Bộ Câu hỏi và đáp án ôn thi Chính Sách tiền Tệ Quốc Gia trình độ Thạc sĩ chuyên ngành Tài chính Ngân Hàng Kinh tế. Sử dụng cho sinh viên Đại học, sau đại học, bộ câu hỏi ôn tập thi hết môn, tài liệu tham khảo viêt luận văn
Trang 1NỘI DUNG CÂU HỎI ÔN TẬP MÔN NHTM
1 Vai trò của vốn trong hoạt động của NHTM
Ngân hàng thương mại là một trong những trung gian tài chính có khốilượng vốn lớn nhất trong hệ thống tài chính của một quốc gia Vốn củaNHTM được hình thành từ vốn tự có, vay bằng cách phát hành trái phiếu,huy động từ thị trường bằng các kênh huy động tiền gửi thanh toán, tiền gửitiết kiệm,… và các nguồn vốn khác Khi huy động được nguồn vốn lớn nàythì dùng để cho vay lại thông qua các TCKT, hộ gia đình, cá nhận để phục
vụ SXKD hay tiêu dùng Ngoài việc cho vay, các NHTM còn dùng vốn này
để đầu tư vào các lĩnh vực khác như mua chứng khoán, trái phiếu Chính phủ,trái phiếu Địa phương để tìm kiếm lợi nhuận Như vậy, vốn của Ngân hàngthương mại là những giá trị tiền tệ do NHTM tạo lập hay huy động đượcdùng để cho vay, đầu tư hoặc thực hiện các dịch vụ kinh doanh khác Vai tròcủa vốn trong NHTM thể hiện trên một số mặt chủ yếu sau đây:
- Vốn NHTM là cơ sở để ngân hàng tổ chức mọi hoạt động kinh doanh:NHTM là một doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ,nguồn vốn hình thành nên vốn kinh doanh là từ một phần thu nhập quốc dântạm thời nhàn rỗi trong xã hội mà người sở hửu nó gửi vào ngân hàng đểkiếm thêm một phần thu nhập lừ lãi tiền gửi hoặc đáp ứng nhu cầu khác củabản thân họ Đối với bất kỳ doanh nghiệp kinh doanh nào, bảo toàn, pháttriển nguồn vốn và việc tìm kiếm lợi nhuận là mục đích cuối cùng và quantrọng nhất Để đảm bảo hoạt động kinh doanh của NHTM diễn ra thôngsuốt, ngân hàng phải có nguồn vốn đủ lớn để đáp ứng cho tất cả mọi hoạtđộng cho vay, đầu tư và khả năng thanh khoản của mình Nói cách khác,NHTM mà không có đủ vốn thì không thể kinh doanh được bởi vì các đốitượng sử dụng sản phẩm của NHTM là tiền tệ Chính vì thế, ta có thể nóirằng vốn là điểm khởi đầu, là vấn đề cốt lõi cho chu kỳ kinh doanh của mộtNHTM - Vốn NHTM quyết định qui mô tín dụng và các hoạt động kháccủa ngân hàng: NHTM muốn quyết định mở rông cho vay hy thu hẹp qui môđều dựa trên nguồn vốn hiện có của mình Các NHTM lớn thông thường cónguồn vốn dồi dào nên có rất đa dạng sản phẩm tín dụng hơn những NHTMnhỏ, trên cơ sở đó mà họ có thể triển khai thêm nhiều tiện ích khác bao trùmmọi nhu cầu tài chính của xã hội Ngoài việc phát triển sản phẩm tín dụngtrog nước, các NHTM lớn có thể đầu tư ra nước ngoài để mở rộng thịtrường, tăng nguồn thu nhập cho ngân hàng
- Vốn NHTM quyết định năng lực thanh toán và đảm bảo uy tín của ngânhàng trên thị trường: NHTM có qui mô vốn lớn luôn có uy tín trên thị trườngthông qua khả năng thanh khoản Việc đảm bảo thanh toán cho các nhu cầucho vay, thanh toán là khả năng đáp ứng nguồn tiền cung ứng cho cácTCKT, cá nhân khi có nhu cầu Nếu tiềm năng vốn lơn, Ngân hàng có khảnăng mở rộng các hoạt động dịch vụ thanh toán đối với hầu hết các nhu cầu
cả khách hàng, tạo nên sự cạnh tranh có hiệu quả, nâng cao vị thế trên thịtrường không những trong nước và ngay cả trên thị trường quốc tế
- Vốn NHTM quyết định năng lực cạnh tranh của ngân hàng: Qui môvốn, trình độ nghiệp vụ, phương tiện kỷ thuật hiện đại của một ngân hàng làtiền đề cho việc thu hút nguồn vốn Khả năng về vốn của một NHTM có qui
mô lớn tạo điều kiện để mở rộng tín dụng đén tất cả mọi đội tượng trên thitrường, đặc biệt là các đối tượng khách hàng có qui mô lớn, làm ăn lớn, nhucầu vốn cao từ đó mà tạo ra nhiều lợi nhuận cho ngân hàng Vì có năng lựcvốn tốt, NHTM đã tạo lập được thương hiệu trên thị trường nên đó có thểđưa ra nhiều chính sách về lãi suất vừa phải, đáp ứng tốt cho mọi khách
Trang 2hàng hơn đối với các NHTM có qui mô vốn hạn chế Khi có vốn lớn, NTHM
sẽ mở rộng các các hình thức đầu tư, kinh doanh dịch vụ ngoài các nghiệp
vụ đơn thuần về huy động vốn, thanh toán, tín dụng mà còn mở rông thêmlĩnh vực khác như bảo lãnh trong và ngoài nước, cho huê tài chính, mư bánnợ,… Với nhiều hình thức kinh doanh như vây, ngân hàng tạo nên thế cạnhtranh rất lớn trên thị trường
• 2 Đặc điểm của các loại vốn của NHTM
Vốn của NHTM được tạo lập nên từ các nguồn đó là vốn tự có, vốn huyđộng, vốn đi vay và các nguồn vốn khác Các nguồn vốn này được hìnhthành nên bằng các nguồn gốc khác nhau, đặc điểm các nguồn vốn này cũng
có những sự khác biệt nhau nhưng đều tập trung vào mục đích cuối cùng là
để cho vay, đầu tư và các dịch vụ khác Đặc điểm của từng loại vốn củaNHTM cụ thể như sau:
- Vốn tự có của NHTM là là giá trị tiền tệ do các cổ đông tạo nên thuộc
sở hửu ngân hàng hinh thành do được cấp hoặc vốn góp Nguồn vốn nàythường chiếm một tỷ lệ nhỏ thông thường trên dưới 10% trong tổng nguồnvốn của NHTM, song lại là điều kiện pháp lý bắt buộc khi thành lập ngânhàng Nguồn vốn tự có của NHTM bao gồm vốn điều lệ được cấp hoặc đónggốp của các cổ đông lúc mới thành lập và vốn tự có bổ sung trong quá tìnhhoạt động kinh doanh
Do nguồn vốn tự có thuộc sở hửu của NHTM nên có tính ổn định lâu dài,ngân hàng chủ động trong việc sử dụng nguồn vốn này để trang bị cơ sở vậtchất kỷ thuật cho ngân hàng như nhà cửa, vật kiến trúc, máy móc thiết bị kỷthuật, phương tiện vận tải,… Mặt khác, với nguồn vốn có tính ổn định này,ngân hàng có thể dùng để đầu tư, góp vốn liên doanh liên kết
- Vốn huy động của NHTM là những giá trị tiền tệ mà ngân hàng huyđộng được từ các TCKT và trong mọi tầng lớp dân cư thông qua các nghiệp
vụ của mình dùng để phục vụ hoạt động kinh doanh của mình Nguồn vốnnày không thuộc sở hửu của mình mà thuộc các chủ sở hửu khác ngoài ngânhàng nên phải có trách nhiệm hoàn trả lại đầy đủ cả gốc lẫn lãi cho họ khiđến hạn hay khi có nhu cầu của người gửi tiền Nguồn vốn huy động luôn có
sự biến động về qui mô cũng như về thời gian luân chuyễn nên ngân hàng
sẽ khó chủ động trong việc sử dụng nguồn vốn này Tuy nhiên nguồn vốnnày được luân chuyễn qa ngân hàng có tính thường xuyên nên các NHTM có
kế hoạch sử dụng một tỷ lệ nhất định để cho vay đối với các đối tượng cónhu cầu Do nguồn vốn huy động khó chủ động trong hoạt động của mìnhnên NHTM phân ra các sản phẩm huy động tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi có kỳhạn và tiền gửi không kỳ hạn để có kế hoạch sử dụng một cách có hiệu quả
và đảm bảo khả năng thanh khoản
+ Tiền gửi tiết kiệm: Là khoản thu nhập (nhỏ lẽ, thường xuyên) của cánhân chưa sử dụng cho tiêu dùng đang nhàn rổi họ gửi vào ngân hàng vớimục đích tích lũy an toàn và có thêm một khoản tiền lãi, loại tiền gửi nàykhông dùng để thanh toán trực tiếp cho người khác Trên thực tế, tiền gửi tiếtkiệm có hai loại đó là TGTK không kỳ hạn và TGTK có kỳ hạn Tiền gửi tiếtkiệm không kỳ hạn là khoản tiền mà người gửi có thể rút ra khỏi ngân hàngbất cứ lúc nào khi họ cần đến, còn tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn là khoản tiềngửi có sự thỏa thuận thời hạn gửi và rút tiền cụ thể, khi đén hạn mới rút rakhỏi ngân hàng Do vậy, TGTK có kỳ hạn NHTM có thể chủ động hơn trongviệc sử dụng nó để cho vay, đầu tư của ngân hàng
+ Tiền gửi không kỳ hạn: Là loại tiền gửi của các tổ chức, cá nhân gửivào NHTM cho an toàn và chủ động trong việc thanh toán cho người khácmột cách thuận lợi Thông thường các khoản tiền gửi này, ngân hàng trả lãi
Trang 3suất thấp hoặc không được trả lãi Loại tiền gửi không kỳ hạn này thường cóhai loại là tiền gửi thanh toán và tiền gửi không kỳ hạn phi giao dịch Do cáckhoản tiền gửi này khác hàng chủ động rút ra bất cứ lúc nào nên NHTMthường không chủ động trong việc sử dụng nó để cho vay, đầu tư khác.
