Nghiên cứu phân bố và tình trạng quần thể loài gà so ngực vàng (Arborophila chloropus) bằng phương pháp âm sinh học tại vườn quốc gia Cát Tiên (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu phân bố và tình trạng quần thể loài gà so ngực vàng (Arborophila chloropus) bằng phương pháp âm sinh học tại vườn quốc gia Cát Tiên (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu phân bố và tình trạng quần thể loài gà so ngực vàng (Arborophila chloropus) bằng phương pháp âm sinh học tại vườn quốc gia Cát Tiên (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu phân bố và tình trạng quần thể loài gà so ngực vàng (Arborophila chloropus) bằng phương pháp âm sinh học tại vườn quốc gia Cát Tiên (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu phân bố và tình trạng quần thể loài gà so ngực vàng (Arborophila chloropus) bằng phương pháp âm sinh học tại vườn quốc gia Cát Tiên (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu phân bố và tình trạng quần thể loài gà so ngực vàng (Arborophila chloropus) bằng phương pháp âm sinh học tại vườn quốc gia Cát Tiên (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu phân bố và tình trạng quần thể loài gà so ngực vàng (Arborophila chloropus) bằng phương pháp âm sinh học tại vườn quốc gia Cát Tiên (Luận văn thạc sĩ)
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, đây là công trình nghiên cứu của tôi Các số liệu
và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chƣa hề đƣợc dùng
để bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã đƣợc cảm ơn và thông tin trích dẫn trong luận văn này đều đƣợc chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Phan Viết Đại
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Luận văn được hoàn thành tại Trường Đại học Lâm nghiệp Có được bài luận văn này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới Ban giám hiệu Trường Đại học Lâm nghiệp Việt Nam, các thầy cô giáo trong Khoa Quản lý Tài nguyên rừng và Môi trường, đặc biệt tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến PGS.TS Vũ Tiến Thịnh đã trực tiếp hướng dẫn, dìu dắt, giúp đỡ tôi với những chỉ dẫn khoa học quý giá trong suốt quá trình triển khai, nghiên cứu và hoàn thành đề tài “Nghiên cứu phân bố và tình trạng quần thể loài Gà
so ngực vàng (Arborophila chloropus) bằng phương pháp âm sinh học tại
Vườn quốc gia Cát Tiên”
Luận văn này là một sản phẩm trong đề tài nghiên cứu "Ứng dụng âm sinh học trong điều tra và giám sát động vật hoang dã: Nghiên cứu điểm với các loài vượn và các loài chim trong bộ gà" được tài trợ bởi Quỹ Phát triển khoa học và Công nghệ Quốc gia (NAFOSTED) Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Quỹ NAFOSTED và Bộ Khoa học Công nghệ và môi trường đã tạo điều kiện cho tôi có cơ hội được tham gia thực hiện và sử dụng dữ liệu của đề tài để làm luận văn thạc sĩ của mình
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo, cán bộ công nhân viên Vườn Quốc gia Cát tiên, chính quyền và nhân dân địa phương đã giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập số liệu nghiên cứu Xin ghi nhận công sức và những đóng góp quý báu, nhiệt tình của ThS Trần Văn Dũng cũng như của bạn bè cùng chuyên môn Có thể khẳng định sự thành công của luận văn này, trước hết thuộc về công lao của tập thể, của nhà trường, cơ quan và xã hội, đặc biệt là quan tâm động viên khuyến khích cũng như sự thông cảm sâu sắc của gia đình Một lần nữa xin chân thành cảm ơn các đơn vị và cá nhân đã hết lòng quan tâm tới sự nghiệp đào tạo đội ngũ cán bộ ngành Lâm nghiệp Rất mong nhận được sự đóng góp, phê bình của quý Thầy Cô, các nhà khoa học, độc giả
Trang 3MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT v
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU vi
DANH MỤC CÁC HÌNH vii
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1 Nghiên cứu về chim rừng Việt Nam giai đoạn trước năm 1975 3
1.2 Nghiên cứu về chim rừng Việt Nam giai đoạn sau năm 1975 4
1.3 Loài Gà so ngực vàng 5
1.4 Nghiên cứu liên quan đến chim tại Vườn quốc gia Cát Tiên 5
1.5 Máy ghi âm đa phổ SM3 7
1.6 Phần mềm Raven 8
2.1 Mục tiêu nghiên cứu 10
2.1.1 Mục tiêu tổng quát: 10
2.1.2 Mục tiêu cụ thể: 10
2.2 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 10
2.2.1 Đối tượng nghiên cứu: 10
2.2.2 Phạm vi nghiên cứu: 10`
2.3 Nội dung nghiên cứu: 10
2.4 Phương pháp nghiên cứu 11
2.4.2 Đánh giá sự phân bố của loài Gà so ngực vàng dựa vào phương pháp âm sinh học: 11
3.1 Đặc điểm tự nhiên 14
3.1.1 Vị trí, ranh giới, diện tích 14
Trang 43.1.2 Đặc điểm địa hình, thổ nhưỡng 15
3.1.3 Khí hậu, thủy văn 17
3.1.4 Hiện trạng rừng và đất lâm nghiệp 18
3.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 20
Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 27
4.1 Đặc điểm tiếng kêu của loài Gà so ngực vàng 27
4.2 Đặc điểm phân bố của loài Gà so ngực vàng tại Vườn Quốc gia Cát Tiên 34
4 2.1 Tần số tiếng kêu theo thời gian của loài Gà so ngực vàng tại Vườn Quốc gia Cát Tiên 34
4.2.2 Đặc điểm phân bố theo không gian của loài Gà so ngực vàng tại Vườn Quốc gia Cát Tiên 35
4.2 Ước lượng mật độ và kích thước quần thể của loài Gà so ngực vàng tại VQG Cát Tiên 37
