Việt Nam từ một nước nông nghiệp lạc hậu chuyển sang nền kinh tế thị trường theo hướng công nghiệp hoá hiện đại hoá, năng suất lao động không ngừng tăng lên đã tạo ra lượng hàng hoá phong phú và đa dạng, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người dân. Thực hiện chính sách mở cửa, đặc biệt là sau khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), bộ mặt nền kinh tế Việt Nam có nhiều khởi sắc, đời sống của người dân ngày càng được nâng cao, chất lượng cuộc sống ngày càng được cải thiện. Do đó, đôi khi người dân cho phép mình chi tiêu vượt mức thu nhập hiện có, dẫn đến nhu cầu vay mượn để tiêu dùng tăng lên. Nắm bắt được nhu cầu đó của người dân, đồng thời làm tăng tính cạnh tranh với các ngân hàng khác, ngân hàng thương mại cổ phần Đại Dương đã triển khai sản phẩm tín dụng tiêu dùng đối với khách hàng cá nhân, đặc biệt là chi nhánh Thăng Long. Ngay từ những ngày đầu thành lập, chi nhánh cũng đã xác định cạnh tranh phát triển cho vay tiêu dùng sẽ là hướng đi mới giúp chi nhánh phân tán rủi ro cũng như nâng cao thu nhập. Tuy đã bước đầu hình thành và tổ chức hoạt động theo thông lệ của các ngân hàng thương mại hiện đại trên thế giới, theo đó các hoạt động bán lẻ được quan tâm chỉ đạo và kiểm soát một cách bài bản nhưng trong bối cảnh nền kinh tế đang còn nhiều khó khăn thách thức, hoạt động tín dụng tiêu dùng cá nhân của ngân hàng thương mại cổ phần Đại Dương Chi nhánh Thăng Long còn gặp không ít khó khăn. Mặt khác, nhận thức được tầm quan trọng của việc mở rộng cho vay tiêu dùng, đồng thời mong muốn tìm hiểu về thực trạng và khả năng phát triển của hoạt động tín dụng tiêu dùng cá nhân trong tương lai tại ngân hàng thương mại cổ phần Đại Dương Chi nhánh Thăng Long. Xuất phát từ thực tế trên, nên em chọn: “Mở rộng tín dụng khách hàng tiêu dùng cá nhân tại ngân hàng thương mại cổ phần Đại Dương Chi nhánh Thăng Long’’ làm đề tài nghiên cứu cho chuyên đề tốt nghiệp của mình, với hy vọng sẽ mở ra một hướng đi mới cho sự phát triển hoạt động tín dụng tiêu dùng cá nhân của chi nhánh Thăng Long nói riêng và ngân hàng thương mại cổ phần Đại Dương nói chung.
Trang 1Em xin chân thành cảm ơn Ban giám đốc, Phòng kế toán kho quỹ, Phòngdịch vụ khách hàng ngân hàng thương mại cổ phần Đại Dương - Chi nhánh ThăngLong đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ em hoàn thành bản chuyên đề này.
Một lần nữa em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc về giúp đỡ quý báu này
Hà Nội, ngày 28 tháng 04 năm 2010
Sinh viên
Trần Ngọc Sơn
Trang 2MỤC LỤC
Chương 1 4
CÁC VẦN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TÍN DỤNG KHÁCH HÀNG TIÊU DÙNG CÁ NHÂN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 4
1.1 Khái quát về ngân hàng thương mại 4
1.2.2.2 Căn cứ vào phương thức hoàn trả 13
1.2.2.3 Căn cứ vào nguồn gốc khoản nợ 18
Chỉ tiêu phản ánh doanh số CVTD 26
Chỉ tiêu phản ánh dư nợ CVTD 27
1.3.2 Nhân tố khách quan 29
* Số lượt khách hàng giao dịch với chi nhánh Thăng Long về sản phẩm cho vay tiêu dùng 48
Qua bảng số liệu ta thấy, số lượng và số lượt khách hàng đến giao dịch vay tiêu dùng với chi nhánh đã có sự tăng lên, góp phần đẩy mạnh mức tăng trưởng dư nợ và doanh số CVTD tại chi nhánh 48
Bảng 2.4: Số lượng và số lượt khách hàng giao dịch CVTD với chi nhánh .48
2.3.1 Những kết quả được 55
* Đa dạng hóa phương thức cho vay tiêu dùng 72
* Hiện đại hóa công nghệ ngân hàng, phát triển mạnh dịch vụ thẻ tín dụng .75
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 3DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
ATM : Máy rút tiền tự động
NHNN : Ngân hàng Nhà Nước Việt Nam
Ocean bank : Ngân hàng thương mại Cổ phần Đại Dương
NHTM : Ngân hàng thương mại
Trang 4LỜI NÓI ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam từ một nước nông nghiệp lạc hậu chuyển sang nền kinh tế thịtrường theo hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá, năng suất lao động khôngngừng tăng lên đã tạo ra lượng hàng hoá phong phú và đa dạng, đáp ứng nhucầu tiêu dùng của người dân Thực hiện chính sách mở cửa, đặc biệt là sau khiViệt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), bộ mặt nền kinh tếViệt Nam có nhiều khởi sắc, đời sống của người dân ngày càng được nângcao, chất lượng cuộc sống ngày càng được cải thiện Do đó, đôi khi người dâncho phép mình chi tiêu vượt mức thu nhập hiện có, dẫn đến nhu cầu vay mượn
để tiêu dùng tăng lên Nắm bắt được nhu cầu đó của người dân, đồng thời làmtăng tính cạnh tranh với các ngân hàng khác, ngân hàng thương mại cổ phầnĐại Dương đã triển khai sản phẩm tín dụng tiêu dùng đối với khách hàng cánhân, đặc biệt là chi nhánh Thăng Long Ngay từ những ngày đầu thành lập,chi nhánh cũng đã xác định cạnh tranh phát triển cho vay tiêu dùng sẽ làhướng đi mới giúp chi nhánh phân tán rủi ro cũng như nâng cao thu nhập Tuy
đã bước đầu hình thành và tổ chức hoạt động theo thông lệ của các ngân hàngthương mại hiện đại trên thế giới, theo đó các hoạt động bán lẻ được quan tâmchỉ đạo và kiểm soát một cách bài bản nhưng trong bối cảnh nền kinh tế đangcòn nhiều khó khăn thách thức, hoạt động tín dụng tiêu dùng cá nhân củangân hàng thương mại cổ phần Đại Dương - Chi nhánh Thăng Long còn gặpkhông ít khó khăn
Mặt khác, nhận thức được tầm quan trọng của việc mở rộng cho vay tiêudùng, đồng thời mong muốn tìm hiểu về thực trạng và khả năng phát triển củahoạt động tín dụng tiêu dùng cá nhân trong tương lai tại ngân hàng thươngmại cổ phần Đại Dương - Chi nhánh Thăng Long
Trang 5Xuất phát từ thực tế trên, nên em chọn: “Mở rộng tín dụng khách hàng
tiêu dùng cá nhân tại ngân hàng thương mại cổ phần Đại Dương - Chi nhánh Thăng Long’’ làm đề tài nghiên cứu cho chuyên đề tốt nghiệp của
mình, với hy vọng sẽ mở ra một hướng đi mới cho sự phát triển hoạt động tíndụng tiêu dùng cá nhân của chi nhánh Thăng Long nói riêng và ngân hàngthương mại cổ phần Đại Dương nói chung
2 Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của chuyên đề là hoạt động tín dụng khách hàngtiêu dùng cá nhân tại ngân hàng thương mại cổ phần Đại Dương - Chi nhánhThăng Long
- Phạm vi nghiên cứu của chuyên đề là đánh giá thực trạng tín dụngkhách hàng tiêu dùng cá nhân tại ngân hàng thương mại cổ phần Đại Dương -Chi nhánh Thăng Long thời gian vừa qua Từ đó đề xuất các giải pháp mởrộng tín dụng khách hàng tiêu dùng cá nhân tại ngân hàng thương mại cổ phầnĐại Dương - Chi nhánh Thăng Long trong thời gian tới
4 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử
- Phương pháp thống kê, phân tích, đánh giá
- Phương pháp tiếp cận hệ thống
Trang 65 Nội dung và kết cấu của chuyên đề
Chuyên đề được trình bày gồm 3 phần: phần mở đầu, phần nội dung vàphần kết luận Phần nội dung gồm 3 chương:
• Chương 1: Các vấn đề cơ bản về tín dụng khách hàng tiêu dùng cá
nhân của ngân hàng thương mại.
• Chương 2: Thực trạng tín dụng khách hàng tiêu
dùng cá nhân của ngân hàng thương mại
cổ phần Đại Dương - Chi nhánh Thăng Long.
• Chương 3: Giải pháp mở rộng tín dụng hoạt động tín dụng khách
hàng tiêu dùng cá nhân tại ngân hàng thương mại cổ phần Đại Dương - Chi nhánh Thăng Long.
Trang 7Chương 1 CÁC VẦN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TÍN DỤNG KHÁCH HÀNG TIÊU
DÙNG CÁ NHÂN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 Khái quát về ngân hàng thương mại
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm của ngân hàng thương mại
1.1.1.1 Khái niệm
Ngân hàng thương mại (NHTM) là một tổ chức kinh doanh tiền tệ, tíndụng có vị trí quan trọng nhất trong nền kinh tế thị trường của các nước.Chính vì vậy, trên thế giới đã có rất nhiều khái niệm khác nhau về NHTM,điển hình như:
Ở Mỹ, cho rằng: NHTM là công ty kinh doanh tiền tệ, chuyên cung cấpdịch vụ tài chính và hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp dịch vụ tài chính
Ở Pháp, cho rằng: NHTM là những xí nghiệp và cơ sở thường xuyênnhận của công chúng dưới hình thức ký thác hay hình thức khác số tiền mà họdành cho chính họ vào nghiệp vụ chiết khấu, tín dụng hay dịch vụ tài chính
Ở Ấn Độ, lại cho rằng: NHTM là cơ sở nhận các khoản ký thác để chovay hay tài trợ và đầu tư
Ở Việt Nam: “NHTM là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện Nghiệp vụ chiết khấu và làm Phương tiện thanh toán” ( Theo Điều 1, Pháp lệnh Ngân hàng, Hợp tác xã tín
dụng và Công ty tài chính ngày 23 tháng 5 năm 1990 )
1.1.1.2 Đặc điểm của ngân hàng thương mại
Dù được xét dưới nhiều góc độ,nhưng theo em tựu chung lại thì NHTM
có những đặc điểm sau:
- NHTM được phép nhận tất cả các loại tiền gửi khác nhau: tiền gửi
không kỳ hạn, có kỳ hạn,
Trang 8- NHTM được phép cung cấp các dịch vụ thanh toán (qua ngân hàng) dođược nhận tiền gửi không kỳ hạn.
