1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phân tích quy định của BLDS 2015 về nghĩa vụ trả nợ của bên vay trong hợp đồng vay tài sản.

18 507 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 32,65 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phân tích quy định của BLDS 2015 về nghĩa vụ trả nợ của bên vay trong hợp đồng vay tài sản. Sưu tầm một tình huống có tranh chấp về hợp đồng vay và đưa ra cách giải quyết theo quan điểm cá nhân

Trang 1

MỞ ĐẦU:

Trong cuộc sống hiện nay, việc các cá nhân thực hiện giao kết các loại hợp đồng là vô cùng phổ biến Có rất nhiều loại hợp đồng như: hợp đồng mua bán, hợp đồng nhượng quyền sử

dụng Trong đó, quá trình toàn cầu hóa tác động lên sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam, đã tác động không nhỏ đến nhu cầu về vay vốn cho hoạt động sản xuất cũng như các nhu cầu

về tiêu dùng tăng lên làm cho hoạt động vay tài sản phát triển rất sôi động Từ đó mà các vấn đề pháp lí về hợp đồng vay tài sản đang ngày càng được quan tâm, đặc biệt là về nghĩa vụ trả

nợ của bên vay trong hợp đồng vay tài sản Qua quá trình thực thi, cùng với sự biến đổi không ngừng của đời sống xã hội, các tranh chấp liên quan đến nghĩa vụ trả nợ của bên vay tài sản trong hợp đồng vay tài sản ngày càng trở nên phức tạp Trong nhiều trường hợp bên vay tuy đã đến hạn nhưng không trả nợ hoặc trì hoãn việc trả nợ và lãi, cũng có trường hợp lại hoàn trả sớm so với kì hạn nhưng việc trả lãi lại dẫn đến nhiều tranh chấp Chính việc không thực hiện đúng như những thỏa thuận ban đầu của hợp đồng vay của bên vay nên những quy định về nghĩa vụ của bên vay trong hợp đồng vay tài sản đang ngày càng là vấn đề được quan tâm của cả bên vay và bên cho vay Nhận thấy tính cấp thiết của đề tài nên em chọn đề số 9 “Phân tích quy định của BLDS 2015 về nghĩa vụ trả nợ của bên vay trong hợp đồng vay tài sản Sưu tầm một tình huống có tranh chấp về hợp đồng vay và đưa ra cách giải quyết theo quan điểm cá nhân” để làm bài tập học kì của mình

Trang 2

NỘI DUNG:

1.Khái quát về hợp đồng và hợp đồng vay tài sản:

1.1.Khái niệm:

1.1.1 Khái niệm chung về hợp đồng:

Theo phương diện chủ quan, hợp đồng dân sự là một giao dịch dân sự mà trong đó các bên tự trao đổi ý chí với nhau

nhằm đi đến sự thỏa thuận để cùng nhau làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ dân sự nhất định

Định nghĩa dưới dạng khái quát, điều 388 – BLDS 2005 quy định: “hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự Điều

385 – BLDS 2015 cũng quy định tương tự như vậy, chỉ thay thuật ngữ “hợp đồng dân sự” bằng thuật ngữ “hợp đồng” để thống nhất cách hiểu việc áp dụng luật chuyên ngành cũng cần phải tuân theo những quy định chung của bộ luật này

1.1.2 Khái niệm về hợp đồng vay tài sản:

Trong pháp luật Việt Nam hiện hành, khái niệm về hợp đồng vay tài sản được quy định tại điều 463 BLDS 2015: “Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên , theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay ; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lại nếu có thỏa thuận hoặc có pháp luật quy đinh” Khái niệm này thể hiện được bản chất đặc trưng của hợp đồng đó là yếu tố thỏa thuận giữa bên cho vay và bên vay, dây là yếu tố cốt lõi ạo nên nội dung của hợp đồng Hợp đồng có được thiết lập hay không là do sự thỏa thuậ của các bên , tức là phải có sự thống nhất ý chí giữa các bên trong việc làm phát sinh quyền và nghĩa vụ nhất định Vì vậy, thỏa thuận vừa là tiền đề làm nên hợp đồng, vừa là yếu tố cơ bản cho sự tồn tại của hợp đồng Tuy nhiên, sự thỏa thuận đó không được

vi phạm điều cấm của pháp luật và trái với đạo đức xã hội

Trang 3

Ngoài ra thỏa thuận chỉ có thể làm phát sinh hiệu lực ràng buộc với các bên nếu tuân thủ các yêu cầu pháp luật quy định như : điều kiện về chủ thể, điều kiện về nội dung và mục đích

và điều kiện về sự tự nguyện Hợp đồng sẽ vô hiệu nếu giao kết

do bị nhầm lẫn, lừa dối hay bị đe dọa, hay nói cách khác là không đảm bảo nguyên tắc tự nguyện

