1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ĐƯỜNG lối GIÁO dục của NHO GIÁO và ẢNH HƯỞNG đến xã hội VIỆT NAM HIỆN NAY

29 146 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 29
Dung lượng 136,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Và Khổng Tử 551-479 Tr.CN, người đã sáng lập Nho giáo, lànhà triết học lớn nhất Trung Hoa cổ đại, một nhà giáo dục lớn được người TrungHoa tôn vinh là “Chí thánh tiên sư”, “Vạn thế sư bi

Trang 1

TIỂU LUẬN:

ĐƯỜNG LỐI GIÁO DỤC CỦA KHỔNG TỬ - NHO GIÁO VÀ ẢNH

HƯỞNG TỚI XÃ HỘI VIỆT NAM HIỆN NAY

Có thể nói, từ ngày xưa, giáo dục đã là một vấn đề cấp thiết đối với mỗi quốcgia, dân tộc Mục đích hơn hết của giáo dục là tạo ra đội ngũ những người tài năng,đức độ, có nhiệt tình yêu nước, có ý thức vì dân tộc, vì con người để tạo sức mạnhdân tộc, đất nước Và Khổng Tử (551-479 Tr.CN), người đã sáng lập Nho giáo, lànhà triết học lớn nhất Trung Hoa cổ đại, một nhà giáo dục lớn được người TrungHoa tôn vinh là “Chí thánh tiên sư”, “Vạn thế sư biểu” … đã xây dựng một đườnglối giáo dục với những nguyên tắc khác nhau, hiện nay vẫn còn ảnh hưởng đến xãhội Trung Quốc và cả xã hội Việt Nam

Bàn về đường lối giáo dục, như đã nói, vì đây là một vấn đề quan trọng đượchướng tới, đầu tư phát triển trong bất cứ thời đại, quốc gia, dân tộc nào nên từphương Đông đến phương Tây, từ cổ đại đến cận đại, hiện đại đều có những nhàtriết học, những nhà giáo dục học đưa ra những quan điểm, đường lối, nguyên tắcgiáo dục khác nhau Có thể kể tới Aristotle (384–322 trước Công nguyên) với ngôi trường được nhận xét là tiên tiến nhất trong thời kỳ cổ đại và mang lại đầy đủ

Trang 2

lợi ích cho người học với khu vườn rộng trồng đủ mọi loại cây và trở thành việnbảo tàng thực vật tại chỗ cho thầy và trò cùng nghiên cứu Ngoài ra, ông cũng lậpnên một thư viện sách đồ sộ ngay trong trường học Ở đây, ông chỉ dạy học trò vàobuổi sáng Buổi chiều là những bài học “mềm”, khi đó thầy trò sẽ cùng nhau đi bộtrên những quãng đường dài, cùng quan sát, bàn luận và học hỏi từ những quan sát

đó Sau này, cách giảng dạy của Aristotle đã hình thành nên một trường phái trongngành giáo dục có tên là “peripatos” (tiêu dao học) Hay nhà giáo dục Johann Amos Comenius (1592–1670), là người đầu tiên đề cập đến khái niệm “giáo dục tự

nhiên”, theo đó, mỗi người có những thiên hướng khác nhau và nhiệm vụ của giáodục là phát hiện và phát triển những thiên hướng tiềm ẩn trong mỗi cá nhân.Comenius cũng là người áp dụng những bộ sách giáo khoa đầu tiên vào quá trìnhgiảng dạy Ở Việt Nam, người đời luôn khắc ghi tên tuổi của những thầy giáo đầynhân cách: Chu Văn An, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Đồ Chiểu … và vị lãnh tụ kính yêu– nhà giáo dục tên tuổi Hồ Chí Minh Theo Hồ Chí Minh, “Một dân tộc dốt là

một dân tộc yếu”, ông chủ trương phải xây dựng một nền giáo dục hướng vào các

giá trị dân tộc, hiện đại và nhân văn, một nền giáo dục phục vụ Tổ quốc, phục vụnhân dân Trở lại vấn đề, trong tiểu luận này, tôi muốn đề cập tới đường lối giáodục của Khổng Tử - Nho giáo và những ảnh hưởng tới xã hội Việt Nam hiện nay

