Ngoài ra, cũng phải kể đến một số công trình nghiên cứu cụ thể tới từng môn học cụ thể như: Đề tài Hình thành cho học sinh trường THCS kĩ năng làm việc với sách giáo khoa Vật Lí, tác gi
Trang 1- -
NGUYỄN PHƯƠNG THẢO
RÈN LUYỆN KĨ NĂNG LÀM VIỆC
VỚI SÁCH GIÁO KHOA MÔN TIẾNG VIỆT
CHO HỌC SINH LỚP 5
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
HÀ NỘI - 2017
Trang 2- -
NGUYỄN PHƯƠNG THẢO
RÈN LUYỆN KĨ NĂNG LÀM VIỆC
VỚI SÁCH GIÁO KHOA MÔN TIẾNG VIỆT
CHO HỌC SINH LỚP 5
Chuyên ngành: Giáo dục học (Bậc tiểu học)
Mã số: 60 14 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS NGUYỄN GIA CẦU
HÀ NỘI - 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này
là trung thực và không trùng lặp với các đề tài khác Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả
Nguyễn Phương Thảo
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian qua, đề tài “Rèn luyện kỹ năng làm việc với sách giáo
khoa môn Tiếng Việt cho học sinh lớp 5” được hoàn thành không chỉ dựa
vào sự nỗ lực cố gắng của bản thân mà còn nhờ sự giúp đỡ và hướng dẫn tận
tình, chu đáo của PGS TS Nguyễn Gia Cầu
Luận văn cũng nhận được những lời góp ý quý báu của các Thầy Cô giáo khoa Giáo dục tiểu học - Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
Trên trang giấy này, xin được bày tỏ và gửi tới các Thầy Cô giáo lời cảm ơn chân thành và sâu sắc của chúng tôi
Luận văn tuy được đầu tư nghiên cứu cẩn thận, nhưng do thời gian hạn chế nên chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót cần sửa chữa Rất mong tiếp tục nhận được những góp ý, bổ sung của các Thầy Cô và bạn đọc
Tác giả
Nguyễn Phương Thảo
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Mục đích nghiên cứu 4
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
6 Phương pháp nghiên cứu 5
7 Giả thuyết khoa học 6
8 Cấu trúc luận văn 6
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀTHỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀIRÈN LUYỆN KỸ NĂNG LÀM VIỆC VỚI SÁCH GIÁO KHOAMÔN TIẾNG VIỆT CHO HỌC SINH LỚP 5 7
1.1 Cơ sở lý luận 7
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản 7
1.1.2 Các thành phần cơ bản của kĩ năng làm việc với SGK môn Tiếng Việt lớp 5 14
1.1.3 Ý nghĩa của việc rèn kĩ năng làm việc với SGK môn Tiếng Việt lớp 5 15
1.1.4 Một số đặc điểm tâm lí của HS lớp 5 17
1.2 Cơ sở thực tiễn 22
1.2.1 Một số đặc điểm của SGK môn Tiếng Việt lớp 5 22
Trang 61.2.2 Thực trạng việc rèn luyện kĩ năng làm việc với SGK môn Tiếng
Việt 5 cho học sinh 30
1.2.3 Thực trạng trình độ kĩ năng làm việc với SGK môn Tiếng Việt của học sinh lớp 5 34
1.2.4 Đánh giá chung về thực trạng 36
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 38
CHƯƠNG 2: QUY TRÌNH RÈN LUYỆN KĨ NĂNG LÀM VIỆC 39
VỚI SÁCH GIÁO KHOA MÔN TIẾNG VIỆT CHO HỌC SINH LỚP 5 39
2.1 Nguyên tắc xây dựng quy trình 39
2.2 Quy trình thực hiện chung 40
2.3 Quy trình cụ thể 41
2.3.1 Thao tác kỹ năng làm việc với SGK Tiếng Việt 5 trong phân môn Tập đọc 42
2.3.2 Thao tác kỹ năng làm việc với SGK Tiếng Việt 5 trong phân môn Luyện từ và câu 45
2.3.3 Thao tác kỹ năng làm việc với SGK Tiếng Việt 5 trong phân môn Chính tả 50
2.4.4 Thao tác kỹ năng làm việc với SGK Tiếng Việt 5 trong phân môn Tập làm văn 52
2.5 Một số lưu ý trước khi giáo viên hướng dẫn học sinh thực hiện quy trình 54
2.5 Điều kiện đảm bảo cho việc rèn luyện có kết quả kỹ năng làm việc với SGK môn Tiếng Việt cho HS lớp 5 57
2.5.1 Tổ chức hợp lý hoạt động học tập của HS với SGK môn Tiếng Việt ở nhà 57
2.5.2 Phối hợp hoạt động học tập của học sinh với SGK môn Tiếng Việt với các hoạt động học tập khác của học sinh 58
Trang 72.5.3 Kiểm tra, đánh giá kết quả làm việc với SGK môn Tiếng Việt 59
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 61
Chương 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 62
3.1 Mục đích thực nghiệm 62
3.2 Đối tượng thực nghiệm 62
3.3 Nội dung thực nghiệm 62
3.4 Thời gian tiến hành thực nghiệm 62
3.5 Tiêu chí đánh giá kết quả thực nghiệm 63
3.6 Tiến hành thực nghiệm và kết quả 64
3.6.1 Tiến hành đánh giá theo điểm số 64
3.6.2 Tiến hành đánh giá theo mức độ hứng thú 66
3.6.3 Tiến hành đánh giá theo mức độ hình thành kĩ năng 79
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 82
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 83
DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ 86
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 87 PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT STT Ký hiệu Nguyên nghĩa
1 GV Công nghệ thông tin
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ
1 Danh mục các bảng
Bảng 1.1: Kết quả nhận thức của GV tiểu học về khái niệm kỹ năng 31
làm việc với SGK môn Tiếng Việt của HSTH 31
Bảng 1.2: Các mức độ nhận thức của GV tiểu học về vai trò của kỹ năng làm việc với SGK môn Tiếng việt của HS 32
Bảng 1.3: Các mức độ GV rèn luyện kỹ năng làm việc với SGK môn Tiếng Việt cho HS 33
Bảng 1.4: Mức độ sử dụng thành thạo kỹ năng làm việc với SGK môn Tiếng Việt trong quá trình học tập của HS 36
Bảng 2.1: Các giai đoạn làm việc với SGK môn Tiếng Việt lớp 5 41
Bảng 3.1: Kết quả học tập của HS lớp thực nghiệm và lớp đối chứng 65
Bảng 3.2: Kết quả học tập của HS lớp đối chứng và lớp thực nghiệm 65
Bảng 3.2: Mức độ hứng thú làm việc với SGK môn Tiếng Việt 79
của HS trong giờ học 79
Bảng 3.3: Mức độ hình thành kĩ năng làm việc với SGK môn Tiếng Việt của HS 80
2 Danh mục biểu đồ Biểu đồ 3.1: Kết quả học tập của HS lớp thực nghiệm và đối chứng 66
3 Danh mục sơ đồ Sơ đồ 2.1: Thao tác của kỹ năng làm việc với SGK môn Tiếng Việt lớp 5 43
trong phân môn Tập đọc 43
Sơ đồ 2.2: Thao tác kỹ năng làm việc với sách giáo khoa môn Tiếng Việt lớp 5 trong các bài hình thành kiến thức 46
Sơ đồ 2.3: Thao tác kỹ năng làm việc với SGK môn Tiếng Việt lớp 5 trong phân môn Chính tả 51
Sơ đồ 2.4: Mối quan hệ giữa các kỹ năng làm việc 55
với SGK môn Tiếng Việt 55
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8 của Ban chấp hành Trung
ương Đảng khóa XI về Đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo
(số 29/NQ/TW), một trong những mục tiêu môn Tiếng Việt tiểu học là:
“Hình thành và phát triển ở học sinh các kĩ năng sử dụng Tiếng Việt (nghe,
nói, đọc, viết) để học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt động của lứa
tuổi”
Ở tiểu học, trong các môn học sinh được học tập thì môn Tiếng Việt là
một trong những môn đòi hỏi học sinh bám sát với SGK Bởi SGK Tiếng
Việt giống như kim chỉ nam cho các em học sinh (HS), đặc biệt là các em
HS lớp 5 đang trong thời kỳ cuối cấp Giữa vô vàn những tác phẩm, những
đề bài tập làm văn, … các em cần một sự định hướng rõ ràng, mạch lạc và
thống nhất
Sách giáo khoa (SGK) Tiếng Việt dành cho học sinh tiểu học là một tài
liệu học tập bắt buộc đối với học sinh Mỗi bài học trong SGK đều thể hiện
đầy đủ các nội dung dạy học nhằm đảm bảo mục tiêu hình thành và phát triển
ở học sinh 4 kỹ năng sử dụng Tiếng Việt: nghe, nói, đọc, viết để học sinh có
thể giao tiếp và học tập trong môi trường hoạt động của lứa tuổi Chính nhờ
những ưu điểm trên, SGK nói chung và SGK Tiếng Việt nói riêng được coi là
một trong những công cụ đắc lực phục vụ cho việc dạy học trong nhà trường,
đặc biệt là với nhà trường tiểu học Tuy nhiên, để phát huy hết chức năng của
công cụ này đòi hỏi học sinh phải có kỹ năng nhất định thông qua sự định
hướng khoa học của giáo viên (GV)
Đã có khá nhiều nghiên cứu về việc nâng cao hiệu quả của việc sử
dụng SGK nhằm phát huy tối đa giá trị của cuốn sách và giúp các em học sinh
