MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa (XHCN) Việt Nam là nhà nước pháp quyền XHCN, nhà nước của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân. Nhà nước phải phục vụ Nhân dân, gắn bó mật thiết với Nhân dân, chịu sự kiểm tra, giám sát của Nhân dân, tôn trọng, lắng nghe ý kiến của Nhân dân, nhà nước phải bảo đảm cho các quyền và lợi ích hợp pháp của Nhân dân được thực hiện trên thực tế. Để thực hiện quyền lực của mình, Nhân dân thông qua nhiều cơ quan nhà nước khác nhau, ở các xã nông thôn Nhân dân chủ yếu thông qua Hội đồng nhân dân (HĐND) xã để thực hiện quyền lực của mình. HĐND xã là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của Nhân dân trong xã, chịu trách nhiệm trước Nhân dân và cơ quan nhà nước cấp trên, do Nhân dân trong xã bầu ra bằng hình thức phổ thông bình đẳng trực tiếp và bỏ phiếu kín. HĐND xã là cơ quan gần dân nhất, có quan hệ trực tiếp đến từng người dân, là nơi gắn bó giữa chính quyền với Nhân dân, là cầu nối chuyển tải các đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước đến với Nhân dân. Chính vì vậy, HĐND xã có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội của xã. HĐND xã là kênh quan trọng để Nhân dân trong xã thể hiện ý chí, nguyện vọng, quyền lực của mình, bởi mọi đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của nhà nước có đi vào cuộc sống được hay không một phần phụ thuộc không nhỏ vào hiệu quả hoạt động của cơ quan quyền lực này. Từ thực tiễn đã cho thấy, ở đâu HĐND xã hoạt động có hiệu lực, hiệu quả thì ở xã đó các đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước được chấp hành nghiêm chỉnh, quyền của Nhân dân được bảo đảm, ngược lại nếu ở xã nào HĐND xã yếu kém, hoạt động hình thức, không hiệu lực, hiệu quả thì ở đó đời sống kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội và các quyền tự do dân chủ khác của Nhân dân trong xã gặp nhiều khó khăn, trật tự an ninh không được bảo đảm, dễ phát sinh các hiện tượng tiêu cực trong xã hội, vấn đề dân chủ và quyền lực của Nhân dân địa phương không được thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ. Hơn 70 năm qua là thời kỳ đất nước có nhiều biến đổi, HĐND xã đã có những đóng góp không nhỏ vào sự nghiệp phát triển chung của đất nước và của từng địa phương, HĐND xã là cơ quan ban hành ra nghị quyết làm cơ sở cho Ủy ban nhân dân (UBND) xã ban hành quyết định phục vụ cho công tác quản lý và phát triển kinh tế, văn hóa xã hội ở xã. HĐND xã là cơ quan quyết định những vấn đề cơ bản và quan trọng của xã, thực hiện hoạt động giám sát (HĐGS) việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật tại xã. Với vị trí, vai trò và những đóng góp quan trọng như vậy, trong giai đoạn hiện nay HĐND xã phải được chăm lo, đổi mới, củng cố, hoàn thiện nhiều hơn nữa cả về tổ chức và hoạt động. Trong công cuộc đổi mới đất nước do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo có một nội dung đổi mới rất được Đảng quan tâm, đó là đổi mới bộ máy nhà nước (MBNN), trong đó có HĐND xã. Nghị quyết Đại hội lần thứ VI, VII, VIII, IX, X, XI và XII đều đề cập đến việc đổi mới tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương (CQĐP). Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã khẳng định: “Tiếp tục đổi mới tổ chức hoạt động của CQĐP. Nâng cao chất lượng hoạt động của HĐND và UBND các cấp, bảo đảm quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm trong việc quyết định và tổ chức thực hiện những chính sách trong phạm vi được phân cấp” [27, tr.251]. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục khẳng định: “Hoàn thiện mô hình tổ chức CQĐP phù hợp với đặc điểm ở nông thôn, đô thị, hải đảo, đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt theo luật định” [28, tr.180]. Tinh thần trong các bản nghị quyết của Đảng đã được thể chế vào trong các văn bản quy phạm pháp luật (QPPL), các quy định của pháp luật về cơ quan Hội đồng không ngừng được hoàn thiện, phát triển, gần đây nhất Hiến pháp năm 2013 đã quy định về CQĐP các cấp ở Việt Nam gồm có HĐND và UBND được tổ chức phù hợp với đặc điểm nông thôn, đô thị, hải đảo, đơn vị hành chính - kinh tế đặc thù và theo xu hướng phân quyền nhiều hơn cho CQĐP. Trên tinh thần của Hiến pháp, Quốc hội đã ban hành Luật Tổ chức CQĐP năm 2015. Theo đó, đã có nhiều quy định mới về tổ chức và hoạt động của HĐND xã so với Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003. Đã có những thay đổi khá cơ bản về nhận thức cũng như phương hướng về xây dựng mô hình tổ chức CQĐP theo yêu cầu cải cách BMNN trong giai đoạn mới. Những quy định đó đã kịp thời thể chế quan điểm, chủ trương của Đảng về tổ chức và hoạt động của CQĐP, trong đó có HĐND xã, tạo cơ sở pháp lý cho việc đổi mới tổ chức và nâng cao hiệu quả hoạt động cho HĐND xã, xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN ở nước ta. Tuy nhiên, sự đổi mới của Luật Tổ chức CQĐP năm 2015 về HĐND xã qua đối chiếu với thực tế tổ chức và hoạt động của HĐND xã trong giai đoạn hiện nay vẫn còn nhiều bất cập, hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu đổi mới tổ chức và nâng cao hiệu quả hoạt động cho các cơ quan thuộc CQĐP. HĐND xã là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, theo quy định của pháp luật HĐND xã có rất nhiều quyền, nhưng do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan khác nhau, trên thực tế tổ chức và hoạt động HĐND xã ở nhiều địa phương trên cả nước trong thời gian qua còn mang nặng tính hình thức, hiệu lực, hiệu quả hoạt động không cao, không thực quyền, chưa xứng đáng với vị trí, vai trò của mình, khả năng thay mặt Nhân dân trong xã quyết định các vấn đề quan trọng của xã, dẫn đến quyền lực Nhân dân không được thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ, làm giảm sút niềm tin của Nhân dân đối với cơ quan Hội đồng. Có người đã từng ví: “HĐND giống như một lâu đài, trông có vẽ lộng lẫy, đồ sộ, nhưng thực tế bên trong chẳng có gì cả”. Trước yêu cầu đổi mới đất nước và thực trạng tổ chức và hoạt động của HĐND xã đã đặt ra một yêu cầu mang tính cấp bách và cần thiết là phải đổi mới tổ chức, nâng cao hiệu quả hoạt động cho HĐND xã ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Có thể nói đây không phải là đề tài mới, đã có nhiều nhà khoa học tập trung nghiên cứu, nhưng để góp phần củng cố hệ thống CQĐP, xây dựng thành công nhà nước pháp quyền XHCN của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân đòi hỏi phải tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện các quy định của pháp luật về tổ chức và hoạt động của HĐND xã.
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tác giả Các kết quả
và số liệu nêu trên trong luận án là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, đã được các cơ quan chức năng công bố Những nội dung, luận điểm của luận án chưa được công
bố trong bất cứ công trình nghiên cứu độc lập nào./
Tác giả luận án
Lê Văn Minh
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ VĂN MINH
TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN XÃ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội - 2018
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 10
1.1 Tình hình nghiên cứu đề tài luận án 10
1.2 Nhận xét về tình hình nghiên cứu và những vấn đề đặt ra cần nghiên cứu của đề tài luận án 33
1.3 Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu để tài luận án 35
Kết luận Chương 1 36
CHƯƠNG 2 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN XÃ 37
2.1 Khái niệm, đặc điểm tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân xã 37
2.2 Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân xã 50
2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân xã 60
2.4 Tổ chức và hoạt động của cơ quan Hội đồng địa phương của một số nước trên thế giới và giá trị tham khảo cho Việt Nam 65
Kết luận Chương 2 74
CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN XÃ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 75
3.1 Thực trạng tổ chức của Hội đồng nhân dân xã 75
3.2 Thực trạng hoạt động của Hội đồng nhân dân xã 99
3.3 Đánh giá chung về thực trạng tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân xã 111 3.4 Mối quan hệ giữa Hội đồng nhân dân xã với Đảng ủy, Ủy ban Mặt trận tổ quốc xã và Ủy ban nhân dân xã 116
Kết luận chương 3 123
CHƯƠNG 4 QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP ĐỔI MỚI TỔ CHỨC VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN XÃ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 124
4.1 Quan điểm đổi mới tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân xã 124
4.2 Giải pháp đổi mới tổ chức và hoạt động Hội đồng nhân dân xã 130
Kết luận chương 4 148
KẾT LUẬN CHUNG 149
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 151
Trang 3DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
Trang 5Biểu đồ 3.7 Biểu đồ cơ cấu Đảng viên là đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã nhiệm kỳ 2016-2021 87
Biểu đồ 3.8 Biểu đồ cơ cấu thành phần trúng cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã nhiệm kỳ 2016-2021 88
Biểu đồ 3.9 Biểu đồ thể hiện trình độ chuyên môn của Thường trực Hội đồng nhân dân cấp xã nhiệm kỳ 2004-2011, nhiệm kỳ 2011-2016 và nhiệm kỳ 2016-2021 97
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa (XHCN) Việt Nam là nhà nước pháp quyền XHCN, nhà nước của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân Nhà nước phải phục vụ Nhân dân, gắn bó mật thiết với Nhân dân, chịu sự kiểm tra, giám sát của Nhân dân, tôn trọng, lắng nghe ý kiến của Nhân dân, nhà nước phải bảo đảm cho các quyền và lợi ích hợp pháp của Nhân dân được thực hiện trên thực tế Để thực hiện quyền lực của mình, Nhân dân thông qua nhiều cơ quan nhà nước khác nhau, ở các xã nông thôn Nhân dân chủ yếu thông qua Hội đồng nhân dân (HĐND) xã để thực hiện quyền lực của mình
HĐND xã là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của Nhân dân trong xã, chịu trách nhiệm trước Nhân dân và cơ quan nhà nước cấp trên, do Nhân dân trong xã bầu ra bằng hình thức phổ thông bình đẳng trực tiếp và bỏ phiếu kín HĐND xã là cơ quan gần dân nhất, có quan hệ trực tiếp đến từng người dân, là nơi gắn bó giữa chính quyền với Nhân dân, là cầu nối chuyển tải các đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước đến với Nhân dân Chính vì vậy, HĐND xã có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội của xã HĐND xã là kênh quan trọng để Nhân dân trong xã thể hiện ý chí, nguyện vọng, quyền lực của mình, bởi mọi đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của nhà nước có đi vào cuộc sống được hay không một phần phụ thuộc không nhỏ vào hiệu quả hoạt động của cơ quan quyền lực này