4.2.1 Ước lượng mật độ của loài Gà so ngực vàng tại VQG Cát Tiên 37
4.2.2 Ước lượng kích thước quần thể của loài Gà so ngực vàng tại VQG Cát Tiên 40
4.3 Các mối đe dọa tới loài Gà so ngực vàng tại Vườn Quốc gia Cát Tiên 42
4.3.1 Mối đe dọa săn bắt 42
4.3.2 Mối đe dọa phá hoại sinh cảnh 44
4.5 Đề xuất một số giải pháp bảo tồn loài Gà so ngực vàng tại Vườn Quốc gia Cát Tiên 49
4.5.1 Xây dựng chương trình giám sát quần thể loài Gà so ngực vàng 49
4.5.2 Biện pháp ngăn chặn, giảm thiểu các hành vi khai thác, vận chuyển gỗ, lâm sản ngoài gỗ, phá rừng làm rẫy, săn bắt, bẫy bắt động vật rừng trái phép 50
4.5.3 Giải pháp giảm thiểu cháy rừng 51
4.5.4 Giải pháp về vấn đề xây dựng Thủy điện 51
4.5.5 Giải pháp ngăn chặn nạn khai thác cát trái phép 52
KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KHUYẾN NGHỊ 53 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 5CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT
BTTN Bảo tồn thiên nhiên
DTSQ Dự trữ Sinh quyển
ĐDSH Đa dạng sinh học
ĐTQH Điều tra quy hoạch
IUCN Tổ chức bảo tồn thiên nhiên thế giới
KBTTN Khu bảo tồn thiên nhiên
LSNG Lâm sản ngoài gỗ
UBND Ủy ban nhân dân
UNESCO Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên
hiệp quốc
VQG Vườn quốc gia
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
3.3 Dân số các thôn liên quan đến các hoạt động của VQG Cát
3.4 Làng (bản) định cư bên trong ranh giới Vườn 24
4.1 Bảng kết quả phân tích số liệu 35 âm phổ của âm thanh ghi
4.2 So sánh số liệu phân tích âm phổ của âm thanh ghi được và âm
4.3 Diện tích sinh cảnh thích hợp với loài Gà so ngực vàng trong
4.4 Kích thước và mật độ cá thể Gà so ngục vàng tại VQG Cát
Trang 7DANH MỤC CÁC HÌNH
1.3 Phần mềm Raven đƣợc sử dụng để phân tích âm sinh học 8 2.1 Hình ảnh máy ghi âm đƣợc gắn vào thân cây để thu tín hiệu
4.2 Phổ âm thanh có thời gian phần đầu âm dài nhất (59s) mà
4.3 Phổ âm thanh có thời gian phần đầu âm ngắn nhất (6s) mà
4.4 Phổ âm thanh có thời gian phần cuối âm dài nhất (14,8s) mà
4.5 Phổ âm thanh có thời gian phần cuối âm ngắn nhất (2s) mà
4.7 Biểu đồ Tần số kêu của loài Gà so ngực vàng theo thời gian 34
4.9 Khoảng cách lớn nhất tính đƣợc từ điểm nghe đến tiếng kêu
Trang 8STT Tên hình Trang
4.10 Âm phổ của tiếng kêu có khoảng cách đến máy là 410m 38 4.11 Bản đồ số lượng cá thể tại các điểm nghe 40 4.12 Bẫy động vật do quá trình điều tra thực tế bắt gặp 43
4.14 Những cây gỗ lớn tại Vườn Quốc gia Cát Tiên sẽ không còn
nếu không có các biện pháp bảo vệ hợp lý 47
Trang 9ĐẶT VẤN ĐỀ
Việt Nam được quốc tế công nhận là một trong những quốc gia có tính
đa dạng sinh học cao nhất trên thế giới với nhiều kiểu rừng, đầm lầy, sông suối, rạn san hô… tạo nên môi trường sống cho khoảng 10% tổng số loài chim và thú hoang dã trên thế giới [3] Tài nguyên đa dạng sinh học (ĐDSH)
là yếu tố tích tích cực góp phần cải thiện môi trường sống của con người ngày càng văn minh, hiện đại, tốt đẹp hơn Các vùng có tính ĐDSH cao chủ yếu tập chung ở các Vườn Quốc gia (VQG) và các Khu Bảo tồn thiên nhiên (BTTN) [4], trong đó có VQG Cát Tiên
Bên cạnh những hoạt động nỗ lực nhằm bảo vệ tính ĐDSH, con người cũng đang khai thác quá mức hoặc làm biến đổi tài nguyên ĐDSH, làm cho các giá trị ĐDSH đang dần bị suy thoái, xuống cấp [3] Hiện nay bảo tồn ĐDSH là một trong những vấn đề ưu tiên của Chính phủ Việt Nam và hầu hết các quốc gia trên thế giới Kế hoạch hành động ĐDSH của Việt Nam (1995) dành ưu tiên cho giải pháp bảo tồn in-situ và chú trọng vào các hệ sinh thái nổi bật nhất ở các địa phương với 3 mục tiêu lớn được đặt ra: 1) Bảo vệ các
hệ sinh thái tiêu biểu hoặc các hệ sinh thái bị đe dọa bởi các sức ép của con người; 2) Bảo vệ các thành phần ĐDSH đang bị đe dọa; 3) Xác định và quảng
bá các công cụ, phương pháp sử dụng và phát huy các giá trị ĐDSH [2],[3]
Mỗi hệ sinh thái đều được đặc trưng bởi nhiều quần xã sinh vật [3],[9] Các quần xã sinh vật được đặc trưng bởi các quần thể của mỗi loài [3],[9] Mặt khác, các loài sinh sống trong các sinh cảnh phù hợp có khả năng sinh trưởng
và phát triển tốt và ngược lại Do vậy, khi nghiên cứu một loài ở bất cứ một địa điểm nào, điều quan trọng cần thiết là phải nghiên cứu phân bố của nó [6]
Âm sinh học là một liên ngành khoa học kết hợp sinh học và âm thanh, thông thường đề cập đến việc tiếp nhận âm thanh ở động vật (kể cả con người), từ đó có thể xác định được vị trí, các hoạt động sinh thái của đối
Trang 10tượng điều tra Trong giới hạn của đề tài, phương pháp âm sinh học được sử dụng để xác định phân bố và tình trạng của loài
VQG Cát Tiên được thành lập vào tháng 2 năm 1988 với diện tích được nâng lên 73.878 ha (bao gồm cả Khu bảo tồn thiên nhiên Cát Lộc thuộc tỉnh Lâm Đồng và một phần đất của lâm trường Nghĩa Trung) VQG Cát Tiên bao gồm các hệ sinh thái rừng nhiệt đới với giá trị ĐDSH cao, là sinh cảnh phù hợp cho việc bảo tồn và phát triển quần thể Gà so ngực vàng, trong khi đó, một trong những nguyên nhân chủ yếu làm suy giảm số lượng cá thể Gà so ngực vàng ở Việt Nam là do tác động của con người đang làm mất, chia cắt
và làm suy thoái sinh cảnh của chúng Do vậy để bảo tồn Gà so ngực vàng, bên cạnh việc ngăn chặn các hiện tượng săn, bắt, bẫy trái phép và các hoạt động phi pháp khác cũng cần nghiên cứu xây dựng các giải pháp bảo tồn các sinh cảnh của loài
