MỤC LỤC MỤC LỤC 1 GIỚI THIỆU 3 I. Lý do chọn đề tài 3 II. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3 III. Phương pháp nghiên cứu 3 IV. Nội dung nghiên cứu 3 NỘI DUNG 4 CHƯƠNG 1: VỊ TRÍ ĐỊA LÝ VÀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN CỦA ĐÀ NẴNG 4 I. Vị trí địa lý 4 II. Điều kiện tự nhiên 5 1. Khí hậu thành phố Đà Nẵng 5 2. Tài nguyên 6 3. Địa hình thành phố Đà Nẵng 7 CHƯƠNG 2: TÌNH HÌNH KINH TẾ VĂN HÓA, CHÍNH TRỊ XÃ HỘI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG TỪ NĂM 1975 ĐẾN NAY 9 I. Khái quát tình hình Đà Nẵng trước năm 1975 9 II. Sự phát triển của đô thị Đà Nẵng từ năm 1975 đến nay 10 1. Kinh tế 10 Bảng 1: Tốc độ tăng GRDP bình quân năm qua các thời kỳ (%): 13 Bảng 2: Tống vốn đầu tư vào Đà Nẵng (Đơn vị: Tỷ Đồng) 15 Bảng 3: Cơ cấu chi ngân sách nhà nước cho hoạt động văn xã năm 20132014 khá hơn: 18 Bảng 4: Chênh lệch bình quân thu nhập đầu người: Đơn vị triệu VNĐ 22 2. Chính trị 23 3. Văn hóa – Xã hội 25 CHƯƠNG 3: NHỮNG HẠN CHẾ VÀ GIẢI PHÁP GIÚP THÚC ĐẨY HƠN NỮA SỰ PHÁT TRIỂN CỦA THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 29 I. Những mặt còn hạn chế của Thành phố Đà Nẵng 29 1. Duy trì mô hình tăng trưởng chủ yếu dựa vào yếu tố vốn, chất lượng tăng trưởng, sức cạnh tranh của nền kinh tế thấp 29 Bảng 4: Vốn đầu tư phát triển Đà Nẵng 1990 – 2014 (Đơn vị: Tỷ đồng) 29 2. Vị trí một số chỉ tiêu kinh tế của Đà Nẵng so với các tỉnh thành trọng điểm có xu hướng tăng chậm 30 3. Hạn chế trong quá trình đô thị hóa 30 II. Xu hướng phát triển của Đà Nẵng trong những năm tới 31 III. Những giải pháp đề ra 32 1. Huy động vốn đầu tư 32 2. Giải pháp phát triển các ngành công nghiệp, dịch vụ 32 3. Giải pháp về đào tạo nguồn nhân lực 33 4. Giải pháp về khoa học, công nghệ 33 5. Tăng cường hợp tác, phối hợp với các tỉnh, thành phố trong vùng 34 6. Tăng cường đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng 34 7. Xây dựng chính quyền đô thị 34 8. Xây dựng Đà Nẵng thành phố môi trường 35 9. Phát triển tuyến hành lang kinh tế Đông Tây 35 Tài liệu tham khảo 36 GIỚI THIỆU I. Lý do chọn đề tài Trong lịch sử dân tộc, Đà Nẵng được biết đến không chỉ là một thành phố cảng lớn nhất miền Trung Việt Nam mà còn là một địa danh gắn liền với công cuộc mở mang bờ cõi Đại Việt từ nhiều thế kỉ trước. Dấu vết của một cửa ngõ giao lưu quốc tế gắn liền với xứ Đàng Trong vẫn còn, và trong dư ba của lịch sử, đây là một tiền đề quan trọng trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ và thực dân Pháp. Và để tìm hiểu rõ hơn về những bước tiến mạnh mẽ của Đà Nẵng sau hai cuộc kháng chiến huyền thoại đó, em đã chọn đề tài “Kinh tế Văn hóa, Chính trị Xã hội Đà Nẵng từ năm 1975 đến nay”. Với mục tiêu tìm hiểu và phân tích về sự thay đổi của Đà Nẵng sau hơn 40 năm phát triển. II. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu: tình hình về Kinh tế Văn hóa, Chính trị Xã hội Đà nẵng từ năm 1975 đến nay. Phạm vi nghiên cứu: Thành phố Đà Nẵng. III. Phương pháp nghiên cứu Sử dụng phương pháp thống kê mô tả, số liệu lấy từ cục thống kê Đà Nẵng Áp dụng các phương pháp nghiên cứu: tìm kiếm, tổng hợp, so sánh, phân tích đánh giá … để làm rõ vấn đề cần nghiên cứu. IV. Nội dung nghiên cứu Tình hình về Kinh tế Chính trị và Văn hóa – Xã hội của Đà Nẵng trước năm 1975. Sự phát triển của đô thị Đà Nẵng về Kinh tế Xã hội, hạ tầng cơ sở và sự đầu tư của nước ngoài từ sau năm 1975. Những hạn chế còn tồn đọng đối với Đà Nẵng. Xu hướng phát triển của Đà Nẵng trong những năm tới. Định hướng và đưa ra những giải pháp giúp phát triển hơn nữa đô thị Đà Nẵng trong những năm tiếp theo.
