1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

THUẾ CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ TRONG WTO VÀ TRƯỜNG HỢP CỦA VIỆT NAM

49 227 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 49
Dung lượng 596 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bán phá giá là một hành vi thương mại quốc tế đã xuất hiện từ khá sớm, nó được cho là một trong những hành vi thương mại không công bằng, làm thiệt hại tới hoạt động sản xuất của nước nhập khẩu. Do vậy, yêu cầu đặt ra là cần có một biện pháp phòng vệ nhằm bảo vệ nền sản xuất trong nước của các quốc gia trong các trường hợp bán phá giá. Yêu cầu này đã được Tổ chức thương mại thế giới đáp ứng khi thông qua Hiệp định về chống bán phá giá. WTO là tổ chức được thành lập và hoạt động từ 111995 với mục tiêu thiết lập và duy trì một nền thương mại toàn cầu tự do, thuận lợi và minh bạch. Với mục tiêu trên, WTO đã đề ra các quy định, các cơ chế giải quyết tranh chấp nhằm đảm bảo tính công bằng trong quan hệ thương mại giữa các quốc gia, đảm bảo quyền lợi chính đáng của các bên. Hiệp định về chống bán phá giá được WTO thông qua năm 1994 tại vòng đàm phán Uruguay,và được áp dụng từ ngày 111995 được coi là 1 nỗ lực của WTO để thiết lập môi trường cạnh tranh bình đẳng, Hiệp định này cho phép các quốc gia thành viên sử dụng các biện pháp tự vệ ,tiêu biểu là Thuế chống bán phá giá để chống lại hành vi bán phá giá. Đối với Việt Nam, trước khi trở thành thành viên của WTO, một số DN Việt Nam đã trở thành nạn nhân của các vụ kiện chống bán phá giá, gây thiệt hại rất lớn đến nền sản xuất trong nước, kim ngạch xuất khẩu với sản phẩm bị kết luận là bán phá giá giảm sút nghiêm trọng, tiêu biểu là ngành xuất khẩu cá tra, cá basa của Việt Nam. Do đó, tìm hiểu để nắm rõ các quy định của WTO về bán phá giá, từ đó có các biện pháp để phòng tránh và giảm thiểu thiệt hại, xây dựng chiến lược kinh doanh phù hợp là một vấn đề cấp bách. Không những vậy, trong bối cảnh Việt Nam trở thành thành viên chính thức của WTO, có nghĩa là Việt Nam hoàn toàn có thể áp dụng các biện pháp chống bán phá giá của WTO thì việc nắm vững quy định về chống bán phá giá còn là cơ sở để Việt Nam xây dựng Luật chống bán phá giá phù hợp với quiy định của WTO, qua đó đảm bảo môi trường cạnh tranh công bằng cho các doanh nghiệp trong nước

Trang 1

Trường ĐH Kinh Tế Quốc Dân

Trang 2

LỜI MỞ ĐẦU

1.Tính tất yếu

Bán phá giá là một hành vi thương mại quốc tế đã xuất hiện từ khá sớm,

nó được cho là một trong những hành vi thương mại không công bằng,làm thiệt hại tới hoạt động sản xuất của nước nhập khẩu Do vậy, yêu cầuđặt ra là cần có một biện pháp phòng vệ nhằm bảo vệ nền sản xuất trongnước của các quốc gia trong các trường hợp bán phá giá Yêu cầu này đãđược Tổ chức thương mại thế giới đáp ứng khi thông qua Hiệp định vềchống bán phá giá WTO là tổ chức được thành lập và hoạt động từ1/1/1995 với mục tiêu thiết lập và duy trì một nền thương mại toàn cầu tự

do, thuận lợi và minh bạch Với mục tiêu trên, WTO đã đề ra các quyđịnh, các cơ chế giải quyết tranh chấp nhằm đảm bảo tính công bằngtrong quan hệ thương mại giữa các quốc gia, đảm bảo quyền lợi chínhđáng của các bên Hiệp định về chống bán phá giá được WTO thông quanăm 1994 tại vòng đàm phán Uruguay,và được áp dụng từ ngày 1/1/1995được coi là 1 nỗ lực của WTO để thiết lập môi trường cạnh tranh bìnhđẳng, Hiệp định này cho phép các quốc gia thành viên sử dụng các biệnpháp tự vệ ,tiêu biểu là Thuế chống bán phá giá để chống lại hành vi bánphá giá

Đối với Việt Nam, trước khi trở thành thành viên của WTO, một số DNViệt Nam đã trở thành nạn nhân của các vụ kiện chống bán phá giá, gâythiệt hại rất lớn đến nền sản xuất trong nước, kim ngạch xuất khẩu vớisản phẩm bị kết luận là bán phá giá giảm sút nghiêm trọng, tiêu biểu làngành xuất khẩu cá tra, cá basa của Việt Nam Do đó, tìm hiểu để nắm rõcác quy định của WTO về bán phá giá, từ đó có các biện pháp để phòngtránh và giảm thiểu thiệt hại, xây dựng chiến lược kinh doanh phù hợp làmột vấn đề cấp bách Không những vậy, trong bối cảnh Việt Nam trởthành thành viên chính thức của WTO, có nghĩa là Việt Nam hoàn toàn cóthể áp dụng các biện pháp chống bán phá giá của WTO thì việc nắm vữngquy định về chống bán phá giá còn là cơ sở để Việt Nam xây dựng Luậtchống bán phá giá phù hợp với quiy định của WTO, qua đó đảm bảo môitrường cạnh tranh công bằng cho các doanh nghiệp trong nước

2 Mục đích nghiên cứu

Việc nghiên cứu Hiệp định chống bán phá giá của WTO mang ý nghĩathực tiễn quan trọng Nó không chỉ giúp cho các Doanh nghiệp Việt Namnắm rõ luật pháp quốc tế để có thể vững vàng trong hội nhập kinh tế thếgiới, giúp doanh nghiệp có những biện pháp đối phó kịp thời với các vụkiện chống bán phá giá mà còn tạo cơ sở cho Việt Nam áp dụng chính cácbiện pháp tự vệ đó để bảo vệ nền sản xuất trong nước trong bối cảnh tínhcạnh tranh ngày càng sâu sắc và phức tạp hiện nay

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Hiệp định chống bán phá giá của WTO

Trang 3

Phạm vi nghiên cứu: Các trường hợp bị kiện bán phá giá của Việt Nam.

