Một trong những yếu tố góp phần tạo nên sự độc đáo trong hồn thơ của Bà chúa thơNôm là nữ sĩ đã vận dụng tài tình nhiều yếu tố văn học dân gian như điểm nhìnthẩm mỹ văn hoá dân gian, ngô
Trang 1MỞ ĐẦU
Hồ Xuân Hương là nhà nổi tiếng cuối thế kỷ 18, đầu thể kỷ 19 Bà viết
thơ chủ yếu bằng chữ Nôm, để lại nhiều bài thơ độc đáo với phong cách thơ vừa
thanh vừa tục và được mệnh danh là Bà chúa thơ Nôm (theo Xuân Diệu) Một
trong những yếu tố góp phần tạo nên sự độc đáo trong hồn thơ của Bà chúa thơNôm là nữ sĩ đã vận dụng tài tình nhiều yếu tố văn học dân gian như điểm nhìnthẩm mỹ văn hoá dân gian, ngôn ngữ “tỏ lòng” gần gũi với ngôn ngữ nghệ thuậtthơ ca dân gian, cách dùng nhiều đại từ nhân xưng “em”, đại từ phiếm chỉ “ai” rấtgiống với ca dao, cách sử dụng ngoa ngữ (tiếng chửi) trong văn hoá dân gian ViệtNam để sáng tác những câu thơ có tính chất bộc lộ thái độ mạnh mẽ Đặc biệt, nhàthơ rất thành công trong việc vận dụng linh hoạt, sáng tạo tục ngữ, thành ngữ, cadao, câu đố vào thơ mình, làm cho câu thơ trở nên giàu tính hình tượng, dễ nhớ, và
độc đáo hơn Trong bài viết này, chúng tôi chỉ đề cập đến Nghệ thuật sử dụng thành ngữ và tục ngữ trong thơ của Hồ Xuân Hương
Trang 2Trong quyển Việt Nam văn học sử yếu của Dương Quảng Hàm, ông cho rằng thành ngữ: ”Là những lời nói do nhiều tiếng ghép lại đã thành lập sẵn, ta có thể
mượn để diễn đạt một ý tưởng của ta khi nói chuyện hoặc viết văn”
“Thành ngữ vốn là những tổ hợp từ mang tính chất tự do, được nhiều người
dùng, cùng tham gia sửa đổi, gọt giũa dần dần trong trường kì lịch sử, cuối cùng cũng trở thành từ cố định”[22;149].
“Thành ngữ là một loại tổ hợp từ cố định, bền vững về hình thái – cấu trúc,
hoàn chỉnh, bóng bẩy về ý nghĩa, được sử dụng rộng rãi trong giao tiếp thường ngày, đặc biệt là trong khẩu ngữ”[7;21]
“Thành ngữ là những cụm từ cố định, hay những ngữ cố định, có nội dung
ngữ nghĩa sâu rộng”[15;3].
“Thành ngữ là đơn vị tương đương với từ, có tính chất cố định, bền chặt về kết cấu, mang ý nghĩa biểu trưng”[2;21].
Trang 3Trong tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam, Vũ Ngọc Phan, nhận định thành ngữ
“Là một phần câu sẵn có, nó là một bộ phận của câu mà người người đã quen dùng, nhưng tự nhiên nó không diễn được một ý trọn vẹn” Thành ngữ hoặc là
những cụm từ mang ngữ nghĩa cố định (phần lớn không tạo thành câu hoàn
chỉnh về mặt ngữ pháp) (không thể thay thế và sửa đổi về mặt ngôn từ) và độc lập riêng rẽ với từ ngữ hay hình ảnh mà thành ngữ sử dụng, thành ngữ thường được
sử dụng trong việc tạo thành những câu nói hoàn chỉnh
Nguyễn Thiện Giáp: Thành ngữ là những đơn vị định danh biểu thị khái niệm nào đó dựa trên những hình ảnh, những biểu tượng cụ thể.