vì thật sự, tầm ảnh hưởng của nhà giáo dục đối với đất nước ta quá lớn Ngay từthời nghìn năm Bắc thuộc, thời phong kiến, trong xã hội thực dân nửa phong kiến,khi giặc Mỹ xâm lược nước ta và cho tới ngày nay, không lúc nào xã hội Việt Namkhông chịu ảnh hưởng của đường lối giáo dục của Khổng giáo Tất nhiên, trong xãhội hiện nay, khi mà trình độ khoa học phát triển, quá nhiều luồng văn hóa du nhậpvào nước ta, con người cũng đã có nhiều sự thay đổi trong quan niệm sống, trongcách tiếp cận đời sống xã hội, tầm ảnh hưởng của đường lối giáo dục của Khổng

Tử không có nhiều ưu thế như trong xã hội Việt Nam thời phong kiến Nhưng như

là một cây cổ thụ bám trụ từ lâu đời, khí chất của nó còn vang vọng, hay như loài

cỏ hoang với những chùm rễ bám sâu vào đất, sức sống bền bỉ, tư tưởng của Khổng

Trang 3

Tử về giáo dục vẫn còn tồn tại trong xã hội Việt Nam Hiện nay, khi đất nước đangbước vào thời kì phát triển, vẫn còn những nhìn nhận, đánh giá chưa chính xác: hoặcquá đề cao, hoặc phủ nhận sự ảnh hưởng tư tưởng triết học về chính trị - đạo đức củaKhổng Tử trong sự nghiệp giáo dục đào tạo con người Việt Nam Vì vậy, viêcnghiên cứu đường lối giáo dục của Khổng Tử và sự ảnh hưởng của nó đến sự nghiệpgiáo dục đào tạo con người hiện nay ở nước ta là điều rất cần thiết.

Trang 4

NỘI DUNG CHƯƠNG I: ĐƯỜNG LỐI GIÁO DỤC CỦA KHỔNG TỬ - NHO GIÁO 1.1 Hoàn cảnh ra đời đường lối giáo dục của Khổng Tử

1.1.1 Hoàn cảnh lịch sử xã hội

Trung Quốc có nghĩa là “Quốc gia trung tâm” (do thiếu thông tin về sự tồn tạicủa những nền văn minh khác, nên người Trung Quốc cổ đại coi đất nước của họ làquốc gia ở trung tâm thiên hạ), là một trong những nước có một nền văn hoá pháttriển sớm và cao nhất ở thời cổ đại Thời nhà Chu, khoa học tự nhiên phát triển mạnh

mẽ và đạt được nhiều thành tựu Tình hình kinh tế, xã hội cũng có nhiều biến động,kết quả là đã dẫn đến sự đa dạng trong kết cấu giai tầng của xã hội Chiến tranhgiành quyền lợi giữa các chư hầu xảy ra liên miên, xã hội nảy sinh nhiều mâu thuẫn,tầng lớp dân tự do xuất hiện Do đó, một loạt vấn đề xã hội quan trọng đặt ra cho cácnhà triết học, trong đó vấn đề quan trọng nhất là tìm con đường, kế sách đưa đấtnước Trung Quốc từ loạn thành trị Hơn nữa, trong thời kỳ này, các thế lực phongkiến đang lên có nhu cầu sử dụng người hiền tài để giúp họ quản lí xã hội, phát triểnthế lực, tranh giành quyền lực và đồng thời cũng để cho giới trí thức có được tự do tưtưởng trong những giới hạn nhất định Những điều kiện đó tạo ra một môi trườngthuận lợi cho các nhà triết học phát triển và khẳng định quan điểm của mình Lịch sửgọi là thời kì “bách gia chư tử” , “bách gia tranh minh” Những tình hình này có ảnhhưởng lớn đến các tư tưởng triết học Trung Quốc thời cổ đại trong đó có tư tưởngtriết học của Khổng Tử

Thời đại của Khổng Tử là thời đại “Vương đạo suy vi”, “Bá đạo” đang nổi lênlấn át “Vương đạo” của nhà Chu; trật tự lễ pháp cũ của nhà Chu đang bị đảo lộn.Đứng trên lập trường bộ phận cấp tiến trong giai cấp quý tộc Chu, ông chủ trươnglập lại pháp chế của nhà Chu với một nội dung mới cho phù hợp Và từ đó, ông chủchủ trương đường lối giáo dục riêng, đáp ứng nhu cầu thực tế lịch sử xã hội TrungQuốc lúc bấy giờ