Hiện nay, chưa có các công trình nghiên cứu chuyên sâu nào về việc ứng dụng công nghệ và các thiết bị tự động vào nghiên cứu phân bố của loài
Gà so ngực vàng ở VQG Cát Tiên Xuất phát từ thực tế trên, tôi đã chọn đề
tài: “Nghiên cứu phân bố và tình trạng quần thể loài Gà so ngực vàng (Arborophila chloropus) bằng phương pháp âm sinh học tại Vườn quốc gia Cát Tiên” Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ bổ sung thêm thông tin về đặc
điểm phân bố của loài Gà so ngực vàng, là cơ sở đề xuất các giải pháp quản
lý, bảo tồn ĐDSH hiệu quả tại VQG Cát Tiên Đồng thời đề tài cũng mở ra một hướng đi mới trong nghiên cứu các loài động vật hoang dã tại Việt Nam
Trang 11Chương 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Nghiên cứu về chim rừng Việt Nam giai đoạn trước năm 1975
Đặc điểm nổi bật trong giai đoạn này là công trình nghiên cứu về chim
do các nhà khoa học nước ngoài thực hiện Loài Gà rừng (Gallus gallus) là
loài chim đầu tiên được nghiên cứu ở Việt Nam, tiêu bản mẫu thu được ở Côn Đảo và được nhà sinh vật học Line mô tả giữa thế kỷ XVIII Cuối thế kỷ XIX, các nhà khoa học nước ngoài có mặt ở Việt Nam đã bắt đầu các cuộc nghiên cứu chim trên phạm vi rộng với quy mô lớn Năm 1872, danh sách chim Việt Nam gồm 192 loài được xuất bản lần đầu tiên với các lô mẫu vật do Pierier, giám đốc sở thú Sài Gòn thời bấy giờ sưu tầm và công bố (H.jouan, 1972) Năm 1931, Delacour và Jabuille đã xuất bản công trình nghiên cứu tổng hợp
về chim Đông Dương gồm 4 tập với 954 loài và phân loài (Delacour T.Et và Jabuille, 1931 Lesoiseaux de I’Indochine francaise, I-IV.Paris), trong đó có các loài chim của Việt Nam Năm 1951, Danh lục chim Đông Dương được Delacoure bổ sung và hoàn thành, xuất bản gồm 1085 loài và phân loài (J.Delacoure, 1951) Năm 1954 miền Bắc hoàn toàn giải phóng, đây là mốc quan trọng đánh dấu sự khởi đầu lịch sử nghiên cứu chim của Việt Nam, thời
kỳ với các cuộc điều tra, khảo sát của các nhà nghiên cứu chim Việt Nam Các công trình nghiên cứu đáng chú ý của các tác giả như Võ Quý (1962, 1966), Trần Gia Huấn (1960,1961), Đỗ Ngọc Quang (1965), Võ Quý và Anoro N.C (1967) Các công trình nghiên cứu đều đi sâu nghiên cứu về mặt khu hệ và phân loại mà ít chú ý đến đặc điểm sinh học và đặc điểm sinh thái của chúng Năm 1971, với sự tổng hợp các công trình nghiên cứu về đời sống của các loài chim phổ biến ở miền Bắc Việt Nam, Võ Quý đã cho ra công trình số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc.tnu.edu.vn “Sinh học của những loài chim thường gặp ở miền Bắc Vệt Nam” Trong sách tác giả có dẫn
Trang 12chứng đầy đủ về đặc điểm nơi ở, thức ăn, sinh sản và một số tập tính khác của gần 200 loài chim ở miền Bắc mà đa số là các loài có ý nghĩa về mặt kinh tế Đây là công trình nghiên cứu về chim đầy đủ, có hệ thống và sát thực nhất giai đoạn này Nhưng do đối tượng nghiên cứu rộng nên tác giả không thể nghiên cứu về nơi ở của chúng, đối với mỗi loài tác giả mới chỉ ra loại sinh cảnh, đai cao chúng sống mà chưa chỉ ra đặc điểm của sinh cảnh sống của chim như tổ thành thực vật, vị trí tầng tán yêu thích.vv
1.2 Nghiên cứu về chim rừng Việt Nam giai đoạn sau năm 1975
Sau chiến tranh giải phóng thống nhất đất nước, công trình “Chim Việt Nam hình thái và phân loại (tập 1, 2)” của Võ Quý (1975, 1981) là công trình đầu tiên nghiên cứu về chim trên lãnh thổ Việt Nam về mặt sinh thái, phân loại và phân bố tự nhiên của các loài chim Cũng trong giai đoạn này cuốn sách “Danh mục chim Việt Nam” của Võ Quý, Nguyễn Cử năm 1995 ra đời, bản danh mục gồm 19 bộ, 81 họ và 828 loài chim đã tìm thấy ở Việt Nam tính đến năm 1995, với mỗi loài tác giả đã dẫn ra các đặc điểm về hiện trạng và vùng phân bố Sau nhiều năm nghiên cứu, năm 2007, Viện sinh thái và Tài nguyên sinh vật đã xuất bản ấn phẩm “Động vật chí” trong tập 18 đã thống kê
cả nước có khoảng 164 loài chim nước và di cư thuộc 68 họ, 5 bộ Trong đó tác giả đã mô tả đặc điểm nhận biết, đặc điểm sinh học, sinh thái học, vùng phân bố của các loài Ngoài ra trong sách còn có các hình vẽ mầu các loài chim nước giúp độc giả dễ dàng nhận biết Cho đến những năm gần đây nhiều
dự án bảo tồn đa dạng sinh học của các nước như: Hà Lan, Đức, Anh, Úc, Mỹ đã tài trợ vào Việt Nam Các tổ chức phi chính phủ như: Tổ chức bảo tồn động thực vật quốc tế (FFI), Hiệp hội bảo tồn thiên nhiên quốc tế (IUCN), Quỹ quốc tế bảo vệ thiên nhiên (WWF), Ngân hàng thế giới (WB) đã đầu tư vào Việt Nam và sau đó một loạt công trình số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn nghiên cứu về động, thực vật hoang đã đã được
Trang 13xuất bản Công trình nghiên cứu đầy đủ nhất về chim trong giai đoạn “Danh lục chim Việt Nam” do Nguyễn Lân Hùng Sơn, Nguyễn Thanh Vân (xuất bản năm 2011) Trong sách tác giả đã giới thiệu 887 loài chim, 88 họ và 20 bộ hiện có ở Việt Nam, mỗi loài trình bày các mục mô tả, phân bố, tình trạng, nơi ở và có hình vẽ mầu kèm theo Nói chung cuốn sách được biên soạn với mục đích chủ yếu giúp người đọc nhận dạng các loài chim ngoài thực địa
(nguồn: Josep del Hoyo)
