Chế Độ Của Hệ Thống Điện: Hệ thống điện (HTĐ): Hệ thống điện là tập hợp các phần tử tham gia vào quá trình sản xuất, truyền tải và tiêu thụ năng lượng. Các phần tử của hệ thống điện được chia thành hai nhóm: Các phần tử tự lực làm nhiệm vụ sản xuất, biến đổi, truyền tải, phân phối và sử dụng điện năng như máy phát, đường dây tải điện và các thiết bị dùng điện. Các phần tử điều chỉnh làm nhiệm vụ điều chỉnh và biến đổi trạng thái hệ thống điện như: điều chỉnh kích từ máy phát đồng bộ, điều chỉnh tần số, bảo vệ rơle, máy cắt điện,… Mỗi phần tử của hệ thống điện được đặc trưng bởi các thông số, các thông số này được xác định về lượng bởi tính chất vật lý của các phần tử, sơ đồ liên lạc giữa chúng và nhiểu sự giản ước tính toán khác. Ví dụ: tổng trở, tổng dẫn của đường dây, hệ số biến áp, hệ số khuếch đại của bộ phận tự động điều chỉnh kích thích… Các thông số của các phần tử cũng được gọi là thông số của hệ thống điện. Nhiều thông số của hệ thống điện là các đại lượng phi tuyến, giá trị của chúng phụ thuộc vào dòng công suất, tần số,… như là X, Y, độ từ hóa,… trong phần lớn các bài toán thực tế có thể coi là hằng số và như vậy ta có hệ thống tuyến tính. Nếu tính đến sự biến đổi của các thông số ta có hệ thống phi tuyến, đây là một dạng phi tuyến của hệ thống điện, dạng phi tuyến này chỉ phải xét đến một số ít trường hợp như khi phải tính đến độ bão hòa của máy phát, máy biến áp trong các bài toán ổn định. Chế độ của hệ thống điện: Tập hợp các quá trình xảy ra trong hệ thống điện và xác định trạng thái làm việc của hệ thống điện trong một thời điểm hay một khoảng thời gian nào đó gọi là chế độ của hệ thống điện. Các quá trình nói trên được đặc trưng bởi các thông số U, I, P, Q, f, δ,… tại mọi thời điểm của hệ thống điện. Ta gọi chúng là các thông số chế độ, các thông số này khác với thông số hệ thống ở chỗ nó chỉ tồn tại khi hệ thống điện làm việc. Các thông số chế độ xác định hoàn toàn trạng thái làm việc của hệ thống điện. Các thông số chế độ quan hệ với nhau thông qua các thông số hệ thống điện, nhiều mối quan hệ này có dạng phi tuyến. Ví dụ: P = U2/R. Đó là dạng phi tuyến thứ hai của hệ thống điện, dạng phi tuyến này không thể bỏ qua trong các bài toán điện lực. Các chế độ của hệ thống điện được chia thành hai loại: Chế độ xác lập (CĐXL) là chế độ các thông số của nó dao động rất nhỏ xung quanh giá trị trung bình nào đó, thực tế có thể xem như các thông số này là hằng số. Trong thực tế không tồn tại chế độ nào mà trong đó các thông số của nó bất biến theo thời gian vì hệ thống điện bao gồm một số vô cùng lớn các phần tử, các phần tử này luôn luôn biến đổi khiến cho các thông số của chế độ cũng biến đổi không