1.2 Đặc điểm pháp lí của hợp đồng vay tài sản:

Bên cạnh những đặc điểm chung của hợp đồng dân sự thì hợp đồng vay tài sản cũng có những đặc điểm riêng Những đặc điểm riêng này chính là xơ sở để giúp ta phân biệt hợp đồng vay tài sản với các loại hợp đồng dân sự thông dụng khác

Thứ nhất, hợp đồng vay tài sản là hợp đồng thực tế hoặc

hợp đồng ưng thuân Dựa vào thời điểm phát sinh hiệu lực, hợp đồng được chia làm hai loại hợp đồng ưng thuận và hợp đồng thực tế Hợp đồng ưng thuận là những hợp đồng mà theo quy định của pháp luật, quyền và nghĩa vụ của các bên phát sinh ngay sau khi các bên chủ thể thỏa thuận xong về các nội dung chủ yếu của hợp đồng Trong việc thực hiện hợp đồng này, cho

dù các bên tham gia chưa trực tiếp thực hiện nghĩa vụ cam kết nhưng quyền yêu cầu thực hiện nghĩa vụ với bên kia đã phát sinh Hay nói cách khác, hợp đồng ưng thuận là hợp đồng mà thời điểm có hiệu lực của nó được xác định tại thời điểm giao kết Còn hợp đồng thực tế là hợp đồng mà sau khi thỏa thuận, hiệu lực của hợp đồng chỉ phát sinh tại thời điểm các bên đã chuyển giao cho nhau đối tượng của hợp đồng

Thứ hai, hợp đồng vay tài sản là là hợp đồng song vụ

hoặc đơn vụ Trường hợp hợp đồng vay tài sản là hợp đồngưng thuân, quyền và nghĩa vụ của các bên phát sinh từ thời điểm giao kết, thì đây là hợp đồng song vụ Quyền của bên vay tương ứng với nghĩa vụ của bên cho vay và ngược lại.Trường hợp hợp đồng vay tài sản là hợp đồng thực tế thì nó là hợp đồng đơn vụ Bởi nếu là hợp đồng thực tế thì thời điểm có hiệu lực của hợp đồng vay tài sản là thời điểm bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên vay, kể từ thời điểm này phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên chủ thể (hợp đồng vay bằng miệng), khi đó bên cho vay có quyền đòi tài sản cho vay đối với bên vay mà không

có nghĩa vụ nào; bên vay cũng chỉ có nghĩa vụ trả lại tài sản vay mà không có quyền gì cả

Trang 4

Thứ ba, hợp đồng vay tài sản là hợp đồng đền bù hoặc

không có đền bù Hợp đồng vay tài sản là hợp đồng đền bù nếu

nó là hợp đồng vay có lãi suất Hợp đồng vay tài sản có tính chất đền bù thông thường được áp dụng bắt buộc trong hoạt động tín dụng của ngân hàng; các tổ chức tín dụng cho vay tiền đều có quy định mức lãi suất tương ứng tùy thuộc vào thời điểm , tính chất và đặc điểm của hợp đồng vay tài sản Hợp đồng vay tài sản là hợp đồng không có đền bù nếu là hợp đồng không có lãi suất Loại hợp đồng này thường được giao kết mang tính chất tương trợ, giúp đỡ nhằm khắc phục khó khăn hoặc giúp đỡ phát triển sản xuất, kinh doanh giữa những chủ thể có mối

quan hệ thân thiết, quen biết lẫn nhau như những người thân trong gia đình, bạn bè, hàng xóm,