Trang 5

1.1.2 Cuộc đời và sự nghiệp của Khổng Tử

Khổng Tử (551 – 479 TCN) tên là Khâu, tự là Trọng Ni, là nhà triết học lớnnhất ở Trung Quốc cổ đại, là người sáng lập ra đạo Nho – học thuyết triết học chínhtrị – xã hội lớn nhất ở Trung Quốc thời kì Xuân Thu Ông sinh ra tại ấp Trâu, làngXương Bình, nước Lỗ (nay là huyện Khúc Phụ, tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc) trongmột gia đình quí tộc Cha mất khi lên 3 tuổi, Khổng Tử ở với mẹ trong cảnh nghèokhổ, phải làm việc vất vả hằng ngày nhưng rất chăm học Năm 19 tuổi lấy vợ vàđược bổ nhiệm chức quan coi kho sách Năm 22 tuổi, Khổng Tử mở trường dạy học

và trong suốt 20 năm từ năm 34 tuổi đến năm 51 tuổi ông dẫn học trò đi khắp nơi đểtruyền bá tư tưởng và tìm người sử dụng tư tưởng đó Có nơi ông được trọng dụngnhưng cũng có nơi không Năm 51 tuổi ông quay về nước Lỗ làm đến chức Thượngthư nhưng rồi lại từ quan vì bị dèm pha và lại phải ra đi một lần nữa Nhìn chung tưtưởng và đạo lí của ông không phù hợp với các chế độ chính trị đương thời Năm 68tuổi, Khổng Tử quay về quê nước Lỗ, tiếp tục dạy học và bắt tay soạn sách với lòngmong muốn học trò sẽ tiếp tục thực hiện lí tưởng của mình

Khổng Tử là một nhà giáo dục lớn được người Trung Hoa tôn vinh là “Vạnthế sư biểu” nghĩa là bậc thầy của muôn đời Nhìn vào sự nghiệp của Khổng Tử trênlĩnh vực học thuật và đạo lý, ngoài việc “san dịch” các cuốn Kinh Thi, Thư, Dịch,

Lễ, Nhạc và viết cuốn biên niên nước Lỗ gọi là Kinh Xuân Thu, còn có nhiều câunói ông giảng giải cho các môn đệ được các môn đệ ghi lại (sau khi ông mất) thànhcuốn “Luận ngữ” Trải qua bốn mươi năm “dạy người không mỏi”, Khổng Tử thunhận trên dưới ba nghìn môn đệ Trong đó, có bảy mươi hai người được gọi là hiền,bao gồm cả những người được gọi là “triết”, hậu thế gọi là “Thất thập nhị hiền” Họcthuyết chính trị đạo đức của Khổng Tử được công nhận là học thuyết chính thống ởTrung Hoa, Việt Nam, Hàn Quốc, Nhật Bản trong thời đại phong kiến Nhà thờ vàtượng Khổng Tử được xây dựng ở khắp nơi Hiện nay, ở huyện Khúc Phụ, tỉnh SơnĐông, Trung Quốc còn gìn giữ mộ Khổng Tử và có hàng chục nghìn người họ

Trang 6

Khổng nhận mình là hậu duệ Khổng Tử Ông Khổng Đức Thành, hậu duệ đời thứ 77của Khổng Tử hiện là giáo sư Đại học Quốc gia Đài Loan Hậu duệ đời thứ 80 củaKhổng Tử cũng đã được thông báo ra đời ở Đài Bắc

1.2 Nội dung tư tưởng triết học chính trị - đạo đức của Khổng Tử

Nho giáo được ra đời ở thời Xuân Thu do Khổng Tử (551 – 479 TCN) sánglập Sau khi ông mất, tư tưởng của ông đã được các thế hệ học trò kế thừa Đến thế

kỷ II TCN, Nho giáo mới được giai cấp phong kiến sử dụng vào việc trị quốc ỞTrung Quốc, Nho giáo đã tồn tại trong suốt thời phong kiến và là công cụ giúp cáctriều vua cai trị đất nước

Khổng Tử và các học trò của ông đã thấy được sức mạnh và vai trò to lớncủa đạo đức đối với xã hội Vì vậy, nội dung quan trọng của Nho giáo là luận bàn

