1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TÀI LIỆU THAM KHẢO KINH tế CHÍNH TRỊ bảo đảm KINH tế CHO QUỐC PHÒNG TRONG nền KINH tế THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG xã hội CHỦ NGHĨA ở VIỆT NAM HIỆN NAY

27 258 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 243 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1.1.1. Hậu cần và bảo đảm hậu cầnTheo Từ điển Bách khoa Quân sự Việt Nam, hậu cần được hiểu theo hai nghĩa: thứ nhất, “một mặt công tác quân sự, gồm tổng thể những hoạt động bảo đảm vật chất, sinh hoạt, quân y, vận tải... cho lực lượng vũ trang thực hiện nhiệm vụ”. Trước đây công tác này gọi là ngành cung cấp; từ năm 1955 đến nay gọi là hậu cần; thứ hai, “sinh lực và phương tiện vật chất dùng để bảo đảm hậu cần, gồm các cơ quan, đơn vị chuyên môn nghiệp vụ, căn cứ, kho tàng, trạm xưởng, bệnh viện

Trang 1

BẢO ĐẢM KINH TẾ CHO QUỐC PHÒNG TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM

PHẦN I

MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ BẢO ĐẢM KINH TẾ CHO

QUỐC PHÒNG TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG

ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM

1.1 Một số khái niệm liên quan

1.1.1 Hậu cần và bảo đảm hậu cần

Theo Từ điển Bách khoa Quân sự Việt Nam, hậu cần được hiểu theo hai

nghĩa: thứ nhất, “một mặt công tác quân sự, gồm tổng thể những hoạt động bảo

đảm vật chất, sinh hoạt, quân y, vận tải cho lực lượng vũ trang thực hiệnnhiệm vụ” Trước đây công tác này gọi là ngành cung cấp; từ năm 1955 đến nay

gọi là hậu cần; thứ hai, “sinh lực và phương tiện vật chất dùng để bảo đảm hậu

cần, gồm các cơ quan, đơn vị chuyên môn nghiệp vụ, căn cứ, kho tàng, trạmxưởng, bệnh viện cùng toàn bộ phương tiện, trang bị kĩ thuật và vật chất hậucần ở các cấp” Hậu cần của Việt Nam bao gồm, hậu cần nhân dân và hậu cầnquân đội Sự kết hợp giữa hậu cần nhân dân với hậu cần quân đội đã tạo thànhsức mạnh đảm bảo hậu cần cho chiến tranh nhân dân Việt Nam

Cũng theo Từ điển Bách khoa Quân sự Việt Nam, bảo đảm hậu cần là “một

bộ phận của bảo đảm hoạt động tác chiến, gồm tổng thể các hoạt động: bảo đảmvật chất,bảo đảm sinh hoạt,bảo đảm quân y (thú y),bảo đảm vận tải và một sốmặt bảo đảm khác (bảo đảm công trình sân bay, quân cảng, cầu cảng) cho lựclượng vũ trang nhằm duy trì khả năng hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ” Đểbảo đảm các mặt đó, hậu cần quân đội có các chuyên ngành: quân nhu, xây dựng

và quản lí nhà đất (doanh trại), quân y, xăng dầu, vận tải

1.1.2 Kinh tế và bảo đảm kinh tế

Để nhận diện đúng vai trò tố kinh tế trong mối quan hệ với quốc phòng vàchiến tranh, cần thống nhất quan niệm kinh tế theo cả nghĩa hẹp, nghĩa rộng.Theo nghĩa hẹp, kinh tế là cơ sở vật chất, kỹ thuật cho nhu cầu quân sự, quốcphòng để bảo vệ Tổ quốc thời bình, hoặc tiến hành chiến tranh khi tình thế bắtbuộc Theo nghĩa rộng, kinh tế là một trong những hoạt động thường xuyên, cơbản nhất của con người, bao gồm toàn bộ quá trình sản xuất và tái sản xuất racủa cải vật chất nhằm thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao của xã hội Với ý nghĩanhư vậy thì kinh tế là “hoạt động để tạo ra cơ sở vật chất cho nhu cầu của conngười và xã hội”1, trong đó, có nhu cầu cho quân sự, quốc phòng