Thứ tư, hợp đồng vay tài sản là căn cứ chuyển quyền sở

hữu tài sản Đây là loại họp đồng chuyển quyền sở hữu đối với tài sản từ bên cho vay sang bên vay, khi bên vay nhận tài sản Theo đó, “bên vay trở thành chủ sở hữu tài sản vay kể từ thời điểm nhận tài sản đó” (Điều 464 BLDS 2015) Như vậy, sau khi chuyển giao quyền sở hữu tài sản thì bên vay có toàn quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản…Hết thời hạn vay thì bên vay có nghĩa vụ trả cho bên cho vay tài sản cũng loại theo đúng

số lượng, chất lượng mà không phải trả đúng như tài sản đã vay Đặc điểm này giúp ta phân biệt hợp đồng vay tài sản với các hợp đồng dân sự khác như hợp đồng mượn tài sản và hợp đồng thuê tài sản

1.3 Đối tượng của hợp đồng vay tài sản:

Thông thường đối tượng của hợp đồng vay tài sản là một khoản tiền Tuy nhiên, trong thực tế đối tượng của hợp đồng cho vay có thể là vàng, ngoại tệ, kim khí quý- là những tài sản mà Nhà nước có sự quản lí, điều tiết

Tiền là một loại tài sản xuất hiện từ thời kì nhà nước La Mã

do nhu cầu cần có một “công cụ trao đổi đa năng hữu hiệu” để

sử dụng trong quan hệ giao lưu hàng hóa1 Tiền có một số đặc điểm như sau:

- Chỉ có thể do ngân hàng Nhà nước phát hành;

- Chỉ có mệnh giá nhất định;

1 Xem: Bùi Đăng Hiếu, “Tiền- một loại tài sản trong quan hệ pháp luật dâ sự”, Tạp chí Luật học số 1/2005

Trang 5

- Giá trị lưu hành rộng rãi, không hạn chế về thời gian thanh toán, thời gian lưu hành, trừ khi Nhà nước tuyên

bố hủy bỏ;

- Khác với các tài sản khác, chủ sở hữu tiền không được tiêu hủy tiền

Tiền bao gồm nội tệ (tiền Việt Nam) và ngoại tệ (tiền do các quốc gia khác phát hành) Tuy nhiên, do ngoại tệ là tài sản đặc biệt thuộc nhóm hạn chế lưu thông nên tùy từng hợp đồng

để xem xét tính có hiệu lực của hợp đồng đó Trường hợp mua bán ngoại tệ vi phạm các quy định pháp luật trong việc quản lí ngoại hối thì hợp đồng có thể bị vô hiệu Tiền khi không còn chức năng thanh toán, định giá sẽ được coi là vật, ví dụ: tiền cổ, tiền hết giá trị lưu hành, tiền giả,…

Vật là môt bộ phận của thế giới vật chất mà con người có thể nhận biết được bằng các giác quan Tuy nhiên thế giới vật chất là vô cùng, vô tận Vì vậy, vật chỉ được coi là tài sản và trở thành đối tượng của các quan hệ pháp luật dân sự nói chung, quan hệ sở hữu nói riêng nếu thỏa mãn các dấu hiệu sau:

- Là một bộ phận của thế giới vật chất ( ở mọi trạng thái rắn, lỏng, khí…);

- Con người có thể chiếm hữu, kiểm soát được;

- Phải mang lại cho chủ thể một lợi ích nhất định, có thể

là lợi ích vật chất hoặc tinh thần

Vật có thể đang tồn tại hiện hữu hoặc sẽ hình thành trong tương lai Vật cùng loại là những vật có cùng hình dáng, tính chất tính năng sử dụng và xác định được bằng các đơn vị đo lường

Đối tượng của hợp đồng vay chỉ có thể là vật cùng loại vì khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng

1.4 Lãi suất và lãi trong hợp đồng vay:

Bộ luật Dân sự năm 2015 được Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 24/11/2015, có hiệu lực từ ngày

01/0/1/2017 để thay thế cho Bộ luật dân sự năm 2005 So với trước đây, Bộ luật dân sự (BLDS) năm 2015 có rất nhiều nội dung mới, trong đó có thể kể đến một trong những quy định hết sức quan trọng liên quan đến vấn đề lãi suất trong hợp đồng

Trang 6

cho vay, bao gồm các điều 357, 466, 467, 468, 469, 470 của Bộ luật này

Trước đây, tại Điều 476 BLDS năm 2005 quy định các bên trong hợp đồng cho vay có quyền thỏa thuận về lãi suất nhưng không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng và trong

trường hợp các bên có thoả thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất hoặc có tranh chấp về lãi suất thì áp dụng lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả nợ