đạt kết quả tốt nhất trong học tập Những công trình này mang đến những
Trang 11đóng góp không nhỏ trong việc giúp học sinh có tinh thần làm việc tích cực
và chủ động hơn với SGK Tuy nhiên, chưa có đề tài nào nghiên cứu về việc giúp học sinh làm việc một cách chủ đông tích cực với SGK Tiếng Việt, cụ thể là đối tượng học sinh lớp 5
Vậy tôi chọn đề tài nghiên cứu là “Rèn luyện kỹ năng làm việc với
SGK môn Tiếng Việt cho học sinh lớp 5”
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Kĩ năng học tập nói chung và kĩ năng làm việc với SGK nói riêng là vấn đề đã được nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước đề cập tới trong nhiều công trình khoa học Ngay từ những năm 1920, ở Liên xô (cũ) và các nước Đông Âu trước đây đã có những công trình nghiên cứu về kĩ năng học tập của HS Tuy nhiên, đến những năm 1960, vấn đề này mới trở thành hệ thống lí luận với những công trình của các nhà sư phạm giảng dạy bộ môn
Với mục tiêu: “Xây dựng nội dung - chương trình giáo dục toàn diện thế
hệ trẻ, đáp ứng yêu cầu phát triển nhân lực, phục vụ công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước, phù hợp với thực tiễn và truyền thống Việt Nam, tiếp cận trình
độ giáo dục phổ thông ở các nước phát triển trong khu vực và trên thế giới” (Nghị quyết 40/2000/QH10 của Quốc hội khóa IX), Bộ Giáo Dục - Đào tạo đã cho ra đời chương trình tiểu học năm 2000 Khi chương trình được ban hành và
áp dụng với mục đích nhằm tăng cường khả năng tự học, kĩ năng thực hành của
HS, đó là bước ngoặt lớn cho chương trình tiểu học nói chung và bộ môn Tiếng Việt nói riêng Nó đã nhận được nhiều sự quan tâm từ phía GV, HS, PHHS, đặc biệt là học viên trong ngành nghiên cứu giáo dục tiểu học
Kĩ năng học tập được nhiều tác giả xem như đó là một trong những biện pháp để góp phần nâng cao chất lượng dạy - học bộ môn nói chung cũng như
bộ môn Tiếng Việt ở tiểu học nói riêng Trong đó, kĩ năng làm việc với SGK là một dạng kĩ năng học tập mà chúng ta cần phải có định hướng để hình thành và rèn luyện cho HS trong quá trình dạy học môn Tiếng Việt ở tiểu học
Trang 12Kĩ năng làm việc với SGK đã có khá nhiều bài báo trên các tạp chí khoa học hay diễn đàn giáo dục đề cập tới Một số tác phẩm đáng được lưu
tâm như: Phương pháp sử dụng tài liệu hiệu và sách giáo khoa hiệu quả, tác
giả Lê Hữu Hưng đã trình bày những khái niệm khá rõ rang về các loại sách,
cách tìm hiểu và tra cứu chúng; Tương tự, Sáng kiến kinh nghiệm Sử dụng
sách giáo khoa trong giảng dạy sao cho hiệu quả, tác giả Nguyễn Thị Hà
Linh cũng đã nêu bật được những phương pháp để vận dụng tối ưu SGK vào công tác giảng dạy
Ngoài ra, cũng phải kể đến một số công trình nghiên cứu cụ thể tới
từng môn học cụ thể như: Đề tài Hình thành cho học sinh trường THCS kĩ
năng làm việc với sách giáo khoa Vật Lí, tác giả Phạm Thế Dân đã đưa ra
được những biện pháp hình thành kĩ năng làm việc với SGK môn Vật lí cho
HS trường THCS; Đề tài Quy trình tổ chức học sinh làm việc với sách giáo
khoa trong dạy học sinh học ở trường Trung học phổ thông (Tập chí Khoa học ĐHSP TP Hồ Chí Minh), tác giả Nguyễn Duân đã trình bày rõ ràng, sắc
nét quy trình làm việc với SGK môn Sinh học cho HS THPT; Tương tự, đề tài
Rèn luyện kĩ năng làm việc với sách giáo khoa môn khoa học cho học sinh lớp
5, tác giả Lý Thị Chung Thủy cũng đưa ra được quy trình làm việc với SGK
môn Khoa học dành cho đối tượng cụ thể là học sinh lớp 5
Tuy nhiên, cho tới nay, vấn đề rèn luyện kĩ năng làm việc với SGK ở trường Tiểu học, cụ thể làm việc với SGK môn Tiếng Việt lớp 5 vẫn đang chỉ
bó hẹp ở dưới dạng những tài liệu đơn thuần; Những hướng dẫn mang tính chất tham khảo đó không đưa ra một quy trình cụ thể nào để giúp GV áp dụng một cách dễ dàng vào thực tiễn dạy học nên GV không có cở sở khoa học để rèn luyện cho HS kĩ năng làm việc với SGK và chắc chắn việc rèn luyện đó đạt kết quả như mong muốn Bên cạnh đó, dưới sự bùng nổ của kĩ thuật hiện đại và áp lực mong muốn áp dụng CNTT vào bài giảng, nhiều GV dường như
Trang 13triệt tiêu cuốn SGK mà quên đi rằng đó cũng chính là một công cụ đắc lực và tiện ích để truyền tải nội dung bài giảng
Việc hình thành và rèn luyện kĩ năng cho HS không phải là việc có thể thực hiện thành công trong một hay hai tiết học, nó đòi hỏi phải có một quá trình lâu dài cùng với sự kiên trì của GV và sự hưởng ứng tích cực từ HS Qua việc tìm hiểu các tài liệu trên dây, chúng tôi nhận thấy một điều là: các tác giả đã đề cập tới vấn đề rèn luyện kĩ năng làm việc SGK cho HS dưới nhiều khía cạnh, góc độ khác nhau, nhưng vấn đề rèn luyện kĩ năng làm việc với SGK cho HSTH cụ thể là HS lớp 5 trong bộ môn Tiếng Việt thì chưa có tài liệu nào đi sâu nghiên cứu
Trên cơ sở kế thừa và phát huy những thành tựu có trước, trong phạm
vi nghiên cứu của đề tài này, chúng tôi xin đề xuất một quy trình rèn luyện kĩ năng làm việc với SGK môn Tiếng Việt cho HS lớp 5, nhằm giúp GV tiểu học có cơ sở khoa học để rèn luyện kĩ năng này cho HS, góp phần nâng cao chất lượng dạy - học môn Tiếng Việt ở bậc tiểu học
3 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu cách thức làm việc hiệu quả với SGK môn Tiếng Việt ở học sinh lớp 5 nhằm giúp các em biết cách tận dụng dữ liệu học tập sát thực nhất bên cạnh mình Qua đó, rèn luyện cho các em tinh thần làm việc tự chủ đối với các nguồn tài nguyên sẵn có trong môn Tiếng Việt nói riêng và các môn học khác nói chung
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu các phương pháp hướng dẫn làm việc với SGK môn Tiếng Việt của giáo viên và cách thức, thái độ thực hiện của học sinh lớp 5 Bắt đầu
từ khi chuẩn bị trước khi vào bài, trong tiết học tới sau bài học
1 Điều tra, khảo sát thực trạng kỹ năng làm việc với SGK môn Tiếng Việt của học sinh lớp 5
Trang 142 Đề xuất sử dụng phương pháp, hoạt động giúp học sinh nâng cao tính tích cực, chủ động và làm việc có hiệu quả đối với SGK môn Tiếng Việt lớp 5
3 Tổ chức thực nghiệm sư phạm để đánh giá hiệu quả việc phát triển vốn từ cho học sinh thông qua các tiết dạy học Tiếng Việt lớp 5
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
a Đối tượng nghiên cứu
Một số biện pháp rèn luyện kỹ năng làm việc chủ động, khoa học với SGK của học sinh lớp 5
b Phạm vi nghiên cứu
Vấn đề rèn luyện khả năng làm việc tích cực, đạt hiệu quả cao khi sử dụng SGK của học sinh lớp 5
6 Phương pháp nghiên cứu
a Phương pháp nghiên cứu lý luận
Tìm hiểu, nghiên cứu các tài liệu lý luận về các vấn đề có liên quan đến
đề tài: kỹ năng làm việc với sách giáo khoa, quy trình làm việc với SGK trong môn Tiếng Việt tại tiểu học
b Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Tổ chức tiến hành phát phiếu điều tra, tham khảo ý kiến chuyên gia; Tham dự các tiết dạy học môn Tiếng Việt, đặc biệt là các tiết chuyên đề về dạy học tích cực với SGK
c Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Tổ chức thực nghiệm sư phạm để xem xét tính khả thi và hiệu quả của việc rèn luyện kỹ năng làm việc với SGK môn Tiếng Việt tại học sinh lớp 5 một cách chủ động và tích cực Kết quả thực nghiệm sư phạm được xử lý bằng phương pháp thống kê toán học thường dùng trong khoa học giáo dục
d Phương pháp thống kê
Thống kê và xử lí kết quả thực nghiệm sư phạm
Trang 157 Giả thuyết khoa học
Nếu việc rèn luyện kỹ năng làm việc với SGK môn Tiếng Việt cho học sinh lớp 5 đạt hiệu quả cao sẽ giúp giáo viên tránh được tình trạng nói nhiều, trình bày lại những vấn đề có sẵn trong SGK và áp lực về lượng kiến thức mong muốn truyền thụ trong thời gian cố định của tiết học Đối với học sinh, việc thành công trong rèn luyện kỹ năng làm việc với SGK sẽ giúp các em tránh được sự nhàm chán, thêm vào đó sẽ có nhiều hơn thời gian để các em có thể thỏa sức các hoạt động tìm hiểu ngoài SGK mà vẫn có sự giúp đỡ, hướng dẫn của giáo viên