4 Phương pháp nghiên cứu: Tổng hợp phân tích tư liệu sẵn có

5 Mục lục

Chương I: Tổng quan về mô hình bán phá giá của Pau R.Krugman

I Lý thuyết về bán phá giá

II Mô hình bán phá giá

Chương II Thuế chống bán phá giá của WTO

I Tổng quan về luật chống bán phá giá của WTO

II Nội dung cơ bản của “Hiệp định chống bán phá giá của WTOIII Tác động của biện pháp chống bán phá giá tới TMQT

Chương III: Xu hướng khởi kiện CBPG trong WTO

I Xu hướng khởi kiện theo quốc gia

II Xu hướng khởi kiện theo ngành

CHương IV: Tác động của việc áp thuế CBPG

I Tác động đối với bên nguyên đơn

II Tác động đối với bên bị đơn

Chương V: Việt Nam với các vụ kiện chống bán phá giá

I Thực trạng các vụ kiện chống bán phá giá mà Việt Nam có liên

quan trong thời gian gần đây

II Những khó khăn của DN Việt Nam trong quá trình kháng kiện

Trang 4

Giá TT: Giá thông thường

IMF: Quỹ tiền tệ thế giới (International Monetery Fund)

TMQT: Thương mại quốc tế

SPTT: Sản phẩm tương tự

USITC: Ủy ban Thương mại Quốc tế Hoa Kỳ ( United StateInternational Trade Commission)

WB: Ngân hàng thế giới ( World bank)

WTO: Tổ chức thương mại thế giới (World Trade Organization)

Trang 5

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ MÔ HÌNH BÁN PHÁ GIÁ

CỦA PAU KRUGMAN

I LÝ THUYẾT VỀ BÁN PHÁ GIÁ

Bán phá giá được hiểu chung nhất là việc 1 hãng bán hàng hóa ở nướcngoài thấp hơn so với giá bán của hàng hóa ở trong nước Việc bán phágiá chỉ xảy ra khi thỏa mãn đồng thời 2 điều kiện là:

1- Ngành công nghiệp phải là cạnh tranh không hoàn hảo, khi đó cáchãng sẽ tự định ra giá thay vì chấp nhận mức giá thị trường

2- Thị trường phải bị chia cắt, người dân trong nước không thể dễdàng mua được những mặt hàng chủ định dành cho xuất khẩu.Khi có những điều kiện này 1 hãng có thể thấy có lợi hơn khi tiến hànhbán phá giá Ví dụ để cho thấy việc bán phá giá có thể là 1 chiến lược tối

đa hóa lợi nhuận: 1 hãng hiện tại đang bán 1000 đơn vị hàng hóa ở trongnước với giá 20USD/ 1 sản phẩm và 100 đơn vị hàng hóa ở nước ngoàivới mức giá 15USD/1 sản phẩm Hiện tại hãng bán Ta có thể hình dungrằng hãng sẽ kết luận rằng bán thêm hàng hóa ở thị trường nội địa sẽ thuđược nhiều lợi nhuận hơn là xuất khẩu thêm ra nước ngoài Tuy nhiên, tagiả sử rằng hãng cần phải giảm giá đi 0.01 USD ở mỗi thị trường để bánthêm được 1 sản phẩm Giả thiết này có nghĩa là đường cầu của sản phẩmtại thị trường nước ngoài co giãn hơn rất nhiều so với thị trường trongnước Với giả thiết đó, nếu giảm giá nội địa đi 0.01 USD, hãng sẽ bánthêm được 1 đơn vị, và đóng góp 19.99 USD vào doanh thu, nhưng phítổn gián tiếp từ việc bán 1000 sản phẩm với giá 19.99USD thay vì20USD là 10USD Vậy doanh thu biên từ việc bán thêm 1 đơn vị sảnphẩm chỉ là 9.99 USD Mặt khác, giảm mức giá đối với hàng xuất khẩusang thị trường nước ngoài trực tiếp làm tăng doanh thu thêm 14.99USD,phí tổn gián tiếp của việc bán 100 đơn vị với mức giá 14.99USD thay vì15USD là 1USD Vậy doanh thu biên tăng thêm là 13.99USD Vì thế,trong trường hợp này, mở rộng xuất khẩu sang thị trường nước ngoài đemlại lợi nhuận nhiều hơn là bán hàng trong nước, mặc dù giá xuất khẩuthấp hơn giá trong nước Ví dụ này sẽ bị đảo ngược nếu giả định rằnghàng bán ở trong nước thấp hơn hàng bán ở nước ngoài Tuy nhiên sựphân biệt giá cả có lợi cho hàng xuất khẩu thường phổ biến hơn Tóm lại,

lý thuyết trên về hành vi BPG dựa trên lý thuyết tối đa hóa lợi nhuận củamột hãng độc quyền trên cơ sở phân biệt giá cấp 3

Trang 6

Mục tiêu sản xuất kinh doanh của hãng là tối đa hóa lợi nhuận kỳ vọng.

Để tối đa hóa lợi nhuận, hãng phải đặt được điều kiện MR=MC ở mỗi thịtrường Doanh thu biên đối với hàng hóa bán trong nước xác định bằngđường MRdom Doanh số bán hàng xuất khẩu được tiến hành ở mức giá

Trang 7

Pfor không đổi, do đó doanh thu biên từ mỗi đơn vị hàng hóa xuất khẩu làPfor Để làm cho chi phí biên bằng doanh thu biên ở cả 2 thị trường cầnsản xuất Qdq đơn vị hàng, để bán Qdom đơn vị ở thị trường trong nước

và (Qdq- Qdom) ở thị trường nước ngoài

Do 1 đơn vị hàng tăng thêm luôn luôn có thể bán được ở mức giá Pfor,nên hãng có thể bán bao nhiêu tùy ý ở thị trường nước ngoài miễn là MRcòn lớn hơn MC Để tối đa hóa lợi nhuận, hãng gia tăng sản lượng chođến khi MC=Pfor, xác định được sản lượng tối đa hóa lợi nhuận là Qdq.Tại đó, MC(Qdq) = Pfor Vì chi phí biên khi đó là Pfor cho nên nó bánsản phẩm trong nước tại điểm mà MRdom = Pfor, xác định được sảnlượng trong nước là Qdom,phần xuất khẩu là (Qdq- Qdom) Ở mức sảnlượng Qdom, người tiêu dùng trong nước sẵn sàng mua ở mức giá Pdom,Pdom cao hơn Pfor, hay hãng đã tối đa hóa lợi nhuận bằng việc bán ởnước ngoài với giá thấp hơn trong nước Vì vậy,trên thực tế đó là hành vibán phá giá

Lý do để hãng bán phá giá chính là sự khác biệt giữa sự phản ứng củamức hàng bán ra với mức giá ở thị trường nước ngoài Điều kiện thườngcho sự phân biệt giá là các hãng sẽ định giá thấp hơn ở thị trường mà họcho rằng độ co giãn của cầu nhiều hơn Các hãng sẽ bán phá giá nếu thấy

độ co giãn của hàng xuất khẩu lớn hơn hàng nội địa Phân tích trên tậptrung vào trường hợp bán phá giá trong đó hãng định giá cho hàng xuấtkhẩu thấp hơn trong nước Trong thực tế đây là trường hợp thông thườngcủa phân biệt giá cả Trong khi đó, việc định mức giá quá cao cho hàngxuất khẩu lại không bị buộc tội, đó là hành vi “ bán giá ngược”

