đề tài “Tăng cường hứng thú học tập môn tiếng Anh cho học sinh hệ Trung cấp chuyên nghiệp tại trường Trung cấp Kinh tế Công nghệ Cai Lậy với trò chơi ngôn ngữ”, tôi đã tiếp tục đi sâu tìm tòi nghiên cứu đề tài này theo hướng vận dụng lý luận vào thực tế giảng dạy, với mong muốn đóng góp những kinh nghiệm của mình vào việc tạo hứng thú học tập cho học sinh TCCN, giúp các em yêu thích, say mê môn học để góp phần nâng cao chất lượng dạy và học bộ môn tiếng Anh.
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TIỀN GIANG
TRƯỜNG TRUNG CẤP KINH TẾ - CÔNG NGHỆ CAI LẬY
VỚI TRÒ CHƠI NGÔN NGỮ
Họ và Tên Tác Giả: VÕ THỊ CẨM TÚ
Chức vụ: GIÁO VIÊN TIẾNG ANH
Khoa: CƠ BẢN
Năm học 2012 - 2013
Trang 2MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
MỘT SỐ TỪ VIẾT TẮT 3
PHẦN I – ĐẶT VẤN ĐỀ I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 4
II MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU 5
III NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 5
IV PHẠM VI NGHIÊN CỨU 6
V PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 6
PHẦN II – NỘI DUNG CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN 7
1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 7
2 Một số khái niệm liên quan đến đề tài 7
2.1 Khái niệm hứng thú học tập 7
2.2 Trò chơi ngôn ngữ 7
2.3 Điều kiện để tăng cường “hứng thú học tập” của học sinh 8
2.4 Các phương pháp dạy và học tiếng Anh 8
2.5 Vai trò của trò chơi ngôn ngữ trong việc dạy và học bộ môn tiếng Anh 10
CHƯƠNG II KHẢO SÁT THỰC TRẠNG DẠY VÀ HỌC BỘ MÔN TIẾNG ANH Ở TRƯỜNG TRUNG CẤP KINH TẾ CÔNG NGHỆ CAI LẬY 11
1 Cơ sở vật chất và trang thiết bị dạy học 11
2 Về phía học sinh 12
3 Về phía giáo viên 12
CHƯƠNG III GIẢI PHÁP 14
1.Các giải pháp cụ thể 14
1.1 Giai đoạn khởi động vào bài 14
1.2 Giai đoạn củng cố 22
1.3 Giai đoạn thực hành và ôn tập 26
2 Kết quả áp dụng các biện pháp 31
Trang 3PHẦN III – KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
I KẾT LUẬN 33
II KHUYẾN NGHỊ 34
PHỤ LỤC 35
TÀI LIỆU THAM KHẢO 39
Trang 5PHẦN I – ĐẶT VẤN ĐỀ
I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Ngày nay, sự bùng nổ mạnh mẽ của các phương tiện truyền thôngđại chúng khiến loài người càng xích lại gần nhau hơn, tiếng Anh đã trởthành ngôn ngữ quốc tế Vì thế, việc hiểu biết và vận dụng hiệu quả tiếngAnh đã trở thành một yếu tố nhất thiết phải có cho việc học tập, giải trí,công việc giao tiếp và kinh doanh
Ở Việt Nam, tiếng Anh ngày càng chiếm vị trí quan trọng và đang làngoại ngữ phổ biến nhất Việc học và dạy ngoại ngữ ngày càng được Đảng
và Nhà nước chú trọng quan tâm Ngày 30/09/2008, Thủ tướng Chính phủ
đã ký quyết định số 1400/QĐ-TTg, phê duyệt đề án “Dạy và học ngoại ngữtrong hệ thống giáo dục quốc dân” (gọi tắt là đề án ngoại ngữ 2020) Vàmột trong những mục tiêu cụ thể của đề án là “Triển khai chương trình đàotạo tăng cường môn ngoại ngữ đối với giáo dục nghề nghiệp cho khoảng10% số lượng học sinh dạy nghề, trung cấp chuyên nghiệp vào năm học
2010 – 2011, 60% vào năm 2015 – 2016 và đạt 100% vào năm học 2019 –2020;”
Để đạt những mục tiêu trên, mỗi giáo viên giảng dạy bộ môn tiếngAnh đã và đang nghiên cứu, học hỏi và áp dụng nhiều phương pháp giảngdạy khác nhau nhằm giúp học sinh học tập hiệu quả hơn Hiện nay, phươngpháp giảng dạy ngoại ngữ đã chuyển hướng từ lấy người dạy làm trung tâmsang đường hướng lấy người học làm trung tâm Ở đó, người học được giaotiếp trong môi trường giao tiếp thật sự Người học có cơ hội được bày tỏ ýkiến hay cảm xúc của mình và được đặt câu hỏi nếu họ không hiểu vấn đềnào đó