Từ thực tiễn đã cho thấy, ở đâu HĐND xã hoạt động có hiệu lực, hiệu quả thì
ở xã đó các đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước được chấp hành nghiêm chỉnh, quyền của Nhân dân được bảo đảm, ngược lại nếu ở
xã nào HĐND xã yếu kém, hoạt động hình thức, không hiệu lực, hiệu quả thì ở đó đời sống kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội và các quyền tự do dân chủ khác của Nhân dân trong xã gặp nhiều khó khăn, trật tự an ninh không được bảo đảm, dễ phát
Trang 7sinh các hiện tượng tiêu cực trong xã hội, vấn đề dân chủ và quyền lực của Nhân dân địa phương không được thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ
Hơn 70 năm qua là thời kỳ đất nước có nhiều biến đổi, HĐND xã đã có những đóng góp không nhỏ vào sự nghiệp phát triển chung của đất nước và của từng địa phương, HĐND xã là cơ quan ban hành ra nghị quyết làm cơ sở cho Ủy ban nhân dân (UBND) xã ban hành quyết định phục vụ cho công tác quản lý và phát triển kinh tế, văn hóa xã hội ở xã HĐND xã là cơ quan quyết định những vấn đề cơ bản và quan trọng của xã, thực hiện hoạt động giám sát (HĐGS) việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật tại xã Với vị trí, vai trò và những đóng góp quan trọng như vậy, trong giai đoạn hiện nay HĐND xã phải được chăm lo, đổi mới, củng cố, hoàn thiện nhiều hơn nữa cả về tổ chức và hoạt động
Trong công cuộc đổi mới đất nước do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo có một nội dung đổi mới rất được Đảng quan tâm, đó là đổi mới bộ máy nhà nước (MBNN), trong đó có HĐND xã Nghị quyết Đại hội lần thứ VI, VII, VIII, IX, X,
XI và XII đều đề cập đến việc đổi mới tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương (CQĐP) Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã khẳng định:
“Tiếp tục đổi mới tổ chức hoạt động của CQĐP Nâng cao chất lượng hoạt động của HĐND và UBND các cấp, bảo đảm quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm trong việc quyết định và tổ chức thực hiện những chính sách trong phạm vi được phân cấp” [27, tr.251] Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục khẳng định: “Hoàn thiện mô hình tổ chức CQĐP phù hợp với đặc điểm ở nông thôn, đô thị, hải đảo, đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt theo luật định” [28, tr.180]
Tinh thần trong các bản nghị quyết của Đảng đã được thể chế vào trong các văn bản quy phạm pháp luật (QPPL), các quy định của pháp luật về cơ quan Hội đồng không ngừng được hoàn thiện, phát triển, gần đây nhất Hiến pháp năm 2013
đã quy định về CQĐP các cấp ở Việt Nam gồm có HĐND và UBND được tổ chức phù hợp với đặc điểm nông thôn, đô thị, hải đảo, đơn vị hành chính - kinh tế đặc thù
và theo xu hướng phân quyền nhiều hơn cho CQĐP Trên tinh thần của Hiến pháp,
Trang 8Quốc hội đã ban hành Luật Tổ chức CQĐP năm 2015 Theo đó, đã có nhiều quy định mới về tổ chức và hoạt động của HĐND xã so với Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003 Đã có những thay đổi khá cơ bản về nhận thức cũng như phương hướng về xây dựng mô hình tổ chức CQĐP theo yêu cầu cải cách BMNN trong giai đoạn mới Những quy định đó đã kịp thời thể chế quan điểm, chủ trương của Đảng
về tổ chức và hoạt động của CQĐP, trong đó có HĐND xã, tạo cơ sở pháp lý cho việc đổi mới tổ chức và nâng cao hiệu quả hoạt động cho HĐND xã, xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN ở nước ta Tuy nhiên, sự đổi mới của Luật Tổ chức CQĐP năm 2015 về HĐND xã qua đối chiếu với thực tế tổ chức và hoạt động của HĐND
xã trong giai đoạn hiện nay vẫn còn nhiều bất cập, hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu đổi mới tổ chức và nâng cao hiệu quả hoạt động cho các cơ quan thuộc CQĐP HĐND xã là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, theo quy định của pháp luật HĐND xã có rất nhiều quyền, nhưng do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan khác nhau, trên thực tế tổ chức và hoạt động HĐND xã ở nhiều địa phương trên cả nước trong thời gian qua còn mang nặng tính hình thức, hiệu lực, hiệu quả hoạt động không cao, không thực quyền, chưa xứng đáng với vị trí, vai trò của mình, khả năng thay mặt Nhân dân trong xã quyết định các vấn đề quan trọng của xã, dẫn đến quyền lực Nhân dân không được thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ, làm giảm sút niềm tin của Nhân dân đối với cơ quan Hội đồng Có người đã từng ví: “HĐND giống như một lâu đài, trông có vẽ lộng lẫy, đồ sộ, nhưng thực tế bên trong chẳng có gì cả”
Trước yêu cầu đổi mới đất nước và thực trạng tổ chức và hoạt động của HĐND xã đã đặt ra một yêu cầu mang tính cấp bách và cần thiết là phải đổi mới tổ chức, nâng cao hiệu quả hoạt động cho HĐND xã ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay Có thể nói đây không phải là đề tài mới, đã có nhiều nhà khoa học tập trung nghiên cứu, nhưng để góp phần củng cố hệ thống CQĐP, xây dựng thành công nhà nước pháp quyền XHCN của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân đòi hỏi phải tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện các quy định của pháp luật về tổ chức và hoạt động của HĐND xã
Trang 9Trước tình hình đó, vấn đề “Tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân
xã ở Việt Nam hiện nay” được nghiên cứu sinh chọn làm đề tài luận án Tiến sĩ
Luật học có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cấp bách
2 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
2.1 Đối tượng nghiên cứu
- Các quan điểm khoa học về tổ chức và hoạt động của CQĐP nói chung, về HĐND xã ở Việt Nam nói riêng
- Hệ thống các quy định của pháp luật về tổ chức và hoạt động của HĐND xã
- Phạm vi về nội dung: Nghiên cứu các quy định của pháp luật, thực tiễn tổ chức
và hoạt động của HĐND xã (không bao gồm thị trấn, phường) ở nước ta hiện nay
- Phạm vi về không gian: Tại lãnh thổ Việt Nam Luận án có tham khảo thực
tiễn tổ chức và hoạt động của chính quyền cơ sở, đặc biệt là Hội đồng địa phương ở
một số quốc gia trong khu vực và trên thế giới
- Phạm vi về thời gian: Từ nhiệm kỳ 2011-2016 cho đến nay
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Xây dựng các luận cứ khoa học cho việc đề xuất các quan điểm, giải pháp góp phần đổi mới tổ chức và nâng cao hiệu quả hoạt động của HĐND xã ở Việt Nam hiện nay
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đính nghiên cứu nêu trên, luận án có các nhiệm vụ sau:
Một là, tiến hành đánh giá khách quan, khoa học các công trình tiêu biểu đã
nghiên cứu liên quan đến HĐND xã, chỉ rõ những vấn đề mà các nhà khoa học đã
Trang 10nghiên cứu làm sáng rõ, những vấn đề đã nghiên cứu nhưng chưa đạt được sự thống nhất, những vấn chưa nghiên cứu, từ đó xác định những vấn đề cần kế thừa, những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu và những vấn đề mới đặt ra để nghiên cứu trong luận
án
Hai là, phân tích làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về khái niệm, vị trí, tính
chất của HĐND xã, đặc điểm tổ chức và hoạt động, các nguyên tắc HĐND xã phải tuân theo trong quá tình tổ chức và hoạt động Phân tích làm rõ những yếu tố tác động, ảnh hưởng trực tiếp đến việc tổ chức chức và hoạt động của HĐND xã, làm
rõ sự khác biệt giữa xã với phường và thị trấn Nghiên cứu pháp luật và thực tiễn tổ chức và hoạt động của Hội đồng địa phương ở một số nước trong khu vực và trên thế giới, từ đó rút ra những gợi mở cho Việt Nam
Ba là, đánh giá các quy định pháp luật về tổ chức và hoạt động của HĐND xã
ở Việt Nam, nhận diện tính hợp lý, thống nhất, những thành tựu đã đạt được trong lịch sử lập pháp về HĐND xã, đồng thời làm rõ những hạn chế, bất cập các quy định của pháp luật về tổ chức và hoạt động của HĐND xã ở Việt Nam hiện nay Làm rõ mối quan hệ giữa HĐND xã với Đảng ủy, UBND, Ủy ban Mặt trận tổ quốc (UBMTTQ) xã và các tổ chức thành viên của UBMTTQ xã trong quá trình tổ chức cũng như hoạt động của HĐND xã
Bốn là, phân tích, đánh giá đúng thực tiễn tổ chức và hoạt động của HĐND xã
ở Việt Nam, xác định những kết quả, thành tựu và làm rõ những hạn chế, yếu kém, nguyên nhân dẫn đến những hạn chế, tồn tại hiện nay của HĐND xã
Năm là, xác định các quan điểm và giải pháp, đề xuất các kiến nghị nhằm tiếp
tục đổi mới tổ chức, nâng hiệu quả hoạt động của HĐND xã ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
4.1 Cơ sở lý luận và cách tiếp cận
Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật, quan điểm của Đảng về xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN là nhà nước của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân là cơ sở lý luận của luận án Luận án luôn dựa
Trang 11trên tinh thần, quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng về việc đổi mới tổ chức
và hoạt động các cơ quan trong CQĐP hiện nay
Luận án tiếp thu có chọn lọc các tư tưởng lập pháp tiến bộ của các nước trên thế giới về pháp luật, dân chủ, về phân công và kiểm soát quyền lực, về tự quản địa phương… như: Cộng hòa liên bang Đức, Cộng hòa pháp, Nhật Bản, Hàn Quốc Tri thức của các ngành khoa học khác như triết học, chính trị học, hành chính học về tổ chức và hoạt động của CQĐP cũng được sử dụng để giải quyết những vấn
đề đặt ra từ đề tài luận án
Với mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu như đã nêu ở trên, luận án xác định các cách tiếp cận để thực hiện mục đích và nhiệm vụ của đề tài đặt ra như sau:
- Tiếp cận chức năng: Đây là hướng tiếp cận quan trọng của luận án Khi
nghiên cứu về tổ chức và hoạt động của HĐND xã, nhiệm vụ cơ bản là phải làm sáng tỏ vị trí, tính chất, nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND xã Đánh giá tổ chức và hoạt động của HĐND xã (đối tượng nghiên cứu của luận án) chính là đánh giá việc thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND xã tại địa phương
- Tiếp cận hệ thống: Việc nghiên cứu về tổ chức và hoạt động của HĐND xã
phải được nghiên cứu trong một chỉnh thể thống nhất trong mối quan hệ với các cơ quan nhà nước cấp trên với Đảng ủy, UBND xã, UBMTTQ xã và các tổ chức thành viên của UBMTTQ tránh tư duy nghiên cứu vấn đề một cách cắt lát, riêng lẻ
- Tiếp cận liên ngành: Cần phải kết hợp tri thức của nhiều ngành khoa học xã
hội và nhân văn như triết học, chính trị học, hành chính học để hỗ trợ cho việc nghiên cứu đề tài dưới góc độ luật học
- Tiếp cận luật so sánh: Định hướng này được sử dụng trong việc làm rõ vị trí,
