1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá khả năng cung cấp lân của đất lúa trong điều kiện bón giảm lân, tưới khô ngập luân phiên và luân canh với cây màu (tt)

27 159 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 378,52 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, việc chuyển đổi mô hình canh tác lúa truyền thống sang mô hình luân canh lúa với cây màu trên và áp dụng biện pháp tưới ngập-khô xen kẽ trong canh tác lúa có thể làm thay đổi

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

LUÂN CANH VỚI CÂY MÀU

Cần Thơ, 2018

Trang 2

CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

Người hướng dẫn: PGs Ts Châu Minh Khôi

Luận án được bảo vệ trước hội đồng chấm luận án tiến sĩ cấp Cơ sở

Họp tại: Nhà điều hành Trường Đại học Cần Thơ

Vào lúc 14 giờ 00 ngày 7 tháng 11 năm 2016

Phản biện 1: PGs Ts Lê Văn Khoa

Phản biện 2: Ts Nguyễn Quang Chơn

Có thể tìm hiểu luận án tại thư viện:

 Trung tâm Học liệu, Trường Đại học Cần Thơ

 Thư viện Quốc gia Việt Nam

Trang 3

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU

1.1 Tính cấp thiết của luận án

Lân (P) là nguyên tố dinh dưỡng đa lượng cần thiết cho tất cả cây trồng bên cạnh đạm (N) và kali (K), sự sinh trưởng của cây trồng sẽ bị hạn chế nếu như hàm lượng P hữu dụng trong đất thấp không cung cấp đủ cho cây trồng

(Tanwar và Shaktawat, 2003; Li et al., 2005; Zhang et al., 2009; Yu et al., 2013) Hiện nay, sử dụng phân P trong canh

tác nông nghiệp đang nhận được rất nhiều sự quan tâm của các nhà khoa học do nguồn tài nguyên P đang ngày càng cạn

kiệt và trở nên không thể phục hồi (Cordell et al., 2009;

Gilbert, 2009) Lượng phân P được khuyến cáo cho lúa ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) đã được thực hiện cách đây khoảng 30 năm Tuy nhiên, người dân ĐBSCL vẫn

có thói quen bón phân P cao trong sản xuất nông nghiệp Kết quả nghiên cứu trên vùng đất phèn trồng lúa ở Hòa An (Hậu Giang) cho thấy đối với nghiệm thức bón 90 kg

P2O5/ha kết hợp với bón 120 kg N/ha thì hiệu quả sử dụng phân P vẫn lưu tồn đến vụ thứ 3, năng suất lúa ở hai vụ sau đối với nghiệm thức không bón P không khác biệt ý nghĩa

so với nghiệm thức có bón P (Võ Thị Gương và ctv., 2004)

Bên cạnh đó, tình trạng khan hiếm nước ngọt trong sản xuất nông nghiệp trên thế giới đang ngày càng trở nên

nghiêm trọng Theo Bouman et al (2007a), một số điểm

nóng trồng lúa nước của nhiều quốc gia trên thế giới sẽ bị thiếu nước tưới Biện pháp tưới ngập-khô xen kẽ (AWD-Alternate wetting and drying) được xem là biện pháp có rất nhiều triển vọng Sau giai đoạn lúa trổ, áp dụng biện pháp tưới ngập-khô xen kẽ có thể giúp giảm 40-70% lượng nước vào ruộng so với kỹ thuật tưới ngập truyền thống (Hatta,

1967; Singh et al., 1996) Bên cạnh đó, biện pháp luân canh

Trang 4

lúa-màu cũng được xem là giải pháp có thể giúp người dân ứng phó được với tình trạng xâm nhập mặn và thiếu hụt nguồn nước tưới Tuy nhiên, việc chuyển đổi mô hình canh tác lúa truyền thống sang mô hình luân canh lúa với cây màu trên và áp dụng biện pháp tưới ngập-khô xen kẽ trong canh tác lúa có thể làm thay đổi tình trạng thoáng khí của đất, từ đó làm giảm độ hữu dụng của P cho cây trồng Trên thế giới, đã có rất nhiều nghiên cứu ảnh hưởng của biện pháp tưới ngập-khô xen kẽ và biện pháp luân canh cây màu đối với dinh dưỡng N trong quá trình canh tác lúa

(Cabangon et al., 2004; Dong et al., 2012; Huan et al.,

2008) Tuy nhiên, những nghiên cứu về ảnh hưởng của bón giảm phân P, áp dụng biện pháp tưới ngập-khô xen kẽ, kết hợp biện pháp tưới ngập-khô xen kẽ với bón giảm phân P và