ngừng. Chế độ xác lập được chia thành: + Chế độ xác lập bình thường là chế độ vận hành bình thường của hệ thống điện. + Chế độ xác lập sau sự cố xảy ra khi đã loại trừ sự cố. + Chế độ sự cố xác lập là chế độ sự cố duy trì sau thời gian quá độ ví dụ như chế độ ngắn mạch duy trì… Chế độ quá độ là chế độ mà các thông số biến đổi rất nhiều. Chế độ quá độ gồm có: + Chế độ quá độ bình thường là các bước chuyển từ chế độ xác lập bình thường này sang chế độ xác lập bình thường khác. + Chế độ quá độ sự cố xảy ra sau sự cố. Yêu cầu đối với các chế độ của hệ thống điện: Chế độ xác lập bình thường: Đảm bảo chất lượng điện năng: điện năng cung cấp cho các phụ tải phải có chất lượng đảm bảo, tức giá trị của các thông số chất lượng (điện áp và tần số) phải nằm trong giới hạn được quy định bởi các tiêu chuẩn. Đảm bảo độ tin cậy: các phụ tải được cung cấp điện liên tục với chất lượng đảm bảo. Mức độ liên tục này phải đáp ứng được yêu cầu của các hộ dùng điện và điều kiện của hệ thống điện. Có hiệu quả kinh tế cao: chế độ thỏa mãn độ tin cậy và đảm bảo chất lượng điện năng được thực hiện với chi phí sản xuất điện, truyền tải và phân phối điện năng nhỏ nhất. Đảm bảo an toàn điện: phải đảm bảo an toàn cho người vận hành, người dùng điện và thiết bị phân phối điện. Chế độ xác lập sau sự cố: Các yêu cầu mục 1.0.3.1 được giảm đi nhưng chỉ cho phép kéo dài trong một thời gian ngắn, sau đó phải có biện pháp hoặc là thay đổi thông số của chế độ hoặc là thay đổi sơ đồ hê thống để đưa chế độ này về chế độ xác lập bình thường. Chế độ quá độ:
Trang 1VIỆN CÔNG NGHỆ THÔNG TIN - ĐIỆN - ĐIỆN TỬ
BÁO CÁO MÔN HỌC:
ỔN ĐỊNH HỆ THỐNG ĐIỆN
ĐỀ TÀI:
CÁC BIỆN PHÁP VỀ VẬN HÀNH TRONG VIỆC CẢI THIỆN ỔN ĐỊNH
HỆ THỐNG ĐIỆN
Họ và tên GVHD : ThS Biện Văn Khuê Thực hiện : Nhóm 6
Họ và tên SVTH : Nguyễn Minh Tân
Nguyễn Anh Tuấn Huỳnh Minh Hoàng
Trang 2ĐÁNH GIÁ CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN
1 Thái độ tác phong và nhận thức trong quá trình thực hiện đồ án:
2 Hình thức, thể thức trình bày đồ án:
3 Kiến thức chuyên môn:
4 Đánh giá khác:
5 Đánh giá kết quả:
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN
ThS Biện Văn Khuê
Trang 3LỜI CÁM ƠN
Chúng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy Biện Văn Khuê, trên cương vị
là người hướng dẫn đề tài, đã tận tình giúp đỡ chúng tôi trong suốt quá trình thực hiệnbáo cáo
Chúng tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô trường Đại Học Bà Rịa - VũngTàu đã cung cấp cho chúng tôi những kiến thức quý báu làm nền tảng cho nhữngnghiên cứu của chúng tôi trong báo cáo