tính chất, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức và hoạt động của HĐND
xã với nhiều phương diện so sánh: So sánh các bản Hiến pháp, so sánh các luật về
Tổ chức CQĐP, Luật Bầu cử, Luật Giám sát… ở các thời kỳ lịch sử khác nhau So sánh HĐND xã ở Việt Nam với các mô hình tổ chức Hội đồng xã (Hội đồng địa phương) tương tự ở một số nước trên thế giới
Trang 12- Tiếp cận lịch sử: Cần phải nhất quán quan điểm lịch sử trong quá trình
nghiên cứu, đặc biệt là trong quá trình đánh giá thực trạng tổ chức và hoạt động của HĐND xã ở Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử Cần thấy được tính kế thừa, sự phát triển cũng như những hạn chế do lịch sử để lại
4.2 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử là những phương
pháp luận khoa học được vận dụng nghiên cứu trong toàn bộ luận án
Đề tài sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu như: Phân tích, so sánh, thống kê, tổng hợp, lịch sử, điều tra xã hội học, hệ thống hóa, mô hình hóa,…
Phương pháp phân tích được sử dụng trong báo cáo tổng quan và trong hầu hết toàn bộ luận án
Phương pháp so sánh được sử dụng trong việc tìm ra các điểm giống và khác nhau giữa các mô hình tổ chức CQĐP và Hội đồng địa phương của các nước khác nhau, trong việc xác định những thay đổi trong tổ chức và hoạt động của HĐND xã trong các giai đoạn khác nhau, sự khác biệt giữa xã với phường, thị trấn, phương pháp này cũng được sử dụng trong việc xác định những điểm giống và khác nhau giữa các xã ở nông thôn đồng bằng, trung du và miền núi, hải đảo
Phương pháp thống kê được sử dụng để tìm hiểu số lượng các xã, tổng số đại biểu HĐND xã, trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn, trình độ lý luận chính trị của đại biểu HĐND xã, cơ cấu đại biểu, số Chủ tịch HĐND xã kiêm Bí thư Đảng ủy xã, thống kê các ý kiến trong điều tra
Phương pháp lịch sử được áp dụng để nghiên cứu quá trình hình thành và phát triển HĐND xã ở nước ta qua các giai đoạn lịch sử, quy luật phát triển và sự thay đổi của các cơ quan Hội đồng địa phương có vị trí, tính chất tương tự như HĐND
xã ở Việt Nam
Phương pháp hệ thống hóa được áp dụng để nghiên cứu pháp luật về tổ chức HĐND xã qua từng thời kỳ và các xã có những đặc điểm dân cư, địa lý, điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội khác nhau
Trang 13Phương pháp điều tra xã hội học được áp dụng để điều tra đối với các đại biểu HĐND, Nhân dân ở các địa phương khác nhau về tổ chức và hoạt động của HĐND
xã ở nước ta hiện nay
Phương pháp mô hình hóa được áp dụng trong việc đề xuất, kiến nghị đổi mới
tổ chức và nâng cao hiệu quả hoạt động cho HĐND xã trong các văn bản QPPL cho phù hợp với đặc điểm của các xã
Phương pháp diễn giải và quy nạp được áp dụng nhằm lý giải và rút ra những kết luận cần thiết sau mỗi lần nghiên cứu
5 Đóng góp mới về khoa học của luận án
Luận án đã đưa ra khái niệm, đặc điểm, nguyên tắc tổ chức và hoạt động của HĐND xã Đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến tổ chức và hoạt động của HĐND xã Làm rõ sự khác biệt giữa xã với phường và thị trấn, sự khác biệt về điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế xã hội ngay trong chính các xã nông thôn với nhau
Phân tích khái quát về tổ chức và hoạt động của Hội đồng địa phương ở các đơn vị cơ sở ở một số quốc gia trên thế giới và xác định những giá trị tham khảo cho Việt Nam
Luận án đã nhận diện đầy đủ nội hàm tổ chức và hoạt động của HĐND xã theo các quy định pháp luật hiện hành ở Việt Nam Đánh giá chính xác, khách quan, toàn diện về thực trạng tổ chức và hoạt động của HĐND xã ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, đặc biệt sau khi ban hành Hiến pháp năm 2013, Luật tổ chức CQĐP năm 2015 và Nghị quyết số 18/NQ-TW ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về một số vấn đề tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của
hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả Đã chỉ rõ những ưu điểm, những hạn chế tồn tại trong tổ chức và hoạt động của HĐND xã nhiệm kỳ vừa qua, xác định những nguyên nhân dẫn đến những hạn chế, tồn tại
Luận án đã đưa ra những quan điểm, những giải pháp đổi mới cụ thể về tổ chức và nâng cao hiệu quả hoạt động cho HĐND xã trong giai đoạn hiện nay
6 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của luận án
6.1 Ý nghĩa lý luận
Trang 14Luận án góp phần bổ sung, hoàn chỉnh và làm phong phú hơn các luận điểm khoa học, những vấn đề lý luận về xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân, xây dựng CQĐP, HĐND các cấp thực sự là cơ quan quyền lực nhà nước tại địa phương
Luận án trực tiếp xây dựng căn cứ lý luận cho quá trình đổi mới hệ thống chính trị, cải cách và nâng cao hiệu quả hoạt động cho BMNN nói chung, đổi mới
tổ chức và hoạt động của HĐND xã ở Việt Nam nói riêng
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Luận án cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn để các cơ quan có thẩm quyền ban hành, sửa đổi các quy định pháp luật về HĐND xã nhằm đổi mới tổ chức và nâng cao hiệu quả hoạt động cho HĐND xã, góp phần phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, phát triển toàn diện về kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh chính trị tại các địa phương ở Việt Nam
Luận án là tài liệu tham khảo hữu ích đối với các hoạt động học tập, giảng dạy, nghiên cứu khoa học về CQĐP tại các cơ sở nghiên cứu và đào tạo lĩnh vực Luật học, Chính trị học, Hành chính học ở Việt Nam hiện nay
Luận án là cẩm nang của HĐND các xã trên phạm vi toàn quốc trong quá trình đổi mới tổ chức và nâng cao hiệu quả hoạt động của HĐND xã tại địa phương
7 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung luận án được cấu trúc gồm 4 chương, như sau:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài luận án
Chương 2: Những vấn đề lý luận về Hội đồng nhân dân xã
Chương 3: Thực trạng tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân xã ở Việt Nam hiện nay
Chương 4: Quan điểm, giải pháp đổi mới tổ chức và nâng cao hiệu quả hoạt động của Hội đồng nhân dân xã ở Việt Nam hiện nay
Trang 15CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
1.1 Tình hình nghiên cứu đề tài luận án
1.1.1 Tình hình nghiên cứu trong nước
1.1.1.1 Những vấn đề lý luận về vị trí, tính chất, vai trò, nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân xã
Đã có nhiều công trình khoa học dày công nghiên cứu về vị trí, tính chất, vai trò, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND, những vấn đề lý luận chung về tổ chức và hoạt động của HĐND, có thể điểm ra những công trình nghiên cứu tiêu biểu sau
Sách “Mô hình tổ chức và hoạt động của nhà nước pháp quyền XHCN Việt
Nam” [160] Các tác giả đặc biệt quan tâm đến việc xác định vị trí, tính chất, vai trò
của HĐND trong BMNN pháp quyền XHCN Các tác giả cho rằng, cần phải tăng cường tính tự quản cho HĐND, nhưng nếu xét về vị trí, tính chất thì HĐND vẫn là
cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, cơ quan đại diện cho người dân ở địa phương để quyết định những vấn đề của địa phương và thực hiện các chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, song phải phân nhiều quyền hơn nữa cho HĐND, đẩy mạnh việc phân quyền giữa trung ương với địa phương
Bài báo “Chế định CQĐP” [93] Tác giã đã đề cập đến việc xây dựng CQĐP
trên cơ sở xác định vị trí, tính chất, vai trò của HĐND, những nguyên tắc hình thành nên mối quan hệ giữa HĐND với các cơ quan trong BMNN và các tổ chức trong hệ thống chính trị, các căn cứ để phân chia đơn vị hành chính lãnh thổ, giải quyết mối quan hệ giữa trung ương và địa phương Đồng thời tác giả đã đề cập đến mô hình tổ chức của CQĐP với việc xác định cấp chính quyền phải có cả HĐND và UBND, làm rõ những khác biệt căn bản giữa chính quyền đô thị với chính quyền nông thôn Các vấn đề nêu trên được tác giả phân tích, đánh giá, bình luận sâu sắc, toàn diện và đưa ra những kiến nghị đổi mới xác đáng
Trang 16Luận án “CQĐP với việc bảo đảm thi hành Hiến pháp và pháp luật ở địa
phương” [79] Tác giả Trương Đắc Linh trong luận án của mình đã đánh giá vị trí,
tính chất pháp lý và vai trò của CQĐP trong việc bảo đảm thi hành Hiến pháp và pháp luật Luận án đã đánh giá các quy định của pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn, vai trò của CQĐP trong việc bảo đảm thi hành Hiến pháp và pháp luật ở địa phương Đồng thời phân tích, đánh giá thực trạng việc thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn của CQĐP trong việc bảo đảm thi hành Hiến pháp và pháp luật ở địa phương Tác giả đã chỉ ra những hạn chế, yếu kém, nguyên nhân dẫn đến những hạn chế, yếu kém của CQĐP trong việc bảo đảm thi hành Hiến pháp và pháp luật trong thời gian vừa qua Trên cơ sở của những đánh giá, nhận xét, kết luận, đồng thời có
sự so sánh với CQĐP một số nước phát triển trên thế giới, luận án đã lý giải vì sao phải tăng cường vai trò của CQĐP trong việc bảo đảm thi hành Hiến pháp và pháp luật ở địa phương , đồng thời đưa ra những phương hướng nhằm tăng cường vai trò của CQĐP trong việc bảo đảm thi hành Hiến pháp và pháp luật ở nước ta trong giai đoạn hiện nay
Sách “Vai trò của HĐND trong phát triển kinh tế, xã hội ở địa phương” [90]
Cuốn sách có ba nội dung lớn được bố trí thành ba chương, Các tác giả đã giới thiệu những thông tin chọn lọc về vai trò, nhiệm vụ của CQĐP, HĐND với việc phát triển kinh tế, xã hội ở địa phương, các tác giả đã đánh giá cao vai trò của CQĐP với việc phát triển kinh tế, xã hội, xác định nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND phải gắn liền với việc phát triển kinh tế, xã hội của địa phương Tại Chương III, các tác giả cho rằng người đại biểu HĐND có vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế, xã hội ở địa phương Vì vậy, các đại biểu phải có những kỹ năng, những phẩm chất cần thiết của một đại biểu HĐND để thực hiện tốt vai trò của người đại diện
Bài báo “Về chế định CQĐP [103] Trong bài viết này tác giả đã phân tích
nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND, UBND các cấp theo quy định của pháp luật, tác giả cho rằng nhiệm vụ, thẩm quyền và cơ cấu tổ chức của HĐND, UBND các cấp chưa thể hiện rõ vai trò, nhiệm vụ của mỗi cấp, chưa phát huy tốt vai trò là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương Trên cơ sở đã phân tích, tác giả đưa ra một số
Trang 17kiến nghị sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992 về chế định CQĐP, tác giả cho rằng cần xác định lại, xác định rõ vị trí, tính chất và chức năng của HĐND làm cơ
