể loại tiểu thuyết lịch sử - văn hóa

1.3.1 Nguyễn Xuân Khánh và hành trình viết văn nửa thế kỉ

Nhà văn Nguyễn Xuân Khánh sinh năm 1933 tại Hà Nội Ông học Đại học Y khoa Hà Nội Thời trai trẻ, ông được biết đến là người rất say mê âm nhạc Bước vào ngưỡng tuổi hai mươi, Nguyễn Xuân Khánh tham gia vào lực lượng quân đội Trong thời gian ở quân ngũ, Nguyễn Xuân Khánh đã viết tác

phẩm đầu tiên Năm 1957, truyện ngắn Một đêm của ông được giải Nhì cuộc

thi viết truyện ngắn của Tạp chí Văn nghệ Quân đội (không có giải nhất) Từ

đó văn chương gắn với ông như một duyên nghiệp Năm 1962, sau khi in tập

truyện ngắn đầu tay có tên Rừng sâu và bị kỉ luật, ông tạm ngừng sáng tác

Tuy nhiên ông vẫn ấp ủ những dự định văn chương của mình Ông về hưu sớm và không xuất hiện trong đời sống văn học Để đối diện với cuộc sống mưu sinh, ông làm rất nhiều nghề như dịch sách, thợ may, thợ khóa Chính thời gian này đã cho ông sự trải nghiệm trong cuộc sống, vốn tri thức văn hóa ông vẫn hàng ngày nghiền ngẫm Từ sâu thẳm tâm hồn, Nguyễn Xuân Khánh vẫn dành cho văn chương một vị trí đặc biệt

Từ sau Đại hội Đảng VI (1986), sự nghiệp Đổi mới đất nước diễn ra trên mọi phương diện đã tác động tới văn nghệ sĩ Sự thay đổi diện mạo của đất nước, sự thay đổi trong quan niệm nghệ thuật là những nhân tố quan trọng tạo nên chuyển biến của văn học nói chung và tiểu thuyết nói riêng Ngoài ý

Trang 31

thức đổi mới thể loại còn có sự đổi mới cả trong tư tưởng, nội dung phản ánh Thế hệ nhà văn Cách mạng trưởng thành trong kháng chiến chống Pháp như Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Nguyên Ngọc trở thành những người

mở đường tinh anh và đặt nền móng cho quá trình đổi mới văn học Từ đó đến nay có sự xuất hiện trở lại của một thế hệ nhà văn mà do thử thách thời thế đã có một thời gian vắng bóng như Bùi Ngọc Tấn, Nguyễn Xuân Khánh

Sự nỗ lực âm thầm bền bỉ cuối cùng đã mang lại cho Nguyễn Xuân Khánh

những thành quả xứng đáng Đầu thế kỉ XXI, bộ ba tiểu thuyết Hồ Qúy Ly,

Mẫu Thượng Ngàn, Đội gạo lên chùa của ông giành được nhiều giải thưởng

danh giá như Giải thưởng Thăng Long của UBND TP Hà Nội, Giải thưởng của Hội Nhà văn Hà Nội, giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam Nhưng giải thưởng chưa phải là tất cả, bởi vì độ dày của sách, số lần tái bản, danh mục giải thưởng, sự hâm mộ của độc giả tuy mang lại nhiều vinh quang cho người sáng tác, nhưng tất cả những cái đó chưa hẳn đã đủ đảm bảo để tác phẩm có đời sống lâu bền trong lịch sử văn học Điều đó có nghĩa, chỉ sau khi đọc tác phẩm, tìm được giá trị nội tại của nó, ta mới có thể bàn tới vị trí văn học sử của một nhà văn Song, thực tiễn đời sống văn học đã chứng minh bộ ba

trường thiên tiểu thuyết Hồ Qúy Ly, Mẫu Thượng Ngàn, Đội gạo lên chùa đã

khiến Nguyễn Xuân Khánh xác lập cho mình một vị trí riêng trên văn đàn

Việt Nam đương đại Nguyễn Xuân Khánh “đột ngột xuất hiện, như thể ông

vừa bước ra từ một huyền thoại nào đó, từ một sự ẩn mình đâu đó lâu lắm, như loài trầm hương trong rừng sâu kia, một ngày nhoài lên từ lớp mùn và mục gỗ để đi về phía ánh sáng mặt trời và đem theo mùi hương quý giá” [35]