Trang 1MỤC LỤC
- 1
Trang 2đó, em đã chọn đề tài “Kinh tế - Văn hóa, Chính trị - Xã hội Đà Nẵng từ năm 1975 đếnnay” Với mục tiêu tìm hiểu và phân tích về sự thay đổi của Đà Nẵng sau hơn 40 nămphát triển.
II Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: tình hình về Kinh tế - Văn hóa, Chính trị - Xã hội Đànẵng từ năm 1975 đến nay
- Phạm vi nghiên cứu: Thành phố Đà Nẵng
III Phương pháp nghiên cứu
- Sử dụng phương pháp thống kê mô tả, số liệu lấy từ cục thống kê Đà Nẵng
- Áp dụng các phương pháp nghiên cứu: tìm kiếm, tổng hợp, so sánh, phân tíchđánh giá … để làm rõ vấn đề cần nghiên cứu
IV Nội dung nghiên cứu
- Tình hình về Kinh tế - Chính trị và Văn hóa – Xã hội của Đà Nẵng trước năm1975
- Sự phát triển của đô thị Đà Nẵng về Kinh tế - Xã hội, hạ tầng cơ sở và sự đầu
tư của nước ngoài từ sau năm 1975
- Những hạn chế còn tồn đọng đối với Đà Nẵng
- Xu hướng phát triển của Đà Nẵng trong những năm tới
- Định hướng và đưa ra những giải pháp giúp phát triển hơn nữa đô thị Đà Nẵngtrong những năm tiếp theo
- 2
Trang 31130 kinh độ Đông, cách đảo Lý Sơn (thuộc tỉnh Quảng Ngãi, Việt Nam) khoảng 120hải lý về phía Nam.
Nằm ở vào trung độ của đất nước, trên trục giao thông Bắc - Nam về đường bộ,đường sắt, đường biển và đường hàng không, cách Thủ đô Hà Nội 764km về phía Bắc,cách thành phố Hồ Chí Minh 964 km về phía Nam Ngoài ra, Đà Nẵng còn là trung
- 3
Trang 4-điểm của 4 di sản văn hoá thế giới nổi tiếng là cố đô Huế, Phố cổ Hội An, Thánh địa
Mỹ Sơn và Rừng quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng
Trong phạm vi khu vực và quốc tế, thành phố Đà Nẵng là một trong những cửa ngõquan trọng ra biển của Tây Nguyên và các nước Lào, Campuchia, Thái Lan, Myanmađến các nước vùng Đông Bắc Á thông qua Hành lang kinh tế Đông Tây với điểm kếtthúc là Cảng biển Tiên Sa Nằm ngay trên một trong những tuyến đường biển vàđường hàng không quốc tế, thành phố Đà Nẵng có một vị trí địa lý đặc biệt thuận lợicho sự phát triển nhanh chóng và bền vững
Thành phố Đà Nẵng có diện tích tự nhiên là 1.283,42 km2; trong đó, các quận nộithành chiếm diện tích 241,51 km2, các huyện ngoại thành chiếm diện tích 1.041,91km2
II Điều kiện tự nhiên
1 Khí hậu thành phố Đà Nẵng
Đà Nẵng nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa điển hình, nhiệt độ cao và ítbiến động Khí hậu Đà Nẵng là nơi chuyển tiếp đan xen giữa khí hậu miền Bắc vàmiền Nam, với tính trội là khí hậu nhiệt đới điển hình ở phía Nam Mỗi năm có 2 mùa
rõ rệt: mùa mưa kéo dài từ tháng 8 đến tháng 12 và mùa khô từ tháng 1 đến tháng 7,thỉnh thoảng có những đợt rét mùa đông nhưng không đậm và không kéo dài
Nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng 25,90C; cao nhất vào các tháng 6, 7, 8, trungbình từ 28-300C; thấp nhất vào các tháng 12, 1, 2, trung bình từ 18-230C Riêng vùngrừng núi Bà Nà ở độ cao gần 1.500m, nhiệt độ trung bình khoảng 200C
- 4
Trang 5-Độ ẩm không khí trung bình là 83,4%; cao nhất vào các tháng 10, 11, trung bình từ85,67 - 87,67%; thấp nhất vào các tháng 6, 7, trung bình từ 76,67 - 77,33% Lượngmưa trung bình hàng năm là 2.504,57 mm/năm; lượng mưa cao nhất vào các tháng 10,
11, trung bình từ 550 - 1.000 mm/tháng; thấp nhất vào các tháng 1, 2, 3, 4, trung bình
từ 23-40 mm/tháng
Số giờ nắng bình quân trong năm là 2.156,2 giờ; nhiều nhất là vào tháng 5, 6, trungbình từ 234 đến 277 giờ/tháng; ít nhất là vào tháng 11, 12, trung bình từ 69 đến 165giờ/tháng
2 Tài nguyên
2.1 Tài nguyên đất