sở đổi mới tổ chức và hoạt động của HĐND các cấp, quy định nguyên tắc tự quản địa phương cho HĐND các cấp
Bài báo “Chế định đại biểu HĐND trong Hiến pháp năm 1992 và một số kiến
nghị sửa đổi [2] Trong bài viết này tác giả đã phân tích vai trò, vị trí của đại biểu
HĐND, việc bầu cử và bãi miễn đại biểu HĐND, nhiệm kỳ của đại biểu HĐND, trách nhiệm và nghĩa vụ của đại biểu HĐND, quyền hạn của đại biểu HĐND, tác giả đã chỉ ra những điểm không hợp lý, những hạn chế tồn tại trong các quy định của pháp luật về đại biểu HĐND, trên cơ sở đó tác giả đề xuất các giải pháp đổi mới chế định đại biểu HĐND, việc đổi mới chế định đại biểu HĐND phải song hành với
việc sửa đổi chế định về HĐND
Các công trình nghiên cứu nêu trên về cơ bản đều thống nhất cho rằng, HĐND các cấp nói chung và HĐND xã nói riêng có vị trí, vai trò rất quan trọng trong BMNN, trong phát triển kinh tế, xã hội tại địa phương Nhiều tác giả cho rằng, hiện nay HĐND chưa làm tròn vai, hoạt động hình thức, kém hiệu quả, thường bị UBND chi phối, nên không thể hiện được vai trò của mình trong hệ thống CQĐP Đã có những phân tích làm rõ những nguyên nhân và phương hướng, giải pháp được đưa
ra nhằm nâng cao vị trí, vai trò của HĐND trong tình hình mới Nhiều công trình khoa học đã đi vào phân tích chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND xã qua các thời kỳ lịch sử, đặc biệt đánh giá thực trạng về chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của HĐND các cấp trong giai đoạn trước khi ban hành Luật Tổ chức CQĐP năm 2015, cả trên phương diện luật định và thực tế hoạt động, qua đó đã chỉ ra những ưu điểm, những hạn chế, tồn tại, nguyên nhân của những hạn chế tồn tại
1.1.1.2 Những yếu tố tác động đến tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân, mối quan hệ giữa Hội đồng nhân dân với tổ chức Đảng, Ủy ban nhân dân, Ủy ban Mặt trận tổ quốc
Đề tài “Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiển nhằm xây dựng mô hình cơ cấu
tổ chức bộ máy CQĐP theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 5 khóa X” [40] Đề
Trang 18tài khẳng định những căn cứ khoa học của việc xây dựng mô hình tổ chức bộ máy CQĐP phải được xây dựng từ những vấn đề chung về CQĐP, bao gồm: Việc phân chia địa giới hành chính hiện nay ở các địa phương là phụ thuộc theo các yếu tố tự nhiên hoặc do con người tự phân chia để thuận lợi cho hoạt động quản lý, đề tài đã
đề cập đến các nhân tố cơ bản để cấu thành tổ chức bộ máy CQĐP và mối quan hệ của các nhân tố này Đặc biệt đề tài đã đi vào phân tích các yếu tố về đặc điểm dân
cư, vị trí địa lý, phong tục tập quán, truyền thống văn hóa và lịch sử… là những yếu
tố đã tác động, ảnh hưởng trực tiếp đến việc hình thành lãnh thổ tự nhiên, tác giả cho rằng những yếu tố này đã ảnh hưởng không nhỏ đến cả quá trình tổ chức và quá trình hoạt động của CQĐP ở Việt Nam trong suốt thời gian qua
Bài báo “Về HĐND và UBND ở nước ta hiện nay” [48] Tác giả đã phân tích
các đặc thù về địa giới hành chính của các xã nông thôn Việt Nam, đặc thù về kết cấu cộng đồng dân cư trong các bản, làng, buôn, phum, sóc, chiềng…; phân tích trình độ dân trí của người dân ở nông thôn; cơ sở hạ tầng; các hoạt động kinh tế, xã hội ở nông thôn Đây chính là những yếu tố chi phối quyết định đến việc tổ chức và hoạt động của CQĐP Tác giả cho rằng xã là một cộng đồng dân cư đã hình thành
từ lâu đời, mỗi xã có những đặc thù riêng đồng thời có vị trí, vai trò rất quan trọng trong đời sống của Nhân dân tính “tự trị”, “tự quản” của làng xã đã bám rễ rất sâu
và tồn tại rất lâu dài, cấp xã là tế bào, là cấp sát dân nhất, 80% dân số nước ta ở xã
Do đó, tác giả kiến nghị chính quyền xã phải được kiện toàn cả về mặt tổ chức, phương cách điều hành và cần có những con người có năng lực, có phẩm chất để điều hành, chính quyền xã phải có cả HĐND và UBND xã
Bài báo “Một số yếu tố ảnh hưởng đến tổ chức và hoạt động của chính quyền
cấp xã” [98] Trong bài viết này tác giả Bùi Xuân Phái đã phân tích những yếu tố
tác động, ảnh hưởng đến tổ chức và hoạt động của chính quyền cấp xã ở nông thôn như: Việc tổ chức dân cư, lối sống, yếu tố tâm lí của dân cư, vấn đề tâm linh, tôn giáo, sự tác động của văn hóa, giáo dục, sự phát triển của nền kinh tế Các yếu tố đó được tác giả phân tích rất sâu sắc, qua đó chỉ ra sự tác động theo cả chiều hướng tích cực và tiêu cực đến việc tổ chức và hoạt động của chính quyền cấp xã Đặc biệt
Trang 19theo tác giả những yếu tố trên đã chi phối rất lớn đến quá trình bầu cử và hiệu quả hoạt động của các đại biểu HĐND, thành viên, công chức UBND cấp xã Trên cơ sở
đó tác giả đã đưa ra những ý kiến đề xuất về cải cách BMNN trong phạm vi chính quyền cấp xã
Bài báo “Xây dựng và hoàn thiện chính quyền cấp xã theo tinh thần Hiến pháp
năm 2013” [157] Tác giả cho rằng đơn vị hành chính của xã thường được tạo thành
từ nhiều đơn vị dân cư nhỏ hơn là bản, làng, buôn, phum, sóc, chiềng Hầu hết các đơn vị dân cư này là những cộng đồng người có lịch sử tồn tại lâu đời, có sự gắn kết rất chặt chẽ với nhau trên nhiều phương diện: Kinh tế, văn hóa, xã hội, huyết thống, phong tục, tập quán, cách thức sản xuất, kinh doanh…Vì vậy, ở xã tính cộng đồng,
sự gắn kết giữa những người dân với nhau thường cao hơn so với người dân ở phường và thị trấn Các xã nông thôn có tính tự quản cao trên nhiều phương diện của đời sống xã hội Đồng thời tác giả cũng cho rằng, mỗi một xã khác nhau sẽ có những đặc thù khác nhau về tự nhiên và xã hội, nó sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến việc
tổ chức và hoạt động của HĐND, UBND xã nên các xã ở các vùng miền khác nhau
có các đặc thù khác nhau thì phải được tổ chức theo các mô hình khác nhau
Kỷ yếu “Hội nghị toàn quốc về tổ chức và hoạt động của HĐND và UBND”
[67] Tại hội nghị đã có nhiều bài phát biểu, nhiều bài tham luận đánh giá vai trò của UBMTTQ Việt Nam, cấp ủy Đảng trong việc xây dựng CQĐP, nhiều bài phát biểu, tham luận đánh giá về mối quan hệ giữa HĐND với UBND tiêu biểu như: Bài
phát biểu của ông Phạm Thế Duyệt: “Phát huy vai trò của UBMTTQ Việt Nam
trong công tác tham gia xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân”; ông Trần Sáng: “Tăng cường hơn nữa sự lãnh đạo của cấp ủy Đảng đối với HĐND”; bà Nguyễn Thị Loan: “Mối quan hệ giữa UBMTTQ, HĐND và UBND và một số kiến nghị về việc sửa đổi luật về HĐND” Trong các bài phát biểu và tham
luận, các đồng chí lãnh đạo Đảng, nhà nước và UBMTTQ đã đánh giá cao vai trò của cấp ủy Đảng, UBMTTQ trong việc xây dựng CQĐP, phân tích đánh giá mối quan hệ tác động qua lại giữa HĐND, các cấp với Đảng ủy, UBMTTQ chỉ ra những thành tựu, hạn chế, tồn tại và nguyên nhân dẫn đến những hạn chế, tồn tại đó đồng
Trang 20thời đưa ra những phương hướng, những giải pháp trong việc đổi mới những mối quan hệ này trong thời gian tới
Bài phát biểu của đại diện UBMTTQ Việt Nam tại Hội nghị toàn quốc về hoạt
động của HĐND và UBND: “Phát huy vai trò của UBMTTQ Việt Nam trong công
tác tham gia xây dựng chính quyền của dân, do dân, vì dân (nhiệm kỳ 2004 – 2011)”, Hà Nội Bài phát biểu đã đánh giá cao công tác phối hợp giữa UBMTTQ
các cấp với chính quyền cùng cấp trong việc tổ chức các cuộc tiếp xúc cử tri (TXCT) cho các đại biểu HĐND, việc tổng hợp ý kiến, kiến nghị của cử tri và Nhân dân đến TTHĐND, công tác tham gia xây dựng chính quyền của UBMTTQ, sự phối hợp giữa Ban Thường trực UBMTTQ với TTHĐND cùng cấp để đại biểu HĐND báo cáo với cử tri về hoạt động của mình và sự giám sát cử tri đối với các đại biểu HĐND Đồng thời cũng chỉ rõ những hạn chế, tồn tại trong hoạt động của UBMTTQ các cấp khi phối hợp với HĐND, UBND trong việc xây dựng CQĐP
Bài báo “Những điểm mới trong tổ chức CQĐP theo Hiến pháp năm 2013 và
Luật Tổ chức CQĐP năm 2015” [37] Trong bài viết này tác giả đã phân tích, đánh
giá các quy định của pháp luật hiện hành về mối quan hệ giữa UBMTTQ các cấp với CQĐP Trên cơ sở đánh giá, phân tích các quy định của pháp luật, tác giả đã đưa ra những đề xuất phải xác định rõ hơn nữa mối quan hệ giữa CQĐP với UBMTTQ Việt Nam và các đoàn thể Nhân dân ở trong luật
Luận văn “Tổ chức và hoạt động của HĐND cấp xã qua thực tiễn ở tỉnh Thừa
Thiên Huế” [94] Tại chương 1 của luận văn, tác giả đã phân tích mối quan hệ giữa
HĐND cấp xã với UBMTTQ Việt Nam và các tổ chức thành viên của UBMTTQ Việt Nam, tác giả cho rằng UBMTTQ cấp xã có vai trò rất lớn trong việc giám sát phản biện xã hội đối với việc tổ chức và hoạt động của HĐND cấp xã Việc nâng cao hiệu quả, chất lượng và mức độ tham gia xây dựng chính quyền của UBMTTQ cấp xã sẽ góp phần đổi tổ chức, nâng cao hiệu quả hoạt động cho HĐND xã Bên cạnh đó luận văn đã phân tích sự lãnh đạo của cấp ủy Đảng đối với việc tổ chức và hoạt động HĐND cấp xã, tác giả cho rằng, sự lãnh đạo của cấp ủy Đảng sẽ quyết
Trang 21định đến việc bầu cử đại biểu HĐND xã, chất lượng các thành viên TTHĐND cấp
xã và hiệu quả hoạt động trên thực tế của HĐND cấp xã
Trong các công trình nghiên cứu khoa học nêu trên, các tác giả đã phân tích các đặc trưng về làng xã nông thôn Việt Nam, đã chỉ ra những điểm khác biệt giữa nông thôn và đô thị Các tác giả đã phân tích những đặc trưng, điểm khác biệt ngay
trong những xã nông thôn Về cơ bản, các tác giả đều cho rằng, trong quá trình tổ
chức và hoạt động HĐND và UBND xã chịu sự chi phối từ những đặc thù về dân
cư, vị trí địa lý, văn hóa truyền thống, điều kiện phát triển kinh tế, xã hội, trình độ dân trí, sự đồng thuận của xã hội, sự lãnh đạo của Đảng, sự phối hợp của UBMTTQ
xã, những yếu tố này tác động đến việc tổ chức và hoạt động của chính quyền xã theo cả hai hướng tích cực và tiêu cực Tuy nhiên, các tác giả cũng cho rằng xã hội nông thôn Việt Nam trong giai đoạn hiện nay đã có nhiều thay đổi so với nông thôn truyền thống của chúng ta trước đây, bởi nó chịu sự chi phối của nền kinh tế thị trường tác động đến nhiều mặt của đời sống người dân Vì vậy, việc tổ chức và hoạt động của CQĐP nói chung và HĐND xã cần phải phù hợp với điều kiện thực tế tại Việt Nam hiện nay
1.1.1.3 Mô hình tổ chức chính quyền địa phương của các quốc gia khác trên thế giới
Sách “Tổ chức CQĐP Cộng hòa Liên bang Đức” [148] Cuốn sách đã đề cập
