1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

CẢM HỨNG THẾ sự TRONG TRUYỆN NGẮN PHẠM DUY tốn

27 375 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 57,3 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦUNếu ở giai đoạn trước, cảm hứng yêu nước, cảm hứng sử thi… là cảm hứngchủ đạo của các nhà văn trước buổi bình minh của tiến trình hiện đại hóa văn học,thì với văn học giai đoạn cuố

Trang 1

MỞ ĐẦU

Nếu ở giai đoạn trước, cảm hứng yêu nước, cảm hứng sử thi… là cảm hứngchủ đạo của các nhà văn trước buổi bình minh của tiến trình hiện đại hóa văn học,thì với văn học giai đoạn cuối thế kỉ XIX – đầu thế kỉ XX, các nhà văn đã bắt đầuhướng cái nhìn, sự quan tâm của mình nhiều hơn đến hiện thực cuộc sống, họ bắtđầu nói nhiều hơn, suy ngẫm nhiều hơn về những giá trị đạo đức, nhân cách sốngcủa con người

Có thể nói, vấn đề thế sự là vấn đề nhận được nhiều sự quan tâm của độcgiả, bởi lẽ đó là những gì gần gũi, gắn bó với đời sống con người Đặc biệt là đốivới những người cầm bút, bởi họ là những người có tâm hồn nhạy cảm trước thờicuộc và bởi để tạo nên những tác phẩm có giá trị lớn thì tác phẩm đó phải mangtính hiện thực xã hội, gẫn gũi với thực tế cuộc sống và phản ánh chân thực nhữngvấn đề đang diễn ra trong cuộc sống của con người Văn học giai đoạn này đã đạtđược nhiều thành tựu với những cây bút xuất sắc như Hồ Biểu Chánh, Phạm DuyTốn, Nguyễn Bá Học, Đặng Trần Phất…

Trong số những nhà văn đó, Phạm Duy Tốn là nhà văn tiên phong của nềnvăn học mới đầu thế kỉ XX Ông viết văn không nhiều Toàn bộ văn nghiệp chỉ đểlại có bốn truyện ngắn, nhưng ông vẫn được đánh giá là một nhà văn có ảnh hưởngquan trọng đối với văn học Việt Nam trong thời kì đầu hiện đại hóa Đối với truyệnngắn của ông, cảm hứng thế sự là một trong những yếu tố quan trọng góp phần tạo

nên thành công cho tác phẩm Vì vậy, chúng tôi chọn đề tài Cảm hứng thế sự trong truyện ngắn Phạm Duy Tốn để khám phá những giá trị về nội dung trong các sáng tác của Phạm Duy Tốn (Câu chuyện thương tâm, Con người sở khanh, Nước đời lắm nỗi, Sống chết mặc bay) và đồng thời muốn khẳng định sự đóng

góp của ông đối với nền văn học nước nhà giai đoạn 1900-1945

Trang 2

CHƯƠNG 1 CẢM HỨNG THẾ SỰ VÀ SÁNG TÁC CỦA PHẠM DUY TỐN

1.1. Cảm hứng và cảm hứng thế sự

1.1.1. Theo Từ điển thuật ngữ văn học, cảm hứng chủ đạo là trạng thái tình cảm mãnh

liệt, say đắm xuyên suốt tác phẩm nghệ thuật, gắn liền với một tư tưởng nhất định, một sự đánh giá nhất định, gây tác động đến cảm xúc của những người tiếp nhận tác phẩm.

Lí luận văn học định nghĩa: cảm hứng là một tình cảm mạnh mẽ, mang tư

tưởng, là một ham muốn tích cực đưa đến hành động

Có thể nói, thuật ngữ cảm hứng chủ đạo lúc đầu chỉ yếu tố nhiệt tình say sưadiễn thuyết, sau chỉ là một trạng thái mê đắm xuất hiện trong tứ thơ Về sau, lí luậnvăn học xem cảm hứng chủ đạo là một yếu tố nội dung nghệ thuật, của thái độ tưtưởng, cảm xúc ở nghệ sĩ đối với thế giới được mô tả