+ Tiền gửi có kỳ hạn: Là loại tiền gửi mà bên gửi tiền và NHTM có thỏathuận trước về thời hạn rút tiền nhất định (thường là các khoản tiền tích lủy,khoản tiền chưa cần sử dụng trong một thời gian nhất định của các tổ chức)
họ gửi vảo ngân hàng cho an toàn và có mức lãi cao hơn so tiền gửi không
kỳ hạn do vậy đây là nguồn vốn tương đối ổn định để NHTM chủ động hơntrong việc sử dụng cho vay, đầu tư thu lợi nhuận
- Vốn đi vay: Khi đã sử dụng hết nguồn vốn khả dụng mà không đáp ứng
đủ nhu cầu thanh toán thì NHTM này đi vay NHTM khác hoặc vay ngânhàng TW để bổ sung nguồn vốn cho hoạt động kinh doanh của mình Thôngthường các khoản vay này là do tình hình thanh khoản hay nói cách khác làvay tạm thời Đối với nguồn vốn này, NHTM không dùng để cho vay hayđầu tư tăng thu nhập
- Vốn khác: Đây là một nguồn vốn được tạo ra trong quá trình hoạt độngcủa mình Là trung gian thanh toán, NHTM tạo ra được một khoản vốn trêntài khoản mở thư tín dụng, các tài khoản phong tỏa do ngân hàng chấp nhậncác hối phiếu thương mại, các tài khoản séc bảo chi, séc định mức,… Đây làkhoản tiền ngân hàng có thể huy động được tạm thời trong hoạt đông kinhdoanh của mình nhưng không được ổn định
• 3 Các nhân tố ảnh hưởng đến nghiệp vụ tạo vốn cúa NHTM:
NHTM là một trung gian tài chính của nền kinh tế, các hoạt động kinhdoanh của ngân hàng là kinh doanh tiền tệ Để có nguồn vốn kinh doanh,NHTM cần phải có một ượng vốn đủ lớn để đáp ứng đầy đủ các nhu cầu vốncho quá trình SXKD và tiêu dùng của toàn xã hội Việc tạo vốn là là vấn đềquyết định sự thành công hay thất bại của một ngân hàng thương mại Tuynhiên việc tạo vốn của NHTM còn phụ thuộc rất nhiều yếu tó thuận lợi cũngnhư khó khăn từ môi trường kinh doanh của ngân hàng Dù các yếu tố tácđộng đén việc tạo vốn của NHTM là rất đa dạng, nhưng tựu trung lại chủyếu từ hai nhân tố đó là nhân tố khách quan và Nhân tố chủ quan
- Nhân tố khác quan: Đây là nhân tố từ bên ngoài tác động đến quá trìnhtạo vốn của NHTM Bao gốm:
+ Hành lang pháp lý: Đây là nhân tố có ảnh hưởng lớn đến nghiệp vụ tạovốn của NHTM Các bộ luật tác động trực tiếp đến hoạt động của NHTM đólà: Luật Các tổ chức tín dụng, Luật NHNN,… Những luật này quy định tỷ lệhuy động vốn so với vốn tự có, qui định việc phát hành trái phiêu, kỳ phiếu,cho vay đối với khách hàng,… Ngoài ra cón có các luật DN, luật công ty,luật dân sự, luật đầu tư nước ngoài,… tác động đén quan hệ giữa ngân hàngvới khách hàng,…
Ngoài các Luật thì hoạt động tạo vốn của NHTM còn bị lệ thuộc vào cácchính sách tài chính tiền tệ của quốc gia trong từng giai đoạn, từng hoàncảnh,… Các chính sách này thể hiện trên nhiều khía cạnh như: Mục tiêuchính sách tiền tệ, sử dụng các công củ tiền tệ, chính sách đầu tư của nhànước Các chính sách tiền tệ cho phép xây dựng phương pháp và lộ trình đểkiểm soát lạm phát ổn định đồng tiền quốc gia trong từng thời kỳ nhất định.Bên cạnh đó chính sách công cụ tiền tệ để NHNN đưa ra các lãi suất chiếtkhấu, dự trử bắt buộc đối với NHTM…
+ Tình hình kinh tế trong và ngoài nước: Việc tạo vốn của NHTM cũng lệthuộc chủ yếu về tình hình kinh tế trong nước cũng như ngoài nước Khi nên
Trang 4kinh tế ổn định và SXKD phát triển, tu nhập taonf xã hội tăng cao tạo nênnguồn tích lũy dồi dào hơn tạo thuận lợi cho việc huy động vốn của NHTM
và ngược lại
+ Tâm lý, thói quen người gửi tiền: Tập quán tiêu dùng cũng aanhr hưởngtrực tiếp đến nghiệp vụ tạo vốn của NHTM Nếu thói quen của dân cư tíchtrử tiền nhà rổi bằng hiện vật (Vàng, BĐS, ) thì việc huy động nguồn vốntrong dân cư sẽ gặp nhiều khó khăn vì khi có nguồn thu nhập, người dân họchỉ tích trử bằng hiện vật tại nhà mà không đến ngân hàng gửi Bên cạnh đócòn một ssos tập tục, quan niệm không muốn tiếp xúc với ngân hàng vì chorằng người có nhiều tiền và quan hệ xã hội rộng rãi mới có quan hệ với ngânhàng
- Nhân tố chủ quan: Đây là nhân tố từ bên trong tác động đến quá trìnhtạo vốn của NHTM Bao gốm:
+ Hình thức huy động vốn: Để thu hút được nguồn vốn trong dân cư,NHTM phải tạo ra nhiều hình thức đa dạng hình thức huy động vốn NếuNHTM có nhiều hình thức phong phú trong nghiệp vụ huy động vốn thìngân hàng dễ huy đông hơn Thông thường các NHTM sử dụng nhiều hìnhthức như kỳ phiếu, trái phiếu, tiền gửi tiết kiệm có nhiều thời hạn khác nhau
để dân chúng dễ lựa chọn
+ Hình thức cho vay: Ngân hàng cần mở rông nhiều sản phẩm cho vayđối với nền kinh tế như cho vay ngắn, trung-dài hạn, cho vay hợp vốn, lienkết,… để cho khách hàng phát huy tốt hiệu quả kinh doanh tạo được nănglực tài chính cho hoạt động kinh doanh của người vay và từ đó họ có nguồnvốn vững chắc để có tích lũy giúp ngân hàng cải thiện khả năng tạo vốn phùhợp
+ Công nghê trong thanh toán: Khi NHTM áp dụng thành tựu KH-KTtiên tiến vào hoạt động sẽ tạo cho tâm lý thanh toán nhanh chóng và thuậnlợi, khách hàng dần bỏ thói quen dùng tiền mặt mà tập trung mọi nguồn tiềnvào ngân hàng thanh toán một cách an toàn thì lúc đó ngân hàng sẽ huy độngđược hầu hết các nguồn thu nhập từ SXKD của khách hàng trong xã hội vào
từ đó tạo được nền vốn một cách vững chắc
+ Năng lực, trình độ của nhân viên ngân hàng: Đây là điều cốt lõi đểNHTM quản lý tốt về nhân sự Khi cán bộ ngân hàng có trình độ chuyênmôn nghiệp vụ cao sẽ tạo được niềm tin cho khách hàng Bên cạnh đó, ngânhàng dễ lường trước được những rủi ro xãy ra, nắm bắt được tình hình để tưvấn cho khách hàng họ sẽ yên tâm hơn trong việc gửi tiền vào ngan hàng
Có đội ngủ CBNV có trình độn nghiệp vụ tốt thì sẽ có điều kiện thu hútkhách hàng hơn
+ Mạng lưới phục vụ: Các NHTM có mạng lưới rộng khắp, bám sát địabàn dân cư cũng tạo điều kiện thu hút khách hàng nhiều hơn Khi dân chúng
có tiền nhàn rỗi họ dễ dàng đến các điểm giao dịch gần họ để gửi Nếu mạnglưới không sát dân cư người ta sẽ ngại hơn trong việc đến ngân hàng gửitiền, dẫn đến nguồn huy động sẽ bị hạn chế
+ Thái độ phục vụ: Đây là yếu tố có tính quyết định trong mối quan hệgiữa ngân hàng và khách hàng ảnh hưởng trực tiếp đến sự hài long củakhách hàng Nếu thái độ cán bộ ngân hàng tốt, nhiệt tình cởi mở thì kháchhàng họ sẽ đén nhiều và thường xuyên hown từ đó NHTM sẽ huy độngđược nhiều vốn hơn
+ Các dịch vụ do ngân hàng cung ứng: Ngân hàng phải đưa ra nhiều dịch
vụ tốt nhất cho khách hàng từ các sản phẩm dịch vụ cho đến cơ sở vật chấttốt đề khách hàng an tâm hơn khi đến ngân hàng Một ngân hàng có nhiều
Trang 5tiện ích dịch vụ trong thanh toán, chuyển tiền, cho vay,… và kể cả cơ sở vậtchất tốt tiện nghi thì khách hàng sẽ đến nhiều hơn, ngân hàng sẽ thu hútnhiều nguồn vốn của khách hàng hơn.