Hoàng Tất Thắng: Thành ngữ là những cụm từ cố định có sẵn trong ngôn ngữ mang chức năng định danh như từ dùng để gọi tên sự vật, hiện tượng, trạng thái, hành động, tính chất … và có tính hình tượng.
Viện ngôn ngữ học: Thành ngữ là những tổ hợp từ “đặc biệt”, biểu thị nhũng khái niệm một cách bóng bẩy hoàn chỉnh về ý nghĩa, bền vững , cố định về hình thái, cấu trúc.
Qua những định nghĩa vừa nêu trên, chúng tôi nhận thấy thành ngữ vừa làmột hiện tượng ngôn ngữ vừa là một yếu tố mang đậm tính dân gian Nó là mộtcụm từ cố định, tương đối bền vững và hoàn chỉnh về cấu trúc – ý nghĩa, có tínhchất tượng hình và gợi cảm cao, có chức năng hoạt động như một từ, được sử dụngtrong đời sống và trong văn chương và cũng được rút ra từ các tác phẩm văn họcbằng con đường dân gian hóa những lời hay ý đẹp
1.2 Khái niệm Tục ngữ
Cũng như thành ngữ, khái niệm tục ngữ cũng được nhiều nhà nghiên cứuđưa ra nhiều hình thức khác nhau:
Trang 4Trong quyển Việt Nam văn học sử yếu của Dương Quảng Hàm, cho rằng:
“Tục ngữ là những câu nói gọn ghẽ và có ý nghĩa lưu hành từ đời xưa, rồi do cửa
miệng người đời truyền đi”
Đỗ Bình Trị cho rằng: “Tục ngữ là những câu nói gọn chắc, xuôi tai, diễn
đạt những kinh nghiệm lâu đời của nhân dân về thiên nhiên và lao động sản xuất,
về con người và xã hội Nó thường được nhân dân vận dụng trong suy nghĩ, trong nói năng và trong những hoạt động thực tiễn của mình”]
Bùi Mạnh Nhị trong “Văn học dân gian – những công trình nghiên cứu” cũng đưa
ra một khái niệm: “Tục ngữ là những câu nói dân gian ngắn gọn, ổn định có nhịp
điệu, hình ảnh và thường mang được nhiều nghĩa, thể hiện những kinh nghiệm của nhân dân về mọi mặt, được nhân dân áp dụng vào đời sống, tư duy và lời ăn tiếng nói hàng ngày”.
Chu Xuân Diên trong Từ điển văn học, đã định nghĩa tục ngữ: “Là những
câu nói ngắn gọn, có nhịp điệu, có hình thức bền vững, được dùng trong lời nói hàng ngày, thường có nhiều nghĩa, hình thành băng cách liên tưởng loại suy”
Trong quyển Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam của Vũ Ngọc Phan, ông đã nhận định tục ngữ “Là một câu tự nó diễn trọn vẹn một ý, một nhận xét, một kinh
nghiệm, một luân lý, một công lý, có khi là một sự phê phán”
Theo chúng tôi, Tục ngữ là lời ăn tiếng nói của dân gian, thường có dunglượng ngắn gọn, dễ hiểu, dễ nhớ, có nhịp, có hình ảnh, thể hiện trí tuệ sâu sắc và
thâm thúy đúc kết kinh nghiệm của nhân dân Nó hình thành từ cuộc sống thực
tiễn Trong đời sống sản xuất và đấu tranh của nhân dân, do nhân dân trực tiếp sángtác
2 Những nét giống nhau và khác nhau giữa thành ngữ và tục ngữ