Những cuốn tiểu thuyết của một người viết cao tuổi không chỉ khiến người đọc kinh ngạc vì sức lao động nghệ thuật đáng nể, mà còn gây ấn tượng mạnh cho độc giả bởi sự độc đáo của một cây bút bậc thầy về văn hóa Nó làm nên nét hấp dẫn riêng của văn chương Nguyễn Xuân Khánh

Trang 32

1.3.2 Tiểu thuyết lịch sử - văn hóa của Nguyễn Xuân Khánh trong dòng chảy tiểu thuyết thế kỉ XXI

Như đã biết, Nguyễn Xuân Khánh viết văn từ thời kì kháng chiến chống

Mỹ, nhưng thành công mà ông thu được trên con đường hoạt động nghệ thuật nhọc nhằn chứ không dễ dàng Mãi đầu thế kỉ XXI, ông mới thực sự thành

công với bộ ba tiểu thuyết về đề tài lịch sử, văn hóa là Hồ Qúy Ly (2000);

Mẫu Thượng Ngàn (2006); Đội gạo lên chùa (2011)

Lựa chọn viết về một thể loại văn học không mới như tiểu thuyết lịch

sử Nguyễn Xuân Khánh có những quan điểm riêng: “Tôi quan niệm tiểu

thuyết lịch sử không phải để kể lại lịch sử, minh họa lịch sử Người viết lịch

sử không thể dựng lại đúng hiện thực mà chỉ là cách nhìn về lịch sử, và cái nhìn ấy, ngôn ngữ ấy được độc giả chấp nhận là được” [25] Như vậy, nhà

văn quan niệm: lịch sử chỉ là phương tiện để truyền đạt các ý tưởng, chủ đề và làm nền cho tưởng tượng, hư cấu của tác phẩm Tuy nhiên, việc hư cấu trong tiểu thuyết lịch sử trên nền tảng các cứ liệu lịch sử cũng có những khó khăn riêng, những quy định riêng cần đảm bảo chứ không thể tùy tiện, phóng túng

Nói về vấn đề này, Nguyễn Xuân Khánh cho rằng: “Tôi quan niệm tiểu thuyết

lịch sử phải tạo ra một hiện thực làm sao để gây cho người đọc một ảo tưởng

là có thật Tiểu thuyết phải có đời thường, bi hài, trữ tình Trong khi đó kí sự lịch sử chỉ là bám chắc vào các văn bản sử để viết” [25] Nhà văn đưa hiện

thực lịch sử ấy vào trong tác phẩm và gán cho nó những trải nghiệm của cá nhân, theo cái nhìn của cá nhân

Hồ Qúy Ly là cuốn tiểu thuyết tái hiện lại thời kì lịch sử sóng gió cuối

thế kỉ XIV - đầu thế kỉ XV Đó là giai đoạn cuối triều đại nhà Trần, đầu triều đại nhà Hồ; với nhân vật lịch sử Hồ Qúy Ly, trong bối cảnh nước Đại Việt phải gồng mình đổi mới để thoát khỏi khủng hoảng trong nước và chống giặc ngoại xâm Thấm đẫm trong từng trang văn, kết cấu truyện, không gian, nhân vật tác phẩm… là những chất liệu lịch sử, văn hóa và phong tục, tập quán rất

Trang 33

tiêu biểu của dân tộc Việt Tiểu thuyết lịch sử Hồ Quý Ly được nhà văn viết

trong những suy tư, trăn trở sâu sắc về quá trình đổi mới của dân tộc bằng việc lật lại câu chuyện đầy sóng gió cuối thời Trần (1225-1440), khi nhà nước Đại Việt đang gồng mình chống đỡ khủng hoảng trong nước và chống giặc ngoại xâm Tác phẩm góp thêm tiếng nói khám phá xã hội và con người