+ Bảo hiểm tiền gửi: Trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng cũngchứa nhiều rủi ro tiềm ẩn, để đảm bảo an toàn choc ho người gửi tiền thìngân hàng phải có bảo hiểm tiền gửi của khách hàng tạo niềm tin cho kháchhàng yên tâm hơn khi xãy ra rủi ro thì họ sẽ được bảo hiểm chi trả Nghiệp
vụ bảo hiểm tiêng gửi là phao cứu cánh cho khách hàng gửi tiền khi ngânhàng gặp rủi ro
+ Mức độ thâm niên của NHTM: Ngân hàng là một doanh nghiệp kinhdoanh như mọi doanh nghiệp khác, nếu ngân hàng có bề dày hoạt động lâunăm thì khách hàng sẽ tin tưởng hơn Khi giao dịch, khách hàng thườngquan tâm đến mức độ thâm niên của ngân hàng họ đang giao dịch vì họ nghỉnhững ngân hàng đó có kinh nghiệm trong thức hiện nghiệp vụ củng nhưkhả năng tài chính mạnh
4 Phân tích các khó khăn của NHTM hiện nay trong hoạt động huy động vốn:
Để tồn tại và phát triển, NHTM phải có một quá trình hoạt động kinhdoanh có hiệu quả với một khả năng tài chính vững chắc Muốn có một nănglực tài chính vững chắc, NHTM phải có nguồn vốn lớn ổn định và sử dụngvốn có hiệu quả với rủi ro thấp nhất Một ngân hàng có nền vốn vững chắc
là phải tạo vốn có hiều quả nhất mới đáp ứng nhu cầu thanh khoản và mởrộng kinh doanh Theo qui đinh tại thông tư 09/2010/TT-NHNN ngày26/3/2010 của Ngân hàng nhà nước Việt Nam, để thành lập được mộtNHTM phải có tối thiểu vốn điều lệ ban đầu từ 3.000 tỷ đồng trở lên Tuynhiên, với nguồn vốn đó, ngân hàng chỉ mới đủ đầu tư cơ sở vật chất kỷthuật, trang thiết bị, nguồn vốn để lại kinh doanh không đáng kể Muốn mởrộng hoạt động kinh doanh, NHTM phải có một lượng vốn đủ lớn để thựchiện cho vây, thanh toán cho nhu cầu của khách hàng trong hoạt độngSXKD Muốn có nguồn vốn mở rộng kinh doanh, các NHTM phải tạo vốnthông qua nhiều hình thức như tăng vốn góp của cổ đông, huy động trong vàngoài nước,… tuy nhiên, để tạo nguồn vốn có qui mô lớn nhất chỉ thông quahuy động trong nền kinh tế mới đảm bảo hơn cả NHTM coi việc huy độngvốn là vấn đề cốt lõi và xuyên suốt trong quá trình hoạt động kinh doanh củamình, tuy nhiên trong giai đoạn này còn chứa nhiều khó khăn nhất định Cụthể trên một số mặt khách quan và chủ quan sau đây:
- Về khách quan:
+ Khó khăn về tình hình kinh tế xã hội còn bất ổn, tăng trưởng kinh tếthấp: Đây là khó khăn trực tiếp trong quá trình huy động vốn của các NHTM
vì khi kinh tế tăng trưởng thấp, thu nhập của người lao động giảm sút không
có nguồn tích lủy để gửi vào ngân hàng, làm cho qui mô hút vốn của ngânhàng giảm sút đáng kể
+ Môi trường pháp lý chưa đồng bộ, kịp thời và các chính sách tiền gửichưa đáp ứng mong đợi của người gửi tiền Luật bảo hiểm số06/2012/QH13 được Quốc Hội tại kỳ họp thứ 3 khóa XIII thông qua ngày18/6/2012 và có hiệu lực từ ngày 01/01/2013 và được Chính phủ ban hànhNghị định số 68/2013/NĐ-CP ngày 28/6/2013 có hiệu lực từ ngày 19/8/2013nên không kịp thời mà mức bảo hiểm còn thấp (khoảng 200 triệu đồng) sovới các nước trong khu vực cũng như trên thế giới
+ Thói quen cất trử của người dân còn nặng về hiện vật như vàng, bấtđộng sản và các tài sản có giá trị khác nên người dân không gửi tiền vàongân hàng
Trang 6• Về mặt chủ quan:
+ Các chính sách về huy động vốn của các NHTM còn bất cập, lãi suấtkhông ổn định, đường cong lãi suất chưa được xác lập,… nên người gửi tiềnthông thường hưởng mức lãi suất mang tính cào bằng giữa các kỳ hạn không
có sự phân biệt đáng kể
+ Chính sách lãi suất dương chưa thực hiện được vì do chỉ số lạm phátlớn hơn hoặc bằng lãi suất tiền gửi nên người dân không muốn gửi tiền vàongân hàng sợ mất giá trị đồng tiền
+ Môi trường kinh doanh có sự cạnh tranh quyết liệt giữa các NHTMngày càng rỏ nét: Đây là yếu tố tác động trong môi trương kinh doanh, cácngân hàng mới ra đời có tiềm lực vốn khiêm tốn, khả năng thanh khoản thấpdẫn đến việc lôi kéo khách hàng về mình bằng những động thái cạnh tranhthiếu lành mạnh làm cho dân chúng thiếu tin tưởng vào ngân hàng
+ Năng lực, trình độ của nhân viên ngân hàng: Đây là điều cốt lõi đểNHTM quản lý tốt về nhân sự Khi cán bộ ngân hàng có trình độ chuyênmôn nghiệp vụ, đạo đức nghề nghiệp kém sẽ làm mất niềm tin cho kháchhàng Trong những năm qua, một số vụ án tham nhũng lớn trong lĩnh vứcngân hàng đã làm thất thoát hàng trăm tỷ đồng của ngân hàng Điển hìnhnhư vụ lừa đảo chiếm đọt tài sản gần 4.000 tỷ đồng của Huỳnh Thị HuyềnNhư, Công ty cho thuê tài chính 2 thuộc Ngân hàng No&PTNT, các cán bộnhân viên ngân hàng đã tham ô từ hàng triệu đến hàng tỷ đồng đã làm mấtniềm tin gửi tiên của khách hàng
+ Mạng lưới phục vụ: Các NHTM đã triển khai, bám sát địa bàn dân cưnhưng chưa đồng đều, tập trung chủ yếu những thành phố, nơi tập trung dâncư,… mà chưa mở rộng đến các vùng sâu vùng xa không sát dân cư ngườidân sẽ ngại hơn trong việc đến ngân hàng gửi tiền, dẫn đến nguồn huy động
sẽ bị hạn chế
+ Thái độ phục vụ: Đây là yếu tố có tính quyết định trong mối quan hệgiữa ngân hàng và khách hàng ảnh hưởng trực tiếp đến sự hài lòng củakhách hàng Nếu thái độ cán bộ ngân hàng hờ hững, thiếu nhiệt tình cởi mởthì khách hàng họ sẽ quay lưng với ngân hàng
5 Phân tích những vấn đề cơ bản về hoạt động tín dụng Ưu nhược điểm hoặc thực trạng hoạt động tín dụng của hệ thống NHTM VN
Tín dụng ngân hàng là mối quan hệ kinh tế giữa người cho vay (NHTM)
và người đi vay (khách hàng) thông qua sự vận động của giá trị và biểu hiệndười hình thức tiền tệ hay hàng hóa Quá trình đó diễn ra từ khi ngân hàngphát tiền vay ra, đến khi người đi vay sử dụng vào quá trình SXKD, tiêu thụthu hồi vốn và hoàn trả lại ngân hàng cả gốc lẫn lãi Hoạt động tín dụngngân hàng là một trong những hoạt động kinh doanh chính và mang lạinhiều lợi nhuận nhất của NHTM Hoạt động tín dụng là một hoạt động rấtphức tạp và chứa đụng nhiều rủi ro tiềm ẩn Vì vậy, để đưa ra một quyết địnhcấp tín dụng đúng, đảm bảo an toàn vốn thì đòi hỏi phải có một qui trìnhchặt chẽ, tuân thủ qui trình nghiệp vụ nghiêm ngặt từ khi cho vay đến khi tấttoán khoản vay
Những vấn đề cơ bản vể hoạt động tín dụng đó là quá trình xác lập vàthẩm định hồ sơ vay vốn, phân tích đánh giá điều kiện vay vốn, hiệu quả sửdụng vốn của khách hàng cho khi khách hàng hoàn trả lại đầy đủ gốc lẫn lãivay cho ngân hàng Những vấn đề đó được thực hiện qua các bước như sau:
- Xác lập và thẩm định hồ sơ vay vốn của khách hàng: Đây là quá trìnhtiếp xúc ban đầu giữa ngân hàng với khách hàng xác định rỏ đối tượng, tínhpháp lý, uy tín, năng lực của khách hàng trong việc cấp tín dụng Nếu việc
Trang 7xác lập và thẩm định hồ sơ kỷ lưỡng sẽ tạo thuận lợi cho các bước tiếp theo.
- Phân tích đánh giá điều kiện vay vốn và hiệu quả dự án/phương án vay:Đây là một bước rất quan trọng cho việc quyết định cấp tín dụng hay từ chốicủa ngân hàng đối với khách hàng Khi khách hàng hội tụ đầy đủ các điềukiện về năng lực pháp lý, năng lực tài chính, tài sản bảo đảm,… thì ngânhàng tính toán đánh giá hiệu quả khoản vay để quyết định giãi ngân
- Sau khi đã quyết định cho vay, ngân hàng cùng khách hàng ký hợp đồngtín dụng, tiến hành thanh toán tiền vật tư hàng hóa theo yêu cầu của kháchhàng và tiến hành giám sát sử dụng khoản vay đến lúc tất toán Đây là quátrình kiểm tra việc khách hàng sử dụng vốn vay có đúng mục đíchSXKD/tiêu dùng đúng cam kết trong hợp đồng tín dụng hay không, từ đó màngân hàng thực hiện chức năng giám sát đồng tiền của mình Việc giám sáttiền vay của ngân hàng thông qua các hợp đồng, báo giá,… vật tư, hàng hóacủa bên cung ứng đồng thời tiến hành kiểm tra thực tế tại đơn vị
Với thực trạng hoạt động tín dụng của NHTM tại Việt Nam hiện nay còn
có nhiều bất cập đó là:
+ Thông tin về khách hàng thiếu chính xác và minhh bạch, đặc biệt là vềtình hình tài chính Các khách hàng vay vốn thường cung cấp cho ngân hàngnhững mặt mạnh của mình, những mặt khiếm khuyết đều được giấu giếmkhông công khai
+ Khách hàng sử dụng vốn vay sai mục đích: Khi khách hàng xây dựngphướng án SXKD gửi ngân hàng thường rất phù hợp và có hiệu quả cao, tuynhiên khi được chấp thuận cho vay, khách hàng đã sử dụng vốn không đúngmục đích ban đầu, làm thất thoát vốn, không phát huy hiệu quả của phương
án dẩn đến mất khả năng thanh toán cho ngân hàng Bên cạnh đó, nhữngkhoản vay vốn ngắn hạn thì khách hàng sử dụng đầu tư vào các lĩnh vực đầu
tư dài hạn, làm cho mất khả năng thanh toán trong ngắn hạn,…
+ Hầu hết các doanh nghiệp, tổ chức vay vốn NHTM đều có mức vốn tự
có tham gia vào phương án/dự án rất thấp Quá trình SXKD của các doanhnghiệp chủ yếu dựa vào nguồn vốn tín dụng ngân hàng nên hiệu quả kinh tếthấp, kinh doanh không có lãi
+ Trong giai đoạn khó khăn hiện nay, một số doanh nghiệp không có vốn
tự có đã lợi dụng kẻ hở của pháp luật thành lập mới với mục đích vay vốnngân hàng để đầu tư tài sản như máy móc thiết bị, nhà xưỡng, kho bãi, Khinền kinh tế khó khăn, kinh doanh không hiệu quả thì để lại cơ sở sản xuấtcho ngân hàng xử lý,…
Với những thực trạng hoạt động tín dụng của hệ thống NHTM Việt Namtrong những năm qua như đã nêu trên
6 Nội dung bộ hồ sơ tín dụng
Hồ sơ tín dụng củ một ngân hàng là tài liệu, văn bản biểu hiện mối quan
hệ tổng thể của ngân hàng với khách hàng vay vốn bao gồm hồ sơ kháchhàng cung cấp, hồ sơ do ngân hàng lập và hồ sơ do ngân hàng và khách hàngcùng lập
6.1 Hồ sơ khách hàng là doanh nghiệp, TCKT lập và cung cấp cho ngânhàng bao gồm:
- Hồ sơ pháp lý của doanh nghiệp vay vốn: Là loại hồ sơ chứng minhnăng lực pháp lý, năng lực hành vi dân sự của khách hàng vay vốn bao gồmcác giấy tờ sau:
+ Quyết định thành lập doanh nghiệp hoặc giấy chứng nhận đăng ký kinhdoanh
Trang 8+ Điều lệ của doanh nghiệp
+ Giấy phép hành nghề (nều lĩnh vực kinh doanh có điều kiện)
+ Giấy phép đầu tư (đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài)+ Hợp đồng liên doanh (nếu là doanh nghiệp liên doanh)
+ Quyết định giao vốn và các văn bản bàn giao tài sản của cục quản lývốn và tài sản Nhà nước tại doanh nghiệp (nếu là DNNN)
+ Biên bản góp vốn, danh sách thành viên sáng lập (nếu là công ty CP,công ty TNHH)
+ Giấy chứng nhận vốn đầu tư ban đầu ( nếu là DNTN)
- Hồ sơ dự án (đối với cho vay trung dài hạn) bao gồm:
+ Quyết định đầu tư, cho phép đầu tư của cơ quan nhà nước có thẩmquyền
+ Dự án đầu tư và phê duyệt dự án đầu tư của cấp có thẩm quyền
+ Thiết kế kỷ thuật và tổng dự toán được phê duyệt
+ Ý kiến của cơ quan quản lý nghành, cơ quan chuyên môn, chính quyền
sở tại và của Chính phủ phê duyệt
+ Nghị quyết của HĐQT, sáng lập viên, đại hội xã viên về việc đầu tư dựán
+ Các hồ sơ liên quan khác như Quyết định giao, thuê đát, văn bản chấpthuận của của cơ quan quản lý môi trường chap thuận,…
• Hồ sơ kinh tế bao gồm:
+ Dự án, phương án kinh doanh dịch vụ, đời sống
+ Bản sao hợp đồng mua bán, báo giá hàng hóa, hóa đơn, PNK, cácchứng từ thanh toán (nếu có)
+ Hồ sơ bảo đảm tiền vay
6.2 Hồ sơ đối với hộ gia đình, cá nhân, tổ hợp tác gửi ngân hàng baogồm:
+ Giấy phép đánh bắt thủy hải sản, đăng kiểm tàu thuyền (nếu là kinhdoanh đánh bát thủy sản)
+ Hợp đồng hợp tác, chứng tực của UBND xã, phường, thị trấn cho phéphoạt động (đối với tổ hợp tác)
+ Các giấy tơ khác cần thiết theo qui định của pháp luật
+ Hồ sơ tài sản bảo đảm (đối với hộ phải thực hiện thế chấp, bỏ lãnh
- Hồ sơ mổi lần vay vốn (tương tự doanh nghiêp)
6.3 Hồ sơ do ngân hàng lập bao gồm:
Trang 9- Các báo cáo thẩm định, tái thẩm định.