2.1 Một số nét giống nhau giữa thành ngữ và tục ngữ
Trang 5Nguồn gốc: Thành ngữ, tục ngữ là đơn vị lời nói có sẵn được hình thành và
sử dụng rộng rãi, tự nhiên trong đời sống xã hội Nó được hình thành từ nhiềunguồn khác nhau, ở những thời điểm khác nhau Chủ yếu vay mượn từ thành ngữtục ngữ gốc Hán mà dịch nghĩa ra Tiếng Việt Ví dụ: Thành ngữ: “Đại ngư cật tiểungư” dịch là “Cá lớn nuốt cá bé” Tục ngữ: “Tâm đầu bất tự khẩu đầu” tạm dịch
“Nghĩ một đằng làm một nẻo”.Ngoài ra thành ngữ, tục ngữ còn được hình thành từtác phẩm văn chương, lời ăn tiếng nói hàng ngày của nhân dân Đặc biệt là về hìnhthức cấu trúc (vần, nhịp, kiến trúc song đôi ) đa số thành ngữ, tục ngữ có nét tươngđồng nhau
Về vần :gồm có vần liền và vần cách:
- Vần liền: Vần liền là vần xuất hiện nối tiếp nhau, giữa chúng không có âm
tiết trung tâm Ví dụ: Tục ngữ “đầu xuôi, đuôi lọt”/ Thành ngữ “ Bóp cổ mổ
Xét về nội dung phản ánh : sự giống nhau giữa thành ngữ và tục ngữ là ở chỗ
cả hai đều chứa đựng và phản ánh tri thức của nhân dân về các sự vật và hiện
Trang 6rút lại thành những khái niệm thì ta có thành ngữ, còn khi được trình bày, diễn giảithành những phán đoán thì ta có tục ngữ Ví dụ: Thành ngữ:“Dăm bữa / nửatháng”/ Tục ngữ: “Ở chọn nơi / chơi chọn bạn”.
Chính những nét tương đồng này đã tạo cho thành ngữ, tục ngữ có nhữngđặc điểm riêng không thể lẫn lộn với các thể loại khác, đồng thời cũng làm chothành ngữ, tục ngữ có sức hút đối với độc giả hơn
2.2 Nét khác nhau giữa thành ngữ và tục ngữ
Thành ngữ và tục ngữ được dùng trong lời ăn tiếng nói hằng ngày của nhân
dân ta Nó vốn là hai phạm trù khác nhau của hai ngành ngôn ngữ học và văn học.
Giữa chúng có mối quan hệ mật thiết với nhau, có sự thâm nhập và giao hòa lẫnnhau Sự khác nhau về chức năng của các hình thức tư duy trên đây thể hiện ra ở sựkhác nhau về chức năng của các hình thức ngôn ngữ dùng để hiện thực hoá chúng.Nhìn chung giữa chúng có một số nét khác biệt sau:
Hình thức: Thành ngữ chỉ là một cụm từ, chưa phải là một câu hoàn chỉnh.
Tục ngữ tối thiểu là một câu, một mệnh đề hoàn chỉnh
Nội dung: Thành ngữ diễn đạt một khái niệm, tự nó không diễn đạt một ý
trọn ven Tục ngữ thể hiện một phán đoán Tự do diễn đạt trọn vẹn một ý, mộtnhận xét, một sự phê phán, một kinh nghiệm, một tâm lý, một phong tục tập quán,
một luân lý, một chân lý phổ biến.
Chức năng: Thành ngữ diễn đạt khái niệm nên thành ngữ có chức năng định
danh, còn tục ngữ diễn tả các phán đoán nên tục ngữ có chức năng thông báo
Kết luận tổng quát: thành ngữ là một hiện tượng thuộc lĩnh vực ngôn ngữ.