Sự thành công của luận văn sẽ là đóng góp tích cực vào việc nâng cao trình độ làm việc, sử dụng các phương pháp theo hướng tích cực của giáo viên Đồng thời, cũng giúp học sinh rèn luyện khả năng chủ động, tích cực, tự
tư duy và biết tận dụng tài nguyên sẵn có trong học tập của học sinh lớp 5 trong môn Tiếng Việt
8 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài Rèn luyện kỹ năng làm
việc với sách giáo khoa môn Tiếng Việt cho học sinh lớp 5
Chương 2: Quy trình rèn luyện kĩ năng làm việc với sách giáo khoa môn Tiếng Việt cho học sinh lớp 5
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 16
Làm việc với SGK là một dạng hoạt động học tập mà tương ứng với nó
là kĩ năng làm việc với SGK Vì vậy, để nghiên cứu vấn đề rèn luyện kĩ năng làm việc với SGK môn Tiếng Việt cho HS lớp 5, trước hết cần xem xét bản chất, đặc điểm của hoạt động học tập
Hoạt động học tập của HS là hoạt động đặc thù, được điều khiển bới mục đích tự giác lĩnh hội những tri thức, kĩ năng, kĩ xảo (còn gọi là những kinh nghiệm xã hội) mới và diễn ra dưới sự tổ chức, hướng dẫn, điều khiển hoạt động dạy của GV
Đối tượng của hoạt động học là tri thức và những kĩ năng, kĩ xảo tương ứng với nó Có thể nói cái đích mà hoạt động học tập hướng tới là chiếm lĩnh tri thức và những kĩ năng, kĩ xảo của xã hội thông qua sự tái tạo của cá nhân Việc tái tạo này sẽ không thể thực hiện được nếu người học chỉ là khách thể
bị động của những tác động sư phạm Muốn học tập có kết quả, người học phải tích cực tiến hành các hoạt động học tập bằng chính ý thức tự giác và năng lực trí tuệ của bản thân mình
Hoạt động học tập là hoạt động hướng vào làm thay đổi chính bản thân chủ thể hoạt động này: Tri thức mà loài người tích lũy được là đối tượng của hoạt động học tập Nội dung của đối tượng này không thay đổi sau khi nó bị chủ thể của hoạt động học tập chiếm lĩnh Nhưng ngược lại, chính nhờ có sự chiếm lĩnh này mà tâm lí của chủ thể mới được thay đổi và phát triển
Trang 17Hoạt động học tập không chỉ hướng vào việc tiếp thu những tri thức và
kĩ năng, kĩ xảo tương ứng với chúng, mà còn hướng vào việc tiếp thu cả những tri thức của chính bản thân hoạt động học tập Nói cách khác, hoạt động học tập còn tiếp thu cả phương pháp dành được tri thức đó (hay còn gọi
là cách học)
Muốn cho hoạt động học tập diễn ra có kết quả cao, người học phải biết cách học, nghĩa là phải có những tri thức về bản thân hoạt động học tập Sự tiếp thu tri thức này không thể diễn ra một cách độc lập với việc tiếp thu những tri thức và kĩ năng, kĩ xảo được coi là đối tượng của hoạt động học tập
Do đó, trong khi tổ chức hoạt động học tập của HS, người GV phải xác định được những tri thức, kĩ năng, kĩ xảo đó
Như vậy, việc hình thành hoạt động học tập cũng phải được xem xét là mục đích quan trọng của hoạt động dạy Hoạt động dạy phải được tổ chức sao cho thông qua đó hình thành được hoạt động học tập cho HS một cách tốt nhất, giúp cho các em có khả năng tiếp thu tri thức một cách chủ động và có hiệu quả cao
Việc xem xét bản chất và đặc điểm tâm lý của học sinh trong hoạt động học tập cho phép rút ra kết luận rằng, việc tổ chức cho HS làm việc với SGK môn Tiếng Việt nhằm chiếm lĩnh tri thức khoa học được trình bày trong SGK môn Tiếng Việt phải diễn ra như thế nào đó để đảm bảo hình thành và rèn luyện được cho HS lớp 5 những kỹ năng làm việc với SGK môn Tiếng Việt (tức là cả những tri thức về hoạt động học tập với SGK môn Tiếng Việt)
1.1.1.2 Kỹ năng và kỹ năng học tập
Các nhà tâm lý học dạy học và lý luận dạy học quan niệm rằng kỹ năng
là tri thức về hành động [3] Đó là khả năng của con người biết sử dụng một cách có mục đích và sáng tạo những kiến thức về kỹ xảo của mình trong quá trình hoạt động lý thuyết cũng như thực tiễn, là khả năng thực hiện có hiệu
Trang 18quả hành động tương ứng với các mục đích và điều kiện mà trong đó hành động xảy ra
Kỹ năng bao giờ cũng mang tính khái quát và được sử dụng trong những tình huống khác nhau, chỉ trên cơ sở kiến thức và kỹ xảo đã tập luyện
từ trước mới hình thành được kỹ năng
Kỹ xảo là những hành động được hình thành trong quá trình luyện tập
và nằm trong cấu trúc của hành động phức tạp hơn - nằm trong kỹ năng Nói cách khác, kỹ xảo là thành phần tự động hóa của kỹ năng đảm bảo hoàn thành
kỹ năng đó một cách tốt đẹp và nhẹ nhàng [23] Chỉ trong quá trình hoạt động
có mục đích đặc biệt là trong quá trình luyện tập mới hình thành được kỹ năng và kỹ xảo
Các kỹ năng được hình thành trong quá trình hoạt động của con người
Vì thế cần xem xét khái niệm "hoạt động"
Trong tâm lý học, người ta hiểu hoạt động là khái niệm đặc trưng cho tác động của cá nhân trong quá trình tác động qua lại của cá nhân với thế giới xung quanh Hoạt động được kích thích bởi nhu cầu, hướng đến đối tượng để thỏa mãn nhu cầu và được thực hiện bởi một hệ thống các hành động Hành động là quá trình phụ thuộc vào quan niệm về kết quả cần đạt được Hành động được thực hiện thông qua các thao tác, hay nói cách khác thao tác là phương thức thực hiện hành động Lúc đầu mỗi thao tác được hình thành như một hành động tùy thuộc vào mục đích đã xác định Nhưng sau đó, nó có thể tham gia vào một hành động khác có thành phần thao tác phức tạp và trở thành một trong các phương thức thực hiện hành động - tức là thao tác
Phần quan trọng nhất của cơ chế tâm lý của hành động là cơ sở định hướng Có ba kiểu cơ sở định hướng của hành động và tương ứng với chúng
là ba kiểu định hướng vào việc giải quyết nhiệm vụ Mỗi kiểu định hướng có kết quả và quá trình hành động riêng
Trang 19Trong kiểu cơ sở định hướng thứ nhất, GV giới thiệu cho HS mẫu của hành động và kết quả của hành động, còn những chỉ dẫn cần phải thực hiện hành động như thế nào không được nêu ra HS thực hiện nhiệm vụ một cách
mò mẫm theo phương pháp thử và sai Kết quả là nhiệm vụ có thể được thực hiện, nhưng hành động mà nhờ đó nhiệm vụ được thực hiện không bền vững khi thay đổi điều kiện Chính vì thế, nếu áp dụng cơ sở định hướng này để rèn luyện kỹ năng làm việc với SGK cho HS thì sẽ không đem lại hiệu quả cao
Trong kiểu cơ sở định hướng thứ 2, GV giới thiệu cho HS biết mẫu của hành động và những chỉ dẫn để thực hiện hành động Ở đây HS nắm vững được kỹ năng thực hiện hành động và có khả năng chuyển sang thực hiện nhiệm vụ mới, nhưng sự di chuyển này đòi hỏi phải có trong thành phần của nhiệm vụ mới những yếu tố tương tự các yếu tố trong thành phần của nhiệm
vụ đã nắm vững
Trong kiểu cơ sở định hướng thứ ba, GV tiến hành dạy có kế hoạch về
sự phân tích các nhiệm vụ nhằm rút ra những điểm tựa để thực hiện nhiệm vụ Những điểm tựa này là cơ sở định hướng để thực hiện đúng hành động Ở đây
GV cần xây dựng những điều kiện để kích thích HS tự xây dựng cơ sở định hướng của hành động và sau đó thực hiện hành động theo cơ sở định hướng
đó Hành động được hình thành trong điều kiện như vậy có khả năng dịch chuyển sang một lớp các nhiệm vụ rộng lớn hơn
Để rèn luyện có kết quả kỹ năng thực hiện một hành động nào đó, trước hết GV cần phân tích cấu trúc của hành động, xác định rõ việc thực hiện hành động bao gồm những thao tác nào và trình tự hợp lý nhất của các thao tác đó Sau đó, GV xây dựng hệ thống các bài luyện tập đảm bảo để HS thực hiện đúng đắn, hầu như tự động hóa các hành động đơn giản và tổ chức thực hiện chúng