- Các loại thông báo cho vay, từ chối cho vay, nợ đén hạn, quá hạn,…
- Báo cáo kiểm tra sử dụng vốn vay, báo cáo phân tích tình hình tài chính,sản xuất kinh doanh của bên vay vốn
- Sổ theo dõi cho vay và thu nợ
6.4 Hồ sơ do khách hàng và ngân hàng cùng lập:
- Hợp đồng tín dụng hoặc sổ vay vốn
- Hợp đồng bảo đảm tiền vay
Câu 7: Các nguồn thông tin sử dụng để phân tích khách hàng ? ưu nhược điểm của nguồn thông tin.
Thông tin của khách hàng chính là nguồn tài sản quan trọng củadoanh nghiệp Thông qua việc thu thập thông tin của khách hàng đểdoanh nghiệp kịp thời nắm bắt động thái thụ trường và phát hiện kháchhàng tiềm năng, bạn có thể tham khảo giải pháp miêu tả chi tiết dưới đây
để biết cách làm thế nào thu thập được thông tin khách hàng
1 Thông tin phục vụ phân tích tín dụng
Như trong khái niệm đã nêu rõ, phân tích tín dụng là một quá trình thuthập và xử lý thông tin để phục vụ cho việc ra quyết định Do đó, vấn đềquan trọng thiết yếu đầu tiên khi thực hiện phân tích tín dụng là vấn đềthu thập thông tin có chất lượng Chất lượng thông tin đưa vào phân tích
có ảnh hưởng rất lớn đến kết quả phân tích, qua đó ảnh hưởng đến quyếtđịnh cấp tín dụng Chất lượng thông tin thể hiện ở ba thuộc tính sau: (1)đầy đủ, (2) kịp thời và (3) chính xác Chỉ khi nào thông tin thu thập đượcvới đầy đủ ba thuộc tính này thì mới được xem là thông tin có chất lượng
và là thông tin hữu ích cho quá trình phân tích Thông tin cần thu thậpgồm: thông tin tài chính và thông tin phi tài chính
1.1 Thông tin thu thập từ khách hàng
Khi Khách hàng đề nghị cấp tín dụng, ngân hàng yêu cầu khách hàngphải lập và nộp cho ngân hàng một bộ hồ sơ Qua bộ hồ sơ này ngânhàng có thể thu thập được khá nhiều thông tin về khác hàng, bao gồm:
- Thông tin về tư cách pháp nhân của khách hàng vay vốn
- Thông tin về tình hình tài chính của khách hàng thể hiện qua các báocáo tài chính của các kỳ gần nhất
- Thông tin về kế hoạch và chiến lược sản xuất kinh doanh của kháchhàng
- Thông tin về hiệu quả sử dụng vốn vay và khả năng hoàn trả nợ vaythể hiện qua phương án sản xuất kinh doanh
1.2 Thông tin lưu trữ tại ngân hàng
Đây là nguồn thông tin mà ngân hàng đã thu thập trước kia khi kháchhàng có quan hệ tín dụng với ngân hàng và lưu trữ lại để sử dụng trongnhững lần vay tiếp theo Nguồn thông tin này rất quan trọng vì nó đã trảiqua kiểm chứng và đáng tin cậy Chẳng hạn khách hàng A trước đây đã
có quan hệ tín dụng với ngân hàng và chấp hành tốt các điều khoản củahợp đồng tín dụng Nay khách hàng lại có nhu cầu vay vốn ngân hàng,thông tin lưu trữ về khách hàng này giúp ích rất lớn cho ngân hàng khiphân tích tín dụng ngắn hạn
1.3 Thông tin từ phỏng vấn và điều tra khách hàng
Thông tin từ hồ sơ khách hàng có nhược điểm là mức độ tin cậy khôngcao vì thông tin này do chính khách hàng cung cấp, chưa qua kiểm chứng
Trang 10và xử lý Thông tin lưu trữ có ưu điểm là đã trải qua kiểm chứng nhưngnhược điểm của nó là lạc hậu và không phải lúc nào cũng phù hợp choviệc phân tích Do vậy, để kiểm chứng và cập nhập hóa thông tin ngânhàng cần thông quan phỏng vấn và điều tra khách hàng khi họ vay vốn.Thông tin qua phỏng vấn có ưu điểm là thông tin mới nhất đồng thời quanghệ thuật phỏng vấn có thể loại bỏ được một số thông tin gây nhiễu để
từ đó chắt lọc thông tin chính xác hơn phục vụ cho việc phân tích Ngoài
ra, thông tin qua phỏng vấn còn có thể bổ sung thêm cho thông tin vềkhách hàng mà qua hồ sơ chưa thể thu thập đầy đủ
1.4 Thông tin từ các nguồn khác
Ngoài ra các nguồn thông tin như vừa nêu trên, ngân hàng còn có thể sửdụng các nguồn thông tin khác để phân tích tín dụng Các nguồn thôngtin này có thể bao gồm: thông tin từ các ngân hàng khác, thông tin từ bạnhàng của khách hàng, thông tin từ đối thủ cạnh tranh của khách hàng,thông tin từ các tổ chức chuyên môn thu thập và cung cấp thông tin,thông tin từ các phương tiện truyền thông và thông tin từ các ấn phẩmcủa chính phủ và cơ quan có liên quan
Tham gia các cuộc triển lãm ngành nghề và các cuộc hội đàm để thu thậpthông tin khách hàng
Tư liệu tuyên truyền và báo chí Trên báo thường có các thông tin củadoanh nghiệp tham gia triển lãm, những thông tin này tương đối đầy đủ
và hoàn chỉnh Trong cuộc triển lãm, các tư liệu tuyên truyền bao gômlượng thông tin lớn về khách hàng, cần thu thập càng nhiều càng tốt.Hiện trường triển lãm: phát các món quà và tư liệu tuyên truyền về công
ty mình, đồng thời, yêu cầu khách hàng điền các thông tin cá nhân vàobảng đăng ký như: họ tên, đơn vị công tác, chức vụ, điện thoại liên hệcủa khách hàng
Thu thập danh thiếp: các doanh nghiệp tham gia triển lãm thường đặtdanh thiếp của mình ở gian hàng để khách hàng lấy, cũng có khi doanhnghiệp chủ động trao danh thiếp cho khách hàng và trao đổi danh thiếpvới khách hàng
Thăm các gian hang: Có thể thăm các gian hàng khác và giao lưu với cácdoanh nghiệp củng ngành nghề kinh doanh, đồng thời cùng trao đổi cáchthức liên hệ Sau khi kết thúc triển lãm có thể bổ sung những thông tin vềkhách hàng như thông tin về sản phẩm hay qui mô doanh nghiệp củakhách hàng
Xin bảng thông tin của đơn vị tổ chức triển lãm Thông thường các đơn
vi triển lãm sẽ có bảng thông tin về cuộc triển lãm, nội dung bao gồm:tên các đơn vị tham gia triển lãm và cách thức liên hệ với khách hàng,thậm chí bạn còn có thể biết các chương trình khuyến mại của kháchhàng
Thông qua báo chi, quảng cáo để thu thập thông tin khách hàng
Thông qua báo chí để thu thập thông tin của khách hàng, chủ yếu làthông qua tin tức quảng cáo trên báo để thu thập thông tin, chúng ta cóthể biết được địa chỉ, điện thoại liên lạc, tên đơn vị của khách hàng, cókhi chúng ta còn tìm được người liên lạc trực tiếp vừa nhanh, vừa hiệuquả Nhưng thông tin quảng cáo trên báo chí khá phức tạp vì sau khi đọcxong ta còn phải chỉnh lý lại thông tin
Tìm đọc trên các biển quảng cáo: Thông thường, các tấm biển quảng cáochứa đựng lượng lớn thông tin khách hàng, thông tin khá xác thực, đángtin, đồng thời thông qua phân loại ngành nghề sẽ tạo thuận lợi cho doanh
Trang 11nghiệp quản lý thông tin khách hàng.