Đà Nẵng có diện tích đất tự nhiên là 1.255,53 km² Trong đó, đất lâm nghiệp chiếm512,21 km²; đất nông nghiệp là 117,22 km²; đất chuyên dùng là 385,69 km²; đất ở30,79 km² và đất chưa sử dụng 207,62 km² Đất ở Đà nẵng có các loại: cồn cát và đấtcát ven biển, đất mặn, đất phèn, đất phù sa, đất xám bạc màu và đất xám…
2.2 Tài nguyên rừng:
Diện tích đất lâm nghiệp trên địa bàn thành phố Đà Nẵng là 67.148 ha, tập trungchủ yếu ở phía Tây và Tây Bắc thành phố, bao gồm 3 loại rừng: rừng đặc dụng, rừngphòng hộ và rừng sản xuất Tỷ lệ che phủ rừng là 49,6% Trữ lượng gỗ khoảng 3 triệum³ Rừng của thành phố ngoài ý nghĩa kinh tế còn có ý nghĩa phục vụ nghiên cứu khoahọc, bảo vệ môi trường sinh thái và phát triển du lịch với các khu bảo tồn thiên nhiênđặc sắc như: Khu bảo tồn thiên nhiên Bà Nà, Khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà và Khuvăn hóa lịch sử môi trường Nam Hải Vân
2.3 Tài nguyên biển:
Vùng biển Đà Nẵng có ngư trường rộng trên 15.000 km², có các động vật biểnphong phú trên 266 giống loài, trong đó hải sản có giá trị kinh tế cao gồm 16 loài.Tổng trữ lượng hải sản các loại là 1.136.000 tấn Hàng năm có khả năng khai thác150.000 – 200.000 tấn Đà Nẵng còn có một bờ biển dài với nhiều bãi tắm đẹp nhưNon Nước, Mỹ Khê, Thanh Khê, Nam Ô với nhiều cảnh quan thiên nhiên kỳ thú.Quanh khu vực bán đảo Sơn Trà có những bãi san hô lớn, thuận lợi trong việc phát
- 5
Trang 6-triển các loại hình kinh doanh, dịch vụ, du lịch biển Ngoài ra vùng biển Đà Nẵng đangđược tiến hành thăm dò dầu khí, chất đốt…
2.4 Tài nguyên khoáng sản:
Khoáng sản ở Đà Nẵng gồm các loại: cát trắng, đá hoa cương, đá xây dựng, đáphiến lợp, cát, cuội, sỏi xây dựng, laterir, vật liệu san lấp, đất sét, nước khoáng Đặcbiệt, vùng thềm lục địa có nhiều triển vọng về dầu khí
2.5 Tài nguyên sông ngòi
Hệ thống sông ngòi ngắn và dốc, bắt nguồn từ phía Tây, Tây bắc và tỉnh QuảngNam
Địa hình đồi núi chiếm diện tích lớn, độ cao khoảng từ 700-1.500m, độ dốc lớn(>400), là nơi tập trung nhiều rừng đầu nguồn và có ý nghĩa bảo vệ môi trường sinhthái của thành phố
Hệ thống sông ngòi ngắn và dốc, bắt nguồn từ phía Tây, Tây bắc và tỉnh QuảngNam
Đồng bằng ven biển là vùng đất thấp chịu ảnh hưởng của biển bị nhiễm mặn, làvùng tập trung nhiều cơ sở nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ, quân sự, đất ở và cáckhu chức năng của thành phố
- 6
Trang 77
Trang 8-CHƯƠNG 2: TÌNH HÌNH KINH TẾ - VĂN HÓA, CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG TỪ NĂM 1975
ĐẾN NAY
I Khái quát tình hình Đà Nẵng trước năm 1975
Giữa thế kỷ XVI, khi Hội An đã là trung tâm buôn bán sầm uất ở phía Nam thì ĐàNẵng mới là vị trí tiền cảng, trung chuyển hàng hóa, tu sửa tàu thuyền
Đầu thế kỷ XVIII, vị trí tiền cảng của Đà Nẵng dần dần trở thành thương cảng thaythế cho Hội An, nhất là khi kỹ thuật đóng tàu ở châu Âu phát triển với những loại tàuthuyền lớn, đáy sâu, ra vào vịnh Đà Nẵng dễ dàng
Năm 1835, khi vua Minh Mạng có dụ: 'Tàu Tây chỉ được đậu tại cửa Hàn, còn các cửabiển khác không được tới buôn bán' thì Đà Nẵng trở thành một thương cảng lớn bậc nhấtmiền Trung Tiểu thủ công nghiệp địa phương phát triển với những ngành sửa chữa tàuthuyền, sơ chế nông lâm hải sản; dịch vụ thương mại cũng phát đạt
Sau khi xâm chiếm toàn bộ đất nước ta vào năm 1889, thực dân Pháp tách Đà Nẵngkhỏi Quảng Nam và đổi tên thành Tourane, chịu sự cai quản trực tiếp của Toàn quyềnĐông Dương
Đầu thế kỷ XX, Tourane được Pháp xây dựng trở thành một đô thị theo kiểu Tâyphương Cơ sở hạ tầng xã hội, kỹ thuật sản xuất được đầu tư Các ngành nghề sản xuất