Hồ Quý Ly, một trí thức cách tân trước thời đại nhưng vấp phải bi kịch đau đớn nhất là không được lòng dân Đồng thời, tiểu thuyết còn là bức tranh đẹp

về văn hóa ngàn năm của dân tộc với những địa đanh cổ nổi tiếng, những cảnh sinh hoạt thôn dã, những lễ hội dân gian, những phong tục đẹp… được lưu truyền đến nay đã mai một cùng năm tháng Nguyễn Xuân Khánh đã đem đến một luồng gió mới cho thể loại tiểu thuyết lịch sử, khi mà hầu hết các nhà tiểu thuyết lịch sử Việt Nam trước ông đã bỏ qua, đó là: viết tiểu thuyết lịch sử tức là làm một cuộc khám phá và truy xét lịch sử để có nhận thức chính xác cho mình về lịch sử

Tiếp đến hai tiểu thuyết sau đó, Nguyễn Xuân Khánh đã thực hiện đầy

đủ bút lực của mình: nhà văn hóa, lịch sử, nhà tư tưởng trong tư cách nhà văn Lấy bối cảnh thời sơ khởi của công cuộc tiếp xúc, tiếp biến văn hóa Đông Tây ở Việt Nam những năm cuối cùng thế kỉ XIX và đầu thế kỉ XX,

tiểu thuyết Mẫu Thượng Ngàn của Nguyễn Xuân Khánh tiếp tục khám phá

quá khứ dân tộc, góp thêm cái nhìn sâu sắc về đề tài lịch sử Tác phẩm cũng mang đậm chủ đề văn hóa phong tục Việt Nam, thể hiện qua cuộc sống của người dân ở một làng quê bán sơn địa Bắc Bộ hồi cuối thế kỉ XIX mang tên

Cổ Đình Giữa bối cảnh Pháp xâm lược Việt Nam, đạo Phật bị gạt bỏ, đạo Thiên chúa bắt đầu ảnh hưởng và lan rộng, người dân quê trở về với đạo Mẫu, một tôn giáo của người Việt cổ có từ ngàn đời Nhà văn dày công kể lại cho người đọc những câu chuyện tình yêu của người đàn bà Việt trong không gian ấy, một tình yêu vừa bao dung, vừa mãnh liệt, vừa bản năng đầy

chất phồn thực và cũng nhiều đắng cay Ở Mẫu Thượng Ngàn, chúng ta còn

Trang 34

thấy một bức tranh về lịch sử xã hội Hà Nội cuối thế kỉ XIX với việc Pháp đánh thành Hà Nội, việc xây dựng Nhà thờ Lớn… Những vấn đề lịch sử, văn hóa, phong tục đậm đặc dung chứa trong cuốn tiểu thuyết gần ngàn trang đã cho thấy bút pháp trữ tình đầy ấn tượng ở Nguyễn Xuân Khánh, nhất là sự trưởng thành trong suy ngẫm của tác giả: tư duy của một nhà văn hóa, nhà tư tưởng trong tư cách một nhà văn

Trong tác phẩm Đội gạo lên chùa, Nguyễn Xuân Khánh vẫn bắt vào

mạch tự sự văn hóa, lịch sử tiếp tục khẳng định sức sống mạnh mẽ của dân tộc Việt Nam Tác phẩm lấy bối cảnh làng quê Bắc Bộ, một ngôi chùa làng, nơi chứng kiến tất cả những thăng trầm, bi thương của số phận người nông dân và văn hóa làng trong một khoảng thời gian khốc liệt không kém: từ cuộc

kháng chiến chống Pháp đến khi đất nước lập lại hòa bình Đội gạo lên chùa

được viết theo lối cổ điển, mang tính luận đề về ảnh hưởng của đạo Phật trong đời sống của cư dân Việt Không khí Phật giáo, tinh thần Phật giáo và

tư tưởng của đạo Phật gần như can thiệp vào tất cả các tình tiết quan trọng nhất trong cuốn tiểu thuyết đồ sộ này Tác phẩm thấm đẫm màu sắc Phật giáo, được nhà văn viết trong bốn năm, cũng là những chứng nghiệm sâu sắc của Nguyễn Xuân Khánh về biến thiên của làng quê, về sự ảnh hưởng,

hiện diện của Phật giáo đối với cuộc sống con người mà ông rút ra là: “Phật

giáo là một lối sống” [24] Ở tiểu thuyết này, ông không kiến giải về lịch sử

dân tộc qua người đại diện như Hồ Quý Ly, cũng không kiến giải về dân tộc

qua thời đoạn lịch sử thử lửa khốc liệt của nó như Mẫu Thượng Ngàn, mà

xuất phát từ chính lịch sử của sự xây dựng dân tộc Việt Nam suốt thời hiện đại

Ở hai tiểu thuyết Mẫu Thượng Ngàn và Đội gạo lên chùa, những nhân vật chính không còn là những người có thực trong lịch sử như Hồ Qúy Ly

nữa, mà là những nhân vật phần nhiều do nhà văn hư cấu và các sự kiện có thực trong lịch sử được giảm thiểu tối đa Trọng tâm cảm hứng của Nguyễn