một cách toàn diện về tổ chức và hoạt động của BMNN Cộng hòa Liên bang Đức từ chính quyền trung ương đến CQĐP Trong đó tìm hiểu rất kỹ về thẩm quyền ban hành văn bản QPPL của CQĐP, lịch sử hình thành CQĐP, địa phương trong cơ cấu nhà nước và quyền tự quản địa phương, phân tích việc tổ chức và hoạt động của CQĐP và xu hướng đổi mới Đặc biệt các vấn đề về tổ chức, công tác quản lý, sự phân công quyền hạn, trách nhiệm của khu, huyện, xã, kèm theo là các điều luật tương ứng của Cộng hòa Liên bang Đức đã được các tác giả phân tích, đánh giá chi tiết nhằm cung cấp tài liệu tham khảo cho các nhà quản lý, các nhà khoa học trong quá trình cải cách, nâng cao hiệu quả hoạt động của xã, phường, thị trấn
Trang 22Sách “Nhà nước là những con số cộng giản đơn” [19] Tại chương 5 của cuốn
sách, tác giả đã đi vào phân tích các mô hình tổ chức CQĐP tiêu biểu của một số quốc gia trên thế giới và Việt Nam hiện nay, chỉ ra những ưu điểm của từng mô hình, đây chính là những gợi mở cho Việt Nam trong quá trình đổi mới các cơ quan thuộc CQĐP
Đề tài “Tổ chức và hoạt động của CQĐP cơ sở các nước ASEAN” [130] Đề
tài đã đánh giá thực trạng tổ chức và hoạt động của chính quyền cơ sở các nước ASEAN, CQĐP các nước ASEAN được tổ chức đa dạng dưới nhiều mô hình khác nhau Các tác giả đã làm rõ sự giống và khác nhau giữa chính quyền cơ sở các nước ASEAN với nhiều tiêu chí khác nhau, tìm ra những nét chung của các mô hình và nét đặc trưng riêng của từng nước trong khối ASEAN Tạo điều kiện cho các nước
trong khu vực ASEAN và các nước đối tác của ASEAN học tập kinh nghiệm của
nhau trong việc tổ chức và hoạt động của CQĐP
Đề tài “Nghiên cứu so sánh Hiến pháp các quốc gia ASEAN” [45] Đề tài đã
đề cập đến việc tổ chức và hoạt động của CQĐP các quốc gia ASEAN, tác giả cho rằng CQĐP của các quốc gia thuộc khối ASEAN hiện nay được chia thành 2 nhóm, nhóm thứ nhất bao gồm các quốc gia được tổ chức và hoạt động theo mô hình liên bang và nhóm thứ hai là các quốc gia được tổ chức và hoạt động theo mô hình đơn nhất Thông qua việc nghiên cứu CQĐP của các quốc gia trong khối ASEAN tác giả cho rằng CQĐP hiện nay của các quốc gia ASEAN về cơ bản được tổ chức và hoạt động theo mô hình tự quản Tuy nhiên, các quốc gia khác nhau, có các điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội khác nhau thì việc quy định về quyền tự quản cho CQĐP là khác nhau, không có sự đồng nhất tuyệt đối giữa các quốc gia
Hội thảo khoa học “Hội thảo hành chính địa phương Việt Nam - Nhật Bản”
[9] Tại hội thảo này, các tham luận đưa ra ý kiến đánh giá về hệ thống tổ chức CQĐP ở hai nước hiện nay, việc phân chia vai trò nhiệm vụ giữa chính quyền trung ương và CQĐP, những thách thức đặt ra và những vấn đề cần cải cách trên cơ sở làm nổi bật những điểm giống và khác nhau giữa hệ thống CQĐP của Việt Nam và Nhật Bản Tại hội thảo, các bài tham luận về cơ bản đều cho rằng việc tổ chức bộ
Trang 23máy của CQĐP ở Việt Nam thiếu khoa học, rập khuôn, máy móc, còn cồng kềnh, nhiều tầng, nhiều nấc Các quy định của pháp luật hiện nay về vị trí, tính chất, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND và UBND các cấp chưa được xác định rõ ràng, quy định của Hiến pháp và Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003 chưa có
sự quy định khác nhau giữa chính quyền đô thị với chính quyền nông thôn, việc phân giao nhiệm vụ, quyền hạn giữa trung ương với địa phương, giữa các cấp CQĐP với nhau chưa được cụ thể
Kỷ yếu “Đổi mới tổ chức và hoạt động của HĐND các cấp” [66] Tại đây đã
có nhiều bài phát biểu, báo cáo về mô hình CQĐP của các nước trên thế giới tiêu
biểu như: Báo cáo của ông Nguyễn Sỹ Dũng: “Mô hình tổ chức CQĐP của mốt số
nước trên thế giới”; báo cáo của ông Lê Thanh Vân: “Về mô hình tổ chức HĐND các cấp ở Trung Quốc”; báo cáo của ông Lenni Montiel: “Mô hình Hội đồng quận Brent của Anh”; báo cáo của bà Futaba Ishizuka: “Giới thiệu về hệ thống các cơ quan dân cử của Nhật Bản” Trong các bài tham luận và báo cáo tại hội thảo, các
tác giả đã giới thiệu các mô hình tổ chức CQĐP của một số các quốc gia trên thế giới, làm rõ đặc thù của từng mô hình, tính ưu việt của từng mô hình, những điểm tương đồng và khác biệt về cơ quan HĐND của Việt Nam với cơ quan Hội đồng của các quốc gia khác, những vấn đề chúng ta cần quan tâm, lưu ý khi nghiên cứu
về mô hình CQĐP nói chung và cơ quan Hội đồng của các nước trên thế giới nói riêng
Trong các công trình nghiên cứu nêu trên các nhà khoa học đã tập trung vào việc nghiên cứu các mô hình tổ chức Hội đồng địa phương và CQĐP trên thế giới Các công trình nghiên cứu đã phân tích, đánh giá các mô hình trong từng quốc gia, giới thiệu việc tổ chức và hoạt động trong từng mô hình của từng quốc gia khác nhau, lịch sử hình thành, các nguyên tắc tổ chức của Hội đồng địa phương và
CQĐP, công tác quản lý, sự phân công quyền hạn, trách nhiệm của từng cấp chính
quyền, nhân sự, tài chính Về cơ bản mô hình tổ chức và hoạt động của CQĐP các nước trên thế giới rất đa dạng.Trong quá trình nghiên cứu các tác giả đã chỉ ra
Trang 24những ưu điểm của từng mô hình tổ chức CQĐP trong từng nước và giữa các nước
với nhau
1.1.1.4 Tình hình nghiên cứu những vấn đề về thực trạng tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân xã liên quan đến đề tài luận án
Sách “Những vấn đề lý luận và thực tiễn về CQĐP ở Việt Nam hiện nay”
[150] Cuốn sách quy tụ nhiều nhà nghiên cứu khoa học có uy tín trong lĩnh vực nhà nước và pháp luật như: Lê Minh Thông, Nguyễn Như Phát, Bùi Xuân Đức, Vũ Thư, Phạm Hồng Hải… Cuốn sách đã đi vào giải quyết nhiều vấn đề về CQĐP, trong đó
đi vào đánh giá thực trạng về đại biểu HĐND, Thường trực Hội đồng nhân dân (TTHĐND), các Ban của HĐND và đánh giá hoạt động của HĐND thông qua việc đánh giá phiên họp của HĐND, HĐGS, hoạt động TXCT, chức năng quyết định của HĐND Trên cơ sở đã đánh giá các tác giả đã đưa ra những quan điểm đổi mới tổ chức và hoạt động của HĐND các cấp Đặc biệt tại chương IV, chương VII do Lê Minh Thông, Nguyễn Như Phát viết về tổ chức chính quyền cơ sở ở nông thôn nước
ta hiện nay đã đề cập trực diện đến việc tổ chức và hoạt động của HĐND xã, những vấn đề đặt ra từ thực tiễn tổ chức và hoạt động của chính quyền cơ sở ở nông thôn nước ta; đưa ra các quan điểm, phương hướng đổi mới, kiện toàn chính quyền cơ sở
ở nông thôn Đây là nguồn tư liệu quý giá và có giá trị tham khảo rất lớn đối với nghiên cứu sinh trong quá trình thực hiện luận án của mình
Đề tài “Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc đổi mới tổ chức và hoạt động của
HĐND địa phương (góp phần sửa đổi chế định HĐND trong Hiến pháp năm 1992)” [139] Đề tài là một công trình nghiên cứu đồ sộ và công phu với gần 500
trang của tập thể các tác giả có uy tín và kinh nghiệm trong việc nghiên cứu về CQĐP nói chung và HĐND nói riêng như: Nguyễn Văn Động, Nguyễn Minh Đoan, Nguyễn Đăng Dung, Đặng Minh Tuấn, Nguyễn Thị Hồi… Đề tài gồm 4 chương và
15 chuyên đề đã đi vào đánh giá rất sâu sắc vị trí, tính chất, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND trong BMNN, mối quan hệ giữa HĐND với các cơ quan nhà nước khác, cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND các cấp Đặc biệt các tác giả với nhiều chuyên đề, nhiều cách tiếp cận khác nhau đã đánh giá
Trang 25một cách trung thực, khách quan, toàn diện thực trạng tổ chức và hoạt động của HĐND các cấp ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, qua đó chỉ ra những thành tựu, những ưu điểm đã đạt được trong tổ chức và hoạt động của HĐND địa phương, đồng thời chỉ rõ những bất cập, hạn chế, tồn tại của mô hình tổ chức CQĐP nói chung và HĐND nói riêng Trong đề tài này có những tác giả đã đi vào đánh giá riêng, đánh giá cụ thể các quy định của pháp luật và thực trạng việc tổ chức và hoạt động của HĐND cấp xã bao gồm: Xã, phường, thị trấn Những kết quả nghiên cứu nêu trên là nguồn tư liệu quý giá và cần thiết để tác giả có thêm định hướng và cơ
sở trong khi thực hiện nội dung của luận án
Đề tài “Nghiên cứu xác định nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND xã hiện nay”
[141] Trong đề tài này các tác giả đã đi vào phân tích vị trí, tính chất của HĐND các cấp, trong đó có HĐND xã Đưa ra các cơ sở khoa học trong việc xác định phương hướng và hoàn thiện nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND xã, đồng thời khẳng định HĐND xã là nhân tố nhằm đổi mới và củng cố hệ thống chính trị cơ sở Trên
cơ sở các quy định của pháp luật về nhiệm vụ và quyền hạn của HĐND xã, cùng với quá trình điều tra khảo sát, các tác giả đã đi vào đánh giá thực trạng hoạt động của HĐND xã trong việc thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn của mình, chỉ ra những
ưu điểm, hạn chế tồn tại trong tổ chức và hoạt động của HĐND xã, nguyên nhân dẫn đến những hạn chế tồn tại Trên cơ sở đó các tác giả đề xuất phương hướng, các giải pháp xác định lại nhiệm vụ và quyền hạn cho HĐND xã
Kỷ yếu “Tổ chức và hoạt động của HĐND và UBND” [69] Đã có nhiều bài
phát biểu, báo cáo, tham luận, bài viết theo chuyên đề của các đồng chí lãnh đạo của Đảng, nhà nước ở trung ương và địa phương, các nhà khoa học xung quanh vấn đề
tổ chức và hoạt động của HĐND và UBND các cấp Đáng chú ý là báo cáo ông Bùi
Ngọc Thanh với tiêu đề: “Tình hình tổ chức và hoạt động của HĐND từ đầu nhiệm
kỳ đến nay và phương hướng, nhiệm vụ từ nay đến hết nhiệm kỳ 2004-2009”; báo
cáo của TTHĐND tỉnh Cao Bằng; báo cáo của TTHĐND tỉnh Đắk Lăk… Các bài phát biểu, các bản báo cáo, các bài tham luận, các bài viết theo chuyên đề đều tập trung đánh giá thực trạng tổ chức của TTHĐND, các Ban của HĐND, cơ cấu thành
Trang 26phần, trình độ, năng lực của đại biểu HĐND, bộ phận giúp việc cho HĐND và chất lượng các phiên họp, hiệu quả của hoạt động TXCT, hình thức và hiệu quả HĐGS của HĐND các cấp qua đó chỉ ra những thành tựu, những mặt còn tồn tại, hạn chế, nguyên nhân và hướng khắc phục tồn tại, hạn chế trên thực tế
Trong năm 2013, đã có tới ba cuộc Hội thảo quốc tế về CQĐP do Ủy ban pháp luật của Quốc hội và Dự án hỗ trợ thực hiện chính sách (PIAP) tổ chức tại Đà Nẵng
từ ngày 06 đến ngày 08/12/2012; Viện Nghiên cứu lập pháp của UBTVQH và Tổ chức Phát triển Quốc tế của Mỹ (USAID) tổ chức tại Nam Định từ ngày 07 đến ngày 08/01/2013 và tại Cần Thơ từ ngày 09 đến ngày 10/10/2013 Tại các cuộc Hội thảo quốc tế này, đã có nhiều bản báo cáo đánh giá thực trạng tổ chức và hoạt động của HĐND các cấp như: Báo cáo của bà Phạm Phương Thảo, ông Nguyễn Hải Dũng, ông Nguyễn Đình Bích, ông Vũ Hùng Đặc biệt với những bài viết như:
“Một số bất cập trong tổ chức và hoạt động của HĐND các cấp, những biện pháp tháo gỡ” của ông Hồ Xuân Mãn; “Thực trạng, các điều kiện bảo đảm cho hoạt động của HĐND” của ông Danh Út,… Các bài tham luận của các cán bộ đã có thời