Cảm hứng của tác phẩm trước hết là sự say mê khẳng định chân lí, lí tưởng,phủ định sự giả dối và mọi hiện tượng xấu xa, tiêu cực; là thái độ ngợi ca, đồngtình với những nhân vật chính diện; là sự phê phán, tố cáo các hiện tượng đen tốicác thế lực tầm thường Tuy nhiên, cảm hứng trong nghệ thuật phải là cảm hứng

mang tư tưởng Vưgôtxki từng khẳng định, đó phải là tiếng nói của một trái tim thông minh, trái tim biết suy nghĩ Nghĩa là cảm hứng trong tác phẩm không phải là

cái tình cảm được xướng lên, mà phải là tình cảm mãnh liệt, toát ra từ tình huống,

từ tính cách, sự miêu tả và nội dung của nó bao giờ cũng là một tình cảm xã hộiđược ý thức

1.1.2. Cảm hứng thế sự là cảm hứng về cuộc sống đời thường, về thế thái nhân tình, về

con người của thực tại Những tác phẩm mang cảm hứng thế sự chú ý khẳng địnhgiá trị thẩm mĩ của cái đời thường, khám phá mọi phức tạp, éo le và cả cái cao quí

trên hành trình đi tìm sự sống và hạnh phúc của con người.

1.2. Khuynh hướng tiếp cận thế sự của văn học thế kỉ XX

Trang 3

1.2.1. Ra đời khoảng năm 1804, Sơ kính tân trang của Phạm Thái (1777-1813) đáng kể

là một hiện tượng độc đáo của văn học dân tộc: trong khi suốt thời trung đại các

truyện nôm của ta như Hoa tiên, Nhị độ mai, Lục Vân Tiên thường phỏng dịch lại các truyện Tàu hoặc lấy cảm hứng từ sách vở bên Tàu thì Sơ kính tân trang là một

thứ tự truyện của tác giả, địa điểm mô tả là ở Việt Nam, nhân vật là người ViệtNam

Dù vậy chăng nữa, bút pháp miêu tả trong Sơ kính tân trang nhìn chung vẫn

là một thứ bút pháp ước lệ nó là một phần của thi pháp văn học trung đại Nếu ở

Truyện Kiều, Nguyễn Du đã cho ta biết cô Kiều đẹp, qua những câu thơ: Làn thu thủy nét xuân sơn – Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh, thì ở Sơ kính tân trang Phạm Thái cũng tả người bằng lối so sánh đó, mà xem ra lại không chau

chuốt bằng: Chiều cá nhảy vẻ nhạn sa – Mặt long lanh nguyệt tóc rà rà mây Đây

là một đặc điểm quán xuyến trong nền văn học ở ta từ thế kỷ XIX về trước, mộtnền văn học trung đại, mà trước khi Pháp chiếm Việt Nam, đã có những dấu hiệu

bế tắc

Phải đến đầu thế kỷ XX, khi mà cơ sở xã hội thay đổi theo hướng Âu hóa rồi

cả nền văn học đổi hướng theo thì những khuôn sáo ấy mới được dứt bỏ dần dần.

Từ chỗ văn chương tập cổ, văn chương ước lệ “ở bên ta mà nói chuyện bên Tàu”người ta bắt đầu làm nên một thứ văn chương nói ngay về cuộc sống bên cạnhmình, nếu có cần lấy mẫu thì chép ngay cái mẫu sinh động của đời sống, chứkhông theo những mẫu sẵn có trong sách vở nước ngoài Đứng ở cuối thế kỷ XXnhìn lại, có thể bảo đây là chuyện đương nhiên, thế nhưng chỉ cần đặt mình vàocuộc sống đầu thế kỷ sẽ thấy đây là cả một bước chuyển khó khăn, phải có sự nỗlực của nhiều người mới làm nổi

1.2.2. Mở đầu thiên truyện Thầy Lazaro Phiền (1887), Nguyễn Trọng Quản viết: “Tôi

một có ý dụng lấy tiếng thường mọi người hằng nói mà làm ra một truyện hầu cho

kẻ sau coi mà bầy đặt cùng in ra ít nhiều truyện hay, trước là làm cho trẻ ham vui

Trang 4

mà tập đọc, sau là làm cho các dân các xứ biết rằng người An nam sánh trí sánh tàithì cũng chẳng kém ai”.

