Lý do chọn đề tài Cùng với sự phát triển của đời sống kinh tế xã hội. Bên cạnh những mặt tích cực đem lại như cuộc sông của con người ngày càng hiện đại, văn minh hơn thì nó cũng đang mang đến những vấn đề xã hội nhức nhối trong đó nổi bật lên có vấn đề về HIVAIDS. Hiện nay HIVAIDS không chỉ là vấn đề của một quốc gia, một vùng lãnh thổ mà nó đã trở thành vấn nạn toàn cầu . Và giờ đây HIV không chỉ là vấn đề sức khoẻ cộng đồng và gây hậu quả ảnh hưởng đến tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Nó có thể cướp đi 110 lực lượng lao động, tạo ra số lượng lớn trẻ mồ côi, làm gia tăng nghèo đói và tạo ra bất bình đẳng và đặt áp lực nặng nề lên các dịch vụ xã hội, y tế. Tuy nhiên để có thể ngăn chặn đại dịch này không phải là một vấn đề đơn giản mà nó cần có sự phối hợp, tham gia của nhiều ban ngành, tổ chức khác nhau . Trong đó có sự tham gia quan trọng của ngành công tác xã hội, một ngành khoa học ứng dụng luôn hướng tới những đối tượng yếu thế trong xã hội, trong đó có người nhiễm HIVAIDS. Công tác xã hội với người có HIVAIDS là một trong những hoạt động thiết thực và đặc biệt quan trọng. Hoạt động này không chỉ trợ giúp cho người có HIVAIDS vươn lên đấu tranh với bệnh tật. Đồng thời, giúp phát hiện sớm HIV và góp phần quan trọng trong ngăn ngừa sự lây truyền HIV. Bên cạnh đó, nhờ hoạt động công tác xã hội với người có HIV mà nhân viên CTXH kết nối các nguồn lực trợ giúp cho thân chủ. Huy động sự tham gia của người dân vào công tác phòng, chống HIV. Giúp cho mọi người nhận thức sâu sắc hơn về HIV, người có HIV, công tác phòng tránh HIV và cách chăm sóc cho người có HIV. Và công tác xã hội cá nhân là một trong những phương pháp quan trọng của công tác xã hội, giúp tiếp cận, giải quyết vấn đề HIV ở mức độ vi mô nhất đó là từng cá nhân. Xuất phát từ những lý do trên mà em đã chọn đề tài “công tác xã hội cá nhân với người có HIV, trường hợp chị Nguyễn Thị H xã Tạ xá, huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ” làm đề tài tiểu luận của mình.
Trang 1ra số lượng lớn trẻ mồ côi, làm gia tăng nghèo đói và tạo ra bất bình đẳng và đặt
áp lực nặng nề lên các dịch vụ xã hội, y tế Tuy nhiên để có thể ngăn chặn đại dịch này không phải là một vấn đề đơn giản mà nó cần có sự phối hợp, tham gia của nhiều ban ngành, tổ chức khác nhau Trong đó có sự tham gia quan trọng của ngành công tác xã hội, một ngành khoa học ứng dụng luôn hướng tới những đối tượng yếu thế trong xã hội, trong đó có người nhiễm HIV/AIDS
Công tác xã hội với người có HIV/AIDS là một trong những hoạt động thiết thực và đặc biệt quan trọng Hoạt động này không chỉ trợ giúp cho người có HIV/AIDS vươn lên đấu tranh với bệnh tật Đồng thời, giúp phát hiện sớm HIV
và góp phần quan trọng trong ngăn ngừa sự lây truyền HIV Bên cạnh đó, nhờ hoạt động công tác xã hội với người có HIV mà nhân viên CTXH kết nối các nguồn lực trợ giúp cho thân chủ Huy động sự tham gia của người dân vào công tác phòng, chống HIV Giúp cho mọi người nhận thức sâu sắc hơn về HIV, người có HIV, công tác phòng tránh HIV và cách chăm sóc cho người có HIV
Và công tác xã hội cá nhân là một trong những phương pháp quan trọng của công tác xã hội, giúp tiếp cận, giải quyết vấn đề HIV ở mức độ vi mô nhất đó là từng cá nhân
Xuất phát từ những lý do trên mà em đã chọn đề tài “công tác xã hội cá nhân vớingười có HIV, trường hợp chị Nguyễn Thị H xã Tạ xá, huyện Cẩm Khê, tỉnhPhú Thọ” làm đề tài tiểu luận của mình
Trang 2Em xin cảm ơn sự giảng dạy hướng dẫn nhiệt tình của thầy Đặng Quang Trung
đã giúp em hoàn thành bài tiểu luận này Trong quá trình làm bài không tránh
khỏi những nhầm lẫn, thiếu sót Em rất mong nhận được sự đóng góp của thầy
để bài làm của em được hoàn thiện hơn.Em xin chân thành cảm ơn!