Tuy nhiên, trên thực tế, ở một số trường trung cấp chuyên nghiệp,việc dạy và học bộ môn tiếng Anh vẫn chưa đạt được hiệu quả cao nhưmong muốn Đa số học sinh không có hứng thú khi học tiếng Anh cũngnhư không nắm kĩ bài dạy của thầy cô, hay không thể áp dụng kiến thứcvừa được học vào ngữ cảnh khác Nhìn chung, các em học sinh vẫn chưathật sự nhận thấy tầm quan trọng của việc học tiếng Anh Với suy nghĩ môntiếng Anh chỉ là một môn điều kiện trong chương trình học nên các emchưa thực sự nhận thấy cần thiết phải chuẩn bị vốn tiếng Anh cho mình Cụthể là một số em đi học không đầy đủ, đa số các em thờ ơ với việc phátbiểu xây dựng bài, nhiều em không làm bài tập về nhà và tra cứu từ vựng
để chuẩn bị bài trước khi đến lớp, lớp học rời rạc, trình độ học sinh chênhlệch Thực trạng học sinh thờ ơ, không chú trọng vào bộ môn tiếng Anhdường như đã và đang là vấn đề chung của hầu hết các trường TCCN
Trang 6Thực tế, trong quá trình dạy và học ngoại ngữ, học sinh sẽ học tậphiệu quả hơn nếu họ được học trong bầu không khí học tập vui vẻ, thư giãn
và có nhiều cơ hội được giao tiếp trong bối cảnh của thế giới thực Việc sửdụng các trò chơi ngôn ngữ trong giảng dạy ngoại ngữ là một trong nhữngphương pháp hữu hiệu có thể làm tăng động cơ học tập cho học sinh, mộttrong những yếu tố quyết định đến thành công trong việc học ngoại ngữ của
họ Đồng thời, giúp cho giáo viên tạo ra những ngữ cảnh mà ở đó ngôn ngữthực hành rất hữu dụng và dễ hiểu với người học Người học muốn thamgia vào trò chơi thì họ phải hiểu người khác đang nói gì hay đã viết gì, và
họ phải nói ra hoặc viết ra được những điều để trình bày quan điểm riêngcủa họ hay để trình bày thông tin cho người khác hiểu Các trò chơi ngônngữ có thể được sử dụng để phát triển cả bốn kỹ năng cho sinh viên: Nghe,Nói, Đọc và Viết Bên cạnh đó còn có những trò chơi phát triển vốn từvựng, và cải thiện cách phát âm Các trò chơi còn được áp dụng cho cáchọc sinh khác nhau ở mỗi trình độ khác nhau
Vì thế, với đề tài “Tăng cường hứng thú học tập môn tiếng Anh cho
học sinh hệ Trung cấp chuyên nghiệp tại trường Trung cấp Kinh tế - Công nghệ Cai Lậy với trò chơi ngôn ngữ”, tôi đã tiếp tục đi sâu tìm tòi nghiên
cứu đề tài này theo hướng vận dụng lý luận vào thực tế giảng dạy, vớimong muốn đóng góp những kinh nghiệm của mình vào việc tạo hứng thúhọc tập cho học sinh TCCN, giúp các em yêu thích, say mê môn học đểgóp phần nâng cao chất lượng dạy và học bộ môn tiếng Anh
II MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Mục đích nghiên cứu của đề tài nhằm tăng cường hứng thú học tập,giảm được sự ức chế tối đa trong giờ học tiếng Anh cho học sinh hệ TCCNnói chung và học sinh hệ TCCN của trường Trung cấp Kinh tế - Công nghệCai Lậy nói riêng Đồng thời, giúp cho học sinh có điều kiện sử dụng ngoạingữ một cách tự nhiên, hình thành khả năng chủ động trong giao tiếp vàcũng để củng cố, ôn tập lại những kiến thức đã được học một cách thườngxuyên và có hiệu quả Ngoài ra, mục đích nghiên cứu của đề tài còn nhằmnâng cao nghiệp vụ chuyên môn của bản thân giáo viên giảng dạy bộ môntiếng Anh và để trao đổi kinh nghiệm với đồng nghiệp
III NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
- Tổng hợp lý luận về vai trò của hứng thú học tập, phương phápgiảng dạy bộ môn tiếng Anh và tổ chức các trò chơi trong giờ dạy tiếngAnh
- Tìm hiểu thực trạng dạy tiếng Anh cho học sinh TCCN
- Tìm hiểu hiệu quả của việc sử dụng các trò chơi ngôn ngữ(Language Games) trong tiết dạy tiếng Anh
Trang 7- Đưa ra một số đề xuất cho việc ứng dụng trò chơi ngôn ngữ vào giờdạy tiếng Anh cho học sinh TCCN.
IV PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu này chỉ giới hạn ở trường Trung cấp Kinh tế - Công
nghệ Cai Lậy, bộ môn Tiếng Anh trong năm học 2011 - 2012.
V PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Bài nghiên cứu sử dụng các phương pháp nghiên cứu như sau:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm.