Hình 1.1 Gà so ngực vàng 1.4 Nghiên cứu liên quan đến chim tại Vườn quốc gia Cát Tiên
Trang 14VQG Cát Tiên có hệ động vật đa dạng và phong phú về thành phần loài, các loài quý hiếm có ý nghĩa bảo tồn nguồn gen trên toàn thế giới Khu
hệ động vật của VQG Cát Tiên có những nét đặc trưng của khu hệ động vật vùng bình nguyên Đông Trường Sơn, có quan hệ chặt chẽ với Tây Nguyên Thống kê hệ động vật VQG Cát Tiên
Bảng1.1: thống kê hệ động vật tại VQG Cát Tiên
ra, VQG Cát Tiên nằm trong vùng chim đặc hữu (EBA) vùng đất thấp nam Việt Nam, có quần thể của 3 loài chim trong vùng chim đặc hữu là: Gà so cổ hung, Gà tiền mặt vàng, Chích chạch má xám
Trang 15Trước tình hình trên, các nghiên cứu về hề động vật nói chung và nhóm chim nói riêng là rất cần thiết nhằm phục vụ cho công tác bảo tồn trước tiên là đối với những loài động vật quý hiếm ở đây
1.5 Máy ghi âm đa phổ SM3
Hình 1.2: Máy ghi âm đa phổ SM3
Để thu thập tín hiệu âm thanh, đề tài sử dụng các máy ghi âm phổ rộng (SM3, Wildlife Acoustics Inc) với thông số: chiều dài máy: 32,4 cm; chiều rộng: 20 cm; trọng lượng máy: 2,5 kg; máy sử dụng 4 pin và hoạt động với nhiệt độ từ -20°C đến 50°C [23] Ngoài ra, máy có khả năng tách các dữ liệu
âm thanh thành các file tương ứng với 1 giờ ghi và được lưu vào đĩa dưới định dạng nén, điều này rất tiện lợi cho quá trình phân tích và xử lý số liệu của các điều tra viên
Trang 161.6 Phần mềm Raven
Hình 1.3: Phần mềm Raven được sử dụng để phân tích âm sinh học
Đề tài ứng dụng phần mềm phân tích tín hiệu âm thanh Raven, một phần mềm dùng để đo lường và phân tích âm thanh, một công cụ mạnh mẽ,
để sử dụng cho các nhà khoa học khi làm việc với tín hiệu âm thanh Đây cũng là phần mềm đang được các nhà khoa học sử dụng rộng rãi trên thế giới
Gần đây, phương pháp giám sát động vật hoang dã sử dụng thiết bị thu
âm và phân tích âm thanh tự động đã được phát triển Kỹ thuật này đã được
áp dụng thành công đối với một số loài động vật hoang dã, bao gồm các loài:
Trang 17thú (Thompson et al 2009); chim (Swiston & Mennill 2009; Zwart et al 2014); ếch nhái (Hilje & Aide 2012), côn trùng (Chesmore & Ohya 2004) và một số loài khác Đối với các loài phát ra tiếng kêu, Zwart et al (2014), Boucher et al (2012), Celis-Murillo et al (2012) đã chứng minh phương pháp
sử dụng các thiết bị ghi âm và phân tích âm thanh tự động có hiệu quả hơn so với phương pháp điều tra và giám sát do con người thực hiện
Ở Việt Nam, kỹ thuật âm sinh học đã được được sử dụng để mô tả các đặc điểm về âm thanh của một số loài động vật hoang dã (Nguyên Lân Hùng Sơn, 2007) Tuy nhiên, hiện chưa có một nghiên cứu nào được thực hiện nhằm ứng dụng kỹ thuật này trong các chương trình giám sát đa dạng sinh học ở Việt Nam Ứng dụng của các thiết bị ghi âm và phân tích âm sinh học
tự động có thể dẫn đến một bước đột phá trong hoạt động điều tra và giám sát cho nhiều loài động vật hoang dã, quý hiếm
Trang 18Chương 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Mục tiêu nghiên cứu
2.2 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
2.2.1 Đối tượng nghiên cứu:
- Loài Gà so ngực vàng (Arborophila chloropus)
2.2.2 Phạm vi nghiên cứu:
- Phạm vi về không gian: Phân khu Nam Cát Tiên thuộc VQG Cát Tiên, tỉnh Đồng Nai
- Phạm vi về thời gian: Đề tài thực hiện từ tháng 6/2016 – 4/2017
2.3 Nội dung nghiên cứu:
- Nghiên cứu đặc điểm tiếng kêu của loài Gà so ngực vàng ở VQG Cát Tiên
- Nghiên cứu phân bố của loài Gà so ngực vàng ở VQG Cát Tiên;
- Nghiên cứu hiện trạng quần thể của loài Gà so ngực vàng ở VQG Cát Tiên;
- Đề xuất các giải pháp quản lý, bảo tồn loài Gà so ngực vàng tại Vườn
Trang 19quốc gia Cát Tiên
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Kế thừa tài liệu
Các tài liệu chính cần thu thập là:
- Bản đồ hiện trạng rừng; bản đồ địa hình, bản đồ kiểm kê rừng
- Các tài liệu nghiên cứu trước đây về đối tượng nghiên cứu: báo cáo khoa học, bài báo khoa học…
2.4.2 Đánh giá sự phân bố của loài Gà so ngực vàng dựa vào phương pháp
âm sinh học:
Dựa vào tài liệu bản đồ khảo sát thực tế, lập các tuyến điều tra và tiến hành đặt máy ghi âm (phân bố đều trên các sinh cảnh chính của khu vực điều tra)
Hoạt động điều tra thực địa được thực hiện tại Vườn quốc gia Cát Tiên trong năm 2016 và 2017 Từ tháng 7 đến tháng 8 năm 2016 tiến hành đặt máy tại 13 khu vực, tại mỗi khu vực sử dụng 01 đến 04 máy ghi âm thanh phổ rộng (SM3, Wildlife Acoustics Inc) được cài đặt cách nhau khoảng 0,4 – 1,0
km (Hình 2.2)
Hình 2.1 Hình ảnh máy ghi âm được gắn vào thân cây
để thu tín hiệu âm thanh
Trang 20Các máy ghi âm được gắn vào thân cây rừng và được thiết lập để ghi lại âm thanh từ 4h00 sáng cho tới 20h00 tối trên cả hai kênh và tần số 44100
Hz Dữ liệu âm thanh sẽ được tách thành các file tương ứng với 0,5 giờ ghi và được lưu vào đĩa dưới định dạng nén Mỗi khu vực sẽ được thu âm trong ít nhất 3 ngày Pin và thẻ nhớ sẽ được thay đổi khi di chuyển máy ghi âm đến khu vực khác
Hình 2.2: Sơ đồ thiết kế điều tra
Dữ liệu âm thanh sẽ được phân tích bằng phần mềm RAVEN (Cornell Lab of Onithology) để phát hiện âm thanh của loài Gà so ngực vàng Mẫu âm thanh chuẩn của các loài được tham khảo từ tài liệu của Scharringa (2005) và