Phần 1 Cơ sở lý luận
1 Những kiến thức cơ bản về HIV/AIDS
1.1 Khái niệm HIV/AIDS
1.1.1 Khái niệm HIV
HIV là chữ viết tắt của cụm từ tiếng Anh "Human Immunodeficiency Virus" là
vi rút gây suy giảm miễn dịch ở người, làm cho cơ thể suy giảm khả năng chốnglại các tác nhân gây bệnh
HIV thuộc nhóm Lentivirus, nó tấn công hệ miễn dịch của con người HIV làvirus có tính thay đổi cao, đột biến dễ dàng Điều này có nghĩa là ngay trong cơthể của những người bị nhiễm cũng có nhiều chủng HIV khác nhau
Người mang HIV trong máu thường được gọi là người nhiễm HIV
1.1.2 Khái niệm AIDS
AIDS là chữ viết tắt của cụm từ tiếng Anh "Acquired Immune DeficiencySyndrome" là hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải do HIV gây ra, thườngđược biểu hiện thông qua các nhiễm trùng cơ hội, các ung thư và có thể dẫn đến
tử vong
AIDS là một bệnh mãn tính do HIV gây ra HIV phá huỷ các tế bào của
hệ miễn dịch, cơ thể không còn khả năng chống lại các virus, vi khuẩn và nấmgây bệnh Do đó cơ thể bị một số loại bệnh ung thư và nhiễm trùng cơ hội màbình thường có thể đề kháng được
AIDS được coi là giai đoạn cuối của quá trình nhiễm HIV Tuy nhiên,mỗi người khi mắc AIDS sẽ có những triệu chứng khác nhau, tuỳ theo loại bệnhnhiễm trùng cơ hội mà người đó mắc phải và khả năng chống đỡ của hệ miễndịch mỗi người
Trang 31.2 Cơ chế HIV xâm nhập và gây bệnh trong cơ thể người
Hệ miễn dịch của con người, với thành phần chủ lực là bạch cầu, là lực lượngbảo vệ cơ thể chống lại sự tấn công của các loại tác nhân gây bệnh xâm nhập từbên ngoài hoặc mầm bệnh ung thư phát sinh từ một số tế bào trong cơ thể
Trong đội ngũ bạch cầu, có một loại đặc biệt gọi là lympho bào T có điểm thụcảm CD4 (gọi tắt là tế bào CD4), đóng vai trò như một “Tổng chỉ huy”, cónhiệm vụ điều phối, huy động hay “rút lui” toàn bộ hệ thống miễn dịch của cơthể
Sau khi xâm nhập cơ thể, HIV tấn công ngay vào các bạch cầu, nhất là lymphobào T-CD4 HIV sử dụng chính chất liệu di truyền của các tế bào bạch cầu này
để nhân lên, để sinh sôi nảy nở Như vậy, bạch cầu không những không bao vây,tiêu diệt được HIV, mà còn bị HIV biến thành “kẻ tòng phạm” và cuối cùng bịHIV phá huỷ Lúc đó, mọi mầm bệnh khác (vi trùng, siêu vi trùng, tế bào ungthư…) mặc sức hoành hành gây nên nhiều chứng bệnh nguy hiểm và các bệnhnhiễm trùng cơ hội như lao, viêm phổi, nấm… và ung thư sẽ nhân cơ hội này tấncông cơ thể dẫn đến tử vong
1.3 Các giai đoạn phát triển của HIV
Quá trình nhiễm HIV tiến triển qua ba giai đoạn chính:
1.3.1 Giai đoạn cấp tính( Giai đoạn” cửa sổ”)
+ Đa số người nhiễm HIV trong giai đoạn đầu thường không có biểu hiện gì rabên ngoài để người khác có thể biết được, thậm chí kể cả bác sĩ khám bệnh tổngquát Một số trường hợp khi mới nhiễm HIV có thể sốt, nổi hạch, nổi ban đỏtrong 8 đến 10 ngày rồi trở lại bình thường rất giống với các bệnh cảm cúmthông thường nên không có đặc điểm gì riêng để nhận biết Vì vậy đối vớinhiễm HIV có thể xem như không có triệu chứng nào là triệu chứng đầu tiên đểbiết đã bị nhiễm
+ Thời gian: Vài tuần có khi đến 6 tháng
+ Giai đoạn này chưa có kháng thể kháng virus HIV nên xét nghiệm âm tính
Trang 4Cần lưu ý rằng đây là giai đoạn nguy hiểm Vì chưa có kháng thể hay lượngkháng thể này còn ít nên HIV sản sinh rất nhanh và do vậy khả năng lây truyền
từ người này sang người khác là rất lớn, trong khi ta không biết ai là ngườinhiễm và bản thân người nhiễm cũng không biết mình bị nhiễm Đây chính là cơ
sở khoa học để đặt ra yêu cầu dự phòng phổ cập, nghĩa là dự phòng HIV trongmọi trường hợp có tiếp xúc trực tiếp với máu và dịch tiết sinh học của ngườikhác
1.3.2 Giai đoạn không triệu chứng
+ Thời gian: kéo dài trong vài năm đến trên 10 năm
+ Triệu chứng: Người bệnh không có biểu hiện các dấu hiệu lâm sàng