Cương - thường là nội dung cơ bản trong đạo làm người của Nho giáo, lànguyên tắc chi phối mọi suy nghĩ, hành động và là khuôn vàng thước ngọc để đánhgiá phẩm hạnh của con người Một mặt, đạo cương - thường góp phần điều chỉnhhành vi của con người, đưa con người vào khuôn phép theo chế độ lễ pháp của nhàChu trước đây và các triều đại phong kiến sau này đặt ra Cương - thường là nhân

Trang 7

trị của thiên tử Mặt khác, đạo cương - thường với nội dung “quân xử thần tử, thầnbất tử bất trung”, “phụ xử tử vong, tử bất vong bất hiếu” (vua xử bề tôi chết, bề tôikhông chết là không có lòng trung, cha xử con chết, con không chết là không cóhiếu) là sợi dây trói buộc con người, làm cho con người thụ động trong cả suy nghĩ

và hành động Tư tưởng này là lực cản sự phát triển của xã hội và là một trongnhững nguyên nhân làm cho xã hội phương Đông trì trệ

Phạm trù đạo đức đầu tiên, cơ bản nhất trong đạo cương - thường là Nhân(đức nhân) Tất cả các phạm trù đạo đức khác đều xoay quanh phạm trù trung tâmnày Từ đức nhân mà phát ra các đức khác và các đức khác lại quy tụ về đức này

Cả cuộc đời mình, Khổng Tử đã dành nhiều tâm huyết để làm cho đức nhân trởthành hiện thực Ông mong muốn các học trò rèn luyện để đạt được đức nhân vàứng dụng nó trong thực tiễn Đức nhân được Khổng tử bàn đến với nội dung cơ bảnsau:

- Nhân có nghĩa là yêu người : “Phàn Trì hỏi về người nhân, Khổng Tử nói:(đó là người biết) yêu người” (Phàn Trì vấn nhân, Tử viết: “ái nhân”)(1)

- Nhân có nghĩa là trung và thứ Bàn về chữ trung, ông giải thích:“Ngườinhân là người mình muốn lập thân thì cũng giúp người lập thân, mình muốn thànhđạt thì cũng giúp người thành đạt” (Phù nhân giả, kỉ dục lập nhi lập nhân, kỉ dụcđạt nhi đạt nhân)(2) Về chữ thứ, ông viết: “Điều gì mình không muốn, chớ thihành cho người khác” (Kỉ sở bất dục vật thi ư nhân)(3) Như vậy, trung thứ tức là

từ lòng mình suy ra lòng người, phải giúp người Khổng Tử khuyên rằng nên làmcho người những cái mà mình muốn và đừng làm cho người những cái mình khôngmuốn

- Đối với bản thân mình, người có đức nhân là phải thực hiện đúng lễ: “Dẹp

bỏ tư dục, trở về với lễ là phát huy điều nhân” (Khắc kỉ phục lễ vi nhân)(4) Lễ làhình thức thể hiện nhân và cũng là một chuẩn mực của Ngũ thường

Trang 8

Phạm trù đức nhân tuy bao chứa nhiều nội hàm khác nhau, song cái gốc vàcốt lõi của nhân là hiếu đễ Theo Khổng Tử, tình cảm giữa cha mẹ và con cái, giữachồng và vợ, giữa anh em với nhau (quan hệ gia đình) là những tình cảm tựnhiên,vốn có thuộc về bản tính con người Từ cách hiểu này, ông cho rằng, tronggia đìnhnếu người cha đứng đầu thì mở rộng ra trong nước có ông vua đứng đầu.Khổng Tử hình dung quốc gia là một gia đình lớn, ông vua là người cha của giađình ấy Nho giáo đặt vua đứng đầu trong tam cương và ngũ luân Vì vậy, đạo làmngười phải tận hiếu với cha mẹ, tận trung với vua Một người biết yêu thương kínhtrọng cha mẹ mình thì mới biết yêu thương người ngoài Khổng Tử bàn đến đạođức từ xuất phát điểm đầu tiên là gia đình, từ đó suy rộng ra đến quốc gia và thiên

hạ Coi trọng vai trò gia đình trong việc hình thành và tu dưỡng đạo đức của conngười ở Nho giáo là một khía cạnh hợp lý và vẫn còn có ý nghĩa nhất định đối vớingày nay, bỡi lẽ, gia đình là một tế bào của xã hội, xã hội không thể ổn định, thịnhtrị nếu các gia đình lục đục và vô đạo Vì vậy, người cầm quyền nếu không “tề gia”(cai quản gia đình) của mình thì cũng không thể “trị quốc” (cai trị đất nước) được