- Phương pháp quan sát sư phạm
- Phương pháp thực nghiệm giáo dục
- Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động
Trang 8PHẦN II – NỘI DUNG CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN
1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Việc áp dụng những trò chơi ngôn ngữ trong quá trình dạy và họcngoại ngữ là một trong những biện pháp quan trọng để đổi mới phươngpháp dạy học bộ môn tiếng Anh hiện nay Vấn đề này đã thu hút được sựquan tâm của nhiều nhà lý luận dạy học cũng như các giáo viên dạy học bộmôn tiếng Anh Vấn đề này cũng đã được đề cập đến trong một số côngtrình nghiên cứu về giáo dục và trong các bài viết trên các tạp chí giáo dục
Tuy nhiên, trong thực tế ở trường trung cấp Kinh tế - Công nghệ CaiLậy, vẫn chưa có ai nghiên cứu về lĩnh vực này
2 Một số khái niệm liên quan đến đề tài
Có thể nói rằng: hứng thú học tập là một trong những yếu tố quantrọng của việc học và cũng rất khó đánh giá Hứng thú học tập – sự sẵnsàng nổ lực trong việc học là sản phẩm của nhiều yếu tố: cá tính của họcsinh, chức năng riêng biệt của mỗi nhiệm vụ học tập, sự nỗ lực cần cù và cảthái độ của giáo viên…
Nói cách khác, “hứng thú học tập” là một nhu cầu hay lòng hammuốn mà người học cảm thấy khi học một ngôn ngữ Nếu lòng ham muốn
đó đủ mạnh thì người học sẽ nổ lực nhiều hơn để làm tăng hiệu quả của quátrình học tập
2.2 Trò chơi ngôn ngữ
Theo Byre (1995), trò chơi ngôn ngữ là những hoạt động vui chơi cónhững qui tắc, qui luật được tổ chức không chỉ nhằm thay đổi không khícho những hoạt động thường ngày, mang lại niềm vui mà còn khiến ngườihọc sử dụng ngôn ngữ đang học vào trò chơi
Nói tóm lại, trò chơi ngôn ngữ không phải là một trò chơi thuần túy,chỉ có mục đích thư giản, giải trí mà thực tế đây là một loại hoạt động vừahọc vừa chơi Thông qua các hoạt động vui chơi của học sinh, giáo viên
Trang 9lồng ghép các mục đích cụ thể trong việc sử dụng ngôn ngữ, sử dụng cấutrúc hay ôn tập từ vựng
2.3 Điều kiện để tăng cường hứng thú học tập cho học sinh
Theo Downs (2000:8), hứng thú học tập của học sinh sẽ tăng nếu cónhững điều kiện sau:
Khi học sinh cảm thấy họ được thừa nhận và thấu hiểu
Khi học sinh tin rằng họ có thể thành công
Khi ngôn ngữ đang học có mục đích giao tiếp
Khi người học có trách nhiệm với việc học của họ
Nói tóm lại, mức độ hứng thú của học sinh là một trong những yếu
tố quan trọng để quyết định liệu học sinh đó có thành công để đạt đượchiệu quả học tập ngoại ngữ hay không
Như vậy, nhiệm vụ quan trọng nhất của giáo viên là làm thế nào đểtăng hứng thú học tập cho học sinh Bởi vì sự khích lệ của giáo viên cũng
là một biện pháp để củng cố, tăng cường hứng thú cho học sinh
Theo Salvin (1994: 30), giáo viên có thể làm tăng bản chất củahứng thú bằng những cách sau:
Khuấy động sự quan tâm, thích thú của học sinh
Duy trì sự tò mò, ham hiểu biết của học sinh
Sử dụng nhiều phương pháp trình bày
Giúp học sinh tự đặt ra những mục đích riêng biệt, rõ ràng
Cung cấp những thông tin phản hồi nhanh chóng, thường xuyên
Sử dụng các phương pháp khen thưởng, động viên học sinh kịpthời
2.4 Phương pháp dạy và học bộ môn tiếng Anh
2.4.1 Phương pháp Ngữ pháp – Dịch (Grammar – Translation method)
Với phương pháp này, chương trình tập trung chủ yếu vào phát triển kỹnăng đọc hiểu, học thuộc lòng từ vựng, dịch văn bản, viết luận (composition)
và phân tích ngôn ngữ (học để nắm chắc quy tắc ngôn ngữ)