Chúng tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn đến hệ thống thông tin, các nguồnthông tin, các tài liệu, bài nghiên cứu, tiểu luận, bài viết, sách báo và mọi nguồn thôngtin trong và ngoài nước Việt Nam đã tạo điều kiện để chúng tôi triển khai đề tài trongsuốt thời gian qua
Chúng con xin gửi lời tri ân sâu sắc tới cha mẹ, những người đã sinh thành, chỉdạy, nuôi dưỡng và quan tâm chăm sóc để chúng con có được ngày hôm nay
Và sau cùng, xin cảm ơn tất cả bạn bè, đồng nghiệp đã luôn có những hỗ trợ,động viên, giúp đỡ trong những năm tháng trên giảng đường đại học và trong quátrình hoàn thành báo cáo này./
Vũng Tàu, ngày tháng 10 năm 2017 Thực Hiện
Nhóm 6
Trang 4MỤC LỤC
Trang
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
0.1 Đặt Vấn Đề 1
0.2 Phương Pháp Nghiên Cứu 1
0.3 Tính Cần Thiết Của Đề Tài 1
0.4 Mục Tiêu, Nhiệm Vụ Và Giới Hạn Của Đề Tài 1
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ ỔN ĐỊNH HỆ THỐNG ĐIỆN 3
1.0 Chế Độ Của Hệ Thống Điện 3
1.0.1 Hệ thống điện (HTĐ) 3
1.0.2 Chế độ của hệ thống điện 4
1.0.3 Yêu cầu đối với các chế độ của hệ thống điện 5
1.0.3.1 Chế độ xác lập bình thường 5
1.0.3.2 Chế độ xác lập sau sự cố 5
1.0.3.3 Chế độ quá độ 6
CHƯƠNG II: CÁC BIỆN PHÁP NÂNG CAO TÍNH ỔN ĐỊNH 7
2.1 Cải Thiện Đặc Tính Của Những Phần Tử Chính Trong Hệ Thống Điện 7
2.1.1 Máy phát điện 7
2.1.1.1 Cải tạo tham số của máy phát điện 7
2.1.1.2 Hệ số cosφ của các máy phát điện 8
2.1.2 Thiết bị tự động điều chỉnh kích thích 10
2.1.2.1 Nguyên lý cấu tạo 10
2.1.2.2 Tác động của thiết bị từ động điều chỉnh kích thước đến ổn định tĩnh12 2.1.2.3 Ảnh hưởng đến ổn định động 13
2.1.3 Máy cắt điện 14
2.1.3.1 Cắt nhanh sự cố 14
Trang 52.1.3.2 Tự động đóng lại đường dây tải điện 16
2.1.4 Đường dây tải điện: 18
CHƯƠNG III: CÁC BIỆN PHÁP VẬN HÀNH 21
3.0 Các Biện Pháp Về Vận Hành 21
3.1 Cân Bằng Công Suất 21
3.2 Các Yếu Tố Cơ Bản Gây Mất Ổn Định Trong Hệ Thống Điện 23
3.3 Các Biện Pháp Vận Hành 24
3.3.1 Các biện pháp chung 24
3.3.2 Các biện pháp cụ thể 24
3.3.2.1 Cắt nhanh ngắn mạch 24
3.3.2.2 Điều chỉnh kích từ và động cơ sơ cấp 24
3.3.2.3 Điều khiển dung lượng bù dọc và bù ngang 25
CHƯƠNG IV: KẾT LUẬN 28
4.1 Vấn Đề Đạt Được 28
4.2 Hạn Chế 29
TÀI LIỆU THAM KHẢO 30
Trang 60.2 Phương Pháp Nghiên Cứu:
Do đặc thù của đề tài nên việc tìm hiểu tập trung đi vào nghiên cứu từ cácnguồn thông tin Chúng tôi chọn phương án nghiên cứu dựa trên các nguồn tàiliệu phong phú và kiến thức có được kết hợp với kiến thức học được của mônhọc để hoàn thiện đề tài
Qua việc tìm hiểu sách, báo, internet, bạn bè chia sẻ và kiến thức đã đượchọc tôi tìm hiểu vấn đề được giao và tổng hợp thành một bài báo cáo nhằm phục
vụ nhu cầu tìm hiểu về Các Biện Pháp Về Vận Hành Trong Việc Cải Thiện Ổn
Định Hệ Thống Điện nhằm góp phần phục vụ nhu cầu đi lên của cuộc sống.