Nhân còn gắn liền với Nghĩa (nghĩa vụ, thấy việc đúng cần phải làm để giúpngười) Khổng Tử cho rằng người quân tử cần chú ý đến nghĩa và coi thường lợi.Muốn thực hiện nhân, nghĩa thì cần có lòng dũng cảm (dũng) và có Trí (trí tuệ) Cótrí mới biết cách giúp người mà không làm hại đến người, đến mình, mới biết yêu

và ghét người, mới biết đề bạt người chính trực và gạt bỏ người không ngay thẳng.Tuy nhiên, trí theo Khổng Tử và các môn đệ của ông không phải là những tri thứcphản ánh thực tại khách quan của tự nhiên và xã hội để từ đó chỉ đạo hành độngcủa con người mà là những tri thức mang tính giáo điều, chỉ gói gọn trong sự hiểubiết sách vở của Nho giáo (Tứ thư và Ngũ kinh)

Như vậy, đối với Khổng Tử, nhân chính là đạo lý làm người, vừa thươngngười (ái nhân), vừa phải giúp người (cứu nhân) Ông cho rằng, khi thi hành điềunhân phái phân biệt thân sơ, trên dưới Nếu ở Khổng Tử đức nhân mang tính phức

Trang 9

tạp rất khó thực hiện, nó vừa là lý tưởng nhưng lại mang yếu tố không tưởng thìđến thời Hán, đức nhân lại được khoác thêm cái vỏ tôn giáo thần bí, do vậy càngkhông tưởng hơn.

Về phạm trù Lễ, theo Nho giáo, lễ là quy định về mặt đạo đức trong quan hệứng xử giữa người với người Con cái phải có hiếu với cha mẹ, bề tôi phải trungvới vua, chồng vợ có nghĩa với nhau, anh em phải trên kính dưới nhường, bạn bèphải giữ được lòng tin Những quy tắc này là bất di bất dịch mà ai cũng phải tuântheo Lễ là sợi dây buộc chặt con người với chế độ phong kiến tập quyền Khổng

Tử yêu cầu, từ vua cho đến dân phải rèn luyện và thực hiện theo lễ Đến ĐổngTrọng Thư, lễ đã được đẩy lên đến cực điểm của sự khắt khe Chỉ vì giữ lễ mà dẫnđến những hành vi ngu trung, ngu hiếu một cách mù quáng ở không ít người trong

xã hội trước đây

Tư tưởng lễ của Nho giáo có tính hai mặt Về ý nghĩa tích cực, tư tưởng lễ đãđạt tới mức độ sâu sắc, trở thành thước đo, đánh giá phẩm hạnh con người Sự giáodục con người theo lễ đã tạo thành một dư luận xã hội rộng lớn, biết quý trọngngười có lễ và khinh ghét người vô lễ Lễ không dừng lại ở lý thuyết, ở những lờigiáo huấn mà đã đi vào lương tâm của con người Từ lương tâm đã dẫn đến hànhđộng đến mức trong các triều đại phong kiến xưa, nhiều người thà chết chứ không

bỏ lễ: chết đói là việc nhỏ, nhưng thất tiết mới là việc lớn (Chu Hy) Nhờ tin và làmtheo lễ mà các xã hội theo Nho giáo đã giữ được yên ổn trong gia đình và trật

tự ngoài xã hội trong khuôn khổ của chế độ phong kiến Lễ trở thành điều kiện bậcnhất trong việc quản lý đất nước và gia đình Yếu tố hợp lý này chúng ta có thể họctập

Về mặt hạn chế, lễ là sợi dây ràng buộc con người làm cho suy nghĩ và hànhđộng của con người trở nên cứng nhắc theo một khuôn phép cũ; lễ đã kìm hãn sựphát triển của xã hội, làm cho xã hội trì trệ Điều này nói lên rằng, tư tưởng Nhogiáo mang tính bảo thủ, tiêu cực, phản lịch sử Khổng Tử đã từng nói: “ Ta theo lễ