+ Người nhiễm HIV đã có kháng thể kháng virus trong máu (xét nghiệm +)nhưng không có triệu chứng gì
+ Người nhiễm HIV vẫn lao động và sinh hoạt bình thường
+ Điều trị sẽ kéo dài thời gian chuyển thành AIDS
1.3.3 Giai đoạn AIDS
Nhiễm HIV không có nghĩa là AIDS Từ khi nhiễm HIV cho đến khichuyển thành AIDS là một khoảng thời gian dài trong nhiều năm Trong thờigian đó người nhiễm vẫn sống khoẻ mạnh và làm việc bình thường để sinh sống.Khi cơ thể bị nhiễm HIV sẽ có 3 xu hướng phát triển:
+ Hoặc người đó mang virus HIV kéo dài khoảng 10 năm hoặc lâu hơn
mà vẫn khoẻ mạnh và làm việc bình thường nếu người đó thay đổi hành vi, thựchiện chế độ dinh dưỡng và rèn luyện thân thể tốt
+ Hoặc sẽ phát triển thành AIDS trong vòng 5-7 năm nếu để cho HIVdiễn biến tự nhiên trong cơ thể
+ Hoặc sẽ diễn biến rất nhanh thành AIDS trong vòng vài năm nếu tiếptục có hành vi nguy cơ (như dùng chung bơm kim tiêm khi tiêm chích, tiếp tụcquan hệ tình dục không an toàn với nhiều người )
Trang 5Giai đoạn AIDS này có thể kéo dài vài thàng đến một năm, tuỳ thuộc vàosức đề kháng của người bệnh, tế bào bạch cầu và tải lượng của virus, thuốc điềutrị nhiễm trùng cơ hội.
Trong giai đoạn này người bệnh thường gặp các triệu chứng: tiêu chảy,sụt cân, ung thư da, loét da, liêm mạc, lao, nám
Do bị HIV làm suy yếu hệ thống miễn dịch nên người nhiễm HIV có thểmắc nhiều chứng bệnh khác nhau nên ở họ có thể có rất nhiều các biểu hiện(triệu chứng) bệnh khác nhau
Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu cho rằng, người nhiễm HIV được coi như
đã chuyển sang giai đoạn AIDS khi ở họ xuất hiện ít nhất 02 triệu chứng chính cộng 01 triệu chứng phụ sau:
Nhóm triệu chứng chính:
- Sụt cân trên 10% trọng lượng cơ thể
- Tiêu chảy kéo dài trên 1 tháng
- Sốt kéo dài trên 1 tháng
Nhóm triệu chứng phụ:
- Ho dai dẳng trên một tháng
- Nhiễm nấm Candida ở hầu họng
- Ban đỏ, ngứa da toàn thân
- Herpes ( Nổi mụn rộp ), Zona ( Giời leo ) tái phát
- Nổi hạch ở nhiều nơi trên cơ thể
Giai đoạn này không lây qua chăm sóc nếu sử dụng đúng các dụng cụ bảo hộ
1.4 Phương thức lây truyền HIV và cách phòng tránh
1.4.1 Phương thức lây truyền HIV
HIV lây truyền qua đường máu: HIV có nhiều trong máu toàn phần
cũng như trong các thành phần của máu như hồng cầu, tiểu cầu, huyết tương,
Trang 6các yếu tố đông máu Do đó HIV có thể lây truyền qua máu và các chế phẩmcủa máu có nhiễm HIV.
Về nguyên tắc, có thể nói mọi sự tiếp xúc trực tiếp với máu của ngườinhiễm HIV đều có thể bị lây nhiễm HIV, con đường này có tỷ lệ lây rất cao(100%)
HIV lây truyền qua đường tình dục : Đường tình dục là một trong 3 con
đường chính lây truyền HIV và được coi là phương thức lây truyền HIV quantrọng và phổ biến nhất trên thế giới Khoảng 70-80% tổng số người nhiễm HIVtrên thế giới là bị lây nhiễm qua con đường này
Sự lây truyền HIV qua đường tình dục xảy ra khi các dịch thể (máu, dịchsinh dục) nhiễm HIV (của người nhiễm HIV) tìm được “đường xâm nhập” vào
cơ thể bạn tình không nhiễm HIV “Đường xâm nhập” này không nhất thiết phải
là các vết thương hở hay vết loét trên da mà cả những vết trấy xước nhỏ khôngnhìn thấy bằng mắt thường hoặc ta (người có vết xước) cũng không cảm nhậnthấy Hơn thế, niêm mạc trong các hốc tự nhiên của cơ thể như đường âm đạo,lỗ niệu đạo ở đầu dương vật, trực tràng, thậm chí niêm mạc mắt và cuống họng
có các lỗ rất nhỏ mà HIV (vốn cũng rất nhỏ) có thể xâm nhập được
Do HIV có nhiều trong dịch sinh dục (tinh dịch của nam và dịch tiết âm đạo củanữ) với đủ lượng có thể làm lây truyền từ người này sang người khác, cho nên
về nguyên tắc mọi sự tiếp xúc trực tiếp với dịch sinh dục của người mà ta không biết chắc chắn là người đó chưa nhiễm HIV đều có nguy cơ bị nhiễm HIV.