và kinh doanh được hình thành và phát triển: Sản xuất nông nghiệp, tiểu thủ côngnghiệp, chế biến hàng xuất khẩu (chè, lương thực, thực phẩm, nước ngọt, nước đá,rượu, nước mắm, cá khô), sửa chữa tàu thuyền, kinh doanh dịch vụ Cùng với HảiPhòng và Sài Gòn, Tourane trở thành trung tâm thương mại quan trọng của cả nước Năm 1950, Pháp trao trả Đà Nẵng cho chính quyền Bảo Đại
Tháng 3/1965 các đơn vị thủy quân lục chiến Mỹ đổ bộ vào Đà Nẵng và thiết lập ởđây một căn cứ quân sự hỗn hợp lớn Năm 1967, Đà Nẵng được Mỹ ngụy ấn định làthành phố trực thuộc Trung ương và xác định mục tiêu xây dựng Đà Nẵng thành trungtâm chính trị, quân sự, văn hóa cho vùng I và II chiến thuật Mỹ cho xây dựng ở ĐàNẵng các căn cứ quân sự và kết cấu hạ tầng: sân bay, cảng, kho bãi, đường sá, côngtrình công cộng, cơ sở thông tin liên lạc, lập tín dụng ngân hàng Khu kỹ nghệ Hòa
- 8
Trang 9-Khánh sản xuất oxygen, acetylene, bột giặt, xay xát, dệt ở thời kỳ này công nghiệpđược phát triển ở mức độ cao hơn: các khu kỹ nghệ thay thế cho công trường thủ công.Tuy nhiên, chiến tranh đã để lại hậu quả nặng nề, hàng trăm nghìn dân quê phải chạyvào các trại tỵ nạn, các khu ổ chuột đô thị; tệ nạn xã hội tăng nhanh, sản xuất khôngphát triển
Năm 1975, hòa bình lập lại, Đà Nẵng (là thành phố trực thuộc tỉnh Quảng Nam
-Đà Nẵng) bắt tay vào khôi phục những hậu quả nặng nề của cuộc chiến tranh Mặc dùcòn lắm khó khăn nhưng công cuộc phục hồi và phát triển thành phố đã đạt nhiềuthành quả, nhất là thời kỳ đổi mới, sau 1986
II Sự phát triển của đô thị Đà Nẵng từ năm 1975 đến nay
1 Kinh tế
Sau ngày giải phóng 30/4/1975, Đà Nẵng trở thành thành phố trực thuộc tỉnhQuảng Nam - Đà Nẵng, tiếp quản một nền kinh tế bị chiến tranh tàn phá nặng nề, phụthuộc vào viện trợ là chính Trước tình hình đó, Đảng bộ và nhân dân Đà Nẵng đã kịpthời đề ra các chủ trương khắc phục khó khăn, bắt tay khôi phục sản xuất, khuyếnkhích dân nhập cư không có việc làm trở về quê sản xuất, ổn định cuộc sống, giảm tảicác vấn đề bức xúc về xã hội tại đô thị để xây dựng và phát triển Trong 10 năm saugiải phóng (1975-1985), kinh tế - xã hội thành phố có những chuyển biến tích cực,bước đầu hình thành các ngành sản xuất công nghiệp và thương mại, đời sống nhiềuvùng được cải thiện, bộ mặt văn hóa - xã hội được nâng lên một bước Tuy nhiên, nềnkinh tế còn mang tính sản xuất nhỏ, chủ yếu là gia công dựa vào nguyên liệu nhậpkhẩu, trình độ trang thiết bị lạc hậu, năng suất lao động thấp, siêu lạm phát và khủnghoảng kinh tế xảy ra trên phạm vi cả nước, chất lượng các ngành văn hóa, y tế, giáodục còn nhiều yếu kém v.v
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986) là mốc lịch sử đánh dấu sự chuyểnhướng có ý nghĩa quyết định với đường lối đổi mới kinh tế, mở ra một thời kỳ pháttriển mới cho cả nước nói chung và thành phố Đà Nẵng nói riêng Sau hơn 10 năm đổimới 1986-1996, kinh tế - xã hội thành phố đạt được những thành tựu nhất định, tốc độtăng GDP bình quân giai đoạn 1986-1996 đạt 8,15%/năm với tổng sản phẩm xã hội(GDP, giá hiện hành) năm 1996 đạt 2.298 tỷ đồng, tăng 2,4 lần so với năm 1985 Đây
- 9
Trang 10-cũng là giai đoạn các doanh nghiệp nhà nước phát triển mạnh về số lượng và đóng vaitrò chủ đạo trong nền kinh tế, cụ thể: về cơ cấu GDP, khối doanh nghiệp Nhà nước(DNNN) chiếm 27,5%; nộp ngân sách Nhà nước (NSNN) chiếm 66,1% tổng thu thuế,phí trên địa bàn và đã có những đóng góp lớn vào quá trình phát triển nông nghiệp -nông thôn Khu vực kinh tế tư nhân, kinh tế cá thể cũng có tốc độ tăng trưởng khá,đóng góp đáng kể vào giải quyết việc làm và nâng cao đời sống cho nhân dân.