Các bài khóa (texts) được biên soạn và chia ra thành từng đoạn ngắn.Học sinh được học về ngữ pháp rất kỹ trên cơ sở các hiện tượng ngữ pháp cơbản được rút ra từ các bài khóa Để kiểm tra sự thông hiểu về nội dung bài
Trang 10khóa và các quy tắc ngôn ngữ, HS bắt buộc phải dịch các bài khóa sang tiếng
mẹ đẻ HS không được phép mắc lỗi ngôn ngữ, nếu có phải sửa ngay
2.4.2 Phương pháp Nghe – Nói (Audiolingual method)
Khác với phương pháp ngữ pháp – dịch, phương pháp nghe - nóiđáp ứng đúng mục tiêu cần đạt của người học là hình thành và phát triển cảbốn kỹ năng, nhưng ưu tiên phát triển nói, nghe trước đọc và viết Việccung cấp kiến thức ngôn ngữ (ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp) được thực hiệnxen lồng trong quá trình dạy học
Phương pháp nghe - nói không cho phép việc dùng tiếng mẹ đẻtrong lớp; khuyến khích tối đa dùng tiếng Anh trong quá trình dạy học Khithực hiện, người ta nhấn mạnh việc phát triển hai kỹ năng nói và nghe làchủ yếu Việc dạy học thông qua thực hành cấu trúc câu (structures) và quacác bài tập ứng dụng, người học tự phát hiện và tìm hiểu những điểm giốngnhau (so với tiếng mẹ đẻ) về cấu trúc câu, cách phát ngôn và đưa ra các quitắc ngôn ngữ Học sinh cần nắm bắt trước mẫu do giáo viên cung cấp, sau
đó luyện tập mẫu đó thực chất là hình thành một thói quen ngôn ngữ theocác hình thức như: hỏi và trả lời về bài đối thoại mẫu, thực hành thêm một
số bài tập cấu trúc (thay thế, bổ sung, chuyển đổi …)
2.4.3 Phương pháp Giao tiếp (Communiactive Approach)
Phương pháp giao tiếp được xem như phương pháp dạy học ngoại ngữphổ biến nhất và hiệu quả nhất hiện nay Hầu hết các giáo trình, SGK phổ thôngtiếng Anh trên thế giới và ở Việt Nam hiện nay đều được biên soạn dựa theoquan điểm của phương pháp này Qua đó, coi mục tiêu cuối cùng của dạy họcngoại ngữ là phát triển kỹ năng giao tiếp/ kỹ năng ngôn ngữ (linguistic skills),năng lực giao tiếp (communicative competence) Để giao tiếp được, phươngpháp này đòi hỏi phải tính đến phương diện xã hội, văn hóa của ngôn ngữ,các điều kiện xã hội của quá trình sản sinh ngôn ngữ, và tính đến ngôn ngữđược dùng trong cuộc sống hàng ngày
Ngoài ra, phương pháp giao tiếp còn chú ý tới phương diện nghĩacủa ngôn ngữ, hay nói một cách khác cần lưu ý tới ý định giao tiếp(intention of communication) Khái niệm này về sau các nhà ngôn ngữ gọi
là chức năng ngôn ngữ (language function) Như vậy, theo phương pháp
giao tiếp ngôn ngữ không chỉ là phương tiện diễn đạt tư duy mà còn làphương tiện giao tiếp Mục đích cuối cùng của người học ngoại ngữ khôngchỉ tiếp thu và nắm chắc kiến thức ngôn ngữ (ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp)
mà cần phải đạt được năng lực (khả năng) giao tiếp; tức là phát triển đượctất cả 4 kỹ năng ngôn ngữ (nghe, nói, đọc, viết) và sử dụng được ngôn ngữ
để giao tiếp Vì vậy, các tài liệu dạy học hiện nay đều hướng đến giúp
Trang 11người học có thể thực hiện được các chức năng ngôn ngữ khác nhau, chẳng
hạn như xin phép, đề nghị, yêu cầu ai đó làm việc gì; mô tả sự vật; bày tỏ
sự quan tâm, thích thú hoặc không thích v.v …
Hơn nữa, để giao tiếp hiệu quả, người học cần phải sử dụng các hình
thức ngôn ngữ thích hợp với tình huống giao tiếp (situations), trong đó yêu cầu người tham gia giao tiếp phải thể hiện được ý định giao tiếp (intention) thông qua việc thực hiện các nhiệm vụ khác nhau (tasks).