Còn tục ngữ là một hiện tượng ý thức xã hội, hình thành do nội dung mà nó chứa
Trang 7và tục ngữ về cơ bản là sự khác nhau giữa một hiện tượng ngôn ngữ với một hiệntượng ý thức xã hội Do đó, thành ngữ chủ yếu là đối tượng nghiên cứu của khoahọc ngôn ngữ Còn tục ngữ, tuy có nhiều mặt đáng được khoa học ngôn ngữ chú ý,song về cơ bản cần được nghiên cứu như là một hiện tượng ý thức xã hồi, một hiệntượng văn hoá, tinh thần của nhân dân lao động Có thể thấy rõ sự khác biệt giữatục ngữ và thành ngữ qua bảng sau:
Nội dung - Diễn đạt khái niệm, khái
quát những hiện tượng riêng rẽ.Tự nó không diễnđạt một ý trọn ven
- Diễn đạt phán đoán, khẳng
định một thuộc tính của hiện tương Tự do diễn đạt trọn vẹn một ý, một nhận xét, một
sự phê phán, một kinh nghiệm, một tâm lý, một phong tục tập quán…
Chức năng văn học - Chức năng thẩm mỹ - Chức nâng thẩm mỹ
- Hiện tượng thuộc lĩnh
- Chức nãng thông báo thuộc
lĩnh vực hoạt đông nhận thức
- Hiện tượng ý thức xã hội,
Trang 8vực ngôn ngữ văn hóa, tinh thần của nhân
Hồ Phi Diễn thì họ nay suy tàn Hồ Phi Diễn tương truyền là ông thân sinh của HồXuân Hương, sinh năm 1904 đậu tú tài năm hai mươi bốn tuổi dưới triều Lê BảoThái Nhà nghèo, Hồ Phi Diễn không có tiền để tiếp tục học thêm, ông ra Bắc dạyhọc kiếm sống Ông đồ Diễn thường dạy ở hai tỉnh Hải Dương và Bắc Ninh, về sauông lấy một cô gái Bắc Ninh họ Hà làm vợ lẽ Hồ Xuân Hương là kết quả của cuộctình duyên ấy Trước khi sinh Hồ Xuân Hương, gia đình ông đồ Diễn có một thờisống ở phường Khán Xuân, huyện Vĩnh Thuận, gần hồ Tây, Thăng Long, lúc HồXuân Hương lớn lên gia đình dọn về thôn Tiên Thị, tổng Tiên Túc, huyện ThọXương (nay là phố Lý Quốc Sư, Hà Nội), khi trưởng thành bà có làm ngôi nhà ởgần hồ Tây, lấy tên là Cổ Nguyệt đường Các bài thơ “Chơi chùa Quán Sứ”, “Đềđền Sầm Nghi Đống” còn ghi lại dấu vết những ngày nhà thơ sống ở đất đế đô này
Bà sống vào thời kỳ cuối nhà Lê, đầu nhà Nguyễn, tức 1772-1822 Do đó bà
có điều kiện tiếp thu ảnh hưởng của phong trào đấu tranh của quần chúng và chứngkiến tận mắt sự đổ nát của nhà nước phong kiến Đồng thời, Bà xuất thân trongmột gia đình phong kiến suy tàn, song hoàn cảnh cuộc sống đã giúp nữ sĩ có điều
Trang 9kiện sống gần gũi với quần chúng lao động nghèo, lăn lộn và tiếp xúc nhiều vớinhững người phụ nữ bị áp bức trong xã hội.