Thông qua quảng cáo để thu thập thông tin khách hàng Ví dụ thông quatin tức, quảng cáo bên đường hoặc trên các phương tiện giao thông côngcộng.v.v Nếu doanh nghiệp nào sử dụng các cách thức này để thu thậpthông tin khách hàng cũng khá phức tạp, tốn nhiều thời gian nhưng thôngtin thu được lại rất mới, có tính chính xác cao
Thông qua mạng để thu thập thông tin khách hàng
Thông qua việc tìm kiếm trên mạng để thu thập thông tin,ví dụ vào trang
“google” để tra cứu thông tin khách hàng khi tìm, phải chú ý đến việc lựachọn, sử dụng những từ mấu chốt, dùng dấu cách để phân cách, hoặc cóthể trực tiếp sử dụng sự giúp đở để tìm(dựa vào những chỉ dẩn)
Lướt xem các trang mạng mang tính chuyên nghiệp Có thể lướt xemtrang chuyên đề thuộc ngành nghề của mình, cũng có thể vào xem trangtin tức của các nghành nghề tổng hợp, ví dụ trang “mạng thông minh”, Trực tiếp vào trang mạng của doanh nghiệp Có thể tìm địa chỉ của doanhnghiệp nào đấy trên mạng, sau đó trực tiếp vào xem trang web của doanhnghiệp này Như vậy, thông tin thu được khá hoàn chỉnh, đầy đủ và cótính chính xác
Thu thập thông tin khách hàng thông qua cơ cấu chuyên nghiệp
Khi lựa chọn cơ cấu điều tra chuyên nghiệp phải xét đến các nhân tố kinhnghiệm chuyên nghiệp cũng như sự sắp xếp công nhân viên, trình độchuyên nghiệp hoá, giá cả phục vụ của họ Lựa chọn cơ cấu điều tra tốt,
có tín nhiệm sẽ nâng cao được tính xác thực của thông tin khách hàng đãthu được
Tham gia vào các đoàn thể xã hội hoặc các hiệp hội ngành nghề
Hiệp hội ngành nghề sẽ cung cấp cho các hội viên những thông tin vềtừng hội viên khác, đồng thời, các hoạt động của hiệp hội ngành nghềcũng là cơ hội để tiếp xúc với khách hàng và thu thập thông tin kháchhàng
Thông qua sự giới thiệu của bạn thân hoặc bạn hàng hợp tác
Thông qua sự giới thiệu của bạn thân hoặc bạn hàng hợp tác có thể thuđược những thông tin tỉ mỉ về khách hàng, thậm chí cả sở thích, tình hìnhgia đình của khách hàng, ngoài ra bạn còn có thể trực tiếp liên hệ vớikhách hàng
Câu 8: Các dấu hiệu của rủi ro tín dụng
1 Khái niệm chung
Rủi ro tín dụng xảy ra khi khách hàng không trả đủ cả gốc và lãi củakhoản vay hoặc thanh toán nợ gốc và lãi không đúng kỳ hạn cam kếttrong hợp đồng tín dụng vì bất kỳ lý do gì
Hoạt động ngân hàng bao gồm nhiều loại hình hoạt động như: cho vay,huy động, thanh toán trong đó, nhìn chung, hoạt động tín dụng thườngmang lại lợi nhuận nhiều nhất cho phần lớn các NHTM Tuy nhiên, tíndụng cũng là hoạt động tiềm ẩn nhiều rủi ro nhất cho chính các NHTM.Thực tế đã chứng minh, hầu hết các vụ phá sản hoặc nguy cơ phá sảnngân hàng đều có liên quan ít nhiều đến hoạt động tín dụng Một trongnhững minh chứng rõ nhất là hàng loạt các ngân hàng khổng lồ của Mỹ
bị sụp đổ hoặc phải phải sát nhập hoặc được nhà nước bảo hộ trong năm
2008 và 2009 đều bắt nguồn từ hoạt động cho vay mua nhà dưới chuẩncủa Mỹ Theo hãng tin AP, có 25 ngân hàng Mỹ phải đóng cửa vào năm
2008 và trong quý 1/2009, có thêm 23 ngân hàng Mỹ tiếp tục phải đóng
Trang 12cửa Và đây cũng là một trong các nguyên nhân gây lên cuộc suy thoáikinh tế toàn cầu trong năm 2008 và 2009
Mô hình định tính để quản trị rủi ro tín dụng sẽ bao gồm:
Xây dựng hành lang pháp lý cho hoạt động tín dụng của NHTM
Quá trình đánh giá khách hàng từ khi tiếp nhận hồ sơ vay vốn, chođến khi khách hàng hoàn tất trả nợ gốc và lãi của NHTM
Thực tế hiện nay, hành lang pháp lý cho hoạt động tín dụng đều được cácNHTM xây dựng tương đối đầy đủ và chặt chẽ Các NHTM đều đã cócác quy chế, quy định chi tiết về hoạt động cho vay, đảm bảo tiền vay,phân cấp hạn mức tín dụng, danh mục tín dụng theo ngành, phân loạinợ… Ngoài ra, với mỗi sản phẩm cụ thể, các NHTM đều ban hành cácvăn bản hướng dẫn triển khai chi tiết nên có thể nói các NHTM đã hạnchế được rủi ro do đã xây dựng được hành lang pháp lý cho hoạt động tíndụng
Với lý do nêu trên, phần này sẽ đi sâu phân tích mô hình định tính đểquản trị rủi ro tín dụng theo quá trình đánh giá khách hàng từ khi tiếpnhận hồ sơ vay vốn cho đến khi khách hàng hoàn tất trả nợ gốc và lãi.2.1.1 Đánh giá khách hàng khi tiếp nhận nhu cầu vay vốn của kháchhàng
Khi tiếp nhận bất kỳ nhu cầu vay vốn nào của khách hàng, cán bộ tíndụng cần phải trả lời được 3 câu hỏi căn bản sau:
Khách hàng vay có tin cậy không và mình đã biết gì về họ
Khách hàng vay có khả năng trả nợ vay mà không cần đến một sức épnào không
Trường hợp khách hàng vay không trả được nợ gốc và lãi thì NHTM
có thể thu hồi nợ như thế nào để hạn chế rủi ro ở mức tối đa
2.1.2 Thăm hỏi khách hàng
Đây là một việc làm quan trọng, giúp NHTM nắm được triển vọng hoạtđộng của khách hàng Cụ thể, NHTM biết được chất lượng cơ sở vật chấtcủa khách hàng, chất lượng lãnh đạo, trình độ quản lý, dấu hiệu hoạtđộng quá tải, quy mô và năng lực CBNV hay tính trung thực của kháchhàng trong việc minh bạch hóa hoạt động kinh doanh
Tổ chức thăm hỏi khách hàng cần phải được thực hiện trước khi quyếtđịnh cho vay và phải được duy trì trong suốt thời gian hiệu lực của khoảnvay Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện, NHTM phải đảm bảo kháchquan, trung thực tránh làm khách hàng hiểu nhầm là nhũng nhiễu, gâykhó dễ, ảnh hưởng đến uy tín và thương hiệu của NHTM
2.1.3 Thực hiện kiểm tra tại chỗ
Thực hiện kiểm tra tại chỗ là việc làm cần thiết, nhất là đối với kháchhàng có cơ sở hoạt động đặt tại nhiều địa điểm khác nhau Ngoài ra, kiểmtra tại chỗ còn giúp các NHTM tránh bị gian lận đối với những nội dung
mà kiểm toán độc lập loại trừ khi thực hiện kiểm toán cho khách hàng.Kiểm tra tại chỗ giúp NHTM biết được các giao dịch giữa khách hàng vàđối tác của họ có diễn ra thực sự hay không (bằng cách đối chiếu giữa các
Trang 13chứng từ gốc tại tại cơ sở kinh doanh của khách hàng) và hàng hoá tồnkho hay tài sản đảm bảo có còn nguyên vẹn về hình thức và giá trị haykhông.
2.1.4 Quản lý và theo dõi khoản vay
Sau khi NHTM giải ngân khoản vay, NHTM cần thực hiện quản lý vàtheo dõi khoản vay Công việc này bao gồm theo dõi thông tin về kháchhàng vay, tình hình tài chính của khách hàng vay, tình trạng của tài sảnthế chấp… để biết chắc rằng khách hàng vẫn đủ năng lực tài chính và tàisản thế chấp vẫn đủ giá trị đảm bảo cho khoản vay
Dưới đây là một số dấu hiệu khả nghi cho thấy những thay đổi của kháchhàng vay và rất có thể phản ánh tình trạng tài chính xuống cấp, thậm chíquẫn bách của khách hàng:
Gửi báo cáo muộn
Giảm đột ngột tài sản có
Chủ nợ khác đăng ký quyền nắm giữ tài sản thế chấp
Tăng công nợ vượt quá tốc độ tăng doanh số bán hàng
Doanh số bán hàng đột nhiên tăng hoặc là những con số tròn trĩnhKhách hàng mới đến ồ ạt
Tăng bất thường trong công nợ phải trả
Điện thoại bị ngắt hoặc rất khó liên lạc được với khách hàng
Hàng trong kho tăng đột biến
Kéo dài thời gian tính khấu hao TSCĐ
Giảm lương, chậm nộp thuế
Cá nhân thay đổi thói quen chi tiêu theo hướng tiết kiệm hơn; thay đổiphương tiện đi lại
Thay đổi cơ cấu nhân sự trong hệ thống quản trị
Thấu chi liên tục
Giá cổ phiếu của đơn vị thay đổi bất lợi
2.1.5 Thực hiện xác minh chéo
NHTM có trách nhiệm xác minh công nợ bằng cách lựa chọn một sốcông nợ ngẫu nhiên rồi thực hiện xác minh chéo sự tồn tại cũng như giátrị của chúng
Để làm được việc này, đại diện NHTM sẽ liên lạc với bên nợ của kháchhàng để xác nhận số nợ thực tế (theo nguyên tắc không để lộ thông tin vềkhoản vay của khách hàng tại ngân hàng của mình) Tần suất thực hiệnxác minh chéo tùy thuộc vào tình hình tài chính của khách hàng vay,những thay đổi gần đây trong vấn đề tài chính cũng như các điều kiệnkinh tế xung quanh khách hàng Ngoài ra, tần suất xác minh chéo cònphải phụ thuộc vào sự cân nhắc giữa một bên là mong muốn bảo đảm choNHTM không bị khách hàng vay gian lận với một bên là mong muốnkhông làm tổn hại đến mối quan hệ giữa khách hàng vay và đối tác củahọ
Câu 9: Phân tích các nguyên nhân dẫn đến nợ xấu của hệ thống NHTM ở Việt Nam.
1 Về phía doanh nghiệp, cá nhân vay vốn
• Nguyên nhân khách quan:
- Doanh nghiệp cá nhân vay vốn gặp rủi ro trong hoạt động kinh doanh
Trang 14của mình: Thiên tai, hỏa hoạn, khiến việc sử dụng vốn vay không hiệuquả, thậm chí là mất hoàn toàn vốn.