Với phương pháp này, trong giờ dạy giáo viên thực hiện theo 5bước:
+ Giới thiệu ngữ liệu (Presentation)
- Trò chơi ngôn ngữ giúp học sinh sử dụng ngôn ngữ một cách tức
thời và sáng tạo Có tác dụng kích thích lòng đam mê và sự hứng thú củangười học
- Trò chơi ngôn ngữ giúp tập trung sự chú ý của học sinh vào những
cấu trúc, những điểm ngữ pháp và những chủ đề từ vựng cụ thể
- Trò chơi ngôn ngữ có tác dụng như một bài ôn tập, giúp học sinh
củng cố những cấu trúc ngữ pháp đã được học, trao dồi thêm vốn từ vựngcho bản thân
- Trò chơi ngôn ngữ tạo sự bình đẳng cho cả nhóm học sinh khá, giỏi
và học sinh trung bình, yếu Giáo viên có thể điều chỉnh trò chơi cho phùhợp với những học sinh ở những trình độ khác nhau
- Trò chơi ngôn ngữ tạo nên không khí ganh đua lành mạnh, tạo môitrường thuận tiện để học sinh sử dụng ngôn ngữ một cách tự nhiên và sángtạo
- Thông qua trò chơi ngôn ngữ, giáo viên có thể nhận ra những điểm
mạnh, điểm yếu của học sinh cũng như những chỗ hỏng cần được bổ sungtrong quá trình tiếp thu kiến thức của học sinh
Trang 12CHƯƠNG II KHẢO SÁT THỰC TRẠNG DẠY VÀ HỌC BỘ MÔN TIẾNG ANH Ở TRƯỜNG TRUNG CẤP KINH TẾ - CÔNG NGHỆ
CAI LẬY
1 Cơ sở vật chất và trang thiết bị dạy học
1.1 Thuận lợi
- Được sự quan tâm của ban giám hiệu, các thầy cô và bạn đồng
nghiệp giúp đỡ tận tình về mọi mặt
- Môi trường học tập được trang bị tương đối đầy đủ trang thiết bị hỗ
trợ cho việc giảng dạy như máy vi tính, máy chiếu
1.2 Khó khăn
- Mặc dù đã được trang bị một số trang thiết bị hỗ trợ giảng dạy, tuy
nhiên, chất lượng của các trang thiết bị này vẫn chưa được đảm bảo
- Nhà trường vẫn chưa trang bị một số trang thiết bị phục vụ cho
công tác giảng dạy bộ môn tiếng Anh như máy cassette, băng đĩa hỗ trợcho việc giảng dạy và trao dồi kỹ năng nghe cho học sinh, bảng con phục
vụ cho việc làm bài tập theo nhóm…
- Thư viện trường chưa trang bị đủ từ điển, sách, báo, giáo trình và
tài liệu tham khảo về bộ môn tiếng Anh nhằm hỗ trợ cho quá trình tự học,
tự trao dồi của các em học sinh
- Ngoài ra, nhà trường còn chưa có phòng bộ môn, chưa có những
buổi sinh hoạt chuyên đề làm cho học sinh chưa phát huy hết khả năng củamình trong quá trình học tập và rèn luyện kỹ năng
- Khó khăn cuối cùng và cũng chính là khó khăn lớn nhất đối với
việc dạy và học bộ môn tiếng Anh đó là phân phối chương trình chưa hợp
lý Hiện nay, giáo trình được sử dụng để giảng dạy bộ môn tiếng Anh ởtrường Trung cấp Kinh tế - Công nghệ Cai Lậy là SGK tiếng Anh lớp 10,
11, 12 Chỉ với 120 tiết trong thời lượng của chương trình bộ môn tiếngAnh hệ TCCN, lượng kiến thức giáo viên cần phải truyền thụ cho học sinh
là quá lớn (48 bài và 18 bài Test Yourself) Tŕnh độ học sinh quá yếunhưng phải tiếp nhận một lượng kiến thức quá lớn như vậy nên rất dễ dẫnđến việc các em học sinh cảm thấy chán nản và bị áp lực đối với giờ họctiếng Anh
- Chỉ với 2 tiết cho mỗi đơn vị bài học, giáo viên không thể truyền
thụ cả 4 kỹ năng đọc hiểu, nói, nghe hiểu, viết và cả phần trọng tâm ngônngữ như chương trình trong SGK cho học sinh Do vậy, giáo viên chỉ cóthể tập trung giảng dạy 2 phần trong tổng số 5 phần trong một đơn vị bàihọc của chương trình SGK Đó là phần đọc hiểu (Reading) và phần trọng
Trang 13tâm ngôn ngữ (Language Focus) cho học sinh Vì thế, học sinh không có cơhội học tập và rèn luyện các kỹ năng khác (nghe, nói, viết)
- Đại đa số bộ phận học sinh ở vùng nông thôn, điều kiện học tập của
các em chưa được đầy đủ Mà một trong những điều kiện để học giỏi môntiếng Anh là cần có sự hỗ trợ của các tài liệu, trang thiết bị như từ điển,sách tham khảo, băng đĩa, máy cassette nhằm giúp học sinh tự học, tự rènluyện Vì thế, dẫn đến tình trạng học sinh tiếp thu chậm, học lực khôngđồng đều
- Chất lượng đầu vào học sinh quá thấp Đa số học sinh chỉ đạt trình
độ 9/12, còn nhiều học sinh yếu, các em chưa nắm được kiến thức, học tậpmột cách thụ động, đa số các em rất ngại thực hành nói trên lớp vì các em
sợ nói ra sẽ bị sai, sẽ bị bạn bè cười nhạo Ngoài ra, vẫn còn một số họcsinh chưa có ý thức học tập đúng đắn, một số em không ghi chép bài trênlớp, không làm bài tập về nhà Thậm chí, trong quá trình làm bài tập tạilớp, một số em không tự làm bài mà luôn chờ đợi kết quả của bạn mình đưa
ra
- Đa số học sinh chưa mạnh dạn ứng dụng những kiến thức đã được
học vào thực tế giao tiếp hằng ngày
- Đa số học sinh nhận thức về môn học này chưa đúng đắn, hầu hết
các em chưa thấy được tầm quan trọng của bộ môn tiếng Anh trong thời kỳhội nhập quốc tế đặc biệt là tầm quan trọng của bộ môn đối với chuyênngành mà mình đang học Vì thế hầu hết các em học sinh đều xem bộ môntiếng Anh như một môn điều kiện, bắt buộc phải học trong chương trình.Một số em chỉ học vì tò mò nên khi gặp khó khăn thì thả lỏng, buông xuôi