Trang 35

Xuân Khánh trong hai tiểu thuyết này chính là văn hóa - phong tục, với những

hệ tư tưởng tín ngưỡng, tôn giáo: tín ngưỡng thờ Mẫu (trong Mẫu Thượng

Ngàn) và đạo Phật trong (Đội gạo lên chùa)

Có thể nói, bộ ba tiểu thuyết lịch sử, văn hóa này, Nguyễn Xuân Khánh

đã gác sang bên những trăn trở về đổi mới bút pháp để đi sâu vào đổi mới về mặt tư tưởng Làm nên bước ngoặt về quan niệm nghệ thuật, là trở về với lối

tự sự truyền thống trong khi rất nhiều nhà văn Việt Nam khác dấn thân vào con đường đổi mới nghệ thuật tự sự Nguyễn Xuân Khánh đã thực sự thành công, không chỉ trong vai trò một nhà văn mà còn trong vai trò một trí thức luôn quan tâm đến các vấn đề của văn hóa, quốc gia, dân tộc Ông đã đi theo một hướng riêng, không sa đà vào cuộc tìm kiếm cách tân cầu kì trên bề mặt hình thức đơn thuần

Trang 36

CHƯƠNG 2

TƯ DUY TỰ SỰ TRONG TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ - VĂN HÓA CỦA

NGUYỄN XUÂN KHÁNH NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN

ĐỀ TÀI, CẢM HỨNG, NHÂN VẬT

2.1 Đề tài lịch sử - văn hóa và thông điệp thế sự

Chọn tiểu thuyết, đặc biệt là tiểu thuyết lịch sử làm phương tiện chuyển tải tư tưởng, Nguyễn Xuân Khánh không sử dụng nhiều lối kĩ thuật hiện đại

và hậu hiện đại, nhưng cách viết của ông được làm mới bằng tinh thần luận

giải lịch sử - văn hóa Đối với Nguyễn Xuân Khánh, lịch sử chỉ là cái “đinh

treo” để nhà văn bày tỏ cái nhìn về cuộc sống Không chịu áp lực từ các quan

điểm của cộng đồng, cũng như lối tư duy trong tiểu thuyết gắn liền với cảm hứng ngợi ca, kính cẩn và chiêm bái lịch sử, tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh tìm thấy những điểm tương đồng giữa quá khứ và hiện tại, dùng quá khứ để soi tỏ hiện tại, nêu ra được những chân lý có tính phổ quát Bộ ba tiểu thuyết lịch sử, văn hóa của Nguyễn Xuân Khánh ra đời được coi là một hiện tượng của tiểu thuyết đương đại Điều nhà văn làm khác so với các nhà tiểu thuyết cùng thời chính là tác phẩm của ông có nét vượt trội mà không nhiều nhà văn cùng thời làm được: sự hài hòa giữa yếu tố văn hóa và lịch sử

Lịch sử, theo cách hiểu đơn giản nhất là những gì thuộc về quá khứ, và đối tượng Nguyễn Xuân Khánh miêu tả, thể hiện đều là những con người, những sự việc thuộc về quá khứ Nhưng trên thực tế, không phải quá khứ nào cũng được coi là lịch sử, có quá khứ xa và quá khứ gần và thường thì quá khứ

xa mới được coi là lịch sử Điều đó được thể hiện ngay ở thái độ ngập ngừng của nhà xuất bản khi định danh thể tài của tác phẩm: trong ba cuốn tiểu thuyết

của Nguyễn Xuân Khánh chỉ có Hồ Qúy Ly được in rõ là “tiểu thuyết lịch sử”

trên bìa, hai cuốn còn lại chỉ in là “tiểu thuyết”