Ngày 1/1/1997, Đà Nẵng trở thành thành phố trực thuộc Trung ương theo Nghịquyết kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa IX và bắt đầu thời kỳ phát triển mới Từ đó đếnnay, lãnh đạo và nhân dân Đà Nẵng đã chung sức, chung lòng quán triệt và thực hiệnđường lối đổi mới của Đảng, phát huy truyền thống cách mạng kiên cường, năng động,sáng tạo, tập trung khai thác tiềm năng nội ngoại lực, khơi dậy nguồn lực trong dân,đầu tư xây dựng nhiều công trình trọng điểm nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hộithành phố; đồng thời chủ động tháo gỡ, khắc phục khó khăn, vượt qua thách thức đểxây dựng, phát triển Đà Nẵng thành một thành phố trung tâm trên các lĩnh vực chínhtrị, kinh tế, văn hoá, xã hội toàn khu vực miền Trung và cả nước
Giai đoạn 1997-2010, kinh tế - xã hội thành phố phát triển có tính đột phá, tạođược thế và lực, cũng như xác lập được vị thế của Đà Nẵng trên cả nước, khu vực vàquốc tế Những thành tựu đáng kể đó là: tổng sản phẩm quốc nội (GDP, giá so sánhnăm 1994) tăng bình quân 11,4%/năm, trong đó: dịch vụ tăng 9,3%/năm, công nghiệp
- xây dựng tăng 15,3%/năm; cơ cấu kinh tế, cơ cấu đầu tư chuyển dịch đúng địnhhướng “Công nghiệp - Dịch vụ - Nông nghiệp”, đồng thời định hướng để chuyển dịchsang hướng “Dịch vụ - Công nghiệp - Nông nghiệp” từ sau năm 2010; thu nhập bìnhquân đầu người năm sau cao hơn năm trước với GDP bình quân (giá hiện hành) năm
2010 đạt 33,2 triệu đồng/người, gấp 7 lần so với năm 1997 và gấp 1,7 lần so với bìnhquân cả nước (2010); tổng vốn đầu tư phát triển trên địa bàn tăng 20,5%/năm Cũngtrong giai đoạn này, Đà Nẵng được công nhận là đô thị loại I cấp quốc gia (năm 2003)
và được Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết 33-NQ/TW về “Xây dựng và phát triểnthành phố Đà Nẵng trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hóa” Đây vừa là động lực,vừa là điều kiện thuận lợi để thành phố huy động các nguồn lực xã hội cho đầu tư, xâydựng và phát triển
- 10
Trang 11-Cụ thể:
Năm 1997, Đà Nẵng nhìn chung đã có ngành công nghiệp khá mạnh so các tỉnhMiền Trung-Tây Nguyên, đến cuối 1996 Đà Nẵng có 149 doanh nghiệp công nghiệptrong đó 35 doanh nghiệp Nhà nước với tổng số vốn chiếm 21,29%, vốn DN ngoàiquốc doanh chiếm 16,65%, vốn doanh nghiệp FDI chiếm 62,06% Ngành công nghiệp
đã có những sản phẩm chủ lực như: Xi măng, bia, vải lụa thành phẩm, quần áo maysẵn, xăm lốp xe đạp ô tô, giấy, nhựa đã có sức cạnh tranh trên thị trường và xuấtkhẩu Ngành thương mại hoạt động cũng khá vì Đà Nẵng tập trung nhiều doanhnghiệp thương mại kinh tế Nhà nước có vốn lớn, hoạt động bán buôn phân phối hànghóa và giao lưu xuất khẩu cho cả vùng, bán lẻ cũng khá phát triển Tuy nhiên kinh tếphát triển chưa bền vững, so hai đầu đất nước còn nhỏ bé; các ngành du lịch, dịch vụquy mô còn nhỏ, chất lượng các dịch vụ chưa cao, cơ sở hạ tầng tuy có được đầu tưnhưng còn bất cập so với yêu cầu phát triển trước mắt cũng như lâu dài, hoạt động đốingoại chưa tương xứng với điều kiện và tiềm năng của thành phố, nông nghiệp có giátrị hàng hóa nông sản thấp, việc chuyển dịch có cấu chưa tạo chuyển biến đáng kể.Trước vai trò xây dựng thành phố phát triển, kết nối các tỉnh miền trung, động lựcphát triển cả vùng kinh tế Đà Nẵng được sự hỗ trợ của cả Hệ thống chính trị, sự đồngthuận của nhân dân sau 5 năm thành lập đã có những đổi mới tích cực, đặc biệt đượcđánh dấu bằng sự kiện năm 2000, Cầu Sông Hàn được thay thế cho bến phà bao nămnối hai bờ sông Hàn, tạo thông thương giữa các cụm dân cư hai bờ sông, mở hướng đimới cho Đà Nẵng, phát triển du lịch và dịch vụ, các khu công nghiệp được quy hoạch
và triển khai xây dựng
Ngày 16 tháng 10 năm 2003, Bộ Chính trị đã ra Nghị quyết số 33-NQ/TW về “Xâydựng và phát triển thành phố Đà Nẵng trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đấtnước” Đây là một sự kiện có ý nghĩa to lớn, đánh dấu chặng đường phát triển mới củathành phố Đà Nẵng Nghị quyết 33-NQ/TW chỉ rõ định hướng phát triển thành phố ĐàNẵng : “Xây dựng thành phố Đà Nẵng trở thành một trong những đô thị lớn của cảnước; là trung tâm kinh tế - xã hội lớn của miềm Trung với vai trò là trung tâm côngnghiệp, thương mại, du lịch và dịch vụ; là thành phố cảng biển, đầu mối giao thôngquan trọng về trung chuyển vận tải trong nước và quốc tế; trung tâm bưu chính - viễn
- 11
Trang 12-thông, tài chính - ngân hàng; một trong những trung tâm văn hóa thể thao, giáo dụcđào tạo và khoa học công nghệ của miền Trung; là địa bàn giữ vị trí chiếm lược quantrọng về quốc phòng, an ninh của khu vực miềm Trung và cả nước”, Ban Thường vụThành ủy thành phố Đà Nẵng nhanh chóng triển khai quán triệt và tổ chức thực hiệnNghị quyết 33-NQ/TW của Bộ Chính trị, xây dựng và ban hành Quy hoạch tổng thểphát triển kinh tế xã hội đến năm 2020.