CHƯƠNG II : THUẾ CHÔNG BÁN PHÁ GIÁ CỦA TỔ CHỨCTHƯƠNG MẠI THẾ GIỚI WTO

I GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ LUẬT CHỐNG BÁN PHÁ

GIÁ CỦA WTO

Vấn đề bán phá giá và chống bán phá giá đã có từ rất sớm trong quan

hệ thương mại quốc tế nhưng chỉ đến năm 1947, với sự ra đời của Hiệpđịnh chung về thuế quan và thương mại GATT vấn đề này mới được đặtdưới sự chi phối của luật quốc tế thông qua Điều VI của Hiệp địnhnày.Lúc đầu vấn đề này chưa được tranh cãi nhiều và chỉ về sau khi cácdòng thương mại phát triển ngày càng nhanh, sự cạnh tranh ngày cànggay găt hơn, các thành viên của GATT cũng đông hơn, chống bán phá giámới trở thành 1 vấn đề phức tạp và được các bên quan tâm.Hiệp định nàycho phép các quốc gia thành viên được quyền áp đặt thuế chống bán phágiá đối với hàng hóa nhập khẩu được kết luận là có bán phá giá nhằm loại

bỏ tác động của việc bán phá giá đối với ngành sản xuất nước nhập khẩu.Cùng với xu hướng giảm dần tỷ lệ thuế quan kể từ khi có Hiệp địnhGATT 1947 thì việc sử dụng thuế chống bán phá giá cũng tăng lên vàĐiều VI không còn tương thích để quy định đầy đủ các vấn đề liên quan

Trang 8

đến việc áp đặt thuế chống bán phá giá Do đó, sau này các thành viêntrong Hiệp định GATT đã có những bước sửa đổi và hoàn thiện khungpháp lý mà tiêu biểu là các Hiệp định : Hiệp định thực thi chống bán phágiá ( năm 1967) ; Hiệp định Tokyo (1980) Tuy có nhiều sửa đổi phù hợpsong các Hiệp định sau khi sửa đổi vẫn còn có nhiều điểm mơ hồ, gâytranh cãi và do đó khá hạn chế trong việc thực thi Cuối cùng, sau vòngđàm phá Uruguay, cùng với sự ra đời của Tổ chức Thương mại Thế giớiWTO, các bên đã ký kết hiệp định về thực thi Điều VI GATT 1994 vàthường được gọi dưới cái tên “ Hiệp định về chống bán phá giá củaWTO” (Anti- dumping Agreement_ ADA) Trong khuân khổ bài viêt này

em chỉ xin đề cập đến các quy định về chống bán phá giá được thông quatrong hiệp định ADA

II NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA “ HIỆP ĐỊNH VỀ CHỐNG BÁN

PHÁ GIÁ CỦA WTO"

2.1.Như thế nào là bán phá giá?

Theo tinh thần của Điều 2.1, GATT 1994, một sản phẩm được coi làbán phá giá nếu như giá xuất khẩu của sản phẩm đó được xuất khẩu từnước này sang một nước khác thấp hơn mức giá có thể so sánh được củasản phẩm tương tự được tiêu dùng tại nước xuất khẩu theo điều kiệnthương mại thường

Thuế chống bán phá giá là một sắc thuế mà nước nhập khẩu đánh vàomột mặt hàng nhập khẩu được bán phá giá nhằm mục đích ngăn cản sựtiếp diễn của việc bán phá giá đó để tránh gây thiệt hại cho ngành sảnxuất sản phẩm tương tự ở nước nhập khẩu

“ Sản phẩm tương tự” được quy định tại điều 2.6 trong ADA, và đượchiểu là sản phẩm giống hệt, tức là sản phẩm có tất cả các đặc tính giốngvới sản phẩm đang được xem xét bán phá giá, hoặc trong trường hợpkhông có sản phẩm nào như vậy thì sản phẩm tương tự là những sảnphẩm mặc dù không giống ở mọi đặc tính nhưng có nhiều đặc điểm gầngiống với sản phẩm được xem xét Việc quyết định một sản phẩm là “sản phẩm tương tự” có ý nghĩa rất quan trọng trong bất kỳ vụ điều trachống bán phá giá nào vì nó không chỉ xác định sản phẩm nào thuộcphạm vi để phân tích cho thiệt hại mà nó còn liên quan đến việc xác địnhsản phẩm nào của thị trường nội địa nước xuất khẩu sẽ được sử dụng đểxác định giá trị thông thường Việc quyết định sản phẩm nào là “sảnphẩm tương tự”sẽ liên quan đén việc xác định biên độ phá giá cũng nhưxác định về tình trạng thiệt hại đối với ngành sản xuất nội địa nước nhậpkhẩu Tuy vậy, ADA lại không bao gồm thêm bất kỳ một sự hướng dẫnnào ngoài định nghĩa tại Điều 2.6 trên trong việc xác định “sản phẩmtương tự” Theo thông lệ , các nước thành viên thường dựa vào các tiêuchí sau đây để xác định một sản phẩm tương tự:

- Các đặc tính vật lý của hàng hóa;

- Mức độ chuyển đổi thương mại của các sản phẩm;

Trang 9

- Các nguyên liệu thô được sử dụng trong sản xuất;

- Những phương thức sản xuất và công nghệ sản xuất được sử dụngtrong quá trình sản xuất;

- Những chức năng và mục tiêu sử dụng cuối cùng của hàng hóa;

- Phân loại ngành công nghiệp;

(Giá thông thường – Giá xuất khẩu) x 100

Biên độ phá giá =

Giá xuất khẩu

Biên độ phá giá phải được tính cho từng nhà sản xuất, xuất khẩu liênquan Trên cơ sở biên độ phá giá, cơ quan có thẩm quyền của nước nhậpkhẩu sẽ tính toán mức thuế chống phá giá (trong mọi trường hợp khôngđược cao hơn biên độ phá giá) cho từng nhà sản xuất, xuất khẩu

2.2.2 Xác định giá thông thường

Giá thông thường (giá TT) là giá bán sản phẩm sản phẩm tương tự vớisản phẩm bị điều tra (SPTT) tại thị trường nước xuất khẩu Giá thôngthường được xác định theo các cách sau đây:

Cách 1:Giá TT được xác định theo giá bán của SPTT tại thị trường

nước xuất khẩu (tại thị trường nội địa của nước nơi sản phẩm đó được sảnxuất ra)