Trang 37

Hồ Qúy Ly là cuốn tiểu thuyết tái hiện lại thời kì lịch sử cuối thế kỉ

XIV đầu thế kỉ XV, đó là thời kì cuối triều đại nhà Trần và đầu triều Hồ, với

nhân vật lịch sử phức tạp Hồ Qúy Ly Ở Mẫu Thượng Ngàn, Nguyễn Xuân

Khánh chọn bối cảnh lịch sử cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, tái hiện xung đột văn hóa Đông - Tây của dân tộc Việt và quân xâm lược Pháp Trong hai cuốn tiểu thuyết này, cách xử lí lịch sử của Nguyễn Xuân Khánh khá tự do và đầy tính chủ quan Nhu cầu cắt nghĩa đời sống theo những suy ngẫm, trải nghiệm

đã khiến người đọc nghĩ rằng lịch sử đích thực của tác phẩm là hư cấu Điều này phù hợp với tinh thần của tiểu thuyết, “không ngừng nhận thức lại” bằng thái độ hoài nghi Điều đó khiến bức tranh lịch sử không mang giá trị tự thân, nghĩa là không nhằm tái hiện chân thực thời đại lịch sử Nguyễn Xuân Khánh chỉ mượn lịch sử làm phương tiện để chuyển tải những suy nghĩ của mình về

thế sự Có thể thấy, các vấn đề nhận thức và thẩm mĩ mà Hồ Qúy Ly và Mẫu

Thượng Ngàn đặt ra đều là vấn đề của hiện tại, chỉ có khung cảnh thiên nhiên,

ngôn ngữ, lễ hội, tập tục là của lịch sử Lịch sử trong tiểu thuyết của Nguyễn Xuân Khánh là lịch sử đã được nhìn qua lăng kính cá nhân, qua những trải nghiệm của nhà văn để từ đó nhà văn hướng ngòi bút của mình về phía hiện

thực đời sống Nhân vật Hồ Qúy Ly và tư tưởng cách tân của ông đều được

tái hiện theo kiến giải riêng của nhà văn Lịch sử trong sáng tạo nghệ thuật của Nguyễn Xuân Khánh đã cho thấy điểm riêng trong cách nhà văn hư cấu Ông không lệ thuộc nhiều vào lịch sử mà chỉ mượn nó làm phương tiện để soi rọi vào thực tại Song ông cũng không hư cấu và đẩy lịch sử đi quá xa như

Nguyễn Huy Thiệp đã làm trong những truyện ngắn lịch sử như Kiếm sắc,

Vàng lửa, Phẩm tiết Lịch sử trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp khiến

người đọc hoang mang, muốn lục tung mọi ngóc ngách của chính sử để minh định, còn tiểu thuyết của Nguyễn Xuân Khánh mang đến một cảm giác nhẹ nhàng khi nhà văn muốn bạn đọc cùng đồng hành với những gì nhà văn chiêm

Trang 38

nghiệm về quá khứ Đỗ Hải Ninh cho rằng: khía cạnh tạo nên sự thành công

trong các tiểu thuyết lịch sử của Nguyễn Xuân Khánh là việc nhà văn có “khả

năng nắm bắt cái hằng số lịch sử và hiện đại hóa các vấn đề của quá khứ”

[15]

Lịch sử là những gì đã qua, con người hiện tại nhìn lịch sử như là những gì đã được ghi trong sử sách, điều đó trở thành cảm hứng cho những suy ngẫm về văn hóa, tôn giáo Tiểu thuyết của Nguyễn Xuân Khánh dù viết

về thời điểm lịch sử nào đều có khả năng mở rộng biên độ phản ánh hiện thực bởi tính thời sự cập nhật của nó Không né tránh những vấn đề hôm nay, nhà văn luôn ráo riết tìm lời đáp cho những câu hỏi thiết thực đối với hiện tại

Tiểu thuyết Hồ Qúy Ly khiến người đọc liên tưởng đến cuộc cải cách từ thế kỉ

XV với nhu cầu đổi mới đất nước trong mấy thập kỉ gần đây, từ đó nhiều vấn

đề khác cũng được đặt ra: giải quyết cái cũ như thế nào, vai trò của trí thức trước bước ngoặt của thời cuộc, đổi mới và quyền lực, lợi ích của dân chúng

và lợi ích của nhà cầm quyền Đó đều là những thông điệp thế sự sâu sắc của con người hôm nay được nhà văn khéo léo gửi gắm vào câu chuyện lịch sử