gian công tác, gắn bó với HĐND cho thấy, việc tổ chức và hoạt động của HĐND các cấp ở nước ta hiện nay đang có nhiều yếu kém, bất cập, nhu cầu đổi mới tổ chức
và nâng cao hiệu quả hoạt động cho HĐND các cấp hiện nay là vấn đề cần thiết và cấp bách Những bài tham luận do chính những người đang là đại biểu HĐND, đang làm công tác quản lý, lãnh đạo HĐND thực hiện Vì vậy, những ý kiến của các đại biểu rất có giá trị về mặt thực tiễn
Bài báo “Thực tiễn đặt ra từ tổ chức và hoạt động của chính quyền xã ở nước
ta hiện nay” [152]; bài báo “Đổi mới mô hình tổ chức CQĐP ở nước ta hiện nay”[33]; bài báo “Suy nghĩ về cơ sở khoa học của việc đổi mới tổ chức HĐND và UBND ở nước ta hiện nay” [30]; bài báo “Vấn đề bồi dưỡng nâng cao năng lực hoạt động của đại biểu HĐND” [24]; bài báo “Tổ chức và hoạt động của HĐND cấp xã trong giai đoạn hiện nay” [1] Trong các bài viết này các tác giả đã đánh giá
thực trạng hoạt động của HĐND cấp xã trong thời gian qua, các tác giả cho rằng trong những năm gần đây hoạt động của HĐND cấp xã đã có nhiều chuyển biến từ
Trang 27kỳ họp đến hoạt động TXCT, HĐGS, hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn Tuy nhiên, vẫn còn nhiều hạn chế, tồn tại, HĐND cấp xã chưa thực sự thể hiện được tính đại diện cho cộng đồng dân cư, việc thực hiện chức năng giám sát của HĐND cấp
xã còn nhiều khó khăn, hạn chế, chức năng quyết định các vấn đề quan trọng ở địa phương của HĐND cấp xã vẫn còn nhiều bất cập Các tác giả cho rằng có bốn nguyên nhân cơ bản dẫn đến những hạn chế, tồn tại, bất cập trong tổ chức và hoạt động của HĐND, đồng thời đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của HĐND các cấp
Luận văn “Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện CQĐP ở nước ta hiện nay” [58]
Luận văn đã đi vào phân tích các cơ sở lý luận, thực tiễn tổ chức và hoạt động của CQĐP ở Việt Nam hiện nay, chỉ rõ những hạn chế, yếu kém của tổ chức CQĐP cũng như những nguyên nhân dẫn đến những hạn chế yếu kém đó Trên cơ sở của
sự phân tích đó, luận văn đã nêu ra các nguyên tắc, đề xuất phương hướng, các giải pháp chủ yếu nhằm tiếp tục xây dựng và hoàn thiện tổ chức CQĐP
Luận án “Hoàn thiện pháp luật về tổ chức và hoạt động của chính quyền cấp
xã ở Việt Nam hiện nay” [43] Luận án đã tập trung nghiên cứu các quy định của
pháp luật về tổ chức và hoạt động của chính quyền cấp xã, trên cơ sở các quy định của pháp luật tác giả đã đối chiếu với thực tế tổ chức và hoạt động của HĐND và UBND cấp xã, đã phân tích, đánh giá chỉ rõ thực trạng pháp luật, thực trạng về tổ chức và hoạt động của HĐND và UBND xã trên thực tế trong nhiệm kỳ 2002-2007, trên cơ sở các kết quả đã đánh giá, tác giả đã đưa ra các quan điểm, giải pháp hoàn thiện pháp luật về tổ chức và hoạt động của chính quyền cấp xã ở nước ta trong giai đoạn hiện nay
Luận án “Hoàn thiện chế độ bầu cử đại biểu HĐND ở Việt Nam hiện nay”
[83] Tác giả luận án đã tập trung phân tích thực trạng tổ chức và hiệu quả hoạt động của HĐND các cấp ở Việt Nam hiện nay, chỉ ra những kết quả đã đạt được trong tổ chức hoạt động của HĐND các cấp, những hạn chế, bất cập trong tổ chức
và hoạt động của HĐND các cấp Thông qua việc phân tích thực trạng tác giã đã chỉ
ra nhiều nguyên nhân dẫn đến những hạn chế, tồn tại trong tổ chức và hoạt động của
Trang 28HĐND, trong đó có nguyên nhân từ các quy định của pháp luật về bầu cử đại biểu HĐND các cấp hiện nay ở Việt Nam còn nhiều hạn chế, bất cập Trên cơ sở đánh giá thực trạng các quy định của pháp luật về chế độ bầu cử, thực trạng bầu cử đại biểu HĐND các cấp ở Việt Nam trong những năm vừa qua, tác giả đã đưa ra các quan điểm và đề xuất nhiều giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật
về bầu cử đại biểu HĐND các cấp ở nước ta hiện nay
Luận án “Đổi mới tổ chức và hoạt động của HĐND trong điều kiện xây dựng
và hoàn thiện nền dân chủ ở Việt Nam hiện nay” [142] Luận án tập trung vào việc
đánh giá thực trạng tổ chức và hiệu quả hoạt động của HĐND các cấp theo quy định của pháp luật, chỉ ra những ưu điểm, những hạn chế, bất cập trong quá trình tổ chức
và hoạt động của HĐND Từ đó đặt ra nhu cầu khách quan cần phải đổi mới tổ chức
và nâng cao hiệu quả hoạt động, các quan điểm đổi mới tổ chức và hoạt động, các giải pháp bảo đảm cho việc đổi mới tổ chức và hoạt động của HĐND trong điều kiện xây dựng và hoàn thiện nền dân chủ ở Việt Nam
Các công trình nghiên cứu khoa học nêu trên đã đánh giá thực trạng việc tổ chức HĐND các cấp, thông qua việc đánh giá chế độ bầu cử, cơ cấu, tiêu chuẩn, số lượng đại biểu HĐND, trình độ, kỹ năng, năng lực của các đại biểu HĐND, TTHĐND, các Ban của HĐND, bộ phận giúp việc của HĐND Đánh giá hiệu quả hoạt động của HĐND thông qua việc đánh giá phiên họp của HĐND, HĐGS, hoạt động TXCT của HĐND Qua đó đã chỉ ra những bất cập, những hạn chế trong tổ chức, những yếu kém trong hoạt động của HĐND các cấp hiện nay, nguyên nhân và chỉ ra phương hướng để khắc phục những hạn chế, bất cập về tổ chức và hoạt động như: Đào tạo, bồi dưỡng nâng cao chất lượng đại biểu HĐND, thay đổi về cơ cấu đại biểu, tăng số lượng đại biểu chuyên trách, nâng cao chất lượng các kỳ họp HĐND, việc TXCT của đại biểu và tổ đại biểu, bỏ HĐND ở một số cấp
1.1.1.5 Tình hình nghiên cứu những vấn đề về giải pháp đổi mới tổ chức và nâng cao hiệu quả hoạt động Hội đồng nhân dân xã
Sách “Đổi mới nội dung hoạt động các cấp CQĐP trong kinh tế thị trường và
hội nhập kinh tế quốc tế” [31] Trong cuốn sách này, các tác giả đã phân tích những
Trang 29đòi hỏi của nền kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế đối với các cấp chính quyền ở địa phương và đưa ra phương hướng đổi mới nội dung hoạt động của CQĐP đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế Đưa
ra phương hướng đổi mới tổ chức và cơ chế vận hành của CQĐP, các tác giả cho rằng việc tổ chức hợp lý CQĐP không nhất thiết phải có cả ba cấp HĐND Việc nâng cao năng lực và phẩm chất của đội ngũ cán bộ, công chức ở các cấp CQĐP, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng bộ, của cấp ủy Đảng có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng và hiệu lực hoạt động của các cấp CQĐP
Sách “Đổi mới, hoàn thiện BMNN trong giai đoạn hiện nay” [36] Tại phần III
và phần IV của cuốn sách tác giả đã đưa ra những quan điểm, phương pháp luận về đổi mới tổ chức CQĐP ở nước ta hiện nay, đưa ra mô hình tổng thể đổi mới tổ chức CQĐP, đổi mới mô hình tổ chức chính quyền xã cho cả HĐND và UBND xã Đặc biệt tác giả đã đề xuất một mô hình tổ chức chính quyền tự quản địa phương ở nước
ta hiện nay, việc tổ chức và hoạt động của mô hình này có tính khả thi, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh hiện nay của Việt Nam Cuốn sách này là nguồn tư liệu quan trọng và có giá trị tham khảo trong quá trình luận án đề xuất các giải pháp đổi mới
tổ chức và nâng cao hiệu quả hoạt động cho HĐND xã
Sách “Đổi mới, hoàn thiện BMNN pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân
ở Việt Nam hiện nay” [154] Là một công trình nghiên cứu công phu của tác giả
trong nhiều năm, Lê Minh Thông đã tập trung đi vào phân tích đánh giá thực trạng
mô hình tổ chức BMNN Cộng hòa XHCN Việt Nam từ năm 1992 đến nay Trên cơ
sở đánh giá thực trạng tổ chức BMNN, tác giả đã đưa ra những phương hướng đổi mới mô hình, tổ chức BMNN ở Việt Nam hiện nay Đặc biệt trong cả 4 chương, tác giả tập trung nghiên cứu về CQĐP làm rõ những ưu điểm, những hạn chế, tồn tại trong tổ chức và hoạt động của CQĐP Tác giả cho rằng, việc đổi mới tổ chức và nâng cao hiệu quả hoạt động cho CQĐP ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay là một yêu cầu mang tính khách quan, tất yếu đáp ứng yêu cầu quản lý của nhà nước trong giai đoạn mới Tác giả đã đưa ra những cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn cho việc đổi mới tổ chức và nâng cao hiệu quả hoạt động của CQĐP ở Việt Nam trong giai đoạn
Trang 30hiện nay
Sách “Sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992 những vấn đề lý luận và thực
tiễn” [63] Đây là một công trình đồ sộ, gồm hai tập, tập I: Những vấn đề chung về
Hiến pháp và BMNN; tập II: Quyền con người, quyền công dân, chế độ kinh tế, bảo hiểm và một số vấn đề khác, cuốn sách dày 1182 trang, tập hợp 76 bài viết của nhiều nhà nghiên cứu luật học đầu ngành Tại tập I, phần VIII, đã có 5 bài viết về CQĐP, với các bài viết của Trương Đắc Linh, Lê Thiên Hương, Hoàng Thị Ngân, Nguyễn Hoàng Anh, Trương Hồ Hải Tất cả các tác giả của những bài viết này đều cho rằng, cần đổi mới tổ chức và nâng cao hiệu quả hoạt động cho HĐND theo hướng tăng cường tính tự chủ, tự quản cho HĐND Các tác giả, đều có chung quan điểm cần phải tổ chức chính quyền đô thị và chính quyền nông thôn khác nhau và cần đa dạng hoá hình thức tổ chức để tăng cường tính năng động, sáng tạo của các CQĐP
Đề tài “Hoàn thiện bộ máy chính quyền cấp xã và vấn đề phát huy dân chủ cơ
sở” [23] Trên cơ sở kết quả tiến hành khảo sát thực tế tại một số tỉnh thành trong
phạm vi toàn quốc, đề tài đã đánh giá thực trạng về tổ chức và hoạt động, thực trạng thực hiện dân chủ của chính quyền cấp xã Trên cơ sở đã đánh giá, đề tài đã đưa ra phương hướng, nhiều giải pháp nhằm đổi mới tổ chức, nâng cao hơn nữa hiệu quả hoạt động của HĐND và UBND cấp xã, việc đổi mới đó nhằm phát huy dân chủ ở
cơ sở Trong các giải pháp đổi mới tổ chức tổ chức và nâng cao hiệu quả hoạt động cho HĐND và UBND cấp xã, đã đề cập đến việc củng cố vai trò của trưởng bản, làng, buôn, phum, sóc, chiềng…; tiến hành đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn nghiệp vụ,
kỹ năng cho đại biểu HĐND cấp xã; tiếp tục đẩy mạnh việc xây dựng mô hình bản, làng, buôn, phum, sóc, chiềng… tự quản ở địa phương, phát huy vai trò làm chủ của Nhân dân trong các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội ở địa phương
Hội thảo khoa học “Pháp luật về tổ chức và hoạt động của cơ quan hành
chính nhà nước cấp xã” [51] Trong cuộc hội thảo này, đã có nhiều bài viết của các
tác giả đề cập đến việc đổi mới tổ chức và nâng cao hiệu quả hoạt động cho chính
quyền xã Tiêu biểu như bài viết của Nguyễn Đăng Dung: “CQĐP và chính quyền
Trang 31xã”; Bùi Xuân Đức: “Đổi mới mô hình tổ chức chính quyền xã ở nước ta hiện nay”;
Lê Hồng Sơn: “Chính quyền cấp xã những vấn đề đang đặt ra và các giải pháp đổi
mới” Nội dung các bài viết này tập trung đánh giá về thực trạng các quy định của