Trang 20Việc vạch ra các thành phần thao tác tạo thành hành động là điều kiện cần thiết để lựa chọn phương pháp hợp lý cho việc rèn luyện kỹ năng Khi biết thành phần các thao tác, GV xác định trình tự hợp lý nhất để rèn luyện kỹ năng thực hiện mỗi thao tác đơn giản và sau đó là rèn luyện kỹ năng thực hiện toàn bộ hành động Ở đây HS ý thức được mục đích của hành động, ý nghĩa của việc nẵm vững kỹ năng và trình tự các thao tác tạo thành hành động sẽ cho phép các em nhanh chóng nắm vững kỹ năng đó hơn
Sự thực hiện các hành động phức tạp được thực hiện theo giai đoạn và việc rèn luyện các kỹ năng được tổ chức trên cơ sở kiểu định hướng thứ hai hay thứ ba là tùy thuộc vào mục đích sư phạm và đặc tính của hành động
Theo cách hiểu về kỹ năng như đã nói ở trên thì có thể hiểu kỹ năng học tập là kỹ năng của hoạt động học tập, một trong những dạng hoạt động cơ bản của con người
Theo một số nghiên cứu của các nhà khoa học, để rèn luyện kỹ năng học tập có hiệu quả thì cần đi theo các bước cơ bản như sau:
Trước hết, HS thấy được ý nghĩa của kỹ năng cần rèn luyện và mục đích của hành động tương ứng
Hai là, HS lĩnh hội các thành phần cấu trúc cơ bản của hành động và trình tự hợp lý nhất để thực hiện các thao tác tạo thành hành động
Ba là, HS thực hiện các bài luyện tập để rèn luyện kỹ năng thực hiện hành động
Bốn là, HS sử dụng những kỹ năng đang rèn luyện vào việc thực hiện trên một đối tượng mới để củng cố thêm kỹ năng cần rèn luyện
Quá trình rèn luyện kỹ năng theo các bước đã nêu đảm bảo phát huy cao tính tích cực, tính tự lực và sáng tạo của HS khi thực hiện các nhiệm vụ học tập Điều đó cho phép HS có khả năng áp dụng kỹ năng thực hiện hành động đã biết trong tình huống mới
Trang 21Như vậy việc xem xét những cơ sở lý thuyết của phương pháp rèn luyện kỹ năng học tập cho phép rút ra kết luận rằng để rèn luyện có kết quả kỹ năng làm việc với SGK môn Tiếng Việt cho HS lớp 5 thì trước hết cần phải xác định các thành phần cấu trúc của kỹ năng này rồi sau đó tổ chức cho HS luyện tập thực hiện các kỹ năng thành phần đó
1.1.1.3 SGK và SGK trong quan niệm đổi mới
Sách giáo khoa là loại sách cung cấp kiến thức, được biên soạn với mục đích dạy và học tại nhà trường Thuật ngữ sách giáo khoa còn có nghĩa mở rộng là một loại sách chuẩn cho một ngành học Sách giáo khoa được phân loại dựa theo đối tượng sử dụng hoặc chủ đề của sách Việc xuất bản sách giáo khoa thường dành cho các nhà xuất bản chuyên ngành
Ở bậc tiểu học, SGK là sự thể hiện những nội dung cụ thể của chương trình dạy học Kiến thức trong SGK là một hệ thống kiến thức khoa học, chính xác, theo một trình tự logic chặt chẽ, được gia công về mặt sư phạm cho phù hợp với trình độ học sinh và thời gian học tập Ngoài phần kiến thức, SGK còn có một phần về rèn luyện các kỹ năng và các phương pháp giảng dạy môn học
Nhắc đến cách tiếp cận SGK, tính từ những năm 1990 trở lại đây, người
ta thường đề cập đến ba cách tiếp cận chính là: cách tiếp cận nội dung, cách tiếp cận kết quả đầu ra, và cách tiếp cận năng lực
Bộ sách giáo khoa hiện hành (theo Chương trình 2000) chủ yếu vẫn được phát triển theo định hướng nội dung kiến thức Các bộ SGK sắp tới, như
sự hình dung của Dự thảo Chương trình Giáo dục Phổ thông tổng thể (2016)
và như những gì mà các cơ quan, bộ phận hữu trách đang bàn thảo hiện nay,
sẽ được thiết kế phát triển theo định hướng phát triển năng lực cho học sinh Theo chúng tôi, nhìn chung SGK theo định hướng phát triển năng lực phải là
Trang 22SGK giúp học sinh có thể vận dụng và vận dụng một cách thành công tất cả những gì đã học vào cuộc sống Thay vì trả lời câu hỏi học về cái gì thì SGK theo định hướng phát triển năng lực phải trả lời câu hỏi học để làm gì Thay vì cho chúng ta biết học sinh được học cái gì, được có cái gì, được làm cái gì thì SGK phải cho chúng ta biết HS học được cái gì, có được cái gì, làm được cái
gì Nói cách khác, SGK phải giúp chúng ta trả lời được những câu hỏi đại loại như: HS biết làm gì từ những điều đã học? HS biết vận dụng những kiến thức mình đã được học như thế nào vào cuộc sống? HS có khả năng, biết làm cái
gì và làm như thế nào từ những cái mình biết và những cái mình hiểu?
Tuy vậy, với SGK hiện hành, chúng tôi vẫn nhận thấy một logic nhất định về cấu trúc, nội dung, phương thức tiến hành bài tập Và việc cần rèn luyện kỹ năng làm việc với SGK là vô cùng quan trọng
1.1.143 Kỹ năng làm việc với SGK
Làm việc với SGK là một dạng hoạt động học tập của HS nhằm mục đích lĩnh hội tri thức được trình bày trong SGK
Theo cách hiểu chung về kỹ năng (mục 1.1.1.2) thì có thể coi kỹ năng làm việc với SGK môn Tiếng Việt là tri thức về hoạt động học tập theo SGK môn Tiếng Việt Đó là khả năng vận dụng sáng tạo những kiến thức và kỹ xảo đã có để giải quyết có kết quả những nhiệm vụ học tập theo SGK môn Tiếng Việt nhằm lĩnh hội tri thức khoa học được trình bày trong SGK môn Tiếng Việt
Kỹ năng làm việc với SGK môn Tiếng Việt là kỹ năng tự lĩnh hội tri thức Đó là một kỹ năng nhận thức quan trọng cần rèn luyện cho HS trong quá trình dạy học môn Tiếng Việt ở tiểu học Việc tổ chức cho HS làm việc với SGK môn Tiếng Việt là một trong những biện pháp để phát huy tính tích cực
và tính tự lực của HS trong quá trình dạy học môn Tiếng Việt ở tiểu học nhằm nâng cao hiệu quả của quá trình này Sự quan tâm, chú ý rèn luyện kỹ năng
Trang 23làm việc với SGK môn Tiếng Việt cho HS là điều kiện cần thiết để đảm bảo hoạt động học tập của HS với SGK môn Tiếng Việt có kết quả
1.1.2 Các thành phần cơ bản của kĩ năng làm việc với SGK môn Tiếng Việt lớp 5
Khi làm việc việc với SGK môn Tiếng Việt, HS phải biết làm việc với kênh thông tin trong từng phân môn của bộ môn Tiếng Việt Các kênh đó bao gồm các phần lí thuyết về câu, từ và bài tập của phân môn Luyện từ và câu; các cách viết chính xác các từ trong phân môn Chính tả; cách đọc đúng từ ngữ, âm điệu trong môn Tập đọc; hay cách trình bày bài văn theo yêu cầu nhất định
Như vậy, kĩ năng làm việc với SGK môn Tiếng Việt bao gồm các thành phần: Kĩ năng làm việc với kênh lí thuyết, kênh bài tập và kèm theo là kênh hình nhằm mục đích minh họa, hướng dẫn thêm cho HS Trong đó, chúng tôi quan niệm rằng, kĩ năng làm việc với kênh lí thuyết bao gồm kĩ năng làm việc ghi nhớ, học thuộc một cách nhuần nhuyễn những chỉ dẫn, ghi chú có trong SGK; còn kĩ năng làm việc với kênh bài tập bao gồm các kĩ năng thành phần là: Kĩ năng đọc hiểu đề, kĩ năng vận dụng lí thuyết vào làm bài tập, và kĩ năng
áp dụng các phân môn trong bộ môn Tiếng Việt để bổ trợ lẫn nhau Bên cạnh
đó, kênh hình trong SGK Tiếng việt cũng giúp HS không nhỏ trong việc nắm
rõ nội dung bài hay hiểu hơn về một số từ mới
VD: Qua phân môn Chính tả, HS không viết sai chính tả trong câu, bài văn Qua môn Luyện từ và câu, HS biết cách viết câu văn trôi chảy, mạch lạc,
có hình ảnh trong mỗi bài văn
Để hiểu được lời trình bày trong SGK môn Tiếng Việt, trước hết HS phải đọc và suy nghĩ để hiểu các từ có trong mỗi câu hay đoạn và xác định mỗi câu hay đoạn đó nói về cái gì, và nói gì về cái đó Khi viết SGK môn Tiếng Việt, các tác giả luôn dự kiến ở HS đã có sẵn những kiến thức gì đã học
Trang 24và những kinh nghiệm gì đã có để có thể hiểu được điều các tác giả trình bày trong văn bản đòi hỏi HS phải vận dụng những hiểu biết đó để hiểu những điều mới mẻ mà bài học muốn cung cấp cho các em