Chiến lược quy hoạch phát triển kinh tế-xã hội đến năm 2020 với mục tiêu và cácchỉ tiêu chủ yếu nêu trên được triển khai thực hiện trong các kỳ Kế hoạch phát triểnkinh tế-xã hội 5 năm 2001-2005, 5 năm 2006-2010, 5 năm 2011-2015
Trong 18 năm thành phố trực thuộc trung ương và 11 năm thực hiện Nghị quyết33-NQ/TW của Bộ chính trị, với nỗ lực cao của cả hệ thống chính trị và sự đồngthuận, nhất trí của toàn dân, thành phố đã tranh thủ được thời cơ, thuận lợi, vượt quakhó khăn, thách thức nên tình hình kinh tế-xã hội Đà Nẵng đã có những biến đổi quantrọng, đạt được nhiều thành tựu mới; nhưng đồng thời cũng phát sinh và bộc lộ rõhơn một số mặt hạn chế và bất cập, có thể khái quát bằng một số chỉ tiêu thống kê địnhlượng dưới đây
Kinh tế liên tục tăng trưởng với tốc độ tăng tương đối khá, bước vào nhóm cácthành phố đang phát triển có mức thu nhập khá, cơ cấu kinh tế chuyển đổi tích cực,một số lĩnh vực, một số mặt đã có vị trí cao so cả nước
Tổng sản phẩm quốc nội trên địa bàn (GRDP) thành phố Đà Nẵng năm 2014 tínhtheo giá so sánh 2010, ước tính tăng 41 lần so năm 1976 (sau 39 năm), tăng 4,5 lần sonăm 1997 (sau 18 năm), 1997-2014 bình quân hàng năm tăng 10,56% Trong đó tăngnhanh thời kỳ đầu là ngành công nghiệp, sau đó là ngành dịch vụ
Bảng 1: Tốc độ tăng GRDP bình quân năm qua các thời kỳ (%):
nghiệp và tiểu thủ công nghiệp
Trang 13tế hàng năm đã có nhiều thay đổi, mức tăng trưởng nhanh hơn ở mức 2 con số, thời kỳ2010-2014, do suy thoái kinh tế chung, tốc độ tăng trưởng còn 9,72%/năm.
Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, năm 1976 cơ cấu nông công nghiệp-dịch vụ là: 21,0% - 33,1% - 46,0%; năm 1997 cơ cấu dịch vụ - côngnghiệp - nông nghiệp là: 55,1%-35,2%-9,7%; năm 2010 cơ cấu là: 56,7%-40,3%-3,0%, năm 2014 ước là: 61,1%-36,3%-2,62%
nghiệp-Dân số khu vực thành thị năm 2014 là gần 88 vạn dân chiếm 87,3 % tổng dân sốtoàn thành phố, tăng 65,5% so năm 1997 ( dân số thành thị hơn 53 vạn dân, chiếm79% tổng dân số toàn thành phố), tăng 1,84 lần so năm 1976
Lực lượng lao động xã hội năm 1997 của thành phố là 296 nghìn người, chiếm44,01% dân số, trong đó số lao động có việc làm là 279,9 nghìn người, chiếm 94,58%lực lượng lao động Đến năm 2014 lực lượng lao động xã hội là 538,17 nghìn người,chiếm 53,41% dân số, trong đó số lao động có việc làm gần 519 nghìn người, chiếm96,43% lực lượng lao động
Tỷ lệ lao động qua đào tạo và trình độ nguồn nhân lực được nâng lên rõ rệt Năm
1997, lực lượng lao động qua đào tạo chiếm 21,81%, trong đó cao đẳng, đại học là9,12%; đến năm 2014 tỷ lệ lao động qua đào tạo tăng lên 64,87%, trong đó cao đẳng,
- 13
Trang 14-đại học là 38,57% Cơ cấu lao động các ngành kinh tế cũng thay đổi: Lao động khuvực nông nghiệp năm 1997 là 33,0% lao động chung xã hội, năm 2005 chiếm 19,39%,năm 2012 còn 8,2%; lao động khu vực công nghiệp năm 1997 là 29,8%, năm 2005 là37,16%, năm 2013 ở mức 22,9% , lao động khu vực dịch vụ năm 1997 là 37,83%, năm
2005 lên 43,45% và năm 2012 ở mức 68,9%
Kết cấu hạ tầng phát triển cả về quy mô và tốc độ, tạo nền tảng phát triển các lĩnhvực khác; công tác quản lý đô thị, tài nguyên và bảo vệ môi trường có chuyển biến tíchcực Các chủ trương về khai thác quỹ đất, tạo vốn để xây dựng kết cấu hạ tầng theophương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm” cùng với công tác đền bù, giải tỏa, táiđịnh cư được chỉ đạo thực hiện có hiệu quả, thể hiện sự năng động, sáng tạo của địaphương và sự đồng thuận cao của nhân dân thành phố
Vốn đầu tư tăng hàng năm, đã góp phần thúc đẩy kinh tế phát triển Về cơ cấu vốnđầu tư trong 7 năm 2008-2014 có 46% vốn xây lắp, 14,3% vốn bổ sung vốn lưu động;trong tổng vốn đầu tư có 23,46% đầu tư cho công nghiệp, 16,84% đầu tư cho xâydựng, 27,06% đầu tư cho hoạt động thương mại, vận tải, lưu trú, nhà hàng; 16,43%đầu tư cho kinh doanh bất động sản, nhà ở; còn lại 15,77% đầu tư cho các ngành dịch
Trang 15-là 8.134 tỷ, năm 2014 -là 10.131 tỷ đồng Trên cơ sở đầu tư tăng, các ngành kinh tếcũng có đà phát triển.