từ trang web http://www.xeno-canto.org Phổ âm thanh của loài Gà so ngực vàng rất đặc trưng và dễ nhận diện, với tần số tương đối thấp và tiếng kêu dài
Khoảng cách từ các máy ghi âm đến các cá thể Gà so ngực vàng được xác định bằng phần mềm MapInfo10.5 (Pitney Bowes Business Insight, New York, US) dựa trên tọa độ của máy và tọa độ phát ra tiếng kêu tính toán được Khoảng cách lớn nhất từ máy tới tiếng kêu được xác định và là cơ sở ước tính bán kính vùng nghe thấy của máy
Trang 21Mật độ loài Gà so ngực vàng đƣợc tính toán nhƣ sau (đây đƣợc coi là mật độ tối thiểu):
+ Mật độ cá thể loài Gà so ngực vàng trong khu vực nghe thấy từ các điểm nghe:
M = N2/A1 Trong đó:
M: mật độ Gà so ngực vàng trong khu vực điều tra;
A1: diện tích sinh cảnh thích hợp cho Gà so ngực vàng trong khu vực điều tra (khu vực ghe thấy xung quanh các máy ghi âm);
N2: số cá thể Gà so ngực vàng phát hiện đƣợc trong khu vực điều tra + Ƣớc tính số cá thể Gà so ngực vàng của cả phân khu Nam Cát Tiên, VQG Cát Tiên:
N = M*A Trong đó:
N: số cá thể Gà so ngực vàng ƣớc tính cho cả phân khu Nam Cát Tiên, VQG Cát Tiên;
M: mật độ cá thể Gà so ngực vàng trong khu vực điều tra;
A: diện tích các sinh cảnh thích hợp cho Gà so ngực vàng sinh sống trong cả phân khu Nam Cát Tiên, VQG Cát Tiên
Trang 22Chương 3 ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI 3.1 Đặc điểm tự nhiên
3.1.1 Vị trí, ranh giới, diện tích
Vườn Quốc gia Cát Tiên Nằm ở phía Nam Việt trên 5 huyện của 3 tỉnh: Huyện Cát Tiên, Bảo Lâm (tỉnh Lâm Đồng), huyện Tân Phú, Định Quán (tỉnh Đồng Nai), huyện Bù Đăng (tỉnh Bình Phước) Nằm giữa 2 vùng sinh học địa
lý chuyển tiếp từ vùng cao nguyên Trường Sơn xuống vùng đồng bằng Nam
bộ, do vậy hội tụ được các luồng hệ thực vật, hệ động vật phong phú, da dạng, đặc trưng cho hệ sinh thái rừng ẩm nhiệt đới thường xanh của các tỉnh miền Đông Nam Bộ, Việt Nam
+ Phía Đông giáp huyện Đạ Tẻh và huyện Bảo Lâm của tỉnh Lâm Đồng
- Khu Nam Cát Tiên và Tây Cát Tiên (tỉnh Đồng Nai và tỉnh Bình Phước) + Phía Bắc giáp huyện Cát Tiên tỉnh Lâm Đồng và huyện Bù Đăng tỉnh Bình Phước
+ Phía Nam giáp Công ty Lâm nghiệp La Ngà thuộc địa bàn huyện Định Quán tỉnh Đồng Nai
+ Phía Đông giáp huyện Tân Phú tỉnh Đồng Nai ranh giới là sông Đồng Nai + Phía Tây giáp Khu bảo tồn thiên nhiên và di tích Vĩnh Cửu tỉnh Đồng Nai
- Tổng diện tích tự nhiên là 82.722.8 ha, trong đó:
Trang 23+ Khu Nam Cát Tiên thuộc địa phận tỉnh Đồng Nai: 50.995,78 ha + Khu Tây Cát Tiên thuộc địa phận tỉnh Bình Phước: 4.466,76 ha + Khu Cát Lộc thuộc địa phận tỉnh Lâm Đồng: 27.260,26 ha
3.1.2 Đặc điểm địa hình, thổ nhưỡng
- Địa hình:
Đặc điểm nổi bật về địa hình của VQG Cát Tiên là ở cuối cùng của dãy Trường Sơn, vùng chuyển tiếp xuống địa hình đồng bằng Nam bộ nên có cả địa hình núi và địa hình đồi, với độ cao tuyệt đối (độ cao so với mặt nước biển) từ 100m - 670m chạy thấp dần theo hướng Bắc xuống hướng Nam với các độ cao trung bình như sau:
- Khu Cát lộc:
+ Ở phía Bắc và Đông Bắc thuộc khu vực Bù Sa thuộc xã Tiên Hoàng tỉnh Lâm Đồng thường có độ cao tuyệt đối từ 500m – 600m với các núi Dang kla (675m), Dang pốt (669m), LeatBite Bê (659m), Danpreum (600m), núi Sân Bay (630m)
+ Phía Tây và Tây Nam gồm các xã: Phước Cát I, Phước Cát II, Tiên Hoàng, xã Gia Viễn thuộc huyện Cát Tiên tỉnh Lâm Đồng thường có độ cao trung bình 350m với các đỉnh núi có các độ cao 414m, 376m, 353m, 345m,
+ Ở phía Bắc và Tây Bắc gồm các xã Đăng Hà (tỉnh Bình Phước), xã Đắk Lua (tỉnh Đồng Nai) thường có độ cao trung bình 300m với các đỉnh có
Trang 24của các sông, suối như sông Đồng Nai Kiểu địa hình này bao gồm hầu hết khu Cát Lộc (phía Bắc VQG), và 1 phần nhỏ của Nông lâm trường Nghĩa Trung (Lâm trường Nghĩa Trung trước đây, ở khu Tây Cát Tiên) và Khu Bảo tồn thiên nhiên và di tích Vĩnh Cửu (khu Nam Cát Tiên)
Địa hình vùng đồi cao
Có độ cao tuyệt đối từ 200 - 300 m, là vùng thượng nguồn của nhiều con suối lớn chảy ra sông Đồng Nai như suối Dak Lua, Dabao, Dabitt, Sa mách Chủ yếu nằm ở phía Tây và Tây Bắc giáp Khu Bảo tồn thiên nhiên và
di tích Vĩnh Cửu tỉnh Đồng Nai và huyện Bù Đăng tỉnh Bình Phước, có độ dốc bình quân từ 150
- 200 và địa hình chia cắt mạnh
Địa hình vùng đồi trung bình
Tập trung ở phía Đông Bắc và Đông Nam của khu Nam Cát Tiên có độ cao tuyệt đối từ 150 - 200 m, địa hình chia cắt ít hơn so với vùng đồi cao, cũng hình thành các đỉnh đồi và hệ thống suối rõ rệt, có độ dốc trung bình từ
50 - 100
Địa hình vùng đồi thấp
Tập trung phân bố ở phía Đông và Đông Nam của khu Nam Cát Tiên
và phía Nam của khu Cát Lộc có độ cao tuyệt đối 150m thường có độ dốc 50
với 2 dạng là vùng bậc thềm sông Đồng Nai và dạng bậc thềm suối xen kẽ với
hồ, đầm
- Thổ nhưỡng
Nền địa chất của VQG Cát Tiên với 3 cấu tạo chính là Trầm tích, Bazal
và Sa phiến thạch đã phát triển hình thành 4 loại đất chính:
Đất phát triển trên đất Bazal (Fk): loại đất này có diện tích lớn nhất chiếm gần 60% diện tích tự nhiên của VQG và chủ yếu phân bố ở khu phía Nam của VQG, là loại đất giàu chất dinh dưỡng, đất tốt, sâu, dầy màu đỏ hoặc nâu đỏ và nâu đen có nhiều đá Tub núi lửa lộ đầu chưa bị phong hóa hết Ở
Trang 25trên đất này rừng phát triển tốt có nhiều loài cây gỗ quý và khả năng phục hồi
của rừng cũng nhanh
