Đã có hàng loạt các nhà thơ ra đời với hàng loạtnhững cách tân về nội dung và nghệ thuật trong thơ họ như Vi Thùy Linh, Phùng Khắc Bắc,Nguyễn Vĩnh Tiến, Chế Lan Viên…Và Nguyễn Duy là một
Trang 1NHỮNG ĐỔI MỚI VỀ NỘI DUNG VÀ NGHỆ THUẬT TRONG THƠ NGUYỄN DUY SAU NĂM 1975
I Cuộc đời, sự nghiệp của nhà thơ Nguyễn Duy
1 Cuộc đời và sự nghiệp
Trong những năm chiến đấu chống Mỹ xuất hiện lớp nhà thơ mặc áo lính, tuổi đời còn rất trẻ Nhiều thanh niên lúc bấy giờ, theo tiếng gọi của Tổ quốc, họ lên đường nhập ngũ Trong số
đó có Nguyễn Duy
Nguyễn Duy tên thật là Nguyễn Duy Nhuệ,sinh năm 1948 , tại xã Đông Vệ, huyện Đông
Sơn (nay là phường Đông Vệ, thành phố Thanh Hóa), tỉnh Thanh Hóa
Năm 1965, từng làm tiểu đội trưởng tiểu đội dân quân trực chiến tại khu vực cầu Hàm Rồng, một trọng điểm đánh phá ác liệt của không quân Mỹ trong những năm chiến tranh Việt Nam
Năm 1966 ông nhập ngũ, trở thành lính đường dây của bộ đội thông tin, tham gia chiến đấu nhiều năm trên các chiến trường đường 9 - Khe Sanh, Đường 9 - Nam Lào, Nam Lào, chiến trường miền Nam, biên giới phía Bắc (năm 1979) Sau đó ông giải ngũ, làm việc tại Tuần báo Văn nghệ Hội Nhà văn Việt Nam và là Trưởng Đại diện của báo này tại phía Nam
Nguyễn Duy làm thơ rất sớm, khi đang còn là học sinh trường cấp 3 Lam Sơn, Thanh Hóa Năm 1973, ông đoạt giải nhất cuộc thi thơ tuần báo Văn nghệ với chùm thơ: Hơi ấm ổ rơm, Bầu
trời vuông, Tre Việt nam trong tập Cát trắng Ngoài thơ, ông cũng viết tiểu thuyết, bút ký.
Sau năm 1975, thơ Viêt Nam trải qua một giai đoạn chững lại, tìm đường Trong hoàn cảnh
đó, Nguyễn Duy vẫn “ bền bỉ, kiên trì tr, trong quá trình sáng tạo, cố gắng đi sâu vào mọi khía
cạnh của hiện thực đời sống, hiện thực tâm trạng” Với các tập thơ : Mẹ và em(1987), Đãi cát tìm vàng(1987), Đường xa(1989), Qùa tặng(1990), Về(1991), Vợ ơi(1995) Cùng tuyển tập thơ
Nguyễn Duy Sáu &Tám, Nguyễn Duy đã thuộc “lực lượng đi tiên phong” trong thời kỳ đổi mới với nhiều chuyển đổi trong phương thức chiếm lĩnh hiện thực, trong các quan niệm mới về nội dung và nghệ thuật
Thơ Nguyễn Duy đã được chọn vào chương trình giảng văn ở bậc phổ thong, giới thiệu ra nước ngoài, đã được nhiều nhà nghiên cứu, phê bình văn học đánh giá, công bố trên các báo chuyên ngành , được công chúng yêu thơ đọc và bình phẩm
Nguyễn Duy được tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật năm 2007
Trang 2• Nhìn ra bể rộng trời cao (bút ký - 1986)
Thành tựu nghệ thuật
Thơ Nguyễn Duy nhiều bài có cái ngang tàng nhưng vẫn trầm tĩnh và giàu chiêm nghiệm vì thế cứ ngấm vào người đọc và trong cái đà ngấm ấy có lúc khiến người ta phải giật mình suy
nghĩ, nhiều bài thơ của ông được bạn đọc yêu thích: Tre Việt nam, Ánh trăng, Ngồi buồn nhớ mẹ
ta xưa, Đò Lèn, Sông Thao, Ông được đánh giá cao trong thể thơ lục bát, một thể thơ có cảm
giác dễ viết nhưng viết được hay thì lại rất khó Thơ lục bát của Nguyễn Duy được viết theo phong cách hiện đại, câu thơ vừa phóng túng lại vừa uyển chuyển chặt chẽ Nguyễn Duy được
giới phê bình đánh giá là người đã góp phần làm mới thể thơ truyền thống này Bài thơ Tre Việt nam của ông đã được đưa vào sách giáo khoa phổ thông của Việt nam.
Nguyễn Duy còn có bộ 3 bài thơ theo thể tự do nổi tiếng được công chúng biết tới viết về những trăn trở, suy nghĩ của ông về tương lai đất nước, tương lai của con người và môi sinh Bài
thơ đầu mang tên Đánh thức tiểm lực viết từ năm 1980 đến 1982 với những suy tư về tiềm lực và
tương lai của đất nước Bài thơ thứ hai được viết lúc ông đến thăm Liên Xô và đến năm 1988
mới hoàn thành mang tên "Nhìn từ xa Tổ quốc" Bài thơ viết về những trì trệ, bất cập mà ông
mắt thấy tai nghe trong thời kì bao cấp, với những câu thơ rất mạnh mẽ, "như những nhát dao
cứa vào lòng người đọc" (Lê Xuân Quang) Bài thơ thứ 3 viết sau đó chục năm, mang tên Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ vẫn cùng thi pháp với 2 bài thơ trước nhưng chủ đề lại rộng hơn: những
suy nghĩ về thiên nhiên, không gian và tương lai con ngườ
Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã nói như sau: "Hình hài Nguyễn Duy giống như đám đất hoang,
còn thơ Nguyễn Duy là thứ cây quý mọc trên đám đất hoang đó”.
II Những đổi mới về nội dung và nghệ thuật trong thơ Nguyễn Duy
Sau năm 1975, do sự tác động của hoàn cảnh lịch sử xã hội cùng với nhu cầu đổi mới tựthân của thơ Việt nên thơ Việt có nhiều thay đổi đáng kể trên nhiều phương diện Không chỉ đổimới trong quan niệm về thơ, về nhà thơ, mối quan niệm giữa nhà thơ - công chúng mà còn có sựđổi mới về phương diện nội dung và nghệ thuật Đã có hàng loạt các nhà thơ ra đời với hàng loạtnhững cách tân về nội dung và nghệ thuật trong thơ họ như Vi Thùy Linh, Phùng Khắc Bắc,Nguyễn Vĩnh Tiến, Chế Lan Viên…Và Nguyễn Duy là một trong những nhà thơ cho ra đời rấtnhiều những đứa con tinh thần của mình với nhiều sự cách tân độc đáo Tiêu biểu cho sự đổi mới
ấy, xin dẫn ra hai bài thơ tiêu biểu là bài thơ ĐÁNH THỨC TIỀM LỰC và MƯA TRONGNẮNG- NẮNG TRONG MƯA
1 Những đổi mới trong bài thơ “ĐÁNH THỨC TIỀM LỰC”
Bài thơ ĐÁNH THỨC TIỀM LỰC
Tiễn đưa anh Sáu Dân đi làm kinh tế
Hãy thức dậy, đất đai!
cho áo em tôi không còn vá vai
cho phần gạo mỗi nhà không còn thay bằng ngô, khoai, sắn
xin bắt đầu từ cơm no, áo ấm
rồi thì đi xa hơn - đẹp, và giàu, và sung sướng hơn
Khoáng sản tiềm tàng trong ruột núi non
châu báu vô biên dưới thềm lục địa
rừng đại ngàn bạc vàng là thế
phù sa muôn đời như sữa mẹ
Trang 3sông giàu đằng sông và bể giàu đằng bể
còn mặt đất hôm nay thì em nghĩ thế nào?
lòng đất rất giàu, mặt đất cứ nghèo sao?
***
Lúc này ta làm thơ cho nhau
đưa đẩy mà chi mấy lời ngọt lạt
ta ca hát quá nhiều về tiềm lực
tiềm lực còn ngủ yên
***
Tôi lớn lên bên bờ bãi sông Hồng
trong màu mỡ phù sa máu loãng
giặc giã từ con châu chấu, con cào cào
mương máng, đê điều ngổn ngang chiến hào
trang sử đất ngoằn ngoèo trận mạc
giọt mồ hôi nào có gì to tát
bao nhiêu đời mặn chát các dòng sông
bao nhiêu thời vỡ đê trắng đất mất đồng
thuyền vỏ trấu mỏng manh ba chìm bảy nổi
khúc dân ca cũng bèo dạt mây trôi
hột gạo nõn nà hao gầy đi vì thiên tai
đói thâm niên
đói truyền đời
điệu múa cổ cũng chậm buồn như đói
cơn bão chưa qua, hạn hán đổ tới rồi
ngọn cỏ nhọn thành gai mà trốn không khỏi úa
đất nứt nẻ ngỡ da người nứt nẻ
cơn gió Lào rát ruột lắm em ơi!
Hạt giống ở đây chết đi sống lại
hạt gạo kết tinh như hạt muối
cây lúa đứng lên cũng đạp đất đội trời
***
Tôi về quê em - châu thổ sáng ngời
Trang 4sông Cửu Long giãn mình ra biển
đất cuồn cuộn sinh sôi và dịch chuyển
cây mắm cây tràm lặn lội mở đường đi
Đất tân sinh ngỡ ngọt ngào trên mặt
lòng còn chát chua nào mặn nào phèn
má sung sức và ba cường tráng thế
man mác âu sầu trong câu hát ru em
Đã qua đi những huyền thoại cũ mèm
những đồng lúa ma không trồng mà gặt
những ruộng cá không nuôi mà sẵn bắt
những ghểnh cẳng, vuốt râu mà làm chơi ăn thật miếng ăn nào không nước mắt mồ hôi!
Ruộng bát ngát đó thôi, và gạo đắt đó thôi
đất ghiền phân vô cơ như người ghiền á phiện con rầy nâu khoét rỗng cả mùa màng
thóc bỏ mục ngoài mưa thiếu xăng dầu vận chuyển phà Cần Thơ lê lết người ăn xin
cây đàn hát rong não nề câu vọng cổ
quán nhậu lai rai - nơi thừa thiếu trốn tìm
***
Này, đất nước của ba miền cày ruộng
chưa đủ no cho đều khắp ba miền
ta ca hát quá nhiều về tiềm lực
tiềm lực còn ngủ yên
***
Lúc này tôi làm thơ tặng em
em có nghĩ tôi là đồ vô dụng?
vô dụng lấy đi của cuộc sống những gì
và trả lại được gì cho cuộc sống?
Em có nghĩ tôi là con chích choè ăn và gại mỏ?
Em có nghĩ tôi là tay chuyên sản xuất hàng giả?
Em có nghĩ tôi là kẻ thợ chữ đục đẽo nát cả giấy múa võ bán cao trên trang viết mong manh? tình nghĩa nhập nhằng với cái hư danh
tờ giấy chép văn thành tờ giấy bạc
Trang 5Em có nghĩ
mà thôi!
***
Xin em nhìn kia – người cuốc đất
(tôi cũng từng chai tay cuốc đất)
cái cuốc theo ta đời này, đời khác
lưỡi cuốc nhỏ nhoi liếm sạch cánh đồng rồi
dướn mình cao
chĩa cuốc lên trời
bổ xuống đánh phập
đẹp lắm chứ cái tạo hình cuốc đất!
Xin em nhìn - người gánh phân, gánh thóc
(tôi cũng từng mòn vai gánh phân, gánh thóc)
kẽo kẹt hai vai một nhịp cầu vồng
đẹp lắm chứ cái tạo hình gồng gánh!
Những cái đẹp thế kia em có chạnh lòng không?
cái đẹp gợi về thuở ngày xưa ngày xửa
nhịp theo tiết tấu chậm buồn
cái đẹp ấy lẽ ra không nên tồn tại nữa!
Em có chạnh lòng chăng
giữa thành phố huy hoàng bạt ngàn quán nhậu
bỗng hiện lù lù cái xe hơi chạy than
vệt than rơi toé lửa mặt đường
Em có chạnh lòng chăng
xích lô đạp càng ngày càng nghênh ngang
xích lô máy và xe lam chạy dầu vừa nã đại liên vừa phun khói độc người đi bộ vừa đi vừa nghĩ về tiềm lực
tiềm lực còn ngủ yên
***
Tôi trót sinh ra nơi làng quê nghèo
quen cái thói hay nói về gian khổ
dễ chạnh lòng trước cảnh thương tâm
Làng tôi xưa toàn nhà tranh vách đất
bãi tha ma không một cái mả xây
mùa gặt hái rơm nhiều, thóc ít
lũ trẻ chúng tôi vầy đất tối ngày
Trang 6Thuở tới trường cũng đầu trần chân đất
chữ viết loằng ngoằng củ sắn ngọn khoai
thầy giáo giảng rằng
nước ta giàu lắm!
lớp lớp trẻ con cứ thế học thuộc bài
***
Lúc này
tôi và em không còn là lũ trẻ con nữa
ta biết buồn để biết lạc quan
và, để nhắn lại sau ta cho lớp lớp trẻ con
(dù sau này dầu mỏ đã phun lên
quặng bô-xít cao nguyên đã thành nồi thành soong thành tàu bay hay tàu vũ trụ
dù sau này có như thế như thế đi nữa
thì chúng ta vẫn cứ nên nhắn lại)
rằng
đừng quên đất nước mình nghèo!
Lúc này
tôi và em không còn là lũ trẻ con nữa
tuổi thanh xuân trọn vẹn cuộc chiến tranh
sau lưng ta là kỷ niệm bi tráng
trước mặt ta vẫn con đường gập ghềnh
vẫn trang trọng tấm lòng trung thực
dù có thể lỗi lầm – làm thế nào mà biết trước
dù có sao thì cũng phải chân thành
Xưa mẹ ru ta ngủ yên lành
để khôn lớn ta hát bài đánh thức
có lẽ nào người lớn cứ ru nhau
ru tiềm lực ngủ vùi trong thớ thịt
Trang 7trong lỗ tai viêm chai màng nhĩ
Tiềm lực còn ngủ yên
trong ống mũi khò khè không nhận biết mùi thơm Tiềm lực còn ngủ yên
trong lớp da biếng lười cảm giác
Năng động lên nào
từ mỗi tế bào, từ mỗi giác quan
cố nhiên cần lưu ý tính năng động của cái lưỡi
***
Cần lưu ý
lời nói thật thà có thể bị buộc tội
lời nịnh hót dối lừa có thể được tuyên dương đạo đức giả có thể thành dịch tả
lòng tốt lơ ngơ có thể lạc đường
Cần lưu ý
có cái miệng làm chức năng cái bẫy
sau nụ cười là lởm chởm răng cưa
có cái môi mỏng rát hơn lá mía
hôn má bên này bật máu má bên kia
có trận đánh úp nhau bằng chữ nghĩa
khái niệm bắn ra không biết lối thu về
Cần lưu ý
có lắm sự nhân danh lạ lắm
mượn áo thánh thần che lốt ma ranh
nhân danh thiện tâm làm điều ác đức
rao vị nhân sinh để bán món vị mình
Cần lưu ý
có lắm nghề lạ lắm
nghề mánh mung cứa cổ bóp hầu nhau
nghề chửi đổng, nghề ngồi lê, nghề vu cáo
nghề ăn cắp lòng tin và chẹt họng đồng bào
có cả nghề siêu nghề gọi là nghề không làm gì cả thọc gậy bánh xe cũng một thứ nghề
Bộ sưu tập những điều ngang trái ấy
phù chú ma tà ru tiềm lực ngủ mê
***
Trang 8Tôi muốn được làm tiếng hát của em
tiếng trong sáng của nắng và gió
tiếng chát chúa của máy và búa
tiếng dẻo dai đòn gánh nghiến trên vai
tiếng trần trụi của lưỡi cuốc
lang thang
khắp đất nước
hát bài hát
ĐÁNH THỨC TIỀM LỰC
1.1 Thể thơ tự do:bài thơ ĐÁNH THỨC TIỀM LỰC được Nguyễn Duy viết theo thể thơ tự do theo
xu hướng tự do cực đại, nghĩa là số lượng âm tiết, câu thơ mở rộng, thoải mái, không hạn định về
số câu, số chữ,hình ảnh trùng điệp, lồng ghép vào nhau Chẳng hạn có câu một chữ( “Đói”), cócâu hai chữ( “Mà thôi”), có câu ba chữ(“ Đói thâm niên”/ “Dướn mình cao”), có câu bốncâu(“Chĩa cuốc lên trời”/ “Nước ta giàu lắm”),có câu mười ba chữ( “Tôi đã qua những chặngđường miền Trung bỏng rát và dai dẳng”), có câu mười sáu chữ( “Xích lô máy và xe lam chạydầu vừa nã đại liên vừa phun khói độc”)
Ngoài ra, tác giả còn đưa những lời nói hằng ngày vào trong thơ như: “gầy nhẳng”, “liếmsạch”, “cũ mèm”, “ghiền”, “mánh mung”…
→Việc sử dụng thể thơ tự do giúp cho nhà thơ mở rộng phạm vi phản ánh hiện thực mà tácgiả muốn nói đến( tình trạng khủng hoảng trong cuộc sống con người, trong xã hội Việt Nam saugiải phóng)
1.2 Ngôn ngữ phóng sự, thời sự, chính luận
Đặt trong bối cảnh đất nước sau 1975, cả dân tộc say sưa trong chiến thắng Năm năm sau,
giật mình nhìn lại trắng tay không Ít nhất cũng trong hơn mười năm (1980-1992), chúng ta mới thấy hết những điều mà Nguyễn Duy viết ra trong bộ ba nêu trên là hết hết sức chân thành, hết sức dũng cảm Những câu thơ mang tính thời sự, phóng sự
- Mở đầu bài “Đánh thức tiềm lực”, Nguyễn Duy viết:
“Hãy thức dậy đất đai!
Cho áo em tôi không còn vá vai
cho phần gạo mỗi nhà không còn thay bằng ngô khoai sắn
xin hãy bắt đầu từ cơm no áo ấm
rồi hãy đi xa hơn - đẹp và giàu, và sung sướng hơn”
Ai trong số chúng ta đây không được học: “Nước ta rừng vàng biển bạc, đất phì nhiêu”
- Nguyễn Duy cũng chỉ nhắc lại:
“Thuở tới trường cũng đầu trần chân đất
chữ viết loằng ngoằng củ sắn ngọn khoai
thầy giáo giảng rằng nước ta giàu đẹp lắm
lớp lớp trẻ con cứ thế học thuộc bài”
Nhưng chiến tranh qua đi, không còn nguồn viện trợ, chúng ta lại không biết làm kinh tế cộng thêm thói ba hoa tự mãn đã đẩy đất nước vào thảm cảnh kiệt quệ về kinh tế, cô lập về chínhtrị:
“Ruộng bát ngát đó thôi và gạo đắt đó thôi
Trang 9đất nghiền phân vô cơ như người nghiền á phiện
con rầy nâu khoét rỗng cả mùa màng
thóc bỏ mục ngoài mưa thiếu xăng dầu vận chuyển
phà Cần Thơ lê lết người ăn xin”
- Bằng mẫn cảm của người cầm bút, và rất thẳng thắn, Nguyễn Duy chỉ ra nguyên nhân của những yếu kém đó:
trong ống mũi khò khè không nhận biết mùi thơm…”
- Rồi cao hứng, Nguyễn Duy kêu gọi:
“Năng động lên nào
từ mỗi tế bào từ mỗi giác quan
cố nhiên cần lưu ý sự năng động của cái lưỡi”
-Nhưng rồi anh cũng cảnh báo:
“ Cần lưu ý
lời nói thật thà có thể bị kết tội
lời nịnh hót dối lừa có thể được tuyên dương
đạo đức giả có thể thành dịch tả
lòng tốt lơ ngơ có thể lạc đường”
Một vài phát kiến về cải cách, về kinh tế nhỏ bị quy chụp, bị kết tội “Có cái miệng làm chức năng cái bẫy/ sau nụ cười là lởm chởm răng cưa ”
1.3 Những thủ pháp ngôn từ
Nguyễn Duy với một mẫn cảm ngôn từ đặc biệt nên thơ ông dù là lục bát, tự do hay tứ tuyệt đềuđạt đến độ tự nhiên, bất ngờ thậm chí đôi khi huyền ảo, biến hóa khôn lường Ông có cái lối nói chơi mà thật, nhại đấy mà chua chát đấy:
“Thuở tới trường cũng đầu trầ chân đất
Chữ viết lằng ngoằng củ sắn ngọn k 333hoai
thầy giáo giảng rằng
Nước ta giàu lắm!