Giá trị sản xuất công nghiệp (giá so sánh 2010) năm 2014 đạt 37.270 tỷ đồng, tăng44,82% so năm 2010, tăng hơn 5,4 lần so năm 1997 Nhìn chung sản xuất công nghiệpluôn giữ được tốc độ tăng trưởng cao, bình quân thời kỳ 1976-2014 có tốc độ tăngbình quân 11,72%/năm; thời kỳ 1985-1997 là 10,13%/năm; thời kỳ 1997-2005 là14,48%/năm; thời kỳ 2005-2010 là 8,53%/năm; 2010-2014 tăng 9,7%/năm Thời kỳ2010-2014 một số ngành đạt tốc độ tăng trưởng bình quân năm cao, như: Sản xuất sảnphẩm điện tử, máy vi tính tăng 52,89%; Sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất tăng32,53%/năm; Sản xuất xe có động cơ 28,55%/năm; Sản xuất chế biến thực phẩm17,59%/năm; Sản xuất kim loại 16,04 %/năm; Sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu15,16%/năm; Sản xuất da và các sản phẩm có liên quan 13,04%/năm
Cuối năm 2003, Đà Nẵng có 5 khu công nghiệp, diện tích xây dựng và sử dụng478,3 ha (chiếm 34,16% diện tích quy hoạch) với 114 dự án đi vào hoạt động, 33 dự
án đăng ký triển khai Đến nay Thành phố Đà Nẵng hiện có 06 khu công nghiệp (gồm:
Đà Nẵng, Hòa Khánh, Dịch vụ thủy sản Đà Nẵng, Hòa Khánh mở rộng, Liên Chiểu,Hòa Cầm) với diện tích 970,50 ha đã đi vào hoạt động nằm ở các vị trí thuận lợi (sửdụng 61,6% diện tích quy hoạch), cách trung tâm khoảng 15km, có 343 doanh nghiệpđang hoạt động, trong đó có 74 doanh nghiệp FDI Trong đó, diện tích đất cho thuê tạiKhu công nghiệp Đà Nẵng và Khu Công nghiệp Hòa Khánh đã được lấp đầy Ngoài ra,thành phố còn 1 khu công nghệ thông tin tập trung với diện tích 131 ha và 1 khu côngnghệ cao có diện tích 1.010 ha đang được xây dựng Cơ sở hạ tầng của các khu côngnghiệp đã hoàn thiện, đáp ứng tốt nhu cầu sản xuất kinh doanh của các nhà đầu tưtrong và ngoài nước
Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản có xu hướng giảm dần tỷ trọng trong cơ cấuGRDP, do đô thị hóa, diện tích nuôi trồng giảm, lâm nghiệp hạn chế khai thác để bảo
vệ môi trường, tuy nhiên ngành nông nghiệp luôn được quan tâm đầu tư phát triển theohướng chiều sâu Năng suất cây trồng năm sau tăng cao hơn năm trước, chăn nuôi từngbước được tổ chức lại theo phương thức tập trung, với quy mô hợp lý, kiểm soát đượcdịch bệnh Ngành thủy sản được đầu tư hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật như xây dựng
- 15
Trang 16-khu công nghiệp dịch vụ chế biến thuỷ sản, cảng cá, âu thuyền trú bão, hỗ trợ vốn chongư dân nâng cấp tàu thuyền đánh bắt xa bờ, khắc phục thiên tai, địch họa Giá trị sảnxuất nông lâm nghiệp và thủy sản năm 2014 (giá so sánh 2010) ước đạt gần 2 nghìn tỷđồng, tăng 1,6 lần so với năm 1976, bằng 1,58 lần so năm 1997, bằng 1,09 lần so năm
2010 Ngành nông nghiệp và lâm nghiệp sản xuất giảm hơn so 1997: đến nay sản xuấtnông nghiệp chỉ bằng 95%, lâm nghiệp giảm 30% so năm 1997, riêng thủy sản đượcgiữ vững và tăng 1,5% so năm 1997
Các ngành dịch vụ phát triển mạnh về quy mô và đa dạng về loại hình, giá trị sảnxuất đạt tốc độ tăng trưởng 12,75%/năm góp phần lớn thúc đẩy tăng trưởng chung củakinh tế thành phố Những ngành dịch vụ có đóng góp cao cho sự tăng trưởng kinh tếtrong 18 năm qua là: Thương mại; Vận tải; lưu trú, ăn uống; thông tin-truyền thông,kinh doanh bất động sản, hoạt động tư vấn chuyên môn, hành chính; tài chính ngânhàng