Như vậy, là những tìm tòi nhằm xây dựng văn chương hiện đại đã có từ cuốithế kỷ trước và bắt đầu ngay ở Nam bộ, song phải qua thế kỷ XX, và trong khôngkhí của mảnh đất văn học chung quanh Hà Nội, nó mới diễn ra đầy đủ để đi đếnchỗ hoàn thiện Lúc đầu, người ta còn viết tiểu thuyết bằng cái giọng của nhữngảnh hưởng từ Trung Quốc, nhưng nó sẽ sớm bị vượt qua và các sáng tác viết theobút pháp phương Tây sẽ nổi hẳn lên Sở dĩ các truyện ngắn của Phạm Duy Tốn

hoặc tiểu thuyết Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách đến cuối thế kỷ này còn đọc lại

được lý do một phần là vì chúng được viết bằng một tư duy văn học hiện đại, gầnvới tư duy con người đương thời Một lý do nữa khiến chúng trường tồn: chúng đểlại những bằng chứng, những tư liệu về cuộc sống con người mà ngày nay chúng ta

biết rất ít Chẳng hạn như Tố Tâm, quyển tiểu thuyết ấy của Hoàng Ngọc Phách

không chỉ đáng nhớ vì đã diễn tả tâm lý con người đương thời, mà còn ghi lại hộchúng ta những chi tiết cụ thể, nào là Tố Tâm “bịt khăn tua đen” và “đi xe sắt” nào

là Đạm Thủy và Tố Tâm gặp nhau ở ngoài bãi bể Đồ Sơn bấy giờ là chuyện hoàntoàn mới mẻ!

Tới đầu những năm ba mươi, những biến chuyển mở ra từ Nguyễn TrọngQuản, Trần Chánh Chiếu, Phạm Duy Tốn, Hoàng Ngọc Phách… nổi lên thành mộtphong trào rầm rộ Xu thế hướng vào thực tại trở nên có sức bao quát, chi phối mọidòng phái sáng tác, kể cả những dòng khác nhau nhất

Mặc dù rất yêu kính Tản Đà, các nhà Thơ Mới thường cũng mang thơ Tản

Đà ra chế giễu Tú Mỡ viết trên Phong hóa: Cây tươi tốt lá còn xanh ngắt/ Bói

đâu ra lác đác lá ngô vàng/ Trên đường đi nóng rẫy như rang/ Cảnh tuyết phủ mơ màng thêm quái lạ Trong khi diễn tả những cảm giác sôi nổi bồng bột của người

Trang 5

thanh niên đương thời, các nhà Thơ Mới mang vào các sáng tác của mình một

không khí Việt Nam, từ “gió nồng say trên hồ sen dào dạt” đến “con đường nho nhỏ gió xiêuxiêu”, từ buổi trưa xao xác tiếng gà tới canh khuya thoảng hương hoa

bưởi Nói như Hoài Thanh, Thơ Mới ra đời là để đáp ứng một nhu cầu của lớp

trẻ: nhu cầu được thành thực.

Trong một số sách lịch sử văn học, Tự lực văn đoàn thường được miêu tảnhư một nhóm nhà văn đại diện cho chủ nghĩa lãng mạn, xa rời đời sống Songcông bằng mà nói, chính trong tôn chỉ của mình, Tự lực văn đoàn đã đặt vấn đề “cangợi những nết hay vẻ đẹp của nước mà có tính cách bình dân, khiến cho ngườikhác đem lòng yêu nước một cách bình dân” Và sự thực là cái hấp dẫn ở tác phẩmcủa họ, không phải chỉ có tình yêu trai gái, mà còn là những phong cảnh sinh hoạtđời thường: câu chuyện đối đáp trên một đoạn đường cái quan thuộc vùng quê BắcNinh; nếp sống thanh bình ở những làng xóm trung du, mạn Phú Thọ Rồi cái vắng

vẻ của một phố huyện, vẻ ồn ào đáng yêu của Hà Nội 36 phố phường Trước khitrở thành nhàm chán, những nét hiện thực thơ mộng này đã làm cho nhiều ngườisay mê, chắc chắn nó đã vượt rất xa so với lối miêu tả mang tính cách chắp nốitrong tư duy sáng tác thủa giao thời, nay còn đọc thấy trong văn xuôi Tản Đà hoặc

các tiểu thuyết như Cuộc tang thương (Đặng Trần Phất), Kim Anh lệ sử (Trọng

Khiêm)…

Việc hướng cái nhìn vào thực tại cố nhiên chỉ được coi là hoàn chỉnh khi màcác nhà văn như Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Nguyên Hồng,