Những yêu cầu, những câu hỏi được đặt ra cho HS khi đọc lời trình bày trong SGK môn Tiếng Việt nhằm mục đích tập trung suy nghĩ của HS vào những điểm quan trọng trong bài học Khi hệ thống câu hỏi đã được các tác giả biên soạn kĩ lưỡng để đưa vào SGK thì việc HS tìm câu trả lời cho câu hỏi trong SGK môn Tiếng Việt sẽ tạo khả năng phát triển các thao tác tư duy như phân tích, tổng hợp, đối chiếu, so sánh trên cơ sở đó mà rút ra được câu trả lời đúng Như vậy, khi làm việc với SGK môn Tiếng Việt, việc tìm câu trả lời cho câu hỏi cho trước là điều cần thiết và cần phải rèn luyện kĩ năng này cho HS
Tuy nhiên, để rèn luyện kĩ năng làm việc với SGK môn Tiếng Việt mà chỉ giới hạn ở việc cho HS thực hiện các nhiệm vụ như tìm trong văn bản câu trả lời cho những câu hỏi riêng rẽ cho trước mà không phải là rèn luyện kĩ năng rút ra nội dung chủ yếu của văn bản là chưa đủ Việc xác định những ý chính trong văn bản cho phép HS lĩnh hội được cấu trúc logic cũng như là nội dung chủ yếu của bài học, và như vậy HS mới thực sự hiểu được bản chất của tri thức cần lĩnh hội một cách sâu sắc Điều đó chỉ có thể thực hiện được thông qua việc HS rút ra được những ý chính trong văn bản SGK môn Tiếng Việt trên cơ sở xây dựng được các dàn bài khái quát Chúng tôi sẽ đề cập đến
kĩ năng lập các dàn bài khái quát trong chương tiếp theo
1.1.3 Ý nghĩa của việc rèn kĩ năng làm việc với SGK môn Tiếng Việt lớp 5
Đối với HSTH, việc rèn luyện kỹ năng làm việc với SGK là công việc
vô cùng quan trọng và cần thiết Bởi vì ở giai đoạn này, học tập là hoạt động
Trang 25chủ đạo của các em và việc tiếp xúc làm việc với SGK môn Tiếng Việt là điều kiện để hoạt động học tập của các em diễn ra có kết quả tốt Nếu như sự hình thành các kỹ năng làm việc với SGK chủ yếu được hình thành ở các lớp đầu bậc tiểu học, thì việc rèn luyện các kỹ năng đó lại cần được củng cố và luyện tập cho HS ở các lớp 4,5 Ở các lớp cuối bậc tiểu học, nhu cầu và yêu cầu tự học của HS cũng đòi hỏi cao hơn Vì vậy, việc trang bị cho các em phương pháp tự học nói chung và phương pháp làm việc với SGK môn Tiếng Việt nói riêng một cách đúng đắn và phù hợp là điều kiện cần thiết để các em có thể làm chủ hoạt động học tập của mình
Ở lớp 4, HS đã được làm quen với SGK môn Tiếng Việt 4 và phần nào
HS đã được hình thành cách làm việc với SGK môn Tiếng Việt Lên lớp 5, mặc dù nội dung chương trình và cấu trúc của SGK môn Tiếng Việt có thay đổi chút ít so với SGK môn Tiếng Việt lớp 4, nhưng hầu như các em cũng không còn bỡ ngỡ và xa lạ gì với cuốn SGK môn Tiếng Việt Tuy nhiên, thực
tế cho thấy HS lớp 5 vẫn không phát huy được hết vai trò của SGK môn Tiếng Việt vì kỹ năng làm việc với SGK môn Tiếng Việt của các em vẫn chưa chắc chắn, chưa thành thạo và chưa có một trình tự thao tác đúng mỗi khi các em cầm cuốn SGK môn Tiếng Việt trong tay Vì vậy, việc rèn luyện
kỹ năng làm việc với SGK môn Tiếng Việt cho HS lớp 5 sẽ góp phần làm tăng chất lượng học tập môn này cho HS, giúp HS “lấy” được tri thức từ SGK một cách nhẹ nhàng mà có hiệu quả khi các em đã nắm được kỹ năng sử dụng SGK thành thạo
Việc rèn luyện cho HS kỹ năng làm việc với SGK môn Tiếng Việt, một mặt góp phần nâng cao chất lượng kiến thức, phát triển tư duy ngôn ngữ ở
HS, mặt khác là cơ sở để hình thành cho HS kỹ năng làm việc với các sách, báo về tự nhiên - xã hội, về đời sống xung quanh rất thiết thực và gần gũi, mà
Trang 26điều này lại rất cần thiết trong điều kiện phát triển như vũ bão của cách mạng khoa học và công nghệ hiện nay
Ngoài ra, sự định hướng đến việc rèn luyện kỹ năng làm việc với SGK môn Tiếng Việt cho HS trong quá trình dạy học môn Tiếng Việt ở tiểu học còn góp phần giáo dục cho HS những thói quen và phẩm chất quý báu của nhân cách như nhu cầu đọc sách để tiếp nhận kiến thức cần thiết, lòng quý trọng đối với sách, tính tích cực và tính tự lực, lòng kiên trì, sự miệt mài, chịu khó đối với công việc
1.1.4 Một số đặc điểm tâm lí của HS lớp 5
1.1.4.1 Về mặt nhận thức
*Tri giác:
Tri giác của HSTH có đặc điểm là tươi sáng, sắc bén nhưng mang tính chung chung, đại thể, ít đi vào chi tiết và mang tính không ổn định Nét đặc trưng nhất của tri giác là tính chất ít phân hóa của nó Các em phân biệt những đối tượng giống nhau còn sai lầm và chưa chính xác Khi tri giác, sự phân tích
có định hướng, có tổ chức và sâu sắc của trẻ còn yếu Thường trẻ phân biệt những chi tiết ngẫu nhiên mà người lớn ít chú ý đến nhưng chưa nhìn thấy được những chi tiết quan trọng và bản chất
Trong quá trình học tập, tri giác của trẻ em được tổ chức lại Nhờ quá trình tổ chức việc học đúng đắn, tri giác trẻ em trở thành một hoạt động nhằm mục đích đặc biệt, trở nên phức tạp và sâu sắc hơn, trở thành một hoạt động
có phân tích, phân biệt hơn Và lúc đó, tri giác sẽ mang tính chất của một sự quan sát có tổ chức
V A Krutecxki cho rằng: “Sự phát triển của tri giác không tự bản thân
nó xuất hiện được” Ở đây, vai trò của GV rất lớn, GV là người hàng ngày không chỉ dạy trẻ kỹ năng nhìn, xem mà còn nhận xét, không chỉ nghe mà còn lắng nghe, đặc biệt là tổ chức cho HS hoạt động để tri giác những đối tượng
Trang 27nào đó, dạy cho trẻ vạch ra những dấu hiệu bản chất, những thuộc tính bản chất, chỉ dẫn cho trẻ cần chú ý đến cái gì, rèn luyện cho trẻ phân tích những đối tượng tri giác một cách có hệ thống và có kế hoạch
*Sự chú ý:
Đối với HSTH nói chung hay HS lớp 5 nói riêng, ta có thể dễ dàng nhận thấy là các em có sự chú ý không chủ định Khả năng điều chỉnh chú ý một cách có ý thức, khả năng điều khiển chú ý còn bị hạn chế Sự chú ý có chủ định của các em đòi hỏi phải có một động cơ ngắn Ví dụ: được đi đá bóng, được cô giáo khen Tuy ở lớp 5, sự chú ý có thể kéo dài hơn so với các HS lớp 1,2; song nếu 1 hoạt động cứ kéo dài mãi cũng sẽ khiến các em cảm thấy mệt mỏi, giảm đi độ tập trung Do vậy, GV cần phải luân phiên thay đổi các loại hoạt động cho HS không bị ức chế, nhàm chán Những hoạt động muôn màu, muôn vẻ sẽ kích thích tính bền vững của chú ý ở HS
Trong quá trình rèn luyện kỹ năng làm việc với SGK môn Tiếng Việt cho HS lớp 5, GV cần biết cách thu hút sự chú ý của HS trong từng bước, từng thao tác để việc rèn luyện diễn ra nhanh gọn và có hiệu quả Nếu HS dễ
bị phân tán trong quá trình rèn luyện kỹ năng thì việc rèn luyện kỹ năng sẽ phải mất nhiều thời gian và có khi không thu được kết quả như mong muốn
*Trí nhớ:
Ở lớp 5 (độ tuổi 9 - 10 tuổi) ghi nhớ có chủ định của các em phát triển mạnh Tuy vậy, ở lứa tuổi này, ghi nhớ không chủ định vẫn giữ vai trò quan trọng Việc ghi nhớ các tài liệu trực quan, hình tượng có nhiều hiệu quả Đồng thời, hiệu quả của việc ghi nhớ các tài liệu từ ngữ cũng tăng rất nhanh Trong việc ghi nhớ các tài liệu từ ngữ thì ghi nhớ các tài liệu từ ngữ cụ thể vẫn có nhiều hiệu quả hơn việc ghi nhớ các tài liệu từ ngữ trừu tượng Việc ghi nhớ
cả hai loại tài liệu đó vẫn còn phải dựa trên những tài liệu trực quan hình tượng mới vững chắc
Trang 28Dựa vào đặc điểm trí nhớ của HS lớp 4, 5 đã nói ở trên, GV cần chú trọng, tăng cường khuyến khích HS làm việc với kênh hình trong SGK môn Tiếng Việt trong quá trình rèn luyện kỹ năng làm việc với SGK để ghi nhớ các tài liệu từ ngữ trở nên bền vững, sâu sắc dựa trên những tài liệu trực quan hình tượng
*Tưởng tượng:
Hoạt động học tập của HS không thể thiếu khả năng tưởng tượng, không thể thiếu hoạt động tưởng tượng về những điều đã biết trong SGK, về những điều GV giảng ở trên lớp và không thể thiếu khả năng vận dụng những hình ảnh trực quan bằng tưởng tượng Vì vậy, tưởng tượng là một trong những quá trình tâm lý rất quan trọng trong hoạt động nhận thức