0.3 Tính Cần Thiết Của Đề Tài:
Việc nghiên cứu Các Biện Pháp Về Vận Hành Trong Việc Cải Thiện Ổn Định Hệ Thống Điện xưa nay luôn được sự quan tâm mạnh mẽ của bên điềuhành hệ thống điện quốc gia sao cho ngày một ưu việt hơn, chính xác hơn
0.4 Mục Tiêu, Nhiệm Vụ Và Giới Hạn Của Đề Tài:
Mục tiêu, nhiệm vụ:
Nhằm hỗ trợ việc xử lí các biện pháp vận hành sao cho tối ưu nhất
Giới hạn:
Đề tài này tìm hiểu Các Biện Pháp Về Vận Hành Trong Việc Cải Thiện
Ổn Định Hệ Thống Điện Không bao hàm tất cả các đề tài khác và khôngchuyên sâu như một người nghiên cứu và phân tích nhiều năm hay kiến thứcuyên thâm Những vấn đề tìm hiểu còn có giới hạn kiến thức
Trang 7CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ
ỔN ĐỊNH HỆ THỐNG ĐIỆN1.0 Chế Độ Của Hệ Thống Điện:
1.0.1. Hệ thống điện (HTĐ):
Hệ thống điện là tập hợp các phần tử tham gia vào quá trình sản xuất,truyền tải và tiêu thụ năng lượng
Các phần tử của hệ thống điện được chia thành hai nhóm:
Các phần tử tự lực làm nhiệm vụ sản xuất, biến đổi, truyền tải,phân phối và sử dụng điện năng như máy phát, đường dây tải điện và cácthiết bị dùng điện
Các phần tử điều chỉnh làm nhiệm vụ điều chỉnh và biến đổi trạngthái hệ thống điện như: điều chỉnh kích từ máy phát đồng bộ, điều chỉnh tần
số, bảo vệ rơle, máy cắt điện,…
Mỗi phần tử của hệ thống điện được đặc trưng bởi các thông số, cácthông số này được xác định về lượng bởi tính chất vật lý của các phần tử, sơ
đồ liên lạc giữa chúng và nhiểu sự giản ước tính toán khác Ví dụ: tổng trở,tổng dẫn của đường dây, hệ số biến áp, hệ số khuếch đại của bộ phận tựđộng điều chỉnh kích thích… Các thông số của các phần tử cũng được gọi
là thông số của hệ thống điện
Nhiều thông số của hệ thống điện là các đại lượng phi tuyến, giá trịcủa chúng phụ thuộc vào dòng công suất, tần số,… như là X, Y, độ từ hóa,
… trong phần lớn các bài toán thực tế có thể coi là hằng số và như vậy ta có
hệ thống tuyến tính Nếu tính đến sự biến đổi của các thông số ta có hệthống phi tuyến, đây là một dạng phi tuyến của hệ thống điện, dạng phituyến này chỉ phải xét đến một số ít trường hợp như khi phải tính đến độbão hòa của máy phát, máy biến áp trong các bài toán ổn định
1.0.2. Chế độ của hệ thống điện:
Tập hợp các quá trình xảy ra trong hệ thống điện và xác định trạngthái làm việc của hệ thống điện trong một thời điểm hay một khoảng thờigian nào đó gọi là chế độ của hệ thống điện
Các quá trình nói trên được đặc trưng bởi các thông số U, I, P, Q, f, ,
… tại mọi thời điểm của hệ thống điện Ta gọi chúng là các thông số chế độ,các thông số này khác với thông số hệ thống ở chỗ nó chỉ tồn tại khi hệ
Trang 8thống điện làm việc Các thông số chế độ xác định hoàn toàn trạng thái làmviệc của hệ thống điện.