Nay, BLDS năm 2015 quy định hạn mức lãi suất tối đa mà các bên được thỏa thuận đã được hạ xuống, đồng thời pháp luật

đã mở rộng quyền thỏa thuận cho các bên trong trường hợp hợp đồng cho vay có tính lãi nhưng không xác định lãi cụ thể Các quy định của BLDS 2005 bộc lộ những điểm bất cập Điều

468 – BLDS 2015 có sửa đổi, bổ sung về lãi suất Điều 468 của

Bộ luật này quy định: Lãi suất được pháp luật chấp nhận là 20%

số tiền vay gốc; trường hợp không rõ về lãi suất mà có tranh chấp về lãi suất thì mức lãi được pháp luật chấp nhận là 50% mức quy đinh trên

Bởi vậy, đối với trường hợp vay có lãi suất ( hợp đồng vay

có đền bù) là loại hợp đồng thể hiện rõ nét nhất bản chất của hợp đồng dân sự ( các bên trao đổi cho nhau các lợi ích vật chất) nên khi giao kết, các bên lựa chọn hình thức giao kết hợp đồng bằng văn bản trong đó quy định rõ về lãi suất sẽ là căn cứ vững chắc khi có sự kiện pháp lí phát sinh

Tranh chấp về nghĩa vụ của bên vay đối với bên cho vay phần lớn là xoay quanh vấn đề lãi và lãi suất của hợp đồng vay tài sản Có thể là do trong quá trình giao kết hợp đồng hai bên không thỏa thuận rõ rang về vấn đề này hoặc do trong quá trình thực hiện hợp đồng, bên vay cố tình trốn tránh trách

nhiệm về việc trả lãi đối với bên cho vay hoặc bên cho vay có thể tính lãi suất quá cao thậm chí là không đúng quy định của pháp luật dẫn đến tranh chấp trong quá trình thực hiện nghĩa

vụ của bên vay Có thể thấy yếu tố lãi và lãi suất trong hợp đồng cho vay tài sản là yếu tố có ý nghĩa quan trọng và mấu chốt trong hầu hết các tranh chấp dân sự về hợp đồng cho vay tài sản

Trang 7

2 Nghĩa vụ trả nợ của bên vay trong hợp đồng vay tài sản:

2.1 Quy định của pháp luật về nghĩa vụ trả nợ

Bên vay là người cần sự giúp đỡ vật chất từ bên cho vay

để giải quyết những khó khăn trước mắt của mình Và kể từ thời điểm nhận được tài sản, bên vay có quyền chiếm hữu, sử dụng

và định đoạt đối với tài sản vay miễn là bên vay sử dụng tài sản vay đó không trái pháp luật và đạo đạo đức Đồng thời cũng tại thời điểm đó, hình thành nghĩa vụ của bên vay đối với bên cho vay tài sản: nghĩa vụ hoàn trả tài sản đã vay khi đến kì hạn Do vậy khi hết hạn của hợp đồng, bên vay phải tự giác thực hiện nghĩa vụ của mình phát sinh từ hợp đồng đã kí kết Phải trả đủ

số tiền hoặc tài sản đã vay và tiến lãi nếu có thỏa thuận hoặc

có pháp luật quy định Nếu đối tượng hợp đồng là tài sản thì phải trả bằng tài sản cùng loại Nếu hợp đồng cho vay cùng kì hạn, khi bên cho vay yêu cầu trả nợ thì phải thực hiện hợp đồng trong thời gian thỏa thuận Bên vay cũng có thể thực hiện hợp đồng bất cứ thời gian nào Thời điểm này được coi là thời điểm chấm dứt hợp đồng cho vay không kì hạn

Trường hợp các bên có thỏa thuận về mục đích vay, bên cho vay có quyền kiểm tra việc sử dụng tài sản của bên vay có đúng mục đích như đã thỏa thuậ hay không Nếu sử dụng tài sản không đúng mục đích đã thỏa thuận, bên cho vay có quyền yêu cầu hủy hợp đồng (Điều 467 BLDS 2015) Như vậy, bên vay khi nhận tài sản vay có nghĩa vụ phải sử dụng tài sản theo đúng mục đích đã ghi trong hợp đồng đã thỏa thuận Đây là nghĩa vụ cần thiết và cũng có thể coi là nghĩa vụ đầu tiên của bên vay đối với bên cho vay tài sản ngay từ khi tài sản vay được xác lập quyền sở hữu cho bên vay