Lớp lớp trẻ con cứ thế học thuộc bài”
Nói như Chu Văn Sơn đó là cái lối “ghẹo” của muôn đời cha ông ngấm vào ông từ lúc nào không biết Đọc Nguyễn Duy, lắm khi người ta thấy cái chua ngoa, nghiệt ngã, cái cười cợt mà cay cay con mắt tự lúc nào Ấy là nhận xét về ngôn ngữ thơ Nguyễn Duy nói chung vậy Còn trong ĐÁNH THỨC TIỀM LỰC ngoài ngôn ngữ mang đậm chất báo chí, phóng sự, chính luận
ra, Nguyễn Duy còn sử dụng nhiều thủ pháp đặc biệt để biểu hiện cái tâm trạng, cái đau đớn, xót
xa trước tình cảnh hiện thực
Trước hết để phản ánh cái hiện thực nghiệt ngã mà nhân dân đang gánh chịu, Nguyễn Duy dùng lối liệt kê, thống kê sự việc.
Hãy xem anh kể:
“Tôi lớn lên trên bờ bãi sông Hồng
trong màu mỡ phù sa và máu loãng
Trang 10giặc giã từ con châu chấu con cào cào…”
“Tôi đã qua những chặng đường miền Trung bỏng rát và dai dẳng
một bên Trường Sơn cây xanh
một bên Trường Sơn cát trắng
Đồng bằng hình lá lúa gầy nhẳng
cơn bão chưa qua hạn hán đổ tới rồi…”
“Tôi về quê em châu thổ mới bồi
sông Cửu Long giãn mình ra biển…”
Ông dùng lối điệp ngữ để kể và nhấn mạnh cái ý “Tiềm lực còn ngủ yên” đến tám lần Mỗi
lần ông lại chỉ ra một nguyên do để cho tiềm lực của đất nước bị lãng quên Thực chất đó là những tội lỗi được anh gọi tên, chỉ mặt Rồi sau khi chỉ ra nguyên nhân để cho đất nước lâm vào cành nghèo nàn, lạc hậu, nhân dân đói khổ, ông lại cảnh giác chỉ ra bằng một loạt sự “Cần lưu ý”:
“Cần lưu ý lời nói thật thà có thể bị buộc tôi…”
“Cần lưu ý cái miệng làm chức năng cái bẫy…”
“Cần lưu ý có lắm sự nhân danh lạ lắm
mượn áo thánh thần che lốt ranh ma…”
“Cần lưu ý có lắm nghề lạ lắm
nghề mánh mung cứa cổ bóp hầu nhau
nghề chửi đổng, nghề ngồi lê, nghề vu cáo
nghề ăn cắp lòng tin và chẹt họng đồng bào…”
Nghệ thuật từ láy: nhà thơ sử dụng nhiều từ láy như: ngoằn nghèo, nghênh ngang, lê lết, não
nề, lai rai, man mác, loằn ngoằn, kẽo kẹt, lù lù, lờ đờ, khò khè, lơ ngơ, lởm chởm…
→ làm cho các câu thơ uyển chuyển, tăng sức gợi hình,góp phần phản ánh rõ hơn, sâu sắc hơn về hiện thực mà tác giả đang nói đến
Nguyễn Duy không thuộc loại nhà thơ ``ngợi ca`` hay ``im lặng`` Ông không tiếp tục sốngtrong hào quang của chiến thắng vì ông quan niệm ``tất cả trôi xuôi - cấm lội ngược dòng``,nhưng ông cũng không thu mình vào cuộc sống gia đình, lãnh đạm với thế sự bởi điều ông sợ
nhất là ``lòng trống trải dửng dừng dưng `` (Từng trải) Ngược lại, với ông, người cầm bút
không thể ``nhỏ giọt dòng thơ không dễ dãi`` mà phải ``đêm đêm thao thức như cây chổi quét
đường`` (Mười năm bấm đốt ngón tay) Mà ngòi bút của Nguyễn Duy tựa như cây chổi thật, bởi
ông đã ``quét`` ra ánh sáng những sự thật đau lòng của xã hội ta lúc bấy giờ:
con rầy nâu khoét rỗng cả mùa màng
thóc bỏ mục ngoài mưa thiếu xăng dầu vận chuyển
phà Cần Thơ lê lết người ăn xin
(Đánh thức tiềm lực)
Đánh thức tiềm lực được Nguyễn Duy viết từ năm 1980, mãi năm 1982 mới hoàn thành.
Thời kì đó Việt Nam ở vào ’’Đêm trước đổi mới’’, đất nước vô cùng khó khăn vì vừa ra khỏicuộc chiến tranh ác liệt kéo dài 30 năm, lại phải tiếp tục ngay cuộc chiến tranh mới từ hai đầu:Chống diệt chủng Pol Pot được quan thấy xúi dục, hung hăng quấy rối biên giới phía Nam vàchống ngoại xâm Trung Hoa ở biên giới phía Bắc Chưa hết: còn bị Mỹ câm vận, bị cô lập vớithế giới bên ngoài thôi thì đử thứ “tại - bị’’ Kết thúc chiến tranh súng đạn, lại phải tiếp tụccuộc “chiến’’ với chính mình: Chống trì trệ và đói nghèo - khiến cả dân tộc gồng mình chống đỡ.Nguyễn Duy đã nghiêm khắc đối diện với thực tại - bằng sự nhạy cảm của nhà thơ tài năng -
dũng cảm gửi gắm lời cảnh báo qua ĐÁNH THỨC TIỀM LỰC Toàn bài thơ toát lên tâm trạng
xót xa, trăn trở của một người yêu nước tha thiết, mãnh liệt rồi truyền cảm xúc cho người đọc
Trang 11Bài thơ nói về nhiều vấn đề cốt lõi đang trở thành nỗi đau nhức nhối khiến xã hội như ’’dậmchân hoài một chỗ’’ :
“ Sông giầu đằng sông, bể giầu đằng bể
còn mặt đất hôm nay thì em nghĩ thế nào
lòng đất giầu mà mặt đất cứ nghèo sao?
Lúc này ta làm thơ cho nhau
đưa đẩy làm chi những lời ngọt, lạt
ta ca hát qúa nhiều về Tiềm lực
Tiềm lực còn ngủ yên! “
Có những câu thơ, đọc lên, người đọc mủi lòng, rưng rưng:
“Xin em nhìn kìa - người cuốc đất
cái cuốc theo ta đời này, đời khác
đẹp lắm chứ cái tạo hình cuốc đất
Xin em hãy nhìn - người gánh phân gánh thóc
kẽo kẹt hai vai một nhịp cầu vồng
nhìn cái đẹp thế kia em có chạnh lòng không?
cái đẹp ấy lẽ ra không nên tồn tại nữa“
Suốt bài thơ luôn lặp đi lặp lại điệp khúc: Tiềm lực còn ngủ yên… Tiềm lực còn ngủ yên
-sau những thống kê hiện tượng : “ Vì tim mắc bệnh đập cầm chừng bộ óc mang khối u tự mãn con mắt lờ đờ thủy tinh thể lỗ tai viêm màng nhĩ lỗ mũi thở khò khè không phân biệt được mùi thơm (thối)’’ - nghiã là (bệnh) vô cảm của một cơ thể đang ốm nặng,
tác gỉa ’’bốc thuốc’’:
“Năng động lên nào!
Cần lưu ý cần lưu ý:
lời nói thật có thể bị buộc tôi
lời nịnh hót dối lừa
có thể được tuyên dương
lòng tốt lơ ngơ có thể lạc đường“
Một đoạn thơ mà như khái quát cả góc khuất thế thái nhân tình của cuộc đời:
“Có cái miệng làm chức năng cái bẫy
Sau nụ cười lởm chởm răng cưa
Có cái môi mỏng hơn lá mía
Hôn má bên này, bật mắu má bên kia
Có trận đánh úp nhau bằng chữ nghĩa “
Các điệp khúc như một câu hỏi của tác gỉa đau với nổi đau nhân quần
Nguyễn Duy lại tiếp tục mong thơ mình là tiếng hát, những không phải
“hát để mọi người cùng nhớ” , “về dáng hình bé nhỏ của anh lính thổi kèn”, cũng khôngphải “hát bài hát của cây”, “bài hát của trời”, “bài hát của sông” như trong những năm thángkháng chiến ác liệt và hào hùng trước đây, mà là tiếng hát vừa có “tiếng trong sáng của nắng và
Trang 12gió”, vừa có “tiếng chát chúa của máy và búa , “ tiếng dẻo dai của đòn gánh nghiến trên vai “, “tiếng trần trụi của lưỡi cuốc” để: “ĐÁNH THỨC TIỀM LỰC”.
Tiếng hát của Nguyễn Duy lúc này không chỉ là tiếng hát của một công dân, một nhà thơ ýthức sâu sắc về trách nhiệm nghĩa vụ của mình với đất nước mà còn là tiếng lòng của một conngười có ý chí, có bản lĩnh hơn người, vượt lên mọi hoàn cảnh khắc nghiệt, để kiên trì bền bỉ vớinghiệp thơ mà mình đã lựa chọn
Bài thơ dài 206 câu, mà câu nào cũng rớm mắu, thấm đẫm mồ hôi, chứa chan tủy, não Với bài thơ ĐÁNH THỨC TIỀM LỰC Nguyễn Duy như dội một gáo nước lạnh làm thứctỉnh những khối u tự mãn bởi lẽ nhà thơ dám nhìn thẳng vào những giới hạn của xã hội hiện đại,những tình trạng khủng hoảng trong cuộc sống của con người Nguyễn Duy không hề né tránhnhững bất công, ngang trái, những trì trệ ngủ yên trong lối tư duy cũ của đời sống con người Từ
đó , cho ta thấy được một Nguyên Duy đổi mới sau giải phóng
2 Những đổi mới trong bài thơ MƯA TRONG NẮNG-NẮNG TRONG MƯA
Nguyễn Duy thành công với thể thơ lục bát, đó là thể thơ làm nên sức mạnh trong thơ ông Lục bát của thơ Nguyễn Duy là lục bát “ đi bụi “ nghĩa là dọc theo cuộc đời bụi bặm, những ngang trái, trớ trêu đều đi vào trong thơ ông, nó vừa dân dã bụi bặm, vừa tinh nghịch,lém lỉnh, bụi bặm.Xin lấy bài thơ MƯA TRONG NẮNG- NẮNG TRONG MƯA làm dẫn chứng cho những đổi mới về phương diện nội dung và nghệ thuật, chủ yếu là nghệ thuật trong thơ Nguyễn Duy
Bài thơ: MƯA TRONG NẮNG-NẮNG TRONG MƯA
Bộn bề công việc bấy lâu
hẹn nhau dành dụm cho nhau một chiều
đường nào cũng lắm thương yêu
lối nào cũng đẹp rất nhiều lứa đôi
trong veo là nắng với trời
ngổn ngang thân mến là người với nhau
Chiều đang sâu thẳm một màu
tự dưng lộp độp ngang đầu - ồ mưa!
mưa rào giữa nắng hay chưa
hạt mưa ném thẳng có chừa ai đâu
vội vàng ta nấp vào nhau
mái đầu che lấy mái đầu thoảng hương
- Em đừng trách nhé, em thương
nào ai biết được giữa đường gặp mưa!
tiếng em như tiếng gió lùa:
- thôi, đừng nói giọng người xưa, buồn cười
Từ môi mưa giọt xuống môi
nhấm chung một hạt mưa rơi mặn mà
áo em ướt lẫn vào da
tóc lẫn vào gió, gió là sợi tơ
mắt em trong đến ngây thơ
trong như nắng giữa mịt mờ mưa giăng
Trang 13Nguồn: Nguyễn Duy, Ánh trăng, Nxb Tác phẩm mới, 1984
Lục bát của Nguyễn Duy là chiếc áo dài tân thời với những đường nét mới, táo bạo và
quyến rũ, hiện đại và đầy sinh lực Chúng ta sẽ thấy câu thơ lục bát của Nguyễn Duy dù khuôn trong sự đều đặn bất di bất dịch của dòng 6 và dòng 8 nhưng vẫn không dấu được vẻ ngang tàng,
phóng túng, mạnh mẽ… Dấu hiệu này thể hiện qua nhiều khía cạnh:
1 Nhịp thơ.
Thường thì thể lục bát có một lọai nhịp cơ bản, trực tiếp tạo nên âm luật cho nó là nhịp gồm hai tiếng (gọi tắt là nhịp hai), nghĩa là các dòng lục bát dựa trên sự tổ hợp trực tiếp từ các nhịp gồm hai âm tiết Như vậy, theo thông lệ, dòng lục gồm 3 nhịp hai, dòng bát gồm 4 nhịp hai:
“Êm đềm/ trướng rủ/ màn che
Tường đông/ ong bướm/ đi về / mặc ai”
(Truyện Kiều – Nguyễn Du)
“Cày đồng/ đang buổi / ban trưa
Mồ hôi/ thánh thót/ như mưa/ ruộng cày”
có 6 dạng ngắt nhịp phổ biến và dòng 8 chữ của lục bát có 10 dạng ngắt nhịp phổ biến Ở thơ Nguyễn Duy, dạng phổ biến và dễ thấy nhất ở câu bát bên cạnh nhịp chẵn (bao gồm, 2-2-2-2; 2-6; 2-4-2; 4-4) là dạng nhịp lẻ 3/3/2 Trong bài thơ MƯA TRONG NẮNG, NẮNG TRONG
MƯA:
“Mắt em trong đến ngây thơ
trong như nắng /giữa mịt mờ /mưa giăng”
Ngòai ra còn xuất hiện một số dạng ngắt nhịp ít gặp – và thường là nhịp lẻ như nhịp thơ 1/2/3/2:
“Tiếng em như tiếng gió lùa:
thôi,/ đừng nói/giọng người xưa/,buồn cười”
Dạng ngắt nhịp như thế này(3/3/2) chúng ta cũng có thể tìm thấy ở lục bát thế kỷ 18, chẳng hạn trong Truyện Kiều:
“Nửa chừng xuân/ thoắt gãy cành/ thiên hương”
“Đĩa dầu hao/ nước mắt đầy/ năm canh”
“Lời tan hợp/ chuyện xa gần/ thiếu đâu”
Đến thời Thơ Mới, Nguyễn Bính cũng có những câu thơ được ngắt thành nhịp lẻ 3/3/2:
“Bao giờ bến mới gặp đò
Hoa khuê các / bướm giang hồ/ gặp nhau?”
(Tương tư)
“Anh đi đấy, anh về đâu
Cánh buồm nâu/ cánh buồm nâu/ cánh buồm”
Trang 14(Cánh buồm nâu)
Đến thi ca đương đại, những câu thơ với dạng ngắt nhịp như vậy cũng xuất hiện: “Thập thò trong bụi tre gai
Hoa dong riềng/ của nhà ai/ nở hồng”
(Hoa dong riềng – Đồng Đức Bốn)
“Ba mươi năm một chuyến đò
Chưa xong chuyến/, lại thân cò /sang sông”
(Mong em về trước cơn mưa – Thu Bồn)
Trong thơ lục bát truyền thống, những nhịp lẻ thường xuất hiện trong câu lục khi có tiểu đối, ví dụ “Mai cốt cách/, tuyết tinh thần” (Truyện Kiều); “Người đón liễu/ kẻ đưa hoa” (Sơ kính tân trang); “Non cao tuổi/ vẫn chưa già” (Thề non nước – Tản Đà), và xuất hiện trong câu bát khi có hình thức đối ở 6 tiếng đầu, như ở những ví dụ đã nêu: Đĩa dầu hao/nước mắt đầy/ năm canh”; “Lời tan hợp/ chuyện xa gần/ thiếu đâu” (Truyện Kiều) Còn với thơ hiện đại, hiện tượng ngắt nhịp 3/3/2 ở câu bát ngòai lý do nêu trên, có thể còn là do nhịp điệu tâm hồn của nhà thơ chi phối Cái đều đặn của nhịp chẵn không đạt hiệu quả cao trong mục đích muốn diễn đạt những sắc thái phức tạp của đời sống nội tâm, nhưng nhịp lẻ thì có thể làm tốt việc này Ngắt nhịp lẻ sẽ thấy câu thơ gần với lời nói thường nhật, thấy nhịp điệu thơ gần với nhịp đời và lời thơ
vì thế mà dễ ghi dấu ấn sâu đậm trong lòng người ta hơn
Nhà thơ Nguyễn Duy từng tâm sự : Văn chương thời nào cũng cần “đụng đến kinh mạch của
xã hội” , nếu không được như vậy thì văn chương chỉ là “thú kể chuyện vặt qua ngày Để có vănthật đã khó, được người đời chấp nhận đó là văn thật lại càng khó hơn Nhưng hiện thực thì vốn muôn hình vạn trạng, còn bức tranh nội tâm thì lúc nào cũng phức tạp, thế nên thơ, nhất là câu thơ lục bát muốn sống được và hòa nhập được trong thời đại “xa lộ thông tin kẹt đường” hiện nay chắc chắn phải thay đổi phần nào cái tính êm đềm cố hữu của mình
2 Hiện tượng vắt dòng:
Sẽ dễ thấy ở lục bát Nguyễn Duy nhiều cách ngắt nhịp khác thường, đó có thể là sự can thiệp của các lọai dấu chấm câu:
“Chiều đang sâu thẳm một màu
tự dưng lộp độp ngang đầu- ồ mưa!”
hay: “ tiếng em như tiếng gió lùa:
- thôi, đừng nói giọng người xưa, buồn cười…”
“Biện pháp vắt dòng hướng tới một mỹ cảm của sự phá bỏ đối xứng đều đặn, cố làm cho dòng thơ diễn ra tự nhiên theo lối nói thường Nghĩa là từ ngữ và câu văn xuất hiện theo trật tự tuyến tính vốn có của câu văn xuôi, và bởi vậy mà dòng thơ lục bát bắt đầu gần gũi với câu thơ
tự do, mặc dù trên đại thể, nó vẫn “phục tùng” khá nghiêm chỉnh âm điệu của thi luật lục bát”
Sự cách tân này nảy sinh từ cách xử lý mối quan hệ giữa cấu trúc âm điệu dòng thơ với cấu trúc cú pháp ngữ nghĩa của câu thơ, chúng ta vẫn thấy hiện tượng này trong thơ ca hiện đại, chẳng hạn như trong Tiếng sáo Thiên Thai của Thế Lữ (Trời cao xanh ngắt Ô kìa – hai con hạc trắng bay về Bồng lai), trong Mùa hoa loa kèn của Ngô Quân Miện (Mưa phùn vừa dứt Tiếng ve– Cháy ran lên giữa trưa nhòe bóng cây), trong Cổng làng của Bàng Bá Lân (Cổng làng rộng mở
Ồn ào – Nông phu lững thững đi vào nắng mai) v.v… Ở thơ Nguyễn Duy, biện pháp vắt dòng khá phổ biến không chỉ ở thơ lục bát mà còn có ở các thể thơ khác Vì vậy mà có rất nhiều bài
thơ của ông, ở những chỗ xuống dòng, chữ đầu không viết hoa bởi là ý nối tiếp của câu trên,
dưới đây là một vài ví dụ ở thơ lục bát:
“Chiều đang sâu thắm một màu
Trang 15tự dưng lộp độp ngang đầu – ồ mưa!”