Mẫu Thượng Ngàn đề cập đến vấn đề gìn giữ bản sắc dân tộc trong

giao lưu và tiếp biến văn hóa Đâu là hướng đi của dân tộc trước những biến động của lịch sử? Nhà văn đã tìm thấy những điểm tương đồng giữa quá khứ

và hiện tại, dùng hiện tại soi tỏ quá khứ, nêu ra được những chân lý có tính phổ quát đối với con người, đó chính là giải thích mới về đề tài cũ Dù viết về nhân vật lịch sử quen thuộc, thời đại đã được các nhà sử học phân tích, đánh giá nhưng tiểu thuyết của Nguyễn Xuân Khánh vẫn mới mẻ vì nó chở tải được những vấn đề mà con người hôm nay đang quan tâm Thiết nghĩ đây cũng là điều mà các nhà văn viết tiểu thuyết lịch sử cần phải chú ý, bởi nó là một phần của câu trả lời: vì sao giới trẻ ngày nay không hứng thú với lịch sử nước nhà, và môn lịch sử trong nhà trường phổ thông không hấp dẫn được

Trang 39

học sinh Sức hấp dẫn của tiểu thuyết lịch sử không đơn giản đến từ những câu chuyện hư cấu, tưởng tượng của các nhà văn mà nó đến từ những kiến giải lịch sử in đậm dấu ấn cá nhân và cách mà nhà văn lí giải quá khứ đó như thế nào Dấu ấn thời đại trong cách nhà văn kiến giải về lịch sử khiến nó trở nên sống động, không phải là một quá khứ hoàn kết, nó thúc đẩy trí tò mò và hứng thú tư duy của người đọc

Với tư duy hiện đại, Nguyễn Xuân Khánh luôn đặt lịch sử ở trạng thái động Thói quen trung thành với lịch sử khiến nhiều người tìm đến các tài liệu lịch sử để đối chiếu và từ đó mặc nhiên chấp nhận một lịch sử đã hoàn tất, các nhân vật và sự kiện trở thành những gì đã được mặc định và không được phép thay đổi Nguyễn Xuân Khánh đặt nhân vật lịch sử trong những mối quan hệ phức tạp của gia đình, xã hội và nhìn nhận ở nhiều góc độ khác nhau Nhân

vật Hồ Qúy Ly (trong tiểu thuyết Hồ Quý Ly) được hiện lên ở nhiều vai khác

nhau: một con người văn võ song toàn, một con người có cảm nhận tinh tế, sâu sắc, một người chồng hết mực yêu thương vợ, một người cha nén chặt tình cảm trong lòng, một kẻ loạn thần thâm hiểm, một kẻ tàn bạo Ở mỗi góc nhìn, nhân vật cũng không đồng nhất đơn chiều: trong mắt những người thuộc phe bảo thủ như Nguyên Hàng, Khát Chân, Đoàn Xuân Lôi thì chính sách của

Hồ Qúy Ly là trái với lề lối tổ tiên, dấu hiệu của âm mưu thoán nghịch Cùng

sự kiện đó, nhưng dưới con mắt của Nguyên Cẩn, Hán Thương lại là sự ngưỡng mộ Họ coi đó là những việc làm cấp bách mà chỉ bậc minh quân mới thực hiện được Còn những người như nhà sử học Sử Văn Hoa và Hồ Nguyên Trừng lại hiểu rõ đất nước cần phải có những con người như Hồ Quý Ly mới

có thể lột xác, song chính họ lại băn khoăn liệu cách làm ấy có đúng không

Đặt quá khứ trước những khả năng khác nhau, nhà văn cũng để ngỏ nhiều chi tiết lịch sử như muốn cùng bạn đọc suy ngẫm Cái chết của nhà sử học Sử Văn Hoa là một bí ẩn Có hai giả thiết: liên quan đến Hồ Qúy Ly với