HIV lây truyền từ mẹ sang con: HIV lây truyền từ mẹ có HIV sang con trong
thời kỳ mang thai, sinh nở và nuôi con bú
+ Khi mang thai: HIV từ máu của mẹ bị nhiễm HIV qua nhau thai để vào cơ thểthai nhi + Khi sinh: HIV từ nước ối, dịch tử cung, dịch âm đạo của mẹ xâm nhậpvào trẻ khi sinh (qua niêm mạc mắt, mũi, hậu môn hoặc da sây sát của trẻ trongquá trình đẻ + Khi cho con bú: HIV có thể lây qua sữa hoặc qua các vết nứt ởnúm vú người mẹ, nhất là khi trẻ đang có tổn thương ở niêm mạc miệng hoặckhi trẻ mọc răng cắn núm vú chảy máu…
Trang 7Đường lây truyền này có tỷ lệ thấp: dưới 30% nếu không có can thiệp y tế vàchỉ còn 0 – 5% nếu có sự tư vấn và chăm sóc, hỗ trợ y tế
Các con đường không làm lây truyền HIV
Do HIV không có hoặc có rất ít trong nước bọt, nước mắt, mồ hôi, nước tiêu…nên HIV không lây truyền qua những tiếp xúc thông thường với người nhiễmHIV, ví dụ:
+ Ăn chung mâm, bàn, uống chung cốc…
+ HIV không lây khi ho hay hắt hơi
+ HIV không lây khi ôm hôn xã giao, bắt tay, dùng chung nhà tắm, chung xe cộ,
bể bơi, chung phòng làm việc…
+ Như vậy chúng ta có thể sống, làm việc, học tập… chung với người nhiễmHIV mà không sợ bị lây nhiễm HIV nếu ta không có tiếp xúc trực tiếp với máu,dịch sinh dục và các dịch sinh học khác của họ
+ Muỗi, côn trùng đốt, súc vật cắn không làm lây truyền HIV
1.4.2 Cách phòng tránh HIV
Phòng lây nhiễm HIV/AIDS qua đường tình dục:
+ Thực hiện các hành vi tình dục an toàn cho mỗi cá nhân thông qua việc thựchiện 3 chữ: A,B,C của cuộc sống tình dục của mỗi cá nhân
A: Absitnence: Không quan hệ tình dục với bất kỳ ai
B: Beautiful: Chung thủy với một bạn tình duy nhất
C: Condom: bao cao su: luôn sử dụng bao cao su khi quan hệ tình dục
+ Tăng cường các dịch vụ khám và điều trị sớm các bệnh lây truyền qua đườngtình dục
+ Tuyên truyền và khuyến khích sử dụng BCS một cách rộng rãi
Trang 8+ Tổ chức tuyên truyền giáo dục cho những người hành nghề mại dâm như tổchức giáo dục đồng đẳng, khuyến khích sử dụng BCS
Phòng lây nhiễm qua con đường máu :
+ Thực hiện truyền máu an toàn : Phát hiện và điều trị sớm các bệnh gây thiếumáu làm giảm nhu cầu truyền máu ; Sàng lọc máu trước khi truyền ; Xây dựngngân hàng máu qua tuyển người cho máu có nguy cơ thấp hoặc vận động hiếnmáu nhân đạo +Áp dụng các biện pháp vô trùng, diệt trùng trong mọi dụng cụtrong mọi thủ thuật xuyên chích qua da niêm mạc Sử dụng các phương tiệnphòng hộ khi tiếp xúc với máu và dịch của người bệnh
+ Thực hiện chương trình giảm thiểu tác hại đối với người nghiện chích ma túynhư tổ chức giáo dục đồng đẳng, chương trình bơm kim tiêm sạch…
Phòng lây nhiễm từ mẹ sang con:
+ Giáo dục và tư vấn cho mọi phụ nữ ở độ tuổi sinh đẻ về nguy cơ dễ bị lâynhiễm HIV và khả năng lây nhiễm cho con khi người mẹ có HIV + Xét nghiệmHIV trước khi xây dựng gia đình
+ Khi người phụ nữ có HIV muốn có con thì nên có tư vấn và hỗ trợ của y tế để
có biện pháp phòng lây nhiễm cho con
+ Phòng tránh lây nhiễm cả trước, trong và sau khi sinh con
+ Sau khi sinh con, không nên cho con bú
2 Thực trạng nhiễm HIV trên thế giới và Việt Nam
2.1 Thực trạng nhiễm HIV trên thế giới
Những trường hợp AIDS đầu tiên được thông báo vào tháng 6/1981 từ 5 thanhniên nam đồng tính luyến ái ở Los Angeles (Mỹ)
Trên thực tế, HIV đã xuất hiện lan tràn trên thế giới từ những năm 70 của thế kỷ
XX mà chúng ta chưa phát hiện ra Hàng ngàn trường hợp AIDS sau này là kếtquả của việc bị nhiễm HIV lặng lẽ trong quá khứ Qua nghiên cứu mẫu máu
Trang 9được bảo quản năm 1959 và những năm 1970 ở Mỹ, người ta đã tìm thấy khángthể kháng HIV