áp dụng luân canh lúa-màu đến khả năng cung cấp P của đất lúa ở ĐBSCL còn rất hạn chế Do đó, nghiên cứu về đánh giá khả năng cung cấp P của đất lúa dưới điều kiện bón giảm phân P, thay đổi biện pháp tưới ngập trong canh tác lúa truyền thống bằng biện pháp tưới ngập-khô xen kẽ và luân canh lúa-màu là rất cần thiết Kết quả nghiên cứu của

đề tài sẽ tạo cơ sở lý luận và thực tiễn giúp quản trị nguồn tài nguyên P một cách hợp lý và hiệu quả trong điều kiện sản xuất nông nghiệp ở ĐBSCL

1.2 Mục tiêu của nghiên cứu

1.2.1 Mục tiêu chung

Nghiên cứu được thực hiện nhằm mục tiêu đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng cung cấp P hữu dụng trong đất, sự thay đổi tổng hấp thu P của lúa và năng suất lúa dựa trên các thí nghiệm đồng ruộng dài hạn trên các nhóm đất chính ở ĐBSCL Qua đó có thể khuyến cáo người dân sử dụng các phương pháp, kỹ thuật trong canh tác lúa để tăng hiệu quả sử dụng phân P, tiết kiệm được nguồn nước tưới và thích ứng với biến đổi khí hậu

Trang 5

1.2.2 Mục tiêu cụ thể

Đánh giá ảnh hưởng của bón giảm phân P dài hạn và

áp dụng biện pháp tưới ngập-khô xen kẽ đến khả năng cung cấp P của đất, tổng hấp thu P của lúa và năng suất lúa Xác định tỷ lệ giảm lượng phân P và thời điểm tưới nước tương ứng với mực thủy cấp phù hợp mỗi nhóm đất Đánh giá sự thay đổi về khả năng cung cấp P của đất khi thay đổi cơ cấu cây trồng từ chuyên canh lúa sang mô hình luân canh lúa-màu

Thông qua kết quả đạt được của các thí nghiệm, luận

án có thể xác định được các biện pháp thích hợp trong quá trình canh tác lúa giúp tăng hiệu quả sử dụng phân P, tăng hiệu quả kinh tế cho nông dân, thích ứng với điều kiện thiếu hụt nguồn nước tưới và xâm nhập mặn do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu tại các vùng canh tác lúa ở ĐBSCL

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đề tài được thực hiện trên vùng đất trồng lúa đại diện cho các nhóm đất chính ở ĐBSCL, bao gồm: đất phèn hoạt động nặng điển hình tại xã Tà Đảnh, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang; đất phù sa tại thị trấn Hòa Bình, huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu và quận Ô Môn, Thành phố Cần Thơ Trong

đó, các thí nghiệm đồng ruộng tập trung nghiên cứu tại huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu Các thí nghiệm trong nghiên cứu bao gồm:

- Thí nghiệm bón giảm phân P, thí nghiệm áp dụng biện pháp tưới ngập-khô xen kẽ và thí nghiệm kết hợp biện pháp tưới ngập-khô xen kẽ và bón giảm phân P được thực hiện trên đất phù sa phát triển trồng lúa ba vụ tại huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu Thí nghiệm được thực hiện trong 7 vụ liên tiếp từ vụ ĐX 2011-2012 đến vụ ĐX 2013-2014 Vụ

ĐX 2012-2013 chịu ảnh hưởng của xâm nhập mặn do rò rỉ nước mặn qua cống ngăn mặn, nghiên cứu vẫn tiến hành

Trang 6

thực hiện bón giảm phân P nhưng không tiến hành thu thập

số liệu Qua những vụ tiếp theo, số liệu tiếp tục được thu thập do độ mặn trong nước tưới cho lúa đã giảm đến ngưỡng không ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây lúa