Cách 2: Trong trường hợp không có SPTT được bán trong thị trường

nước xuất khẩu theo các điều kiện thương mại thông thường hoặc trongtrường hợp việc bán trong nước đó không cho phép có sự so sánh hợp lý

do điều kiện đặc biệt của thị trường hoặc do lượng bán tại thị trườngtrong nước của nước xuất khẩu quá nhỏ (nhỏ hơn 5% so với lượng hàngđang xem xét bán tới nước nhập khẩu) thì giá TT được xác định là mứcgiá có thể so sánh được của SPTT được xuất khẩu sang một nước thứ 3thích hợp Tuy nhiên, nếu việc bán các SPTT tại thị trường nội địa củanước xuất khẩu hoặc bán sang nước thứ 3 với giá thấp hơn chi phí sảnxuất tính theo đơn vị sản phẩm cộng với các chi phí bán hàng, chi phíquản trị và các chi phí chung thì có thể coi đó là việc bán hàng khôngtheo các điều kiện thương mại thông thường và có thể không được xemxét tới trong quá trình xác định giá trị thông thường chỉ khi các cơ quan

Trang 10

có thẩm quyền xác định được việc bán hàng đó diễn ra trong một thờigian dài (thường là 1 năm nhưng không có trường hợp nào ít hơn 6 tháng)

và với khối lượng bán đáng kể, ở mức giá mà không thể cung cấp để đểláy lại được tất cả các chi phí đó trong 1 khoảng thời gian hợp lý

Cách 3: Giá TT được xác định theo trị giá tính toán (constructed normal

value) = Giá thành sản xuất + Chi phí bán hàng, hành chính + Lợi nhuậnhợp lý Các chi phí thông thường được tính toán trên cơ sở sổ sách ghichép của nhà xuất khẩu hoặc nhà sản xuất là đối tượng được điều tra vớiđiều kiện là các sổ sách này được ghi chép phù hợp với các nguyên tắc kếtoán được chấp nhận rộng rãi tại nước xuất khẩu và phản ánh 1 cách hợp

lý các chi phí đi kèm với việc sản xuất và bán hàng hóa đang được xemxét Các cơ quan điều tra cũng sẽ xây dựng tỷ lệ khấu hao thích hợp vàhạn mức cho phép chi tiêu xây dựng cơ bản và các chi phí phát triển khác

để xác định một cách chính xác nhất các chi phí, qua đó xác định chínhxác nhất có thể giá TT

Trong các cách thức nêu trên, cách 1 là cách thức tính giá TT tiêu chuẩn,được ưu tiên xem xét áp dụng trước trong tất cả các trường hợp Chỉ khikhông đáp ứng được các điều kiện để sử dụng cách 1 thì giá TT mới đượctính theo cách 2 hoặc cách 3

Hiệp định ADA không đưa ra quy định trong việc xác định giá TT khinước xuất khẩu là nước có nền kinh tế phi thị trường (Non-marketEconomy _ NME), nhưng trong “Luật mẫu về chống bán phá giá của tỏchức thương mại thế giới” thì có quy định về trường hợp này Theo đónếu 1 quốc gia là NME thì việc xác định Giá TT sẽ được xác định thôngqua một nước thứ 3 có nền kinh tế thị trường với các điều kiện về sảnxuất mặt hàng đang xem xét tương tự như nước xuất khẩu Vấn đề này sẽđược nói rõ hơn ở phần sau khi liên hệ với Việt Nam, quốc gia vẫn chưađược công nhận rộng rãi là 1 nước có nền kinh tế thị trường

2.2.3.Xác định giá xuất khẩu

Giá xuất khẩu được xác định là giá thực tế phải trả hoặc có thể trả chosản phẩm bị điều tra khi xuất khẩu từ nước xuất khẩu sang nước đangđiều tra Và trong trường hợp không có giá xuất khẩu hoặc đối với cơquan điều tra, giá xuất khẩu là không đáng tin cậy bởi có 1 thỏa thuận bồihoàn giữa nhà xuất khẩu với nhà nhập khẩu thì giá xuất khẩu sẽ được xácđịnh theo 2 cách:

- Giá xuất khẩu có thể được xây dựng trên cơ sở giá ở đó sản phẩmnhập khẩu được bán lại lần đầu tiên cho một bên mua độc lập; hoặc

Trang 11

- Nếu sản phẩm không được bán lại cho 1 bên mua độc lập hoặckhông được bán lại trong điều kiện như được nhập khẩu thì giáxuất khẩu được xác định theo giá mà cơ quan điều tra cho là hợp lýnhất trên các thoong tin sẵn có.

2.2.4 So sánh giữa giá thông thường và giá xuất khẩu

Khi so sánh giá thông thường và giá xuất khẩu để xác định chính xácbiên độ phá giá cần chú ý đến các vấn đề sau dây:

Một là: giá TT và giá xuất khẩu cần được so sánh ở cùng mức độ

thương mại, thường là ở mức EXW ( giao tại nhà máy), và với lượng muabán được thực hiện ở thời điểm gần nhất có thể Việc so sánh này đượcphép tính đến các chi phí bao gồm các loại thế và phí phát sinh trong giaiđoạn từ khi nhập khẩu đến lúc bán lại và thu lợi nhuận Trong trường hợp

đó, cơ quan có thẩm quyền sẽ xác định giá thông thường ở mức độthương mại tương đương với mức độ thương mại mà giá thành xuất khẩuđược xây dựng hoặc có thể khấu trừ thích hợp Ví dụ sau đây sẽ minh họa

rõ ràng hơn quy định này: Đây là ví dụ về trường hợp giá thông thườngđược xác định bằng giá bán của sản phẩm tương tự tại thị trường nướcxuất khẩu theo nguyên tắc so sánh ở cùng cấp độ thương mại là giá xuấtxưởng

Bảng 1: Ví dụ về so sánh giá thông thường và giá xuất khẩu

Nhà sản xuất X Thị trường

trong nước

Nhà sản xuất X Xuất khẩu

Thuế :5 Những khác biệt trong quá trình

xuất khẩu: 5

Cước vận chuyển nội địa: 1 Cước vận chuyển nội địa: 1

Cước đường biển & Bảo hiểm : 6

Trang 12

Giá thông thường (tại nơi xuất

Hai là: Khi so sánh giá thông thường và giá xuất khẩu cần có sự

chuyển đổi đồng tiền, việc chuyển đổi tiền tệ phải sử dụng tỷ giá tại thờiđiểm bán hàng với điều kiện là nếu ngoại hối thu được từ việc bán hàngxuất khẩu được bán trên thị trường kỳ hạn thì tỷ giá trong thương vụ bánngoại hối kỳ hạn đó sẽ được sử dụng, Những biến động về tỷ giá hối đoái

sẽ được bỏ qua trong quá trình điều tra

Ba là: Phương pháp so sánh: Có ba cách so sánh giá thông thường (TT)

với giá xuất khẩu :

Cách 1: So sánh giá TT bình quân gia quyền với giá xuất khẩu bình quângia quyền của tất cả các giao dịch của từng nhà sản xuất, xuất khẩu;

Cách 2: So sánh giá TT và giá xuất khẩu của từng giao dịch (hoặc của cácgiao dịch thực hiện trong cùng một ngày hoặc gần như trong cùng mộtngày);