Với cách hiểu như vậy thì một trong những vai trò của kinh tế là cung cấp

vũ khí, phương tiện kỹ thuật quân sự để tiến hành chiến tranh hoặc thực hiện cácnhiệm vụ quốc phòng thường xuyên của một quốc gia Trình độ phát triển củanền kinh tế càng cao thì khả năng trang bị cho lực lượng vũ trang các loại vũkhí, phương tiện kỹ thuật quân sự càng hiện đại và khả năng nuôi dưỡng, huấnluyện quân đội càng tốt hơn Vai trò của kinh tế đối với quốc phòng và chiếntranh được tăng lên cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất Qua đó khẳng

1 Nguyễn Như Ý, Đại từ điển tiếng Việt, Nhà xuất bản Văn hóa - Thông tin, Hà Nội 1999, tr 948.

Trang 2

định rằng, để tiến hành chiến tranh và nâng cao khả năng phòng thù của đấtnước, tất yếu phải có vũ khí và các phương tiện kỹ thuật quân sự khác Mà cácsản phẩm đó được sản xuất bởi các ngành sản xuất trong nền kinh tế quốc dân.Trong tương lai, nếu chủ nghĩa đế quốc, đứng đầu là đế quốc Mỹ và các thếlực thù địch khác tiến hành chiến tranh xâm lược nước ta, thì cuộc chiến tranh

đó sẽ được tiến hành bằng các loại vũ khí, phương tiện kỹ thuật quân sự hiện đạivới sự tham gia của kỹ thuật và công nghệ cao Theo đó, vai trò của kinh tế đốivới chiến tranh càng tăng, thậm chí có ý nghĩa quyết định sự thành, bại củachiến tranh, thì việc chuẩn bị kinh tế để bảo đảm kinh tế cho hoạt động quốcphòng hiện tại; và về lâu dài là chuẩn bị tiến hành chiến tranh bảo vệ Tổ quốccàng trở nên bức thiết

Với ý nghĩa đó thì kinh tế và bảo đảm kinh tế có nghĩa rộng và hàm chứa

cả nội dung của công tác hậu cần và bảo đảm hậu cần Cần phân biệt rõ nhữngphạm trù này mới có phương pháp tiếp cận đúng với nội dung mà chuyên đề này

đề cập Bởi trên thực tế còn đang lẫn lộn, mập mờ giữa khái niệm hậu cần vàkhái niệm kinh tế, theo đó là đồng nhất khái niệm bảo đảm hậu cần với kháiniệm bảo đảm kinh tế; hoặc có ý kiến cho rằng bảo đảm hậu cần bao hàm trong

đó cả nội dung bảo đảm kinh tế

1.2 Khái niệm và nội dung bảo đảm kinh tế cho quốc phòng

1.2.1 Khái niệm

Bảo đảm kinh tế cho quốc phòng đã được nhiều tác giả nghiên cứu Trong

cuốn sách “Những cơ sở kinh tế của sức mạnh quân sự của nhà nước”, A.I.Pôgiacốp cho rằng: Bảo đảm kinh tế cho chiến tranh, quốc phòng là khả

năng thực tế của nhà nước bảo đảm cho các lực lượng vũ trang của mình duy trì khả năng quốc phòng cần thiết của đất nước Khái niệm này đã chỉ ra:

- Chủ thể bảo đảm kinh tế cho quốc phòng là nhà nước;

- Đối tượng được bảo đảm là lực lượng vũ trang;

- Mục đích của việc bảo đảm là tăng cường tiềm lực quốc phòng

Song khái niệm này chưa đề cập đến nội dung và phương thức bảo đảm.Giáo trình kinh tế quân sự do nhà xuất bản Quân đội nhân dân xuất bản

năm 1985 định nghĩa: Bảo đảm kinh tế cho quốc phòng là toàn bộ những quá

trình, những biện pháp kinh tế nhằm thoả mãn các nhu cầu quân sự Bao gồm:

phát triển cân đối các ngành sản xuất vật chất và dịch vụ, các cơ sở khoa học;phát triển mạng lưới giao thông vận tải; bảo đảm phương tiện thông tin liên lạc;xây dựng sân bay, bến cảng, kho và căn cứ quân sự khác; xây dựng hậu phương;

tổ chức mô hình quản lý kinh tế thích ứng với yêu cầu của chiến tranh

Tuy khái niệm này chỉ rõ phương thức, mục tiêu bảo đảm kinh tế cho quốcphòng, song lại chưa đề cập đến nội dung bảo đảm, nhất là bảo đảm nhân lực,vật lực, tài lực Đây là những nội dung chủ yếu của việc bảo đảm kinh tế choquốc phòng Mặt khác, khái niệm này được hình thành trong cơ chế kế hoạchhoá tập trung nên chưa đề cập đến vai trò của các chủ thể trong hệ thống chínhtrị, trong đó có vai trò của nhân dân và các thành phần kinh tế trong nền kinh tế