pháp luật về chính quyền cấp xã, thực trạng tổ chức và hoạt động của chính quyền cấp xã trong đó có HĐND xã, các tác giả đã chỉ ra những thành tựu mà chính quyền cấp xã đã đạt được, những hạn chế tồn tại mà chính quyền xã chưa giải quyết được trong quá trình thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của mình Trên cơ sở đó các tác giả đã kiến nghị các giải pháp, đưa ra các mô hình tổ chức CQĐP theo xu hướng tự chủ nhích dần đến tự quản
Kỷ yếu “Chế định Chính phủ và CQĐP trong Hiến pháp” [75] Tại cuộc hội
thảo, đã có 11 bài viết tham luận của nhiều nhà khoa học, nhà quản lý trên nhiều lĩnh vực khác nhau, nhưng đáng chú ý là bài viết của Bùi Xuân Đức với tiêu đề:
“Đổi mới tổ chức và hoạt động của CQĐP nước ta hiện nay” Trong bài viết này,
tác giả đã điểm lại quá trình tổ chức và hoạt động của CQĐP nước ta từ Hiến pháp năm 1946 đến nay và khẳng định rằng, đó là sự vận dụng lý luận tổ chức bộ máy CQĐP kiểu mới theo mô hình Xô Viết, đồng thời đã đánh giá và chỉ ra những điểm bất cập, hạn chế về cơ cấu tổ chức, về vị trí, tính chất của các cơ quan CQĐP hiện nay ở Việt Nam Trên cơ sở đã đánh giá, tác giả của bài viết đã đưa ra các quan điểm sửa đổi là cần phải thiết lập một hệ thống cơ quan CQĐP đa dạng, tùy thuộc vào nhu cầu quản lý, tính chất của từng loại đơn vị hành chính, tổ chức CQĐP theo nguyên tắc tập trung tự quản, điều chỉnh lại địa giới hành chính, thiết kế lại mối quan hệ giữa các cơ quan trong CQĐP và giữa CQĐP với các cơ quan nhà nước cấp trên, chuyển HĐND xã, thị trấn sang chế độ tự quản Đồng thời tác giả đã đưa ra những phương án cụ thể xây dựng mô hình tổ chức CQĐP mới Những quan điểm này đã gợi mở cho nghiên cứu sinh nhiều ý tưởng trong quá trình đổi mới tổ chức
và nâng cao hiệu quả hoạt động cho HĐND xã
Bài báo “Một sổ ý kiến về vị trí, vai trò của HĐND và việc thành lập UBND
các cấp” [78] Trong bài viết này, tác giả đã đưa ra những quan điểm đổi mới về
chính quyền cơ sở trong cơ cấu tổ chức BMNN Đặc biệt tác giả đã đưa ra bốn đề
Trang 32xuất cụ thể về đổi mới tổ chức và hoạt động cho HĐND xã bao gồm: Việc xác định lại tính chất của HĐND; kiện toàn bộ máy HĐND; đổi mới cơ chế bầu cử đại biểu HĐND; nâng cao chất lượng các kỳ họp HĐND Đồng thời tác giả cũng đưa ra những đề xuất đổi mới tổ chức và hoạt động của UBND nhằm mục đích làm cho HĐND và UBND hoạt động hiệu lực hiệu quả hơn
Bài báo “Xu hướng phát triển của bộ máy CQĐP nước ta” [156] Trên cơ sở
các quy định của pháp luật, từ Sắc lệnh số 63/SL ngày 23/11/1945 đến Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003 tác giả cho rằng, gần 60 năm qua CQĐP của chúng ta vẫn thủy chung với mô hình gồm HĐND, UBND Tác giã Vũ Thư đã đưa
ra xu hướng phát triển của bộ máy CQĐP trong giai đoạn hiện nay là đẩy mạnh việc phân cấp cho CQĐP “nhích gần” đến mô hình CQĐP tự quản, mô hình đang được nhiều nước phát triển hướng tới xây dựng [156, tr.35] Đồng thời tác giả đã phân tích những dấu hiệu chủ yếu của CQĐP tự quản Đây là những kết quả nghiên cứu khoa học có giá trị tham khảo rất lớn khi đề xuất xây dựng HĐND xã hoạt động theo hình thức tự quản ở địa phương
Bài báo “Về đổi mới tổ chức và hoạt động của HĐND các cấp nhiệm kỳ
2004-2009” [38] Trong bài viết này, tác giả đã đánh giá tổ chức và hoạt động của HĐND
các cấp nhiệm kỳ 1999-2004 và nhiệm kỳ 2004-2009 về hoạt động bầu cử, số lượng, chất lượng, trình độ, cơ cấu thành phần, việc đào tạo, bồi dưỡng kiến thức, kĩ năng cho đại biểu HĐND; hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn tại kỳ họp HĐND, hoạt động của TTHĐND Trên cơ sở đã phân tích đánh giá, tác giả đã đưa ra một số kiến nghị về việc ban hành, sửa đổi, bổ xung một số các quy định của pháp luật về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, nâng cao chất lượng đại biểu HĐND, xây dựng quy chế làm việc của HĐND vào đầu nhiệm kỳ, đổi mới phiên họp, TXCT, HĐGS cho HĐND
Bài báo “Đổi mới phương thức hoạt động của HĐND đáp ứng sự mong đợi
của Nhân dân” [64] Trên cơ sở đánh giá các hình thức hoạt động của HĐND theo
quy định của Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003, tác giả cho rằng, nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND là rất lớn, nhưng việc tổ chức và hoạt động như thế nào để
Trang 33thực hiện tốt các nhiệm vụ, quyền hạn một cách thực chất và có hiệu quả đáp ứng sự mong đợi của Nhân dân Vì vậy, theo tác giả, trong tổ chức và hoạt động của HĐND mỗi cấp cần phải chọn đúng những vấn đề cần quyết định, cần tập trung giám sát và kết quả giám sát phải được giải quyết đến cùng Chọn phương thức hoạt động có hiệu quả nhất để đáp ứng lòng mong muốn của Nhân dân Tác giả giả cho rằng, cần gắn hoạt của các đại biểu HĐND với đơn vị bầu cử suốt cả nhiệm kỳ, đẩy mạnh việc đổi mới nội dung TXCT, HĐGS, các hoạt động này phải dựa vào dân và các phương tiện thông tin đại chúng, nâng cao chất lượng các kỳ họp và các quyết định của HĐND
Bài báo “Bàn về mô hình chính quyền cấp xã hoạt động theo nguyên tắc tự
quản” [32] Các tác giả đã khái lược về tự quản của CQĐP, các nguyên tắc phải
tuân theo khi thực hiện mô hình tự quản như: Có “chủ quyền” được Hiến pháp, pháp luật quy định, cơ cấu phải có Hội đồng địa phương và cơ quan hành chính Các tác giả cho rằng trong mối quan hệ với cơ quan nhà nước cấp trên CQĐP phải
có tính độc lập tương đối, phải chịu sự kiểm tra, thanh tra, giám sát hành chính hoặc giám sát của tòa án Các tác giả đã đánh giá mô hình tổ chức và hoạt động của chính quyền cấp xã, cơ chế bầu Chủ tịch UBND cấp xã hiện nay Trên cơ sở kết quả đã đánh, tác giả đã đưa ra những phương hướng đổi mới chính quyền cấp xã theo mô hình tự quản, kiến nghị khi quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền cấp
xã phải được quy định cụ thể, nghiên cứu để thay đổi mối quan hệ giữa chính quyền
tự quản cấp xã với cơ quan hành chính nhà nước cấp trên
Bài báo “Nâng cao vai trò giám sát trong hoạt động của cơ quan dân cử”
[62] Tác giả đã phân tích vai trò của HĐGS trong hoạt động của cơ quan dân cử và cho rằng đây là một kênh quan trọng để phát hiện ra các sai phạm, những hạn chế bất cập, góp phần hoàn chỉnh đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước Bài báo đã đánh giá rất sâu sắc thực trạng HĐGS của HĐND, đáng giá cao những thành tựu mà HĐGS của cơ quan dân cử đã đạt được trong những nhiệm kỳ vừa qua, song tác giả cho rằng so với yêu cầu của việc xây dựng nhà nước pháp quyền HĐGS trong hoạt động của cơ quan dân cử vẫn còn nhiều hạn chế, tồn tại,
Trang 34bất cập Tác giả đã chỉ ra những nguyên nhân, trên cơ sở đó đã đưa ra sáu giải pháp nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả HĐGS trong cơ quan dân cử
Bài báo “Đổi mới tổ chức và hoạt động của chính quyền cấp xã, phường ở
Việt nam trong giai đoạn hiện nay” [136] Trong bài viết này tác giả đã đánh giá
thực trạng tổ chức và hoạt động của chính quyền cấp xã thông qua việc đánh giá về trình độ học vấn, trình độ chuyên môn, độ tuổi, những hạn chế trong hoạt động của đại biểu HĐND xã, phường Trên cơ sở đã đánh giá tác giả đã đưa ra những phương hướng và giải pháp đổi mới công tác bầu cử từ khâu hiệp thương, cách xác định số lượng đại biểu HĐND, nâng cao chất lượng và bảo đảm cơ cấu đại biểu, bổ sung thêm thành viên cho TTHĐND
Bài báo “Hoàn thiện pháp luật để nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của
HĐND” [57] Tác giả Tô Văn Huyên đã nêu ra những quy định của pháp luật, đồng
thời phân tích quá trình tổ chức và hoạt động trong thực tiễn của TTHĐND, Chủ tịch, Phó Chủ tịch của HĐND, cơ cấu thành phần đại biểu, về nhân sự giúp việc và phục vụ, về kinh phí hoạt động đối chiếu với các quy định của pháp luật tác giả đã chỉ ra những nguyên nhân dẫn đến hiệu lực, hiệu quả hoạt động của HĐND các cấp không cao, từ đó kiến nghị các giải pháp sửa đổi Luật Tổ chức HĐND và UBND các cấp năm 2003
Đã có nhiều nhà khoa học dày công nghiên cứu và đưa ra các quan điểm, phương hướng, giải pháp đổi mới tổ chức và nâng cao hiệu quả hoạt động của HĐND các cấp song những nghiên cứu này thời gian đã lâu, chủ yếu trước khi ban hành Hiến pháp năm 2013 và Luật Tổ chức CQĐP năm 2015, kết quả nghiên cứu của nhiều đề tài về cơ bản không còn phù hợp với sự biến động dữ dội của đất nước trong thời kỳ mới Vì vậy, nhiệm vụ của luận án phải tiếp tục kế thừa những kết quả nghiên cứu đã đạt được của các nhà khoa học đi trước về HĐND nói chung và HĐND xã nói riêng Đồng thời, tiếp tục nghiên cứu để đưa ra những quan điểm, giải pháp nhằm đổi mới tổ chức và nâng cao hiệu quả hoạt động của HĐND xã ở Việt Nam hiện nay, nhất là sau khi Hiến pháp năm 2013 và Luật Tổ chức CQĐP năm 2015 và nghị quyết được ban hành
Trang 351.1.2 Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài
Hiện nay, những kết quả nghiên cứu về tổ chức Hội đồng địa phương ở nước ngoài, cơ quan có vị trí, tính chất, chức năng, nhiệm vụ tương tự như HĐND, HĐND xã ở Việt Nam được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu Có thể khái quát những công trình tiêu biểu như sau:
1.1.2.1 Công trình nghiên cứu về chính quyền địa phương của Hoa Kỳ
Alesis De Tocqueville (1835–1840), De la démocratie en Amerique (Nền dân
trị Mỹ) – Bản dịch của Phạm Toàn (2006), Nxb Tri Thức, Hà Nội; David
J.Bodenhomer (1992), Thể chế liên bang và dân chủ, Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội tuyển chọn (2012), in trong sách “Về pháp quyền và chủ nghĩa hợp hiến”, Nxb Lao động – Xã hội, Hà Nội; Rich Ard C.Schroeder (1999), Khái quát về chính
quyền Mỹ, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội; Gerald E Frug, Richard T.Ford, David
J.Barron (2005), Local Governmend Law (Cases and Materials), (“Luật CQĐP (Án
lệ và dẫn chứng)”), tái bản lần 4; Schmuhn Robert (Mỹ), (2005), Government
Accountability and External Whatchdogs (Trách nhiệm của nhà nước và những sự
giám sát của xã hội), Electronic Journal of the US, Department of State, vol 5, No 2,
August
Đây là những tác phẩm bàn về nhiều lĩnh vực, nhiều vấn đề về tổ chức BMNN Hoa Kỳ, từ lịch sử hình thành nước Mỹ đến việc hình thành CQĐP, các tác giả đã phân tích cơ chế tổ chức quyền lực nhà nước của xã hội dân chủ ở Hoa Kỳ và cho rằng ở Hoa Kỳ quá trình tổ chức và hoạt động của các cơ quan trong BMNN có sự tập trung quyền lực chính trị nhưng lại không tập trung quyền lực quản lý Các tác giả đã phân tích sự phân quyền giữa chính quyền liên bang và chính quyền các bang trong CQĐP của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ và cho rằng chính quyền các bang có tính độc lập rất cao với chính quyền liên bang Việc phân chia quyền lực đó tạo ra một