- Các thí nghiệm đồng ruộng tại An Giang và Cần Thơ được thực hiện tương tự tại Bạc Liêu nhưng tác giả không trực tiếp tham gia quản lý thí nghiệm đồng ruộng Vào cuối

vụ thứ 7, tác giả tiến hành thu thập mẫu đất để phân tích

- Thí nghiệm luân canh lúa-màu được thực hiện cùng điểm thí nghiệm bón giảm P tại huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu Trong thí nghiệm này, tác giả không tham gia trực tiếp quản lý thí nghiệm đồng ruộng Tác giả chỉ thu thập mẫu đất vào đầu vụ, giữa vụ và cuối vụ ĐX 2013-2014 để phân tích

và đánh giá số liệu

1.4 Các điểm mới của luận án

Từ kết quả các thí nghiệm đồng ruộng dài hạn, dựa vào tính toán cân bằng P thông qua lượng P cung cấp từ phân bón và lượng P lấy đi từ hạt, nghiên cứu đã xác định được lượng P cần bón là 40 kg P2O5/ha, thấp hơn so với các nghiên cứu trước đây khuyến cáo từ 60-90 kg P2O5/ha So với các nghiên cứu trước đây thường khuyến cáo bón phân

P dựa vào đánh giá lượng P hữu dụng trong đất, nghiên cứu này phân tích và đánh giá khả năng hấp phụ P và khả năng đệm P của đất để khuyến cáo bón giảm P trên các nhóm đất khác nhau

Nghiên cứu cho thấy không bón P hoặc bón 20 kg

P2O5/ha đất vẫn có thể cung cấp đủ P cho lúa trong 4 vụ liên tiếp và năng suất lúa vẫn được duy trì, trong khi các nghiên cứu trước đây chỉ nghiên cứu đến vụ thứ 3

Kết quả nghiên cứu cho thấy đất phèn hoạt động tại

An Giang, đất phù sa phát triển tại Bạc Liêu và đất phù sa đang phát triển tại Cần Thơ vẫn duy trì khả năng hấp phụ lân cao trong điều kiện bón phân P với liều lượng cao trong thời gian dài Nghiên cứu cũng cho thấy rằng đất tại Bạc

Trang 7

Liêu và Cần Thơ có nguy cơ rửa trôi ra môi trường nếu tiếp tục duy trì bón lượng phân P cao trong canh tác lúa

Biện pháp tưới ngập-khô xen kẽ trước đây chỉ được thực hiện trên đất phù sa ngọt, nghiên cứu này được thực hiện trên các vùng đất phèn và đất phù sa bị nhiễm mặn nhẹ

đã kết luận rằng biện pháp tưới ngập-khô xen kẽ có thể được

áp dụng và nước được tưới khi mực nước ruộng giảm -15

cm so với mặt ruộng Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy áp dụng biện pháp tưới ngập-khô xen kẽ khi mực nước ruộng giảm -30 cm trên đất phù sa nhiễm mặn làm gia tăng độ mặn trong đất, gây ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và năng suất lúa, cụ thể trên vùng nghiên cứu tại huyện Hòa Bình tỉnh Bạc Liêu

Kết quả nghiên cứu cho thấy trên các nhóm đất, áp dụng biện pháp tưới ngập-khô xen kẽ khi mực nước ruộng giảm -15 cm có thể kết hợp với bón phân lân ở mức độ 40

kg P2O5/ha giúp giảm được lượng phân P và lượng nước tưới cho lúa so với các nghiên cứu trước đây chỉ nghiên cứu riêng lẻ từng nhân tố trong canh tác lúa

Áp dụng biện pháp luân canh lúa với cây rau màu như đậu nành, mè vẫn duy trì hàm lượng P hữu dụng trong đất

và có thể được áp dụng cho hệ thống chuyên lúa trong điều kiện thiếu nước tưới và xâm nhập mặn trong mùa khô ở ĐBSCL

1.5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

1.5.1 Ý nghĩa khoa học

- Kết quả nghiên cứu đã đánh giá được ảnh hưởng của biện pháp tưới ngập-khô xen kẽ, bón giảm lượng phân P và luân canh lúa-cây rau màu đối với dinh dưỡng P trong đất,

sự thay đổi về tổng lượng P trong đất, khả năng hấp phụ P tối đa và cung cấp P của nhóm đất phèn hoạt động, đất phù

sa đang phát triển và đất phù sa phát triển bị xâm nhập mặn tại An Giang, Cần Thơ và Bạc Liêu tại vùng ĐBSCL