- Tỷ lệ vốn cho vay vào mục đích thương mại và công nghiệp củaNHTM chiếm tỷ trọng lớn trong tổng tài sản có của NHTM
- Tổng tài sản có của NHTM luôn là khối lượng lớn nhất trong toàn bộ
hệ thống ngân hàng Mặt khác, khối lượng séc hay tài khoản tiền gửi không
kỳ hạn mà NHTM có thể tạo ra chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng cung tiền tệM1 của nền kinh tế Đó là lý do tại sao người ta vẫn tách NHTM ra thành mộtnhóm riêng trong khi ranh giới phân biệt nó với các tổ chức tiết kiệm khácngày càng bị xoá nhoà
- Do quy mô hoạt động lớn nên NHTM là đối tượng hàng đầu cần kiểmsoát của ngân hàng trung ương Mục đích là để ổn định tiền tệ và tránh sự phásản theo hệ thống của các ngân hàng
1.1.2 Các hoạt động chủ yếu của Ngân hàng thương mại
1.1.2.1 Hoạt động huy động vốn
“Nguồn vốn của ngân hàng bao gồm 2 loại chính nếu phân chia theo hình thức sở hữu: Nguồn vốn của chủ chủ ngân hàng và các khoản nợ Khác với nhiều loại hình doanh nghiệp, vốn của chủ ngân hàng chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn, các khoản nợ là nguồn chủ yếu của ngân hàng - tài nguyên chính của ngân hàng” ( Trích: Trang 39, Chương II - Giáo trình ngân
hàng thương mại, PGS.TS Phan Thị Thu Hà, nhà xuất bản Đại học KTQD,năm 2009 )
Như vây, hoạt động chính của ngân hàng thương mại là tìm kiếm cáckhoản vốn để sử dụng nhằm thu lợi nhuận
Theo Điều 1, Nghị định của Chính phủ số 49/2000/NĐ - CP ngày 12
tháng 9 năm 2000 về tổ chức và hoạt động của ngân hàng thương mại: “Ngân hàng thương mại được huy động vốn dưới các hình thức sau:
• Nhận tiền gửi của các tổ chức, cá nhân và các tổ chức tín dụng khác
Trang 9dưới các hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn và các loại tiền gửi khác.
• Phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu và giấy tờ có giá khác để huy động vốn của tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài khi được Thống đốc ngân hàng Nhà nước chấp thuận.
• Vay vốn của các tổ chức tín dụng khác hoạt động tại Việt Nam và của
Như vậy, sau khi huy động vốn, ngân hàng sẽ sử dụng số tiền này để cho
vay Theo em, đây là những khoản tiền có tính thanh khoản thấp so với các tàikhoản khác và xác suất vỡ nợ cũng cao hơn nhưng mặt khác lợi nhuận màNHTM thu được cũng nhiều hơn
Theo Điều 5, Nghị định của Chính phủ số 49/2000/NĐ - CP ngày 12
tháng 9 năm 2000 về tổ chức và hoạt động của ngân hàng thương mại: “ Ngân hàng thương mại được cho các tổ chức, cá nhân vay vốn dưới các hình thức:
• Cho vay ngắn hạn nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, đời sống.
• Cho vay trung hạn, dài hạn để thực hiện các dự án đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, đời sống ”.
Cho vay cũng bao gồm nhiều loại: lớn nhất là các món tiền cho vaythương mại, ban đầu chỉ là hình thức chiết khấu thương phiếu sau đó làchuyển sang cho các khách hàng vay trực tiếp để họ có vốn mua hàng dự trữ,xây dựng thêm cơ sở hạ tầng, nhằm mở rộng sản xuất, kinh doanh
Thứ hai là cho vay tiêu dùng đã trở thành một loại tăng trưởng nhanhnhất ở các nước có nền kinh tế phát triển
Ngoài hoạt động cho vay, các NHTM còn đầu tư vốn vào việc mua chứngkhoán (của Chính phủ, của chính quyển địa phương, của doanh nghiệp,…), lợinhuận của các chứng khoán này thường là ổn định, song thời gian dài và đỏi hỏiphải có sự cân nhắc tính toán kỹ lưỡng để tránh những rủi ro
Trang 101.1.2.3 Hoạt động dịch vụ ngân hàng
Cung cấp các tiện ích cho khách hàng luôn là mục tiêu của mỗi ngânhàng, bắt đầu từ việc giữ hộ tiền, ngày nay các dịch vụ ngân hàng đã phát triểnvượt bậc cả về số lượng, chất lượng, đáp ứng tốt hơn nhu cầu của khách hàng.Theo Điều 13, Nghị định của Chính phủ số 49/2000/NĐ - CP ngày 12
tháng 9 năm 2000 về tổ chức và hoạt động của ngân hàng thương mại: “ Ngân hàng thương mại được:
- Cung ứng các phương tiện thanh toán.
- Thực hiện các dịch vụ thanh toán trong nước cho khánh hàng.
- Thực hiện dịch vụ thu hộ và chi hộ.
- Thực hiện các dịch vụ thanh toán khác theo quy định của Ngân hàng Nhà nước.
- Thực hiện dịch vụ thanh toán quốc tế khi được Ngân hàng Nhà nước cho phép.
- Thực hiện dịch vụ thu và phát tiền mặt cho khách hàng.
- Tổ chức thanh toán nội bộ và tham gia hệ thống thanh toán liên ngân hàng trong nước Việc tham gia các hệ thống thanh toán quốc tế phải được Ngân hàng Nhà nước cho phép ”.
* Mua bán ngoại tệ
Đây là một trong những loại dịch vụ đầu tiên được các NHTM thực hiện,một ngân hàng đứng ra mua bán một loại tiền này lấy một loại tiền khác vàhưởng phí dịch vụ Đây là hoạt động có mức độ rủi ro cao và yêu cầu trình độchuyên môn cao, do vậy chỉ các ngân hàng lớn mới có khả năng để thực hiện
* Cung cấp các dịch vụ uỷ thác và tư vấn
Do hoạt động trong lĩnh vực tài chính các ngân hàng có rất nhiều chuyêngia về quản lý tài chính nên đã có rất nhiều cá nhân và doanh nghiệp nhờ ngânhàng quản lý tài sản và quản lý hoạt động tài chính hộ mình Chính vì vậy,dịch vụ ủy thác phát triển rất cao: dịch vụ uỷ thác vay hộ, uỷ thác đầu từ,…
Trang 11Ngân hàng còn sẵn sàng tư vấn về đầu tư, quản lý tài chính, thành lập, muabán, sáp nhập doanh nghiệp, để nhằm giảm rủi ro cho khách hàng.
* Quản lý ngân quỹ
Theo Điều 67, Luật các tổ chức tín dụng năm 1997, có ghi: “Tổ chức tín dụng được thực hiện dịch vụ thu và phát tiền mặt cho khách hàng”.
Ở các nước phát triển, dịch vụ ngân quỹ rất đa dạng và hiện đại như cáchoạt động ký gửi, thuê két sắt, thu hộ và chi hộ tiền mặt
Đối với các NHTM Việt Nam hoạt động ngân quỹ chiếm một tỷ trọng lớn vềlao động và chi phí bởi nhu cầu thanh toán và chuyển tiền bằng tiền mặt rất lớn.Các cá nhân và doanh nghiệp để đảm bảo mức lợi nhuận và độ an toàncao nhất có thể của mình Do vậy họ đã nhờ các ngân hàng giữ hộ tiền và do
có kinh nghiệm lâu năm trong quản lý ngân quỹ và khả năng trong việc thungân sách nên nhiều ngân hàng đã cung cấp dịch vụ quản lý ngân quỹ Trong
đó, ngân hàng sẽ quản lý việc thu chi cho một công ty kinh doanh và tiếnhành đầu tư phần thặng dư tạm thời của các doanh nghiệp vào các chứngkhoán sinh lời và tín dụng ngắn hạn để thu lợi nhuận cho ngân hàng
Ngoài ra, ngân hàng thương mại còn thực hiện các dịch vụ khác như: chothuê thiết bị trung và dài hạn, cung cấp các tài khoản giao dịch và thực hiệnthanh toán, dịch vụ môi giới đầu tư chứng khoán, dịch vụ bảo hiểm, bảo lãnh,
1.2 Hoạt động tín dụng khách hàng tiêu dùng cá nhân của ngân hàng thương mại
1.2.1 Khái niệm, đặc điểm hoạt động tín dụng khách hàng tiêu dùng cá nhân
1.2.1.1 Khái niệm
“ Tín dụng là hoạt động quan trọng nhất của các ngân hàng nói riêng
và của các trung gian tài chính nói chung, chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng tài sản, tạo thu nhập từ lãi lớn nhất và cũng là hoạt động mang lại rủi ro cao nhất Tín dụng là hoạt động tài trợ của ngân hàng cho khách hàng ” (Trích:
Trang 12Trang 71, Chương IV - Giáo trình ngân hàng thương mại, PGS.TS Phan ThịThu Hà, nhà xuất bản Đại học KTQD, năm 2007)
Theo Luật các tổ chức tín dụng của nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa
Việt Nam, điều 49 ghi: “Tố chức tín dụng được cấp tín dụng cho tổ chức, cá nhân dưới các hình thức cho vay, chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá khác, bảo lãnh, cho thuê tài chính và các hình thức khác theo quy định của Ngân hàng Nhà nước”.