Nam Cao… cho in ra những tác phẩm như Tắt đèn, Bước đường cùng, Vỡ đê, Bỉ

vỏ, Đôi lứa xứng đôi… Không phải ngẫu nhiên, các tác phẩm này được xếp vào

một cái ô chung là chủ nghĩa hiện thực Bức tranh thực tại lúc này đòi hỏi phải baoquát hơn, cách hiểu về thực tại cũng đã sâu sắc hơn: trong chủ nghĩa hiện thực ở

Trang 6

đây thường bao gồm cả chủ nghĩa nhân đạo, tố cáo những thế lực áp bức conngười, và nói chung là muốn cho con người sống ngày một tốt đẹp.

Như các nhà nghiên cứu thường nhận xét, nhìn chung văn học Việt Nam từkhoảng 1920 trở đi có tốc độ biến chuyển rất mau lẹ Sở dĩ vậy vì chỉ trong có đâuvài chục năm, nền văn học ấy đã diễn lại những bước đi của các nền văn học Âuchâu trong một thời gian dài từ thế kỷ XIX về trước, tức là đi qua cả mấy giaiđoạn: Chủ nghĩa tình cảm, chủ nghĩa lãng mạn, rồi bộc lộ một cách đầy đủ hơn ởchủ nghĩa hiện thực

Trên con đường khám phá ngày một sâu sắc hơn đời sống, nhằm mang lạicho khái niệm thực tại những ý nghĩa mới, từ đầu thế kỷ XX, bên phía trời tây thấy

hình thành nên khá nhiều xu hướng nghệ thuật mới, như chủ nghĩa tự nhiên, chủ

nghĩa tượng trưng, chủ nghĩa siêu thực… và ít nhiều cũng có ảnh hưởng đến ViệtNam dù là chỉ ở mức độ bé nhỏ, hoặc tạo nên những biến dạng rất khác nhau (thơ

Hàn Mặc Tử, thơ Xuân Thu nhã tập; những tiểu thuyết như Cát lầy của Thanh

Tâm…)

Thế nhưng, một đột biến của lịch sử đã xảy tới, đó là Cách mạng tháng 8 vàhai cuộc kháng chiến kéo dài ba chục năm Luôn luôn xã hội có những yêu cầu cấpbách đặt ra với văn học Những kinh nghiệm mà văn học đã tích lũy được từ đầuthế kỷ, trong đó có những thành tựu cụ thể của việc xây dựng nền văn chương theohướng hiện đại, đòi hỏi phải được khai thác một cách triệt để Cái nhìn hướng vàothực tại là một lợi thế, giúp cho ngòi bút của các nhà văn đáp ứng những nhu cầumới mẻ đó

Chưa bao giờ, những thiên truyện, những bài thơ, có dịp miêu tả kỹ lưỡngđời sống Việt Nam như lúc này Trước khi có điện ảnh truyền hình, văn chương đã

Trang 7

đóng vai trò một thứ thiết bị ghi chép đời sống, một thứ bách khoa thư để người tatra xét, mỗi khi muốn biết những phương diện khác nhau của đời sống sản xuất và

chiến đấu đang diễn ra hàng ngày Đọc Tô Hoài (Vợ chồng A Phủ, Mường Giơn…) để biết sự thức tỉnh của đồng bào các dân tộc Việt Bắc trong kháng chiến chống Pháp Đọc Nguyễn Tuân (Sông Đà) để nhớ lại không khí bạt núi mở đường