Sự lây lan của HIV với tốc độ cực kỳ nhanh chóng Tháng 6/1981 lần đầu tiênloài người biết đến HIV/AIDS, nhưng cho đến nay theo thống kê của WHO và
Tổ chức phòng chống AIDS của Liên Hợp Quốc (UNAIDS), tính đến tháng 12năm 2007, tổng số người sống chung với HIV/AIDS trên toàn thế giới là 33,2triệu người, trong đó, người lớn là 30,8 triệu người; phụ nữ là 15,4 triệu người
và trẻ em dưới 15 tuổi là 2,5 triệu Tổng số ca nhiễm HIV mới trong năm 2007
là 2,5 triệu người, trong đó người lớn là 2,1 triệu và trẻ em là 420.000 trẻ Đại đa
số những trẻ em mới bị nhiễm là do lây từ người mẹ tại thời điểm trước hoặcngay sau khi sinh 1/2 trong số này sẽ tử vong trong vòng 2 năm đầu tiên củacuộc đời nếu không được chăm sóc y tế đúng cách Tổng số ca tử vong do AIDS
là 2,1 triệu, trong đó người lớn là 1,7 triệu và trẻ em là 330.000 Đồng thời cứmỗi 15 giây đống hồ là có một em bị mồ côi cha hoặc mẹ chết vì HIV/AIDS
Từ một nước đầu tiên phát hiện ra người có HIV là Mỹ thì cho đến nay, ở hầuhết tất cả các quốc gia, lãnh thổ trên thế giới đều đã có người có HIV/AIDS
2.2 Thực trạng nhiễm HIV ở Việt Nam
Trường hợp nhiễm HIV đầu tiên ở Việt nam được phát hiện vào tháng 12 năm
1990 tại thành phố Hồ Chí Minh Nhưng thực sự dịch HIV/AIDS đã bắt đầubùng nổ từ năm 1993 trong nhóm những người nghiện tiêm chích ma tuý tạithành phố Hồ Chí Minh Sau đó, dịch bắt đầu lan ra các tỉnh thành Đến cuốitháng 12/1998 toàn bộ 61 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trong cả nướcđều được phát hiện có người nhiễm HIV
Trong báo cáo về Công tác phòng, chống HIV/AIDS năm 2015 và các nhiệm vụtrọng tâm năm 2016 của cục Phòng , chống HIV thuộc Bộ Y Tế đã đưa ra những
số liệu quan trọng về tình hình nhiễm HIV ở Việt Nam hiện nay
Trong năm 2015 cả nước xét nghiệm phát hiện mới 10.195 trường hợp nhiễmHIV, số bệnh nhân chuyển sang giai đoạn AIDS 6.130, số bệnh nhân tử vong
Trang 102.130 trường hợp Tính đến cuối năm 2015, toàn quốc có 227.154 người nhiễmHIV đang còn sống với HIV được báo cáo, 85.194 người nhiễm HIV đang giaiđoạn AIDS và đã có trên 86.716 người nhiễm HIV đã tử vong.
Trong số những người được báo cáo xét nghiệm mới phát hiện nhiễm HIV trongnăm 2015, nữ chiếm 34,1%, nam chiếm 65,9%, lây truyền qua đường tình dụcchiếm 50,8%, lây truyền qua đường máu chiếm 36,1%, mẹ truyền sang conchiếm 2,8%, không rõ chiếm 10,4%
So sánh số liệu nhiễm HIV/AIDS, tử vong báo cáo năm 2014, số trường hợpnhiễm HIV phát hiện mới giảm 13%, số bệnh nhân AIDS giảm 1% và ngườinhiễm HIV tử vong giảm 1% Trong 5 năm qua, tiếp tục ghi nhận số ngườinhiễm HIV/AIDS và tử vong hằng năm giảm, số trường hợp HIV dương tínhphát hiện năm 2010 từ 17.800 xuống còn 10.195 ca năm 2015, tử vong giảm từ3.300 ca năm 2010 xuống 2.130 ca năm 2015, số bệnh nhân AIDS từ 8.900 canăm 2015 xuống còn khoảng 6.130 ca năm 2015 Kết quả giám sát trọng điểmnăm 2015, tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm nghiện chích ma túy là 9,3%, phụ nữbán dâm 2,7% và MSM là 5,2% 2 Các yếu tố nguy cơ lây truyền HIV ở ViệtNam giai đoạn hiện nay vẫn là lây truyền HIV trong nhóm nghiện chích ma túy
và từ nhóm nghiện chích ma túy nhiễm HIV sang vợ bạn tình của họ Ngoài ta,
có yếu tố nguy cơ mới làm lây truyền HIV trong sử dụng ma túy tổng hợp ở giớitrẻ và phụ nữ bán dâm, dẫn đến tăng nguy cơ quan hệ tình dục tập thể khôngđược bảo vệ, và mại dâm nam, gồm nam bán dâm cho nam đồng tính, ngườichuyển giới nữ
3 Công tác xã hội với người có HIV/ AIDS
3.1 Mục đích của công tác xã hội với người có HIV/AIDS
Mục đích căn bản – cấp độ 1: Giúp người có HIV/AIDS