Hay:
“ Bốn bề công việc bấy lâu
hẹn nhau dành dụm cho nhau mấy điều
đường nào cũng lắm thương yêu
lối nào cũng đẹp rất nhiều lứa đôi”
(Mưa trong nắng – nắng trong mưa)
3 Đưa những câu nói, những đoạn đối thoại của cuộc đời thực tế vào trong thơ
Tính phá cách ở câu thơ lục bát còn thể hiện ở việc nhà thơ đưa những câu nói, những đọan đối thọai của cuộc đời thực tế vào trong thơ:
“- Em đừng trách nhé em thương
nào ai biết được giữa đường gặp mưa
tiếng em như tiếng gió lùa:
-thôi,đừng nói giọng người xưa, buồn cười…”
(Mưa trong nắng – nắng trong mưa)
Sự cải tiến dòng thơ lục bát của Nguyễn Duy và của rất nhiều nhà thơ cùng thời khác đã chứng minh sức mạnh nội tại trường tồn của thể thơ dân tộc Một mặt nó thay đổi về diện mạo đểthích ứng và hòa nhập vào dòng chảy chung của thơ ca thời đại mới, một mặt khác, cho dù biến hóa thế nào đi nữa thì thể thơ này vẫn giữ được cốt cách âm luật của riêng mình như nó vẫn đượcgìn giữ từ bao đời nay Có lẽ, với bản lĩnh này, lục bát chắc chắn sẽ không thể là thứ đồ cổ cũ kỹ
để trên bàn thờ tổ tiên mà vẫn có giá trị thực tiễn đối với nền thi ca Việt Nam đương đại Vấn đề chỉ còn tùy thuộc vào những người sử dụng món đồ cổ này, phải sử dụng sao cho thật khéo, thật sáng tạo để đem lại những năng lực biểu hiện mới
4 Phép trùng điệp trong tòan bài thơ, lặp từ trong từng dòng thơ và phép láy âm
Điều đáng bàn ở thơ lục bát của Nguyễn Duy không phải là sự mới lạ do gia công thêm vào
mà là sự vận dụng rất sáng tạo những thành quả sẵn có của lục bát truyền thống Những kiểu táchdòng, ngắt dòng, tạo nhịp theo nhiều hình thức khác nhau chưa phải là những cách tân đáng kể
và phổ biến của Nguyễn Duy với lục bát Yếu tố chủ yếu tạo nên diện mạo riêng của lục bát
Nguyễn Duy chính là cách vận dụng những lối diễn đạt phù hợp vào trong thơ mà tiêu biểu
là phép trùng điệp trong toàn bài thơ và lặp từ trong từng dòng thơ
Như trong bài thơ MƯA TRONG NẮNG- NẮNG TRONG MƯA từ “nắng” được lặp lại 3 lần, từ “mưa” lặp lại những 7 lần
Chúng ta vẫn biết, đặc điểm cơ bản của lục bát dân gian là chữ dùng giản dị, thiên về biện pháp láy âm và điệp từ, không thích điển cố, lại càng không thực hiện biện pháp đúc chữ, một biện pháp mà các nhà thơ hay chữ ngày trước rất thích Xin dẫn ra một ví dụ có sử dụng biện pháp này:
“Trải vách quế, gió vàng hiu hắt
Mảnh vũ y lạnh ngắt như đồng
Oan chi những khách tiêu phòng
Mà xui phận bạc nằm trong má đào?”
(Cung óan ngâm khúc – Nguyễn Gia Thiều)
Tác giả dùng gió vàng mà không dùng gió thu là có chủ ý Gió vàng được dịch từ chữ kim phong, và kim là vàng, theo ngũ hành thì mùa thu thuộc kim, cho nên gió vàng là gió thu Dùng gió vàng mới chọi được với chữ như đồng ở câu dưới Tương tự dùng chữ phận bạc để chọi với
má đào Tất nhiên tư duy mộc mạc của thơ ca dân gian sẽ không dung nạp được những hình thứccầu kỳ như thế này, mặc dù vậy, sử dụng thành thạo và nhuần nhuyễn những biện pháp của thơ
Trang 16ca dân gian không hề đơn giản Hàng trăm năm trước, đã từng có trường hợp một bậc thầy chữ nghĩa như Nguyễn Khuyến ngả mũ khâm phục trước hành động dám “nhả ngọc để thành rồng” của Nguyễn Du khi ông chọn lối diễn đạt của “những người trồng dâu, trồng gai” để tạo tác nên khúc Đọan Trường Tân Thanh kỳ vĩ
Việc đúc chữ cùng những khuôn mẫu gò ép của những phép đăng đối tất nhiên không còn là phương pháp ưa thích của các thi nhân hiện đại, khi mà hình thức câu thơ cần phải cố gắng hết sức để chuyên chở những sắc màu phong phú của cuộc sống hiện nay Nhưng phải thừa nhận việc sử dụng mạnh dạn và triệt để những mức độ khác nhau của các phép trùng điệp, lặp từ là một đặc điểm khá nổi bật ở thơ Nguyễn Duy Như đã phân tích ở phần trước, phép trùng điệp được Nguyễn Duy sử dụng với tỉ lệ rất cao trong thể thơ tự do, nay ở lục bát, tỷ lệ này cũng
chiếm đến gần 20% Nhiều nhất là trường hợp điệp từ trong trong khuôn khổ của câu thơ , đặc
biệt là dạng lặp từ cách quãng đều đặn:
“ mái đầu che lấy mái đầu thoảng hương”
Hay:
“ từ môi mưa giọt xuống môi”
Và
“ tóc lẫn vào gió, gió là sợi tơ”
Chỉ khảo sát riêng trong thể thơ lục bát, dạng lặp từ cách quãng nói trên đã chiếm tỉ lệ sử dụng xấp xỉ 60% (29 lần/48 bài có sử dụng phép trùng điệp) Có thể khẳng định đến ngay cả ca dao cũng không thể có một tỉ lệ áp đảo như thế (xét trên tổng thể)! Nếu cảm nhận theo cảm tính, biện pháp lặp này tạo ra sức nặng đặc biệt cho ý nghĩa của câu thơ Đó là sức nặng của cảm xúcnội tâm Khi nội tâm tràn đầy cảm xúc thì ngôn ngữ thể hiện cũng phải chứa đựng một mức độ thừa thãi khá cao, nói như nhà nghiên cứu Phan Ngọc thì “cái thừa đó là cái thừa nghệ thuật” Những câu thơ mà cảm xúc của chủ thể rơi vãi cả ra ngòai khuôn ngôn ngữ chứa đựng nó thừơng luôn dành được sự chia sẻ mãnh liệt và tận cùng của người đọc, bởi một lẽ duy nhất : nó
chân thật như cảm xúc lúc tức thời Điệp từ luôn có ý nghĩa là nhấn mạnh, nhưng nhiều khi, nếu biết dùng sáng tạo, đặc biệt là biết chú ý đến tính hài hòa của nhịp điệu, âm thanh và hình ảnh, thì biện pháp này còn làm được nhiều hơn thế nữa:
“ Chiều đang sâu thẳm một màu
Tự dưng lộp độp ngang đầu - ồ mưa”
Hay:
“ áo em ướt lẫn vào do
Tóc lẫn vào gió, gió là sợi tơ”
Việc kết hợp hài hòa giữa nhịp điệu âm thanh, hình ảnh tạo ra được một khung cảnh vừa có nhạc, vừa có họa lại vừa có hồn Kỳ ảo mà sinh động Đó cũng có thể được xem như là một sự
“thừa thãi nghệ thuật” Nguyễn Duy còn rất nhiều những câu thơ như vậy
Đặc biệt là có sử dụng kết hợp lối điệp từ với thủ pháp láy âm – một thủ pháp của thơ
Pháp mà nhà thơ Xuân Diệu đã từng sử dụng rất thành công trong bài Đây mùa thu tới (“Rặng
liễu đìu hiu đứng chịu tang – Tóc buồn buông xuống lệ ngàn hàng…”), ở thơ lục bát , Nguyễn Duy thường xuyên sử dụng từ láy “loằng ngoằng mà có duyên” Trong bài thơ MƯA
TRONG NẮNG- NẮNG TRONG MƯA tác giả dung các từ láy như: ngổn ngang, lộp độp,mit
mờ, mặn mà…
Các từ láy hết sức bình thường nhưng tạo được điểm nhấn cho bài thơ
Dung hòa được chất truyền thống và hiện đại, tạo ra cái mới mà không xung đột với cái cũ
là một điều không phải dễ dàng gì đối với nhiều nhà thơ hiện nay Có thể thấy Nguyễn Duy phần nào cũng đã khẳng định được phong cách nghệ thuật riêng của mình qua những thể nghiệm này
Trang 17Tất nhiên là vẫn có những lúc quá đà (trong trường hợp của một số bài thuộc phần “Lục bát đi sứ”) gây cảm giác chóang cho người đọc, nhưng nhiều hơn, người ta vẫn thấy lục bát của
Nguyễn Duy mang một vẻ đẹp vừa quen thuộc vừa độc đáo, vừa mang hồn phố những vẫn còn hồn quê …Và quan trọng hơn – khi ngâm nga những câu lục bát ấy, người ta biết đó là lục bát của nhà thơ Nguyễn Duy chứ không phải của ai khác!
III Kết luận
Thơ lục bát cũng như thơ tự do của Nguyễn Duy đều ngầm chứa cái hồn dân gian bình dị ẩn trong vẻ ngoài hiện đại, khoẻ khoắn Chúng hoàn toàn phù hợp với cá tính ưa suy ngẫm và thích mô tả chi tiết những “việc lớn việc nhỏ” đang ngày ngày diễn ra trong cuộc sống ởnhà thơ.Qua việc tim hiểu hai bài thơ ĐÁNH THỨC TIỀM LỰC VA MƯA TRONG NẮNG- NẮNG TRONG MƯA chúng ta co thể thấy được phần nào những đổi mới trong thơ ông
Đây là lời tâm tình của một nhà văn đã miệt mài với văn chương và trở thành một cây bút có
sức bền với thể loại truyện ngắn - Nhà văn Trần Thùy Mai - Một điển hình cho thế hệ nhà văn
Việt Nam hiện đại sau 1975
Ray Mond Carer - Một trong những bậc thầy truyện ngắn thế giới khẳng định: “Ngày nay,
ắt hẳn tác phẩm hay nhất, tác phẩm hấp dẫn nhất và thỏa mãn về nhiều mặt, thậm chí có lẽ tác phẩm có cơ hội lớn nhất để trường tồn chính là tác phẩm được viết dưới dạng truyện ngắn” Đối
với Trần Thùy Mai, từ truyện ngắn đầu tay đến những truyện ngắn về sau này, nhà văn luôn xây
dựng cho tác phẩm của mình những hình ảnh, ngôn ngữ, văn phong trong sáng Trong sáng đến mức người đọc luôn có cảm giác như tác giả có một nguồn đam mê đắm đuối và đuổi theo một thứ ánh sáng kì ảo giữa cuộc sống đời thường cùng với giọng văn nhẹ nhàng, êm diệu, đầy chất thơ Ngòi bút của chị có sức sống mãnh liệt vì chất “đời trong đời”, bởi những trang viết của chị chứa đựng nhiều mảnh ghép cuộc đời… Có những cuộc đời nho nhỏ… Có cuộc đời thoáng qua… Có cuộc đời gặp một lần rồi hun hút… Nhưng vấn đề là không phải nói ai, viết về ai, thấp thoáng cuộc đời của ai, mà là cái thông điệp đằng sau, là cái tâm hồn mà chị gửi gắm qua hệ thống nhân vật của mình
Trong truyện ngắn Trần Thùy Mai, kiểu nhân vật điển hình là kiểu nhân vật tâm tưởng Tác
giả tiếp cận cuộc sống từ nhiều góc độ vận động, biến chuyển càng về sau càng đậm sâu Thoạt tiên cuộc sống hiện ra có phần đơn giản và có tính chất bề nổi qua câu chuyện kể Nhưng rồi sau
đó Trần Thùy Mai có vẻ lắng vào bên trong, đi vào chiều sâu lắng đọng để đặt ngòi bút của
mình vào trạng thái tâm tưởng của nhân vật Trăng nơi đáy giếng là một trong số rất truyện đem
đến sự thành công cho ngòi bút này và được nhiều độc giả yêu thích đón nhận
Ở đó, ta tìm thấy “tình yêu tràn ngập trên trang viết” Trong một cuộc sống vốn đa chiều và phức tạp như thế này, thì tình yêu dẫu có mất mát, phụ bạc và đớn đau đến mức nào, con người
chỉ tìm thấy hạnh phúc đích thực khi có nó, ví như nhân vật Hạnh trong Trăng nơi đáy giếng
Một lối văn nhẹ nhàng, giản dị với những câu chuyện về đời sống thường nhật, những vấn đề muôn thuở của tình yêu như yêu và được yêu hay sự hi sinh, lòng vị tha, lòng chung thủy, tình yêu cá nhân của con người chịu tác động mạnh mẽ của xã hội Những lẽ sống thoáng qua cuộc
Trang 18đời nhưng để lại dấu ấn sâu đậm trong kí ức, mở ra sự lựa chọn mới mẻ nhưng đồng thời cũng khép mình lại trong sự lựa chọn đời thường.
Là một người phụ nữ của mảnh đất Cố đô giàu truyền thống văn hóa, nơi có dòng sông Hương thơ mộng, trữ tình trong khói biếc, tinh khôi trong sớm mai, dường như tâm hồn chị thuộc về thế giới những người phụ nữ, của những đền đài phủ rêu kiêu kì, vàng son nhưng u hoài, nhưng đâu đó vẫn chứa một khúc nhạc lòng nơi đáy thẳm dòng sông Chính Huế với cái đẹp vĩnh cửu đã đi vào nuôi dưỡng tâm hồn, văn phong của nhà văn Ở đó, hình ảnh người phụ
nữ hiện lên với nét dịu dàng, đằm thắm, duyên dáng vô cùng, rất thuần chất Việt mà cũng rất cam chịu và giàu tình thương Điều đó hiện lên rất rõ cùng với những bất bình, hà khắc của xã
hội một thời lạc hậu Mỗi mảnh đời phụ nữ là những mảnh vỡ “Thiên thạch”, đẹp nhưng không
trọn vẹn với hạnh phúc, kiêu kì nhưng vỡ nát và phần lớn bị vùi dập trong đất cát hoang tàn của một thời đại ít ai nhận ra…
Qua đó, điều ta cảm nhận được cái nhìn đầy tinh tế và ý vị của nhà văn với những thứ tưởng chừng như nhỏ bé vô cùng nhưng lại chính là hạnh phúc vĩnh cửu Đó là cái nhìn về một thời ta
đã sống, đã đi qua và cũng là nơi cất giấu những giọt nước mắt cuộc đời: vui có, đau khổ có và còn có cả những giọt nước mắt cảm thương cho những cảnh ngộ bi đát hơn mình Đó là sự trộn lẫn giữa quá khứ và hiện tại, giữa cái được và cái mất, giữa cái vô hình và cái hữu hình Sự nhìn lại đó giống như mũi tên xuyên thủng không gian cuộc đời Với những cái cảm đầy tinh tế cùng
với cách quan sát tinh vi của mình, Trần Thùy Mai dường như đắm mình trong ngõ ngách cuộc
đời và cũng đã từng chạm tới bản chất sâu hun hút của nó…
Chính từ sự khám phá, đào sâu vào từng ngóc ngách của cuộc sống với những vấn đề mang
đậm chất nhân sinh từ chất liệu hiện thực, Trần Thùy Mai đã mang đến những trang văn của
mình những cái nhìn mới, mang tính chất hiện đại, đổi mới của văn xuôi Việt Nam sau năm 1975
1 TRẦN THÙY MAI – SỰ KHÁC BIỆT VÀ SỰ ĐỔI MỚI ĐẾN TỪ GIÁ TRỊ CỔ ĐIỂN
1.1 KHÁI QUÁT VỀ TIỂU SỬ VÀ SỰ NGHIỆP CỦA NHÀ VĂN
1.1.1 Khái quát về tiểu sử
Nhà văn Trần Thùy Mai tên thật là Trần Thị Thùy Mai, sinh ngày 8 tháng
9 năm 1954 tại Hội An, Quảng Nam Quê quán: làng An Ninh Thượng, xã Hương Long, huyệnHương Trà, (nay là phường Hương Long, Thành phố Huế), tỉnh Thừa Thiên Huế
Trần Thùy Mai bắt đầu được các bạn trẻ yêu thích văn chương ở Huế biết đến khi đang
học ở trường Đồng Khánh những năm trước giải phóng Tốt nghiệp Tú tài từ 1972, chị thi đậuthủ khoa môn văn Đại học Sư phạm Huế Sau 1975, chị học tiếp Đại học Sư phạm Năm 1977,
sau khi tốt nghiệp, Trần Thùy Mai được giữ lại trường, làm công tác giảng dạy và nghiên cứu
môn Văn học dân gian Năm 1987, chị quyết định chuyển sang làm biên tập viên ở Nhà xuấtbản Thuận Hóa Với lối rẽ này, Trần Thùy Mai đã chọn nghiệp viết làm con đường đi cho riêngmình
1.1.2 Sự nghiệp
Suy nghĩ về nghề văn của nhà văn Trần Thùy Mai: “Cứ mỗi lần trèo qua một con dốc thì
lập tức xuất hiện trước mắt mình một con dốc khác cao hơn Thế là lại đi và đi mãi như thế
Trang 19trong gió ngược Nhiều khi mỏi mà không muốn dừng bởi hai bên đường nhiều hoa thơm cỏ
lạ quá Cứ muốn hái và ôm đầy tay ”
Trần Thùy Mai là một trong những nhà văn nữ viết khỏe và khá đều tay hiện nay “Những
truyện ngắn của chị rất đa dạng, phảng phất không khí đất trời xứ Huế, quan tâm đến mọi mặt của cuộc sống, nhất là lớp trẻ và nhìn họ với một con mắt đầy yêu thương và hy vọng” Trong
khoảng 10 năm trở lại đây, Trần Thùy Mai viết nhiều về những đề tài và nhân vật lịch sử, đặc biệt là những nhân vật nữ in bóng trong lịch sử triều Nguyễn, gắn liền với Kinh thành Huế
Trần Thùy Mai từng tâm sự: “Với tôi, viết là một nghề Nó giống như mọi nghề khác ở
chỗ phải có kỹ năng và lương tâm Vì thế, trong cuộc đời tôi đã có nhiều lúc buồn nản nhưng chưa bao giờ thấy chán viết, chưa bao giờ muốn bỏ bút” .
* Các giải thưởng:
Sáng tác của Trần Thùy Mai có nhiều sự đổi mới và mang lại giá trị cao, chính vì thế chị đã
được vinh danh trong nhiều giải thưởng về văn chương:
• Giải B, giải thưởng Văn học Nghệ thuật Cố đô lần thứ hai, (1998) cho Tập truyện ngắn
Thị trấn hoa quỳ vàng.
• Giải C, Giải thưởng Văn học thiếu nhi Vì tương lai đất nước của Nhà xuất bản Trẻ (2002) cho truyện dài thiếu nhi Người khổng lồ núi Bạc.
• Giải B, Hội Nhà văn Việt Nam (2002, không có giải A) và Giải A, giải thưởng Văn học
Cố đô lần thứ ba(2005), cho tập truyện ngắn Quỷ trong trăng.
• Giải thưởng Ủy ban Toàn quốc Liên Hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam (2003)
và Giải A, giải thưởng Văn học Nghệ thuật Cố đô lần thứ tư (2008) cho tập truyện ngắn
Nhiều truyện ngắn của Trần Thùy Mai đã được chuyển thể kịch bản sân khấu hoặc dựng
thành phim như: Hãy khóc đi em (2005), Gió thiên đường , Thập tự hoa (2005), Trăng nơi đáy giếng (2009).