Trang 8

- Hiện nay, chưa có nghiên cứu đánh giá tính khả thi của biện pháp tưới ngập-khô xen kẽ ở mức độ -30 cm trên đất canh tác lúa nhằm thích ứng với điều kiện thiếu nước tưới trong tương lai ở ĐBSCL Kết quả trong nghiên cứu này đã đánh giá được sự thay đổi về tính chất hóa học của đất, đặc biệt là sự gia tăng nồng độ muối tan trong đất (EC) khi áp dụng tưới ngập-khô xen kẽ ở mức -30 cm trên nhóm đất phù

sa bị xâm nhập mặn ở ĐBSCL

- Nghiên cứu đã đánh giá được sự thay đổi điều kiện ngập của đất khi luân canh cây trồng cạn trên nền đất canh tác lúa 3 vụ tại tỉnh Bạc Liêu đến P hữu dụng trong đất

khô-1.5.2 Ý nghĩa thực tiễn

- Áp dụng biện pháp tưới ngập-khô xen kẽ khi mực nước ruộng giảm -15cm có thể áp dụng trên các nhóm đất phèn hoạt động, đất phù sa, đất phù sa bị xâm nhập mặn và các vùng có điều kiện đất đai tương tự, giúp tiết kiệm chi phí bơm tưới nước trong canh tác lúa vào mùa khô

- Áp dụng biện pháp tưới ngập-khô xen kẽ ở mức độ -15

cm kết hợp với bón phân P mức độ 40 kg P2O5/ha trong canh tác lúa giúp cho nông dân giảm được chi phí bơm tưới, giảm chi phí sử dụng phân P mà vẫn duy trì được quỹ P trong đất và năng suất lúa Qua đó giúp tăng lợi nhuận trong sản xuất lúa

- Biện pháp luân canh cây rau màu trên nền đất lúa giúp cho người dân lựa chọn được mô hình canh tác nhằm ứng phó được với tình trạng sụt giảm nguồn nước tưới trong mùa khô, trong khi vẫn có thể duy trì được lượng P trong đất và năng suất lúa trong vụ kế tiếp

Trang 9

CHƯƠNG 2: LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU

2.1 Tình hình sử dụng phân P trong canh tác lúa

Lân là một nguyên tố dinh dưỡng đa lượng cần thiết cho cây trồng bên cạnh đạm và kali Dinh dưỡng P trong đất thường ít hữu dụng cho cây trồng do P bị cố định bởi các thành phần khoáng sét và các nguyên tố Fe, Al, Ca tạo thành

các phức khó tan Theo Võ Thị Gương và ctv (2016), chỉ có

khoảng 10-15% lượng P thêm vào từ phân bón có thể được thu hút bởi cây trồng trong mỗi mùa vụ Do đó, lượng phân

P bón cho lúa thường cao hơn nhiều so với nhu cầu của lúa

để có thể cung cấp P kịp thời cho cây trồng

Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của quản lý phân P dài hạn trên đất hơi chua (pH = 5,2) tại Viện nghiên cứu Lúa ĐBSCL dưới 2 mức độ là không bón P và bón 40 kg

P2O5/ha trong 34 vụ liên tiếp (từ mùa mưa năm 1986 đến mùa mưa năm 2003) cho thấy có ảnh hưởng của phân P đến những tính chất lý, hóa, sinh học đất và năng suất lúa

(Tuyen, 2013; Tuyen et al., 2006a; Tuyen et al., 2006b) Kết

quả nghiên cứu sử dụng phân P dưới 3 mức độ bao gồm 45,

90 và 135 kg P2O5/ha trên vùng đất phèn hoạt động tại xã Hòa An (tỉnh Hậu Giang) cho thấy phân P có hiệu quả làm

gia tăng năng suất (Võ Thị Gương và ctv., 2004)

Bên cạnh những nghiên cứu về phân P trong canh tác lúa, những nghiên cứu trên cây rau màu cũng đã được thực hiện tại ĐBSCL Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Mỹ Hoa

và ctv (2006) trên các vùng trồng rau chuyên canh ở Tiền

Giang cho thấy hàm lượng P hữu dụng phân tích bằng phương pháp Bray-1 đạt cao (129-234 mg P/kg) Điều này cho thấy rằng, sự lưu tồn và tích lũy P đã và đang diễn ra trên các vùng trồng rau màu chuyên canh tại ĐBSCL