Tưởng tượng của HSTH rất phong phú, đặc biệt với HS lớp 5, những hình ảnh tưởng tượng của các em có sự bền vững và gần với thực tế nhiều hơn các HS lớp 1, 2 Đặc biệt, lúc này các em đã bắt đầu có khả năng tưởng tượng dựa trên những tri giác đã có từ trước và dựa trên ngôn ngữ Sự tưởng tượng của các em phản ánh đầy đủ và đúng đắn hiện thực khách quan hơn Sở
dĩ như vậy là vì các em đã có kinh nghiệm phong phú, đã lĩnh hội được những tri thức khoa học do nhà trường đem lại Sự tưởng tượng của các em HS lớp
5, tính trực quan cụ thể của tưởng tượng đã giảm đi nhờ sức tưởng tượng trên ngôn ngữ đã phát triển
Về mặt cấu tạo hình tượng trong tưởng tượng, các em HS lớp 4, 5 đã có khả năng nhào nặn, gọt dũa những hình tượng cũ để sáng tạo ra hình tượng mới Sở dĩ như vậy là vì các em đã biết tưởng tượng sáng tạo dựa trên ngôn ngữ để xây dựng hình tượng mang tính chất khái quát và trừu tượng hơn
Dựa trên những đặc điểm này, khi rèn luyện kỹ năng làm việc với SGK môn Tiếng Việt cho HS, người GV cần lưu ý trước những chi tiết, những thành phần cơ bản của các bước, các thao tác cần rèn luyện ở HS
Trang 29*Tư duy:
Tư duy cũng như cảm giác và tri giác, đó là một quá trình tâm lý Nhưng khác với quá trình nhận thức cảm tính, quá trình tư duy phản ánh những dấu hiệu, những thuộc tính bên trong và mối liên hệ bản chất của các
sự vật, hiện tượng tồn tại trong thế giới khách quan
Theo nghiên cứu của các nhà tâm lý học, tư duy của trẻ em ở bậc tiểu học chuyển dần từ tính cụ thể trực quan sang tính trừu tượng, khái quát HSTH khi tiến hành phân tích, tổng hợp, khái quát thường căn cứ vào những đặc điểm bề ngoài cụ thể, trực quan, nhất là đối với HS đầu bậc tiểu học (lớp 1, 2, 3) Lên đến lớp 4 - 5, các em có thể đã thoát khỏi ảnh hưởng chủ quan của những dấu hiệu trực tiếp và hoàn toàn dựa vào những tri thức và những khái niệm được hình thành trong quá trình học tập
Khi hình thành khái niệm, HS hoàn toàn dựa vào những dấu hiệu phản ánh mối liên hệ và quan hệ bản chất giữa các sự vật và hiện tượng, các em đã biết phân biệt những khái niệm rộng hơn, hẹp hơn, đặt mối quan hệ giữa các khái niệm về giống loài Trên cơ sở này, các em nắm được phương pháp phân loại các đối tượng, kỹ năng xây dựng kết luận, chứng minh, hệ thống lập luận cũng được phát triển Đến cuối bậc tiểu học, sự phân tích bằng trí óc của các
em đã phát triển rất rõ vì các em đã bắt đầu nghiên cứu có hệ thống các lĩnh vực rộng rãi của các môn học
Như vậy, trong quá trình học tập, tư duy của HSTH thay đổi rất nhiều ở lứa tuổi này Sự phát triển mạnh mẽ về trí tuệ đang xảy ra Ở đây vai trò của
kỹ năng làm việc độc lập với SGK, vai trò của GV với tư cách là người tổ chức, điều khiển quá trình học tập, giáo dục có ảnh hưởng đặc biệt, rất dẽ nhận thấy V A Krutecxki khẳng định: “Khi tổ chức một quá trình học tập khác đi, khi thay đổi nội dung học tập phù hợp với phương pháp khác của nó, thì trẻ có thể có được đặc điểm tư duy hoàn toàn khác” [5] Trong quá trình dạy học môn Tiếng Việt, GV không chỉ sử dụng các phương pháp dạy học
Trang 30để truyền thụ kiến thức cho HS mà người GV cũng nên yêu cầu HS có thao tác làm việc với SGK xen kẽ với việc sử dụng các phương pháp dạy học để quá trình học tập của HS không bị đơn điệu, nhàm chán, cũng như không để
HS rơi vào trạng thái ỷ lại, thụ động đối với nội dung bài học Do vậy, trong quá trình dạy học môn Tiếng Việt ở tiểu học, ta thấy việc rèn luyện kỹ năng làm việc với SGK cho HS cũng là một việc làm cần thiết, hữu ích, gắn liền với việc nâng cao chất lượng học tập của môn học, đồng thời gắn liền với việc phát triển tư duy trừu tượng, khái quát cũng như khả năng tư duy độc lập cho HSTH
1.1.4.2 Về mặt tình cảm hứng thú
Tình cảm của HSTH mang tính cụ thể, trực tiếp và giàu cảm xúc Tình cảm của các em không những chỉ biểu hiện ở trong quan hệ đời sống mà còn biểu hiện ngay trong hoạt động trí lực của các em Các em dần dần biết chăm
lo đến kết quả học tập, hài lòng khi học tập có kết quả, không hài lòng khi học kém Tình cảm trí tuệ của các em còn thể hiện ở sự tò mò tìm hiểu sự vật xung quanh để nhận thức, đặc điểm này cho thấy rằng, khi chúng ta trang bị cho HS một kỹ năng làm việc với SGK môn Tiếng Việt có hiệu quả thì chúng
HS, phát triển hứng thú đó từ đơn giản đến phức tạp, từ điều đã biết đến điều chưa biết, từ mô tả đến giải thích, từ sự kiện đến kết luận Bởi vì hứng thú có
Trang 31ý nghĩa rất to lớn đối với việc học tập của trẻ Việc nắm tri thức của các em phụ thuộc trực tiếp vào chỗ các em có thái độ như trhế nào đối với học tập, hoạt động học tập ấy có động cơ như thế nào Nếu động cơ học tập của HS là hứng thú đối với bản thân lao động, học tập, với nội dung học tập thì hoạt động học tập của HS sẽ hăng say và đều đặn, không đòi hỏi một sự căng thẳng thường xuyên quá mức và tri thức sẽ có chất lượng cao Như K D Usinxki từng nói: “Một sự học tập mà chẳng có hứng thú gì cả, chỉ biết hành động bằng sức mạnh cưỡng bức thì giết chết mất lòng ham muốn học tập của
cá nhân” Cũng chính vì vậy, việc rèn luyện cho HS có kỹ năng làm việc với SGK nói chung và SGK môn Tiếng Việt nói riêng là một trong những cách để làm tăng hứng thú học tập cho HSTH Bởi vì khi các em biết cách khai thác kho tàng trí thức khổng lồ từ SGK thì các em mới thấy hứng thú, còn một khi các em đến với cuốn SGK mà không tìm thấy, không tiếp nhận được cái gì chỉ vì không biết cách “mở” nó thì các em sẽ rất mau chóng cảm thấy chán nản, mệt mỏi và không còn hứng thú gì với việc học nữa
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Một số đặc điểm của SGK môn Tiếng Việt lớp 5
1.2.1.1 Vai trò của môn Tiếng Việt ở tiểu học
Do đặc điểm tư duy của HS lớp 4-5, chương trình môn Tiếng Việt tích hợp các kiến thức về các lĩnh vực đời sống - văn hóa - xã hội Trong đó, một
số kiến thức được phát triển kế thừa từ các chủ đề của môn Tiếng việt 1, 2, 3 (như các chủ đề “Nhà trường”, “Thiên nhiên”, “Đất nước”, …) Chương trình được cấu trúc thành các chủ đề lớn: “Việt Nam - Tổ quốc em”, “Cánh chim hòa bình”, “Con người với thiên nhiên”, “Giữ lấy màu xanh”, “Vì hạnh phúc con người”, “Người công dân”, “Vì cuộc sống thanh bình”, “Nhớ nguồn”,
“Nam và nữ”, “Những chủ nhân tương lai” [28; 29]
Chương trình môn Tiếng Việt không chỉ làm nhiệm vụ cung cấp cho
HS những kiến thức cơ bản về ngôn ngữ, từ vựng, lối hành văn mà còn nuôi
Trang 32dưỡng tâm hồn trẻ, khiến chúng có cái nhìn và thái độ đúng đắn với lứa tuổi
và cuộc sống hàng ngày
Nội dung môn học được lựa chọn thiết thực, gần gũi, có ý nghĩa đối với
HS, giúp HS có thể vận dụng chúng vào cuộc sống hàng ngày
Bên cạnh đó, môn Tiếng Việt ở tiểu học cũng chú trọng hình thành và phát triển các kỹ năng học tập môn Tiếng Việt thực hành, tạo tiền đề cho HS
có cơ sở khi học tập môn Tiếng Việt hay Ngữ văn ở các bậc học cao hơn
Một đặc điểm rất phù hợp với việc rèn luyện cho HS kỹ năng làm việc với SGK môn Tiếng Việt đó là chương trình môn Tiếng Việt được biên soạn theo hướng tích cực hóa hoạt động nhận thức của HSTH Bởi vì quan điểm dạy học nhằm tích cực hóa hoạt động nhận thức của HS cũng là cái đích mà việc rèn luyện kỹ năng làm việc với SGK cho HS đang hướng tới và mong muốn hình thành được ở HSTH
1.2.1.2 Vị trí, chức năng của SGK môn Tiếng Việt ở tiểu học
Các nhà tâm lý học dạy học, các nhà lý luận dạy học và các nhà phương pháp giảng dạy bậc tiểu học đều coi SGK bộ môn là một nguồn tri thức cơ bản đối với HS và là phương tiện dạy học có vị trí đặc biệt quan trọng trong quá trình dạy học bộ môn Chẳng hạn như, theo Đ Đ Zuep thì “SGK là nguồn tri thức quan trọng nhất đối với HS”, “là loại sách học tập phổ biến”,