Các thông số chế độ quan hệ với nhau thông qua các thông số hệthống điện, nhiều mối quan hệ này có dạng phi tuyến Ví dụ: P = U2/R
Đó là dạng phi tuyến thứ hai của hệ thống điện, dạng phi tuyến nàykhông thể bỏ qua trong các bài toán điện lực
Các chế độ của hệ thống điện được chia thành hai loại:
Chế độ xác lập (CĐXL) là chế độ các thông số của nó daođộng rất nhỏ xung quanh giá trị trung bình nào đó, thực tế có thểxem như các thông số này là hằng số
Trong thực tế không tồn tại chế độ nào mà trong đó các thông số của
nó bất biến theo thời gian vì hệ thống điện bao gồm một số vô cùng lớn cácphần tử, các phần tử này luôn luôn biến đổi khiến cho các thông số của chế
độ cũng biến đổi không ngừng
Chế độ xác lập được chia thành:
+ Chế độ xác lập bình thường là chế độ vận hành bình thườngcủa hệ thống điện
+ Chế độ xác lập sau sự cố xảy ra khi đã loại trừ sự cố
+ Chế độ sự cố xác lập là chế độ sự cố duy trì sau thời gian quá
+ Chế độ quá độ sự cố xảy ra sau sự cố
1.0.3. Yêu cầu đối với các chế độ của hệ thống điện:
1.0.3.1 Chế độ xác lập bình thường:
Đảm bảo chất lượng điện năng: điện năng cung cấp chocác phụ tải phải có chất lượng đảm bảo, tức giá trị của các thông sốchất lượng (điện áp và tần số) phải nằm trong giới hạn được quy địnhbởi các tiêu chuẩn
Trang 9Đảm bảo độ tin cậy: các phụ tải được cung cấp điện liêntục với chất lượng đảm bảo Mức độ liên tục này phải đáp ứng đượcyêu cầu của các hộ dùng điện và điều kiện của hệ thống điện.
Có hiệu quả kinh tế cao: chế độ thỏa mãn độ tin cậy vàđảm bảo chất lượng điện năng được thực hiện với chi phí sản xuấtđiện, truyền tải và phân phối điện năng nhỏ nhất
Đảm bảo an toàn điện: phải đảm bảo an toàn cho ngườivận hành, người dùng điện và thiết bị phân phối điện
1.0.3.2 Chế độ xác lập sau sự cố:
Các yêu cầu mục 1.0.3.1 được giảm đi nhưng chỉ cho phép kéodài trong một thời gian ngắn, sau đó phải có biện pháp hoặc là thayđổi thông số của chế độ hoặc là thay đổi sơ đồ hê thống để đưa chế độnày về chế độ xác lập bình thường
1.0.3.3 Chế độ quá độ:
Chấm dứt một cách nhanh chóng bằng chế độ xác lập bìnhthường hay chế độ xác lập sau sự cố
Trong thời giá quá độ các thông số biến đổi trong giới hạncho phép như: giá trị của dòng điện ngắn mạch, điện áp tại các nút củaphụ tải khi ngắn mạch…
Các yêu cầu của hệ thống điện được xét đến khi thiết kế vàđược đảm bảo bằng cách điều chỉnh thường xuyên trong quá trình vậnhành hệ thống điện
Trang 10CHƯƠNG II: CÁC BIỆN PHÁP NÂNG CAO TÍNH ỔN ĐỊNH
Việc đảm bảo cho hệ thống điện được ổn định trong mọi điều kiện có tầmquan trọng đặc biệt nhằm đảm bảo việc cung cấp điện năng liên tục cho các hộtiêu thụ
Trong thực tế nhiều khi bản thân hệ thống điện với các thiết bị cơ bảnkhông đủ để đảm bảo ổn định, không đủ độ dự trữ ổn định cần thiết, người taphải dùng các biện pháp nhằm tăng cường ổn định của hệ thống điện
Các biện pháp nâng cao ổn định có thể chia làm hai loại:
Cải thiện các phần tử chính của hệ thống điện
Thêm vào hệ thống các phân tử phụ nhằm nâng cao khả năng ổn địnhcủa hệ thống
2.1 Cải Thiện Đặc Tính Của Những Phần Tử Chính Trong Hệ Thống Điện:
2.1.1 Máy phát điện:
2.1.1.1 Cải tạo tham số của máy phát điện:
Ta thấy rằng trong trường hợp không có thiết bị từ động điềuchỉnh kích thước, nếu giảm Xd thì sẽ tăng được dự trữ ổn định tĩnh.Đối với ổn định động thì việc giảm Xd sẽ có tác dụng tốt
Trang 11Tuy nhiên nếu muốn tăng Tj, giảm X’d thì giá máy phát điện tănglên nhiều, do đó chỉ có thể làm các máy phát thủy điện có thông sốtheo yêu cầu, còn các máy phát nhiệt điện thì sản xuất hàng loạt cácthông số giống nhau.