cơ chế tổ chức và hoạt động thích hợp cho CQĐP Các tác giả làm rõ những quy định của pháp luật Hoa Kỳ về mối quan hệ giữa CQĐP và chính quyền trung ương, mối quan hệ giữa các thành phố với nhau và giữa thành phố với các vùng phụ cận khác, mối quan hệ giữa chính quyền với các công dân của mình Các mối quan hệ
Trang 36đã được điều chỉnh trên nguyên tắc đảm bảo tính chủ động, linh hoạt của CQĐP và đảm bảo tôn trọng các quyền và nghĩa vụ của công dân Các tác giả đã đề cập đến việc thực hiện dân chủ, ở đơn vị cơ sở thì thực hiện chế độ dân chủ trực tiếp, ngược lại ở tiểu bang và liên bang thì thực hiện dân chủ đại diện Các tác giả cho rằng việc
tổ chức CQĐP ở Hoa Kỳ mang tính linh hoạt nên đã phát huy hiệu quả đối với sự phát triển của Hoa Kỳ Các tác giả đã giới thiệu các mô hình tổ CQĐP phương ở Hoa Kỳ, phân tích một cách khách quan, toàn diện về những ưu điểm, hạn chế của từng mô hình Các tác giả cho rằng trong quá trình tổ chức và hoạt động của CQĐP nguyên tắc tự quản địa phương đã được thực hiện triệt để và đây đang là xu thế chung của CQĐP nhiều nước phát triển trên thế giới
1.1.2.2 Công trình nghiên cứu về chính quyền địa phương của Liên bang Nga
M.A.Kraxnop (1990), Tự quản địa phương - tính nhà nước hay tính xã hội, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật Xô Viết, số 10; IU.A.Dmitriep (2009), Giáo trình
Luật tự quản Liên Bang Nga, Nxb Đào tạo nghề nghiệp, Matxcơva; B.E Trirkin
(1998), Luật Hiến Pháp: Nga và kinh nghiệm nước ngoài, Nxb Matxcơva; V.A Uaxiunac (1998), “Những vấn đề cơ bản của tự quản địa phương”, Nxb Matxcơva;
“Tự quản địa phương, kinh nghiệm hiện đại của Nga về điều chỉnh pháp luật”,
Viện Nhà nước và pháp luật Liên bang Nga ấn hành năm 1998; E.M.Adreieva
(2001), “Sự hình thành quyền sở hữu tự quản ở Liên bang Nga”, Tạp chí Nhà nước
và pháp luật, số 03 (tiếng Nga)
Trong các công trình nghiên cứu khoa học nêu trên, các tác giả đã đi vào tìm hiểu làm rõ về chế độ tự quản của CQĐP liên bang Nga, nhiều vấn đề về tự quản như: Nguyên tắc tổ chức của chính quyền tự quản, mối quan hệ giữa CQĐP với cơ quan nhà nước cấp trên, với trung ương, việc phân quyền, chia quyền giữa trung ương và địa phương, các mô hình tổ chức và các hình thức hoạt động của CQĐP tự quản đã được các tác giả đề cập, đánh giá trên nhiều phương diện khác nhau, làm rõ những ưu điểm, hạn chế của từng mô hình tổ chức CQĐP
1.1.2.3 Công trình nghiên cứu về chính quyền địa phương ở các nước Châu Âu
Trang 37Davies K L Butterworth (1983), Local government law (Luật Tổ chức CQĐP); Rhode R.A.W L Allen and Unwin (1986),The national world of local government
(Tổ chức CQĐP trên thế giới); Mellors C, Pijnenburg B L Routledge, (1989),
Political parties and coalitions in European local government (Các đảng chính trị
và sự liên kết trong CQĐP châu Âu); Chandler J.A L Croom Helm (1989), Public
policymaking for local government (Xây dựng chính sách công cho chính CQĐP);
Stewart J and Stoker J., Basingstoke, Macmillan (1989), The future of Local
Government (Tương lai của CQĐP); Guy S Goodwin-Gill (2006), Free and Fair Electỉons-New expanded edition, Inter-Parliamentary Union, Geneva (Tự do và bầu
cử công khai - sự mở rộng mới)
Những công trình nghiên cứu nêu trên đã đề cập một cách khá toàn diện cả về phương diện lý luận lẫn thực tiễn về chế độ bầu cử, các quy định của pháp luật về
cơ quan đại diện của Nhân dân, các nguyên tắc và cách thức tổ chức CQĐP ở các nước châu Âu và trên thế giới, việc phân quyền giữa trung ương với CQĐP, tính chất tự quản của CQĐP Tự quản địa phương được xem như là một nguyên tắc, một
xu thế, một trào lưu của các nhà nước tư sản châu Âu, của nhà nước pháp quyền, trong đó, xu hướng chung là giao quyền tự chủ cho CQĐP Các tác giả đã đề cập đến việc tổ chức và các hình thức hoạt động của các cơ quan nhà nước, các tổ chức tham gia quản lý nhà nước ở CQĐP, chế độ dân chủ trực tiếp và gián tiếp của CQĐP, sự lãnh đạo của chính Đảng đối với CQĐP từ đó giúp nghiên cứu sinh có
thêm những cơ sở lý luận để đưa ra những kiến nghị trong luận án của mình
1.1.2.4 Công trình nghiên cứu về chính quyền địa phương của Nhật Bản
Định hướng cải cách trong lĩnh vực quản trị địa phương của Nhật Bản cho những năm đầu của thế kỷ XIX (The Trends of the legal Government in Japan for the early years of XIX century), GS Koju Kuroda, Đại học Tokyo, do Nxb Đại học
Tokyo ấn hành năm 2011; Joe Michael Sasanuma (2004), Japanese electoral
politics: reform, resulTS, and prospecTS for the future (Chế độ chỉnh trị ở Nhật Bản: Cải cách, kết quả và triển vọng cho tương lai), Boston College
Trang 38Các tác giả cho rằng việc thành lập chính quyền tự trị, tự quản địa phương là một phần quan trọng trong quá trình phát triển của đất nước Nhật Bản Việc cải cách chính trị ở Nhật bản sẽ kéo theo sự phát triển về kinh tế, xã hội của các địa phương CQĐP là một yếu tố quan trọng để đảm bảo cho quá trình xây dựng và phát triển kinh tế địa phương một cách bền vững góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của Nhân dân địa phương
1.2 Nhận xét về tình hình nghiên cứu và những vấn đề đặt ra cần nghiên cứu của đề tài luận án
1.2.1 Nhận xét chung
Qua điểm lại các công trình nổi bật liên quan đến tổ chức và hoạt động của HĐND xã ở Việt Nam hiện nay ở cả trong và ngoài nước, nghiên cứu sinh nhận thấy việc tổ chức và hoạt động của HĐND các cấp được nhiều chủ thể quan tâm tập trung nghiên cứu Việc nghiên cứu về CQĐP nói chung và HĐND các cấp nói riêng được các nhà khoa học thực hiện trong nhiều nhiệm kỳ khác nhau, thời gian khác nhau dưới nhiều góc độ nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu rộng hẹp khác nhau nhưng trong đó chủ yếu tập trung nghiên cứu về tổ chức và hoạt động của HĐND các cấp và trước khi ban hành Hiến pháp năm 2013 và Luật Tổ chức CQĐP năm 2015 Các kết quả nghiên cứu tuy thực hiện bởi nhiều chủ thể, ở những thời điểm khác nhau, dưới nhiều góc độ khác nhau, song đã có những tiếng nói chung, những đánh giá chung về thực trạng tổ chức và hiệu quả hoạt động cho HĐND các cấp Bên cạnh những kết quả nghiên cứu về cơ bản đã có sự thống nhất thì vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau liên quan đến việc đổi mới tổ chức và nâng cao hiệu quả hoạt động cho HĐND các cấp
1.2.2 Những vấn đề đã được giải quyết, luận án cần kế thừa và phát triển
Các công trình nghiên cứu nêu trên đã đi vào tìm hiểu lịch sử hình thành và phát triển của HĐND các cấp qua các thời kỳ lịch sử một cách rõ ràng, cụ thể chi tiết Phân tích, đánh giá vị trí, tính chất, vai trò, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn chung cho HĐND ở cả ba cấp trong trong BMNN, trong hệ thống các cơ quan thuộc CQĐP Thực trạng các quy định của pháp luật cũng như thực trạng tổ chức và hiệu
Trang 39quả hoạt động của HĐND các cấp trên thực tế kể từ khi thành khi thành lập nước cho đến giai đoạn Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003 còn hiệu lực Đã có nhiều phương hướng, giải pháp được đưa ra nhằm đổi mới việc tổ chức và nâng cao hiệu quả hoạt động cho CQĐP và HĐND các cấp nói chung
1.2.3 Những vấn đề chưa được giải quyết triệt để, luận án cần tiếp tục nghiên cứu làm sáng tỏ
Đã có nhiều giải pháp và kiến nghị song vấn đề về mô hình tổ cho CQĐP trong giai đoạn hiện nay vẫn chưa được giải quyết triệt để, chúng ta vẫn lúng túng trong việc lựa chọn mô hình cho CQĐP, tư duy còn nặng về tính hình thức đối với tính quyền lực của HĐND xã, chưa chú ý đến sự khác biệt giữa quyền lực và thực quyền Chưa thực sự làm rõ sự khác biệt căn bản giữa nông thôn và đô thị, sự khác biệt giữa các xã nông thôn Vẫn có nhiều ý kiến khác nhau trong việc xác định vị trí, vai trò của HĐND các cấp Việc đánh thực trạng tổ chức và hiệu quả hoạt động cho HĐND các cấp được thực hiện thông qua việc đánh giá đại biểu HĐND (tiêu chuẩn, trình độ, kỹ năng, nhiệm vụ, quyền hạn), TTHĐND, các Ban của HĐND; thời gian, số lượng, chất lượng kỳ họp HĐND; hoạt động TXCT; HĐGS; chức năng quyết định chưa được giải quyết triệt để Việc để hay xóa bỏ một số cấp cơ quan Hội đồng, việc phân quyền giữa trung ương và CQĐP, mối quan hệ giữa giữa HĐND các cấp với các cơ quan nhà nước, các tổ chức khác trong hệ thống chính trị chưa được giải quyết triệt để, cần tiếp tục nghiên cứu làm rõ Mô hình tổ chức và hoạt động của Hội đồng xã ở một số các quốc gia phát triển trên thế giới có vị trí, tính chất tương tự như HĐND xã ở Việt Nam được tổ chức và hoạt động theo mô hình quan tự quản cần tiếp tục được nghiên cứu để rút ra những giá trị tham khảo cho Việt Nam
1.2.4 Những vấn đề chưa được giải quyết, luận án cần đặt ra nghiên cứu
Mặc dù đã có nhiều công trình nghiên cứu về CQĐP, HĐND các cấp nhưng những công trình nghiên cứu trực diện về HĐND xã là rất ít, thời gian nghiên cứu
đã lâu, chủ yếu là trước khi ban hành Hiến pháp năm 2013 và Luật tổ chức CQĐP năm 2015 Những vấn đề về khái niệm, đặc điểm, nguyên tắc tổ chức và hoạt động
Trang 40của HĐND xã; các yếu tố tác động đến tổ chức và hoạt động của HĐND xã; thực trạng tổ chức và hoạt động của HĐND xã; phương hướng, giải pháp đổi mới tổ chức và nâng cao hiệu quả hoạt động cho HĐND xã, đặc biệt là sau khi Hiến pháp năm 2013, Luật Tổ chức CQĐP năm 2015 và Nghị quyết số 18/NQ-TW ngày 25/10/2017 Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về một
số vấn đề tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống Chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả ra đời thì đây là những vấn đề luận án cần đặt ra để nghiên cứu
1.3 Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu đề tài luận án
1.3.1 Câu hỏi nghiên cứu
Thứ nhất, Tổ chức và hoạt động của HĐND xã được hiểu như thế nào? Việc tổ
chức và hoạt động của HĐND xã có những đặc điểm gì?
Thứ hai, Trong quá trình tổ chức và hoạt động HĐND xã phải tuân theo những
nguyên tắc nào?
Thứ ba, Những yếu tố nào tác động đến tổ chức và hoạt động của HĐND xã? Thứ tư, Thực trạng các quy định của pháp luật, thực trạng việc tổ chức và hiệu
quả hoạt động của HĐND xã trên thực tế trong giai đoạn hiện nay như thế nào?
Thứ năm, Câu hỏi chính của luận án: Cần phải có những giải pháp nào để đổi
mới tổ chức và nâng cao hiệu quả hoạt động của HĐND xã ở Việt Nam hiện nay?
1.3.2 Giả thuyết nghiên cứu của luận án
Để thích ứng với sự thay đổi, phát triển của xã hội, tổ chức và hoạt động của HĐND xã cần được tinh gọn, đa dạng về mô hình, tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong quá trình hoạt động