Giúp người có H thích ứng với những vấn đề xúc cảm đau đớn ; Giúp người có
H đạt tới mức độ thích hợp nào đó về tình cảm và hành vi ; Giúp người có H cócảm nghĩ tích cực, tốt về bản thân – yêu cuộc sống; Giúp người có H chấp nhậncác giới hạn và sức mạnh của mình và cảm thấy yên tâm về những điều đó ;
Trang 11Giúp người có H thay đổi những hành vi có tác động tiêu cực ; Giúp người có Hhoạt động thoải mái và thích ứng với ngoại cảnh ; Tạo cơ hội tối đa cho người
có H theo đuổi và thực hiện các mong ước
Mục đích 2: Thỏa mãn nhu cầu của người có H: Xuất phát từ nhu cầu của
lý những trường hợp kỳ thị người có H)…
Mục đích đối với người trợ giúp – hoạt động của Công tác xã hội:
+ Khẳng định vai trò, ý nghĩa – giá trị của khoa học và nghề chuyên môn Côngtác xã hội tác nghiệp trợ giúp với đối tượng đặc biệt: người có H và gia đình,người liên quan đến người có H
+ Góp phần hạn chế sự lây lan của đại dịch HIV và những ảnh hưởng tiêu cựcgây ra bởi những thất bại hay hạn chế của những phương pháp, hoạt động giảiquyết vấn đề khác
3.2 Những hoạt động dịch vụ trợ giúp
Dịch vụ tư vấn/tham vấn (trực tiếp và gián tiếp): Dịch vụ tư vấn/tham vấn
qua điện thoại ; Dịch vụ tư vấn/tham vấn trực tiếp ; Dịch vụ xét nghiệm và tưvấn HIV miễn phí
Dịch vụ khám chữa bệnh:
+ Phòng khám ngoại trú điều trị cho người có HIV/AIDS
+ Phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con
+ Điều trị lao cho bệnh nhân AIDS
Trang 12+ Điều trị các bệnh lây nhiễm qua đường tình dục.
Loại hình sinh hoạt câu lạc bộ: Câu lạc bộ bạn giúp bạn, đồng đẳng, những
người đồng cảm…
Hoạt động truyền thông: Thay đổi thái độ hành vi của người có H, gia đình và
cộng đồng (nhóm bạn, cơ quan, tổ chức, trường học, chính quyền và cộng đồngdân cư trong xã hội)
Dịch vụ hỗ trợ: việc làm, vay vốn, trợ cấp đặc biệt…
Trong tất cả các hoạt động hỗ trợ thì tư vấn/tham vấn có vai trò đặc biệt quantrọng và khẳng định ưu thế về hiệu quả
3.3 Chăm sóc người có HIV tại nhà
Hầu hết người có HIV đều muốn được chăm sóc và điều trị HIV tại nhà vì hợp với tâm lý người bệnh hơn, khi ở tại nhà người có HIV/AIDS cần được chăm sóc như sau: + Động viên người bệnh không bi quan chán nản
+ Thường xuyên thăm hỏi, hoặc hẹn bệnh nhân thăm khám sức khỏe định kỳ + Khuyến khích bệnh nhân nếu thấy có gì khó chịu thì nên đến thầy thuốc ngay
để kịp thời phát hiện sớm các nhiễm trùng cơ hội để chữa kịp thời
+ Gia đình vẫn duy trì nếp sống bình thường vì HIV không lây qua giao tiếp thông thường
+ Phát hiện và điều trị các nhiễm trùng cơ hội theo hướng dẫn của thầy thuốc + Phát hiện và xử lý biểu hiện thường gặp ở người nhiễm HIV/ AIDS tại nhà
Để có thể thực hiện chăm sóc tại nhà tốt cho người có HIV cần có những kiếnthức, kỹ năng và cách xử lý tốt cho từng tình huống, từng biểu hiện bệnh màngười nhiễm HIV thường gặp phải như sốt , tiêu chảy, ho nhiều, khó thở, tổnthương ngoài da, nôn và buồn nôn, đau đớn thể xác, rối loạn tâm lý, đau đầu và
có biểu hiện thần kinh
Trang 133.4 Tham vấn cho người có HIV
Khái niệm tham vấn HIV :Đây là loại hình tham vấn đặc biệt bao gồm việc
cung cấp những kiến thức cơ bản về phòng tránh lây nhiễm HIV, hỗ trợ cho việcthay đổi hành vi, vượt qua mặc cảm, những khủng hoảng để tiếp tục cuộc sống
Những giai đoạn tham vấn HIV/AIDS : Với những giai đoạn khác nhau,
người có HIV cũng có những đặc điểm thể chất, tâm lý khác nhau và những nhucầu được trợ giúp khác nhau:
Tham vấn trước xét nghiệm:
Mục đích của tham vấn trước xét nghiệm :
- Tạo dựng sự tin tưởng giữa đối tượng và NTV (nhà tham vấn) NTV có thểgiúp trấn an đối tượng giúp họ an tâm đi xét nghiệm