Như vậy, tín dụng là một trong những chức năng kinh tế hàng đầu củacác ngân hàng, để tài trợ cho nhu cầu chi tiêu của các thành phần trong nềnkinh tế Trong hoạt động kinh doanh ngân hàng, tín dụng là nghiệp vụ sinh lờichủ yếu, chiếm từ 1/3 đến 2/3 nguồn thu của các ngân hàng Các ngân hàngcung cấp nhiều loại hình cho vay khác nhau dựa trên quy mô của từng ngânhàng, tương ứng với sự đa dạng trong mục đích vay, trên cơ sở đó mà tín dụngđược phân thành nhiều loại như: cho vay ngắn hạn, cho vay dài hạn, cho vay cánhân, cho thuê tài chính,…trong đó mảng tín dụng khách hàng tiêu dùng cánhân là một trong những thị trường đầy tiềm năng của các ngân hàng
“Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời hạn nhất định theo thoả thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi ”.( Theo Điều
3, Quyết định 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 của Thống đốc NHNN
về việc ban hành Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng).Trên thực tế có rất nhiều định nghĩa khác nhau về tín dụng khách hàngtiêu dùng cá nhân ( cho vay tiêu dùng ), tựu chung lại cho vay tiêu dùng(CVTD) được định nghĩa như sau:
Theo chuyên đề tốt nghiệp khoa ngân hàng - tài chính, khoá 51, TrườngĐại học KTQD:
-“ CVTD là quan hệ tín dụng giữa ngân hàng - người cho vay và người tiêu dùng - người đi vay nhằm tài trợ cho các phương án phục vụ đời sống,
Trang 13tiêu dùng các sản phẩm hàng hoá dịch vụ khi người tiêu dùng chưa có khả năng thanh toán trên nguyên tắc người tiêu dùng sẽ hoàn trả cả gốc và lãi tại một thời điểm xác định trong tương lai.
- CVTD là sản phẩm tín dụng hỗ trợ nguồn tài chính cho các nhu cầu mua sắm vật dụng gia đình, sửa chữa nhà ở, sửa xe cơ giới, làm kinh tế hộ gia đình, thanh toán học phí, đi du lịch, chữa bệnh, ma chay, cưới hỏi, và các nhu cầu thiết yếu khác trong cuộc sống Bên cạnh đó, những chi tiêu cho nhu cầu giáo dục, y tế và dịch vụ,… cũng có thể được tài trợ bởi CVTD” 1.2.1.2 Đặc điểm hoạt động tín dụng khách hàng tiêu dùng cá nhân
Ngoài những đặc trưng chung của tín dụng ngân hàng: là quan hệ vaymượn dựa trên cơ sở niềm tin, quan hệ vay mượn có thời hạn và có hoàn trả,theo em CVTD còn có những đặc điểm riêng như sau:
• Khách hàng vay: là các cá nhân và hộ gia đình Thu nhập và tiêu dùng
có mối quan hệ thuận chiều với nhau nên những người có thu nhập caothường có xu hướng vay tiền nhiều hơn những người có thu nhập thấp, vàthường có nhu cầu vay nhiều hơn so với thu nhập hàng năm của mình Tương
tự như vậy, những gia đình mà chủ gia đình hay người tạo ra thu nhập chính
có học vấn cao cũng thường có nhu cầu sử dụng những hàng hóa hiện đại vàđắt tiền hơn, do đó mà nhu cầu tiêu dùng cũng cao hơn
• Mục đích vay: CVTD nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng cá nhân chứkhông phải vì mục đích kinh doanh Các nhu cầu đó có thể liệt kê như: muanhà, xây dựng nhà cửa, mua sắm vật dụng gia đình, chữa bệnh, đi học,…
• Nguồn trả nợ: Việc sử dụng tài sản hình thành từ vốn vay của ngườitiêu dùng thường không đem lại thu nhập Do vậy, nguồn trả nợ thường đượclấy từ tiền lương hoặc thu nhập từ các hoạt động khác Việc sử dụng vốn vaycủa ngân hàng sẽ tạo cho người vay một tâm lý tích lũy, tăng động lực làmviệc của khách hàng
Trang 14• Quy mô khoản vay: Ngoại trừ khoản vay bất động sản, hầu hết cáckhoản vay tiêu dùng đều có giá trị nhỏ Tuy nhiên, đối tượng của tín dụng tiêudùng là mọi tầng lớp dân cư trong xã hội nên số lượng các khoản vay lại lớn.Khi khách hàng định mua bất cứ vật dụng gì, họ đều đã có một khoản tích lũy
từ trước bởi vì ngân hàng không bao giờ cho vay 100% nhu cầu vốn Vì thế,nhu cầu vốn của người tiêu dùng thường không quá lớn đối với ngân hàngngay cả khi vay để mua nhà, xây nhà,…
• Nhu cầu vay tiêu dùng của khách hàng thường phụ thuộc vào chu kỳkinh tế
Đối với người tiêu dùng, nhờ vay tiêu dùng họ được hưởng các tiện íchtrước khi tích luỹ đủ tiền Khi nền kinh tế tăng trưởng mạnh, thu nhập của ngườidân cũng tăng lên, họ cảm thấy lạc quan về tương lai, do đó họ có nhu cầu muasắm nhiều hơn, vì vậy nhu cầu về vay tiêu dùng có xu hướng tăng mạnh Ngượclại khi nền kinh tế suy thoái, thu nhập của người dân có xu hướng giảm, trongkhi giá cả vẫn cao nên người dân có xu hướng tiết kiệm nhiều hơn là chi tiêu, do
đó nhu cầu vay tiêu dùng giảm
• CVTD là khoản mục có rủi ro cao nhất cho NHTM Rủi ro này có rấtnhiều nguyên nhân, đều có thể gây ra tổn thất, làm giảm thu nhập của ngân hàng:
- Nguồn trả nợ chủ yếu từ thu nhập của người đi vay, trong khi tình hìnhtài chính của các cá nhân và hộ gia đình có thể thay đổi nhanh chóng tùy theotình trạng công việc hay sức khỏe của họ nên họ không dễ dàng vượt qua khókhăn về tài chính so với một hãng kinh doanh
- Việc thẩm định và quyết định cho vay đối với các khoản vay tiêu dùngthường gặp khó khăn do vấn đề thông tin không đầy đủ Các thông tin cá nhânđưa ra thường không rõ ràng và minh bạch như các báo cáo tài chính củadoanh nghiệp Trong khi các doanh nghiệp có báo cáo kiểm toán thì các cánhân lại dễ dàng giữ kín thông tin về triển vọng công việc cũng như sức khỏe
Trang 15của mình.
Chi phí quản lý khoản vay tiêu dùng lớn: Các ngân hàng thường mấtnhiều thời gian và nhân lực để điều tra, thu thập các thông tin cá nhân, hộ giađình trước khi phát tiền vay Trong khi đó, số lượng các khoản CVTD lại lớnkhiến chi phí để quản lý các khoản tín dụng này của ngân hàng là rất lớn,không những vậy ngân hàng còn phải chịu những chi phí khác như chi phíquản lý khoản vay, theo dõi với khách hàng thường xuyên
• Lợi nhuận từ CVTD cao: Do rủi ro và chi phí cao nên ngân hàngthường đưa ra mức lãi suất cao đối với các khoản CVTD Lãi suất CVTD phảiđáp ứng được phần lợi nhuận mong đợi và phần bù rủi ro
1.2.2 Các phương thức tín dụng khách hàng tiêu dùng cá nhân của ngân hàng thương mại
Tín dụng ngân hàng là quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từngân hàng cho khách hàng trong một thời gian nhất định với một khoản chi
phí nhất định (Trích: Giáo trình Tín dụng và thẩm định tín dụng ngân hàng,
TS Nguyễn Minh Kiều Nhà xuất bản thống kê, năm 2009)
Phân loại tín dụng là việc sắp xếp các khoản tín dụng theo từng nhómdựa trên một số tiêu thức nhất định Việc phân loại tín dụng có cơ sở khoa học
là tiền đề để thiết lập các quy trình tín dụng thích hợp và nâng cao hiệu quảquản trị rủi ro tín dụng Có nhiều cách phân loại tín dụng khách hàng tiêudùng cá nhân khác nhau tuỳ theo yêu cầu của khách hàng và mục tiêu quản lí
của ngân hàng (Trích: Giáo trình Tín dụng và thẩm định tín dụng ngân hàng.
TS Nguyễn Minh Kiều Nhà xuất bản thống kê, năm 2009)
Theo chuyên đề tốt nghiệp khoa ngân hàng - tài chính, K52 - Đại học KTQD, cho vay tiêu dùng được phân loại dựa theo các căn cứ sau:
1.2.2.1 Căn cứ vào mục đích vay
Căn cứ vào mục đích vay, CVTD được chia ra làm hai loại:
• CVTD cư trú (Residential Mortgate Loan): CVTD cư trú là các khoản
Trang 16cho vay nhằm tài trợ cho nhu cầu mua sắm, xây dựng hay cải tạo nhà ở củakhách hàng là cá nhân hay hộ gia đình.