Trang 10

của nhà Chu vì lễ đó rực rỡ lắm thay” và ông luôn mong xã hội lúc đó quay về thờiđại Nghiêu, Thuấn Khách quan mà đánh giá, thì hạn chế trên của Nho giáo cónguyên nhân từ thực tế lịch sử Bởi vì, Khổng Tử sống trong thời đại xã hội loạnlạc, người ta tranh giành nhau, chém giết nhau không từ một thủ đoạn tàn ác nào đểtranh bá, tranh vương, để có bổng lộc chức tước Ông hoài cổ, muốn quay ngượcbánh xe lịch sử cũng là điều dễ hiểu Tuy nhiên, chính mặt hạn chế này của Nhogiáo đã để lại tàn dư cho đến tận ngày nay, nó trở thành phong tục, lối sống, nóthấm sâu vào suy nghĩ và hành động của không ít người ở các nước phương Đông,nơi tiếp nhận và chịu ảnh hưởng của Nho giáo.

Tín là đức tính thứ năm trong Ngũ thường Tín có nghĩa là lời nói và việclàm phải thống nhất với nhau, là lòng tin của con người với nhau Tín góp phầncủng cố lòng tin giữa người với người Trong ngũ luân thì tín là điều kiện đầu tiêntrong quan hệ bè bạn Tuy nhiên, nội hàm của đức tín không chỉ bó hẹp trong mốiquan hệ duy nhất này mà nó còn bao gồm cả lòng tin vô hạn vào đạo lý của bậcthánh hiền và các mối quan hệ vua tôi, cha con, chồng vợ Theo quan niệm của Nhogiáo thì đức tín là nền tảng của trật tự xã hội

Để thực hiện nhân và lễ, Khổng tử đã nêu ra tư tưởng chính danh (danhnghĩa là tên gọi, danh phận, địa vị; chính có nghĩa là đúng, là chấn chỉnh lại chođúng tên gọi và danh phận) Do đó, chính danh là làm cho mọi người ai ở địa vịnào, danh phận nào thì giữ đúng vị trí và danh phận của mình, cũng không dành vịtrí của người khác, không lấn vượt và làm rối loạn Ông cho rằng nguyên nhân hỗnloạn ở thời Xuân Thu là do thiên tử nhà Chu không làm tròn trách nhiệm (khônglàm đúng danh) để quyền lợi vào tay chư hầu; chư hầu không làm đúng danh nên sĩ

đã lấn át Vì vậy, để xã hội ổn định thì mọi người cần làm đúng danh phận Theoông, “Danh không chính thì lời nói chẳng thuận, lời nói không thuận thì việc chẳngnên, việc không nên thì lễ nhạc chẳng hưng vượng, lễ nhạc không hưng vượng thìhình phạt chẳng trúng, hình phạt không trúng ắt dân không biết xử trí ra sao” (danh

Trang 11

bất chính tắc ngôn bất thuận, ngôn bất thuận tắc sự bất thành, sự bất thành tắc lễnhạc bất hưng, lễ nhạc bất hưng tắc hình phạt bất trúng, hình phạt bất trúng tắc dân

vô sở thố thủ túc)(5) Riêng đối với người cầm quyền vua- thiên tử được thay trờicai trị thì càng phải làm đúng danh của mình, như vậy mọi người mới noi theo Đặcbiệt, trong việc chính sự (việc nước), điều đầu tiên nhà vua phải làm là lập lại chínhdanh, phải xác định vị trí, vai trò, nghĩa vụ và trách nhiệm của từng người để họhành động cho đúng Khổng tử cho rằng không ở chức vị ấy thì không được bànviệc của chức vị đó, không được hưởng quyền lợi, bổng lộc của chức vị ấy

Mục đích của chính danh mà Nho giáo đề cao là sự ổn định xã hội, suy chocùng là để bảo vệ quyền của thiên tử, duy trì sự phân biệt đẳng cấp Chính danhkhông những chỉ là nội dung tư tưởng chính trị của Nho giáo, mà còn mang ý nghĩađạo đức, là một yêu cầu về mặt đạo đức của con người Chúng ta biết rằng, mộttrong những phạm trù đạo đức đó là lương tâm, trách nhiệm Nếu xét theo nghĩanày thì một người làm tròn nghĩa vụ và bổn phận của mình tức là người đó có đạođức