Trang 10

2.2 Dinh dưỡng lân và ảnh hưởng của tình trạng thoáng khí của đất đến độ hữu dụng của P trong đất

2.2.1 Dinh dưỡng lân trong đất

Lân rất quan trọng cho sự sinh trưởng của cây trồng,

sự sinh trưởng của cây trồng sẽ bị hạn chế khi hàm lượng P

hữu dụng cung cấp cho cây trồng ở trong đất thấp (Li et al., 2005; Tanwar and Shaktawat, 2003; Yu et al., 2013; Zhang

et al., 2009) Vì vậy, để sự sinh trưởng và phát triển của cây

trồng được tốt hơn, cần cung cấp đủ lượng P cần thiết cho cây trồng Do P là một nguyên tố đa lượng có ảnh hưởng trực tiếp đến sinh trưởng và năng suất cây trồng, nên việc xác định lượng phân P bón cho cây trồng là rất quan trọng Tuy nhiên, để xác định lượng phân P tối hảo cho cây trồng

là vô cùng khó khăn (Ngô Ngọc Hưng, 2009)

2.2.2 Ảnh hưởng của tình trạng thoáng khí của đất đến

độ hữu dụng của P trong đất

Độ hữu dụng của P trong đất chịu ảnh hưởng lớn bởi tình trạng thoáng khí của đất (Hu, 2008) Ở những vùng đất trồng lúa 3 vụ, đất thường xuyên ở tình trạng thái khử, vì vậy độ hữu dụng của P cũng gia tăng Khi đất chuyển từ điều kiện oxy hóa sang điều kiện khử do quá trình bơm tưới hoặc mưa, các hợp chất oxyt cố định P trong đất sẽ phóng thích P và làm gia tăng độ hữu dụng của P trong đất Sau đó, khi đất chuyển từ điều kiện khử sang điều kiện oxy hóa thì

độ hữu dụng của P sẽ giảm do các ion như Fe2+, Ca2+ sẽ tái kết hợp với P tạo thành các oxyt và hydroxyt không hòa tan

(Ann et al., 2000; Hutchison and Hesterberg, 2004; Sallade

and Sims, 1997)

2.3 Biện pháp tưới ngập-khô xen kẽ

Biện pháp tưới khô-ngập luân phiên (AWD-Alternate wetting and drying) được biết đến như một phương pháp quản lý nước nhằm tăng hiệu quả sử dụng nước tưới

Trang 11

(Bouman and Tuong, 2001; Huan et al., 2008; Oliver et al., 2008; Sarkar, 2001) Saleque et al (1996) đã tiến hành thí

nghiệm trong phòng nhằm đánh giá ảnh hưởng của các chế

độ nước đến độ hữu dụng của P trong đất Kết quả cho thấy hàm lượng P hữu dụng ở nghiệm thức ngập liên tục cao hơn

so với nghiệm thức ngập-khô xen kẽ Trên đất trồng lúa, tình trạng khô thoáng của đất làm giảm khả năng hòa tan của Fe, Al dẫn đến tăng sự hấp phụ P trong đất Khi tưới ngập trở lại thì lượng P trong đất gia tăng do các phức hợp

Al-P và Fe-P bị khử phóng thích ra P (Venterink et al.,

2002)

2.4 Biện pháp luân canh lúa với cây rau màu

Luân canh giúp gia tăng có ý nghĩa hàm lượng carbon hữu cơ dễ phân hủy, lượng N khoáng hóa và hàm lượng P hữu dụng (Trần Huỳnh Khanh, 2010) Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của biện pháp luân canh đến độ hữu dụng của P trong đất được thực hiện trong vòng 24 năm tại Australia cho thấy áp dụng biện pháp luân canh với đậu lupin đã giúp

gia tăng hàm lượng P tích lũy trong đất (Bünemann et al.,

2006)

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Nghiên cứu 1: Ảnh hưởng của bón giảm phân P đến khả năng cung cấp P của đất và năng suất lúa

3.1.1 Bố trí thí nghiệm đồng ruộng của nghiên cứu 1

Thí nghiệm được thực hiện liên tiếp trong 7 vụ từ Đông Xuân (ĐX) 2011-2012 đến vụ ĐX 2013-2014 tại huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu Thí nghiệm được bố trí khối hoàn toàn ngẫu nhiên gồm 4 nghiệm thức và 3 lần lặp lại Các nghiệm thức bao gồm: Không bón P (P1); bón 20 kg

P2O5/ha (P2); bón 40 kg P2O5/ha (P3); bón 60 kg P2O5/ha

Trang 12

(P4) Các ô thí nghiệm được bón với công thức 100N – 30K2O (kg/ha)

3.1.2 Thí nghiệm đánh giá khả năng hấp phụ P tối đa và tốc độ cung cấp P của đất

- Phương pháp thu mẫu đất: Mẫu đất được thu tại các

ô thí nghiệm đã tiến hành bón giảm phân P trong 7 vụ liên tiếp tại An Giang, Bạc Liêu và Cần Thơ