• CVTD phi cư trú (Unresidential Loan): CVTD phi cư trú là các
khoản cho vay tài trợ cho việc trang trải các chi phí mua sắm xe cộ, đồ dùnggia đình, chi phí học hành, giải trí và du lịch,…
1.2.2.2 Căn cứ vào phương thức hoàn trả
Căn cứ vào phương thức hoàn trả, CVTD có thể chia làm ba loại:
• CVTD trả góp (Installment Consumer Loan): Đây là hình thức
CVTD trong đó người đi vay trả nợ (cả gốc và lãi) cho ngân hàng nhiều lần,theo những kỳ hạn nhất định trong thời hạn cho vay mà khách hàng đã ký vớingân hàng Phương thức này được áp dụng cho những khoản vay có giá trịlớn hoặc thu nhập định kì của người đi vay không đủ khả năng thanh toán hếtmột lần số nợ vay
Đối với loại CVTD này, các NHTM thường quan tâm đến một số vấn đềmang tính nguyên tắc sau:
- Loại tài sản được tài trợ
Loại tài sản được tài trợ có ảnh hưởng lớn đến thiện chí trả nợ của kháchhàng Thiện chí trả nợ của người đi vay sẽ tốt hơn nếu tài sản hình thành từtiền vay đáp ứng nhu cầu thiết yếu đối với họ lâu dài trong tương lai Chính vìvậy các ngân hàng thường muốn tài trợ cho nhu cầu mua sắm những tài sản
có thời hạn sử dụng lâu bền hoặc có giá trị lớn, vì với những tài sản như vậy,người tiêu dùng sẽ hưởng những tiện ích của chúng trong một thời gian dàinên thiện chí trả nợ của họ sẽ tốt hơn
- Số tiền phải trả trước
Ngân hàng thường yêu cầu người đi vay phải thanh toán trước một phầngiá trị tài sản cần mua sắm, số tiền này được gọi là số tiền trả trước Phần cònlại ngân hàng sẽ cho vay Số tiền trả trước cần phải đủ lớn, một mặt làm chongười đi vay nghĩ rằng họ chính là chủ sở hữu tài sản Mặt khác nó có tác
Trang 17dụng hạn chế rủi ro cho ngân hàng Một khi không cảm nhận được rằng mìnhchính là chủ sở hữu của tài sản hình thành từ tiền vay thì người đi vay có thể
sẽ có thái độ miễn cưỡng trong việc trả nợ Ngoài ra khi khách hàng không trảđược nợ, trong nhiều trường hợp ngân hàng đành phải thụ đắc hoặc phát mãitài sản để thu hồi nợ Hầu hết các tài sản đã qua sử dụng đều bị giảm giá trị,thường nhỏ hơn giá trị đã hạch toán của tài sản, cho nên số tiền trả trước cómột vai trò rất quan trọng giúp ngân hàng hạn chế rủi ro
Số tiền trả trước nhiều hay ít thường tuỳ thuộc vào các yếu tố sau:
+ Loại tài sản: Đối với loại tài sản có mức độ giảm giá nhanh thì số tiềntrả trước nhiều và ngược lại, đối với các tài sản có mức độ giảm giá chậm, thì
số tiền trả trước ít
+ Thị trường tiêu thụ tài sản sau khi đã qua sử dụng: Tài sản sau khi sửdụng vẫn có thể được tiếp tục mua, bán dễ dàng thì số tiền trả trước có xuhướng thấp, ngược lại nếu tài sản đã qua sử dụng mà rất khó tìm được thịtrường tiêu thụ thì số tiền trả trước có xu hướng cao hơn
+ Môi trường kinh tế: Môi trường kinh tế là hệ thống hoàn cảnh cấu tạocác nhân tố tạo điều kiện, cơ sở, đồng thời tác động đến các yếu tố của nềnkinh tế từ sản xuất, phân phối, lưu thông đến tiêu dùng Đó là những yếu tốcủa sản xuất như tình hình thị trường về vật tư, nguyên liệu, sức lao động, tìnhhình vốn, tài chính tín dụng, thu nhập dân cư, giá cả thị trường, sức mua củadân cư và dung lượng thị trường, quan hệ kinh tế với nước ngoài Như vậy,khi môi trường kinh tế thay đổi theo chiều hướng thuận lợi thì số tiền trảtrước có xu hướng thấp và ngược lại, khi nền kinh tế thay đổi theo chiềuhướng bất lợi thì số tiền trả trước có xu hướng cao hơn
- Năng lực tài chính của người đi vay
Năng lực tài chính của người đi vay là yếu tố quyết định khả năng trả nợcủa khách hàng Do vậy với những khách hàng có năng lực tài chính tốt thì sốtiền trả trước có thể cao hơn so với những khách hàng có năng lực tài chính
Trang 18kém hơn.
- Chi phí tài trợ
Đây là chi phí mà người đi vay phải trả cho ngân hàng cho việc sử dụngvốn Chi phí tài trợ bao gồm lãi vay và các chi phí khác có liên quan Chi phítài trợ phải bù cho được chi phí vốn tài trợ, chi phí hoạt động, chi phí rủi ro,đồng thời mang lại một phần lợi nhuận thoả đáng cho ngân hàng
- Điều khoản thanh toán
Khi xác định các điều khoản liên quan đến việc thanh toán nợ của kháchhàng, ngân hàng thường chú ý tới một số vấn đề sau:
+ Số tiền thanh toán mỗi định kỳ phải phù hợp với khả năng về thu nhậptrong mối quan hệ hài hoà với các nhu cầu chi tiêu khác của khách hàng;+ Giá trị của tài sản tài trợ không thấp hơn số tiền tài trợ chưa được thu hồi;+ Kỳ hạn trả nợ phải thuận lợi cho việc trả nợ của khách hàng;
Kỳ hạn trả nợ thường tính theo tháng, vì thông thường nguồn trả nợchính của người vay tiêu dùng là tiền lương của họ được nhận hàng tháng.+ Thời hạn tài trợ không nên quá dài
Thời hạn tài trợ bị giới hạn bởi thời hạn hoạt động của tài sản tài trợ.Thời hạn tài trợ quá dài dễ làm giá trị tài sản tài trợ bị giảm mạnh Hơn nữa,khi thời hạn tài trợ quá dài thì thiện chí trả nợ của người đi vay cũng như việcthu hồi nợ thường gặp nhiều rắc rối
Số tiền khách hàng phải thanh toán cho ngân hàng mỗi định kỳ có thểđược tính bằng một trong số các phương pháp sau:
* Phương pháp gộp (Add-on Method): Đây là phương pháp thườngđược áp dụng trong CVTD trả góp
Theo phương pháp này, lãi được tính bằng cách lấy vốn gốc nhân với lãisuất và thời hạn vay, sau đó cộng gộp vào vốn gốc rồi chia cho số kỳ hạn phảithanh toán để tìm số tiền phải thanh toán ở mỗi định kỳ
Công thức tính toán như sau:
Trang 19T = (L + V)/nVới L = V × r × n
Trong đó:
T: Số tiền phải thanh toán cho ngân hàng mỗi kỳ hạn
L: Chi phí tài trợ, bao gồm lãi vay phải thanh toán và các chi phí khác
có liên quan
V: Vốn gốc
n: Số kỳ hạn
r: Lãi suất tính cho mỗi kỳ hạn
* Phương pháp lãi đơn (Simple Interest Method): Theo phương phápnày, vốn gốc người đi vay phải trả từng định kì, được tính đều nhau bằng cáchlấy vốn gốc chia cho số kỳ hạn thanh toán Còn lãi phải trả mỗi định kỳ đượctính trên số tiền khách hàng thực sự thiếu ngân hàng
* Phương pháp hiện giá (present Value Method): Theo phương pháp này,
số tiền gốc ban đầu và lãi mà người đi vay phải trả theo từng định kỳ nhấtđịnh được tính theo công thức sau đây:
a = V × (1+i) n × i
(1+i) n - 1a: Số tiền gốc và lãi phải trả theo từng định kỳ
V: Số vốn gốc ban đầu
i: Lãi suất cho vay
n: Số kỳ hạn trả nợ
- Phân bổ lãi cho vay theo thời hạn
Khi sử dụng phương pháp gộp để tính lãi, các ngân hàng thường tiếnhành phân bổ lại phần lãi cho vay đã được tính Việc phân bổ theo định kỳgắn liền với các kỳ thanh toán hoặc cũng có thể được thực hiện theo quý haytheo năm tài chính Tuy nhiên, việc phân bổ lãi theo năm tài chính thườngđược các ngân hàng áp dụng nhiều hơn Các phương pháp phổ biến dùng đểphân bổ lãi cho vay bao gồm:
Trang 20+ Phương pháp đường thẳng (phương pháp tỷ lệ cố định): Theo phươngpháp này, phần lãi trong kỳ đó so với toàn bộ số tháng tính lãi của thời hạn vay.+ Phương pháp tỷ suất lợi tức hiệu dụng (phương pháp quy tắc 78): têngọi “quy tắc 78” xuất phát từ kết quả tổng cộng của dãy số từ 1 đến 12, tượngtrưng cho 12 chu kỳ trả góp của một khoản vay.
Quy tắc này vẫn có thể áp dụng cho các khoản vay trả góp có số kỳ hạnkhác 12 kỳ Đây là phương pháp được ngân hàng sử dụng phổ biến nhất trongviệc hạch toán phân bổ lãi của các khoản cho vay trả góp
+ Phương pháp lãi: Theo phương pháp này, trước hết, lãi suất cho vayđược quy đổi ra thành lãi suất hiệu dụng Sau đó, lãi suất hiệu dụng này được
áp dụng phương pháp hiện giá để tính phần lãi phân bổ cho kỳ đó
- Vấn đề trả nợ trước hạn
Thông thường người đi vay được quyền trả nợ trước hạn mà không bịphạt Nếu tiền trả góp được tính theo phương lãi đơn và lãi hiện giá thì vấn đềrất đơn giản, người đi vay phải thanh toán toàn bộ vốn gốc còn thiếu và lãivay của kỳ hạn hiện tại (nếu có) cho ngân hàng Tuy nhiên nếu tiền trả gópđược tính bằng phương pháp gộp thì vấn đề có phần phức tạp hơn Vì theophương pháp gộp, lãi được tính trên cơ sở giả định rằng tiền vay sẽ được kháchhàng sử dụng cho đến lúc kết thúc hợp đồng, cho nên nếu khách hàng trả nợtrước hạn thì thời hạn nợ thực tế sẽ khác với thời hạn giả định ban đầu, như vậy
số tiền lãi phải trả cũng có sự thay đổi Trong trường hợp này, ngân hàngthường áp dụng phương pháp giống như các phương pháp phân bổ lãi cho vaynói trên để tính ra số lãi thực sự phải thu, dựa trên thời hạn nợ thực tế
•CVTD phi trả góp (Noninstallment Consumer Loan)
Các khoản CVTD phi trả góp chỉ được cấp cho các khoản vay có giá trịnhỏ, với thời hạn không dài Theo phương pháp này, tiền vay được kháchhàng thanh toán một lần khi đến hạn
•CVTD tuần hoàn (Revoling Consumer Credit)
CVTD tuần hoàn là các khoản CVTD, trong đó ngân hàng cho phép
Trang 21khách hàng sử dụng thẻ tín dụng hoặc phát hành loại séc được phép thấu chidựa trên tài khoản vãng lai Theo phương pháp này, trong thời hạn tín dụngđược thoả thuận trước, căn cứ vào nhu cầu chi tiêu và thu nhập kiếm đượctừng kỳ, khách hàng được ngân hàng cho phép thực hiện việc vay và trả nợnhiều kỳ một cách tuần hoàn, theo hạn mức tín dụng
Lãi phải trả mỗi kỳ có thể được tính dựa trên một trong ba cách sau:+ Lãi được tính trên số dư nợ đã được điều chỉnh: Theo phương phápnày số dư nợ được dùng để tính lãi là số dư nợ cuối cùng của mỗi kỳ sau khikhách hàng đã thanh toán nợ cho ngân hàng
+ Lãi được tính dựa trên số dư nợ trước khi được điều chỉnh: Theophương pháp này, số dư nợ dùng để tính lãi là số dư nợ mối kỳ có trước khikhoản nợ được thanh toán
+ Lãi được tính trên cơ sở dư nợ bình quân
1.2.2.3 Căn cứ vào nguồn gốc khoản nợ
Căn cứ vào nguồn gốc khoản nợ, CVTD gồm:
• CVTD gián tiếp (Indirect Consumer Loan)
CVTD gián tiếp là hình thức cho vay, trong đó ngân hàng mua các khoản
nợ phát sinh do những công ty bán lẻ bán chịu hàng hoá hay dịch vụ chongười tiêu dùng
Thông thường CVTD gián tiếp được thực hiện theo sơ đồ sau:
Trang 22(1): Ngân hàng và công ty bán lẻ ký kết hợp đồng mua bán chịu Tronghợp đồng, ngân hàng thường đưa ra các điều kiện về đối tượng khách hàngđược bán chịu tối đa và loại tài sản bán chịu.