Xuân Hương có đi học, thông minh nhưng học không được nhiều Lúc lớnlên, nàng lại thích làm thơ và trong cuộc đời thơ văn thơ văn của mình, Xuânhương có bạn trai rất tri âm là Chiêu Hổ, cũng có người nói người tình của bà là tácgiả của Truyện Kiều
Về cuộc đời riêng của Hồ Xuân Hương có lẽ đều đau nhất còn dấu vết khắcsâu trong trong thơ văn là con đường tình duyên trắc trở của nàng Bà có chồngmuộn, đến khi lấy chồng cũng chẳng ra gì Hai lần lấy chồng là hai lần làm lẽ Mộtlần bà lấy lẽ Tổng Cóc, hai người sống trong cảnh tương đối, sang giàu được ít lâuthì ông mất, sự nghiệp cũng tan theo Sau đó, Hồ xuân Hương quen ông tri phủ ởphủ Vĩnh Tường vì thấy ông có tài Ông là người có tài đã cưới Xuân Hương là vợ
lẽ Cuộc tình duyên mặn nồng hơn với chàng Tổng Cóc ngày xưa, không bao lâuông phủ lại mất, Hồ Xuân Hương là một nữ sĩ đặc biệt đã từ từng gợi cho người tanhững cản giác vui vui, ranh mãnh mà đương thời có người tặng cho nàng cái danhhiệu “Cửu vĩ hồ ly” để đánh giá trị về tài làm thơ độc đáo, sắc sảo, lẹ làng và tinhnghịch
Nàng là nhà thơ có một cuộc đời hoàn toàn bất hạnh, nàng sống trong thời
kỳ phong kiến đã mục rỗng, thối nát và bà là nạn nhân của cái chế độ ấy Là ngườiphụ nữ xuất thân trong một gia đình phong kiến suy tàn, cuộc sống đã đẩy XuânHương xuống tầng lớp tận cùng của xã hội Lòng căm phẫn đối với xã hội bất công:một cái gì tha thiết của cuộc sống riêng tây và sự lăn lộn tiếp xúc với những ngườiphụ nữ bị áp bức trong xã hội, tất cả đã hun đúc nết con người và tài năng của HồXuân Hương, thôi thúc Xuân Hương viết lên những vần thơ nhọn sắc và cháy
Trang 10bỏng, những vần thơ thông minh và tình tứ, những vần thơ rất quần chúng và cũngrất độc đáo
3.2 Sự nghiệp sáng tác
Thơ Hồ Xuân Hương cũng rắc rối, phức tạp như chính cuộc đời nàng Số bàithơ còn lại cho đến nay chủ yếu nhờ vào sự lưu truyền, bảo vệ của nhân dân nên cónhiều dị bản Có nhiều bài, nhiều câu thơ từng tồn tại nhiều cách hiểu khác nhau,
về hoàn cảnh sáng tác của các bài thơ Do thân thế chưa được xác định nên tácphẩm của bà cũng còn nhiều vấn đề các nhà nghiên cứ tranh luận: Xuân Hương thi tập là tập thơ Nôm Đường luật xuất sắc của nền văn học dân tộc
Sáng tác bằng chữ Nôm khoảng 50 bài Ngoài tập thơ này còn có tập Lưu Hương
Ký mang bút danh của nữ sĩ do ông Trần Thanh Mại phát hiện vào năm 1964 gồm
24 bài thơ chữ Hán và 28 bài thơ chữ Nôm Đây là tập thơ tình của nữ sĩ, với mộtnghệ thuật điêu luyện, nhà thơ viết về tình cảm ,tâm sự và mối tình của mình đốivới những người bạn trai Tốn Phong Thị, Hiệp trấn Sơn Nam thượng họ Trần, ôngSơn Phủ, ông Trí Hiên và có cả ông Cần Chánh học sĩ Nguyễn hầu tức Nguyễn Du.Tình cảm trong những bài thơ này thắm thiết, táo bạo