ở miền Tây đầu những năm 60 Những buổi họp hợp tác trong văn Nguyễn Khải,Nguyễn Kiên Tâm lý anh lính học trò trong văn Nguyễn Minh Châu Tiếng cườicủa các cô thanh niên xung phong trong thơ Phạm Tiến Duật Tiếp đó, tới nhữngnăm 80 và 90, qua sáng tác của những Nguyễn Duy, Thanh Thảo, Nguyễn QuangThân, Lê Minh Khuê, Nguyễn Huy Thiệp, Bảo Ninh, Bùi Chí Vinh, Lý Lan, PhanThị Vàng Anh… Thực tại lại hiện ra với những chiều cạnh mà trước kia chưa hề

có Bởi lẽ thực tại là vô cùng, cho nên chỉ đuổi theo nó thì không hề kịp, tới lúcnào đó, người ta phải nghĩ tới những cách tiếp cận mới hòng nắm bắt được cái bảnchất thực sự của đời sống Nhưng đó là chuyện của những nền văn học khác, hìnhthành trong những hoàn cảnh khác Còn với văn học Việt Nam thế kỷ XX, thì cáchtiếp cận hiện nay vẫn đang được tiếp tục triển khai và khi nhớ lại thứ văn thơ ước

lệ đầy rẫy những từ chương điển cố ngày xưa… người ta có thể mỉm cười, vì biếtrằng như vậy là mình đã tiến được những bước dài

Từ sau tháng Tám 1945, văn chương đã khác đi bao nhiêu, duy có xu hướngbắt rễ vào đời thực thì không những được tôn trọng mà còn được đẩy lên hoànchỉnh hơn và áp dụng thật rộng rãi Khi còn ký bút danh Bùi Đức Ái, nhà văn Anh

Đức có một cuốn tiểu thuyết mang tên Một truyện chép ở bệnh viện Nhà thơ Nguyễn Đình Thi trong kháng chiến chống Pháp có một bài thơ tình mang tên: Bài thơ viết cạnh đồn Tây Nhiều tác phẩm khác của các tác giả khác, cũng có thể

mang các tiêu đề tương tự, bởi nó có liên quan tực tiếp đến bước đường đời mà nhàvăn đã trải

Trang 8

1.3. Phạm Duy Tốn và sự mở đầu trào lưu văn học mới

Phượng Vũ, xã Phượng Dực, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Đông (nay là huyện PhúXuyên, Hà Nội) Cha Phạm Duy Tốn là ông Phạm Duy Đạt và mẹ là bà NguyễnThị Huệ

Trong bài Nói chuyện với Phạm Duy về Phạm Duy Tốn (báo Văn số 169),

nhà văn, nhà báo Vũ Bằng dẫn lời Phạm Duy cho biết ông Phạm Duy Đạt là mộtông chánh tổng, còn bà Nguyễn Thị Huệ là “một người ả đào cũ kỹ nổi tiếng háthay một thời” Sau khi lấy nhau, bà Huệ bỏ nghề hát về bán dầu Cũng theo lờiPhạm Duy, nhờ nghề buôn bán của gia đình ông nội nên “chắc bố tôi cũng đượclớn lên trong một hoàn cảnh dễ chịu, không bị thôi thúc vì đồng tiền” (Phạm

Duy, Viết về bố, báo Văn số 169) Thuở nhỏ, Phạm Duy Tốn học chữ Nho Sau ông

cùng với các ông Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh, Trần Trọng Kim học trườngThông ngôn Hà Nội ở Yên Phụ và tốt nghiệp năm 1901

Sau khi tốt nghiệp, Phạm Duy Tốn được bổ làm thông ngôn ngạch tòa

sứ Ninh Bình rồi sang Thị Cầu (tòa sứ Bắc Ninh) Lúc ấy, ông nổi tiếng là mộtthông ngôn có bản sắc riêng Tuy nhiên, ông nhanh chóng bỏ công việc đúng theo

sở học của mình mà không rõ lý do

Sau khi bỏ việc thông ngôn, Phạm Duy Tốn đi dạy học ở trường Trí Tri, phốHàng Quạt, Hà Nội Là một trong số những người Việt Nam đầu tiên cắt tóc ngắn

và mặc trang phục châu Âu, Phạm Duy Tốn cùng Nguyễn Văn Vĩnh là hai trong sốnhững người sáng lập phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục ở Hà Nội năm 1907