Đất phát triển trên đá sét (Fs): Có diện tích không lớn tập trung chủ yếu
ở khu vực phía Nam xen kẽ các vạt đất Bazal Loại đất này có độ phì khá, nhưng thành phần cơ giới nặng nên khi mất rừng thì đất rễ bị thoái hóa một cách nhanh chóng
Đất phát triển trên phù sa cổ (Fo): (Đất xám bạc màu trên phù sa cổ): Gồm các loại đất được bồi tụ ven suối, ven sông Đồng Nai cũng chiếm một diện tích không nhỏ ở khu phía Bắc và phía Đông Nam của VQG Cát Tiên Phân bố ở nơi địa hình khá bằng phẳng và những vùng trũng bị ngập nước vào mùa mưa Loại đất này nghèo chất dinh dưỡng, có mực nước ngầm nông nên khá thuận lợi cho sự sinh trưởng và phát triển của cây rừng trong mùa khô
3.1.3 Khí hậu, thủy văn
- Khí hậu:
Khí hậu VQG Cát Tiên nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, có 2 mùa rõ rệt trong năm Mùa mưa từ tháng 5 – 10; mùa khô từ tháng 11- 4 năm sau Vào mùa khô độ ẩm không khí và độ ẩm vật liệu thấp và ngược lại nhiệt độ của không khí rất cao vào ban ngày nhất là các tháng cao điểm từ tháng 1 đến tháng 4 của năm sau thời tiết vào thời gian này thường rất khắc nhiệt nguy cơ xảy ra cháy rất cao
Do địa hình của VQG Cát Tiên nằm trên 2 cùng địa hình là vùng núi và vùng đồi có độ cao tuyệt đối khác nhau nên về khí hậu của 2 vùng cũng có sự khác nhau khá rõ rệt giữa khu Bắc và khu Nam VQG Cát Tiên
- Thủy văn:
Hệ thống sông suối: Gồm nhiều suối nhỏ, bắt nguồn từ vùng đồi núi phía Tây và phía Bắc của Vườn Vào mùa mưa nước suối chảy ra sông Đồng
Trang 26Nai, vào mùa khô hạn phần lớn các suối đều cạn nước; về phía Nam còn có một số vùng bầu đất ngập nước, bán gập nước và hệ thống sông của Vườn có vai trò rất lớn trong việc dự trữ nguồn nước phục vụ chữa cháy rừng trong mùa khô; chính vì vậy chúng ta phải có biện pháp phát huy vai trò của chúng trong công tác phòng và chữa cháy rừng
Bảng 3.1: Khí hậu thủy văn VQG Cát Tiên
2 Nhiệt độ trung bình cao nhất (oC) 23,0 (tháng 6) 28,6 (tháng 6)
3 Nhiệt độ trung bình thấp nhất (oC) 21,1 (tháng 12) 20,5 (tháng 1)
4 Lượng mưa trung bình hàng năm (mm) 2.675 2.175
5 Lượng mưa trung bình tháng cao nhất
(Nguồn: Phân viện ĐTQH rừng Nam Bộ - Vườn quốc gia Cát Tiên, năm 2010)
3.1.4 Hiện trạng rừng và đất lâm nghiệp
Tổng diện tích toàn vườn là 82.722,80 ha, trong đó: rừng giàu 1.983,01
ha (chiếm 2,4%); rừng trung bình 15.267,33 ha (chiếm 18,46%); rừng nghèo
và phục hồi 61.857,74 ha (chiếm 74,78%); đất trống, đất khác và mặt nước 3.614,72 ha (chiếm 6,53%) (xem bảng 2.1 )
Trang 27Bảng 3.2: Tài nguyên rừng
Toàn Vườn Loại đất, loại rừng Diện tích (ha)
Rừng trồng của VQG Cát Tiên gồm các loài cây trồng là nhóm thực vật bản địa, quý hiếm (Dầu sao, gõ đỏ…) được trồng với mục đích bảo tồn các nguồn gen quý hiếm, phục hồi trên diện tích đất trống, đất nương rẫy cũ, đất không còn rừng
Nhóm đất không có rừng: gồm đất cây gỗ có cây tái sinh, đất cây bụi, các trảng cỏ với nhóm đất không có rừng nhưng giữ vai trò là các bãi kiếm ăn của các loài thú ăn cỏ, nhóm thú móng guốc như bò rừng, nai,…
Đất bán ngập mặn và ngập nước: là diện tích thuộc vùng ngập nước Ramsa Bàu Sấu, gồ các Bàu Cá Trê, Bàu Sen, Bàu Tròn, Bàu Chim,… đây là
hệ sinh thái đất ngập nước đặc biệt của VQG Cát Tiên, có đa dạng sinh học rất cao, có giá trị bảo tồn cấp quốc gia, quốc tế; vùng bán ngập mùa mưa là nơi phân bố, làm tổ của nhóm chim nước, cư ngụ, sinh sản của các loài bò sát, ếch nhái, mùa khô cung cấp cỏ, các loài thực vật thân thảo là nguồn thức ăn
ưa thích của các nhóm thú móng guốc, thú ăn cỏ
Trang 28Rừng và đất rừng của VQG Cát Tiên đáp ứng các quy định về tiêu chí rừng và đất rừng của khu rừng đặc dụng về độ che phủ của rừng, các loại trạng thái rừng giàu, rừng trung bình, tính bền vững về diện tích các loại rừng trong các giai đoạn từ khi thành lập
* Đánh giá các điều kiện tự nhiên:
- Thuận lợi
Với hệ động thực vật phong phú và đa dạng, Vườn nhận được sự quan tâm của các tổ chức trong và ngoài nước về công tác bảo tồn, thông qua các chương trình dự án như: Chương trình cứu hộ Gấu, Chương trình cứu hộ các loài linh trưởng nguy cấp quý hiếm…
- Khó khăn
Vườn Quốc gia Cát Tiên nằm trên địa bàn 3 tỉnh, đường sá đi lại khó khăn phức tạp; trong khi lực lượng Kiểm lâm còn mỏng, phải quản lý trên diện tích rộng lớn
Trong những năm gần đây giá thành các sản phẩm từ rừng tự nhiên tăng cao đột biến khiến người dân và các băng nhóm lâm tặc thực hiện các hành vi vi phạm trái phép với cường độ nhiều và manh động hơn, đặc biệt là
vi phạm về gỗ Nhóm I và động vật hoang dã đã tạo ra áp lực đến tài nguyên rừng của Vườn
3.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội
Yếu tố kinh tế xã hội có tác động rất lớn đến các nội dung hoạt động bảo vệ và bảo tồn của VQG Cát Tiên
Ngày 10/11/2001, Tổ chức UNESCO quốc tế đã công nhận VQG Cát Tiên là Khu Dự trữ Sinh quyển thứ 411 của Thế giới Khu dự trữ Sinh quyển gồm 3 vùng: vùng lõi, vùng đệm và vùng chuyển tiếp, có diện tích rộng 728.756 ha, nằm trên địa bàn của 86 xã, thị trấn của 11 huyện, thuộc 4 tỉnh Đồng Nai, Lâm Đồng, Bình Phước và Đắc Nông
Trang 29Ngoài vùng lõi, vùng đệm như trên, Khu Dự trữ Sinh quyển Cát Tiên còn có vùng chuyển tiếp Vùng chuyển tiếp được xác định bởi 53 xã, thị trấn bao quanh vùng đệm, diện tích rộng 403.433 ha