- Sự biến động và sức ép của thị trường và môi trường kinh doanh cạnhtranh khiến doanh nghiệp không thích ứng kịp thời, làm mất khả năngthanh toán Trong điều kiện hội nhập và cạnh tranh quốc tế ngày nay, vấn
đề về biến động tỷ giá, giá xăng dầu, nhiên liệu, nguyên liệu là vấn đềquan trọng cần theo dõi, dự đoán tốt và đề phòng
- Lạm phát cao, sức mua thấp, tồn kho cao
- Nhà nước cắt giảm đầu tư công khiến cho các doanh nghiệp ngànhxây dựng, nguyên vật liệu xây dựng, công nghiệp điêu đứng về đầu ra.Ngân hàng hạn chế cho vay trong mối lo nợ xấu Tỷ lệ phá sản tăng và nợquá hạn lẽ đương nhiên tăng mạnh
• Nguyên nhân chủ quan:
- Doanh nghiệp phụ thuộc quá nhiều vào vốn vay Có doanh nghiệp tỷ
lệ nợ lên đến 80-90% tổng tài sản, Những doanh nghiệp này rất nhạy cảmvới các biến động về lãi suất ngân hàng và giá cả Một khi có những biếnđộng ngoài dự kiến, lợi nhuận kinh doanh không đủ khả năng chi trả lãisuất, thành nợ xấu,
- Doanh nghiệp thiếu khả năng quản lý sản xuất kinh doanh khiến đồngvốn sử dụng không hiệu quả, thua lỗ, nợ ngân hàng tăng cao và mất khảnăng chi trả Hoặc doanh nghiệp sử dụng vốn không đúng với nhu cầuvay vốn, phục vụ cho những mục đích khác, không tập trung phát triểnhoạt động sản xuất kinh doanh Lợi nhuận không có và nợ ngân hàngthành nợ xấu
- Doanh nghiệp đầu tư tràn lan nhiều ngành, kể cả những ngành khôngliên quan khiến nguồn vốn phân tán, thiếu hụt vốn, sản xuất ngưng trệdẫn đến phá sản
- Phương án kinh doanh không khả thi, lập kế hoạch dự báo, dự phòngkém, quản trị rủi ro kém
- Phải kể đến nguyên nhân là mối liên hệ giữa doanh nghiệp và đối táckinh doanh Doanh nghiệp chạy theo doanh thu, sản lượng Trong quátrình sản xuất kinh doanh chỉ quan tâm và chú trọng làm thế nào để tăngnhanh doanh thu, đẩy mạnh sản lượng và xem nhẹ phương thức và điềukiện thanh toán do đó công tác thu hồi vốn sau này gặp rất nhiều vấn đềphức tạp, khó khăn
- Doanh nghiệp không đề cao công tác kiểm tra, xác minh thông tinkhách hàng trước khi hợp tác: Có rất nhiều các giao dịch kinh tế hiện nayđược xác lập dựa trên sự quen biết và thông qua các mối quan hệ không
rõ ràng, do đó khi hợp tác những nguyên tắc, quy định đặt ra sẽ thường
bỏ qua, không áp dụng Nhất là việc thẩm tra, xác minh tình hình hoạtđộng, khả năng tài chính của đối tác thường các Doanh nghiệp không đặt
ra Khi gặp vấn đề về thu hồi vồn, những mối quan hệ trước đây sẽ không
có vai trò và không thể tác động để khách hàng thanh toán tiền
- Sự quản lý lỏng lẻo đối với cán bộ phòng kinh doanh, cán bộ phụtrách trực tiếp: Chính nhận thức, trình độ chuyên môn của cán bộ phụtrách trực tiếp thu hồi nợ và đặc biệt là sự quản lý lỏng lẻo từ phía Doanhnghiệp đã tạo cơ hội để nhân viên kinh doanh, cán bộ phụ trách trực tiếpbật đèn xanh cho khách hàng, để khách hàng lợi dụng sự sơ hở, tận dụngnhững điểm yếu để cố tình kéo dài không thanh toán nợ
- Vấn đề đạo đức, uy tín và ý thức trả nợ của doanh nghiệp, cá nhân vayvốn, không muốn trả nợ dù khả năng tài chính có
Trang 152 Nguyên nhân từ phía ngân hàng
- Nguyên nhân đầu tiên và quan trọng nhất là mối quan hệ truyền thốnggiữa Doanh nghiệp nhà nước và các ngân hàng thương mại nhà nước.Việc các ngân hàng thương mại nhà nước bỏ qua các kỷ luật tín dụng đểcấp vốn vay cho các dự án yếu kém không phải là chuyện lạ, và đâychính là nguyên nhân đa phần của các món nợ xấu của doanh nghiệp nhànước Và khi nào mối quan hệ này còn thì nợ xấu sẽ không bao giờ bịloại trừ được
- Chạy theo cạnh tranh thu hút khách hàng và áp lực tăng trưởng nóng,một số ngân hàng sẵn sàng nới lỏng điều kiện phê duyệt tín dụng: tỷ lệcho vay/ trị giá TSĐB, tín chấp, cầm cố hàng hóa không giám sát chặtmón vay; tỷ lệ cho vay/nhu cầu vốn
- Tổ chức, nhân sự và biện pháp quản trị rủi ro của các ngân hàngthương mại còn nhiều hạn chế, chỉ có khoảng 40% ngân hàng thương mạitiếp cận được chuẩn quốc tế (Basel III);
- Khâu thẩm định hời hợt: Trừ một số ít khách hàng có phát sinh nợ xấubắt nguồn từ nguyên nhân khách quan như: kinh doanh thua lỗ, công nợkhó đòi, khó khăn do thay đổi cơ chế, thay đổi chính sách tăng trưởngcủa Nhà nước thì hầu hết các khoản nợ xấu bắt nguồn từ khâu thẩm địnhquá hời hợt của cán bộ tín dụng Do không xác định được quy mô kinhdoanh thực sự của khách hàng, khả năng cạnh tranh của khách hàng đốivới ngành nghề mà khách hàng đang kinh doanh, không xác định đượcnguồn thu của khách hàng từ đâu và về đâu để có thể đưa ra một mức chovay và cách thức giám sát hợp lý Cán bộ ngân hàng đôi khi còn hời hợttrong phần kiểm tra sử dụng vốn, dẫn đến không phát hiện kịp thời nhữngkhó khăn của khách hàng ngay từ khi vừa nhen nhóm Không ít kháchhàng, khi được kiểm tra về việc sử dụng vốn sau khi vay cho biết mộtphần vốn vay thực sự vào kinh doanh, phần khác dùng cho mục đích sửanhà, mua sắm vật dụng, thậm chí là tiêu xài cá nhân Đến khi phần vốnđầu tư kinh doanh thua lỗ, không còn nguồn khác để trả nợ ngân hàng,thế là phát sinh nợ xấu Mặt khác, tư cách khách hàng là yếu tố quantrọng gắn liền với thiện chí hoàn trả tiền vay của khách hàng thường bịlãng quên trong quá trình thẩm định ban đầu
- Nguồn cung cấp thông tin hạn chế Thực sự, ngoài những thông tin dokhách hàng cung cấp, cán bộ tín dụng cũng gặp nhiều khó khăn với cáckênh thông tin về khách hàng Rất khó kiểm chứng được toàn bộ nhữngthông tin mà khách hàng cung cấp cho ngân hàng Tâm lý một số cán bộmuốn đẩy phần rủi ro cho ngân hàng khác bằng cách chỉ cung cấp thôngtin tốt về khách hàng đó khi ngân hàng bạn hỏi thăm Ngân hàng vẫnchưa có sự liên thông với các cơ quan khác như Thuế, Hải quan, đểkiểm chứng những thông tin tài chính do khách hàng cung cấp Trừnhững doanh nghiệp lớn, các công ty cổ phần do yêu cầu phải kiểm toáncáo báo cáo tài chính của các doanh nghiệp vừa và nhỏ Hệ thống kế toáncủa chúng ta còn nhiều bất cập và chưa hoàn toàn thống nhất với cácchuẩn mực của hệ thống kế toán thế giới Thậm chí còn có doanh nghiệp
sử dụng đồng thời hai hệ thống kế toán, một luôn lỗ hay lợi nhuận rấtthấp để đối phó với cơ quan thuế và một rất đẹp đẽ khi đặt quan hệ giaodịch với ngân hàng
- Một số cán bộ ngân hàng suy thoái đạo đức nghề nghiệp, cấu kết, mócngoặc với DN để trục lợi cá nhân và cho vay không đúng quy định;
- Hiệu quả công tác thanh tra, giám sát còn hạn chế, nhất là không kịpthời phát hiện, ngăn chặn và xử lý các vi phạm quy định về hạn chế cấp
Trang 16tín dụng và đầu tư một số lĩnh vực rủi ro cao.
3 Nguyên nhân từ tài sản đảm bảo
- Thứ 1: Tài sản đảm bảo bị giảm giá trị quá nhanh trong một thời gianngắn như BĐS, hàng tồn kho một số khu vực và một số loại hàng hóa
- Thứ 2: Khâu xử lý tài sản thế chấp còn vướng nhiều thủ tục nhiêukhê, mất nhiều thời gian
- Thứ 3: Các văn bản hướng dẫn quy định về phân loại về xử lý nợ cònchồng chéo, chưa cụ thể khiến các ngân hàng chưa chủ động trong việc
xử lý tài sản đảm bảo Bên cạnh đó trong quá trình xử lý tài sản, khikhách hàng không hợp tác, còn chưa có sự quy định phù hợp và thực tếcủa luật pháp và sự hỗ trợ của các cơ quan chức năng
Câu 10: Đề xuất các giải pháp để giải quyết vấn đề nợ xấu của hệ thống NHTM ở VN.
1 Kiến nghị về hệ thống pháp luật, chính sách
- Hoàn thiện hệ thống pháp luật, tạo hành lang pháp lý chặt chẽ, có hiệulực, đảm bảo sự công bằng bình đẳng trong hoạt động tài chính ngânhàng
- Có những biện pháp, cơ chế để thúc đẩy, tạo sức ép, buộc các ngânhàng, tổ chức tín dụng vận động theo hướng hoàn thiện, nâng cao chấtlượng dịch vụ và năng lực cạnh tranh
- Thực hiện tái cơ cấu hệ thống ngân hàng theo đề án đã được Chínhphủ phê duyệt, phù hợp với các cam kết của các tổ chức tài chính quốc tế,nhằm tạo ra các ngân hàng có quy mô lớn, đủ sức cạnh tranh
- Về cơ cấu lại tài chính: Tăng vốn điều lệ và xử lý dứt điểm nợ tồnđọng ở các ngân hàng thương mại nhằm lành mạnh hóa tài chính, giảmthiểu rủi ro và nâng cao năng lực cạnh tranh Đối với ngân hàng thươngmại nhà nước, cần bổ sung vốn điều lệ để đạt tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu8%, xử lý hết nợ tồn đọng, lành mạnh và minh bạch tài chính Đối vớicác ngân hàng thương mại cổ phần, tăng vốn điều lệ thông qua sát nhập
và hợp nhất, phát hành bổ sung cổ phiếu Đối với những trường hợp quáyếu kém về tài chính, cần giải quyết triệt để, có thể thu hồi giấy phépkinh doanh hoạt động
- Việc tuân thủ các luật về quy định trong hoạt động ngân hàng cầnđược kiểm tra giám sát thường xuyên để đảm bảo thực hiện đúng và đầyđủ
- Phối hợp nhịp nhàng chính sách tài khóa và tiền tệ, giải quyết vấn đềtồn kho đang nhức nhối cả nền kinh tế
- Phối hợp với chính quyền địa phương, tòa án các cấp để phát mãi cáctài sản thế chấp trong hệ thống ngân hàng để tạo ra nguồn xử lý nợ xấu
- Khuyến khích các tổ chức tín dụng có tài chính lành mạnh mua bán lại
nợ của các TCTD khác Khuyến khích các TCTD đàm phán với cácdoanh nghiệp để biến nợ thành cổ phần, góp phần tháo gỡ khó khăn chodoanh nghiệp
2 Kiến nghị về phía ngân hàng
- Xây dựng và chuẩn hóa, văn hóa toàn bộ các quy định, quy trìnhnghiệp vụ liên quan đến mọi hoạt động của ngân hàng Xác định tráchnhiệm rõ ràng và tuân thủ triệt để các quy trình đã được xây dựng
- Xây dựng các quy chế chuẩn mực phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tếnhư quản trị rủi ro, quản trị tài sản nợ - có, quản trị nguồn vốn, kiểm tra
Trang 17kiểm toán nội bộ Xây dựng quy trình tín dụng hiện đại và sổ tay tíndụng Xây dựng hệ thống kế toán và thiết lập các chỉ tiêu, các báo cáo tàichính phù hợp với các chuẩn mực kế toán quốc tế.