(2): Công ty bán lẻ và người tiêu dùng ký kết hợp đồng mua bán chịu hànghoá Thông thường người tiêu dùng phải trả trước một phần giá trị tài sản
(3): Công ty bán lẻ giao tài sản cho người tiêu dùng
(4): Công ty bán lẻ bán toàn bộ chứng từ bán chịu hàng hoá cho ngân hàng.(5): Ngân hàng thanh toán tiền cho công ty bán lẻ
(6): Người tiêu dùng thanh toán tiền cho công ty bán lẻ
* CVTD gián tiếp có một số ưu điểm sau:
- Cho phép ngân hàng dễ dàng tăng doanh số CVTD;
- Cho phép ngân hàng tiết giảm được chi phí trong hoạt động cho vay;
- Là nguồn gốc của việc mở rộng quan hệ với khách hàng và các hoạtđộng ngân hàng khác;
- Trong trường hợp có quan hệ với những công ty bán lẻ tốt, CVTD giántiếp an toàn hơn CVTD trực tiếp
* Một số nhược điểm của CVTD gián tiếp:
- Ngân hàng không tiếp xúc trực tiếp với người tiêu dùng đã được bán chịu;
NGÂN HÀNG
CÔNG TY BÁN LẺ
NGƯỜI TIÊU DÙNG
15
4
2
Trang 23- Thiếu sự kiểm soát của ngân hàng khi công ty bán lẻ thực hiện việc bánchịu hàng hoá;
- Kỹ thuật nghiệp vụ CVTD gián tiếp có tính phức tạp cao
• CVTD gián tiếp thường được thực hiện thông qua các phương thức sau:
* Tài trợ truy đòi toàn bộ (Full Recourse Financing): Theo phương thức
này, khi bán cho ngân hàng các khoản nợ mà người tiêu dùng đã mua chịu,công ty bán lẻ cam kết sẽ thanh toán cho ngân hàng toàn bộ các khoản nợ nếukhi đến hạn, người tiêu dùng không thanh toán được cho ngân hàng
* Tài trợ truy đòi hạn chế (Limited Recourse Financing): Theo phương
thức này, trách nhiệm của công ty bán lẻ đối với các khoản nợ người tiêudùng mua chịu không thanh toán chỉ giới hạn trong một chừng mực nhất định,phụ thuộc vào các điều khoản đã được thoả thuận giữa ngân hàng với công tybán lẻ Các thoả thuận thường gặp trong tài trợ truy đòi hạn chế, đó là:
- Công ty bán lẻ phải chịu trách nhiệm thanh toán một phần nợ trongtrường hợp nếu người mua chịu không đủ các tiêu chuẩn tín dụng do ngânhàng đề ra
- Công ty bán lẻ cam kết chịu trách nhiệm cho toàn bộ số nợ đã bán chịucho đến khi ngân hàng thu hồi được một số lượng khoản nợ nhất định đúng hạn
- Toàn bộ trách nhiệm thanh toán nợ của công ty bán lẻ được giới hạntheo một tỷ lệ nhất định so với tổng số nợ trong một thời hạn nhất định
- Toàn bộ trách nhiệm thanh toán nợ của công ty bán lẻ được giới hạntrong phạm vi số tiền dự phòng ký gửi tại ngân hàng Thường thì số tiền dựphòng được trích từ chênh lệch giữa chi phí tài trợ mà công ty bán lẻ tính chongười mua chịu và chi phí tài trợ mà ngân hàng tính cho công ty bán lẻ Sốtiền dự phòng tại ngân hàng có tác dụng hạn chế rủi ro cho ngân hàng khingười mua chịu không trả nợ trước hạn hoặc không trả được nợ
* Tài trợ miễn truy đòi (Nonrecourse Financing): Theo phương pháp này
sau khi bán các khoản nợ cho ngân hàng, công ty bán lẻ không còn chịu trách
Trang 24nhiệm cho việc chúng có được hoàn trả hay không Phương thức này chứađựng rủi ro cao cho ngân hàng nên chi phí tài trợ thường được các ngân hàngtính cao hơn so với các phương thức nói trên và các khoản nợ được mua đượckén chọn rất kỹ Ngoài ra chỉ có những công ty bán lẻ được ngân hàng rất tincậy mới áp dụng phương thức này.
* Tài trợ có mua lại (Repurchase Financing): Khi thực hiện CVTD gián
tiếp theo phương thức miễn truy đòi hoặc truy đòi một phần nếu rủi ro xảy ra,người tiêu dùng không trả nợ thì ngân hàng thường phải thanh lý tài sản đểthu hồi nợ Trong trường hợp này, nếu có thoả thuận trước thì ngân hàng cóthể bán trở lại cho công ty bán lẻ phần nợ mình chưa được thanh toán kèm vớitài sản được thụ đắc trong một thời hạn nhất định
• CVTD trực tiếp (Direct Consumer Loan)
CVTD trực tiếp là các khoản CVTD, trong đó ngân hàng trực tiếp tiếpxúc và cho khách hàng vay cũng như trực tiếp thu hồi nợ từ người này
CVTD trực tiếp thường được thực hiện qua sơ đồ sau:
(1): Ngân hàng và người tiêu dùng ký kết hợp đồng vay
(2): Người tiêu dùng trả trước một phần số tiền mua tài sản cho công tybán lẻ
3
Trang 25(3): Ngân hàng thanh toán số tiền mua tài sản còn thiếu cho công ty bán lẻ.(4): Công ty bán lẻ giao tài sản cho người tiêu dùng.
(5): Người tiêu dùng thanh toán tiền vay cho ngân hàng
So với CVTD gián tiếp, CVTD trực tiếp ngân hàng có thể tận dụngđược một số ưu điểm sau:
- Ngân hàng có thể tận dụng được sở trường của nhân viên tín dụng, nêncác quyết định tín dụng trực tiếp của ngân hàng thường có chất lượng cao hơn;
- Do tiếp xúc trực tiếp với khách hàng nên CVTD linh hoạt hơn so vớiCVTD gián tiếp Khi khách hàng có quan hệ trực tiếp với ngân hàng, có rấtnhiều lợi thế có thể phát sinh, có khả năng làm thoả mãn quyền lợi cho cả haiphía khách hàng lẫn ngân hàng
* Nhược điểm của CVTD trực tiếp:
+ Ngân hàng thường khó tăng doanh số cho vay;
+ Ngân hàng thường khó mở rộng quan hệ tín dụng với khách hàng vìngân hàng phải trực tiếp tiếp xúc với khách hàng mà số lượng cán bộ tín dụngcủa ngân hàng không đủ để đáp ứng;
+ Chi phí cao hơn nên lãi suất cho vay thường cao
Các hình thức CVTD trực tiếp
- Cho vay trả theo định kỳ: Theo phương pháp này, khách hàng vay vàtrả trực tiếp với ngân hàng, với mức trả và thời hạn trả mỗi lần được quy địnhkhi cho vay, thường là một lần trên tháng Nếu được cấp tiền vay, toàn bộ sốtiền vay được ghi nợ tài khoản cho vay và ghi có tài khoản tiền gửi cá nhânhoặc giao tiền mặt cho khách hàng
- Thấu chi: Thấu chi là hình thức cấp tín dụng ứng trước đặc biệt trên cơ
sở hạn mức tín dụng, được thực hiện bằng cách cho phép khách hàng được sửdụng dư nợ trong một thời hạn nhất định trên tài khoản vãng lai và mức dư nợtối đa bằng hạn mức tín dụng đã cam kết
- Thẻ tín dụng: The tín dụng là hình thức cấp tín dụng, trong đó ngân
Trang 26hàng phát hành thẻ tín dụng cho những người có tài khoản, đủ điều kiện cấpthẻ và ấn định mức giới hạn tín dụng tối đa mà người có thẻ được phép sửdụng Mỗi tấm thẻ có một mức tín dụng nhất định, và mức này có thể thay đổitùy theo mức độ tín nhiệm và tùy theo yêu cầu của khách hàng Nếu chi trảchậm hoặc một số khoản chi trả không đúng thời hạn, thẻ có thể bị thu hồi.Thẻ được tái phát hành định kỳ, điều này cho phép ngân hàng đánh giá lạiđược khả năng thanh toán của chủ thẻ
Một số loại thẻ tín dụng phổ biến hiện nay:
Căn cứ vào đặc tính kỹ thuật: Thẻ tín dụng bao gồm: thẻ băng từ
(magnetic Card), thẻ thông minh (Smart Card),…
Căn cứ vào chủ thể phát hành: Thẻ do ngân hàng phát hành (Bank Card)
như: thẻ Visa, Master,…Thẻ do các tổ chức phi ngân hàng phát hành (Non Bank Card) phát hành như: thẻ Dinner, Amex Card,…
-Căn cứ vào hạn mức tín dụng: Thẻ chuẩn, thẻ vàng, thẻ bạc, thẻ VIP Căn cứ vào phạm vi sử dụng thẻ: Thẻ nội địa và thẻ quốc tế.