Trang 40

kẻ thân tín Nguyên Cẩn, người đã tịnh thân để được thăng tiến hay phe Trần

Khát Chân và thuộc hạ của ông với thế võ Hạ Ngọc Trản Trong Mẫu Thượng

Ngàn những lời đồn đại về tướng sát phu của cô Mùi và cái chết kì lạ của

Philippe, người chồng thứ ba vẫn là một điều chưa có lời giải Kĩ thuật bỏ ngỏ này có điểm gần gũi với Nguyễn Huy Thiệp, nhà văn thường đưa vào tác phẩm những chi tiết gây bất tín nhận thức, dựa vào những tài liệu sưu tầm, sử dụng lời đồn đại, hiến cho người đọc những cái kết với nhiều khả năng khác nhau Qua đó, người đọc có thể tự mình rút ra kết luận theo khả năng tư duy của mình và từ đó đối thoại với lịch sử Nhà văn không phải là người biết trước kể cho ta nghe câu chuyện lịch sử Và như vậy, lịch sử không hoàn toàn

là cái đã xảy ra mà là cái có thể xảy ra, lịch sử trở thành một sáng tạo mới trong mỗi cá nhân người đọc

Nguyễn Xuân Khánh không xác lập trong lòng người đọc những hình ảnh cố định về nhân vật lịch sử của mình Nhân vật Hồ Qúy Ly xuất hiện với

tư cách là một bạo chúa hay một nhà cách tân cũng hiện lên với đầy đủ cả hai mặt sáng và tối Nhà văn cũng tạo ra ý thức tranh luận trước mỗi đối tượng Cha con Nghệ Hoàng là những ông vua hiền, nhân từ, đức độ nhưng để cho muôn dân đói khổ, lầm than, đất nước chiến tranh loạn lạc, vậy có phải là bậc minh quân? Sự đối thoại của nhiều luồng tư tưởng được thể hiện ở nhiều phát ngôn trực tiếp bên cạnh những đối thoại ngầm được gửi gắm qua hình tượng nghệ thuật sinh động Có thể thấy, lịch sử trong tiểu thuyết của Nguyễn Xuân Khánh là phương tiện để chuyển tải tư tưởng chứ không phải là mục đích Thực ra, Nguyễn Xuân Khánh đã rất thành công khi tái tạo lại không khí của lịch sử, bức tranh của thời đại đã qua nhưng đóng góp của nhà văn là ở tư duy mới mẻ về lịch sử, lịch sử đã không khép lại hoàn toàn mà có thể mở ra những chân trời khám phá mới, nó phù hợp với tư duy của con người hiện đại, luôn xem xét, hoài nghi những giá trị tưởng như đã xác định