- Nâng cao chất lượng nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ ngân hàng, đào tạo
kỹ năng kiến thức ngân hàng hiện đại
- Xây dựng và hoàn thiện hệ thống cảnh báo sớm về nợ xấu Bởi nợ xấunếu kịp thời xác định, ngân hàng thương mại sẽ sớm có biện pháp ứngphó, từ đó giảm thiểu tác động của nợ xấu Dấu hiệu nợ xấu có thể nhậndiện qua nhiều vấn đề như phát sinh nợ quá hạn, áp lực chi phí tài chínhlớn, doanh thu sụt giảm Việc theo dõi sát sao để phát hiện nợ xấu là rấtcần thiết Trên thực tế có rất nhiều nguyên nhân từ vĩ mô đến vi mô gâynên nợ xấu, và vấn đề thu thập, nắm giữu thông tin khách hàng, đồng thờiphân tích nguyên nhân là những mấu chốt quan trọng đối với hoạt độngcủa ngân hàng
- Ngân hàng phải đánh giá đúng tiềm năng và nhận diện rõ khó khăncủa doanh nghiệp Trong nhiều trường hợp, nếu thấy doanh nghiệp cònkhả năng phục hồi, ngân hàng phải đồng hành với doanh nghiệp, gia hạn
nợ, tái cơ cấu để tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, biến nợ xấu thànhnhóm nợ bình thường
- Đối với khối nợ xấu cũ, biện pháp xử lý: Sử dụng nguồn trích lập dựphòng rủi ro theo quy định Tìm mọi biện pháp để thanh lý, phát mãi tàisản bảo đảm cho các khoản nợ xấu để thu hồi nợ Tiếp tục giảm lãi suấtxuống để thực hiện các khoản cho vay mới, giúp DN giảm chi phí đầuvào, bán được hàng, có điều kiện trả nợ ngân hàng Thực hiện việc muabán nợ
- Đối với các ngân hàng thương mại nhà nước, bên cạnh trách nhiệmthực hiện chính sách phát triển kinh tế thông qua cấp tín dụng cho cácdoanh nghiệp, dự án, hộ gia đình, trong quá trình thực hiện cần đảm bảonguyên tắc tín dụng của ngân hàng thương mại để xác định rõ thực hiệnnhư thế nào, cho ai vay, vay bao nhiêu và bao lâu, đảm bảo quản lý đượccác khoản nợ mình cấp vốn Thêm vào đó, cán bộ chính quyền các cấpphải học để có kiến thức về ngân hàng, đảm bảo không can thiệp vào cáchoạt động ngân hàng Đồng thời xây dựng nguyên tắc kiểm tra việc chovay doanh nghiệp nhà nước hoặc các dự án do chính quyền địa phươngxây dựng để đảm bảo các quyết định của ngân hàng độc lập với các cấpchính quyền Quy định chặt chẽ nguồn ngân sách đối ứng của địa phươngtrong các dự án này
3 Kiến nghị về phía doanh nghiệp cá nhân vay vốn
- Về phía các doanh nghiệp - con nợ, giải quyết các khoản nợ xấuthương mại là nghĩa vụ thị trường hiển nhiên của mình Vì vậy, các con
nợ này phải tìm mọi nguồn có thể để trả nợ; thương lượng với các chủ nợ
để cơ cấu lại nợ; rà soát các dự án để điều chỉnh kế hoạch sản xuất kinhdoanh, tập trung vào các hoạt động có hiệu quả nhất, giảm thiểu chi phí
và sự lệ thuộc vào nguồn vốn ngân hàng, tăng khả năng quản trị rủi ro,khả năng tự đổi mới và phản ứng thị trường của mình
- Hàng tồn kho chính là “cục máu đông” làm tắc nghẽn nền kinh tế và
là nguyên nhân làm cho nợ xấu tăng lên Đặc biệt, trong lĩnh vực bấtđộng sản, hơn một năm nay đóng băng, hàng tồn kho nhiều, đó là nguyênnhân 70% nợ xấu hiện nay liên quan đến bất động sản Giải quyết hàngtồn kho là vấn đề cấp bách hiện nay, giải quyết hàng tồn kho thì sẽ giảiquyết được nợ xấu, mà để giải quyết được hàng tồn kho ngoài việc hạ giábán (chấp nhận lỗ) để thu hồi vốn về quay vòng thì một hình thức liên kết
Trang 18giữa các DN, sử dụng các sản phẩm của nhau cũng là cách làm hiện nay.Bên cạnh đó, việc minh bạch thông tin tài chính, nâng cao khả năng quảntrị DN, để tạo niền tin trong quan hệ tín dụng với ngân hàng.
- Cụ thể, trước mắt cần giải quyết hàng tồn kho, tập trung kích cầu vàosắt thép, xi măng, vật liệu xây dựng, căn hộ nhà chung cư, đẩy mạnhtuyên truyền khuyến khích, mở các đợt bán giảm giá thu hút người tiêudùng; tiếp tục mở rộng thị trường xuất khẩu, nhất là các mặt hàng nông,thủy, hải sản; khuyến khích các doanh nghiệp sử dụng sản phẩm củanhau Bên cạnh đó, các ngân hàng phải chia sẻ, tham gia tháo gỡ khókhăn với doanh nghiệp
Câu 11: Các NHTM hiện nay đang đối mặt với những khó khăn gì?
Các ngân hàng thương mại đang đối mặt với những khó khăn trong huyđộng và cho vay, dẫn đến khó đáp ứng nhu cầu vay vốn của các doanhnghiệp và dẫn đến những hạn chế nội tại
Về huy động vốn, với trên 90% tỷ trọng vốn của ngân hàng hiện nay lànguồn vốn ngắn hạn, gây khó khăn cho các ngân hàng thương mại trongviệc quản trị nguồn vốn, khó bảo đảm cân đối kỳ hạn Kỳ hạn huy độngvốn bình quân có xu hướng rút ngắn trong khi kỳ hạn cho vay bình quândài, tạo nguy cơ rủi ro kỳ hạn và lãi suất
Hơn nữa, sự mất cân đối kỳ hạn vốn của ngân hàng hiện nay cũng là mộttrong những nguyên nhân khiến nhiều ngân hàng không thể đáp ứng nhucầu vay vốn của doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ và vừa,
do các doanh nghiệp này chủ yếu vay vốn trung và dài hạn để đầu tư mởrộng sản xuất kinh doanh
Về tăng trưởng tín dụng, do hàng tồn kho lớn, sản xuất của các kháchhàng đang suy giảm nghiêm trọng, các ngân hàng khó khăn trong thu nợ(gốc, lãi), nợ xấu có xu hướng tăng cao Một số lĩnh vực cho vay cần ưutiên như cho vay nông nghiệp, nông thôn gặp nhiều khó khăn do kháchhàng vay không đủ điều kiện để ngân hàng xem xét cho vay (không cóphương án sản xuất - kinh doanh có hiệu quả không có hoặc không đủ tàisản bảo đảm, tình hình tài chính không minh bạch, nợ xấu phát sinh dokhông tiêu thụ được sản phẩm )
Cụ thể hơn, ở tình hình huy động vốn, những tháng đầu năm lạm pháttăng cao, các ngân hàng gặp khó khăn, nguồn vốn huy động toàn hệthống có xu hướng giảm Tuy nhiên, sau khi có Chỉ thỉ 02 của Thống đốcNgân hàng Nhà nước, với việc xử lý nghiêm các ngân hàng vi phạm trầnlãi suất huy động vốn, hầu hết các tổ chức tín dụng đã nghiêm túc thựchiện trần lãi suất; hiện tượng chạy đua lãi suất, khách hàng mặc cả lãisuất với ngân hàng trước đây, đến nay nhìn chung đã giảm đáng kể Qua thực tế tình hình huy động vốn, một số ngân hàng thương mại có lợithế về mạng lưới, thương hiệu, nguồn vốn huy động tăng mạnh; một sốngân hàng quy mô nhỏ huy động vốn trên thị trường 1 gặp khó khăn, một
số khác quản trị rủi ro thanh khoản yếu, vốn huy động phụ thuộc lớn vàothị trường 2, nắm giữ ít giấy tờ có giá, thực hiện cạnh tranh lách huyđộng vốn với lãi suất cao đã ảnh hưởng đến hoạt động của các tổ chức tíndụng khác và gây mất ổn định thị trường tiền tệ
Tuy nhiên, do Ngân hàng Nhà nước có biện pháp xử lý kịp thời thôngqua tái cấp vốn, nghiệp vụ thị trường mở và các biện pháp khác, nên về
cơ bản thanh khoản VND toàn hệ thống hiện vẫn đảm bảo
Về tín dụng, các tổ chức đã điều chỉnh lãi suất cho vay VND theo xuhướng giảm dần, phù hợp với xu hướng giảm của lãi suất huy động Và
Trang 19mặc dù, các ngân hàng đã “giảm mạnh” mức lãi suất cho vay, tuy nhiênnhiều doanh nghiệp chưa tiếp cận được nguồn vốn ngân hàng.