1.2 ĐẶC ĐIỂM SÁNG TÁC
1.2.1 Sự đổi mới đến từ giá trị cổ điển
Trang 20Xuất hiện trong dòng chảy của các tác giả văn xuôi hậu chiến nói chung, văn xuôi nữ giới nói riêng, Trần Thùy Mai đã tạo dựng được một phong cách văn xuôi nhẹ nhàng, tinh tế nhưng để lại những ấn tượng sâu đậm trong lòng bạn đọc Với hơn 30 năm sáng tạo, Trần Thùy Mai có nhiều tập truyện nổi tiếng; truyện ngắn của chị đạt nhiều giải thưởng văn học,
và được dịch sang nhiều thứ tiếng như: Anh, Pháp, Nhật
Viết khỏe và đều tay, Trần Thùy Mai với hàng trăm truyện ngắn nhưng vẫn không gây nhàm chán cho bạn đọc Bí quyết của sự thành công ấy chính là chỗ Trần Thùy Mai đã hướng
đến, và thành công với một lối viết cổ điển theo nghĩa tích cực của từ này Cái cổ điển hiểu như
những giá trị thẩm mỹ đã ổn định, đi vào mẫu mực Cổ điển của truyện ngắn Trần Thùy Mai,
đến từ cả hai bình diện hình thức và nội dung Thực thế, người ta không tìm thấy trong truyện ngắn của chị những ý đồ cách tân lối viết một cách mạnh mẽ như các trào lưu viết bây giờ đang
xiển dương (như “lối viết hậu hiện đại” chẳng hạn) Người ta cũng không tìm thấy trong truyện
của Mai những chủ đề “nóng” mà văn học hiện nay đang cố gắng khoét sâu vào thị hiếu bạn đọc như dục tính Văn của Trần Thùy Mai xa lạ với những trận gió mới của thời đại, văn của Mai vẫnướp hương của truyền thống
Là một phụ nữ Huế nhẹ nhàng, tinh tế và sâu sắc, Trần Thùy Mai thấm thía nỗi đau, sự tổn thương và mất mát trong tình yêu Một điều dễ dàng nhận thấy, Trần Thùy Mai dành tình
cảm ưu ái rất riêng cho các nhân vật nữ của mình: “Cuộc sống vốn đa chiều và phức tạp Tình yêu cũng không nằm ngoài quy luật khắc nghiệt ấy Thế nhưng, tình yêu dẫu mất mát, phụ bạc
và đớn đau đến nhường nào thì con người cũng chỉ thật sự tìm thấy hạnh phúc khi có nó”.
Chính vì thế, tình yêu trong truyện ngắn Trần Thùy Mai không đơn thuần là một câu chuyện
lãng mạn, thấm đẫm nước mắt để “câu khách” mà đó là cái cớ để chị nói về cuộc sống vớinhững con người đang ngày ngày sống, yêu và ruồng bỏ tình yêu của chính mình Mỗi câuchuyện đau đáu một nỗi niềm
Với lối hành văn nhẹ nhàng, những câu chuyện của chị như tâm sự thường ngày, những chủ
đề “muôn thuở” của con người, tưởng thoáng qua trong cuộc đời nhưng lại ở lại đậm sâu trong
ký ức, sự lựa chọn trong tình yêu, tình bạn, những sa ngã đời thường, và hơn hết là thế giới của người phụ nữ…
Người ta có thể, có quyền nghi ngờ câu nói của Buffon: “Văn là người”, nhưng người ta
vẫn phải thừa nhận, câu nói của Buffon đã thành cổ điển, nó là chân lý quen mặt mà nhiều người trong chúng ta biết, và thấy đúng Trần Thùy Mai chính là hiện hữu đúng cho chân lý của Buffon Bí mật văn Trần Thùy Mai còn nằm nơi con người chị, nói sát hơn, tâm hồn chị Mà tâm hồn Trần Thùy Mai thì thuộc về Huế, về người phụ nữ Huế, của đền đài phủ rêu, kiêu kỳ,
vàng son nhưng u hoài Huế của dòng sông Hương mộng mơ trong sương mù, tinh khôi trong sớm mai và chứa sóng gió nơi lòng sông Chính Huế với cái đẹp vĩnh cửu đã đi vào cổ điển, đã
nuôi dưỡng văn giới của Trần Thùy Mai Cái lối trình bày, hay lối nhìn về cuộc đời trong truyện ngắn Trần Thùy Mai, vì thế, là lối quan sát kiểu Huế, và Huế nhất là nơi người phụ nữ
Cái nhìn vào những đổ vỡ, hay hạnh phúc đời thường một cách tinh tế trong những quan sát
cực nhỏ để chạm vào cái bản chất cuộc đời đó là cái nhìn trong truyện ngắn Trần Thùy Mai.
Nhưng hơn hết, sự nhân ái trong cuộc đời luôn bao trùm trong truyện ngắn, là cái đọng lại sau mỗi câu chuyện của Trần Thùy Mai Đã là người thì phải biết yêu thương, che chở, cảm
thông cho nhau, nhất là mỗi khi vấp ngã trong đời Thông điệp truyện ngắn của Trần Thùy Mai
hấp dẫn người ta bởi lòng nhân hậu, nhưng không phải là sự rao giảng nhân hậu, mà thực hành nhân hậu Người với người cần tình thương yêu không phải vì đề cao đạo đức con người, mà đơn
Trang 21giản tình người cần hiện diện, bởi đó là một lối nương dựa lẫn nhau giữa người với người trong
thế giới, chung vai sát cánh để cùng nhau sống Trần Thùy Mai tinh tế nhất là khi phân tích tâm
hồn người phụ nữ, chẳng hạn như: Thanh Thúy Tàu (truyện Gió thiên đường), Ngân (truyện Đêm tái sinh), Lan (truyện Thương nhớ hoàng lan) sống động, sống mãi trong lòng người
đọc vì nhiều lý do Nhưng trước hết họ sống vì qua cách miêu tả của Trần Thùy Mai, những chỗ
tinh nhạy trong lòng người phụ nữ với âu lo, băn khoăn, trở trăn hay hân hoan, thù hận hay yêu
thương, đều được Trần Thùy Mai trải ra trên mặt chữ chân thành và tinh tế.
Trần Thùy Mai đã lựa chọn cái cổ điển đầy khắc nghiệt để làm sinh quyển tồn tại cho sự viết Từ cái nền cổ điển, Trần Thùy Mai đã kiến tạo nên cái riêng của mình bằng một phong cách văn xuôi nữ giới mang đậm đặc dấu ấn nữ tính, đàn bà tính, kiểu Huế hướng đến những vấn đề mang đậm tính nhân sinh trên những câu chuyện đời thường, để lại nhiều suy nghĩ cho độc giả trong cuộc sống hiện đại Và đấy là chỗ “đổi mới”, hay nói chuẩn xác hơn, chỗ “khác” mọi người để Trần Thùy Mai đứng lại trong văn chương.
1.2.2 Một số ý kiến đánh giá về văn chương Trần Thùy Mai
Về văn chương của Trần Thùy Mai, PGS.Tiến sĩ Văn học Hồ Thế Hà từng nhận
định: “ Những nhân vật của Trần Thùy Mai thường không bình lặng Họ cô đơn, hẫng hụt, tiếc nuối nhưng không bao giờ từ bỏ khát vọng sống của mình bằng cách bơi ngược dòng sông ký ức
để làm sống lại những điều tốt đẹp Đọc Trần Thùy Mai, tôi bị cuốn hút bởi chất nhân ái và triết lý này Con người dù giận hờn, hằn học nhưng trong tận cùng sâu thẳm của ý thức cộng đồng, họ âm thầm sẻ chia và nhận nỗi đau về mình để được kéo dài ra trong niềm vui của người khác, để được yêu trong trắc ẩn dù có khi không tránh khỏi sự đối xử thờ ơ, nguội lạnh của tha nhân ”
Nguyễn Vinh Sơn, đạo diễn bộ phim Trăng nơi đáy giếng, một đồng hương xứ Huế với nữ
nhà văn thì nhận xét: “Cảm nhận của Trần Thùy Mai đầy Huế Chất thơ là thuộc tính của người Huế từ cung cách đi đứng, nói năng đến lối sống thâm trầm, sâu sắc, tinh tế ”
Nhà báo Hoàng Nguyên Vũ cho rằng: “Càng về sau văn chị viết càng đời, càng đầy đủ
mặn ngọt đắng cay của những phận đời trong đó Dù những cái kết được báo trước nhưng người đọc vẫn muốn nếm hết những vị đắng cay, điệu man mác cho đến những dòng cuối cùng”.
2 TRĂNG NƠI ĐÁY GIẾNG – TÁC PHẨM TIÊU BIỂU CHO NHỮNG NÉT ĐỔI
MỚI CỦA VĂN XUÔI VIỆT NAM SAU NĂM 1975 CỦA TRẦN THÙY MAI
2.1 GIỚI THIỆU SƠ LƯỢC VỀ TÁC PHẨM
2.1.1 Xuất xứ
- Trăng nơi đáy giếng ra mắt lần đầu tiên trên tạp chí Nhà Văn số 6-2001 và được Báo Văn
Nghệ đăng lại vào kì số 13 phát hành ngày 30-3-2002
-Trăng nơi đáy giếng đã được chuyển thể thành bộ phim cùng tên do đạo diễn Nguyễn Vinh Sơn thực hiện Bộ phim này đã đoạt giải Cánh diều vàng năm 2008 Nữ diễn viên Hồng Ánh trong vai Hạnh đã đoạt giải nữ diễn viên xuất sắc trong Liên hoan phim quốc tế Dubai 2008 và giải nữ diễn viên chính xuất sắc của giải Cánh diều vàng năm 2008.
2.1.2 Tóm tắt
Trăng nơi đáy giếng là câu chuyện kể về cô Hạnh, một người phụ nữ hết lòng hi sinh cho
chồng, tôn thờ chồng như một vị thánh sống nhưng cuối cùng vẫn không có được hạnh phúc
Cô Hạnh là một người phụ nữ rất đảm đang, nhu mì, chu đáo, sống theo lối sống chỉn chu của người phụ nữ truyền thống Cô Hạnh chăm lo cho chồng từng li từng tí, ngay cả những hôm trời mưa, người trong xóm đều thấy cô Hạnh xách tô ra đầu ngõ mua bún cho chồng, tay cô cầm chiếc nón che kín tô bún, chứ chẳng nhớ che đầu Còn thầy Phương-chồng cô Hạnh là một ngườinho nhã, mảnh mai, trắng trẻo, con nhà dòng dõi được cưng chiều từ nhỏ nên thầy rất kén ăn,
Trang 22phải chăm từng chút Thầy không làm bất cứ việc gì trong gia đình, thậm chí khi trời mưa thầy chỉ lấy dùm cô Hạnh cái áo trên dây phơi, chứ cái quần để mặc thì thầy không hề đụng đến.Thầy
là một người rất kỹ tính, thích sự tươm tất, gọn gàng, sạch sẽ
Hai vợ chồng lấy nhau được mười năm mà vẫn không có con Cô Hạnh biết mình không thể sinh con, cô rất buồn nhưng cô lại rất yêu chồng Là con nhà dòng dõi mà không có con để nối dõi, thầy cũng buồn.Thương chồng, yêu chồng, không chịu nổi vẻ buồn thầm lặng trên khuôn mặt chồng nên cô Hạnh đã tự tay sắp đặt, bí mật tìm một người phụ nữ khác để sinh con cho chồng Đó là Thắm, một cô gái quê hiền lành Ban đầu, cô Hạnh và Thắm chỉ thỏa thuận với nhau là để cho Thắm là người đẻ thuê Cô Hạnh chăm lo từng li từng tí cho cô Thắm, từng chục trứng gà, từng chai mật ong, cô đều chuyển về làng để tẩm bổ cho cái thai của Thắm Đến khi đứa con trai ra đời, cô Hạnh bế lấy nó, Thầy Phương quàng vai cô vỗ về “Con của em đó” Nghe chồng nói, cô ứa nước mắt vì sung sướng…Cô Hạnh tưởng làm như vậy là có thể mang lại hạnh phúc cho hai vợ chồng nhưng chuyện đời lại không đơn giản Cái tin đồn thầy Phương có vợ nhỏ
đã đến tai của nhà trường, Công đoàn, Đảng ủy, bà Thu – thư kí Công đoàn trường Thuận Đạt đã đến gặp riêng cô Hạnh vì vấn đề này.Cô Hạnh nghe bà Thu nói về tin đồn, cô không tỏ vẻ ngạc nhiên mà cô lặng lẽ, dịu dàng, bình thản Bà Thu kinh ngạc đến hụt hẫng trước phản ứng của cô Hạnh, bà cứ tưởng cô Hạnh sẽ ngất đi, hoặc ít ra cũng níu lấy bà hỏi vặn đủ điều Chờ mãi khôngnghe cô Hạnh nói gì, bà Thu phát cáu lên, cô Hạnh thở dài khẳng định thầy Phương không phải
là người phản bội mà mọi chuyện là do cô sắp đặt và hứa giữ bí mật cho thầy
Sắp đến kì bầu tín nhiệm hiệu trưởng, những người vốn xưa nay ghen tỵ với thầy tìm cách
để phế truất cái ghế hiệu trưởng của thầy Một người lãnh đạo không chỉ có tài mà phải có đức, thầy Phương nay mang tiếng là người có hai vợ, nên những người vốn ghét thầy thấy hả hê, rungđùi, cười khẩy
Đầu tháng ba, cuộc bầu tín nhiệm được tổ chức, trong khi mọi người nóng lòng chờ thầy Phương đứng dậy rút lui, tự kiểm điểm, cô Hạnh đã đứng lên và đưa ra trước Hội đồng tờ giấy chứng nhận li hôn giữa cô và thầy Phương cùng với tờ giấy đăng kí kết hôn giữa thầy Phương và
cô Thắm Việc làm này của cô Hạnh đã giúp cho thầy Phương không những không bị kỉ luật mà chức hiệu trưởng của thầy cũng khó có thể mà rung rinh nhưng điều đó cũng đồng nghĩa với việc
cô Hạnh lại mang tiếng là người sống chung với chồng của người khác Một lần nữa, bà Thu phảiđến gặp riêng cô Hạnh nói rằng cô đã phạm pháp khi sống chung như vợ chồng với chồng của người khác Cô sững sờ, buồn lắm, đau lắm nhưng không còn cách nào khác, đành phải âm thầm, lặng lẽ nhìn chồng mình ở trong tay một người phụ nữ không phải là mình
Sau đó, cô Hạnh đã phải đành lòng dốc hết tiền của góp trong người mười mấy năm mua một căn nhà ở ngoại ô để thầy Phương đưa cô Thắm lên sống cùng, còn cô thì ở lại ngôi nhà cũ Thỉnh thoảng, thầy Phương cũng đến thăm nhưng đến một lúc rồi lại đi ngay Cô sống một mình,căn nhà trống vắng đến khủng khiếp, bị đau, cô cũng không cho chồng hay, cô tìm đến bà đồng Thơi để chích lễ giải cảm
Đại hội Chi bộ đã qua, thầy Phương lại được tín nhiệm cao, cô mừng, cô nhắn cô Thắm chăm sóc thầy chu đáo, vì không có ai khó chăm như thầy, thấy cô Thắm nhất nhất vâng dạ, cô cũng an tâm, vui mừng
Tết đến, cô Hạnh lo chuẩn bị mua nếp gói bánh Khi qua nhà bà Thu, nhờ bà ấy mua giúp,
cô Hạnh đã chững lại khi vô tình nghe được cuộc nói chuyện giữa thầy Phương, bà Thu và cô Thắm Cô Hạnh mới biết sự thật rằng thầy Phương và Thắm đã có quan hệ thân thiết với nhau từ trước mà thầy đã giấu cô Nghe được điều này, cô suýt ngã khi bước xuống thềm, cô lặng lẽ bỏ
về, rồi cứ thế đi trong đêm như người ngây, đi mãi mới biết mình đã đến nhà bà đồng Thơi lúc nào không hay Bà Thơi an ủi cô Hạnh
Trang 23Tết năm ấy, cô Hạnh sốt li bì, rụng gần nửa đầu tóc Chiều mùng 3 Tết, vợ chồng thầy Phương đến thăm Cô ước gì thầy tới đây một mình, mình được khỏe mạnh để chăm sóc, lo lắng cho thầy như xưa Cô đã ứa nước mắt, sau đó cô xin cô Thắm cho thằng cu Nhứt – con trai của
cô Thắm với thầy Phương tới ở với mình
Tháng sau, Thắm sinh đứa con thứ hai, cu Nhứt về ở với cô Hạnh, thằng bé bồng theo một con chó con Cô như người sống lại, cô lại trồng khoai, lại nuôi gà, lại để giành từng quả trứng
Cô vui vì được cu Nhứt gọi là mẹ Căn nhà tưng bừng lên tiếng trẻ con, tiếng chó gâu ăng ẳng Khi cô Thắm đã cai sữa cho đứa con thứ hai, cô tới đón cu Nhứt về nhà ăn Tết Cô Hạnh lại lủi thủi một mình, ngày ngày ngóng trông cu Nhứt trở lại, nhưng không thấy và đến cả con chó
mà cu Nhứt đem theo cũng chạy đi luôn Thương nhớ con, cô lững thững đạp xe lên thăm con.Khi đến nhà thầy Phương, cô ngạc nhiên vì cảnh vật xung quanh thay đổi Cô buồn, tim cô phập phồng đau đớn vì cu Nhứt không gọi cô bằng mẹ nữa mà gọi bằng bác, nhưng cô càng đau đớn hơn khi chứng kiến cảnh người thánh sống - người chồng mà cô hết lòng thương yêu, kính mến, thần tượng mà cô tôn thờ ngồi bên vòi nước, đang lúi húi giặt một đống quần áo đủ loại, đánh chà chà trên sân sỉ mắng Cô sững sờ, ngẩn cả người không sao nói một lời Về đến nhà, cô lăn ra khóc, khóc thảm thiết Cô rủ rượi, đau buồn và ốm nặng
Mọi người trong xóm cư tưởng phen này cô Hạnh sẽ chết vì mấy lần cô bắt chuồn chuồn, cấm khẩu Nhưng ngạc nhiên thay, cô không thuốc men gì mà đi lại như thường Cô xin về hưu non lại tiếp tục sống cuộc sống đạm bạc cần cù như thuở nào Người ta lại thấy trước nhà cô có
những cái áo nhỏ xanh đỏ phơi trên dây, ai hỏi cô lại nói đó là “áo thằng cu May cho thằng cu mặc Tết” Còn trong nhà, cô Hạnh lập bàn thờ đồ sộ, được gia công hoành tráng để thờ người
chồng cõi âm mà cô đã kết hôn Cô chăm sóc ông Hoàng Bảy, trấn thủ tỉnh Thừa Thiên – người chồng cõi âm hàng ngày rất chu đáo, cẩn thận như người chồng cũ trước đây, ông Hoàng Bảy này theo lời nói của bà đồng Thơi thì đây là một người vai vế lớn lắm là con thứ bảy của Đức Mẫu Lâu nay, ông với cô Hạnh đã có một con trai ở cõi vô hình mà cô Hạnh đâu hay Một lần đến thăm cô Hạnh, thấy cô Hạnh mang thức ăn lên bàn người âm cúng và thầy Phương đã van xin cô Hạnh đừng tin vào các chuyện mê tín ấy nhưng cô chẳng nói gì, điều đó làm ông bực tức
và đập mạnh tay xuống bàn như quát Cô Hạnh như bị xúc phạm và đã vớ lấy cả khay ấm chén trước mặt ném vào người thầy Phương Thầy Phương vội vã ra về, cô Hạnh đóng cửa lại và quyết chí sống cùng người cõi âm, hàng ngày cô Hạnh chẳng quan tâm đến ai, cứ ra vào trong ngôi nhà vắng tanh với nụ cười mãn nguyện của một người đàn bà hạnh phúc Kết thúc tác phẩm
là hình ảnh cô Hạnh thung dung đi chợ chọn mua vải may chiếc áo dài mớ để tháng Ba này ngược sông Hương trảy hội mùa xuân, để “chầu Đức Mẫu cho phải đạo con dâu” như lời bà đồng Thơi đã nói lúc trước
2.2 NHỮNG NÉT ĐỔI MỚI TRONG TÁC PHẨM
2.2.1 Về nội dung
2.2.1.1 Nét đổi mới từ đề tài muôn thuở
“ Mỗi người viết có một cái gu riêng Tôi chỉ viết về những gì mình nghĩ, mình thích, những gì gắn bó thật sự với mình Khi viết về tình yêu, tôi không có ý định khai thác nó như một đề tài ăn khách và dễ viết Tôi cũng không muốn thể hiện tình yêu như một cõi viễn mộng để trốn tránh cuộc đời mà muốn thể hiện nó như một động lực của sự sống, biểu hiện tối ưu của tính nhân văn Mà tính nhân văn luôn là cốt lõi của văn học” – Trần Thùy Mai.