Thế giới nộidung trong thơ nữ sĩ khởi nguồn từ thân phận người phụ nữ:Những nỗi buồn đơn côi và tấn bi kịch, những khát khao không được thoả nguyện,những cảnh ngộ trớ trêu, thậm chí đắng cay chua chát Hồ Xuân Hương là một nhàthơ đầy cá tính, khẳng định mạnh mẽ cái "tôi", đồng thời dám bộc lộc cảnh ngộriêng và thái độ ứng xử của chính bản thân mình Thơ Hồ Xuân Hương là tiếng nóikhinh thị, thách thức ngạo đời, tiếng nói chiến đấu, thơ Hồ Xuân Hương còn tiềm
ẩn nỗi khát khao giao cảm với đời, mông cầu những điều tốt đẹp ở con người Thơ
Hồ Xuân Hương biểu hiện sinh lực của cả một dân tộc bị dồn nén, ức chế lâu ngàytrong nền luân lý trái tự nhiên, giả đạo đức, phi nhân vǎn, đã tìm cách bật trở lại,
Trang 11chống trả lại một cách quyết liệt Thơ của bà còn cảm thông sâu sắc với nỗi khổcủa những người đàn bà phải lấy lẽ, phải chịu cảnh goá bụa, cô đơn Cũng vì lẽ đó,Xuân Hương quyết đứng ra minh oan chiêu tuyết cho những cô giá "không chồng
mà có chửa", đồng thời lên án nghiêm khắc những kẻ bạc tình, những tên sởkhanh, những hạng vũ phu thô bỉ Hình tượng người phụ nữ Việt Nam trong thơ
Hồ Xuân Hương không những được đặt ngang hàng mà đặt lên trên cả đấng màyrâu Thơ Hồ Xuân Hương là một tiếng sấm giữa bầu trời chế độ phong kiến đangthời kỳ mục ruỗng, là tiếng nói bệnh vực mọi tầng lấp phụ nữ cùng khổ Bằng việc
sử dụng chữ Nôm để sáng tác hầu hết các tác phẩm của mình, bà đã nâng cao vị thếcủa ngôn ngữ tiếng Việt Với nhiều tác phẩm thơ Nôm Bà còn vận dụng một cáchsáng tạo các chất liệu của văn học dân gian vào trong sáng tác của mình Đấy chính
là một trong những nét độc đáo làm phong cách thơ Hồ Xuân Hương
Chúng ta có thể tự hào mà khẳng định rằng, thơ Nôm Hồ Xuân Hương - mộtloại thơ ngày càng được người đời tiếp nhận, nhìn nhận lại và suy tụng Điều đólàm cho tư tưởng của bà đi trước thời đại của mình, cũng là lý do độc giả Việt Nam
và cả độc giả phương Tây đến với Xuân Hương, chọn Xuân Hương, say mê, yêuquý Xuân Hương trước cả những nhà nghiên cứu vì người ta cảm thấy XuânHương gần gũi và thân thiết với họ
4 Cách vận dụng thành ngữ và tục ngữ trong thơ Hồ Xuân Hương 4.1 Khái quát chung về thành ngữ và tục ngữ trong thơ Hồ Xuân Hương
Qua sự khảo sát trong số 39 bài thơ trong tập Thơ Hồ Xuân Hương do tác
giả Nguyễn Lộc tuyển chọn và giới thiệu được Nhà xuất bản Văn học xuất bảnnăm 1987, chúng tôi đã phát hiện được 15 trường hợp có xuất hiện các yếu tố củathành ngữ, tục ngữ trong những câu thơ Sau khi khảo sát toàn bộ 48 tác phẩmtrong “Hồ Xuân Hương, thơ và đời” của Lữ Huy Nguyên, nhà xuất bản Văn học,
Trang 12năm 2011, chúng tôi phát hiện 47 trường hợp thành ngữ, tục ngữ trong những bàithơ được sử dụng với nhiều hình thức khác nhau: Trong đó sử dụng nguyên vẹn là