-Đối với hợp đồng vay không có kì hạn thì bên vay có

quyền trả lại tài sản bất cứ lúc nào, nhưng phải báo trước với bên cho vay một thời gian hợp lí Nếu là vay có lãi, thì bên vay chỉ phải trả lãi cho đến thời điểm trả nợ (khoản 2 điều 469

BLDS 2015)

-Đối với hợp đồng vay có kì hạn: Nếu là vay không có lãi thì bên vay cũng có quyền trả lại tài sản bất cứ lúc nào , nhưng phải báo trước cho bên cho vay một khoảng thời gian hợp lí;

Trang 8

còn nếu là vay có lãi thì bên vay có quyền trả lại tài sản trước kì hạn, nhưng phải trả toàn bộ lãi theo kì hạn nếu không có thỏa thuận khác (Điều 470 BLDS 2015)

Về nghĩa vụ của bên vay đã được quy định tại điều 466 BLDS 2015, theo đó nghĩa vụ trả nợ là nghĩa vụ chủ yếu của been vay khi giao kết hợp đồng Khoản 1 điều 466 BLDS 2015 quy định: “Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác” Trường hợp bên vay không thể trả vật thì có thể trả bằng tiền theo trị giá của vật dã vay tại địa điểm và thời điểm trả nợ, nếu được bên cho vay đồng ý

-Trường hợp vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay

không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì bên vay có thể phải trả tiền lãi với mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 điều 468 BLDS 2015 trên số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác (Theo khoản 4 điều 466 BLDS 2015

-Theo khoản 5 điều 466 BLDS 2015 về trường hợp vay có lãi mag khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi như sau:

“a, Lãi trên nợ gốc theo lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tương ứng với thời hạn vay mà đến hạn chưa trả; trường hợp chậm trả thì còn phải trả lãi theo mức lãi suất quy định tại

khoản 2 Điều 468 của điều luật này;

b, Lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả bằng 150% lãi suất vay theo hợp đồng tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.”

2.2 Phân tích quy định của BLDS 2015 về nghĩ vụ trả nợ của bên vay:

Tương ứng với nghĩa vụ của bên cho vay, bên vay trong hợp đồng vay tài sản có những nghĩa vụ tương ứng như sau:

-Nghĩa vụ trả lại tài sản của bên vay đối với bên cho vay được xác định dựa trên loại tài sản vay, cụ thể: Nếu tài sản vay

là tiền thì bên vay phải trả đủ tiền khi đến hạn Đối với đối

tượng vay là tiền thì các bên chỉ quan tâm đến loại tiền vay (nội

Trang 9

tệ hoặc ngoại tệ), số lượng vay; nếu tài sản là vật thì phải trả vaath cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác Trong thực tế, vay vật áp dụng phổ biến đối với đối tượng: vàng, thóc, gạo… Khi thực hiện nghĩa vụ trả vật thì bên cho vay phải trả vật cùng loại với tài sản mà bên vay đã vay Quy định này chỉ đề cập đến hai loại tài sản vay là tiền và vật vì cả về mặt lí luận và thực tiễn, giấy tờ có giá, quyền tài sản không được coi là đối tượng của hợp đồng vay tài sản

-Trường hợp bên vay không thể trả vật thì có thể trả bằng tiền theo trị giá của vật đã vay tại địa điểm và thời điểm trả nợ, nếu được bên cho vay đồng ý Về nguyên tắc, bên vay phải trả lại cho bên cho vay theo đúng loại tài sản mà họ đã được vay Nếu tài sản vay là tiền thì bên vay phải trả tiền; nếu tài sản vay

là vật thì bên vay phải trả vật ( cùng loại, đúng chất lượng, số lượng) Tuy nhiên nếu bên vay không thể trả vật thì có thể trả bằng tiền theo trị giá của vật đã vay (định giá vật vay ra tiền) Việc định giá vật vay ra tiền được xác định theo giá tại địa điểm

và thời điểm trả nợ Chỉ áp dụng việc trả tiền thay cho vật khi bên cho vay đồng ý