Hạ tầng thương mại được đầu tư đồng bộ, hiện đại với 24 trung tâm thương mại vàsiêu thị; 88 chợ các loại theo hướng văn minh, lịch sự; hình thành các đường phốchuyên doanh, xen kẽ các siêu thị mini phục vụ khu du lịch Hệ thống kết cấu hạtầng dịch vụ du lịch được đầu tư đồng bộ, hoàn thiện cùng với việc đưa vào sử dụnghàng loạt các cơ sở lưu trú hiện đại, đảm bảo phục vụ lượng khách lớn du lịch trongnước và quốc tế trong các ngày lễ và mùa hè Quận III, làng rau, làng cá năm 1997,nay đã trở thành khu du lịch Sơn Trà, Ngũ Hành Sơn nổi tiếng trong nước và thế giới.Năm 2013, kim ngạch xuất khẩu hàng hoá thành phố vượt ngưỡng 1 tỷ USD Năm
2014 kim ngạch xuất khẩu hàng hoá ước đạt 1.126 triệu USD và tăng 6,3 lần so vớinăm 1997, 2,2 lần so năm 2000 và tăng 77,6% so năm 2010 Tốc độ tăng bình quânkim ngạch xuất khẩu hàng hoá thời kỳ 2010-2014 tăng 21,1%/năm Thị trường xuấtkhẩu của Đà Nẵng hiện nay chủ yếu là Nhật Bản, Hoa Kỳ, Hồng Kong, Philippene,Trung Quốc, Đức, Pháp
Các dịch vụ tài chính, tín dụng, ngân hàng, vận tải, tư vấn, bưu chính, viễn thông, y
tế, đào tạo phát triển theo hướng hiện đại, đáp ứng tốt hơn nhu cầu của sản xuất, dulịch, đời sống và hội nhập kinh tế quốc tế Hệ thống ngân hàng được mở rộng tạo điềukiện cho các thành phần kinh tế và người dân tiếp cận các dịch vụ ngân hàng, Hạ tầng
- 16
Trang 17-giao thông vận tải, bưu chính, viễn thông phát triển cao, hoạt động vận tải phát triểnkhá, với chất lượng dịch vụ ngày càng cao.
Đà Nẵng cũng là đơn vị hành chính trực thuộc trung ương có chỉ số năng lực cjnhtranh PCI đứng vị trí cao so cả nước, nhiều năm đứng vị trí thứ hai, vươn lên thứ nhất(2008-2010) và sau khi xuống hạng năm 2011 và 2012 (vị trí thứ 5 và 12) đã trở lại vịtrí đầu của cả nước (năm 2013)
Đời sống các tầng lớp dân cư tiếp tục được cải thiện; sự nghiệp văn hóa, giáo dục,
y tế và các lĩnh vực xã hội khác có những tiến bộ đáng kể Cùng với phát triển kinh tếđời sống xã hội hướng tới công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Lĩnh vực văn hoá - xã hội và đời sống thành phố Đà Nẵng đổi thay hướng đến vănminh, hiện đại Hoạt động giáo dục đào tạo phát triển nhanh đáp ứng nhu cầu đào tạocho khu vực và thu hút được lao động có trình độ và kỹ năng cho thành phố Ngành yđược đầu tư nâng cấp, mở rộng và xây mới bệnh viện giải quyết sự quá tải giườngbệnh, đáp ứng yêu cầu khám chữa bệnh cho các tỉnh Nam Trung bộ Hoạt động vănhọc - nghệ thuật - thể thao có nhiều chuyển biến tích cực; báo chí, xuất bản, phátthanh, truyền hình tiếp tục phát triển, thể dục thể thao quần chúng phát triển trên diệnrộng, góp phần nâng cao đời sống văn hóa, tinh thần của thành phố
Đà Nẵng hiện có 174 trường phổ thông với 79,8 nghìn giáo viên cơ hữu giảng dạy161,7 nghìn học sinh (gấp 2 lần số học sinh năm 1997); có 26 trường CNKT, THCN,
CĐ, ĐH trên địa bàn, với 4,5 nghìn giảng viên giảng dạy trên 150 nghìn sinh viên(tăng 40% so năm 2001) và đào tạo ra trường hàng năm hơn 33 nghìn sinh viên (gầngấp đôi số sinh viên tốt nghiệp năm 2001)
Trên địa bàn thành phố hiện có 92 cơ sở y tế, tăng 29 cơ sở so năm 1997, và tăng
23 cơ sở so năm 2005; trong đó tăng 13 bệnh viên so năm 1997 và 9 bệnh viện so năm
2005, Mở rộng các cơ sở y tế hàng năm nên số giường bệnh trên địa bàn đến nay có5.358 giường, tăng 1,55 lần so năm 1997, tăng 64% so năm 2005, gần đạt 6 bác sĩ trênvạn dân
- 17