“là phương tiện mang nội dung học vấn và là phương tiện dạy học giúp HS lĩnh hội tài liệu học tập” Còn X G Sapôvalencô thì khẳng định rằng: “Trong
hệ thống các phương tiện dạy học mỗi bộ môn thì SGK là phương tiện dạy học quan trọng nhất vì nó đóng vai trò chủ yếu trong dạy học, có quan hệ trực tiếp hoặc gián tiếp với các phương tiện dạy học khác, đặc biệt là nó chi phối nội dung và việc chế tạo các loại phương tiện dạy học này” [2] N.A Lôskareva thì cho rằng: “SGK có vai trò to lớn trong việc hình thành các kỹ năng và kỹ xảo học tập cho HS” [4]
Trang 33Thật vậy, SGK môn Tiếng Việt ở tiểu học được phát hành với mục đích chủ yếu là dùng làm tài liệu học tập chính thức, cơ bản đối với HS, trong SGK môn Tiếng Việt ở tiểu học trình bày tương đối rõ ràng, chi tiết những nội dung kiến thức cần cung cấp cho HS cơ sở vận dụng các nguyên tắc dạy học và tính logic về cấu trúc của nội dung môn học Vì vậy, SGK môn Tiếng Việt ở tiểu học, một mặt, nó được dùng làm tài liệu chủ yếu để GV lập kế hoạch giảng dạy và soạn giáo án lên lớp, mặt khác, nó chủ yếu được dùng làm nguồn tài liệu học tập cơ bản của HS HS có thể làm việc với SGK môn Tiếng Việt để lĩnh hội tri thức mới, đào sâu, củng cố, ôn tập, khái quát hóa hay hệ thống hóa kiến thức đã học Như vậy, ở đây SGK môn Tiếng Việt ở tiểu học đóng vai trò là một phương tiện dạy học môn Tiếng Việt Việc tổ chức cho
HS làm việc với SGK là một trong những biện pháp để phát huy tính tích cực, tính tự lực của HS trong quá trình dạy học môn Tiếng Việt ở tiểu học nhằm nâng cao chất lượng kiến thức môn Tiếng Việt ở HS, đồng thời hình thành cho HS kỹ năng làm việc với SGK môn Tiếng Việt cũng theo đúng tinh thần của quan điểm dạy học lấy HS làm trọng tâm là phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS Bằng cách tạo điều kiện cho HS làm việc nhiều hơn với SGK trong tiết học sẽ giúp HS tự rút ra các ý chính trong văn bản, tự phân tích các ngữ liệu, tự trả lời các câu hỏi và bài tập trong SGK
Với tư cách là phương tiện dạy học, SGK bộ môn có thể được sử dụng phù hợp với các phương pháp dạy học khác nhau M N Xkatkin cho rằng:
“Công việc với SGK chỉ có thể là phương pháp giải thích - minh họa khi mà
HS đọc SGK, là phương pháp tái hiện khi HS luyện tập theo một đoạn nào đó,
là phương pháp nghiên cứu nếu HS giải quyết theo SGK những nhiệm vụ không phải là mẫu quen biết đối với chúng” [3]
Chúng tôi quan niệm rằng, tất cả những điều nói trên về SGK nói chung và về SGK môn Tiếng Việt ở tiểu học nói riêng chưa mất đi ý nghĩa đối với quá trình dạy học các môn học ở bậc tiểu học ở nước ta hiện nay và
Trang 34trong một tương lai khá xa Thực tế, trong SGK môn Tiếng Việt ở nước ta hiện nay, ở nhiều bài học hay các phần của bài học còn được trình bày theo phương pháp thông báo - minh họa hay phương pháp trình bày nêu vấn đề Trong tương lai xa, mặc dù với sự áp dụng các phương pháp dạy học nhằm tăng nhanh quá trình hình thành đầu óc khoa học, năng lực sáng tạo cho HS thì trong SGK môn Tiếng Việt có thể có những bài hay phần của bài được biên soạn cho phù hợp với các phương pháp này nhưng vẫn không thể bỏ hoàn toàn những bài hay phần của bài được trình bày theo phương pháp thông báo - minh họa hay trình bày nêu vấn đề như đã nêu ở trên Do đó, SGK môn Tiếng Việt ở tiểu học vẫn được coi là một trong những nguồn tri thức cơ bản đối với HS và là phương tiện để tổ chức hoạt động học tập của HS nhằm góp phần nâng cao chất lượng kiến thức môn Tiếng Việt của HS, đồng thời rèn luyện cho HS khả năng tự học, tự lĩnh hội tri thức
Một thuận lợi khác đối với HS khi sử dụng SGK trong môn Tiếng Việt, đặc biệt là sử dụng khi ở nhà đó là: sự trình bày tài liệu trong SGK môn Tiếng Việt đã được suy nghĩ kỹ lưỡng, đảm bảo chính xác, gọn gàng và súc tích mà không bài ghi nào có thể thay thế được, kể cả bài ghi do GV đọc cho HS chép nên dễ dàng giúp HS thâu tóm, ghi nhớ kiến thức nhanh chóng Bên cạnh đó, khi làm việc với SGK, đối tượng tiếp xúc là chữ viết nên HS không bị chi phối hoặc cảm thấy áp lực về thời gian như trên lớp, không bị phụ thuộc vào đặc điểm lời nói của GV cũng như các yếu tố khác như sự ồn
ào, mất trật tự trong lớp học khi nghe giảng bài, đồng thời có thể dừng lại hay quay lại nhiều lần ở những chỗ cần thiết, cho nên chất lượng kiến thức, đặc biệt là tính chính xác của kiến thức có thể nói tốt hơn so với khi lĩnh hội tri thức từ lời nói của GV
Việc tổ chức cho HS làm việc với SGK môn Tiếng Việt ở tiểu học còn
có tác dụng hình thành cho HS kỹ năng làm việc với sách, báo để lĩnh hội
Trang 35những tri thức cần thiết Điều này có ý nghĩa to lớn trong điều kiện phát triển như vũ bão của khoa học và công nghệ hiện nay
Do đặc điểm của chương trình môn Tiếng Việt ở trường tiểu học là đặt trọng tâm vào những kiến thức đời sống - xã hội gần gũi với HS, có trong kinh nghiệm sống của HS, cho nên càng có nhiều thuận lợi để phát huy vai trò của SGK môn Tiếng Việt trong việc tổ chức hoạt động nhận thức của HS khi
mà sự trình bày tài liệu trong SGK môn Tiếng Việt có chú ý đến môi trường
và kinh nghiệm sống của HS
1.2.1.3 Đặc điểm trình bày tri thức trong SGK môn Tiếng Việt lớp 5
Để thực hiện chức năng là một nguồn tri thức cơ bản và là phương tiện dạy học môn Tiếng Việt ở tiểu học, SGK môn Tiếng Việt phải có đặc điểm trình bày tri thức phù hợp để đáp ứng yêu cầu đó Chính vì vậy, trong SGK môn Tiếng Việt, tri thức cần truyền thụ cho HS được trình bày thông qua kênh lí thuyết và kênh bài tập, kèm theo một số hình ảnh minh họa
Trong SGK môn Tiếng Việt ở tiểu học, nội dung tri thức được trình bày theo nhóm, tạo thành các chủ đề lớn Đó là các chủ đề về: “Việt Nam - Tổ quốc em”, “Cánh chim hòa bình”, “Con người với thiên nhiên”, “Giữ lấy màu xanh”, “Vì hạnh phúc con người”, “Người công dân”, “Vì cuộc sống thanh bình”, “Nhớ nguồn”, “Nam và nữ”, “Những chủ nhân tương lai” [28;29] Trong từng chủ đề, tri thức được phân thành bài cho phù hợp với khả năng lĩnh hội của HS trong từng tiết học Nội dung cốt lõi của mỗi chủ đề được giới thiệu ngay trên trang bắt đầu của chủ đề đó bằng những hình ảnh minh họa
Tiến trình mỗi bài học được sắp xếp theo một logic hợp lý, tùy vào đặc thù của từng phân môn cụ thể Điều đó thể hiện ở chỗ:
- Phân môn Tập đọc: Bắt đầu bài luôn là văn bản, nội dung văn bản sẽ phù hợp với chủ đề Tiếp đó là lời chú giải một số từ mới có trong bài giúp
HS tăng cường vốn từ Cuối cùng là các câu hỏi giúp HS tìm hiểu nội dung bài học một cách ngắn gọn, dễ hiểu nhất
Trang 36- Phân môn Chính tả: Bắt đầu cũng là một văn bản phù hợp với nội dung chủ đề Tiếp theo là những bài tập để bộ trợ, giúp HS rèn luyện kĩ năng viết đúng, phân biệt một số âm/chữ dễ nhầm lẫn như “ch - tr”, “r - d - gi”,
“iêu - yêu”, …
- Phân môn Luyện từ và câu: Mở đầu sẽ là những ví dụ minh hoa cho nội dung kiến thức, giúp HS nhận diện kiến thức qua thực hành Tiếp đó là phần lí thuyết cần HS học thuộc, ghi nhớ Cuối cùng là những bài tập giúp củng cố kiến thức, tư duy
- Phân môn Tập làm văn: Tương tự như với phân môn Luyện từ và câu,
mờ đầu sẽ là những bài văn minh họa phù hợp với nội dung đề bài Tiếp đó sẽ
là các câu hỏi hướng dẫn tìm ra các bước để lập dàn ý chung cho dạng bài văn
Ví dụ: Bài “Cách nối các vế câu ghép” - SGK tập 2/Trang.12
- Tìm các vế câu trong mỗi câu ghép dưới đây
a) Cảnh tượng xung quanh tôi đang có sự thay đổi lớn: hôm nay tôi đi học b) Kia là những mái nhà đứng sau lũy tre; đây là mái đình cong cong; kia nữa là sân phơi
- Ranh giới giữa các vế câu được đánh dấu bằng những từ hoặc những dấu câu nào?