Cách 3: So sánh giá TT bình quân gia quyền với giá xuất khẩu của từnggiao dịch nếu cơ quan có thẩm quyền cho rằng có sự chênh lệch đáng kể

về cơ cấu giá xuất khẩu giữa những người mua, vùng hoặc thời điểmkhác nhau và có giải thích chính thức về việc tại sao việc sử dụng haicách trên không thể tính đến các khác biệt trên một cách hợp lý

2.3.Xác định thiệt hại và mối quan hệ nhân quả

- Hậu quả của hàng nhập khẩu này đến các nhà sản xuất các sảnphẩm trên ở nội địa nước nhập khẩu

Trang 13

Đối với khối lượng hàng nhập khẩu được bán phá giá, cơ quan điều tracần xem xét liệu hàng nhập khẩu được bán phá giá có tăng lên đáng kểhay không, việc tăng này có thể là tăng tuyệt đối hoặc tương đối khi sosánh với mức sản xuất và nhu cầu tieu dùng tại nước nhập khẩu Về tácđộng của hàng nhập khẩu được bán phá giá, cơ quan điều tra cần xem xét

có đúng là hàng nhập khẩu được bán phá giá đó làm giảm giá ở mức đáng

kể hoặc ngăn không cho giá tăng đáng kể, điều lẽ ra đã xảy ra nếu không

có hiện tượng bán phá giá Khi xác định thiệt hại đối với ngành sản xuấtnội địa cần chú ý đến 2 trường hợp sau đây:

Một là: Có hiện tượng bán phá giá nhưng biên phá giá là quá nhỏ (<2%) Hai là: Lượng hàng nhập khẩu từ 1 nước là không đáng kể khi lượng

hàng nhập khẩu từ nước đó chiếm tỷ lệ dưới 3% trên tổng lượng hàngnhập khẩu của SPTT

Trong 2 trường hợp trên thì được coi là không gây thiệt hại cho ngành sảnxuất nội địa nước nhập khẩu, và do đó không áp dụng các biện phápchống bán phá giá Trong trường hợp hàng được bán phá giá được nhậpkhẩu từ nhiều nguồn khác nhau thì lượng hàng nhập khẩu vẫn được coi làđáng kể nếu lượng nhập khẩu từ mỗi quốc gia chiếm tỷ lệ dưới 3% tổnglượng nhập khẩu các SPTT nhưng tổng lượng nhập khẩu từ các quốc gia

bị điều tra này lại vượt quá 7% Khi đó vẫn có thể áp các biện pháp chốngbán phá giá

Hiện nay, WTO chưa có quy định cụ thể nào về việc gây thiệt hại từhành vi bán phá giá đối với các hãng, các ngành của nước nhập khẩu.Theo khảo sát với các vụ kiện chống bán phá giá của các nước thì thiệthại được xem xét trong quá trình xác định thiệt hại do việc bán phá giáhàng nhập khẩu liên quan gây ra thường bao gồm ba loại:

- Thiệt hại đáng kể đối với ngành sản xuất nội địa của nước nhậpkhẩu (thiệt hại thực tế);

- Nguy cơ gây ra thiệt hại đáng kể đối với một ngành sản xuất nộiđịa (thiệt hại trong tương lai/nguy cơ thiệt hại);

- Ngăn cản việc hình thành một ngành sản xuất trong nước

Các yếu tố cần xem xét khi xác định thiệt hại thực tế là những thiệt hạiđược xem xét trên tất cả các yếu tố và chỉ số kinh tế có thể có tác độngđến thực trạng của ngành sản xuất, ví dụ:

- Mức suy giảm thực tế và tiềm ẩn của doanh số, lợi nhuận, sảnlượng, thị phần, năng suất, tỷ lệ lãi đối với đầu tư, tỷ lệ năng lựcđược sử dụng, giá, ;

Trang 14

- Các nhân tố ảnh hưởng đến giá trong nước;

- Các nhân tố ảnh hưởng xấu thực tế hoặc tiềm ẩn đối với quá trìnhchu chuyển tiền mặt, lượng lưu kho, công ăn việc làm, lương, tăngtrưởng, khả năng huy động vốn, nguồn đầu tư ;

- Độ lớn của biên độ bán phá giá;

Các yếu tố cần xem xét khi xác định nguy cơ thiệt hại bao gồm:

- Tỉ lệ gia tăng đáng kể hàng nhập khẩu được bán phá giá vào nướcnhập khẩu và đó là dấu hiệu cho thấy có nhiều khả năng hàng nhậpkhẩu sẽ gia tăng ở mức lớn;

- Năng lực sản xuất lớn (trong thực tế hoặc trong tương lai gần) củanhà sản xuất, xuất khẩu sản phẩm liên quan là dấu hiệu cho thấy sẽ

có sự gia tăng đáng kể của hàng xuất khẩu được bán phá giá sangthị trường nước nhập khẩu;

- Vấn đề liệu hàng nhập khẩu được nhập với mức giá có tác độnglàm giảm hoặc kìm hãm đáng kể giá trong nước và có thể làm tăngnhu cầu đối với hàng nhập khẩu thêm nữa hay không;

- Số thực tồn kho của sản phẩm đang bị điều tra;…

2.3.2 Mối quan hệ nhân quả:

Cơ quan điều tra chỉ có quyền áp dụng các biện pháp chống bán phágiá khi chứng minh được có mối quan hệ nhân quả giữa việc bán phá giá

và thiệt hại của ngành sản xuất nội địa nước nhập khẩu Việc chứng minhnày được thực hiện dựa trên việc kiểm tra tất cả các bằng chứng có liênquan trước các cơ quan có thẩm quyền Các cơ quan có thẩm quyền cũngphải tiến hành điều tra các nhân tố được biết đến khác cũng đồng thời tácđộng đến và gây thiệt hại cho ngành sản xuất nội địa và thiệt hại đó sẽkhông được tính vào ảnh hưởng do hàng bán phá giá gây ra Các yếu tố

có thể được tính đến trong trường hợp này bao gồm:

- Số lượng và giá của những mặt hàng nhập khẩu tương tự không bịbán phá giá;

- Giảm sút do nhu cầu tiêu dùng hoặc thay đổi về hình thức tiêudùng;

- Các hành động hạn chế thương mại hoặc cạnh tranh giữa nhà sảnxuất trong nước và nươc ngoài;

- Phát triển công nghệ, khả năng xuất khẩu và sản xuất của ngànhsản xuất trong nước

Trang 15

2.4.Thuế chống bán phá giá tạm thời và Thuế chống bán phá giá chínhthức.