Tác phẩm của nữ giới thường có tính chất tự truyện “Phụ nữ thường mạnh ở chỗ đưa tất cả cuộc đời và tâm hồn họ vào trong sách, hoặc nói như phương Tây… họ tự ăn mình” (Đặng Anh Đào) Một nhà văn nữ tự bạch: “Viết mãi thì cũng không ra khỏi thân phận người nữ như chạy
trời không khỏi nắng” Nếu xem truyện ngắn Trần Thùy Mai là tự truyện thì không phải, nhưng
Trang 24cảm giác Trần Thùy Mai phân mảnh, hóa thân rất rõ trên từng trang viết đầy nữ tính của nhà
văn Trần Thùy Mai từng tâm sự: “Cho đến nay mình vẫn thích viết về những mảnh đời gần gũi
quanh mình, của bạn bè, của những người cùng sống, viết như một cách trao đổi tâm tư với người cùng thời và mở rộng cuộc sống nội tâm của chính mình”
Sở trường của Trần Thùy Mai là truyện ngắn Chị chỉ viết “những gì mình thích, những gì thực sự gắn bó với mình” Đề tài quen thuộc trong truyện của chị là đề tài tình yêu
- một trong những đề tài vĩnh cửu của văn chương nhân loại Đầy nữ tính, chị dành trọn văn nghiệp của mình cho đề tài vĩnh hằng này
Tình yêu là đề tài muôn thuở nhưng với Trần Thùy Mai, chị đã có những sáng tạo mới mang
nét riêng của mình Trăng nơi đáy giếng là câu chuyện tình yêu của một người phụ nữ bất hạnh,
hi sinh cả đời mình vì yêu thương chồng nhưng không được hạnh phúc Câu chuyện đã mang lại nhiều ý nghĩa nhân sinh với vấn đề thế sự đời tư Hình ảnh người phụ nữ chịu thiệt thòi, bất hạnhtrong cuộc sống, tình yêu ngày càng đậm nét trong văn của chị Đó chính là cái nhìn chân thực trong cuộc sống hiện đại ngày nay
“Tình yêu” là một đề tài muôn thuở của nhân loại Nhưng đối với Trần Thùy Mai, tình yêu không thiết tha, rạo rực;không say mê, cháy bỏng… mà tình yêu lại rất nhẹ nhàng và sâu lắng Đôi khi, nó lại xen vào một chút dại khờ, nông nỗi… Dường như mọi cung bậc cảm xúc của tình yêu đều “chen” nhau vào trang viết của chị để hóa thân thành những khúc tình ca tuy đượm buồn mà vẫn đong đầy tình yêu thương…
2.2.1.2 Trăng nơi đáy giếng – Câu chuyện thế sự đời tư với những vấn đề nhân sinh
muôn thuở
Trăng nơi đáy giếng – Tác phẩm lấy đề tài trực tiếp từ cuộc sống hiện tại, xoay quanh
những câu chuyện hằng ngày mang đậm tính thế sự đời tư, với những vấn đề nhân sinh muôn thuở
Đó là câu chuyện về người phụ nữ với tình yêu Nhân vật Hạnh yêu chồng, tôn thờ chồng
như một vị thánh sống, hết lòng vì chồng nhưng bất hạnh thay cô không hạnh phúc Trần Thùy Mai đề cập đến những câu chuyện hàng ngày của cuộc sống gia đình cô Hạnh, thầy Phương,
chẳng hạn việc thầy Phương rất kỹ tính, theo kiểu con người phong kiến khi trời mưa chỉ lấy giúp vợ mình cái áo còn cái quần thì tuyệt đối không đụng đến Hay tác giả tinh tế khi miêu tả chi tiết cô Hạnh rất chiều chồng, mua tô bún cho chồng ăn trời mưa cô lấy nón che nhưng không phải đội lên đầu mình mà che cho tô bún khỏi ướt mưa Qua chi tiết này cũng đủ thấy cô Hạnh làngười phụ nữ yêu thương chồng hơn cả bản thân mình… Rồi đến chuyện bất hạnh xảy đến với hai vợ chồng cô, nhất là với cô Hạnh khi không có khả năng sinh con Cô hi sinh bản thân tìm người đẻ thuê cho chồng có được đứa con nối dõi, mong giữ hạnh phúc gia đình Đây cũng chính
là hiện thực không phải hiếm trong cuộc sống thường ngày, nhất là cuộc sống hiện đại thời nay thì vấn đề này càng được sự quan tâm của nhiều người, nó mang ý nghĩa nhân sinh
Trong tác phẩm mỗi tình tiết tác giả đề cập là một lát cắt của cuộc sống, ngoài những chuyệnnói trên thì trong truyện còn rất nhiều vấn đề mang đậm tính thế sự đời tư Chẳng hạn việc một
số người ghanh ghét, đố kị với thầy Phương về cái chức Hiệu trưởng mà muốn phế truất thầy khi
có cơ hội tốt, mặc dù thầy Phương là một người lãnh đạo giỏi đã “đưa trường Thuận Đạt thành một trường tiên tiến dẫn đầu hơn trong năm năm” Cơ hội này không ngoài việc gì khác là việc
thầy Phương có hai vợ Sau khi được cô Hạnh giúp đỡ, đưa ra bằng chứng đã li hôn chồng, chức hiệu trưởng của thầy Phương vẫn được giữ nguyên có lấy búa tạ cũng không rung rinh nổi
Nhưng cuộc sống thực không chỉ đơn giản dừng ở đó, chức hiệu trưởng “không rung rinh nổi, nhưng người ta vẫn tìm cách nện Lòng người đầy ham muốn, đâu có buông tha ông Phương qua cửa ải một cách dễ dàng như thế Vì vậy, trọn năm sau, ông Phương quả là lao tâm khổ tứ,
Trang 25ở không yên ổn, ngồi không vững vàng” Đó chỉ là một trong số những lát cắt nhỏ hiện thực cuộc
sống mà ta có thể bắt gặp bất kì nơi đâu qua câu chuyện chức vị của nhân vật Phương
Còn đối với Hạnh, cho đến khi cô hi sinh bản thân mình, chấp nhận đưa ra tờ giấy ly hôn đểgiữ được chức vụ cho chồng thì quả thực rất đáng thương Cô đã hết lòng hi sinh vì chồng, vì mái ấm nhưng cuối cùng sự sinh đó không được đáp trả mà cô phải nhận lấy những bất hạnh, cay
đắng, xót xa Để rồi cuối câu chuyện, Trần Thùy Mai lại đề cập đến câu chuyện đau lòng của cô
Hạnh, cô đã mất đi niềm tin vào người chồng mà cô tôn thờ như vị thánh sống, để phải vin mình tựa vào người chồng cõi âm Một sự mê tín mù quáng, đáng thương Nhưng đó cũng là một lát cắt về cuộc sống hiện đại khi con người không còn niềm tin vào cuộc sống thực họ đi tìm lấy ở
sự mê tín và tự cho đó là tâm linh là thực Một hiện thực đáng buồn đáng suy nghẫm qua câu chuyện mà tác giả đề cập
Trăng nơi đáy giếng còn là câu chuyện để độc giả tự mình chiêm nghiệm cho câu hỏi hạnh
phúc thật sự ở đâu? Nhân vật nữ chính – Hạnh suốt một đời gần như thờ phụng chồng, là một phụ nữ Huế mẫu mực chu đáo với gia đình, chung thủy yêu thương chồng hết mực thậm chí hi sinh bản thân mình để mong giữ được hạnh phúc nhưng kết quả thật đáng buồn Hạnh phúc không phải là thứ có thể có được từ một phía xây dựng nên với lòng hi sinh cao cả, cũng không thể có khi chỉ đắm đuối đi tôn thờ những cái không thực như cô Hạnh, ngay cả sau này sống một
mình để tôn thờ một vị thánh khác, khác vị “thánh sống” ban đầu thì hạnh phúc của cô Hạnh cũng rất mong manh, mờ ảo không thực như “trăng nơi đáy giếng” Đây là hình ảnh ẩn dụ mang
nhiều mặt nghĩa nhất là về hạnh phúc con người Tác giả muốn người đọc tự nghiệm lấy những tầng nghĩa nhân sinh ẩn chứa sâu bên trong lớp ngôn từ kia
Qua tác phẩm, Trần Thùy Mai muốn hướng người đọc đến vấn đề nhân sinh qua những câu chuyện thế sự đời tư Đặc biệt qua nhân vật Hạnh, cô đã chấp nhận hi sinh tất cả nhưng không được trả giá bằng hạnh phúc mà phải nhận lấy cay đắng, đau khổ Đó chính là hiện thực cuộc đời không phải lúc nào cũng tốt đẹp Không phải lúc nào hi sinh cũng được đáp trả bằng hạnh phúc Đó là hiện thực con người cần phải chấp nhận, khác với những câu chuyện
cổ tích hay những truyện trước đây kết thúc thường có hậu khi nhân vật đã hi sinh, khổ đau nhiều Đây là nét đổi mới quan trọng trong truyện ngắn của Trần Thùy Mai.
2.2.1.3 Đổi mới quan niệm nghệ thuật về con người
Trăng nơi đáy giếng đã hướng đến hiện thực về con người Con người ở đây không nhìn
với cái nhìn lý tưởng mà được đặt vào điểm nhìn thế sự đời tư Con người trong tác phẩm hiện lên với tư cách là một con người cá nhân, phức tạp, lưỡng diện, không trùng khít với chính mình, con người không nhất phiến, đơn trị mà đa diện, lưỡng phân đan cài trong bóng tối và ánh sáng, giữa cái tốt và cái xấu.
Các nhân vật trong tác ai cũng có cái đúng, cái sai, cái đáng chê, cái có lý Cô Hạnh là một người phụ nữ đảm đang, nhu mì, giàu lòng hi sinh Cô Hạnh coi việc chăm sóc cho chồng, lo lắng cho chồng là bổn phận của mình Cô tận tâm, chịu khổ, nhẫn nại hi sinh vì chồng vì tổ ấm
Sự hi sinh của cô Hạnh thật là cao cả, cô hi sinh là để dâng hiến và vun đắp hạnh phúc, tình yêu cho người chồng mà mình thần tượng, tôn thờ Nhưng không ngờ sự hi sinh mù quáng đã khiến
cô hoàn toàn những trắng tay, chỉ ngậm trong lòng nỗi cay đắng, tê tái Là một người giáo viên nhưng cô Hạnh lại tin vào những lời của bà đồng Thơi để phủ định quá khứ, sống hết mình cho niềm tin mới – người chồng cõi âm Hành động của cô Hạnh ban đầu là theo lí trí, cuối cùng hành động theo vô thức, tâm linh Ở cô Hạnh, ta thấy vừa đáng thương, vừa đáng trách Đáng trách vì cô hi sinh một cách không đáng, vì hạnh phúc của chồng mà không mảy may nghĩ đến bản thân, không liệu được trước những gì mình sắp phải gánh lấy Đáng thương vì một người như cô lẽ ra được hưởng hạnh phúc trọn vẹn thì lại toàn cay đắng, đau khổ, nước mắt
Trang 26Thầy Phương là con nhà dòng dõi, được cưng chiều từ nhỏ nên thầy không phải đụng tay đụng chân làm việc gì cả và coi những việc vợ làm cho mình là một lẽ thường tình, và có lẽ cũng
vì là con nhà dòng dõi nên thầy cần có một đứa con để nối dõi Tuy nhiên, bản thân là một thầy giáo, là một hiệu trưởng nhưng thầy lại chấp nhận và làm theo sự sắp đặt của cô Hạnh, như vậy hành động của thầy trái với đạo đức và lương tâm nghề nghiệp Thầy cũng thương vợ nhưng thầyquá gia trưởng Thầy vừa gia trưởng nhưng cũng rất hãnh tiến Vì nếu không vì chức hiệu trưởngthì thầy đã không đồng ý li hôn với cô Hạnh mà kết hôn với Thắm
Khi sống với cô Hạnh, thầy kĩ tính, gọn gàng, tươm tất, không làm bất cứ việc gì nhưng khi sống với Thắm thầy lại làm những công việc mà trước đây thầy cho là của đàn bà thầy không làm
Nhân vật Thắm nổi lên như một nhân vật lưỡng diện mà một người với lòng tốt như Hạnh khó có thể nhận biết Trước khi sống riêng cùng Phương, Thắm là một người con gái thôn quê ngây thơ chất phác Hạnh nói gì Thắm cũng dạ vâng, ngoan ngoãn Nhưng Hạnh không ngờ, Thắm cũng là một người con gái không hoàn toàn như cô nghĩ, ở Thắm đã có sự sắp đặt để Phương để ý, hai người đã có quan hệ từ trước khi Hạnh ghép cho Phương Và đặc biệt, khi đã sống cùng Phương, Thắm không giống Hạnh không cung phụng chồng theo những phép tắc mẫu mực của một người vợ như Hạnh mà cũng xuề xòa để Phương tự làm lấy những việc trong nhà,
kể cả việc giặt quần áo điều mà trước đây Phương không hề đụng đến
Như vậy có thể thấy, con người trong tác phẩm được đặt trong góc nhìn lưỡng diện đa chiều,
họ không còn là những con người mang một phẩm chất, đặc tính lý tưởng nhất định nữa Những nhân vật trong truyện được khai thác trong mối quan hệ thế sự đời tư để chuyển tải ý nghĩa nhân sinh sâu sắc của tác giả Trong cuộc sống, để đánh giá một con người không nên chỉ nhìn một mặt nào đó mà phải đặt trong môi quan hệ đa chiều để có cái nhìn chân thực
Qua tác phẩm, ta thấy nổi bật lên các cặp ý nghĩa:bình an – bất an, cũ xưa – mới – hiện đại, tinh tế - thực dụng, đúng – sai, ảo – thật, vật chất – tâm linh, nhiệt tình, tận hiến – phủ phàng, vô tình, thái quá – thờ ơ, niềm tin – đổ vỡ, nhẹ nhàng – quyết liệt Tác phẩm đã cho thấy một cái nhìn đa chiều về cuộc sống, để lại cho người đọc nhiều điều phải suy nghĩ, băn khoăn về cuộc sống, về sự đời Tác phẩm chứa đựng ý nghĩa nhân sinh sâu sắc và tạo thành công cho ngòi bút đậm chất Huế - Trần Thùy Mai.
2.2.2 Về nghệ thuật.
2.2.2.1 Nghệ thuật xây dựng nhân vật.
Nhân vật không được tác giả khắc họa với những nét tính cách lí tưởng hóa, mà được miêu tả chân thực, bụi bặm, gần gũi với cuộc sống Trần Thùy Mai đã phơi bày ra hết, không
giấu diếm, không e dè, từ những hành động nhỏ nhặt nhất cho đến những tình cảm, tâm lý rất
thực Ví dụ, dáng người gầy co ro của cô Hạnh, hành động lấy nón che cho tô bún,…Thầy
Phương thì kén ăn, sợ bẩn, nhưng đến khi lấy Thắm và có con thì lại thay đổi 180 độ, hình ảnh thầy Phương đang cặm cụi giặt quần áo cho cả nhà quả thật đối với cô Hạnh là một “cú sốc” rất lớn, vị “thánh sống” mà cô “thờ phụng” bấy lâu nay hoàn toàn sụp đổ… Hay đến đoạn gần cuối tác phẩm, nhà văn đã cho độc giả thấy một nhân vật Hạnh khác xưa, không còn nhu mì nữa Hạnh mạnh mẽ, quyết liệt chống lại ý muốn của Phương, giờ đây Phương đã không còn là vị
“thánh sống” mà cô tôn thờ và khi Phương nặng lời xúc phạm đến niềm tin tâm linh của mình,
Hạnh đã dùng hành động thay lời nói “thình lình vớ lấy cả khay ấm chén trước mặt, ném vào người chồng cũ” Tâm lý nhân vật được tác giả thể hiện xuất sắc mặc dù không trải qua những
chặng đường với những chuỗi sự kiện dài như những tác phẩm trước đây Đó cũng là một nét đổi
mới và một sự thành công của Trần Thùy Mai.
Trang 27Nhà văn đã đặt nhân vật vào trong những hoàn cảnh cụ thể để thông qua đó khắc họa những nét tính cách rất riêng, tạo nên dấu ấn sâu sắc cho người đọc Để khắc họa thành công hình tượng người vợ đau khổ, Trần Thùy Mai đã đặt nhân vật thầy Phương bên cạnh nhân
vật cô Hạnh Nhân vật thầy Phương luôn sóng đôi, làm nền để làm toát lên được phẩm chất, suy nghĩ, tình cảm của cô Hạnh và làm nổi bật lên chiều sâu tư tưởng của tác phẩm Ở nhân vật thầy Phương, nhà văn không đi sâu vào miêu tả nội tâm mà chỉ để cho nhân vật xuất hiện rồi lại lắng xuống Hai nhân vật, hai con người khác nhau lại bổ sung, để đẩy nhân vật đi tới những cao trào của cảm xúc khiến ta không thể ngờ tới, mỗi tình tiết là một sự thành công của tác giả Thông qua nhân vật thầy Phương và cô Hạnh ta thấy có những nét giống như đã bắt gặp đâu đó ngoài đời
Tóm lại có thể thấy, với một ngòi bút giàu nội lực, với những trải nghiệm tinh tế của một tâm hồn phụ nữ Huế nhạy cảm, Trần Thùy Mai đã xây dựng nhân vật đầy sực sống, chân thực với cuộc sống đời thường, xoay quanh mỗi nhân vật là những câu chuyện thế sự đời tư,
là những lát cắt chân thực của cuộc sống từ tâm lý đến suy nghĩ, hành động ta có thể bắt gặp ngay cả chính mình ở đó.