Người dân sinh sống trong khu DTSQ Cát Tiên bao gồ 33 dân tộc anh
em, hầu hết là người Kinh Các nhóm dân tộc thiểu số bản địa là Châu Mạ, X’Tiêng, Châu ro
Các yếu tố kinh tế-xã hội ảnh hưởng đến các hoạt động quản lý bảo vệ rừng của VQG Cát Tiên là do những tác động trái phép của người dân sống trong khu vực VQG và vùng đệm
Vùng đệm VQG Cát Tiên:
Vùng đệm của VQG Cát Tiên được thành lập tại Quyết định số 09/2001/QĐ/BNN-TCCB ngày 13 tháng 2 năm 2001 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, về việc phê duyệt và ban hành Quy chế tổ chức hoạt động của VQG Cát Tiên và quản lý bảo vệ vùng đệm
Tại Điều 15 Phạm vi ranh giới, diện tích vùng đệm Quy mô vùng đệm khoảng 183.479 ha, trong đó:
Loại vùng đệm có rừng tự nhiên và đất lâm nghiệp được giao cho các
tổ chức, hộ gia đình và cá nhân là 64.875 ha
Loại vùng đệm thuộc khu vực có dân cư hiện đang sinh sống do UBND
xã quản lý: 118.604 ha, bao gồm 31 xã và 02 thị trấn: Xã Đắk Lua, Tà Lài, Nam Cát Tên, Núi Tượng, Phú Lập, Phú An (huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai);
xã Thanh Sơn (huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai); xã Phú Lý (huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai), xã Đăng Hà, Đồng Nai, Thống Nhất, Đoàn Kết (huyện
Bù Đăng, tỉnh Bình Phước); xã Đắc Sin, Đạo Nghĩa (huyện Đắk Lắk); xã Lộc Bắc, Lộc Bảo (huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng); xã Hương Lâm, Quốc oai,
An Nhơn, Đạ Kho, Đạ Lây, Thị trấn Đạ Tẻh (huyện Đạ Tẻh, tỉnh Lâm Đồng);
xã Phước Cát I, Phước Cát II, Gia Viễn, Nam Ninh, Mỹ Lâm, Tư Nghĩa, Phù
Trang 30Mỹ, Đức Phổ, Tiên Hoàng, Quảng Ngãi, Thị trấn Đồng Nai (huyện Cát Tiên, tỉnh Lâm Đồng)
Những tác động của vùng đệm đối với công tác quản lý bảo vệ rừng của VQG Cát Tiên như sau:
Sự di dân tự do và sự gia tăng dân số trên các xã địa bàn vùng đệm vẫn chưa thể giải quyết được
Với chiều dài đường ranh giới của VQG Cát Tiên khoảng hơn 250km, khu vực giáp với tỉnh Đắk Nông và tỉnh Bình Phước không có đường, lực lượng kiểm lâm ít nên việc đi lại, tuần tra, kiểm soát, bảo vệ rừng rất khó khăn
Việc Quản lý dân cư trên quy mô rộng, thuộc chính quyền địa phương các xã Đây là khó khăn rất lớn đối với công tác bảo vệ rừng
Các hoạt động trái phép diễn ra không theo quy luật, mà người dân lợi dụng những sơ hở là không gặp lực lượng tuần tra, bảo vệ rừng thì sẽ xâm phạm vào rừng
Những địa phương có đường ranh giới với VQG là sông Đồng Nai thì các hoạt động trái phép vào rừng thường là: Khai thác lâm sản, săn bắt thú rừng Những địa phương có rừng và đất sản xuất nông nghiệp, các cụm dân
cư là đất liền nằm sát ranh giới VQG Cát Tiên thì ngoài các hoạt động khai thác lâm sản, săn bắt thú rừng còn có việc chăn thả gia súc, lấn chiếm đất rừng làm nương rẫy…
Từ năm 2005 đến nay ở vùng đệm việc phát triển kinh tế xã hội với tốc
độ rất cao như cơ sở hạ tầng (đường giao thông, điện, trường học, các cơ sở y
tế, văn hóa…) đã được xây dựng khá hoàn chỉnh, thuận tiện cho việc đi lại, giao lưu hàng hóa, cải thiện điều kiện sinh hoạt, ăn ở, khám chữa bệnh, học hành của học sinh trong độ tuổi đi học Tuy nhiên tốc độ tăng trưởng của khu vực này không bằng mức bình quân chung của các vùng khác trong khu vực, người dân vẫn gặp nhiều khó khăn về thu nhập, cải thiên đời sống
Trang 31Đặc điểm dân cư
- Số hộ sử dụng đất lâm phận: không
- Số hộ dân tại các thôn/ấp của các xã giáp ranh liên quan đến các hoạt động của VQG Cát Tiên
Bảng 3.3: Dân số các thôn liên quan đến các hoạt động của VQG Cát Tiên
tính)
2 Xã Thanh Sơn - Định Quán - Đồng Nai 27.000
4 Xã Núi Tượng - Tân Phú - Đồng Nai 5.500
5 Xã Nam Cát Tiên - Tân Phú - Đồng Nai 6.500
14 Xã Gia Viễn - Cát Tiên - Lâm Đồng 5.500
15 Xã Tiên Hoàng - Cát Tiên - Lâm Đồng 4.500
16 Xã Đồng Nai Thượng - Cát Tiên - Lâm Đồng 2.700
17 Xã Đăng Hà - Bù Đăng - Bình Phước 5.000
18 Xã Thống Nhất - Bù Đăng - Bình Phước 7.000
Trang 32Bảng 3.4: Làng (bản) định cư bên trong ranh giới Vườn
STT Tên làng (bản) sống trong vùng lõi (ước tính) Dân số
1 Thôn 3 xã Phước Cát 2 huyện Cát Tiên tỉnh Lâm Đồng 140
2 Thôn 4, xã Phước Cát 2, Cát Tiên, Lâm Đồng 130
3 Khu vực Suối Nhỏ thôn Phước Thái, Phước Cát 2, Cát
4 Thôn Bù Sa, xã Đồng Nai Thượng, Cát Tiên, Lâm Đồng 600
5 Thôn Bi Nao, xã Đồng Nai Thượng, Cát Tiên, Lâm
6 Thôn Bù Gia Rá, xã Đồng Nai Thượng, Cát Tiên, Lâm
7 Thôn Bê Đê, xã Đồng Nai Thượng, Cát Tiên, Lâm Đồng 650
8 Thôn Đà Cọ, xã Đồng Nai Thượng, Cát Tiên, Lâm Đồng 150
Sản xuất nông nghiệp: Sản xuất nông nghiệp là ngành sản xuất chính
của các thôn, bản Do đặc điểm của vùng đồi, địa hình cao, không chủ động được nước tưới nên cây trồng chính là cây công nghiệp dài ngày như cao su,
điều, cây ăn quả, cây hoa màu, diện tích trồng cây lương thực không đáng kể
Về chăn nuôi: Các vật nuôi chính là gia súc và gia cầm theo quy mô hộ
gia đình, trong những năm vừa qua, sảy ra hàng loạt dịch bệnh như: long móng, lở mồm (đối với heo, trâu, bò), dịch heo tai xanh, cúm gia cầm… đã hạn chế các hộ gia đình đầu tư vào phát triển chăn nuôi vì rủi ro lớn, giá thức
ăn gia súc cao, khả năng phòng trừ dịch bệnh ở vùng này còn nhiều hạn chế Diện tích đất chăn thả trâu bò ngày càng giảm, lợi nhuận thu được từ chăn