8, sử dụng sáng tạo là 39 trong đó có sáng tạo ngữ âm, mượn thành ngữ, tục ngữgốc, đảo trật tự cú pháp Đây là con số không nhỏ, nó cho thấy thành ngữ, tục ngữtrong thơ Hồ Xuân Hương có vị trí và vai trò đặc biệt quan trọng Quả là hiếm cómột nhà thơ lại quan tâm đặc biệt đến vai trò của ngôn ngữ dân gian như XuânHương
Việc đưa thành ngữ, tục ngữ vào tác phẩm đã được nhà thơ xử lí rất tinh tế,tài tình và nhuần nhuyễn Có những tác phẩm tuy rất ngắn nhưng chúng ta đãkhông khỏi ngạc nhiên khi thấy tác giả đã hai lần sử dụng đến yếu tố thành ngữ,
tục ngữ Chẳng hạn như: Bài Mời trầu có hai câu thành ngữ xanh như lá và bạc
như vôi được áp dụng trong câu thơ "Đừng xanh như lá, bạc như vôi" Bài Khóc Tổng Cóc lại có hai câu thành ngữ khác là nòng nọc đứt đuôi và gọt gáy bôi vôi
được áp dụng trong hai câu thơ “Nòng nọc đứt đuôi từ đây nhé, Nghìn vàng khôn
chuộc dấu bôi vôi” Hoặc như ở bài Quan thị thì hai câu thơ "Đố ai biết đó vông hay trốc, Còn kẻ nào hay cuống với đầu" lại chính là hai hình ảnh hết sức ví von
được rút ra từ hai câu tục ngữ ngồi lá vông, chổng mông lá trốc và đầu trỏ xuống,
cuống trỏ lên Thậm chí có bài như bài Làm lẽ, chỉ với tám câu thơ ngắn nhưng lại
có tới ba câu thành ngữ đã góp phần vào trong ấy, đó là "Năm thì mười hoạ chăng
hay chớ" lấy từ ý của câu thành ngữ năm thì mười hoạ; “Cố đấm ăn xôi, xôi lại hẩm" lấy từ ý của câu thành ngữ cố đấm ăn xôi; và câu "Cầm bằng làm mướn, mướn không công" lấy từ ý của thành ngữ làm mướn không công Ngoài ra, còn có
những bài khác cũng được vận dụng từ ý của thành ngữ, tục ngữ như: "Tài tử văn
nhân ai đó tá?" (Tự tình I) lấy ý của thành ngữ tài tử giai nhân "ấy ai thăm ván cam lòng vậy" (Tự tình III) lấy ý thành ngữ thăm ván bán thuyền "Bảy nổi ba
Trang 13chìm với nước non" (Bánh trôi nước) ý của thành ngữ ba chìm bảy nổi (bảy nổi ba chìm) "Mỏi gối chồn chân vẫn muốn trèo" (Đèo Ba Dội) ý của thành ngữ mỏi gối chồn chân "Bán lợi mua danh nào những kẻ" (Chơi chợ chùa Thầy) ý của thành
ngữ bán lợi mua danh (mua danh bán lợi) Và "Đêm ngày lăn lóc đám cỏ hôi" (Con ốc nhồi) từ ý của thành ngữ lăn lóc như cóc bôi vôi.
Hầu hết những thành ngữ, tục ngữ vận dụng trong sáng tác của Hồ XuânHương đều mang màu phong cách khẩu ngữ Thành ngữ, tục ngữ của nàng sử dụngrất gần gũi với lời ăn tiếng nói hàng ngày của nhân dân, kèm theo ngôn ngữ sángtạo của mình khiến cho ngôn ngữ trong tác phẩm hết sức tinh tế, hết sức thâm sâu.Nói tóm lại, những thành ngữ, tục ngữ được sử dụng trong sáng tác của XuânHương rất thông dụng, súc tích và gần gũi với thói quen với ngôn ngữ của ngườiViệt Chúng được vận dụng ở nhiều dạng khác nhau tùy theo hoàn cảnh cụ thể, khiở dạng nguyên mẫu, có khi sáng tạo mô phỏng Tất cả nhằm mục đích làm cho nộidung của tác phẩm đạt hiệu quả nghệ thuật cao Đây được xem là một trong nhữngthành công trong sáng tác của nhà thơ