Ý nghĩa tích cực của tư tưởng chính danh là làm cho con người ý thức đượctrách nhiệm, nghĩa vụ của mình một cách rõ ràng trong các mối quan hệ xã hội.Con người tồn tại trong vô vàn các quan hệ xã hội đan xen, ở mỗi mối quan hệ đócon người có nghĩa vụ nhất định phải thực hiện Điều này là cần thiết ở mọi chế độ

xã hội, ở mọi thời đại Tư tưởng chính danh yêu cầu con người thực hiện một cáchđúng mức nghĩa vụ của bản thân trước cộng đồng và xã hội trong khuôn khổ danhphận, góp phần vào duy trì bình ổn xã hội Tư tưởng này còn kìm hãm tự do củanhân cách tới mức không chấp nhận bất kì sáng kiến nào của con người, làm chocon người luôn ở trạng thái nhu thuận, chỉ biết phục tùng theo chủ trương “thuậtnhi bất tác” (chỉ làm theo mà không sáng tác gì thêm) Tư tưởng chính danh đã quá

đề cao danh phận, làm cho con người luôn có tư tưởng hám danh, chạy theo danh,

Trang 12

theo chức đến mức nhiều người vì hám danh quên phận mà quên cả luân thườngđạo lý.

Mặc dù có những quan niệm khác nhau, nhấn mạnh đức này hay đức kháccủa con người nhưng nói chung, các nhà nho đều cho rằng con người cần phải cónhững phẩm chất đạo đức cơ bản: nhân, nghĩa, lễ, trí, tín

1.3 Đường lối giáo dục của Khổng Tử - Nho giáo

Khổng Tử là nhà giáo dục lớn Học trò của ông có đến ba nghìn, trong đó cónhiều người nổi tiếng Khổng Tử cho rằng “tính tương cận, tập tương viễn” (Tính thìgần nhau, nhưng tập thì xa nhau) “Tính” có nghĩa là bản tính tự nhiên của con người(human nature); tập có nghĩa là rèn luyện (practice) Bản tính tự nhiên của mọi ngườigần giống nhau (vì nó xuất phát từ bản năng), nhưng do việc học tập, rèn luyện củamỗi người khác nhau, nên nhân cách của mỗi người trở nên khác nhau Theo ông,mục đích của giáo dục là rèn luyện nhân cách Ông nói, “Đại học chi đạo tại minhđức, tại tân dân, tại chỉ ư chí thiện” (Cái đạo đại học là làm rạng cái đưc sáng, đổimới con người, hướng tới điều thiện cao nhất)

Người nhân cũng là người có trí, dũng Muốn có trí phải học tập, tu dưỡng.Người quân tử học không chỉ để hiểu biết sự vật, có tri thức, biết đạo lí, để tu thân, tềgia (cách vật, trí tri, tu thân, tề gia) mà còn để trị quốc, bình thiên hạ

Nguyên tắc giáo dục của Khổng Tử là:

Học đi đôi với hành Học (lí thuyết) đi đôi với tập (rèn luyện kỹ năng) (Học nhithời tập chi) Thực hành tri thức, đạo lý của mình chính là ra làm quan giúp vua giúpnước Khổng Tử nói: “Trong lúc xã hội rối ren, không ra làm quan không phải là kẻtrí, không ra giúp đời không phải là người nhân” Tuy nhiên, đối với người quân tử,học không phải để mưu cầu chức tước, bồng lộc Học phải không biết mệt mỏi Họcphải đào sâu suy nghĩ Thông qua việc nghiên cứu cái cũ để biết cái mới (Ôn cố nhitri tân)

Trang 13

Tuy nhiên, đường lối giáo dục của Khổng Tử có những hạn chế: Nặng về giáodục chính trị đạo đức, không coi trọng việc giáo dục trí thức, khoa học, kỹ thuật.Khổng Tử coi sản xuất vật chất là công việc của kẻ tiểu nhân, không phải là tráchnhiệm của người quân tử Chủ trương theo khuôn mẫu cũ, không khuyến khích việcsáng tạo ra cái mới Chính Khổng Tử cũng thú nhận: “Thuật nhi bất tác”, coi thườngphụ nữ

Khổng Tử rất vui với cuộc đời dạy học và bầu bạn với nhiều người từ phương

xa đến, như ông đã nói trong quyển Luận Ngữ:

“Học nhi thời tập chi bất diệc duyệt hồ?