Kế thừa, phát triển các khái niệm trên trong điều kiện nền kinh tế thị trườngđịnh hướng xã hội chủ nghĩa; khi so sánh lực lượng trên thế giới đã có những

Trang 3

thay đổi cơ bản, theo đó là tư duy về bảo vệ Tổ quốc đã có sự phát triển toàndiện, đầy đủ hơn Vì vậy, có thể đưa ra định nghĩa về bảo đảm kinh tế cho quốcphòng trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam như

sau: Bảo đảm kinh tế cho quốc phòng trong nền kinh tế thị trường định hướng

xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là tổng thể các quá trình, các biện pháp được Nhà nước và nhân dân tiến hành nhằm thoả mãn mọi nhu cầu về phương tiện vật chất, kỹ thuật, tài chính, nhân lực cho quốc phòng sẵn sàng ứng phó thắng lợi với các tình huống an ninh truyền thống và phi truyền thống để bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa

Như vậy, với khái niệm này nhiều nội dung đã được làm rõ, đó là:

- Chủ thể bảo đảm không chỉ là Nhà nước mà cả toàn dân;

- Phương thức bảo đảm là tổng thể các quá trình, các biện pháp;

- Nội dung bảo đảm gồm mọi nguồn lực như: nhân lực, vật chất, tài chính;

- Mục đích bảo đảm là đáp ứng nhu cầu quốc phòng trong mọi tình huống;

- Điều kiện, môi trường bảo đảm là nền kinh tế thị trường định hướng xã

hội chủ nghĩa

1.2.2 Nội dung bảo đảm kinh tế cho quốc phòng

Từ khái niệm trên cho thấy nội dung bảo đảm kinh tế cho quốc phòng gồm:

* Bảo đảm nguồn nhân lực

Đây là nội dung rất quan trọng vì trong mọi hoạt động nói chung, hoạtđộng bảo vệ Tổ quốc nói riêng thì nguồn nhân lực luôn giữ vai trò quyết định.Đặc biệt trong điều kiện hiện nay, trước sự phát triển mạnh của cách mạng khoahọc và công nghệ, vũ khí trang bị quân sự có sự phát triển vượt bậc, theo đó làphương thức tiến hành chiến tranh cũng đã thay đổi, thì vai trò của nguồn nhânlực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao càng trở nên quan trọng

Quốc phòng Việt Nam là quốc phòng toàn dân, trong đó lực lượng vũ tranglàm nòng cốt Vì vậy, bảo đảm nguồn nhân lực cho quốc phòng, trước hết là bảođảm cho lực lượng vũ trang có đủ số và chất lượng đáp ứng hoạt động bảo vệ Tổquốc Đồng thời phải chú ý đến lực lượng toàn dân rộng rãi

Để bảo đảm nguồn nhân lực cho lực lượng vũ trang đáp ứng yêu cầu bảo vệ

Tổ quốc trong mọi tình huống, công tác bảo đảm phải được chuẩn bị chu đáongay từ thời bình thông qua tổng thể các biện pháp như: tạo nguồn, đăng ký, tổchức, huấn luyện quân dự bị động viên; xây dựng lực lượng dân quân tự vệ; xâydựng luật pháp, cơ chế, chính sách huy động nhân lực… Trong thời bình, việcbảo đảm nguồn nhân lực cho lực lượng vũ trang được duy trì ở mức hợp lý, khichiến tranh xảy ra thì bảo đảm tối đa nhân lực cho lực lượng vũ trang thông quađộng viên nguồn lực này

* Bảo đảm cơ sở vật chất, phương tiện kỹ thuật quân sự

Cơ sở vật chất, phương tiện kỹ thuật quân sự là điều kiện không thể thiếutrong hoạt động quốc phòng, giữ vai trò quan trọng đối với hiệu quả hoạt động.Khi chiến tranh xảy ra, nhu cầu về cơ sở vật chất, phương tiện kỹ thuật quân sựtăng đột biến, nhất là thời kỳ đầu chiến tranh, thường vượt mức thông thường vàngoài khả năng dự trữ chiến lược