1.2.3 Mở rộng tín dụng khách hàng tiêu dùng cá nhân của NHTM
1.2.3.1 Khái niệm
Trước đây, do quan niệm các khoản CVTD có quy mô rất nhỏ, rủi ro vỡ
nợ lại tương đối cao, mức sinh lời thấp mà các NHTM thường không cho vayđối với các cá nhân và hộ gia đình Chỉ từ đầu thế kỷ 20, đối mặt với sự cạnhtranh khốc liệt, các NHTM mới chú ý đến mảng sản phẩm dịch vụ này và bắtđầu hướng tới người tiêu dùng như là một khách hàng trung thành, tiềm năng.Sản phẩm CVTD không chỉ đem lại lợi ích cho các NHTM, cho khách hàng
mà còn thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng và phát triển Vì vậy, việc cácNHTM mở rộng cung cấp sản phẩm dịch vụ này là một xu hướng phát triểntất yếu và cần thiết
Theo em: Mở rộng CVTD có nghĩa là tạo ra sự gia tăng về mặt quy mô,
Trang 27khối lượng, số lượng, là nói đến tăng trưởng theo chiều rộng của các khoảntín dụng tiêu dùng Như vậy, mở rộng CVTD tức là việc ngân hàng thực hiệntăng quy mô, tỷ trọng CVTD trong cơ cấu cho vay nhằm đáp ứng tốt nhất cácnhu cầu chính đáng của người tiêu dùng.
Như vậy, có thể hiểu:
• Mở rộng CVTD phản ánh khả năng đáp ứng ngày càng tăng về vốn củanền kinh tế, theo một cơ cấu hợp lý phù hợp với tốc độ phát triển của xã hộitrong từng thời kỳ, qua đó cho thấy sự tăng trưởng và phát triển của ngân hàng
• Mở rộng CVTD chịu ảnh hưởng bởi các nhân tố chủ quan như: khả năngquản lý, nguồn vốn, trình độ của đội ngũ cán bộ,…và các nhân tố khách quan như:
sự phát triển kinh tế xã hội, cơ chế chính sách Nhà nước, tình hình chính trị,…
• Mở rộng CVTD được xác định trên cơ sở việc thực hiện đa dạng hóakhách hàng, các sản phẩm dịch vụ ngân hàng cũng như các đối tượng vay.Việc xây dựng các mức lãi suất hợp lý cũng như xác định kỳ hạn trả nợ phùhợp với nguồn thu nhập của khách hàng, với chu kỳ sản xuất kinh doanh cũnggóp phần làm mở rộng CVTD của ngân hàng
Như vậy: Mở rộng cho vay tiêu dùng là một khái niệm cụ thể, song đểthực hiện được đòi hỏi các NHTM phải đánh giá một cách đầy đủ và chínhxác về nó và đặt nó trong mối quan hệ tổng thể với các chỉ tiêu tài chính khác.Quá trình phân tích, đánh giá mở rộng CVTD hiện đại sẽ tạo điều kiện tìmhiểu chính xác các nguyên nhân tồn tại, vướng mắc về mở rộng cho vay tiêudùng, từ đó giúp ngân hàng lựa chọn được các giải pháp thích hợp để có thểthực hiện mở rộng cho vay tiêu dùng trong từng thời kỳ phù hợp với tốc độphát triển của nền kinh tế
1.2.3.2 Các chỉ tiêu đánh giá mở rộng tín dụng khách hàng tiêu dùng cá nhân của NHTM
Theo em, để đánh giá mở rộng tín dụng khách hàng têu dùng cá nhân
Trang 28của NHTM cần dựa theo các tiêu chí sau:
• Chỉ tiêu về số lượt khách hàng giao dịch với ngân hàng
Khi ngân hàng có sự tập trung vào việc mở rộng CVTD, ngân hàng sẽ
có biện pháp để thu hút khách hàng đến với mình, sử dụng các sản phẩm tíndụng của mình Ngân hàng càng thực hiện tốt việc mở rộng CVTD bao nhiêuthì số lượng khách hàng giao dịch sẽ tăng lên bấy nhiêu
+ Số lượng khách hàng: Số lượng khách hàng là tổng số khách hàng thựchiện giao dịch với ngân hàng Trong hoạt động CVTD, số lượng khách hàng thểhiện số lượng các khoản vay tiêu dùng mà ngân hàng cấp cho khách hàng
+ Chỉ tiêu phản ánh sự tăng trưởng về số lượng khách hàng tuyệt đối:Mức tăng, giảm số = Số lượng khách - Số lượng kháchlượng khách hàng hàng năm (t) hàng năm (t-1)
Ý nghĩa: Chỉ tiêu này cho phép ngân hàng đánh giá việc mở rộng quy
mô và đối tượng khách hàng tại ngân hàng
+ Chỉ tiêu phản ánh sự tăng trưởng khách hàng tương đối:
Giá trị tăng trưởng
khách hàng tương đối =
Mức tăng giảm số lượng khách hàng * 100%
Số lượng khách hàng VTD năm (t-1)+ Chỉ tiêu số lượt khách hàng: Chỉ tiêu số lượt khách hàng là số lầnkhách hàng đến giao dịch với ngân hàng trong một năm Trong hoạt độngCVTD, số lượt khách hàng thể hiện số lần khách hàng đến ngân hàng thựchiện vay tiêu dùng Khi số lượt khách hàng tăng lên thể hiện hoạt động CVTDcủa ngân hàng được mở rộng, đồng thời cũng cho biết sự tin tưởng của kháchhàng đối với ngân hàng
+ Chỉ tiêu phản ánh cơ cấu khách hàng vay tiêu dùng:
Tỷ trọng khách hàng là
cá nhân VTD =
Số lượng khách hàng VTD là cá nhân* 100%
Tổng số khách hàng VTD
Trang 29• Chỉ tiêu phản ánh doanh số CVTD
+ Doanh số CVTD: Là tổng số tiền ngân hàng CVTD trong kỳ, nó phảnánh một cách khí quát nhất về hoạt động tín dụng của ngân hàng theo mộtthời kỳ nhất định, thường tính theo năm tài chính
+ Chỉ tiêu phản ánh sự tăng trưởng doanh số CVTD tuyệt đối: Chỉ tiêunày được tính bằng hiệu số giữa tổng doanh số CVTD năm nay (t) và tổngdoanh số CVTD năm (t-1)
Giá trị tăng trưởng
doanh số tuyệt đối =
Tổng doanh số CVTD
năm (t)
- Tổng doanh số CVTD
năm (t-1)
Ý nghĩa: Chỉ tiêu này cho biết doanh số CVTD năm (t) tăng so với năm
(t-1) về số tuyệt đối là bao nhiêu Khi chỉ tiêu này tăng lên, tức là số tiền màngân hàng cung cấp cho khách hàng để tiêu dùng cũng tăng lên, thỏa mãn tốthơn nhu cầu của khách hàng, từ đó nó cũng thể hiện hoạt động CVTD củangân hàng đã được mở rộng
+ Chỉ tiêu phản ánh sự tăng trưởng doanh số tương đối: Chỉ tiêu nàyđược tính bằng tỷ lệ % của thương số giữa giá trị tăng trưởng doanh số CVTDtuyệt đối với tổng doanh số CVTD năm (t-1)
Giá trị tăng trưởng
doanh số tương đối =
Giá trị tăng trưởng doanh số tuyệt đối *100%Tổng doanh số CVTD năm (t-1)
Ý nghĩa: Chỉ tiêu này cho biết tốc độ tăng trưởng doanh số của hoạt động
CVTD năm (t) so với năm (t-1) Khi chỉ tiêu này tăng lên, thể hiện rằng doanh
số CVTD qua các năm của ngân hàng đã tăng lên về số tương đối
+ Chỉ tiêu phản ánh tăng trưởng về tỷ trọng:
Tổng doanh số CVTD *100%
Tỷ trọng =
Tổng doanh số hoạt động cho vay
Ý nghĩa: Chỉ tiêu này cho biết doanh số của hoạt động CVTD chiếm tỷ
Trang 30trọng bao nhiêu trong tổng doanh số của hoạt động cho vay của ngân hàng.Khi tỷ trọng của CVTD tăng lên qua các năm, chứng tỏ rằng hoạt độngCVTD đã được mở rộng.