nuôi cũng giảm do ít lợi thế cạnh tranh về giá cả, quy mô nhỏ…
Về công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ: Trong các xã nằm sát
Trang 33ranh giới VQG Cát Tiên không có các khu công nghiệp, cơ sở gia công, chế biến lớn có khả năng thu hút lao động địa phương nông nhàn, đây là khó khăn lớn để chuyển dịch cơ cấu kinh tế, giải quyết việc làm của các địa phương
theo hướng Nông – Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ
Về văn hóa, giáo dục: Đã có hệ thống các trường học (tiểu học, trung
học cơ sở, trung học phổ thông) đáp ứng nhu cầu học tập của học sinh trong
độ tuổi đến trường bậc tiểu học và trung học cơ sở ở bậc trung học phổ thông thì số học sinh phụ thuộc rất nhiều vào kinh tế của từng hộ gia đình Do trường xa, học phí và các khoản chi cho học tập nhiều nên chỉ những hộ có đủ điều kiện mới có thể cho con mình đi học
Về y tế: Trong những năm gần đây đã được cải thiện rất nhiều, các xã
đã có trạm y tế xã, có đội ngũ y, bác sỹ khám, chữa bệnh, người dân được tiêm chủng các loại vắc xin phòng ngừa dịch bệnh, nâng cao đời sống kinh tế
- xã hội
Bưu chính, viễn thông: Có mạng thông tin liên lạc phủ sóng hầu hết các
khu vực sinh sống của người dân
Ngoài ra, tất cả các xã đều có hệ thông phát thanh, truyền hình của trung ương và địa phương Trên 80 số hộ sử dụng điện lưới quốc gia phục vụ sản xuất và sinh hoạt Khoảng gần 80% sử dụng nước giếng khoan, giếng đào phục vụ sinh hoạt
Tình hình sử dụng đất:
Năm 2016, tiếp tục thực hiện đồng thời hai chương trình là: Chương trình giao khoán bảo vệ rừng thuộc dự án Bảo vệ và Phát triển rừng và chương trình giao khoán bảo vệ rừng thuộc dịch vụ môi trường rừng 3 tỉnh Đồng Nai, Lâm Đồng và Bình Phước, đối với dự án bảo vệ phát triển rừng và dịch vụ môi trường rừng tỉnh Đồng Nai trên cùng diện tích 5.867,89 ha rừng được ký hợp đồng giao khoán cho 12 cộng đồng với 171 hộ tham gia thuộc
Trang 34địa bàn 5 xã Phú Lý, Tà Lài, Núi Tượng, Đắc Lua, Đăng Hà thuộc 03 huyện: Vĩnh Cửu, Tân Phú và Bù Đăng, chương trình giao khoán chi trả dịch vụ môi trường rừng của tỉnh Lâm Đồng với tổng diện tích 23.361,95 ha Tổng cộng đồng nhận khoán là 24 cộng đồng thuộc 5 xã Đồng Nai Thượng, Tiên Hoàng, Gia Viễn, Phước Cát 2, huyện Cát Tiên và Quốc Oai huyện Đạ Tẻh tỉnh Lâm Đồng và 02 tổ chức với 955 hộ tham gia, dịch vụ môi trường rừng tỉnh Bình Phước với diện tích 2.153,74 ha khoán cho 6 cộng đồng với 62 hộ tham gia
* Đánh giá chung về kinh tế - xã hội
- Sự gia tăng dân số của các xã trên địa bàn VQG Cát Tiên trong những năm qua vẫn không ngừng, do gia tăng tự nhiên và gia tăng cơ học Trình độ văn hóa nhìn chung còn thấp, nhiều khu vực đặc biệt là khu vực người dân sống trong vùng lõi của Vườn không biết đọc, biết viết
- Số hộ nghèo do thiếu đất canh tác, thiếu vốn, thiếu kinh nghiệm sản xuất, … chiếm khoảng 50% dân số, dự tính trong những năm tới tình trạng nghèo đói sẽ không giảm hoặc giảm không đáng kể
- Các hoạt động và dịch vụ thu hút, tạo công ăn việc làm cho thanh thiếu niên và số người trong độ tuổi lao động hầu như không có
- Tâm lý và phong tục của một số đồng bào dân tộc sống dựa vào rừng còn nhiều đặc biết là một số đồng bào còn sử dụng lâm sản phụ vào các ngày lễ
ăn chay
- Hiện nay các loại khoáng sản quý hiếm như vàng, bạc, titan, và giá cả vật liệu xây dựng như cát tăng cao là nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng khai thác trộm cát trên sông Đồng Nai và khai thác vàng tại một số nơi trong phân khu bảo vệ nghiêm ngặt của vườn đang diễn biến phức tạp
Trang 35Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 4.1 Đặc điểm tiếng kêu của loài Gà so ngực vàng
Trong thời gian 30 ngày điều tra thực địa, đề tài đã điều tra tại 13 khu vực, với số lượng lần máy được đặt là 120 Từ đó, đề tài đã lựa chọn ra 35 mẫu âm phổ của âm thanh thu được từ loài Gà so ngực vàng tại VQG Cát Tiên Kết quả phân tích thu được (Bảng 4.1)
Các tiếng kêu của loài Gà so ngực vàng phần lớn đều có hai phần: Phần đầu âm thanh có tần số trung bình thấp hơn và phần cuối (phần cao trào) có tần số trung bình cao hơn
Phần đầu phổ Phần cuối phổ
Hình 4.1: Phổ âm thanh được chọn
Trang 36Bảng 4.1: Bảng kết quả phân tích số liệu 35 âm phổ của âm
Tần số (Hz) Năng
lượng(dB)
Thời gian (s)
Từ kết quả phân tích trên ta có thể kết luận về thông số trung bình cho
cả âm thanh của loài Gà so ngực vàng tại Vườn Quốc gia Cát Tiên như sau:
Tần số trung bình của âm thanh trong khoảng từ 1183 (Hz) đến 2547 (Hz); Năng lượng trung bình của âm thanh thu được trong khoảng từ 57,5 (dB) đến 80,83 (dB), chỉ số này phù thuộc vào khoảng cách từ máy thu tới con vật; Thời gian trung bình của cả tiếng kêu là 19,35 + 8,17 = 27,52 (s) Đồng thời
có thể nhận thấy: Thời gian phần cuối âm thanh là đại lượng có biến động nhỏ
nhất với độ lệch chuẩn 2,71; Tần số ngưỡng trên của phần cuối âm thanh là đại lượng biến động mạnh nhất với độ lệch chuẩn lên tới 274,3
Âm thanh được chia thành 2 phần: Phần đầu âm thanh và phần cuối âm
thanh: Phần đầu âm thanh có khoảng tần số từ 1160 (Hz) đến 2064 (Hz); Khoảng năng lượng của phần đầu âm thanh từ 48,9 (dB) đến 98,1 (dB) và