3 Về phía giáo viên
3.1 Thuận lợi
- Giáo viên luôn cố gắng áp dụng phương pháp giảng dạy mới, sinh
động giúp khơi dậy nguồn cảm hứng của người học
- Bản thân giáo viên luôn phấn đấu tìm tòi, học hỏi kinh nghiệm từ
những giáo viên lâu năm, trao dồi chuyên môn nghiệp vụ qua các nguồn tài
Trang 14liệu khác nhau như sách, báo, tạp chí về giáo dục, một số trang web vềgiảng dạy tiếng Anh và thông qua các hội thảo và workshop về phươngpháp giảng dạy tiếng Anh
3.2 Khó khăn
- Số lượng giáo viên giảng dạy bộ môn tiếng Anh quá ít (chỉ có 1
giáo viên) nên không có điều kiện học tập, trao đổi kinh nghiệm lẫn nhau.Hầu như giáo viên phải tự tìm tòi, học hỏi qua sách báo, một số trang web
về giảng dạy tiếng Anh và một số giáo viên từ những trường lân cận
- Giáo viên giảng dạy còn khá trẻ (vừa mới ra trường) nên chưa có
kinh nghiệm trong việc giáo dục, tổ chức và quản lý lớp học đặc biệt hệtrung cấp chuyên nghiệp
- Phương pháp giảng dạy chưa phù hợp Do trình độ học sinh khá
chênh lệch, một số học sinh chỉ mới hoàn thành chương trình THCS, một
số em chỉ mới hoàn thành một trong 3 khối lớp trong chương trình học ởcác lớp hệ THPT (10, 11, 12), ngoài ra còn có một số học sinh đã tốtnghiệp THPT Trong một lớp học với trình độ học sinh đa dạng như thế,giáo viên gặp rất nhiều khó khăn trong việc tìm ra phương pháp giảng dạyphù hợp với từng trình độ học sinh
- Thực hiện chương trình đổi mới giáo dục của Bộ Giáo dục và Đào
tạo, giáo viên đã chú trọng nhiều đến phương pháp giảng dạy Tuy nhiên,trong quá trình tổ chức các hoạt động dạy và học bộ môn tiếng Anh, giáoviên vẫn còn rập khuôn với những gì đã được hướng dẫn, chưa sáng tạo,thiếu linh động, sáng tạo nên hiệu quả tiết học chưa cao, chưa tạo đượchứng thú học tập cho tất cả học sinh
Trang 15CHƯƠNG III GIẢI PHÁP
1 Các giải pháp cụ thể
Từ những thực trạng nêu trên, là người trực tiếp giảng dạy bộ môntiếng Anh ở trường TCCN, tôi đã cố gắng suy nghĩ, tìm tòi biện pháp đểnâng cao chất lượng dạy và học bộ môn tiếng Anh cho học sinh hệ TCCNnói chung và học sinh trường Trung cấp Kinh tế - Công nghệ Cai Lậy nóiriêng
Hiểu được tâm sinh lý của các em học sinh là thích làm theo ý mình,thích cái mới lạ, ham chơi hơn ham học Vì thế, tôi đã thay đổi phươngpháp giảng dạy của mình, giúp các em vừa học vừa chơi, tạo cho các emkhông khí nhẹ nhàng, thoải mái thông qua các trò chơi ngôn ngữ Đây đượcxem như những thủ thuật dạy học mới thay thế những thủ thuật cũ mà các
em đã quá nhàm chán
Sau một thời gian áp dụng trò chơi ngôn ngữ vào quá trình giảng dạy
bộ môn tiếng Anh, kết quả đạt được rất khả quan Vì vậy, tôi xin trình bàydưới đây một số kinh nghiệm thực tế của mình với các đồng nghiệp để traođổi, học tập nhằm không ngừng nâng cao tay nghề, với mục đích cuối cùng
là làm sao cho học sinh say mê hơn nữa đối với bộ môn tiếng Anh
Tùy thuộc vào nội dung và mục đích của từng bài học, từng trình độhọc sinh chúng ta có thể áp dụng từng loại hình trò chơi khác nhau chotừng giai đoạn khác nhau của cùng một tiết học Từ khâu mở đầu cho mộttiết dạy (khởi động), dẫn dắt vào bài, giới thiệu ngữ liệu, thực hành, củng
cố cho đến ôn tập, kiểm tra, mở rộng Bất cứ ở bước nào chúng ta cũng cóthể áp dụng được trò chơi ngôn ngữ một cách linh hoạt, tự nhiên mà hiệuquả Sau đây, tôi xin được giới thiệu cụ thể một số trong những trò chơi tôi
đã áp dụng ở một số bài ở ba giai đoạn (khởi động, củng cố, thực hành và
ôn tập) trong chương trình bộ môn tiếng Anh học phần II năm học 2011 –
2012 tại trường trung cấp Kinh tế - Công nghệ Cai Lậy
Những trò chơi ngôn ngữ này, với các tiết dạy ứng dụng công nghệthông tin người dạy có thể soạn bằng PowerPoint; trong các tiết dạy thôngthường thì có thể viết, vẽ trực tiếp lên bảng hoặc bìa, giấy miễn là có sựchuẩn bị trước của giáo viên
1.1 Giai đoạn khởi động vào bài
Có thể nói đây là giai đoạn khá thú vị trong tiết học Nó góp phầnquyết định sự thành công của giờ dạy bởi vì việc tạo được hứng thú, ấntượng ban đầu rất quan trọng Người học có hứng thú hay không, người dựgiờ có cảm tình với giờ dạy hay không, chính nhờ vào sự khéo léo của giáoviên trong phần khởi động, dẫn dắt này
Trang 16Để giới thiệu được kiến thức mới một cách rất tự nhiên mà thú vị,khiến cho học sinh cảm thấy tự nhiên, hứng khởi và tò mò muốn khám phácho được nội dung của bài học mới Giáo viên có thể sử dụng một số tròchơi sau đây:
Shark attack (kèm theo đĩa CD)
Mục tiêu
- Học sinh có thể đoán được chủ đề sắp được học.