- Đánh giá khả năng tối đa của đất, khả năng đệm P tối

đa và độ bão hòa P của đất: Được xác định khi đất đạt trạng

thái bão hòa P theo phương pháp của Houba et al (1989) và

được tính dựa theo phương trình Langmuir (Langmuir, 1918)

3.2 Nghiên cứu 2: Ảnh hưởng của biện pháp tưới AWD đến khả năng cung cấp P của đất và năng suất lúa

3.2.1 Bố trí thí nghiệm đồng ruộng của nghiên cứu 2

Thí nghiệm được thực hiện trong 2 vụ ĐX 2011-2012

và ĐX 2013-2014 tại huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu

Thí nghiệm được bố trí theo thể thức khối hoàn toàn ngẫu nhiên gồm 3 nghiệm thức và 3 lần lặp lại Các nghiệm thức bao gồm: Tưới ngập giống nông dân (NT+5); tưới khi mực nước ruộng giảm -15 cm so với mặt ruộng (NT-15); và tưới khi mực nước ruộng giảm -30 cm soi với mặt ruộng (NT-30) Phân bón sử dụng trong thí nghiệm được bón theo công thức 100N – 60 P2O5 – 30 K2O (kg/ha)

3.2.2 Phương pháp quản lý nước trong thí nghiệm

Dụng cụ dùng để theo dõi mực nước trên ruộng làm bằng ống nhựa PVC (Polyvinyl clorua) có đường kính 15

cm, dọc thành ống được khoan lỗ đường kính 2 mm giúp nước lưu thông giữa trong và ngoài ống Quan sát mực nước bằng cách sử dụng thước dây để đo mực nước trong ống hàng ngày, nếu mực nước giảm -15 cm ở NT-15 (tương đương -10 kPa) và -30 cm (tương đương -20 kPa) ở NT-30

Trang 13

thì tiến hành bơm nước vào ruộng Dừng bơm khi mực nước ngập trên mặt ruộng là 5 cm

3.3 Nghiên cứu 3: Ảnh hưởng của biện pháp tưới khô xen kẽ kết hợp bón giảm phân P đến khả năng cung cấp P của đất và năng suất lúa

ngập-Thí nghiệm được thực hiện trong 2 vụ ĐX 2011-2012

và ĐX 2013-2014 tại huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu Thí nghiệm được bố trí khối hoàn toàn ngẫu nhiên theo thể thức

lô chính phụ: Lô chính bao gồm các nghiệm thức quản lý nước, lô phụ bao gồm các nghiệm thức bón giảm phân P Nghiệm thức quản lý nước gồm 3 nghiệm thức: NT+5,

NT-15 và NT-30 được thực hiện giống như các nghiệm thức trong Nghiên cứu 2 Nghiệm thức bón giảm phân P gồm 4 nghiệm thức: P1, P2, P3 và P4 được thực hiện giống như trong các nghiệm thức trong Nghiên cứu 1

Phương pháp quản lý nước trong thí nghiệm này được thực hiện giống như trong Nghiên cứu 2 (Mục 3.2.2) Phân bón được sử dụng trong các ô thí nghiệm được bón theo công thức 100N – 30 K2O (kg/ha)

3.4 Nghiên cứu 4: Ảnh hưởng của biện pháp luân canh lúa-màu đến khả năng cung cấp P của đất

Thí nghiệm được thực hiện vào vụ ĐX 2013-2014 trên vùng đất trồng lúa 3 vụ tại huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu Thí nghiệm được bố trí gồm 4 nghiệm thức và 3 lần lặp lại, bao gồm các nghiệm thức Lúa luân canh với: (1) Bắp; (2) Đậu nành; (3) Mè và nghiêm thức độc canh lúa (Lúa 3 vụ)

3.5 Phương pháp thu thập mẫu đất và năng suất lúa

- Mẫu đất được thu trên các ô nghiệm thức tại 3 vị trí khác nhau ở độ sâu 0-20 cm sau đó được trộn đều làm mẫu đại diện Vụ ĐX 2012-2013 bị ảnh hưởng xâm nhập mặn do

sự rò rỉ qua cửa cống ngăn mặn, do đó nghiên cứu không tiến hành thu thập số liệu trong vụ ĐX 2012-2013

Ngày đăng: 23/05/2018, 10:22

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w