Bên cạnh việc làm việc với kênh lí thuyết, thì kênh thực hành bài tập để rèn luyện, củng cố nội dung kiến thức là một phần không thể thiếu Các bài tập được bố trí phù hợp yêu cầu cụ thể của từng bài học Chúng tôi cũng nhận thấy, các nhà biên soạn cũng chú trọng tới việc đưa những âm hưởng dân tộc
Trang 37như các câu ca dao, thành ngữ, tục ngữ, những sự vật gần gũi với HS như hình ảnh bạn bè, nhà trường, cây cối, con vật vào các bài tập Tựu chung lại, chúng ta có thể nhận ra một số dạng bài tập cụ thể của từng phân môn trong SGK Tiếng việt lớp 5 như sau:
- Phân môn Tập đọc: các câu hỏi đọc hiểu, giúp HS tìm ra nội dung chính của bài
- Phân môn Chính tả: là các bài điền từ, điền vần vào chỗ trống
- Phân môn Luyện từ và câu: có phần đa dạng bài tập hơn song chủ yếu là phân tích câu theo nội dung đề bài (phân tích câu đơn, câu ghép, kiểu câu, …), tìm từ trong nội dung ví dụ minh họa (quan hệ từ, đại từ, từ trái nghĩa, từ đồng nghĩa, từ nhiều nghĩa, …), đặt câu
- Phân môn Tập làm văn: Lập dàn ý, viết bài văn theo đề bài cụ thể
Vì môn Tiếng Việt ở tiểu học là một môn tích hợp những tri thức về ngôn ngữ, đời sống - xã hội và bước đầu giúp HS làm quen với môn Ngữ văn, trong đó không chỉ hướng dẫn HS cách sử dụng từ ngữ phù hợp, chính xác; cách viết câu văn rõ ràng mạch lạc mà còn giúp HS nuôi dưỡng tâm hồn, biết cách đối nhân xử thế trong cuộc sống hàng ngày, nên trong SGK môn Tiếng việt cần có cả những tài liệu minh họa như các tranh ảnh, hình vẽ, bảng biểu đơn giản Những tài liệu này nhằm minh họa, bổ sung cho những điều đã được trình bày trong văn bản SGK môn Tiếng việt, đồng thời góp phần làm cho các văn bản súc tích hơn
Mặt khác, do đặc điểm tư duy của HS lớp 5 còn ở giai đoạn trực quan,
cụ thể và năng lực nhận thức còn mang nặng tính chất cảm tính, cho nên các hình vẽ, tranh ảnh trong SGK môn Tiếng Việt ở tiểu học được đưa vào với số lượng nhiều hơn so với bậc Trung học, điều đó không ngoài mục đích làm cho bài học trở nên hấp dẫn hơn, thú vị hơn và phù hợp với đặc điểm tâm lý của các em
Trang 38Bên cạnh kênh chữ đóng vai trò cơ bản trong việc chuyển tải nội dung tri thức của SGK môn Tiếng Việt đến với HS thì kênh hình giúp bổ trợ cho
HS để nội dung trong SGK trở nên sinh động, cụ thể, trực quan, rõ ràng - mà điều này rất quan trọng đối với hoạt động nhận thức của HSTH
Bằng việc đưa ra những hình ảnh sinh động, thực tế, đầy tính trực quan khi muốn chuyển tải đến cho HS những kiến thức trong các bài học khiến cảm
em có nhiều hứng thú trong học tập hơn Nói đến kênh hình trong SGK Tiếng Việt phải kể đến các ký hiệu chỉ dẫn các hoạt động học tập của HS Một số kí hiệu như
+ “Dấu hai chấm” cuối bài đọc: chú thích một số từ mới
+ “Dấu hỏi chấm”: thể hiện các câu hỏi trong bài
+ Các ô màu vàng cam: phần nội dung kiến thức cần ghi nhớ
Như vậy, chức năng của kênh hình không đơn thuần làm nhiệm vụ minh họa cho kênh chữ mà nó còn làm nhiệm vụ cung cấp thông tin hoặc chỉ dẫn hoạt động học tập cho HS và cách tổ chức dạy học cho GV Vì vậy, khi tiến hành rèn luyện các kỹ năng làm việc với SGK môn Tiếng Việt thì GV cần chú ý đến đặc điểm này để phát huy tối đa giá trị của kênh hình nhằm hình thành năng lực quan sát, kỹ năng dựa vào kênh hình để tìm câu trả lời
và khai thác được những thông tin cần thiết phục vụ cho việc lĩnh hội tri thức từ bài học
Việc xem xét các đặc điểm của sự trình bày tri thức trong SGK môn Tiếng Việt lớp 5 cho phép rút ra kết luận rằng, việc tổ chức cho HS làm việc với SGK Tiếng Việt học là cần thiết, phù hợp với mục đích của việc dạy học môn Tiếng Việt ở tiểu học nói chung
HS cần có những kỹ năng để làm việc với SGK môn Tiếng Việt Sự sắp xếp tiến trình mỗi bài học, những yêu cầu với nội dung các bài tập cũng như các hình ảnh, kí hiệu cho thấy ý đồ của những người biên soạn SGK cũng
Trang 39đòi hỏi HS phải có những kỹ năng làm việc với kênh hình, kỹ năng đọc hiểu nội dung văn bản, kỹ năng tìm câu trả lời cho câu hỏi cho trước, kỹ năng rút
ra nội dung chủ yếu được đề cập đến trong SGK Vậy để HS có thể tiếp thu tri thức từ SGK môn Tiếng Việt một cách hiệu quả, GV cần rèn cho các em
kỹ năng làm việc với SGK môn Tiếng Việt
1.2.2 Thực trạng việc rèn luyện kĩ năng làm việc với SGK môn Tiếng Việt 5 cho học sinh
1.2.2.1 Khảo sát thực trạng
- Mục đích điều tra: Khảo sát nhằm đánh giá thực trạng việc GV rèn luyện kỹ năng làm việc với SGK môn Tiếng Việt cho hoạt động học tập môn Tiếng Việt lớp 5 ở trường tiểu học như thế nào? Từ đó xác lập cơ sở thực tiễn cho việc xây dựng quy trình rèn luyện kỹ năng làm việc với SGK môn Tiếng Việt cho HS
- Đối tượng điều tra: GV tiểu học, gồm 300 GV của các trường tiểu học Wellspring, số 95, Ái Mộ, Bồ Đề, Hà Nội
- Nội dung điều tra:
+ Mức độ nhận thức của GVTH về vai trò của việc rèn luyện kỹ năng làm việc với SGK môn Tiếng Việt trong việc nâng cao chất lượng học tập môn Tiếng Việt và phát huy năng lực tư duy sáng tạo cho HS
+ Mức độ GV rèn luyện kỹ năng làm việc với SGK môn Tiếng Việt cho HS + Hình thức GV tổ chức rèn luyện kỹ năng làm việc với SGK môn Tiếng Việt cho HS
- Các phương pháp điều tra khảo sát:
+ Quan sát tiến trình dạy học của GV trên lớp
Trang 40Bảng 1.1: Kết quả nhận thức của GV tiểu học về khái niệm kỹ năng
làm việc với SGK môn Tiếng Việt của HSTH
TT Các quan niệm về kỹ năng làm việc
với SGK môn Tiếng Việt
Là tri thức về hoạt động học tập theo SGK môn Tiếng việt
Đó là khả năng vận dụng sáng tạo những kiến thức và kỹ
xảo đã có để giải quyết có kết quả những nhiệm vụ học tập
theo SGK môn Tiếng việt nhằm lĩnh hội tri thức được trình
bày trong SGK môn Tiếng việt
82 27,3
2 Là khả năng hiểu được những nội dung được trình bày trong
3 Là khả năng trả lời được các câu hỏi trong SGK môn Tiếng
4 Là khả năng biết tìm ra câu trả lời trong SGK môn Tiếng
Qua kết quả điều tra cho thấy:
- Ở phương án trả lời thứ nhất: Đây là cách hiểu đúng nhất và đầy đủ nhất
nhưng số GV đồng ý với ý kiến này chỉ có 82 người, chiếm tỷ lệ 27,3%
- Ở phương án trả lời thứ hai: Số GV đồng ý là 60 người, chiếm tỷ lệ 20%
Phương án này đã xác định kỹ năng làm việc với SGK môn Tiếng Việt chỉ dừng
lại ở khả năng đọc hiểu văn bản Phương án này đề cao kỹ năng đọc hiểu mà chưa
chú ý đến tầm quan trọng của việc rút ra được nội dung chính cần lĩnh hội thông
qua việc giải quyết những yêu cầu, nhiệm vụ đặt ra trong SGK GV chưa thật sự
hiểu sâu sắc bản chất của kỹ năng làm việc với SGK môn Tiếng Việt
- Ở phương án trả lời thứ ba: Có 90 GV đồng ý, chiếm 30% Điều này
chứng tỏ một số GV còn nhầm lẫn, chưa phân biệt giữa kỹ năng làm việc với
SGK và khả năng trả lời được các câu hỏi trong SGK Kỹ năng làm việc với
SGK là một hệ thống các thao tác cần thực hiện để đi đến đích là lĩnh hội