Khi có đơn khởi kiện từ bên Nguyên đơn, sau 1 quá trình điều tra phứctạp, cơ quan điều tra sẽ đưa ra các quyết định sơ bộ và quyết định chínhthức, kèm theo đó là các biện pháp chống bán phá giá tạm thời và chốngbán phá giá chính thức Có nhiều biện pháp chống bán phá giá nhưngquan trọng nhất là công cụ Thuế: Thuế chống bán phá giá tạm thời vàthuế chống bán phá giá chính thức

Thuế chống bán phá giá tạm thời và các biện pháp tạm thời khác chỉđược phép áp dụng khi: Việc điều tra được tiến hành theo đúng trình tựthủ tục quy định; có kết luận có hiện tượng bán phá giá và có dẫn đếnthiệt hại cho nhà sản xuất nội địa ; Các cơ quan có thẩm quyền ra quyếtđịnh rằng cần áp dụng các biện pháp tạm thời Thuế suất tạm thời trongmọi trường hợp không được vượt quá biên độ bán phá giá Việc áp dụngthuế tạm thời được hạn chế ở một khoảng thời gian càng ngắn càng tốt vàkhông vượt quá 4 tháng, trong trường hợp đặc biệt không vượt quá 9tháng, và thuế tạm thời cũng không được áp dụng sớm hơn 60 ngày kể từngày bắt đầu điều tra

Thuế chống bán phá giá được áp dụng khi các điều kiện để có thể đánhthuế đã được thỏa mãn: Có hiện tượng bán phá giá; Có thiệt hại của nhàsản xuất nội địa; Có mối quan hệ nhân quả giữa việc bán phá giá và thiệthại đó Thuế suất chính thức trong mọi trường hợp đều không vượt quábiên độ phá giá Thuế chống bán phá giá được tính riêng lẻ cho từng nhàxuất khẩu hoặc nhà sản xuất hàng xuất khẩu Trong trường hợp cơ quanđiều tra hạn chế phạm vi điều tra, thì mức thuế đối với các nhà sản xuấthoặc xuất khẩu không thuộc phạm vi điều tra sẽ không được vượt quámức bình quân gia quyền của biên độ phá giá của các nhà xuất khẩu vànhà sản xuất được lựa chọn để điều tra Thuế chính thức được áp dụngquy định hồi tố Nếu thuế suất chính thức cao hơn mức thuế tạm thời thì

số chênh lệch sẽ không thu, nếu thấp hơn thì sẽ được hoàn lại

Việc áp dụng các biện pháp tự vệ như là áp thuế chống bán phá giátrong một khoảng thời gian dài sẽ có tác động tiêu cực đến nền sản xuấttrong nước, làm trì trệ sản xuất trong nước, giảm sức cạnh tranh Do đó

về nguyên tắc, thuế chống bán phá giá sẽ chấm dứt sau 5 năm kể từ thời

điểm quyết định áp đặt thuế chống bán phá giá Tuy nhiên, nếu cơ quan

có thẩm quyền nước nhập khẩu, sau khi tiến hành rà soát, đi đến kết luận

là việc bán phá giá gây thiệt hại có nhiều khả năng tiếp tục duy trì hoặctái diễn nếu thuế chống bán phá giá chấm dứt hiệu lực thì thuế này sẽ tiếptục được áp dụng thêm 5 năm nữa

Trang 16

Quyết định áp đặt thuế chống bán phá giá có thể được xem xét lạithông qua thủ tục rà soát lại Việc rà soát lại có thể dẫn tới việc chấm dứt

áp dụng thuế chống bán phá giá trước thời hạn hoặc, tiếp tục đặt thuế cho

đến hết thời hạn 5 năm hoặc kéo dài thời hạn áp dụng thuế này thêm 5năm nữa Có các rà soát lại quyết định áp đặt thuế chống bán phá giá sau:

- Rà soát lại để yêu cầu hoàn trả thuế (nếu mức thuế đã nộp cao hơn

Trang 17

CHƯƠNG III: CÁC XU HƯỚNG TRONG VẤN ĐỀ KHỞI KIỆNCBPG TRONG WTO

I XU HƯỚNG TẬP TRUNG THEO QUỐC GIA NƯỚC KHỞI

KIỆN

Mô hình áp dụng CBPG trên toàn thế giới đã được dẫn chứng bằng tài liệu trong phần lý thuyết Hầu hết các nghiên cứu đều kết luận rằng việc áp dụng CBPG đã gia tăng kể từ năm 1995 CBPG được áp dụng riêng bởi các nước công nghiệp phát triển kể từ giữa năm 1985 Cuối thập niên 80 mới xuất hiện những quốc gia mới áp dụng Đến năm

2006, số lượng các quốc gia áp dụng đã tăng lên đến con số 42 Hầu hết các học giả đều bày tỏ quan ngại về sự phát triển về số lượng quốc gia áp dụng CBPG Bảng 1 thể hiện số lượng các vụ khởi xướng tăng mạnh trong giai đoạn hậu WTO Tuy nhiên cũng cần phải chú ý rằng mặc dù việc áp dụng CBPG đã tăng một cách đột biến nhưng biện pháp này chưa thực sự lan rộng ra khắp toàn cầu Trong 150 quốc gia thành viên WTO chỉ có 42 quốc gia được báo cáo áp dụng biện pháp CBPG ít nhất 1 lần Trong số 42 quốc gia này chỉ có 18 quốc gia (43%) áp dụng thường xuyên Do đó, 18 quốc gia này đã chiếm một phần lớn trong áp dụng chính sách Cụ thể hơn, những quốc gia này chịu trách nhiệm cho 91% số vụ điều tra CBPG được khởi xướng bởi tất cả các thành viên của WTO trong giai đoạn 1995-2006 Thú vị là sốliệu từng năm cho thấy phần trăm trong tổng số vụ khởi xướng không đổi trong suốt giai đoạn kể từ năm 1995.Điều này xua đi nỗi lo ngại vềviệc số lượng các quốc gia áp dụng, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển, sẽ bùng nổ trong một tương lai gần Có một số quốc gia tại mỗi châu lục (ngoại trừ Bắc Mỹ) vẫn đang áp dụng bảo hộ CBPG Tại Châu Phi, Nam Phi là quốc gia duy nhất có khả năng áp dụng biện pháp này Nam Phi đã đưa ra hệ thống luật CBPG từ năm 1914 và bắt đầu áp dụng biện pháp này trong những năm 50 trước khi ngừng áp dụng chúng Tại Châu Á, 5 quốc gia áp dụng thường xuyên nhất là Ấn

Độ, Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan và In-đô-nê-xi-a Những quốc gia ở các lục địa khác cũng thường xuyên áp dụng là Thổ Nhĩ Kỳ và Liên minh Châu Âu ở Châu Âu; Hoa Kỳ và Canada ở Bắc Mỹ; Ác-hen-ti-na, Brazil, Mê-xi-cô, Cô-lôm-bi-a, Pêru và Vê-nê-zuê-la từ Mỹ

La Tinh; Australia và New Zealand 5 quốc gia phát triển là Hoa Kỳ, Canada, Liên minh Châu Âu, Australia và New Zealand là những quốcgia áp dụng biện pháp CBPG truyền thống, còn gọi “những nước áp dụng truyền thống” Trong những quốc gia đang phát triển, chỉ có những quốc gia lớn và tương đối phát triển mới áp dụng biện pháp;