Sau khi thôi dạy học, ông làm đủ các nghề khác nhau Đầu tiên là mở mộttiệm cao lâu ở phố Cầu Gỗ, Hà Nội Theo Phạm Duy, nghề mở tiệm ăn lúc đó nằm

Trang 9

trong tay Hoa kiều, tiệm cao lâu của ông Phạm Duy Tốn là tiệm đầu tiên của ngườiViệt Nam Tuy nhiên, tiệm không cạnh tranh được và phải đóng cửa Ông lại vaytiền để mở một tiệm vàng tên là Nam Bảo Tiệm vàng thất bại, Phạm Duy Tốn lạicùng một số bạn bè đi tìm mỏ ở Quảng Yên, nhưng theo lời Phạm Duy, “việc tìm

mỏ chắc không đem lại cho bố tôi những thích thú về tiền bạc hay tinh thần”

Sau khi thất bại liên tục trên đường tìm sinh kế, Phạm Duy Tốn được mộtngười bạn Pháp giúp đỡ bằng cách giới thiệu vào làm việc cho chi nhánh của Ngânhàng Đông Dương ở Mông Tự, Trung Quốc Ông ở Trung Quốc không lâu, lại bỏviệc trở về và quyết định theo đuổi nghề mà xưa nay ông vẫn cho là nghề phụ: viếtvăn, làm báo Ngày 25 tháng 2 năm 1924, Phạm Duy Tốn qua đời tại nhà riêng ở

Hà Nội

1.3.2. Phạm Duy Tốn viết văn không nhiều Toàn bộ văn nghiệp của ông chỉ để lại có bốn

truyện ngắn: Bực mình (Ðông Dương tạp chí số 55, Hà Nội, 1914), Sống chết mặc bay (báo Nam Phong, Hà Nội, ngày 8 tháng 12 năm 1918), Con người sở khanh (báo Nam Phong, Hà Nội, tháng 2 năm 1919) và Nước đời lắm nỗi (báo Nam Phong, Hà Nội, ngày 23 tháng 5 năm 1919) Nhưng Phạm Duy Tốn vẫn

được đánh giá là một nhà văn có ảnh hưởng quan trọng với văn học Việt Namtrong thời kỳ đầu hiện đại hóa

Trước đó, văn học Việt Nam còn xa lạ với những hình thức và cách thể hiệnvăn chương hiện đại Phạm Duy Tốn đã trở thành một trong những người tiênphong mở lối cho giai đoạn thành tựu rực rỡ của nền văn học Việt Nam cách tângiai đoạn sau này Thay vì viết những tác phẩm văn xuôi theo khuôn khổ truyềnthống, Schafer nhận xét ông đã “mở ra cánh cửa sổ đến một thế giới khác, thế giớikhông chỉ bao gồm trí thức và những tầng lớp trên, mà cả nông dân và nhữngngười kéo xe cần lao”

Trang 10

Các nhà phê bình thời bấy giờ thường so sánh Phạm Duy Tốn với Nguyễn

Bá Học, một nhà văn cùng thời cũng viết các truyện ngắn Truyện của Nguyễn BáHọc, dù cũng được coi là văn mới, nhưng vẫn được viết theo phong cách trangtrọng và cổ điển Như Thanh Lãng đã chỉ ra, Nguyễn Bá Học muốn duy trì nhữngnền nếp đạo đức Nho giáo cổ truyền và cổ súy cho điều đó thông qua các tác phẩmcủa mình, còn Phạm Duy Tốn muốn cải cách xã hội, nên các tác phẩm của ôngthường có khuynh hướng hòa nhập vào xã hội hiện thực rất rõ ràng, sâu sắc

Trang 11

CHƯƠNG 2

SỰ THỂ HIỆN CẢM HỨNG THẾ SỰ TRONG TRUYỆN NGẮN PHẠM

DUY TỐN NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN NỘI DUNG 2.1 Hiện thực về đời sống kinh tế của xã hội đương thời