nợ tín dụng thường ở mức cao Tuy nhiên để có thể đánh giá chính xác việc
mở rộng tín dụng của ngân hàng, phải kết hợp giữa chỉ tiêu dư nợ tín dụng vớichỉ tiêu danh số cho vay của ngân hàng
Dư nợ
Dư nợ CVTDnăm (t-1) +
Doanh số CVTD
-Doanh số thu nợCVTD năm (t)
+ Chỉ tiêu phản ánh sự tăng trưởng dư nợ tuyệt đối: Được tính bằng hiệu
số giữa tổng dư nợ CVTD năm (t) với tổng dư nợ CVTD năm (t-1)
Giá trị tăng trưởng
dư nợ tuyệt đối =
Tổng dư nợ CVTD
-Tổng dư nợ CVTDnăm (t-1)
Giá trị tăng trưởng
dư nợ CVTD tương đối =
Giá trị tăng trưởng dư nợ tuyệt đối *100%
Tổng dư nợ CVTD năm (t-1)+ Chỉ tiêu phản ánh sự tăng trưởng dư nợ tương đối: Được tính bằng %thương số giữa giá trị tăng trưởng dư nợ tuyệt đối với tổng dư nợ CVTDnămg (t-1)
Ý nghĩa: Chỉ tiêu này cho biết tốc độ tăng trưởng dư nợ CVTD năm (t) so
với năm (t-1)
+ Chỉ tiêu phản ánh sự tăng trưởng về tỷ trọng:
Tổng doanh số CVTD *100%
Trang 31Tỷ trọng =
Tổng doanh số hoạt động cho vay
Ý nghĩa: Chỉ tiêu này cho biết dư nợ của hoạt động CVTD chiếm tỷ trọng
bao nhiêu trong tổng dư nợ tín dụng của ngân hàng hoặc so với toàn ngành ởcùng thời kỳ
Theo em, có các nhân tố chủ quan cơ bản sau ảnh hưởng tới hoạt động
mở rộng tín dụng khách hàng tiêu dùng cá nhân của NHTM:
2007 ), song nó có vai trò hết sức quan trọng Vốn tự có được xem là “ tấm
đệm chống tổn thất cho ngân hàng”, là cơ sở để ngân hàng mở rộng hoạt độngcủa mình Ngân hàng nào có vốn tự có lớn thì góp phần làm tăng lòng tin củangười gửi tiền và đảm bảo cho các hoạt động kinh doanh của ngân hàng diễn
ra an toàn Ngược lại, sẽ làm cho các hoạt động của ngân hàng khó khăn hơn
• Khả năng huy động vốn: Vốn được đánh giá trên hai yếu tố là quy mô
Trang 32của nguồn vốn huy động và chi phí huy động vốn Khi quy mô vốn huy độnglớn thì ngân hàng càng có khả năng đáp ứng tốt cho nhu cầu kinh doanh củamình và với chi phí hợp lý thì ngân hàng có điều kiện cho vay ra với lãi suấtcạnh tranh Điều này sẽ tốt cho việc mở rộng và phát triển hoạt động CVTD
cả về mặt chất và lượng
• Chất lượng tín dụng: Một ngân hàng có tỷ lệ nợ quá hạn cao sẽ dễ gặprủi ro Khách hàng dù là cá nhân hay doanh nghiệp đều quan tâm đến chấtlượng tín dụng của ngân hàng, vì đó là nơi họ gửi tiền vào Từ đó ảnh hưởngđến quyết định sử dụng các sản phẩm khác của ngân hàng, trong đó có sảnphẩm CVTD Vì thế, khi tỷ lệ nợ quá cao, ngân hàng rất khó khăn trong huyđộng vốn và chất lượng tín dụng sẽ không cải thiện được
+ Chất lượng cán bộ tín dụng
Thể hiện ở trình độ nghiệp vụ cũng như khả năng giao tiếp, đạo đức cán
bộ tín dụng Cán bộ tín dụng chính là hình ảnh của ngân hàng dưới con mắtcủa khách hàng Chính vì vậy, chất lượng cán bộ tín dụng sẽ quyết định đếnchất lượng sản phẩm, từ đó quyết định đến uy tín, hình ảnh và vị thế của ngânhàng trên thị trường
+ Trình độ tổ chức
Một ngân hàng có cơ cấu tổ chức và nội quy làm việc hợp lý sẽ tạo ra bầukhông khí làm việc hăng hái nhiệt tình trong tổ chức Từ đó, động viên được nhânviên ngân hàng trung thành và cống hiến vì sự phát triển của ngân hàng hơn
+ Cơ sở vật chất thiết bị
Việc trang bị đầy đủ các thiết bị tiên tiến, phù hợp với phạm vi, quy môhoạt động phục vụ kịp thời các yêu cầu của khách hàng, tạo sự thuận tiện,thoải mái cho quá trình giao dịch giữa ngân hàng với khách hàng, từ đó giúpngân hàng tăng khả năng cạnh tranh, thu hút được nhiều khách hàng hơn
1.3.2 Nhân tố khách quan
Theo em, có các nhân tố khách quan cơ bản sau ảnh hưởng tới hoạt động
Trang 33mở rộng tín dụng khách hàng tiêu dùng cá nhân của NHTM:
+ Môi trường kinh tế
• Tốc độ tăng trưởng: Ngân hàng sẽ dễ dàng huy động vốn và sử dụngvốn khi nền kinh tế tăng trưởng ổn định Khi đó mức sống của người dâncũng không ngừng được nâng cao, thu nhập ổn định, nhu cầu của người dâncũng thay đổi theo chiều hướng phong phú đa dạng hơn Vì vậy, CVTD sẽ cómôi trường thuận lợi để phát triển Ngược lại khi nền kinh tế suy thoái thìngân hàng sẽ gặp khó khăn trong việc sử dụng vốn, đặc biệt là sử dụng vốn đểCVTD, vì lúc này người tiêu dùng có xu hướng chững lại trong chi tiêu
• Lạm phát: Khi lạm phát tăng, sức mua của đồng tiền giảm mạnh, thunhập thực tế của người dân giảm, người dân sẽ có xu hướng đầu tư vào tài sảnhoặc ngoại tệ mạnh, nhu cầu tiêu dùng giảm mạnh Việc huy động vốn cũngnhư CVTD sẽ khó khăn hơn
• Lãi suất: Khi lãi suất huy động vốn cao thì lãi suất cho vay cũng caohơn, không khuyến khích khách hàng vay tiêu dùng
• Thất nghiệp: Khi thất nghiệp tăng, thu nhập của người dân sẽ thấphoặc không ổn định dẫn đến khả năng thanh toán nợ vay cá nhân giảm, làmtăng rủi ro của ngân hàng, ngân hàng sẽ có xu hướng giảm CVTD
+ Môi trường văn hóa - xã hội
• Thái độ, thói quen tiêu dùng có tác động đáng kể đến CVTD, cụ thể làquyết định của người tiêu dùng Ở Việt Nam, người dân có thói quen sử dụngtiền mặt hơn là sử dụng các hình thức thanh toán qua tài khoản thanh toán Vìvậy, rất khó khăn trong việc phát triển các hình thức thanh toán không dùngtiền mặt
• Trình độ dân trí:
Trình độ dân trí là nhân tố ảnh hưởng chủ yếu đến quyết định sử dụngcác dịch vụ, sản phẩm của ngân hàng Ở những nước phát triển, trình độ dân
Trang 34trí cao, người ta chủ yếu thanh toán qua ngân hàng vì nó tiện lợi và đảm bảo
an toàn Ở Việt Nam thì người dân lại chưa có thói quen này Một mặt có thể
do trình độ dân trí, mặt khác cũng có thể do lối làm ăn nhỏ lẻ của người dân
• Yếu tố xã hội:
Yếu tố xã hội bao gồm: quy mô dân số, mật độ dân cư, tháp dân số, kếtcấu dân số, trật tự an toàn xã hội,… ảnh hưởng trực tiếp tới mối quan hệ chovay giữa ngân hàng với khách hàng Thông thường nơi nào tập trung nhiềunhững người có địa vị xã hội thì nơi đó có cơ hội phát triển mạnh CVTD vì họ
có thu nhập cao và ổn định, họ cũng nhận thức được những tiện lợi mà CVTDmang lại Còn nơi nào tập trung những người lao động chân tay thì khó pháttriển CVTD vì những người này thường có xu hướng tích trữ tiền tại ngânhàng.Vì vậy, đây được xem là nguồn cung tín dụng không những đối với tíndụng thương mại mà còn đối với CVTD
+ Môi trường chính trị pháp luật
Ngân hàng là một trong những ngành kinh tế chịu sự giám sát, quản lýchặt chẽ của luật pháp và các cơ quan chức năng của Chính phủ Hoạt độngcủa ngân hàng được điều chỉnh bởi các quy định của Ngân hàng Nhà nước,Luật các tổ chức tín dụng, Luật dân sự và các quy định khác Khi những vănbản pháp luật quy định rõ ràng, đầy đủ, đồng bộ và ổn định sẽ là hành langpháp lý vững chắc, góp phần vào sự cạnh tranh lành mạnh giữa các ngân hàngtrong hoạt động cho vay Mặt khác cũng sẽ khuyến khích đầu tư trong nước,gọi vốn từ nước ngoài, từ đó thúc đẩy nền kinh tế phát triển Ngược lại, khinhững quy định của luật pháp không rõ ràng, không đồng bộ, không ổn định
và kịp thời sẽ làm cho khả năng mở rộng CVTD bị giảm sút
+ Môi trường công nghệ
Các ngân hàng phải nắm bắt và ứng dụng công nghệ hiện đại vào hoạtđộng ngân hàng Đặc biệt trong lĩnh vực CVTD như công nghệ thẻ, hệ thốngmáy tính và phần mềm hiện đại giúp ngân hàng giải quyết công việc nhanh
Trang 35chóng, hiệu quả và chính xác cao Từ đó tăng quy mô, chất lượng sản phẩmdịch vụ, tăng vị thế của ngân hàng trong cạnh tranh Bên cạnh việc áp dụngcông nghệ hiện đại thì các ngân hàng cũng cần phải chú trọng vào đào tạo cán
bộ nhân viên có trình độ có thể
Trang 36Chương 2 THỰC TRẠNG TÍN DỤNG TIÊU DÙNG CÁ NHÂN TẠI
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN ĐẠI DƯƠNG –
CHI NHÁNH THĂNG LONG
2.1 Khái quát về ngân hàng thương mại cổ phần Đại Dương Chi nhánh Thăng Long ( Ocean bank - Thăng Long )
-2.1.1 Sơ lược quá trình phát triển Ocean bank - Thăng Long