chỉ nằm trong một ý nghĩa nhất định, đã được xác định từ trước Thì sau năm 1975, văn xuôi đã
có những đổi mới đáng kể ở nghệ thuật nói chung và nghệ thuật trần thuật nói riêng, đặc biệt là ở truyện ngắn Trần Thùy Mai cũng nằm trong lớp nhà văn đổi mới theo dòng chảy
ấy Cụ thể, với Trăng nơi đáy giếng, nữ nhà văn đã đưa ra nhiều quan điểm, chính kiến
khác nhau để từ đó người đọc tự khám phá, hiểu theo cách riêng của mình Chẳng hạn việc
tác giả thể hiện rằng không phải bao giờ hi sinh cũng được đáp trả bằng hạnh phúc, sống thiện sống tốt không phải lúc nào cũng có kết quả tốt, cuộc sống đôi khi rất phũ phàng…và người phụ
nữ chính là người chịu nhiều bất hạnh nhất thông qua nhân vật Hạnh Hay cái nhìn cụ thể hơn khi nhà văn đưa ra quan niệm, chính kiến của mình về những con người trong xã hội hiện đại không phải ai cũng tốt đẹp, con người luôn nhiều mặt, đố kị ghen ghét lẫn nhau là chuyện phổ biến, đó là qua câu chuyện về chức Hiệu trưởng của thầy Phương trong nhiệm kì tới …Cũng qua cái kết của truyện, một cái kết còn bỏ ngõ gợi suy nghĩ cho người đọc, đồng thời là cái kết khá
lạ, nhân vật nữ chính lại đặt tất cả hi vọng, hạnh phúc của mình vào niềm tin với người chồng cõi
âm – Một điều kì lạ, thật khó mà hiểu được cô Hạnh đang nghĩ gì Nhưng đây là cách Trần Thùy Mai để người đọc tự tiếp nhận lấy, suy nghĩ lấy, mỗi người đọc sẽ có mỗi quan điểm khác
nhau từ điểm nhìn trần thuật của tác giả Đó có thể là hồi chuông cảnh tỉnh con người hãy sống thực, phải biết đối mặt với hiện tại, không nên vịn vào điều mê tín mà đánh mất những điều phía trước Nhưng cũng có thể, độc giả khác lại cảm thông, chia sẻ với cảnh ngộ của nhân vật nữ khi người ta đã đánh mất niềm tin nơi trần thế không còn cách nào khác buộc con người ta phải tìm
về cõi âm, để mà tiếp tục sống…
Đó là về diểm nhìn trần thuật và các quan niệm, chính kiến của nhà văn đưa ra qua câu
chuyện Còn nghệ thuật trần thuật lại gây sự chú ý khi mở đầu truyện thật bất ngờ độc đáo, đồng thời sử dụng sự đan xen ngôi trần thuật một cách linh hoạt nhằm tạo sự lôi cuốn, hấp dẫn cho độc giả
Truyện mở đầu bằng lời van xin của thầy Phương với cô Hạnh ,“Tôi xin mình, mình dẹp giùm tôi mấy cái bàn thờ này đi Chuyện mê tín dị đoan, đâu hay ho gì” Sau đó, truyện được kể
Trang 28lại qua hai ngôi trần thuật đan xen nhau Một là, trần thuật ở ngôi thứ ba Hai là, trần thuật ở ngôithứ nhất với những lời thuật lại của nhân vật chính Việc sử dụng ngôi thứ ba và ngôi thứ nhất để
trần thuật là điều không mới trong văn xuôi, tuy nhiên điểm mới ở tác phẩm Trăng nơi đáy giếng là sự kết hợp đan xen một cách linh hoạt giữa hai ngôi trần thuật, tạo cho người đọc cảm
nhận được một cách nhất quán câu chuyện dù không trải qua nhiều chương đoạn chi tiết Hơn nữa, với việc để nhân vật chính tự bộc lộ suy nghĩ, nội tâm của mình với những đoạn độc thoại nội tâm rất giàu cảm xúc đã để lại ấn tượng và sự đồng cảm sâu sắc trong lòng người đọc Chẳnghạn đoạn tả cảm giác của cô Hạnh khi biết được sự thật đắng cay rằng chồng mình và cô Thắm
đã quen biết tư trước, tất cả những gì họ thể hiện trước mặt cô trước đây chỉ là một vở kịch được dàn dựng quá khéo trên lòng tốt, lòng hi sinh của cô Hạnh Cô Hạnh cảm thấy sụp đổ đau khổ tột
cùng đến nỗi: “Tôi rút lui, suýt ngã khi xuống thềm Rồi cứ đi trong đêm như người ngây….Tôi sụp xuống nền nhà mà khóc” Hay rất nhiều đoạn khác, nhân vật Hạnh hiện lên trong tâm trí người đọc với hình ảnh thật đáng thương: “Tết năm ấy, tôi sốt li bì, suốt ba tuần rụng gần nửa đầu tóc Chiều mồng ba tết, mở mắt ra, thấy anh Phương và Thắm ngồi trước giường Tôi thở dài, se sắt Tôi mong gặp một mình anh, một lần Để tôi mơ ước được mạnh trở lại, được để dành cho anh cái thau sạch, cái khăn sạch, lựa cho anh củ khoai thật bùi thơm ăn khuya đọc sách Nhưng anh không đến đây một mình…Tôi ứa nước mắt nhìn hai vợ chồng – vâng, họ mới
là hai vợ chồng” Câu “vâng, họ mới là hai vợ chồng” thể hiện một sự buồn tủi cho số phận
mình của cô Hạnh, nước mắt chỉ chực tuôn trào mà đành nuốt vào bên trong, đâu còn gì đau khổ bằng việc khi thấy người mình yêu nay đã tay trong tay hạnh phúc cùng người khác còn mình trong cảnh cô đơn nào ai hay Quả thật, với hình thức này, tác giả đã để nhân vật được trực tiếp bộc lộ suy nghĩ, tâm tư của mình giúp người đọc hiểu hơn về thân phận của họ, đồng cảm với họ hơn
Vai trò đặc biệt quan trọng của việc sử dụng ngôi thứ nhất để trần thuật là không thể phủ nhận, tuy nhiên cần phải thấy tác dụng không nhỏ khi kết hợp cùng ngôi trần thuật thứ ba Đây chính là cách tác giả thông qua lớp vỏ ngôn từ để đưa ra điểm nhìn của mình và thông qua đó độc giả tự khám phá, chiêm nghiệm ý nghĩa ẩn sâu dưới bề mặt ngôn từ kia Nói ở phạm vi hẹp hơn, trần thuật ngôi thứ ba bổ sung, hỗ trợ với trần thuật ngôi thứ nhất để nhân vật, nội dung tác phẩm được hiện lên một cách sáng rõ, không những thế ý nghĩa của chính câu chuyện cũng đượckhai thác ở nhiều góc nhìn đối với mỗi độc giả khác nhau, tất cả nâng tầm giá trị của tác phẩm lên bước mới
Tóm lại, với cây bút đầy sinh lực, Trần Thùy Mai đã tạo nên “đứa con tinh thần” không chỉ
của mình mà còn cho lớp độc giả hiện đại, tạo nên cái nhìn đa chiều sâu sắc Đồng thời tạo nên mối quan hệ đối thoại, hai chiều giữa nhà văn và độc giả một cách hiệu quả qua chính nghệ thuật trần thuật của nhà văn
2.2.2.3 Về ngôn ngữ.
Ngôn ngữ là phương tiện không thể thiếu để xây dựng nên tác phẩm, đó là cái vỏ vật chất chứa đựng những tầng nghĩa ẩn sâu bên trong của một tác phẩm Nói văn xuôi sau
1975 có nhiều đổi mới, tất nhiên không thể nào không kể đến việc đổi mới ngôn ngữ
Trăng nới đáy giếng là một tác phẩm đã có những nét đổi mới cơ bản về mặt ngôn ngữ
Trước hết, đó chính là ngôn ngữ đậm chất đời thường, gần gũi với cuộc sống hàng ngày Đọc tác phẩm có thể thấy đặc điểm này một cách cụ thể Tác giả đã để nhân vật của mình sống thực với ngay cả cách nói của họ, ngôn ngữ vì thế rất chân thực, gần gũi chứ không phải lối nói cầu kỳ trau chuốt như trước đây Chẳng hạn, để thể hiện lý do có sự khác
biệt giữa chồng cô Hạnh với chồng của những người hàng xóm xung quanh, tác giả dùng những
từ: “ùn lên”, “bết bát”,”chẳng”, “chiều chồng”… (“việc nhà cứ ùn lên, ai cũng bết bát, chẳng
Trang 29có thời gian mà chiều chồng”) Hay để nói về những người đang muốn hạ bệ thầy Phương xuống khỏi cái chức hiệu trưởng thì những từ: “hả hê”, “rung đùi”, “cười khẩy”, “khoái trá”, “rắp ranh ngắm nghé”,… đủ sức gợi cho người đọc liên tưởng đến những hình ảnh của những con
người đố kị nhau trong một tập thể Đến đoạn tả cảnh sinh hoạt hàng ngày rất thực của vợ chồng Phương – Thắm, nhất là việc làm của Phương đã khiến Hạnh sụp đổ hình tượng về một vị “thánh
sống” trước đây: “lúi húi”, “đánh đánh chà chà”, “ngồi chò hỏ”….
Điểm đặc biệt tạo nên sự hấp dẫn, đồng thời tạo nên tính gợi hình gợi nghĩa cao cho tác phẩm khi Trần Thùy Mai đã rất tinh tế để nhân vật sử dụng lối nói dân dã, gần gũi với những câu thành ngữ Chính điều này cũng gia tăng tính chất đời thường cho ngôn ngữ trong
tác phẩm Chẳng hạn “Đã thương thì thương cho trót, đã vót thì vót cho tròn Đã giữ thì giữ riết luôn, đã cho thì cho đi đứt” (Lời bà đồng Thơi nói với cô Hạnh), “Làm trai, học sẩy học sàng Đến khi vợ đẻ thì làm mà ăn” (Lời của Thắm nói với cô Hạnh),…Ngoài những câu thành ngữ,
thì hình ảnh so sánh ví von cũng là nét nghệ thuật độc đáo Chẳng hạn việc ví thầy Phương như
vị “thánh sống” trước lúc lấy Thắm và ví như “một tượng thần đã mất hết linh thiêng” sau khi
lấy Thắm của cô Hạnh Hay cô Hạnh lo sợ cho chồng khi bị người khác đố kị ganh ghét, cô sợ họ
sẽ giống như “…bầy sói túm lại xé con mồi…”…
Ngoài việc thể hiện ngôn ngữ đậm chất đời thường, gần gũi với cuộc sống hàng ngày như đã nói ở trên, ngôn ngữ trong tác phẩm còn mang nét riêng khó hoà lẫn Đó là ngôn ngữ rất trong sáng, nhẹ nhàng mang đậm chất của người phụ nữ Huế Mỗi câu viết của Trần Thùy Mai không quá mạnh mẽ mà cứ như giọt nước thẩm thấu vào một cách từ từ
Từ cách dùng từ đặt câu, cách lựa chọn hình ảnh rất tinh gọn nhưng giàu sức gợi tả Chẳng
hạn, đoạn đầu khi giới thiệu về gia đình thầy Phương, cô Hạnh, tác giả sử dụng cách nói rất đơn
giản mà giàu hình ảnh, lại gợi nên đặc trưng của vùng Huế với những món ăn rất tinh tế: “Bữa
ăn không cần thịt cá, đôi khi chỉ cần dĩa bông bí chấm nước tôm kho đánh, nhưng nước tôm phải thật sánh, thật thơm, đỏ rực Thịt bò thì nhất định phải nấu canh với hoa thiên lý, tô canh dìu dịu mùi hương ngọt ngào Đêm khuya đọc sách chỉ cần ăn củ khoai bồi dưỡng, nhưng củ khoai phải ngọt, dẻo hấp với lá dứa Chiều thì vài lóng mía tiện thật sạch sẽ, ửng màu đỏ cầm rượu”…Qua
đó cũng thấy chất Huế ăn sâu vào văn Trần Thùy Mai như thế nào, đọc Trăng nơi đáy giếng
cũng như nhiều tác phẩm khác của nhà văn này, ta có thể bắt gặp rất nhiều từ mang đặc trưng xứ
Huế, ví dụ từ “chừ”, “chứ mô”, “trọc óc” (“…chừ còn ôm huyễn mộng….”, “Nhờ Thánh cứu, chứ không thì mấy trận đau, hắn đã chết trọc óc chứ mô còn tới chừ”).
Ngôn ngữ nhẹ nhàng, sâu lắng ẩn chứa những ý nghĩa sâu xa Trần Thùy Mai không dùng lối nói cầu kỳ, trau chuốt nhưng câu từ lại có sự gợi mở lớn, nó dường như chứa đựng những triết lý sâu xa nào đó vừa mơ ảo lại vừa rất thực Chẳng hạn quẻ gieo của bà đồng
Thơi cho Hạnh nói rằng: “Quẻ của chị là quẻ lộng giá thành chân Đêm trăng nơi đáy giếng thấy bóng chẳng thấy hình Cứ theo quẻ này giả hóa thực, thực hóa giả, giả thực thực giả khó phân lường” Phải chăng đó cũng là ý chính của tác giả, hạnh phúc thật khó mà nhận diện được
Cả đời Hạnh chỉ phục vu, tôn thờ vị “thánh sống” kia nhưng đâu được hạnh phúc,đó là thực mà
hóa giả Còn khi Hạnh tìm đến niềm tin tâm linh, một đặc trưng của người phụ nữ, nhất là phụ
nữ Huế thì dường như cô đã có được hạnh phúc, đó là giả mà hóa thực Thực giả thật khó phân lường, cái bóng trăng soi nơi đáy giếng kia phải chăng tượng trưng cho hạnh phúc mà con người
ta tìm kiếm suốt cuộc đời Qua đó cũng thấy cách đặt nhan đề giàu sức gợi, giàu ý nghĩa của Trần Thùy Mai, để nắm bắt được quả thực không dễ
Đọc văn Trần Thùy Mai có thể thấy được những nét đổi mới cụ thể trên bề mặt ngôn ngữ
đó là lối nói bình dị, gần gũi với cuộc sống đời thường, mang đậm chất hiện thực Không cầu kỳ trau chuốt mà lại ẩn sâu nhiều ý nghĩa, triết lý sâu xa về thế sự nhân sinh Với cách viết nhẹ
Trang 30nhàng, văn phong trong sáng, Trăng nơi đáy giếng nói riêng và nhiều tác phẩm khác của Trần Thùy Mai nói chung đã góp phần đổi mới vào dòng chảy văn học đương đại, trên hết là góp
mình vào tiếng nói của người phụ nữ qua cách nhìn người nhìn đời của họ Tất cả đều để lại ấn tượng sâu trong lòng độc giả
2.2.2.4 Về kết cấu
Trăng nơi đáy giếng là tác phẩm tiêu biểu cho ngòi bút Trần Thùy Mai không chỉ ở những
nét đổi mới cả về mặt nội dung và hình thức (nghệ thuật) Sức hấp dẫn của câu chuyện cũng nhờ không nhỏ vào cách tổ chức sắp xếp câu chuyện ấy Ở đây chính là mặt kết cấu Xét trên bề mặt
tổng thể thể thì kết cấu của Trăng nơi đáy giếng không quá cách tân táo bạo Tuy nhiên không
phải kết cấu theo lối truyền thống mà có điểm mới đáng kể
Trăng nơi đáy giếng được kết cấu theo kiểu lắp ghép, đan xen qua hai ngôi trần thuật
chính, trong đó vai trò của ngôi thứ nhất được chú trọng Các tình tiết được sắp xếp không theo trất tự thời gian cụ thể mà là theo kiểu đảo ngược, nói về thực tại trước rồi mới nói đến quá khứ
Mở đầu là lời van xin của thầy Phương: “Tôi xin mình….đâu hay ho gì” , sau đó là đến
chuyện giữa hai vợ chồng, tính nết của thầy Phương ra sao, cô Hạnh chiều chồng như thế nào Câu chuyện lại tiếp tục với tình tiết mới gây sự tò mò đó là việc bà Thu – thư ký Công đoàn
trường Thuận Đạt đến gặp Hạnh để thông báo về việc thầy Phương có vợ nhỏ, một tin “động trời” như thế nhưng Hạnh chẳng mảy may tỏ ra ngạc nhiên hay suy sụp mà ngược lại với thái độ
chấp nhận sự thật ấy….Sau đó là diễn biến câu chuyện theo lời tự thuật của Hạnh, dần dần những chi tiết, sự kiện được thể hiện cụ Đặc biệt việc để ngôi thứ nhất trần thuật đan xen với ngôi thứ hai cùng với sự đảo ngược quá khứ - hiện tại đã tạo nên hiệu quả cao cho câu chuyện, độc giả có thể cảm nhận sâu sắc nội tâm đầy phưc tạp của Hạnh trong tình yêu với chồng, sự hi sinh của Hạnh và sự đau khổ khi sự thật phũ phàng hi sinh nhiều nhưng hạnh phúc mãi xa tầm tay…
Nhờ những nét mới đó trong kết cấu tạo nên sức hấp dẫn, thành công cho câu chuyện Trần Thùy Mai đã rất tinh tế để tổ chức câu chuyện như trên, để lại nhiều dư âm trong lòng người đọc Với Trăng nơi đáy giếng, ngòi bút Trần Thùy Mai thêm sức nặng, không chỉ về mặt tổ
chức sắp xếp câu chuyện mà còn trên nhiều phương diện khác như cách trần thuật, ngôn ngữ…
để lại dấu ấn khó phai về một nhà văn nữ mang đậm chất Huế vừa mơ mộng tinh tế lại vừa rất điềm tĩnh, sâu lắng
KẾT LUẬN
Xuất hiện giữa dòng chảy của tác giả thời hậu chiến nói chung văn xuôi nữ giới nói riêng,
Trần Thùy Mai đã tạo dựng được một phong cách văn xuôi nhẹ nhàng, tinh tế nhưng để lại ấn tượng sâu đậm trong lòng người đọc Văn xuôi Trần Thùy Mai ướp hương truyền thống, những
đề tài muôn thuở của con người thường thoáng qua trong đời thường, tưởng thoáng qua trong cuộc đời nhưng đã ở lại sâu đậm trong kí ức sự lựa chọn tình yêu, tình bạn…
Đi vào số phận rất nhỏ, lặng lẽ trong những nhịp sống thường nhật nhưng chứa đựng trong
nó là cả một nhịp sống, cả một thế giới rất rộng mà nếu không ai để ý thì họ chỉ là những gương mặt thoáng qua trong một vài giây lát mà thôi Mỗi câu chuyện là một tình khúc buồn nhẹ nhàng
mà sâu lắng nhưng những tình khúc buồn ấy nhắc nhở mọi người biết tận hưởng, biết bảo vệ, nâng niu, trân trọng cái đẹp hạnh phúc trong cuộc sống
Trần Thùy Mai viết như để giải bày, như cúi xuống lòng mình mà nhả chữ Chị viết như để
ngòi bút trôi theo trực cảm, cảm giác Nhỏ nhẹ, dịu dàng, với phương thức tiếp cận cuộc sống
nửa cổ tích, nửa thế sự, Trần Thùy Mai đã khẳng định một phong cách riêng Bằng khả năng
Trang 31cảm nhận và miêu tả tinh tế hiện thực cuộc sống thông qua thế giới tâm hồn, Trần Thùy Mai đã
góp phần làm nên sự phong phú và chiều sâu của truyện ngắn đương đại
NGUYỄN HUY THIỆP
Chương 1 TÁC GIẢ NGUYỄN HUY THIỆP
1.1 Tác giả
Nguyễn Huy Thiệp sinh ngày 26 tháng 7 năm 1950, quê huyện Thanh Trì, Hà Nội Thuở nhỏ, ông cùng gia đình lưu lạc khắp nông thôn đồng bằng Bắc Bộ, từ Thái Nguyênqua Phú Thọ, Vĩnh Phúc Nông thôn và những người lao động vì thế mà để lại nhiều dấu
ấn khá đậm nét trong nhiều sáng tác của ông
Nguyễn Huy Thiêp chịu ảnh hưởng tư tưởng đạo đức chủ yếu của ông ngoại, vốn là người am hiểu nho học và mẹ vốn là người sùng đạo Phật
Năm 1970, ông tốt nghiệp khoa sử trường Đại học sư phạm Hà Nội và lên dạy học ởTây Bắc đến năm 1980, ông chuyển về làm việc tại Bộ Giáo dục và Đào tạo Sau đó, làm việc tại công ty Kỹ thuật trắc địa bản đồ, Cục Bản đồ cho đến khi về hưu
Ông xuất hiện khá muộn trên văn đàn Việt Nam với vài truyện ngắn đăng trên Báo
Văn nghệ năm 1986 Năm 1996, Tiểu long nữ được coi là cuốn “ tiểu thuyết đầu tay”
được chính thức xuất bản bởi nhà xuất bản Công an nhân dân
Tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp bao gồm những mảng đề tài như lịch sử và văn học mang hơi hướng huyền thoại và cổ tích, xã hội Việt Nam đương đại, làng quê và những người lao động Sở trường của ông là truyện ngắn, ngoài ra ông còn viết kịch, thơ và tiểu luận phê bình đăng trên nhiều tạp chí, báo trong nước
Năm 2004, bài viết Trò chuyện với hoa thủy tiên và những nhầm lẫn của nhà văn
đăng trên tạp chí ngày nay của ông tạo ra những tranh luận sôi nổi trong giới văn
chương trong một thời gian dài trên Báo Văn nghệ và một số trang mạng ở Việt Nam.1.2 Truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp
Nguyễn Huy Thiệp là một trong những bông hoa nở muộn trên văn đàn Việt Nam thời kì đổi mới Thế nhưng những tác phẩm của ông lại để lại nhiều ấn tượng cho độc giả cũng như giới phê bình Khi tác phẩm của ông xuất hiện trên thi đàn văn học có rất nhiều ý kiến trái ngược nhau, khen có và chê cũng nhiều Truyện ngắn của ông có cái gì
đó quái dị và đáng ghê rợn khiến độc giả khi tiếp cận tác phẩm đều thấy rùng mình Ông cũng đã có những đóng góp to lớn cho sư phát triển của truyện ngắn Việt Nam Tuy vậy một số tác phẩm của ông có phần thiên về chủ nghĩa tự nhiên đôi khi gây nhiềuphản cảm đối với độc giả Do đó ông được xem là một hiện tượng mới lạ trên diễn đàn văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới
Những mảng đề tài chính trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp:
• Về lịch sử và văn học (Phẩm tiết, Vàng lửa, Nguyễn Thị Lộ, Chút thoáng Xuân Hương, Mưa Nhã Nam…).