Về chất lượng tín dụng và tỷ lệ nợ xấu, trong bối cảnh lãi suất vẫn còncao, môi trường kinh tế trong và ngoài nước tiềm ẩn rủi ro, các doanhnghiệp tiếp tục gặp nhiều khó khăn trong quá trình hoạt động sản xuấtkinh doanh, làm dư nợ quá hạn và nợ xấu có xu hướng gia tăng
Thu nhập của ngân hàng đến chủ yếu từ hoạt động cho vay, nhưng nămqua với điều kiện kinh tế nói chung và thị trường tài chính nói riêng,nguồn thu từ hoạt động tín dụng của hầu hết các ngân hàng bị ảnh hưởng,dẫn đến hiệu quả hoạt động của hầu hết ngân hàng bị giảm sút đáng kể
Câu 12: Hai bài tập đã giới thiệu trên lớp
Câu 13: Nghiệp vụ chiết khấu và bao thanh toán của NHTM
Chiết khấu
Chiết khấu là một nghiệp vụ tái cấp vốn ngắn hạn, trong đó khách hàngchuyển nhượng thương phiếu hoặc các giấy tờ có giá ngắn hạn khác chưađáo hạn cho ngân hàng, để nhận được một số tiền bằng mệnh giá trừ lãichiết khấu và phí NHTM được chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ cógiá ngắn hạn khác đối với các tổ chức, cá nhân và tái chiết khấu đối vớicác TCTD khác;
Bao thanh toán
Bao thanh toán là hình thức cấp tín dụng cho bên bán hàng hoặc bên muahàng thông qua việc mua lại có bảo lưu quyền truy đòi các khoản phảithu hoặc các khoản phải trả phát sinh từ việc mua, bán hàng hoá, cungứng dịch vụ theo hợp đồng mua, bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ
Các loại hình bao thanh toán: Bao thanh toán truy đòi, miễn truy đòi
Câu hỏi 15 Phân tích chức năng và vai trò của NHTM, liên hệ ở Việt Nam
Ngân hàng thương mại đã hình thành tồn tại và phát triển hàng trăm năm gắnliền với sự phát triển của kinh tế hàng hoá Sự phát triển hệ thống ngân hàngthương mại (NHTM) đã có tác động rất lớn và quan trọng đến quá trình pháttriển của nền kinh tế hàng hoá, ngược lại kinh tế hàng hoá phát triển mạnh
mẽ đến giai đoạn cao nhất là nền kinh tế thị trường thì NHTM cũng ngàycàng được hoàn thiện và trở thành những định chế tài chính không thể thiếuđược
Ngân hàng thương mại là một bộ phận lớn nhất của hệ thống trung gian tàichính Tổng tài sản có của NHTM luôn có khối lượng lớn nhất Các trunggian tài chính này thu hút vốn trước hết bằng cách phát hành: Tiền gửi có thểphát hành séc được, tiền gửi tiết kiệm và các tiền gửi có kỳ hạn Sau đó họdùng vốn này để thực hiện cho vay: Cho vay thương mại, cho vay tiêu dùng,cho vay thế chấp và để mua: Các chứng khoán chính phủ, các trái khoán củachính quyền địa phương
Trong thế giới hiện đại, tính cho đến thời điểm này thì ngân hàng thươngmại và cơ cấu hoạt động của nó đóng vai trò quan trọng nhất trong thể chếtài chính của mỗi nước Hoạt động của NHTM đa dạng, phong phú và cóphạm vi rộng lớn, trong khi các tổ chức tài chính khác thường hoạt động trênmột lĩnh vực hẹp và theo hướng chuyên sâu
Hoạt động kinh doanh của NHTM có những đặc trưng cơ bản sau:
- Đối tượng kinh doanh của NHTM là tiền tệ - là một hàng hóa đặc biệt Đặcđiểm của tiền tệ là rất nhạy cảm và dễ bị tác động ảnh hưởng bởi những biến
Trang 20động, những thay đổi của các yếu tố môi trường bên ngoài hoặc bên trong.
- Nguồn vốn kinh doanh của ngân hàng chủ yếu là nguồn vốn đi vay dướihình thức tiền gửi Bản chất của nó là nguồn vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi do
- Cương độ cạnh tranh trong lĩnh vực ngày càng cao: (cạnh tranh giữa cácngân hàng trong nước, với các ngân hàng nước ngoài và các tổ chức tàichính phi ngân hàng…)
- KHách hàng của các ngân hàng cũng có nhiều điểm khác biệt so với kháchhàng của các xí nghiệp công nghiệp thương mại và dịch vụ khác đó là: Họ
có quan hệ tiếp tục, thường xuyên, gắn bó mật thiết và lâu dài với ngânhàng, do đó nhiều người cho rằng họ là những thân chủ của ngân hàng
- Sản phẩm của ngân hàng là dịch vụ tài chính với những đặc điểm vô hình,không tách rời, không ổn định và không dự trữ được Đặc điểm này cũngảnh hưởng khá lớn đến kinh doanh ngân hàng
- Mức độ rủi ro trong kinh doanh ngân hàng rất cao Vì vậy các NHTM luônphải đối đầu với rủi ro phải có những biện pháp hữu hiệu để phòng ngừa vàhạn chế rủi ro (rủi ỏ tín dụng, rủi ro thanh khoản, rủi ro lãi suất, rủi ro phásản…)
- NHTM phải chịu sự giám sát chặt chẽ và thường xuyên của các cơ quanquản lý vĩ mô Tính hệ thống trong kinh doanh ngân hàng cao hơn các lĩnhvực khác (mang tính đồng nhất cao về kĩ thuật nghiệp vụ, tính dặc thù làtương đối hạn chế) Các NHTM mặc dù cạnh tranh gay gắt với nhau nhưnglại cần phải có sự thống nhất về một số nghiệp vụ, phải hỗ trợ nhau về thanhkhoản, vốn kinh doanh, chia sẽ rủi ro, sẽ đảm bảo an toàn cho từng ngânhàng cũng như cho toàn hệ thống và cho nền kinh tế
Trong sự phát triển của nền kinh tế-xã hội, Ngân hàng là một yếu
tố không thể thiếu bởi các chức năng cơ bản của nó: là trung gian tài chính, tạo phương tiện thanh toán, trung gian thanh toán
- Trung gian tài chính: Ngân hàng là một tổ chức trung gian tài chính vớihoạt động chủ yếu là chuyển tiết kiệm thành đầu tư, đòi hỏi sự tiếp xúc vớihai loại cá nhân và tổ chức trong kinh tế: Các cá nhân và tổ chức tạm thờithâm hụt chi tiêu (tức là chi tiêu cho tiêu dùng và đầu tư vượt quá thu nhập
và vì thế họ là những người cần bổ sung vốn) Các cá nhân và tổ chức thặng
dư tạm thời trong chi tiêu (tức là thu nhập hiên tại của họ lớn hơn các khoảnchi tiêu cho hàng hóa, dịch vụ và do vậy họ có tiền để tiết kiệm).Sự tồn tạicủa hai loại cá nhân và tổ chức trên hoàn toàn độc lập với Ngân hàng, vàđiều tất yếu là tiền sẽ chuyển từ nhóm thứ hai sang nhóm thứ nhất nếu cả haicùng có lợi Khi đó sẽ hình thành nên mối quan hệ tài chính, mà có thể làquan hệ trực tiếp dưới hình thức tín dụng hoặc quan hệ cấp phát, hùn vốn vàcũng có thể là quan hệ gián tiếp nếu trong quan hệ trực tiếp bị nhiều giới hạn
do không phù hợp về qui mô, thời gian, không gian Với quan hệ gián tiếpđòi hỏi có sự tham gia của các trung gian tài chính mà với sự chuyên mônhóa họ có thể giảm chi phí giao dịch xuống, làm tăng thu nhập cho người tiếtkiệm từ đó mà khuyến khích được tiết kiệm, đồng thời giảm phí tổn tín dụngcho người đầu tư và cũng khuyến khích đầu tư Trung gian tài chính đã tậphợp những người tiết kiệm và đầu tư, vì vậy giải quyết được mâu thuẫn của
Trang 21quan hệ tài chính trực tiếp.Đồng thời do sự phân bổ không đều thông tin vànăng lực phân tích thông tin thường được gọi là tình trạng “thông tin khôngcân xứng” làm giảm tính hiệu quả của thị trường và Ngân hàng có năng lực
để làm giảm đến mức thấp nhất những sai lệch đó
- Tạo phương tiện thanh toán: Tiền-Vàng có một chức năng quan trọng làlàm phương tiện thanh toán trong trao đổi mua bán hàng hóa, dịch vụ, songkhi nền sản xuất phát triển cao hơn, lượng phân phối qua lại ngày càng nhiềuthì trong thanh toán bằng tiền mặt, vàng gặp nhiều khó khăn và Ngân hàng
đã tạo phương tiện thanh toán khi phát hành giấy nhận nợ cho khách hàng,
và với những ưu điểm nhất định nó đã trở thành phương tiện thanh toán rộngrãi được nhiều người chấp nhận Ngoài ra giấy nhận nợ đó còn được thay thếtiền kim loại làm phương tiện lưu thông, phương tiện cất trữ, nó trở thànhtiền giấy.Ngày nay giấy nhận nợ đã được phát triển dưới nhiều hình thứckhác nhau như: Séc, kỳ phiếu đã giúp cho việc thanh toán được diễn ranhanh gọn và có hiệu quả hơn
-Trung gian thanh toán: Ngân hàng trở thành trung gian thanh toán lớn nhấthiện nay ở hầu hết các quốc gia Thay mặt cho khách hàng, Ngân hàng thựchiện thanh toán giá trị hàng hóa và dịch vụ, để việc thanh toán nhanh chóngthuận tiện và tiết kiệm chi phí, Ngân hàng đưa ra cho khách hàng nhiều hìnhthức thanh toán như thanh toán bằng Sec, ủy nhiệm chi, nhờ thu Cung cấpmạng lưới thanh toán điện tử, kết nối các quỹ và cung cấp tiền giấy khikhách hàng cần Các Ngân hàng còn thực hiện thanh toán bù trừ với nhauthông qua Ngân hàng trung ương hoặc thông qua các trung tâm thanh toán,công nghệ thanh toán qua Ngân hàng càng đạt hiệu quả cao khi qui mô sửdụng công nghệ đó càng được mở rộng Nhiều hình thức thanh toán đượcchuẩn hóa góp phần tạo tính thống nhất trong thanh toán không chỉ giữa cácngân hàng trong một quốc gia mà còn giữa các Ngân hàng trên toàn thế giới.Với các trung tâm thanh toán quốc tế được thiết lập đã làm tăng hiệu quả củathanh toán qua Ngân hàng, biến Ngân hàng trở thành trung tâm thanh toánquan trọng và có hiệu quả, phục vụ đắc lực cho nền kinh tế toàn cầu
Vai trò của NHTM đối với sự phát triển của nền kinh tế:
- Ngân hàng thương mại là nơi cung cấp vốn cho nền kinh tế: Thực tế chothấy, để phát triển kinh tế các đơn vị kinh tế cần phải có một lượng vốn lớnđầu tư cho hoạt động sản xuất kinh doanh và các hoạt động khác Nhưngđiều khó khăn hơn lợi ích là cần có người đứng ra tập trung tiền nhàn dỗi ởmọi nơi mọi lúc và kịp thời cung ứng cho nơi cần vốn Bằng vốn huy độngđược trong xã hội thông qua hoạt động tín dụng, Ngân hàng thương mại đãcung cấp vốn cho mọi hoạt động kinh tế, đáp ứng nhu cầu vốn một cách kịpthời cho quá trình sản xuất Nhờ có hoạt động của hệ thống Ngân hàngthương mại và đặc biệt là hoạt động tín dụng, các doanh nghiệp, cá nhân cóđiều kiện mở rộng sản xuất, cải tiến máy móc, công nghệ để tăng năng suấtlao động, nâng cao hiệu quả kinh tế và chất lượng sản phẩm cho xã hội
- Ngân hàng thương mại là cầu nối các doanh nghiệp với thị trường: Bướcsang cơ chế thị trường, đòi hỏi sự phát triển của tín dụng Ngân hàng đã làmbiến đổi hoạt động ruỗng lát trong các nhà máy, xí nghiệp khơi dậy sức sốngbằng các dây chuyền sản xuất hiện đại năng suất cao, thực hiện chuyển giaocông nghệ từ các nước tiên tiến Điều không thể thực hiện bằng vốn tự cócủa các doanh nghiệp vốn dĩ đã rất ít ỏi Bên cạnh đó, tín dụng ngân hàngcòn cung cấp một phần vốn không nhỏ trong việc tăng cường nguồn vốn lưuđộng của các doanh nghiệp Một vấn đề luôn là mối lo thường trực của cácdoanh nghiệp Một khía cạnh khác đòi hỏi sự có mặt của tín dụng ngân hàngđối với doanh nghiệp Đó là một ngân quỹ để dành cho việc đào tạo đội ngũ