Ngân hàng thương mại cổ phần Đại Dương (Ocean bank) tiền thân làngân hàng thương mại cổ phần Nông thôn Hải Hưng, được thành lập cuốinăm 1993 với vốn điều lệ là 300 triệu đồng và chỉ đơn giản là nhận tiền gửi vàcho vay hộ nông dân trên địa bàn nông thôn Hải Dương
Sau 14 năm hoạt động, Ngân hàng TMCP Nông thôn Hải Hưng chínhthức được chuyển đổi mô hình hoạt động thành ngân hàng cổ phần đô thị theoquyết định 104/QĐ-NHNN ngày 09/01/2007 của Ngân hàng Nhà nước vàđược đổi tên thành Ngân hàng TMCP Đại Dương
Ocean bank được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phê duyệt và hoànthành việc tăng vốn điều lệ lên 1000 tỷ đồng vào tháng 6 năm 2007, tăng gấp5,9 lần năm 2006 Ngày 18/01/2009, Ocean bank ký kết và công bố cổ đôngchiến lược là Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam (Petro Vietnam) Tháng4/2009, Ocean bank đã tăng vốn điều lệ lên 2.000 tỷ đồng Dự kiến đến năm
2010, số vốn điều lệ của Ocean bank sẽ tăng lên 3.000 tỷ đồng và đến năm
2013 là 5.000 tỷ đồng
Qua 16 năm xây dựng và trưởng thành Ocean bank đã trở thành mộtthương hiệu uy tín trong lĩnh vực tài chính tiền tệ, là đối tác tài chính tin cậycủa nhiều tập đoàn kinh tế, doanh nghiệp, dự án, hộ kinh doanh và đông đảonhân dân cả nước Năm 2007, Ocean bank đã đạt được sự tăng trưởng vượtbậc, tốc độ tăng trưởng ngoạn mục thể hiện ở các chỉ tiêu về tổng tài sản vàlãi: tăng gấp hơn 10 lần năm 2006, là 1 trong 3 doanh nghiệp có đóng góp cho
Trang 37ngân sách nhà nước cao nhất tỉnh Hải Dương Tính đến tháng 11/2009, Tổngtài sản của ngân hàng đạt 27.500 tỷ đồng, lợi nhuận luỹ kế đạt 280 tỷ đồng,hoàn thành vượt mức chỉ tiêu kế hoạch đặt ra cho năm 2009; tổng huy độngvốn đạt 24.590.508 tỷ đồng, tăng 144,65% so với kế hoạch năm, trong đó vốnhuy động từ thị trường 1 chiếm 72%
Mạng lưới Ocean bank liên tục được củng cố và mở rộng, hiện Oceanbank có tất cả 80 chi nhánh và phòng giao dịch trên cả nước; phát triển đồng
bộ, đa dạng hệ thống sản phẩm dịch vụ ngân hàng đa năng hiện đại như: chovay tiêu dùng, thấu chi, phát hành thẻ ATM, thẻ quốc tế VISA, dịch vụ tàikhoản thông minh,…Năm 2009, Ocean bank cũng ký kết thỏa thuận hợp táctoàn diện, cung cấp dịch vụ tài chính ngân hàng trọn gói cho nhiều đối tác lớnnhư: Công ty cổ phần Chứng khoán dầu khí, Công ty trách nhiệm hữu hạnMTV Lọc - Hóa dầu Bình Sơn; thu xếp vốn, tài trợ, đồng tài trợ cho nhiều dự
án lớn của Tổng công ty Sông Hồng, Công ty cổ phần Đầu tư và phát triểnxây dựng Invesco, dự án mua tàu chở xăng dầu trọng tải lớn, xây dựng nhàmáy nhiên liệu sinh học Bio Ethanol,…Hoạt động thanh toán được đẩy mạnh,đặc biệt là thanh toán quốc tế, quan hệ với mạng lưới ngân hàng đại lý lớntrên thế giới nhanh chóng được thiết lập và mở rộng Ocean bank đã lọt vàobảng công bố xếp hạng 500 doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam năm 2007, 2008(VNR500) Năm 2008, Ocean bank đã được vinh dự đón nhận cúp vàng giảithưởng “Doanh nghiệp Hội nhập và phát triển” do Phó Thủ tướng NguyễnSinh Hùng trao tặng Năm 2009, Ocean bank được UBND tỉnh Hải Dươngtrao bằng khen với thành tích trong hoạt động kinh doanh tiêu biểu và nhữngđóng góp quan trọng cho phát kiển kinh tế địa phương Ngoài ra, Ocean bankcòn được trao bảng vàng, cúp vàng Doanh nghiệp Việt Nam tiêu biểu 2009,cúp vàng Thương hiệu chứng khoán Việt Nam uy tín 2009
Nhằm mục đích mở rộng mạng lưới chi nhánh hoạt động để phục vụkhách hàng, đưa hoạt động của ngân hàng đến với các địa bàn dân cư, vùng
Trang 38kinh tế, tạo điều kiện tốt nhất để phục vụ các yêu cầu phát triển kinh tế - xãhội, đồng thời phát triển quy mô hoạt động tạo lợi thế cạnh tranh, tăng hiệuquả kinh doanh, tháng 3/2009 ngân hàng thương mại cổ phần Đại Dương - Chinhánh Thăng Long chính thức đi vào hoạt động Trụ sở chính đặt tại 18 Láng
Hạ, phường Thành Công, quận Ba Đình, Thành Phố Hà Nội với tên gọi “ Ngânhàng thương mại cổ phần Đại Dương - Chi nhánh Thăng Long” ( viết tắt làngân hàng Đại Dương - Chi nhánh Thăng Long ) Ngày 3/4/2009, ngân hàngĐại Dương - Chi nhánh Thăng Long chính thức khai trương Đây là sự kiệnđánh dấu bước phát triển về quy mô mạng lưới của Ocean bank, nằm trongchiến lược hoạt động của Ocean bank Chi nhánh Thăng Long của Ocean bankđược kết nối trực tuyến với Hội sở và tất cả các đơn vị trong hệ thống Oceanbank Khách hàng có thể gửi tiền và rút tiền ở mọi nơi trong hệ thống Oceanbank trên toàn quốc và được cung cấp các dịch vụ qua ngân hàng
Tuy mới thành lập, nhưng Ocean bank - Thăng Long lại là “Đơn vị huy động vốn xuất sắc nhất ” của Ocean bank (Trích: “Thông điệp năm mới 2010 gửi toàn thể cán bộ nhân viên của Chủ tịch Hội đồng quản trị Hà Văn Thắm”)
và là chi nhánh có doanh số hoạt động lớn trên địa bàn thành phố Hà Nội cả vềphạm vi, quy mô và chất lượng hoạt động với sản phẩm dịch vụ phong phúdành cho nhiều đối tượng khách hàng
• Ngân hàng cá nhân: Tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi thanh toán, sản phầmcho vay, thanh toán quốc tế
• Ngân hàng doanh nghiệp: Sản phẩm cho vay, thanh toán quốc tế, tiềngửi thanh toán, dịch vụ bảo lãnh, dịch vụ chuyển tiền
• Ngân hàng điện tử: Gồm bộ 3 dịch vụ Home Banking, MobileBanking, Internet Banking; hệ thống thông tin ngân hàng của Ocean bank sẽluôn nằm trong tầm tay của khách hàng, giúp khách hàng hoàn toàn làm chủnguồn thông tin tài chính quý giá của mình
• Dịch vụ kinh doanh ngoại tệ
• Các dịch vụ khác: Thẻ ATM, dịch vụ trả lương qua tài khoản, Auto
Trang 39Tính đến hết tháng 3 năm 2010 Ocean bank - Thăng Long đã có 13
phòng giao dịch với hơn 110 cán bộ nhân viên
Các sản phẩm và dịch vụ của Ocean bank - Thăng Long vô cùng đa dạngvới công nghệ hiện đại và chất lượng dịch vụ không ngừng được nâng cao,chiều lòng cả những khách hàng khó tính nhất
2.1.2 Cơ cấu tổ chức - nhân sự của Ocean bank - Thăng Long
Hình 1.1: Sơ đồ cơ cấu tổ chức Ocean bank - Thăng Long
Chức năng, nhiệm vụ các phòng ban chính của Ocean bank - Thăng Long
Phòng giám đốc Chi nhánh
P.dịch vụ
khác hàng
Phòng Giám đốc
Phòng Tín dụng Kế toán kho Phòng
quỹ
Phòng Công nghệ thông tin
Phòng Tổ chức hành chính
Phó giám đốc
Các phòng giao dịch
Trang 40* Chức năng: Phòng Giám đốc là phòng bao quát toàn bộ các phòng ban,điều hành hoạt động kinh doanh của cả chi nhánh, kết hợp với các phòng bantrong việc giải quyết các nghiệp vụ phát sinh, phê duyệt những báo cáo,phương hướng hoạt động cho chi nhánh ngân hàng.
* Nhiệm vụ:
+ Kết hợp với phòng kế toán, phòng vi tính trong việc quản lý tài sản vàcông cụ lao động, lập kế hoạch trang bị, sửa chữa, bảo trì hàng năm tài sản,công cụ lao động trong toàn Chi nhánh ngân hàng
+ Thực hiện điều phối công việc hàng ngày
+ Quản lý điều phối toàn bộ phương tiện vận chuyển
Điều hành và quản lý công tác hành chính, lưu trữ hồ sơ, tài liệu, văn bảncủa toàn chi nhánh Ngân hàng
+ Quản lý điều hành công tác bảo vệ của toàn cơ quan, phòng cháy chữacháy an toàn tuyệt đối
+ Tổ chức và thực hiện công tác ngoại giao, tiếp tân, khai trương,hội họpcủa toàn hệ thống
Phòng tín dụng - kinh doanh
* Chức năng: Phòng kinh doanh là phòng nghiệp vụ thực hiện công táckinh doanh tín dụng ngân hàng, là nơi trực tiếp giao dịch với mọi đối tượngkhác hàng có nhu cầu về tín dụng Từ đó bằng kiến thức của mình xem xét cóthể cấp tín dụng cho khách hàng được hay không, quản lý các sản phẩm, cấptín dụng phù hợp với các chế độ tín dụng hiện hành và hướng dẫn của OceanBank nhằm đảm bảo an toàn vốn và hiệu quả
* Nhiệm vụ: Phòng tín dụng có nhiệm vụ tiếp nhận hồ sơ tín dụng củakhách hàng, thẩm định và xác định mức tín dụng cho khách hàng Sau khi cán
bộ có thẩm quyền phê duyệt cấp tín dụng thì phòng kinh doanh có nhiệm vụthực hiện:
+ Quản lý các hạn mức đã được phê duyệt
+ Quản lý các tài sản nhận làm đảm bảo tiền vay theo đúng quy định củaNhà nước và của ngân hàng