- Giúp đối tượng đánh giá hành vi nguy cơ của bản thân để giúp đối tượngquyết định lựa chọn xét nghiệm hay không
- Cung cấp thông tin và những ảnh hưởng của kết quả xét nghiệm, giải thích về
sự đảm bảo bí mật của xét nghiệm
Tham vấn khi trả kết quả xét nghiệm:
-Tham vấn cho đối tượng có kết quả xét nghiệm HIV âm tính :Kết quả xétnghiệm HIV âm tính sẽ giúp cho đối tượng yên tâm Tuy nhiên cũng cần lưu ývới đối tượng nên đi xét nghiệm lại sau 3 tháng và đồng thời thảo luận về nhữngbiện pháp an toàn để phòng, tránh lây nhiễm HIV
-Tham vấn cho đối tượng nhận kết quả xét nghiệm HIV dương tính: nhà thamvấn cần có những biện pháp hỗ trợ người có HIV đối phó, giải quyết các trạngthái cảm xúc tiêu cực như: sốc, chối bỏ, bực tức, cáu giận
Tham vấn cho thân chủ sau xét nghiệm (khi bắt đầu sống chung với HIV): cần
có những hỗ trợ cần thiết giúp người có HIV đối phó được với những trạng tháicảm xúc như: mặc cảm, lo lắng, sợ hãi; cô đơn, tự kỳ thị; trầm cảm, chán nản,
Trang 14ngăn chặn những hành vi, ý định tự tử của người có H , giúp họ chấp nhận và hyvọng
Phần II Thực trạng kết quả vấn đề và cách thức vận dụng kiến thức, kĩ thuật và kĩ năng vào giải quyết một vấn đề cụ thể.
Hỗ trợ tâm lý cho người có HIV , trường hợp chị Nguyễn Thị H, Tạ Xá, Cẩm Khê, Phú Thọ.
1 Mô tả thân chủ:
chị H, 35 tuổi, quê ở xã Tạ Xá, Cẩm Khê, Phú Thọ Chị là một phụ nữ xinh đẹp,hiền thục, đảm đang Hiện nay , chị đang sống cùng chồng và cô con gái 8 tuổi.Kinh tế gia đình chị cũng thuộc dạng khá giả , chồng chị chạy xe khách tuyếnCẩm Khê- Hà Nội, còn chị ở nhà bán hàng tạp hóa và may vá Cứ thế cuộc sốngcủa gia đình chị trôi qua thật yên bình, hạnh phúc Nhưng, cuộc đời đã khôngyên bình như những gì chị hằng mong ước Tháng 10/2016 , trong một lần ốm,
đi bệnh viện khám và chị đã được thông báo là mình bị nhiễm HIV Tin đó nhưmột tiếng sét đánh ngang tai chị, trước giờ ở quê chị có biết cái bệnh này là thếnào đâu, chỉ nghe họ nói là nó là căn bệnh chết người, không có thuốc chữa, làcăn bệnh “xấu xa” Chỉ thế thôi cũng đã làm chị hoang mang, lo sợ đến tột cùng.Tuy vậy, do không hề có những kiến thức về HIV nên cả chị và gia đình đềukhông hiểu tại sao chị lại có thể mắc căn bệnh “ xấu xa” ấy Vì thế mà cả chồng
và gia đình đều oán thán, bới móc chị Sau khi nghe bác sĩ giải thích, mọi người
đã hiểu ra, chồng chị và cô con gái cũng đã được tiến hành xét nghiệm HIV Kếtquả nhận được rằng chồng chị cũng bị nhiễm HIV và thật may mắn rằng cô congái của anh chị là âm tính với HIV Sau khi được sự động viên, hỏi han của bác
sĩ, chồng chị H đã thừa nhận, trong hồi còn đi làm lái xe ở Hải Phòng anh đãtừng có vài lần quan hệ với gái mại dâm Có lẽ vì thế mà anh đã bị lây nhiễmHIV từ lúc nào không hay, và rồi anh lại vô tình lây nhiễm căn bệnh chết người
Trang 15đó cho vợ mình Biết mình là người mang bênh cho vợ, chồng chị vô cùng hốihận và day dứt, nhưng mỗi lần anh an ủi, động viên chị thì chị lại cáu gắt, giận
dữ, không muốn nói chuyện với anh, thái độ căm ghét,oán hận của chị với anh
đã làm chị không thể nào muốn nhìn thấy mặt anh HIV là một thứ bệnh mà chịchưa bao giờ nghĩ đến chứ đừng nói là xảy đến với chị Vì thế mà khi nhận đượctin mình có HIV, chị đã vô cùng sốc, chị suy sụp hẳn, sợ hãi, mất ăn, mất ngủbuồn rầu và chán nản, chị lúc nào cũng như người mất hồn , cả ngày khôngmuốn nói chuyện với ai cũng vì quá sốc mà nhiều lúc chị còn phủ nhận cả vớibác sĩ rằng chị không hề bị bệnh Nhận thấy những trạng thái tâm lý không bìnhthường đó của bệnh nhân, bác sĩ đã liên hệ với phía trung tâm công tác xã hộinhờ sự phối hợp, giúp đỡ cho chị H