Trang 18

những quốc gia kém phát triển hơn không nằm trong danh sách những

quốc gia áp dụng biện pháp Chi phí kinh tế và tiền phạt (về mặt trả

đũa) chính là rào cản chính cho việc áp dụng biện pháp CBPG của

những quốc gia này Bên cạnh đó, những quốc gia này cũng có thể

thiếu hiểu biết pháp lý và kỹ năng cần thiết để tiến hành điều tra và

tranh chấp các vụ việc tại Cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO

Bảng 2

Tổng hợp các khởi xướng; các biện pháp CBPG và Tỷ lệ của 18

quốc gia đứng đầu: 1995-2006

Giai

đoạn

Tổng số

vụ khởi xướng

Tỷ lệ của 18 quốc gia đứng đầu (%)

Tổng số biện pháp

áp dụng

Tỷ lệ của 18 quốc gia đứng đầu (%)

CBPG là một biện pháp phòng vệ thương mại mơ hồ nhất và tạo sự linh

hoạt trong việc đưa ra phán quyết bán phá giá, thiệt hại và mối quan hệ

nhân quả Bên cạnh đó nó còn có nhiều đặc tính khiến nó trở hành công

cụ bảo hộ thương mại hấp dẫn nhất theo cơ chế của WTO Trong một

phân tích chi tiết của WTO – biện pháp phòng vệ thương mại pháp lý –

biện pháp đối kháng, biện pháp tự vệ và biện pháp CBPG – Aggarwal

(năm 2007) nhấn mạnh rằng đây là công cụ bảo hộ mạnh nhất với tính

minh bạch chính trị thấp nhất Hầu hết mỗi đơn kiện đều có cơ hội thắng

kiện cao Tỉ lệ thành công, có nghĩa là số lượng các vụ việc CBPG có kết

luận khẳng định, trên tổng số vụ khởi xướng của những quốc gia áp dụng

thường xuyên trong giai đoạn 1995-2004 được trình bày tại Bảng 2 Bảng

này cho thấy tại hầu hết tất cả các quốc gia tỉ lệ thành công cao khoảng

trên 50% Tỉ lệ số đơn kiện thành công trung bình cao hơn tại các quốc

gia mới áp dụng hay các quốc gia đang phát triển (61,4%) so với các quốc

gia áp dụng truyền thống hoặc những nước phát triển (53,04%) Tuy

nhiên, một phân tích các quốc gia riêng lẻ cho thấy 2/3 đến 3/4 số hồ sơ

nộp đều mang lại biện pháp áp dụng tại một số quốc gia, bao gồm Trung

Quốc, Ấn Độ, Thổ Nhĩ Kỳ, Hoa Kỳ, Hàn Quốc, Ác-hen-ti-na; và

Vê-nê-zuê-la Tại Canada, Liên minh Châu Âu, Mê-xi-cô và Nam Phi khoảng

60% hồ sơ nộp lên có kết luận khẳng định Đài Loan, Australia, và New

Zealand là ngoại lệ với tỉ lệ thành công thấp hơn 50% Rõ ràng rằng

CBPG đã trở thành một công cụ ưa chuộng của những quốc gia thường

Trang 19

xuyên áp dụng Tuy nhiên, chỉ có những quốc gia phát triển và một số quốc gia lớn đang phát triển mới có đủ khả năng để tiến hành điều tra CBPG Rõ ràng là chi phí hành chính tốn kém, yêu cầu kiến thức pháp lý

và chi phí kinh tế cũng như chi phí phúc lợi khiến cho các quốc gia nhỏ khó lòng thực hiện biện pháp này

Vấn đề này đặt ra câu hỏi: “Tại sao lại có hiện tượng tăng lên trong việc áp dụng biện pháp CBPG?” Câu trả lời là do tên của nhiều quốc gia có trong thông báo CBPG tăng lên Như đã phân tích, WTO khôngghi lại các hồ sơ kiện (hoặc thông báo) trừ khởi xướng/điều tra (có nghĩa là số lượng các nước có trong đơn) Số lượng các vụ việc bị nhân gấp nhiều lần do số quốc gia được nêu tên trong những thông báo này Có sự tăng mạnh số vụ kiện dẫn chứng một số nguồn các quốc gia bán phá giá cùng sản phẩm, dẫn đến sự tăng mạnh số lượng các vụ việc CBPG

Trang 20

Liên minh Châu Âu 59.1

có tên của một quốc gia Những cột khác là phần trăm số đơn kiện có tên nhiều quốc gia

Phạm vi ảnh hưởng của việc nêu nhiều tên (số vụ việc trung bình trong mỗi hồ sơ) khá cao ở các quốc gia Châu Á Trung Quốc vượt xa các quốc gia khác trong vấn đề này, với chỉ 17% số đơn kiện liên quan đến một quốc gia Tuy nhiên chính Hàn Quốc với 4 quốc gia trung bình mỗi thông báo mới cao hơn bất kỳ quốc gia nào khác Tiếp sau Hàn Quốc là Trung Quốc với trung bình 3.3 quốc gia mỗi thông báo Với những quốc gia khác con số này vào khoảng 2 quốc gia mỗi thông báo Tiếp theo các quốc gia Châu Á là những đối tác truyền thống bao gồm Hoa Kỳ, Liên minh Châu Âu, Canada, Australia và New Zealand Tất cả các quốc gia này (trừ New Zealand), hầu hết nửa số vụ việc liên quan đến việc nêu nhiều tên Tựu chung lại các quốc gia này rất gần với các quốc gia Châu

Á với trung bình 2.28 quốc gia mỗi thông báo (các quốc gia Châu Á là 2.74) Đây là những ví dụ về số đơn kiện CBPG liên quan đến hơn 20 quốc gia (như tại Hoa Kỳ và Hàn Quốc) Phạm vi ảnh hưởng của việc nêunhiều tên khá thấp tại Mỹ La Tinh, chỉ khoảng 1.5 quốc gia mỗi hồ sơ (trừBrazil là gần bằng 2) Trong khi đó các quốc gia khác chỉ số này là hơn 2

Bảng 4

Hình thức có tên trong đơn kiện chống bán phá giá: 1995-2006

Trang 21

Trung bình số quốc gia trong mỗi vụ lần đệ đơn (Cột 8)

Số lượng quốc gia có tên nộp đơn

1 (Cột 2)

2 to 4 (Cột

3 )

5 to 7 (Cột

4 )

8 to 10 (Cộ

t 5)