Cần chú ý rằng ở các máy phát điện, nếu sử dụng thiết bị từ độngđiều chỉnh kích thước loại mạnh thì hiệu quả của việc cải thiện cácthông số của chúng sẽ giảm đi nhiều
2.1.1.2 Hệ số cosφ của các máy phát điện:
Hệ số cosφ của máy phát điện có ảnh hưởng nhiều đến đặc tínhcông suất của nó Ta hãy xét đồ thị véc tơ sau đây:
Nếu giả thiết công suất tác dụng phát ra là không đổi thì: P =U.I cosφ = hs (U=hs)
Do đó: I.cosφ = Ia = hs và đoạn thẳng I.Xht.cosφ = Ia.Xht cũngkhông đổi
Vì thế nếu ta chỉ thay đổi cosφ bằng cách thay đổi công suấtphản kháng thì đầu mút vector dòng điện sẽ trượt trên BB’ và vector E
sẽ trượt trên AA’ để giữ cho Ia và Ia.Xht là hằng số
Trang 12Ví dụ: Nếu ta tăng cosφ bằng cách giảm I1 xuống I2 thì sức điệnđộng E1 sẽ giảm xuống E2 Như vậy đường đặc tính công suất E2 sẽgiảm thấp hơn E1 và độ dự trữ ổn định tĩnh sẽ giảm đi.
Khi cosφ = 1 thì thì sức điện động sẽ là E3, nếu cosφ đổi dấu thì
E sẽ giảm tiếp đến khi φ = 900 thì vector B trùng với trục 0A, đạt giátrị nhỏ nhất ứng với giới hạn ổn định
Trên hình 4.4 là quan hệ Pmax và cosφ máy phát điện
Qua phân tích trên ta thấy rằng nếu cosφ của máy phát điện càngcao thì càng không lợi về ổn định Nhưng sản xuất máy phát vớicosφ thấp thì cùng một giá trị của công suất tác dụng P côngsuất biểu kiến sẽ lớn vì S =P/cosφ làm cho máy phát đắt tiền, trongthực tế người ta chọn giá trị thích hợp của cosφ
Trang 132.1.2 Thiết bị tự động điều chỉnh kích thích:
2.1.2.1 Nguyên lý cấu tạo:
Trên hình 4.5 là sơ đồ nguyên lý của thiết bị từ động điều chỉnh
kích thước
Thiết bị từ động điều chỉnh kích thước có bộ phận điều chỉnh 1
và 2 Bộ phận 2 làm nhiệm vụ điều chỉnh lúc bình thường nhằm giữcho sức điện động E nào đó là hằng số Bộ phận 2 là bộ phận cườnghành kích thích, tác động lúc sự cố, có tác dụng giữ cho điện áp trên
cực máy phát điện không bị giảm thấp quá (hình 4.5a).