Các bước thực hiện chung
- Giáo viên chia lớp thành 2 đội.
- Giáo viên gợi ý số chữ cái của từ cần đoán và đưa ra câu hỏi gợi ý
về từ cần đoán
- Lần lượt từng đội đoán các chữ cái có trong từ Đội nào đoán sai
sẽ phải rơi xuống một bậc thang và nhường quyền trả lời cho đội còn lại
- Đội nào rơi vào bậc thang cuối cùng sẽ bị cá mập tấn công.
- Đội nào đoán đúng nhiều chữ hơn sẽ là đội thắng cuộc
Cụ thể cho từng bài dạy
Đối với trò chơi “Shark attack”, tôi đã áp dụng cho bài 25 “The PostOffice”
- Giáo viên chia lớp thành 2 đội: đội “Cat” và đội “Rabbit”.
- Giáo viên đưa ra luật chơi: “Đây là cụm từ gồm 10 chữ cái Lần
lượt từng đội đoán các chữ cái có trong từ Đội nào đoán sai sẽ phải rơixuống một bậc thang và nhường quyền trả lời cho đội còn lại Đội nào rơivào bậc thang cuối cùng sẽ bị cá mập tấn công Đội nào đoán đúng nhiềuchữ hơn sẽ là đội thắng cuộc.”
- Giáo viên đưa ra gợi ý: “This is a place”
- Từ khóa: “Post office”
- Giáo viên tổng kết, tuyên dương đội thắng cuộc.
Chung sức (kèm theo đĩa CD)
- Học sinh có thể đưa ra một số thông tin liên quan đến chủ đề sắp
được học
Các bước thực hiện chung
- Giáo viên chia lớp thành 2 đội.
Trang 17- Giáo viên chuẩn bị một số nội dung liên quan đến chủ đề.
- Giáo viên yêu cầu lần lượt từng đội liệt kê các ý liên quan đến chủ
đề Mỗi câu trả lời trùng khớp với câu trả lời mà giáo viên chuẩn bị sẵn sẽnhận được số điểm tương ứng với số điểm trong ô chứa câu trả lời đó
- Đội nào đạt điểm số cao hơn sẽ là đội chiến thắng.
- Đối với trò chơi “Chung Sức”, tôi đã áp dụng cho bài 30
“Recreation”
- Giáo viên chia lớp thành 2 đội: đội A và đội B.
- Giáo viên đưa ra luật chơi: “ Có 8 hoạt động phổ biến nhất mà mọi
người thường làm trong khoảng thời gian rảnh Hãy liệt kê một số hoạtđộng người ta thường làm trong khoảng thời gian rảnh Mỗi câu trả lờitrùng khớp với câu trả lời có sẵn sẽ nhận được số điểm tương ứng với câutrả lời đó Đội nào đạt được số điểm cao hơn sẽ là đội chiến thắng.”
Câu hỏi gợi ý: “The activities people do at the free time.”
Đáp án gợi ý:
The activities people do at the free timeWatch television 20 Surf the internet 20
- Giáo viên tổng kết điểm và tuyên dương đội chiến thắng.
Guessing the picture (kèm theo đĩa CD)
Mục tiêu
- Học sinh có thể trả lời một số câu hỏi liên quan đến chủ đề và đoán
được chủ đề sắp được học
Các bước thực hiện chung
- Giáo viên chia lớp thành 2 đội.