Abov

e 10 (Cột 6) Châu Á

Trang 22

Tại sao lại có việc nêu tên nhiều lần? Lý do là hướng dẫn của

GATT/WTO đòi hỏi thuế CBPG được áp chỉ trên cơ sở một quốc gia cụ

thể Tuy nhiên, các điều khoản của nó lại cho phép ngành sản xuất nội địa

nộp đơn kiện một số quốc gia cạnh tranh nhập khẩu cùng một lúc Để

giành được khả năng của hướng kinh doanh mà có thể xảy ra nếu chỉ có

một nguồn hàng nhập khẩu được chứng minh bị ảnh hưởng bởi việc bán

phá giá, các nguyên đơn trong nước có xu hướng nộp đơn trong đó nêu

tên nhiều quốc gia Mục tiêu là để tìm kiếm một biện pháp bảo hộ CBPG

toàn diện Điều khoản “luỹ kế” (Điều 3.3 Hiệp định chống bán phá giá

của WTO) về việc đưa ra phán quyết về thiệt hại (được đưa ra thảo luận

tại Vòng đàm phán Uruguay) đã tạo động cơ cho các công ty đệ đơn kiện

nhiều quốc gia Luỹ kế cho phép cơ quan chức năng tập hợp tất cả các sản

phẩm nhập khẩu “tương tự” từ tất cả các quốc gia đang bị điều tra và

đánh giá ảnh hưởng kết hợp lên ngành sản xuất nội địa Nếu lượng hàng

nhập khẩu từ các đối thủ cạnh tranh nước ngoài riêng lẻ được tập hợp,

ảnh hưởng của cạnh tranh từ lượng hàng nhập này trở nên đáng kể hơn và

tăng khả năng kết luận thiệt hại Các nghiên cứu thực nghiệm cho thấy

trên thực tế việc này tăng khả năng kết luận khẳng định thiệt hại cao hơn

so với việc tập hợp thị phần Gupta và Panagariya (2006) đã gọi đó là ảnh

hưởng siêu cộng dồn của luỹ kế Theo họ, khả năng kết luận khẳng định

đồng biến với luỹ kế bởi sự có mặt của rất nhiều nhà xuất khẩu càng làm

trầm trọng vấn đề ăn theo, dẫn tới việc tất cả các công ty dành ít kinh phí

để bảo vệ Do đó, nêu tên vô số các công ty nhỏ với thị phần nhập khẩu

rất nhỏ làm tăng thêm khả năng có được sự bảo hộ

III XU HƯỚNG KHỞI KIỆN CBPG THEO NGÀNH

Theo số liệu thống kê của WTO về nhóm sản phẩm bị điều tra chống bán

phá giá:

Trang 23

- Nhóm ngành sử dụng nhiều lao động: 10 – 15% (Thời kỳ 2004);

2000 Nhóm ngành sử dụng nhiều tài nguyên: 40% (năm 80) lên 75% (thời

kỳ 2000-2004);

- Nhóm ngành có hàm lượng khoa học cao giảm từ 40% xuống còndưới 10% trong thời kỳ 2000- 2004 Còn lại là các nhóm ngành khác.Các ngành có xu hướng bị kiện nhiều nhất là:

La Tinh

Hoá chất

Ấn Độ, Trung Quốc và Australia cũng có tỉ lệ số vụ việc liên quan đến hoá chất/nhựa khá cao Hàn Quốc, Brazil và Nam Phi cũng khởi xướng một số lượng lớn các vụ việc liên quan tới những ngành này Ba ngành hoá chất/nhựa mục tiêu hàng đầu là: hoá chất vô cơ và hợp chất tiền kim loại (HS 28), hoá chất hữu cơ (HS 29) và nhựa và sản phẩm nhựa (HS 39) Tuy nhiên lại có sự khác biệt lớn trong nội bộ mô hình quốc gia về ápdụng CBPG tại những ngành này Trong khi những công ty ở Ấn Độ và Trung Quốc tập trung vào hoá chất cơ bản (mã HS 28 và 29) thì những quốc gia khác lại tập trung nhiều vào nhựa (HS 39) Thú vị là ngành hoá chất và nhựa không phải là mục tiêu tranh chấp tại Mỹ La Tinh (trừ

Brazil) và Châu Âu (Liên minh Châu Âu và Thổ Nhĩ Kỳ)

Trang 24

vào phụ kiện hàng may mặc; tại hầu hết các quốc gia khác vải dệt là tâm điểm.

Ngành giày da là một trong ba ngành mục tiêu đứng đầu tại Canada và Vê-nê-zuê-la, nhưng phần trăm của ngành này tương đối thấp: 3.5% tại Canada và 10% tại Vê-nê-zuê-la

Tại Đài Loan, In-đô-nê-xi-a và Australia, giấy in báo cũng nổi lên là một trong ba nguyên đơn đứng đầu trong khi tại Hàn Quốc, New Zealand và Ác-hen-ti-na thì chi tiết máy và thiết bị vận tải lại đứng đầu trong 3 ngànhtranh chấp Tại Hàn Quốc, thiết bị điện máy và thiết bị vận tải chiếm trên 45% tổng số vụ việc Tại New Zealand ngành máy cơ khí là ngành đứng đơn thường xuyên trong khi đó tại Ác-hen-ti-na thì cả ngành điện và ngành máy cơ khí đều là những bên đệ đơn chính

Như vậy có thể thấy rằng Việc áp dụng biện pháp chống bán phá giáchủ yếu tập trung tại những ngành sản xuất có lợi thế về quy mô và sốlượng rất ít các công ty quyền lực, đặc biệt trong ngành sản xuất hàng hoábậc trung Các công ty dành một khoản tiền và thời gian khổng lồ choviệc vận động hành lang nhằm đạt được mục đích quyền lực thị trường.Những mục đích này chỉ có thể đạt được khi có lợi thế về quy mô đủ lớn

Do đó các ngành sản xuất lớn, có độ tập trung cao mà đặc trưng là có lợithế về quy mô thường khởi xướng các vụ kiện chống bán phá giá nhiềuhơn Đồng thời điều đó cũng cho thấy các nước đang phát triển với xuhướng xuất khẩu những hàng hóa sử dụng nhiều tài nguyên và lao độngđang là những quốc gia bị kiện nhiều nhất và cùng dễ tổn thương nhất Không chỉ có vậy, xu hướng khởi kiện CBPG còn tập trung theo cáccông ty và hãng độc quyền có tiềm lực tài chính hùng mạnh chỉ có nhữngdoanh nghiệp lớn mới có thể chi trả những chi phí kiện tụng phát sinhtrong quá trình điều tra; hoặc vận động hành lang để hướng những phánquyết theo chiều hướng có lợi cho họ và do đó có nhiều lý do để theo đuổibiện pháp chống bán phá giá hơn

CHƯƠNG IV: TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC ÁP DỤNG CÁC BIỆN PHÁP CHỐNG BÁ PHÁ GIÁ

I TÁC ĐỘNG ĐỐI VỚI NƯỚC ĐIỀU TRA

1.1.Chi phí đối với nước điều tra

Ngày đăng: 22/05/2018, 21:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w