2 Tiến trình trợ giúp cho thân chủ- chị H.
Trong giai đoạn tiếp cận thân chủ, NVXH đã thu thập được một số thông tinban đầu về thân chủ:
-Họ và tên: Nguyễn Thị H
Tuổi: 35 Giới tính: Nữ
Trang 16Nghề nghiệp: buôn bán tự do
Sức khỏe thể chất: gầy, xanh xao, đang có HIV
Sức khỏe tinh thần: suy sụp tinh thần:buồn rầu, chán nản, không tập trung, nhiềulúc không thừa nhận bệnh
Nguồn cung cấp thông tin: TC H, bác sĩ, chồng TC
=>đánh giá, kết luận của NVCTXH: TC H là một người đang có HIV và đang
có những biểu hiện của sự khủng hoảng tâm lý , đang trong giai đoạn sốc saukhi nhận kết quả xét nghiệm Nhiệm vụ trước mắt là cần ổn định tâm lý cho chị
H, đánh giá khả năng tự tự của TC, để có những biện pháp phòng tránh triệt để.Trong giai đoạn tiếp cận TC này, NVCTXH đã vận dụng một số kỹ năng, kỹthuật quan trọng như:
-Kỹ năng lắng nghe : lắng nghe đồng cảm; lắng nghe tích cực; quan sát nhữnghành vi ngôn ngữ và phi ngôn ngữ của TC; im lặng để cho TC suy nghĩ về vấn
đề của mình, không vội yêu cầu TC trả lời các câu hỏi
-Kỹ năng thấu cảm: người có HIV, thường mang trong mình nhiều mặc cảm, khitrò chuyện NVCTXH luôn thể hiện sự quan tâm, thấu hiểu, chia sẻ với TC Từ
đó giúp TC cảm thấy được an ủi và tin tưởng vào NVCTXH Giúp cho quá trìnhchia sẻ của TC với NVCTXH được thuận lợi hơn Cũng chính vì đặc điểm tâm
lý này của người có HIV nên NVCTXH luôn tuân giữ đúng nguyên tắc thân chủtrọng tâm bằng việc luôn tôn trọng những giá trị của TC, không chê bai, phánxét…
Kỹ năng giao tiếp bao gồm cả giao tiếp ngôn ngữ và phi ngôn ngữ: những lờinói, cử chỉ của NVCTXH trong giai đoạn này rất quan trọng vì nó quyết định tớimức độ của mối quan hệ tích cực và sự tin tưởng của TC vào NVCTXH
Bên cạnh đó NVCTXH cũng cần sử dụng kết hợp thêm một số kỹ năng bổ trợkhác như: kỹ năng đặt câu hỏi, kỹ năng quan sát, kỹ năng tóm lược, phản hồi
2.1 Nhận diện vấn đề
Trang 17Nhận diện vấn đề: để có thể nhận diện vấn đề của thân chủ , NVXH cũng tiếnhành những bước đầu thu thập thông tin.
Vấn đề chính là TC là người có HIV Vì thế, mặc dù trong giai đoạn không triệuchứng nhưng vẫn có những ảnh hưởng nhất định đến thể chất và tâm lý của thânchủ Nhất là khi thân chủ vừa mới nhận được kết quả dương tính với HIV, điềunày đã gây ra những khủng hoảng nhất định về tâm lý cho thân chủ
Sức khỏe tinh thần: suy sụp tinh thần:buồn rầu, chán nản, không tập trung, nhiềulúc không thừa nhận bệnh
Sức khỏe thể chất: vì những lo lắng buồn phiền mà, chị H cũng không thiết ănuống, lo nghĩ nhiều đã làm cho chị gầy và xanh xao đi
Nguồn cung cấp thông tin: TC H, bác sĩ, chồng TC
=> TC H là một người đang có HIV và đang có những biểu hiện của sự khủnghoảng tâm lý , đang trong giai đoạn sốc sau khi nhận kết quả xét nghiệm Nhiệm
vụ trước mắt là cần ổn định tâm lý cho chị H, đánh giá khả năng tự tự của TC,
để có những biện pháp phòng tránh triệt để
Giai đoạn thu thập thông tin:
NVCTXH tiến hành thu thập thông tin bằng nhiều phương pháp khác nhau như:quan sát, phỏng vấn, vãng gia
Thu thập thông tin từ các đối tượng khác nhau:
Trước nhất đó là từ thân chủ: bao gồm các thông tin về bản thân thân chủ, cácthông tin liên quan đến tình trạng bệnh, thái độ, cảm xúc của thân chủ khi biếtmình có bệnh, nhận thức, thái độ của thân chủ về HIV, nguyên nhân lây bệnh….Chồng của thân chủ: đặc điểm của mối quan hệ với thân chủ, những suy ngĩ,thái độ , hành vi khi thân chủ bị bệnh, những kiến thức về HIV cũng như phòngtránh HIV…