2.1.1 Sau khi hoàn thành công cuộc bình định ở Việt Nam, đầu thế kỷ XX thựcdân Pháp đã đặt bộ máy cai trị của chúng lên toàn cõi đất nước ta Bắc kì, Trung kì

là xứ bảo hộ, Nam kì là đất thuộc địa Tuy có sự khác biệt trong chế độ quản lí củachính quyền thực dân ở từng miền, nhưng đâu đâu trên đất nước này cũng nằmdưới sự thống trị của Pháp Mọi người dân Việt Nam đều có chung số phận: nô lệ

Với chính sách khai thác thuộc địa của thực dân Pháp, nền kinh tế ngày càngsuy thoái, kiệt quệ Đó là tình trạng lạc hậu trong kĩ thuật sản xuất nông nghiệp, đấtđai tập trung vào tay địa chủ Người nông dân xa lạ với mọi phương tiện hiện đại,sản xuất theo tập quán, lệ thuộc vào thời tiết Hạn hán, lũ lụt xảy ra triền miên.Người lao động không chỉ sống nghèo khổ mà cuộc đời còn chìm đắm trong sự dốtnát Trước những tình cảnh đó, họ phải lao động cật lực để thoát khỏi cái đói, cáinghèo

Đó là hình ảnh ông lão trong Câu chuyện thương tâm (trích Bực mình) của

Phạm Duy Tốn với thân hình gầy gò, yếu đuối, khẳng kheo, cố công cùng sức kéo miết cái xe tay, mà không sao đi nhích được Xe chất hai bồ nghe chừng đã nặng,

lại thêm một mụ vắt vẻo ngự ở trong xe Cụ đã già mà nắng mưa vẫn lặn lội mưusinh, âu cũng vì hoàn cảnh đã đẩy con người đến bước đường cùng Ông lão nhìn

vị thanh niên mà hai con mắt ông, trông mờ mờ, hình như ruột nhãn, nước chảy chứa chan, mà chung quanh vành thì đỏ ửng, ông ngập ngừng:

- Thưa cậu, tôi ở tỉnh Sơn Tôi có mỗi một thằng con trai Năm ngoái trời làm lụt lội, đê điều vỡ lở, chẳng may con tôi chết đuối Nó để lại một lũ con thơ Bây giờ nhà nghèo khổ, trẻ nhỏ ốm đau, sài ghẻ; vợ nói phải ở nhà trông nom để tôi xuống Hà Nội kéo xe thuê mướn, kiếm mỗi ngày lấy răm ba xu, một hào, mà

Trang 12

nuôi nấng đàn cháu mồ côi, cậu ạ Tôi ngoài sáu mươi rồi, cho nên cũng yếu Phải đường đá đau chân, mà xe lại nặng, kéo không sao nổi

Hoàn cảnh của cụ cũng chỉ là một hoàn cảnh điển hình trong muôn vạn hoàncảnh đói khổ khác, nhưng trong đó lại chất chứa một nỗi niềm ẩn sâu, một trái timyêu thương vô bờ của ông cụ dành cho con cháu Cái đói, cái nghèo có thể làm conngười ta tha hóa, nhưng cái đói cũng khiến con người ta chấp nhận hoàn cảnh vàvượt lên trên hoàn cảnh

2.1.2 Bên cạnh sự suy thoái về kinh tế, Phạm Duy Tốn cũng có cái nhìn sâu sắc

vấn đề đồng tiền trong xã hội giao thời Trong truyện Con người sở khanh, Phạm

Duy Tốn đã lên án gay gắt sức mạnh của đồng tiền Nó có thể khiến một bộ phậncon người trong xã hội bây giờ bị tha hóa đến khủng khiếp Thầy thông ất vì thamtiền của nhà bá hộ Đinh mà lên sẵn một kế hoạch để lừa tiền của nhà bá hộ Lợi

dụng, sự ngây thơ, cả tin của cô Giáp mà thầy ất được cả người lẫn của…

Trong Nước non lắm nỗi, cũng vì tiền, cha của Lương Duy Đạo như “người

điên cuồng”, thẳng tay đánh vợ cho đến chết trước ánh nhìn đầy sợ hãi của con trai.Trong những hoàn cảnh ấy, ta mới thấy đồng tiền còn giá trị hơn cả mạng sống củacon người Nó như có một thế lực vạn năng, lôi kéo con người theo lối sống mới,