Hữu bằng tự viễn phương lai bất diệc lạc hồ?”

Ý nghĩa của câu này là: “Học và thường luyện tập chẳng đẹp lắm sao? Có bầubạn từ phương xa tìm đến như vậy chẳng vui lắm sao?”

Tuy nhiên nhà giáo dù có yêu nghề, yêu thương đệ tử đến đâu cũng không thểquên được nợ núi sông Học không phải chỉ để “tu thân” với “tề gia”, nó còn đòihỏi người ta phải đem tài đức của mình ra để “trị quốc” và giúp “bình thiên hạ”nữa Khổng Tử là bậc thầy đã dạy người ta phải “tu, tề, trị, bình” thì không thểkhông tự mình áp dụng chủ trương đó Ông phải đem “vương đạo” ra thi thố, phảiphổ biến chủ trương và chánh sách chính trị, đạo đức ở các nơi trên đất nước Do

đó mà ông đã tạm ngưng việc dạy học để ra chấp chánh một thời gian Theo lờimời của vua nước Lỗ, ônhg ra giữ chức Trung Đồ Tể, tức là Kinh Thành Phủ Doãn(như Đô trưởng bây giờ.) Sau đó ít lâu được thăng lên chức Đại Tư Khấu, cũng nhưHình Bộ Thượng Thư, tức như Tổng Trưởng Tư Pháp ngày nay Và sau cùng được

cử làm Nhiếp Tướng Sự, quyền nhiếp việc chính trị trong nước như Thủ tướng củamột quốc gia vậy

Tuy nhiên vì ông là người hết mực đạo đức, chỉ muốn đem Vương đạo ra thithố trên đời, cho nên chính sách cai trị của ông tuy có lợi cho nhân dân vẫn không

Trang 14

chỉ có lợi cho dân mà không thỏa mãn được lòng tham quyền quý cao sang của vuachúa lúc bấy giờ Khổng Tử và một số ít đệ tử trung thành đã đi chu du thiên hạsuốt mười mấy năm trời không tìm được một nơi nào để có thi hành vương đạonữa Sau 14 năm chu du khắp nước mà không được ai dùng đến trong việc trị nước.ông lại trở về nước Lỗ, sống những ngày còn lại của cuộc đời nơi quê nhà Lúc nàyNgài đã được 68 tuổi

Năm 474 trước Tây lịch, một hôm Khổng Tử dậy sớm đi tới đi lui trước cửavừa hát:

“Thái Sơn kỵ đồi hồ?

Lương mộc kỵ hoại hồ?

Triết nhân kỵ ngụy hồ?

(Tạm dịch)

“Núi Thái Sơn có lẽ sẽ đổ chăng?

Cây lương mộc có lẽ sẽ nát chăng?

Người hiền triết có lẽ sẽ nguy rồi chăng?”

Bài hát này nói lên tâm trạng của Khổng Tử khi ông nằm mộng thấy rằngmình sắp sửa lìa đời Ông thuật giấc mộng đó cho người học trò thân tín nhất củamình là Tử Cống biết Giấc chiêm bao thật là linh ứng Mấy hôm sau Khổng Tửtrút hơi thở cuối cùng Ông thọ 73 tuổi

Khổng Tử mất rồi các đệ tử vô cùng thương tiếc Ai cũng để tang ba năm Cóhơn 100 đệ tử làm nhà ở gần mộ Khổng Tử cho đến khi mãn tang Riêng Tử Cốngthì đã ở đó đến hơn 6 năm

Tư Mã Thiên trong phần thuật lại cuộc đời của Khổng Tử đã viết: “Tôi đọcsách họ Khổng, tưởng tượng như trông thấy cách làm người của Thầy Sang nước

Lỗ xem nhà thờ Khổng Tử với nào xe, nào áo, nào đồ thờ, nào các học trò thờithường đến đó tập lễ, tôi bồi hồi ở lại không về được Nhiều vua chúa và những

Ngày đăng: 23/05/2018, 15:30

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w