Trang 18- Giáo viên chuẩn bị một bức ảnh chính bị che bởi một số bức ảnh
phụ
- Lần lượt từng nhóm chọn từng bức ảnh phụ và trả lời câu hỏi tương
ứng với bức ảnh đó Mỗi câu trả lời đúng sẽ nhận được 10 điểm và mộtphần của bức ảnh chính sẽ hiện ra Đội nào đoán được nội dung bức ảnhchính sẽ được 50 điểm Lưu ý: Sau khi trả lời đúng những câu hỏi trong 2/3tổng số các bức ảnh phụ, học sinh mới có thể trả lời nội dung bức ảnhchính.”
- Đội nào đạt được nhiều điểm hơn sẽ là đội chiến thắng
Cụ thể cho từng bài dạy
Đối với trò chơi “Guessing the picture”, tôi đã áp dụng cho bài 38
“Future Jobs”
- Giáo viên chia lớp thành 2 đội: đội A và đội B.
- Giáo viên đưa ra luật chơi: “Có một bức ảnh chính bị che bởi 8 bức
ảnh phụ, mỗi bức ảnh chứa 1 câu gợi ý về một nghề nghiệp Lần lượt từngnhóm chọn từng bức ảnh phụ và trả lời câu gợi ý tương ứng với bức ảnh đó.Mỗi câu trả lời đúng sẽ nhận được 10 điểm và một phần của bức ảnh chính
sẽ hiện ra Đội nào đoán được nội dung bức ảnh chính sẽ được 50 điểm.Lưu ý: Sau khi trả lời đúng 5 câu hỏi trong các bức ảnh phụ, học sinh mới
có thể trả lời nội dung bức ảnh chính.”
Câu hỏi gợi ý:
1 A person who plays music.
2 A person who directs traffic at the crossroads.
3 A person who flies a plan.
4 A person who protects the country.
5 A person who helps people when they are sick.
6 A person who travels a lot and show tourists around interesting
places
7 A person who advices people about the law.
8 A person who keeps or checks financial accounts.
Trang 19Lawyer Accountant
- Giáo viên tổng kết điểm, tuyên dương đội thắng cuộc.
- Nội dung bức ảnh chính: “The Interview.”
Crosswords (kèm theo đĩa CD)
Mục tiêu
- Học sinh có thể trả lời một số câu hỏi liên quan đến chủ đề và
đoán được chủ đề sắp được học
Các bước thực hiện chung
- Giáo viên chia lớp thành 2 đội.
- Giáo viên chuẩn bị một số ô chữ hàng ngang bị che và được sắp
xếp theo một trật tự nhất định Mỗi ô hàng ngang sẽ có một chữ cái được tôđậm Có một từ khóa được sắp xếp theo hàng dọc, theo trật tự bởi nhữngchữ cái được tô đậm trong những ô hàng ngang
- Lần lượt từng đội chọn một ô chữ hàng ngang bất kỳ và trả lời câu
hỏi gợi ý về ô chữ đó Mỗi câu trả lời đúng đội đó sẽ nhận được 10 điểm.Đội nào đoán được từ khóa sẽ nhận được 50 điểm Lưu ý: Sau khi 2/3 tổng
số ô hàng ngang được mở ra, học sinh mới có quyền đoán từ khóa
- Đội nào đạt được nhiều điểm hơn sẽ là đội chiến thắng
Cụ thể cho từng bài dạy
Đối với trò chơi “Crosswords”, tôi đã áp dụng cho bài 44
“Water Sports”
- Giáo viên chia lớp thành 2 đội: đội A và đội B.
- Giáo viên đưa ra luật chơi: “ Có 11 ô chữ hàng ngang bị che và
được sắp xếp theo một trật tự nhất định Mỗi ô hàng ngang sẽ có một chữcái được tô đậm Có một từ khóa gồm 11 chữ cái được sắp xếp theo hàngdọc, theo trật tự bởi những chữ cái được tô đậm trong những ô hàng ngang.Lần lượt từng đội chọn một ô chữ hàng ngang bất kỳ và trả lời câu hỏi gợi
ý về ô chữ đó Mỗi câu trả lời đúng đội đó sẽ nhận được 10 điểm Đội nàođoán được từ khóa sẽ nhận được 50 điểm Lưu ý: Sau khi 8 ô hàng ngangđược mở ra, học sinh mới có quyền đoán từ khóa Đội nào đạt được nhiềuđiểm hơn sẽ là đội chiến thắng.”
Câu hỏi gợi ý:
1 Boys have to wear trunks; girls have to wear a bath suit to do this
2 A game played in the US by two teams of nine players, using a batand ball
Trang 203 It is the most popular sport in the world.
4 There are a Queen, a King, a castle… in this game
5 A game for two people played with long sticks and three balls on along table covered with green cloth
6 A synonym of board-sailing
7 Another name of table tennis
8 A game played over a large area of ground using specially shapedsticks to hit a small hard ball into a series of 9 or 18 holes
9 A game played by two teams of 13 or 15 players using an ovalball
10 A game like tennis played by two or four people, usually indoors
11 An activity which involves being pulled through the water by afast boat