sa đọa, hư hỏng Con người trong xã hội đương thời có thể tìm đủ mọi cách để có

nó, cho dù phải làm những việc phi nhân tính, suy đồi đạo đức

2.2 Hiện thực về giai cấp thống trị đương thời

2.2.1 Sau khi hoàn tất công cuộc bình định ở Việt Nam, đặt bộ máy cai trị lên toàncõi đất nước ta, thực dân Pháp vẫn tỏ ra khôn khéo, tiếp tục duy trì cơ cấu phongkiến trong vai trò bù nhìn Hơn thế, những gì thuộc về phong kiến mà có lợi choPháp đều được tồn tại và phát triển trong sự trợ lực của người Pháp Do đó, giaicấp phong kiến thống trị đương nhiên vững vàng trong ngôi vị vốn có của mình

Đa số những người thuộc giai cấp phong kiến đương thời đã trở thành lực lượngđối lập với nhân dân Đó là những quan huyện, quan phủ, ông phán, thầy thông,

Trang 13

thầy kí, hương chức, hội tề ở thành thị lẫn nông thôn, cậy quyền ỷ thế ức hiếpdân lành vô tội, chuyên làm những chuyện xấu xa, bỉ ổi.

Trước bối cảnh đó, Phạm Duy Tốn đã tạo nên một hoàn cảnh điển hình

trong Sống chết mặc bay để làm nổi bật hình tượng nhân vật quan lại vô trách

nhiệm, bàng quan trước nỗi khổ của dân nghèo

Khúc đê làng X, thuộc phủ X có hai, ba đoạn nước đã rỉ ra ngoài Trong khinước sông Nhị Hà cứ dâng lên cao, nên có nguy cơ vỡ đê Bên ngoài trống dội lêntừng hồi, hàng trăm người vật lộn với thiên nhiên từ chiều đến gần một giờ đêm đểbảo vệ con đê Trời thì cứ mưa tầm tã không ngớt, nước sông cứ cuồn cuộn dângcao, sức người như đã kiệt, thế mà trong đình, đèn thắp sáng trưng, quan ngồichễm chệ uy nghi Quân lính đứng hầu cạnh nào gãi, nào quạt, nào điếu đóm…Bên cạnh ngài, mé tay trái, bát yến hấp đường để trong khay khảm khói nghi ngút.Quanh sập, có đủ mặt thầy đề, thầy đội, thầy thông nhì, chánh tổng sở tại Tất cảđang tụ họp để vui chơi tổ tôm Cảnh tượng này hoàn toàn đối lập với cảnh ngoài

đê trăm họ đang vất vả lấm láp, gội gió tắm mưa, như đàn sâu lũ kiến ở trên đê

Rõ ràng qua hai cảnh được dựng lên ta thấy rằng đây là một viên quan vôtrách nhiệm trước sự sống chết của hàng trăm con người Hắn chỉ biết hưởng thụsống sung sướng cho bản thân

Ngoài đê, dân chúng đang từng giờ từng phút đối mặt với nguy hiểm củanước lũ mạnh và vô cùng hung dữ Người đội đất, kẻ vác tre, nào đắp, nào kè, bìbõm dưới bùn lầy, mươi gió lướt thướt, ướt như chuột lột Vậy mà Quan phụ mẫu

uy nghi, chễm chệ trong đình Bát sách, thất văn… lúc mau, lúc khoan thật nhịpnhàng Ngoài kia đàn sâu lũ kiến đang vùi mình dưới mưa cũng không bằng trongđình đang nước bài cao thấp Quan như bị ma lực hút hồn vào một trăm hai mươi

lá bài đen đỏ, mà quên đi tính mạng dân lành, thật đáng thương tâm Quanh nămquan đâu có biết đến đời sống của dân chúng và công việc mình phụ trách, dưới cáighế của quan có bao kẻ xu nịnh ôm chân vâng dạ

Ngày đăng: 23/05/2018, 14:57

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w