• Những truyện mang yếu tố kì ảo và cổ tích (Những ngọn gió Hua Tát, Con gái thủy thần, Giọt máu, Muối của rừng, Chảy đi sông ơi, Trương Chi…)
• Về xã hội đương thời (Không có vua, Tướng về hưu, Sang sông, Tội ác và trừng
phạt…)
• Xã hội làng quê và những người lao động ( Thương nhớ đồng quê, Những bài học nông thôn, Những người thợ xẻ…).
Trang 32Nguyễn Huy Thiệp đã đem lại một luồng gió mới cho văn đàn Việt Nam giai đoạn đầu những năm cuối thế kỷ XX.
TRUYỆN NGẮN “PHẨM TIẾT”
Phẩm tiết được đăng ở số báo 29 – 30 trên báo Văn nghệ năm 1988 Tác phẩm từ
khi mới ra đời nó đã gây khá nhiều tranh cãi
Tóm tắt tác phẩm:
Câu chuyện bắt đầu từ lời dẫn chuyện của tác giả Khi nghe tin việc tìm ra ngôi mội cổ ở ởvùng lòng hồ trong khu vực thủy điện sông Đà Ông Quách Ngọc Minh ngờ rằng đó là ngôi mộcủa bà Ngô Thị Vinh Hoa sống cách đây hai trăm năm Ngôi mộ có nhiều bí ẩn, chứa đựngnhững bí mật về người phụ nữ trong ngôi mộ ấy
Vinh Hoa là con thứ mười của Ngô Khải, Khải là hậu duệ của Chương khánh công Ngô
Từ Ngô Khải là một bậc đại phú, chuyên buôn hàng tơ lụa nhà không khác gì một phủ chúa.Khải có bảy người con gái thì sáu người đều là thiếp yêu phủ chúa Vinh Hoa là con gái út,được Khải rất yêu chiều Vinh Hoa ra đời như một câu chuyện cổ tích, trong tay có viên ngọckhắc hai chữ “ thiên mệnh” Vinh Hoa lớn lên hay hát, đàn giỏi, đẹp lồ lộ, tiên đoán việc đitrước, làm mai mối, giúp cha buôn bán
Năm Kỉ Dậu (1789) Quang Trung Nguyễn Huệ kéo quân ra Bắc diệt Mãn Thanh xong, tìmcách an dân Nhà vua cho mời các nhà danh giá thết phiệt trong kinh thành, trong đó có Khải.Khải cho gọi tên Sâm chuẩn bị lễ vật đi dự tiệc để dâng lên vua Sâm vốn là tên đểu cáng, từlâu có ý định hại chủ nên cho vào rương hòm toàn những đồ vàng, bạc giả, vải lụa vụn Trongbữa tiệc, Khải lỡ lời chê thức ăn không ngon lại thêm việc quà mừng thất kính nên vua QuangTrung nổi giận cho Đặng Tiến Đông đến vây bắt tại nhà Khải khóc lóc kêu oan nhưng khôngđược, Vinh Hoa cầu xin tha cho cha Sau đó Vinh Hoa được Đặng Tiến Đông dẫn vào cung tâubày vua Vẻ đẹp của nàng làm vua Quang Trung mê mẩm, run mình, hoa mắt, đánh rơi cốcrượu quý cầm tay Nhà vua còn thích thú bảo Vinh Hoa gãy đàn hát, giữ nàng lại trong cung.Trong lúc ấy, Khải thấy hổ thẹn nên đã treo cổ tự tử Vua Quang Trung thương xót cho VinhHoa lập bàn thờ ngay trong cung, thắp hương tạ vong linh Khải
Vinh Hoa ở trong cung vua rất ân cần thương yêu, ai ai cũng quý trọng, nể phục nàng Dùđược vua yêu nhưng Vinh Hoa một mực từ chối, quyết không thành thân khiến vua rất buồn
Ổn định xong Vua Quang Trung kéo quân về Phú Xuân, đưa cả Vinh Hoa theo, ít lâu sauvua đột ngột mất Khi lâm chung, Vinh Hoa đứng hầu bên giường, nhà vua nhìn mãi Vinh Hoa
mà không nhắm mắt Con trai vua là Nguyễn Quang Toản và Hoàng Hậu Ngọc Hân vuốt mắtvua mãi mà không nhắm Sau Vinh Hoa đã lấy ngón út của mình đặt lên hai mi mắt, nhà vuamới nhắm Từ đó ngón tay út của Vinh Hoa đen như chàm, rửa thế nào cũng không sạch
Trang 33Từ khi vua Quang Trung mất nội bộ Tây Sơn rối ren, triều đình sụp đổ Năm Tân Dậu(1810) vua Gia Long Nguyễn Phúc Ánh chiếm Phú Xuân Tướng của Gia Long là Vũ Văn Toànvào trước cướp được nhiều cung tần mỹ nữ, trong đó có Ngô Thị Vinh Hoa Sau đó, vua GiaLong biết tin trong nhà Toàn chứa đầy gái đẹp và vàng bạc liền đến xử tội Vua mắng Toànbằng những lời lẽ rất phàm tục Khi vào nhà Toàn, vua thấy Vinh Hoa bị sắc đẹp của nàng làmcho xây xẩm mặt mày, ngất lịm đi Tiếp đến, vua đón Vinh Hoa vào cung, hết sức yêu chiềunàng Biết Vinh Hoa có tài hát, lại tiên đoán việc trước sau nhà vua thích lắm, muốn lấy làmthiếp nhưng nàng một mực chối từ Nhân lúc vua say ngủ, Vinh Hoa bỏ ra đi
Ít lâu sau, ở vùng huyện lỵ Đà Bắc người ta vớt được xác một người phụ nữ trên sông, tay
bế một đứa bé còn sống Vua nhận ra người chết giống hệt Ngô Thị Vinh Hoa nên cho làm machay và lập miếu thờ Đứa bé được dân làng người Mường đón về nuôi
Chương 2 NHỮNG NÉT ĐỔI MỚI TRONG TRUYỆN NGẮN “PHẨM TIẾT” 2.1 ĐỔI MỚI VỀ QUAN NIỆM VÀ CÁCH TIẾP CẬN HIỆN THỰC
2.1.1 “PHẨM TIẾT” TRONG CÁI NHÌN LỊCH SỬ HÓA
Quan niệm truyền thống trước năm 1975
Trong quan niệm truyền thống thì khi viết về lịch sử, không chỉ sử gia mà cả nhàvăn cũng phải phục tùng sự thật, đúng bản chất lịch sử, không được làm cho diện mạolịch sử méo mó đi Chính sử được xem như ngôi đền thiêng bất khả xâm phạm Viết về
vị vua Quang Trung trước đây có rất nhiều tác giả đã thành công, nhưng chủ yếu đó lànhững sáng tác nói về tài thao lược và ca ngợi phẩm chất của ngài trên nhiều phươngdiện khác nhau Theo nhà sử học Đỗ Bang, có ít nhất 25 cuốn sách văn học chưa kể
một loạt những cuốn sách lịch sử mang tính chính thống như Đại Nam chính biên liệt truyện, Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Việt Nam sử lược, và sau này là
bộ Đại cương lịch sử Việt Nam toàn tập… Người anh hùng áo vải gần như đã trở thành
một vị thánh trong tâm thức của người Việt Theo quan niệm của chúng ta từ trước tớinay Gia Long là nhân vật lịch sử phản diện, vì ông ta dựa vào Pháp đánh đổ triều TâySơn, ông ta là người “cõng rắn cắn gà nhà” Sự thật về Gia Long (Tự Đức và vươngtriều Nguyễn nói chung) cần được đánh giá cho khoa học, khách quan hơn
Quan niệm hiện đại sau năm 1975
Các nhà văn giai đoạn hiện đại có nhiều quan niệm mới hơn so với truyền thống.Lịch sử ở thời kỳ này chỉ được coi là chất liệu vay mượn của văn học Nhà văn cóquyền phản ánh khác so với sự thật lịch sử để biến nó thành phương tiện cho mục đíchsáng tác của mình Đích tới của những tác phẩm đó không phải là cung cấp lịch sử mànhào nặn lại lịch sử phục vụ cho cảm hứng thế sự đời tư Trong số các nhà văn sángtác tích cực cho khuynh hướng sử thi hóa thì Nguyễn Huy Thiệp là một nhà văn tiêu
biểu Bộ ba tác phẩm “ Kiếm sắt, Vàng lửa và Phẩm tiết” của ông là những sáng tác
xuất sắc cho khuynh hướng này Ba truyện ngắn nằm trong hành trình ngược dòng lịch
sử của Nguyễn Huy Thiệp nhưng nhà văn không qui chụp lịch sử mà chỉ đưa ra những
Trang 34khả năng, những giả thiết Nguyễn Huy Thiệp không viết sử, không viết Vàng
lửa, Kiếm sắc, Phẩm tiết, để phản ánh một cái nhìn lịch sử như cách viết truyền thống.
Ông dùng chất liệu quá khứ để nói chuyện hiện tại, lấy đề tài lịch sử để nói chuyệnmuôn đời
Đề tài lịch sử ở Nguyễn Huy Thiệp tạo ra một sự nghi ngờ gợi mở sáng tạo: “ quá khứ như thế nào?” Nhà văn cảnh tỉnh người đọc trước cái nhìn một chiều về quá khứ Dùng quá khứ như một phương tiện nghệ thuật để chuyển tải nội dung, tư tưởng, dùng những phản đề lịch sử với một cách xử lí vấn đề hết sức mới mẻ và hiện đại, Nguyễn Huy Thiệp đã mang đến một lối suy nghĩ, lối tư duy mới khách quan và toàn diện hơn
về lịch sử nói riêng và đời sống nói chung Trong Phẩm tiết , tác giả mượn lịch sử
trong thời kì từ nhà Tây Sơn đến triều đại vua Gia Long với các nhân vật lịch sử như: Nguyễn Ánh, Nguyễn Huệ.… Ngoài ra, tác giả còn sáng tạo nhiều nhân vật hư cấu đượckhoác cho “cái áo lịch sử” như: Ngô Khải, Vinh Hoa
Nguyễn Huy Thiệp cũng viết về vua Quang Trung, nhưng nhà văn không tập trung xây dựng hình ảnh Quang Trung ở tư thế bách chiến bách thắng như bao tác giả trước
đó Trong Phẩm tiết, nhà văn cũng đã đề cập tới vua Quang Trung ở tư thế là người
chiến thắng, nhưng hình ảnh này cũng vụt qua rất nhanh Tác giả chọn thời điểm đen tốinhất triều đình Tây Sơn Vua Cảnh Thịnh lên ngôi lúc 10 tuổi không lo nổi việc triều chính, chẳng bao lâu cơ nghiệp nhà Tây Sơn đổ nát Và Nguyễn Huy Thiệp khai thác những yếu tố không liên quan gì đến tài thao lược hay việc trọng dụng nhân tài rất nổi tiếng của Quang Trung, mà đó là sự thất bại ở khả năng sở hữu thể xác của một cô gái tên Ngô Thị Vinh Hoa
Từ cách nhìn hiện thực một chiều chuyển sang cách nhìn hiện thực đa dạng, nhiều chiều, biên độ hiện thực được mở rộng, khả năng chiếm lĩnh đời sống được tăng lên Nhà văn đã khám phá và thể hiện hiện thực đời sống trong tính muôn màu, muôn mặt, muôn vẻ của nó Vậy nên sứ mệnh của nhà văn là “khơi gợi chân lý”, để người đọc tự tìm hiểu Người đọc sẽ nhìn vào hình tượng Quang Trung hay Gia Long để tự đánh giá, nhìn nhận lại về xã hội mình đang sống Nguyễn Huy Thiệp không chấp nhận cái quan niệm giản đơn cứng nhắc, nhất thành bất biến của hiện thực mà luôn tìm kiếm một cái nhìn mới mẻ, khác lạ với truyền thống Đó là liệu con người lịch sử có mang những
“đặc điểm người”? Bởi đã là con người, ai cũng có những mặt tốt, xấu, những tình cảm riêng tư mà lịch sử đã cố tình không nhắc đến
2.1.2 “PHẨM TIẾT” TRONG CÁI NHÌN NHẬN THỨC LẠI
Nguyễn Huy Thiệp cho người đọc một cái nhìn mới về những niềm tin cũ, vào cái vẹn toàn Ông dám giễu nhại sự cả tin, bởi con người là hữu hạn, làbất toàn dù là anh hùng hay đế vương Nhân vật của Nguyễn Huy Thiệp đòi hỏi người ta phải xem lại cáchnhận thức lịch sử, nhận thức cuộc đời Người tốt có phải không bao giờ xấu? Và người
bị cho là xấu có phải không biết lòng tốt là gì? Anh hùng có phải luôn luôn chói lọi ánh hào quang? Mỗi trang văn của Nguyễn Huy Thiệp đều động chạm đến hàng loạt vấn đề của đời sống, khơi gợi lên hàng loạt những câu hỏi về cá nhân, về cuộc đời, về con người… Nó bắt người đọc nghi ngờ cả chính mình, những nhận thức đã được cả cộng đồng xây dựng
Đọc truyện Nguyễn Huy Thiệp, người đọc phải lao vào một cuộc chơi ở đó tất cả đều ở trong quan hệ bình đẳng, dân chủ Luật chơi sòng phẳng, cũng là nguyên tắc thẩm
mỹ trong truyện ngắn của ông Nhà văn đưa ra những sự kiện, những tình tiết mà không
Trang 35hề bình luận, không giễu nhại, không khen ngợi, lời kể nghiêm túc, nghiêm túc tới dửng
dưng Ta có thể thấy rõ điều này qua từng trang truyện: “Nhìn bề ngoài ngôi mộ cổ trông không khác một gò mối lớn Đào sâu ba mét thấy vỉa gạch Người chết táng theo lỗi xưa, trong quan ngoài quách Quan tài làm bằng gỗ quý, ván dày tám phân, dăm gỗ nhỏ, đưa ra ngoài trời có màu mận chín…” Những câu văn ngắn gọn, không lời bình
luận, hoặc nếu có lời bình thì cũng không phải của tác giả mà là cái nhìn đa diện của nhân vật Vinh Hoa trong cái nhìn của Quang Trung khác với trong cái nhìn của
Nguyễn Ánh, và trong cái nhìn của lịch sử cũng rất khác Nhân vật ở đây đứng ngang hàng với tác giả, không hề có một sự áp đặt nào cả, và có sự luân phiên các điểm nhìn
để tạo nên tính khách quan dân chủ cho câu chuyện Tác giả không hề áp đặt một suy nghĩ thống nhất nào cả, mà để cho người đọc tự chiêm nghiệm và đánh giá tất cả Câu chuyện trên hết chỉ trình bày những sự kiện, những tình tiết và mỗi người đọc khi đến với tác phẩm với những kinh nghiệm khác nhau, cách nhìn khác nhau có những nhận xétkhác nhau Nó chính là kiểu tác phẩm mở, không đóng khép hay giới hạn trong một cách nhìn cụ thể nào cả, nó chính là sản phẩm của tư duy dân chủ mới, theo tinh thần của thời đại mới
2.2 ĐỔI MỚI QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT VỀ CON NGƯỜI
Đổi mới quan niệm về nhà văn, đổi mới cách viết, đổi mới đề tài… và đặc biệt nhất
là đổi mới quan niệm nghệ thuật về con người với nội dung dân chủ và nhân bản sâu sắc
là những thay đổi rất cần thiết trong văn học giai đoạn hiện đại Bởi“ Văn học và cuộc sống là hai vòng tròn đồng tâm mà tâm điểm là con người” Nhận xét trên của nhà văn Nguyễn Minh Châu nói lên được sứ mệnh cao cả của văn chương là phản ánh một cách sinh động và trung thực về con người
Trước năm 1975, văn học nhìn con người bằng cái nhìn lý tưởng, “ lấy lịch sử làm điểm quy chiếu con người" Cho nên con người xuất hiện trong giai đoạn văn học này chủ yếu là con người cộng đồng, con người giai cấp, con người dân tộc Nhân vật phản ánh trong văn học là những con người đơn giản, dễ hiểu được xây dựng theo những công thức nhất định Nhưng từ sau năm 1975, yêu cầu đổi mới văn học đòi hỏi nhà văn phải nhìn con người trong những mối quan hệ đời thường đa dạng và phức tạp, khám phá con người ở khía cạnh đời tư bằng cặp mắt nhiều chiều và bằng cách viết đa thanh Đọc truyện Nguyễn Huy Thiệp, có thể nhìn thấy những con người có thể coi là xù xì, gân guốc, góc cạnh, lẫn lộn giữa tốt và xấu, thật và giả, đen và trắng, cao thượng và thấp hèn với những suy nghĩ, hành động và đời sống nội tâm vô cùng bí ẩn
2.2.1 Vinh Hoa
Vinh Hoa chính là biểu tượng của cái đẹp, cái thiện, sự thanh khiết Và với lớp ý
nghĩa này Vinh Hoa trở thành nhân vật không cá tính Khi cha gặp hoạ lớn, cô biết quỳ
trước tướng của Nguyễn Huệ là Đặng Tiến Đông giải thích để xin tha tội chết cho cha, nhưng khi vào cung gặp đích thân Nguyễn Hụê, cô lại không quỳ, còn quên luôn mục
đích của chuyến đi mà “nói năng rành rẽ, đâu vào đấy, nhà vua thích lắm Nhà vua hỏi
gì, nàng trả lời điều ấy, nói thông cả buổi, kim cổ đông tây đủ cả” Nàng đàn hát cho
vua thưởng thức Trong khi nàng mải trò chuyện, đàn hát cho vua nghe, thì ở nhà, cha
cô đã thắt cổ chết tự bao giờ! Tính "quên", hành động không nhất quán của nhân vật thuộc thi pháp truyện cổ dân gian, chỉ có điều tác giả truyện cổ dân gian “quên” hồn
Trang 36nhiên, còn Nguyễn Huy Thiệp, “ quên” thủ đoạn Nàng chẳng ghét ai, cũng chẳng yêu
ai Được tin cha chết, cô không hề thương cảm: "Bệ hạ khỏi bận lòng Phận nào phận
ấy Trời chỉ nhờ cửa sinh, có ai giữ được bố mẹ sống một nghìn năm" Tính cách của
nàng khiến mọi người phải dè chừng, sợ hãi Nàng trừng phạt những kẻ có hành vi không trung thực trong mua bán Dân Kẻ Chợ sợ nàng:
“Biết điều thì tránh Vinh Hoa
Quịt năm các bạc mất nhà như chơi.”
Cho dù Vinh Hoa có đẹp thế nào, nếu không biết yêu thì Vinh Hoa cũng chỉ là cái hình nhân trong quầy hàng may mặc Người con gái đẹp được tuyển vào cung để làm gì nếu không phải là để hầu hạ chăn gối nhà vua Được vua yêu dấu, nuông chiều là một ânsủng lớn vậy mà cô lại không chịu thành thân với cả hai vua
Trong Phẩm tiết, Vinh Hoa còn là nhân vật chức năng (chức năng lưu giữ, bảo
tồn) Số phận của nhân vật khá ngẫu nhiên và kỳ lạ Từ một dân nữ bình thường nàng bước chân vào chốn cao sang Vinh Hoa thoát ra khỏi tất cả mọi sự ràng buộc, nàng không thuộc về ai Đây là môtip khá quen thuộc trong tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp khi nhân vật nữ luôn là biểu trưng của cái đẹp Đủ bản lĩnh và phẩm chất làm những việc mà không ai có thể làm, tội chết của người cha là ranh giới buộc Vinh Hoa phải bước vào một không gian khác Tuy nhiên ở trong môi trường mới này, hành động trân trọng vẻ đẹp và tôn trọng ý muốn của Vinh Hoa của vua Quang Trung vô tình đồng loã với sự khác người của nàng, tạo ra môi trường phù hợp với tính cách và phẩm chất của nhân vật Mọi hành động của Vinh Hoa đều không gặp bất cứ cản trở nào Cái chết của Quang Trung chính là ranh giới khép lại một không gian lưu giữ và nuông chiều phẩm giá của cái đẹp Từ khi vua Quang Trung mất, nội bộ Tây Sơn rối ren, Gia Long vào thành Thăng Long Vinh Hoa rơi vào tay viên tướng của Gia Long và được cứu khỏi chốn thô tục, được yêu chiều trong cung vua
Câu đối cuối truyện nghe thật buồn cười:
Sự nhị quân, vĩnh thủ trinh tâm
Lưu vạn cổ, bảo tồn phẩm tiết.