Thiết bị từ động điều chỉnh kích thước có 3 phần tử chủ yếu(hình 4.5b, c): 1 là phần tử biến đổi - biến đổi tín hiệu sơ cấp thành tínhiệu đầu vào của thiết bị từ động điều chỉnh kích thước, 2 là bộ phận
đo lường, 3 là bộ phận khuếch đại - khuyếch đại tín hiệu điều khiển
Hình 4.5Thiết bị từ động điều chỉnh kích thước có 2 loại:
Trang 141 Loại tác động tỷ lệ, tác động theo độ lệch của điện áp (ΔU)
hay dòng điện (ΔI) (hình 4.5b) Chính vì vậy nên thiết bị từ động điều
chỉnh kích thước loại này không thể giữ cho điện áp trên cực máy phát
UF là hằng số, vì khi đó ΔU = 0, tín hiệu điều chỉnh không có và UF
lại tụt xuống Thiết bị từ động điều chỉnh kích thước loại này chỉ giữđược sức điện động Ex đặt sau XFx, thường là sức điện động quá độ E'đặt sau X'd là hằng số
2 Loại thiết bị từ động điều chỉnh kích thướC tác động mạnh
(hình 4.5c) là loại hiện đại, ngoài độ lệch điện áp và dòng điện nó còn
tác động theo đạo hàm bậc 1 và 2 (bộ phận a, b) Vì thế nó có tác độngmạnh và có thể giữ cho UF là hằng số, khi ΔU =0 thì đạo hàm củadU/dt ≠ 0 cho nên thiết bị từ động điều chỉnh kích thước vẫn tác động
2.1.2.2 Tác động của thiết bị từ động điều chỉnh kích thước đến
ổn định tĩnh:
Ở đây chỉ nhấn mạnh thêm các yêu cầu với thiết bị từ động điềuchỉnh kích thước
Trang 15Yêu cầu thứ 1: là tác động nhanh, tức là độ tăng của sức điện
động Eq theo thời gian phải lớn, tốc độ tăng này lại phụ thuộc vào tốc
độ tăng của điện áp đặt trên cuộn kích thích Uk Trên hình 4.6 chỉ rõ
ảnh hưởng của độ tăng của Eq đến đường đặc tính công suất, Eq tăngcàng nhanh thì đường đặc tính công suất càng dốc và Pmax càng lớn
Độ tăng của Uk hiện nay đạt khoảng 200V/s, còn Eq là 2000 3000V/s
-Yêu cầu thứ 2: là Uk max hay Eq max phải cao, vì điện áp của cuộnkích thích cũng như Eq không thể tăng vô hạn nó chỉ có thể tăng đếngiá trị cực đại cho phép Eq max và Uk max
Khi Eq đã đạt Eq max thì đường đặc tính công suất thôi không tăngnữa mà sẽ trượt theo đường đặc tính công suất với Eq max , cho nên Eq
càng cao thì Pmax sẽ càng lớn
Yêu cầu thứ 3: là thiết bị từ động điều chỉnh kích thước phải rất
nhạy không có vùng chết tức là vùng tuy đã có tín hiệu nhưng thiết bị
từ động điều chỉnh kích thước vẫn không tác động, nhờ có độ nhậy rấtcao máy phát điện có thể làm việc được ở vùng ổn định nhân tạo
2.1.2.3 Ảnh hưởng đến ổn định động:
Ảnh hưởng của thiết bị từ động điều chỉnh kích thước đến ổnđịnh động không đáng kể bởi vì quá trình quá độ cơ điện xảy ra rấtnhanh (0,1 - 0,2s) còn quá trình quá độ điện từ lại xảy ra chậm (1s).Tuy vậy trong trường hợp cắt mạch chậm thì bộ phận cườnghành kích thích của thiết bị từ động điều chỉnh kích thước cũng có tác
dụng và giảm diện tích gia tốc (hình 4.7).
Trang 16Nếu không có thiết bị từ động điều chỉnh kích thước tức là E’=
hs thì diện tích gia tốc là F 1233'44' và diện tích hãm tốc là F 4'56, khi
có thiết bị từ động điều chỉnh kích thước thì E' sẽ tăng lên đến E'max
khi đó Fgt = F 12344' và Fht = F 4'5786
Độ tăng của diện tích hãm tốc cũng phụ thuộc vào tốc độ tăngcủa E' và giá trị E'max cho nên đối với ổn định động yêu cầu cũng làtăng nhanh E' và E'max phải cao