4.2 Phương thức vận dụng thành ngữ và tục ngữ trong thơ Hồ Xuân Hương 4.2.1 Thành ngữ, tục ngữ được sử dụng nguyên vẹn
Sử dụng nguyên vẹn nghĩa là nhà thơ không có bất cứ sự thay đổi nào về cấutrúc hình thức cũng như nội dung ý nghĩa của thành ngữ, tục ngữ Nói như thếkhông có nghĩa là hạn chế việc sử dụng thành ngữ, tục ngữ trong sáng tạo của nhàthơ Có thể nhận thấy các tác phẩm của Xuân Hương thành ngữ ,tục ngữ nguyênvẹn đều được nhà thơ sử dụng một cách nhuần nhuyễn và rất tự nhiên, bằng cáchđặt nó vào vị trí ngôn ngữ thơ của mình hợp với nội dụng, ngữ cảnh mà tác giả
muốn diễn đạt Chẳng hạn như trường hợp: xanh như lá, bạc như vôi (Đừng xanh
như lá, bạc như vôi - Mời trầu); nòng nọc đứt đuôi (Nòng nọc đứt đuôi từ đây nhé
Trang 14- Khóc Tổng Cóc); năm thì mười hoạ, (Năm thì mười hoạ chăng hay chớ - Làm lẽ); cố đấm ăn xôi (Cố đấm ăn xôi, xôi lại hẩm - Làm lẽ); bảy nổi ba chìm (Bảy nổi
ba chìm với nước non - Bánh trôi nước); mỏi gối chồn chân (Mỏi gối chồn chân vẫn muốn trèo - Đèo Ba Dội); bán lợi mua danh (Bán lợi mua danh nào những kẻ
- Chơi chợ chùa Thầy) Nhờ vận dụng phong phú và linh hoạt thành ngữ nguyên
vẹn trong sáng tác, Xuân Hương đã nêu bật, nhấn mạnh rõ hơn ý nghĩa của các từcần biểu đạt trong câu thơ và là cho hệ thống ngôn từ trong mỗi bài thơ thêm đa
dạng, biến hóa, sinh động, đầy hấp dẫn Ở bài thơ Mời trầu bằng việc sử dụng tính
từ chỉ mầu sắc trong một số thành ngữ để nhấn mạnh sự đối lập giữa mầu trắng(bạc) của vôi, màu xanh của lá trầu khi miếng trầu mời khách vẫn chưa được người
ăn, với màu đỏ (thắm) của miếng trầu khi đã được người ăn, Xuân Hương đã diễn
tả tế nhị lời mời khách, mời bạn hãy nhận miếng trầu của “Hồ Xuân Hương” tự taytêm lấy và đưa ra mời Đồng thời nhờ vận dụng thành ngữ, mà đằng sau là lời mờitrầu niềm nở, thân mật ấy còn ngân vọng một lời tỏ tình, giao duyên nồng nàn,đằm thắm của cô gái, của một Xuân Hương đang sống cô đơn giữa cuộc đời,nhưng trong lòng vẫn ấp ủ một khao khát vô cùng tốt đẹp, khao khát trai gái hòahợp, gắn bó với nhau nên vợ nên chồng bởi tình yêu và bởi sự run cảm của sốphận Niềm ao ước khát khao như thế, bởi nàng biết sự rung cảm của tình yêu sẽdẫn đến hệ kết quả là sự phụ bạc Xuân Hương tự nhắc người quân tử trong xã hộiphong kiến “Đừng xanh như lá bạc như vội”, đó là tiếng răn đe, cảnh tỉnh, hàmthêm một nghĩa phê phán
Như chúng ta đã biết, trong xã hội phong kiến, có lẽ học trò là những người
tự trọng nhất, hiểu biết nhất Thế nhưng đối với Xuân Hương thì họ chẳng hiểu biết
được gì, nàng rất rõ cái đám học trò dốt ấy nên mới hạ cho một từ Lũ ngẩn ngơ, ý
nàng là khinh thị, những đám học trò ấy chữ nghĩa hiểu biết chẳng đến đâu, cái tríkhôn cái độ lớn trong người họ chưa đủ làm gì nên chuyện Thái độ khinh bỉ, chê