(Thờ hai vua, vẫn giữ lòng trinh
Lưu muôn thuở, còn nguyên phẩm tiết).
Một cô gái đẹp sự nhị quân mà vẫn vĩnh thủ trinh tâm! Nếu Vinh Hoa là nhân vật
tính cách thì rất phi lý Nhưng Vinh Hoa là nhân vật chức năng thì điều phi lý trở thành nghịch lý, buộc ta phải suy nghĩ
2.2.2 Vua Quang Trung
Quang Trung bị ám ảnh khôn nguôi bởi tiếng đàn có khí lạnh và lời tiên tri của Vinh
Hoa Ông không hiểu được tại sao triều đại ông lại ngắn ngủi thế Nghi án lịch sử đó cần được đánh dấu lưu giữ cho hậu thế Nguyễn Huệ giao trách nhiệm này cho Vinh
Trang 37Hoa Cơn giận của Nguyễn Huệ rất đáng chú ý Với ông, tất cả mọi người đều là con
dân Ngô Khải được vua ban cho dự tiệc, đã không bái mạng Thiên Ân, lại còn chê "có
vị lợm" Vậy là bất kính quân lệnh, phải trị Ông chỉ biết bọn giàu có ở Bắc Hà là do
"cướp không biết bao nhiêu lộc thiên hạ" hoặc "có ít của chìm, tháng ba ngày tám mang
ra gặm" như cánh thổ hào ở Đằng Trong mà hồi còn ở ấp Tây Sơn ông rất căm ghét Tầng lớp thương nhân đâu phải cướp không hoặc có ít của chìm như ông nghĩ Dinh Vua Lê nghèo khó, không nói làm gì Nhưng "nhà Khải kho đụn không khác gì Phủ Chúa" Họ thực sự đã là một lực lượng kinh tế Nhưng ông không thấy Nguyễn Huệ
mắng, không cho Khải nói, xử nặng đòn rồi lại hối hận, một động thái tiêu biểu của tinhthần gia trưởng Qua cơn giận, Nguyễn Huệ đã tự bộc lộ mình là một ông vua Việt truyền thống
Nuyễn Huy Thiệp nhìn các danh nhân lịch sử mà xưa nay văn học đưa lên bệ để thờ, để xưng tụng ở khía cạnh đời tư phàm tục Trong chùm truyện “ lịch sử giả”gồm: Kiếm sắc, Vàng lửa, Phẩm tiết, người ta nhìn thấy vua Quang Trung, người anh hùng áo vải cờ đào cũng có lúc
có những cảm xúc rất người trước sắc đẹp của cô Vinh Hoa: “ Nhà vua thấy Vinh Hoa, thốt nhiên rùng mình, hoa mắt, đánh rơi cốc rượu quý cầm tay” ( Phẩm tiết) Nhà văn đã để cho vua Gia Long bộc lộ một cảm xúc rất thật: “ Sứ mệnh đế vương thật là sứ mệnh khốn nạn, chỉ được quyền cao cả, không được quyền đê tiện” ( Phẩm tiết) Cách viết, cách nhìn của Nguyễn Huy
Thiệp có lúc chịu sự phê phán gay gắt từ dư luận Nhưng phải nhận thấy rằng, xây dựng thành công kiểu người lưỡng diện, Nguyễn Huy Thiệp đã chạm được đến chỗ trung thực nhất trong bảnchất con người Đã khám phá được con người ở chiều sâu nhân bản nhất
2.2.3 Vua Gia Long
Gia Long thì lại khác, ông không xem đế vương là mục đích tự thân, mà chỉ là trò chơi Cuộc chạy đua chiếm đoạt vương quyền như một canh bạc lớn, ai khôn ngoan, táo
bạo, và may mắn sẽ thắng Trong ông tồn tại hai con người: một con người ngự trên ngai vàng quyền lực và một con người ít nhiều thị dân hóa Ông nói với Trần Văn
Thành: "Bậc đế vương giữ nước là ở tinh thần, còn giữ mình là ở thể xác" Ông thích
con người thứ hai hơn, nhưng ông lại cần con người thứ nhất Ông nói với Vinh Hoa:
"Sứ mệnh đế vương thật là sứ mệnh khốn nạn, chỉ được quyền cao cả, không được quyền đê tiện" Ông biết triều đại của ông đã lỗi thời, nhưng lại không dám buông bỏ
Gia Long thấy được cái mặt nạ của Vinh Hoa, cô hàng Tấm Kẻ Chợ Cô đẹp và quyến
rũ, đi theo cô là đi theo con đường thương mại hóa để cứu vãn nền kinh tế tiểu nông
đang lâm vào ngõ cụt Ông bị sốc: "Nhà vua thở dài, ngã quay ra đất, ngất lịm" Tỉnh
trí lại, ông đã lựa chọn vương quyền Gia Long không vượt qua được chính mình để cứu đất nước thoát khỏi sự bành trướng của chủ nghĩa tư bản phương Tây như người Nhật Bản và người Thái Lan đã làm được
Gia Long xây xẩm mặt mày vì mùi hoa sữa của Vinh Hoa, cái mùi ước lệ của một
hình tượng ước lệ Người khen lúng túng, tìm lối thoát cho mình hơn là "chạy tội" cho
Nguyễn Huy Thiệp: "Chi tiết này là nỗ lực cuối cùng của Thiệp để lý tưởng hoá nhân vật Vinh Hoa, một nỗ lực nghệ sỹ vụng về, gần như rồ dại, và hết sức đáng thương”.
Trang 38Khác với Quang Trung, cơn giận của Gia Long có vẻ thô tục, ít có vị vua nào sử
dụng ngôn ngữ ấy Ông xử Vũ Văn Toàn rất tàn bạo Đối với ông đế vương là trò chơi
mà đã là trò chơi thì phải diễn trò thật khéo Trên sân khấu, mọi người phải thấy quân ra
quân, thần ra thần Vậy mà Toàn đã phạm luật chơi, dám "mượn danh" ông để "đi ăn cướp với chơi gái" Giá việc xấu đó xảy ra với một tên vô lại tầm thường, hẳn đã không
phải xử nặng Nhưng là bậc công khanh của Thiên Tử thì quyết không thể tha Trong cơn giận, ông nói năng bỗ bã, dung tục kiểu ngôn ngữ thị dân Nếu Quang Trung mắng vùi, không cho Khải trần tình, thì Gia Long lại đối thoại bình đẳng với Toàn Gia Long
là một người say mê quyền lực và để có nó, ông phải làm một ông vua bất đắc dĩ Ông
tỏ ra thực dụng, lạnh lùng, tàn nhẫn và tiềm ẩn đâu đó ý thức dân chủ tự phát
Nhưng dẫu có được đánh giá lại thế nào thì chắc rằng sẽ không ai thừa nhận Gia Long là một “khối nguyên liệu vô giá” “Quốc bảo”
Mối quan hệ giữa ba nhân vật trên
Vinh Hoa trong cái nhìn của Quang Trung: “Ta được Vinh Hoa như được một báu vật”, với Gia Long: “Ta muốn sở hữu nàng như nuôi con gà, con vịt trong nhà” Vinh Hoa nhìn Quang Trung với cái nhìn trân trọng Nàng “ăn nói khoan hòa, cư xử thông minh lịch lãm” trong thời gian ở với Quang Trung, và nàng nhìn Gia Long: “ Thế bệ hạ muốn làm vua gà, vua vịt hay sao?” Gia Long nhìn Quang Trung: “Thế là Huệ dại, Huệ trọng tinh thần mà bỉ thế xác… bậc đế vương giữ nước là ở tinh thần, giữ mình là
ở thế xác”
Hãy làm một phép so sánh đơn giản về giây phút gặp Vinh Hoa của cả hai ông vua
Cả hai đều biết đánh giá cái đẹp Tuy nhiên cách cư xử với cái đẹp lại hoàn toàn khác
nhau Vua Quang Trung “rùng mình, hoa mắt, đánh rơi cốc rượu quý cầm tay…” cho rằng: “được Vinh Hoa như được báu vật, một Vinh Hoa bằng ba vạn người ” Vua
Quang Trung luôn tôn trọng mọi ước nguyện của nàng; còn đối với Gia Long, vẻ đẹpcủa Vinh Hoa được cảm nhận trong không khí đầy nhục cảm, nó báo hiệu hành động
tiếp theo của vua Gia Long là muốn sở hữu nàng “ như nuôi con gà, con vịt trong nhà”.
Hành động của Gia Long chính là vật cản, là ranh giới buộc Vinh Hoa phải bước qua
để bảo tồn phẩm tiết
2.3 ĐỔI MỚI VỀ NGHỆ THUẬT TRẦN THUẬT
Điểm nhìn trần thuật ở đây vừa như một phương thức tổ chức văn bản, vừa là một
cơ chế phát ngôn tinh thần thời đại của nhà văn Sự khai thác điểm nhìn thể hiện trình
độ xử lý mối quan hệ giữa chủ thể kể chuyện với cái được kể, cũng là sự thể hiện chiều sâu cái nhìn nghệ thuật của nhà văn
Tự sự ngôi thứ nhất theo điểm nhìn đơn tuyến là hình thức tự sự mà ở đó tác giả chọn nhân vật xưng “tôi” Nhân vật xưng tôi ấy có thể đóng vai là người dẫn chuyện hoặc là nhân vật tham gia vào quá trình diễn biến, tham gia vào các tình huống của tác phẩm Trong Phẩm tiết “ tôi” đóng vai trò là người dẫn chuyện chứ không tham gia vàotình huống trong truyện Người dẫn chuyện được nghe kể về cuộc đời của nhân vật trong truyện bởi một nhân chứng có lai lịch cụ thể - ông Quách Ngọc Minh “ Tôi” sau khi giới thiệu hoàn cảnh trần thuật của mình thì đóng vai trò là người kể chuyện từ điểm
Trang 39nhìn bên ngoài trong câu chuyện tiếp theo sau đó Tính cách, phẩm chất của các nhân vật hiện lên thông qua sự miêu tả khách quan ngoại hình Hành động, lời nói trong mối quan hệ với các nhân vật khác Câu chuyện được kể ở thì hiện tại, không xuất hiện
những đoạn thể hiện cảm xúc, tâm trạng của nhân vật Lời kể chủ yếu là lời tả: “ Mộ ở vuông đất hẹp, bằng phẳng, cách bờ sông Đà hai trăm năm mươi mét, ở độ cao mười sáu mét kể từ mặt song”, “Nhìn bề ngoài, ngôi mộ cổ trông không khác một gò mối lớn”, “Quan tài làm bằng gỗ quý, ván dày tám phân, dăm gỗ nhỏ, đưa ra ngoài trời có màu mận chin”, “Khi bật nắp quan tài, thấy có một lớp vải lụa hồng Dưới lớp vải lụa hồng, là một màng trong suốt như thạch, hiện lên hình một phụ nữ đẹp rực rỡ, khuôn mặt tươi tỉnh như người sống, trang phục xiêm y lộng lẫy”, “Thoắt cái, một làn sương
mờ trên quan tài ùn lên phủ kín xung quanh Mười phút sau, làn sương tan hết, trong quan tài chỉ còn một bộ xương đen như mun, lớp vải lụa hồng cũng không thấy nữa”…
Chối bỏ lối hành văn trang trọng, có đôi phần thống thiết thường thấy trong văn học
sử thi, ở đây, không có tụng ca, cũng không có những lời phán xét, bình luận của chủ
thể kể, mà chỉ thấy ào ạt sự kiện, ào ạt buồn đau, đổ vỡ Phẩm tiết của Nguyễn Huy
Thiệp làm sống dậy chân dung của thần tượng như một con người thực với vẻ nhếch nhác và những dục vọng bản năng Trong truyện ngắn này, chủ thể kể đứng ngoài câu chuyện, không can thiệp, không mổ xẻ, không phân tích nhân vật Trước cuộc đối thoại giữa vua Quang Trung với Ngô Khải, hay cuộc đối thoại giữa vua Gia Long với tướng cấp dưới của mình, nhân vật “tôi” cũng không có những lời bình luận hay bộc lộ cảm xúc nào cả Nhân vật “tôi” miêu tả sự việc hoàn toàn khách quan, do vậy, dù có một khoảng cách rất xa với nhân vật, bạn đọc vẫn bị cuốn vào những điều mình quan tâm một cách tự nhiên
Một điểm đáng lưu ý ở nghệ thuật trần thuật này nữa là điểm nhìn đã có sự chuyển hóa liên tục từ người kể sang nhân vật Dù nhân vật không đóng vai trò người thực hiện hành động kể song cái được kể đã không đơn giản chỉ là những điều xảy ra bên ngoài người kể, mà còn được thể hiện sinh động ngay trong sự cảm thấy, cảm biết của chính
nhân vật: “Vua Quang Trung giữ Vinh Hoa lại trong cung, rồi sai Đặng Tiến Đông rút quân khỏi nhà Khải Khi Đông đến nhà Khải thì Khải hổ thẹn đã treo cổ tự tử Vua Quang Trung thương xót, hối lại thì đã muộn Nhà vua đang đêm xõa tóc, đi chân đất, vừa đi vừa vấp, chạy vào báo cho Vinh Hoa việc Khải mất Vinh Hoa lập bàn thờ ngay trong cung, thắp hương, tạ vong linh Khải rồi bảo: Bệ hạ khỏi bận lòng Phận nào phận
ấy Trời chỉ nhờ cửa sinh, có ai giữ được bố mẹ sống một nghìn năm? Bệ hạ có thương, cho mở kho lấy một đấu vàng để trả đạo hiếu” Lời kể của nhân vật “tôi” về cuộc đối thoại giữa vua Gia Long và Nguyễn Văn Thành: “Nhà vua bảo: Thế là Huệ dại, Huệ trọng tinh thần mà bỉ thể xác Thành hỏi: Bệ hạ muốn dùng Vinh Hoa ở phần tinh thần hay phần thể xác? Nhà vua bảo: Làm đến đại tướng còn ngu Bậc đế vương giữ nước là
ở tinh thần, còn giữ mình là ở thể xác Thành lắc đầu rồi lui ra” Gia Long khác với Quang Trung, “Huệ trọng tinh thần mà bỉ thể xác”, còn Gia Long thì ngược lại Cuộc
đối thoại giữa vua Gia Long với Vinh Hoa thể hiện suy nghĩ của mỗi nhân vật Người làm vua quyền cao chức trọng nên việc sở hữu thể xác của một cô gái là điều hết sức
bình thường, nên nhà vua nói với nàng như ra lệnh:“Ta muốn sở hữu nàng như nuôi con
gà, con vịt trong nhà Vinh Hoa tâu: Bệ hạ muốn làm vua gà, vua vịt hay sao? Nhà vua thở dài: Sứ mệnh đế vương thật là sứ mệnh khốn nạn, chỉ được quyền cao cả, không được quyền đê tiện”.Vinh Hoa cho đến cùng luôn bảo vệ danh tiết của mình Đây cũng
cách để nhà văn khéo khơi sâu vào thế giới tâm tư nhân vật của mình
Trang 40Chủ thể kể chuyện có thể là người “đứng ngoài” chuyện nhưng đóng vai trò như một “người biết hết”, dẫn dắt bạn đọc vào thế giới nhân vật, sự kiện Chủ thể kể không đứng từ trên cao nhìn xuống mà đóng vai trò như là người tường thuật tại chỗ một cách khách quan về những gì mà nó chứng kiến.
2.4 ĐỔI MỚI VỀ NGÔN NGỮ
Ngôn ngữ trần thuật Nguyễn Huy Thiệp sắc gọn, hàm súc, nhiều khi trơ trụi Các đối thoại giàu tính kịch, dung hợp những từ ngữ thông tục, gần với ngôn ngữ đời sống Lời kể thường ít thành phần phụ, dồn nén thông tin, cũng có khi đậm chất thơ và màu sắc triết lí, chạm sâu vào thế giới tâm tư của con người Đặc điểm này cóthể tìm thấy trong hầu hết các tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp, tạo thành một biểu hiện của phong cách Và có lẽ chính lối hành ngôn hàm súc như thế này khiến
Nguyễn Huy Thiệp luôn gặp khó khăn khi viết tiểu thuyết
2.4.1 NGÔN NGỮ ĐỜI THƯỜNG
Trong Phẩm tiết, Nguyễn Huy Thiệp miêu tả lời đối đáp của Vinh Hoa với hai vua, hầu như không có gì che đậy, dè dặt Các nhân vật Quang Trung, Gia Long, những người tham gia trò chơi của Nguyễn Huy Thiệp cũng không hề tức giận trước những lời rất ư “phạm thượng” của Ngô Thị Vinh Hoa, đó là vì “luật chơi”không kị huý cho phép
như thế Chẳng hạn khi Quang Trung hỏi: “Vận của ta sẽ được mấy đời”, thì Vinh Hoa đáp: “Sao không hỏi được bao nhiêu ngày”? Khi Gia Long muốn tỏ ý sở hữu nàng, Vinh Hoa nói: “Bệ hạ muốn làm vua gà vua vịt hay sao”? Những đối đáp ấy trong thực tế sẽ
bị chém đầu vì tội khi quân Ước lệ này cho phép bộc lộ đến tận cùng gan ruột con người, xoá bỏ hẳn ranh giới giữa ý nghĩ thầm kín và lời nói công khai, lời nói trong và lời nói ngoài mà không cần viện tới hình thức lời nửa trực tiếp hay lời độc thoại nội tâmcủa nhân vật, mà tạo nên lời trực tiếp tự do của nhân vật (không phải của người kể chuyện) Chính vì đặc điểm này mà trong hầu hết truyện của Nguyễn Huy Thiệp ta thường thấy nhân vật này “nói”, nhân vật kia “bảo”, đầy rẫy đối thoại, mà rất hiếm thấy nhân vật “nghĩ”, hoặc tác giả khắc hoạ trực tiếp dòng nội tâm của nhân vật Nội tâm
được tả bằng các biểu hiện ra ngoài như “tái mặt”, “đánh rơi kiếm” hoặc bằng khúc hát
Đó là phong cách trần thuật cổ xưa đã được nhà văn dùng lại Ước lệ không kị huý góp phần xé toạc các thứ xảo ngôn mĩ miều do tâm thế kị huý tạo nên Cách này ứng với thủpháp nghịch dị Những hình ảnh cộc lốc, dị dạng, quái đản, như ta thấy trong chân dung nhân vật của Nam Cao, nhưng ở Nam Cao là nghịch dị bề ngoài, còn ở Nguyễn Huy Thiệp còn là nghịch dị tinh thần, có tác dụng phá bỏ các huyền thoại Cái giận của ông vua Quang Trung với cách mắng “thằng kia”, thường ít thấy trong cách giao tiếp của
một ông vua: “Vua Quang Trung giận lắm, mắng rằng: Thằng Khải kia, tài bằng cái đấu, khinh ta quá chừng! Trời cho mày sống, cướp không biết bao nhiêu lộc thiên hạ,
ăn miếng ngon không biết đậy mồm, còn chê là lợm May nhờ phúc tổ, có ít của chìm, như cái đuôi khô, tháng ba ngày tám mang ra gặm tưởng xênh xang ư?”
Chúng ta cũng xem xét những lời lẽ như phản cảm, dung tục của Toàn: “Đàn bà trơn
mà nhanh như rắn, động ổ là chuồn, biết đâu mà lần?”, “Nay nghiệp đã thành, muốn hưởng lạc riêng, thế gọi là trả giá đời sống” hay lời lẽ của chính vua Gia Long với Toàn: “Thằng khốn nạn theo voi ăn bã mía kia, đểu cáng chừng nào Mày mượn danh ta
để đi ăn cướp với chơi gái à?”, “Thằng mặt xanh kia! Kề miệng lỗ còn dê ư? Ta cho cắt dái mày! Ta cho mày ăn cứt” Không có một ông vua nào trong lịc sử lại có cách xưng
hô: mày – tao, có những lời lẽ đầu đường xó chợ, dung tục đến thế Qua cách miêu tả