-Địa điểm thực hiện nghĩa vụ trả nợ của bên vay đối với bên cho vay được xác định như sau: Địa điểm trả nợ được xác định theo thỏa thuận của các bên: có thể thỏa thuận địa điểm trả nợ là nơi cư trú ( hoặc trụ sở) của bên cho vay hoặc bên vay; hoặc các bên có thể thỏa thuận ở một địa điểm bất kì nào khác Nếu các bên không thỏa thuận về địa điểm trả nợ thì địa điểm trả nợ được xác định là nơi cư trú hoặc nơi đặt trụ sở của bên cho vay Quy định này hoàn toàn phù hợp với thực tiễn, tâm lí của bên cho vay và phù hợp với quy định chung tại điểm

b khoản 2 điều 277, trường hợp các bên không có thỏa thuận thì địa điểm thực hiện nghĩa vụ là nơi cư trú hoặc trụ sở của bên

có quyền, nếu đối tượng của nghĩa vụ không phải là bất động sản

-Hợp đồng vay tài sản gồm hợp đồng vay có lãi và hợp đồng vay không có lãi Việc trả lãi theo hợp đồng chỉ đặt ra đối với hợp đồng vay có lãi Tuy nhiên, trường hợp vay không có lãi

mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì bên cho vay có quyền yêu cầu trả tiền lãi với mức lãi suất là 10% / năm (khoản 2 điều 468 BLDS 2015) trên số tiền chậm trả

Trang 10

tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác Quy định này hoàn toàn hợp

lí, bởi lẽ đối với trường hợp vay không có lãi,người cho vay

không thu được bất kì lợi ích vật chất gì từ hợp đồng mà việc cho vay này hoàn toàn dựa trên sự tương trợ, giúp đỡ của bên cho vay đối với bên vay Do đó, nếu đến hạn trả nợ mà bên vay không nợ thì bên vay phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả Đồng thời quy định này cũng nhằm nâng cao ý thức, trách nhiệm của bên vay đối với việc trả nợ cho bên cho vay Ví dụ: A cho B vay 50 triệu đồng trong thời gian 2 năm Đến hạn trả nợ, B chỉ trả được cho A 20 triệu Số tiền còn lại 3 tháng sau B mới trả đủ Trong trường hợp này, B chậm trả cho A 30 triệu trong thời gian 3 tháng , vậy số tiền lãi

B phải trả cho A là : 30 triệu x (10% : 12) x 3 = 750.000 đồng

So với quy định tại khoản 4 điều 474 BLDS 2005, quy định

về tính lãi trong trường hợp vay không có lãi theo BLDS 2015 rõ ràng và cụ thể hơn: Theo đó, khoản 4 điều 474 BLDS 2005 chỉ quy định bên vay không lãi mà khi đến hạn không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi đối với khoản nợ chậm trả theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn chậm trả tại thời điểm trả nợ Khác với quy định này, Điều luật này ấn định một mức lãi suất cụ thể đối với

trường hợp cụ thể này là 10%/ năm Đây là mức lãi suất rõ

ràng, tạo điều kiện cho các bên trong hợp đồng cũng như cho Tòa án trong việc thống nhất áp dụng luật

-Đối với hợp đồng vay có lãi thì bên cạnh việc trả tiền gốc đầy đủ, bên vay còn phải trả tiền lãi theo đúng thỏa thuận với bên cho vay Lãi chính là khoản tiền hoặc lợi ích vật chất mà bên vay phải trả thêm ngoài số tiền hoặc vật đã vay để cho bên cho vay Lãi được chuyển từ người vay sang người cho vay khi hết hạn hợp đồng hoặc tùy sự thỏa thuận của các bên (các bên

có thể thỏa thuận trả lãi theo tháng, theo quý…) Lãi tỉ lệ thuận với nợ gốc, lãi suất và thời gian vay

Trường hợp khi đến hạn mà bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi như sau:

+Đối với lãi trong hạn: Lãi trên nợ gốc theo lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tương ứng với thời hạn vay mà đên shanj chưa trả Đối với lãi trong hạn, bên vay phải trả tiền lãi trên nợ

Ngày đăng: 23/05/2018, 11:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w