Ngày đăng: 23/05/2018, 16:12

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lại Nguyên Ân (2000), Hồ Qúy Ly, Tạp chí Nhà văn số 6, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Qúy Ly
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Năm: 2000
2. Lại Nguyên Ân (2002), 150 thuật ngữ văn học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2002
3. Hoàng Lan Anh (2006), Nhà văn Nguyễn Xuân Khánh nói về Mẫu thượng ngàn, Nguồn: http://www.vanchuongviet.org/index.php Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà văn Nguyễn Xuân Khánh nói về Mẫu thượng ngàn
Tác giả: Hoàng Lan Anh
Năm: 2006
4. M.Bakhtin (2003), Lí luận và thi pháp tiểu thuyết, Phạm Vĩnh Cư (dịch), Nxb Hội nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận và thi pháp tiểu thuyết
Tác giả: M.Bakhtin
Nhà XB: Nxb Hội nhà văn
Năm: 2003
5. Nguyễn Thị Bình (2012), Văn xuôi Việt Nam sau 1975, Nxb Đại học Sư Phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn xuôi Việt Nam sau 1975
Tác giả: Nguyễn Thị Bình
Nhà XB: Nxb Đại học Sư Phạm
Năm: 2012
6. Lê Thị Thanh Bình (2007), Nhà văn Nguyễn Xuân Khánh: Về từ Miền hoang tưởng Nguồn: http://antgct.cand.com.vn/vi VN/nhanvat/2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà văn Nguyễn Xuân Khánh: Về từ Miền hoang tưởng
Tác giả: Lê Thị Thanh Bình
Năm: 2007
7. Văn Chinh (2006), Lão mai Nguyễn Xuân Khánh vẫn rừng rực nở hoa, Nguồn:http://vietnamtinhhoa.vn/lao-mai-nguyen-xuan-khanh-van-rung-ruc-no-hoa/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lão mai Nguyễn Xuân Khánh vẫn rừng rực nở hoa
Tác giả: Văn Chinh
Năm: 2006
8. Nguyễn Văn Dân (2004), Phương pháp luận nghiên cứu văn học, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp luận nghiên cứu văn học
Tác giả: Nguyễn Văn Dân
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 2004
9. Nguyễn Văn Dân (2011), Mấy xu hướng chủ yếu trong tiểu thuyết lịch sử Việt Nam đương đại, Văn nghệ số 11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy xu hướng chủ yếu trong tiểu thuyết lịch sử Việt Nam đương đại
Tác giả: Nguyễn Văn Dân
Năm: 2011
10. Trương Đăng Dung (1994), Tiểu thuyết lịch sử trong quan niệm mĩ học của G.Lucas, Tạp chí Văn học số 5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết lịch sử trong quan niệm mĩ học của G.Lucas
Tác giả: Trương Đăng Dung
Năm: 1994
11. Trương Đăng Dung (2004), Tác phẩm văn học như là quá trình, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác phẩm văn học như là quá trình
Tác giả: Trương Đăng Dung
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2004
12. Châu Diên (2006), Nguyễn Xuân Khánh và cuộc giành lại bản sắc, Nguồn: http://tuoitre.vn/Van-hoa-Giai-tri/Van hoc/150703/nguyen-xuan- khanh-va-cuoc-gianh-lai-ban-sac.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Xuân Khánh và cuộc giành lại bản sắc
Tác giả: Châu Diên
Năm: 2006
13. Phan Cự Đệ (Chủ biên) (2005), Văn học Việt Nam thế kỉ XX – Những vấn đề lịch sử và lý luận, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam thế kỉ XX – Những vấn đề lịch sử và lý luận
Tác giả: Phan Cự Đệ (Chủ biên)
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2005
14. Hà Minh Đức (Chủ biên) (2006), Lý luận văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận văn học
Tác giả: Hà Minh Đức (Chủ biên)
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2006
15. Nguyễn Đăng Điệp (Chủ biên) (2012), Lịch sử và văn hóa – Cái nhìn nghệ thuật Nguyễn Xuân Khánh, Nxb Phụ nữ - Viện Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử và văn hóa – Cái nhìn nghệ thuật Nguyễn Xuân Khánh
Tác giả: Nguyễn Đăng Điệp (Chủ biên)
Nhà XB: Nxb Phụ nữ - Viện Văn học
Năm: 2012
16. Nguyễn Đăng Điệp (2000), Vấn đề phái tính và âm hưởng nữ quyền trong văn học Việt Nam đương đại, Nguồn: http://phongdiep.net Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề phái tính và âm hưởng nữ quyền trong văn học Việt Nam đương đại
Tác giả: Nguyễn Đăng Điệp
Năm: 2000
17. Trung Trung Đỉnh (2001), Hồ Quý Ly và những giải pháp mới cho tiểu thuyết lịch sử nước nhà, Tạp chí Văn nghệ Quân đội, số 10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Quý Ly và những giải pháp mới cho tiểu thuyết lịch sử nước nhà
Tác giả: Trung Trung Đỉnh
Năm: 2001
18. Hội nhà văn (2001), tiểu thuyết dòng chảy liên tục với thời gian, (Báo cáo của Hội đồng chung khảo Cuộc thi Tiểu thuyết của Hội Nhà văn Việt Nam 1998-2000), Văn nghệ, số 37 Sách, tạp chí
Tiêu đề: tiểu thuyết dòng chảy liên tục với thời gian
Tác giả: Hội nhà văn
Năm: 2001
19. Hội nhà văn (2011), Nguyễn Xuân Khánh đội gạo lên chùa, (Tọa đàm khoa học) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội nhà văn (2011), "Nguyễn Xuân Khánh đội gạo lên chùa
Tác giả: Hội nhà văn
Năm: 2011
20. Đỗ Đức Hiểu (2000), Thi pháp hiện đại, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi pháp hiện đại
Tác giả: Đỗ Đức Hiểu
Nhà XB: Nxb Hội nhà văn
Năm: 2000

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w