Trang 4

Nội dung bảo đảm cơ sở vật chất, phương tiện kỹ thuật quân sự bao gồm:

vũ khí; quân lương, quân trang, y tế, giao thông vận tải, thông tin liên lạc…Nguồn bảo đảm được khai thác từ nhiều nguồn như:

- Nguồn trong nước (thông qua sản xuất, sửa chữa);

- Nguồn nước ngoài (mua sắm, viện trợ);

- Nguồn tự bảo đảm của lực lượng vũ trang và quân đội nói riêng;

- Nguồn từ chiến lợi phẩm (chỉ có trong chiến tranh)

Trong các nguồn trên thì nguồn trong nước giữ vai trò quyết định, cácnguồn khác rất quan trọng Vì vậy, để chủ động nguồn bảo đảm trong nước phảitập trung phát triển kinh tế, trên cơ sở đó mà tăng cường tiềm lực kinh tế quânsự; đồng thời đăng ký, quản lý các nguồn động viên; chuẩn bị phương án độngviên kinh tế cho chiến tranh; kết hợp kinh tế với quốc phòng ngay từ thời bình

* Bảo đảm tài chính

Đây là nội dung quan trọng của bảo đảm kinh tế cho quốc phòng, nhất làtrong điều kiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Thông quabảo đảm tài chính, các đơn vị, địa phương khai thác cơ sở vật chất trong vàngoài nước mà không cần cung cấp bằng hiện vật Trong điều kiện bình thường,bảo đảm tài chính cho quốc phòng thường được các nước duy trì ở 4-5% GDP.Trong chiến tranh nhu cầu tài chính cho quốc phòng tăng nhanh, nhà nước phảithông qua các biện pháp như tăng thuế, vay nước ngoài, phát hành công trái…

để bảo đảm cho quốc phòng và chiến tranh

1.3 Sự cần thiết phải bảo đảm kinh tế cho quốc phòng trong nền kinh

tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

1.3.1 Cơ sở lý luận

1.3.1.1 Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về mối quan hệ giữa kinh tế

với quốc phòng và chiến tranh

Kinh tế và quốc phòng là hai hoạt động thuộc hai lĩnh vực nhưng khôngmâu thuẫn đối lập nhau, mà giữa chúng có mối quan hệ chặt chẽ và thống nhấtbiện chứng với nhau Chủ nghĩa Mác - Lênin không chỉ khẳng định trình độ pháttriển sản xuất là nhân tố quyết định trong việc phát triển xã hội, mà còn nhấnmạnh vai trò quyết định của nó trong chiến tranh Kinh tế là nhân tố có ảnhhưởng trực tiếp, quyết định đến thành bại của quân đội, qui mô, cơ cấu tổ chứccủa các lực lượng vũ trang, đến hình thức và phương thức tiến hành chiến tranh,đến sự phát triển của nghệ thuật quân sự

Xem xét quan hệ giữa bạo lực và kinh tế, Ph.Ăngghen cho rằng, bạo lựckhông đơn thuần là hành vi của ý chí, mà đòi hỏi phải có tiền đề để thực hiện, đó

là các công cụ, trong đó công cụ hoàn hảo hơn sẽ thắng công cụ không hoàn hảobằng; nghĩa là kẻ sản xuất ra công cụ bạo lực hoàn hảo hơn… phải thắng kẻ sảnxuất ra công cụ bạo lực không hoàn hảo bằng Điều đó cho thấy, thắng lợi củabạo lực phụ thuộc vào việc sản xuất vũ khí, và việc sản xuất vũ khí lại dựa vàosản xuất, nghĩa là dựa vào “lực lượng kinh tế”, vào “tình hình kinh tế”, vàphương tiện vật chất mà bạo lực chi phối; xét đến cùng thì tiền phải do sản xuấtkinh tế làm ra; vậy một lần nữa, bạo lực lại do tình hình kinh tế quyết định, kinh

tế cung cấp cho bạo lực phương tiện để tạo ra và duy trì công cụ bạo lực

Trang 5

Từ sự luận giải “Vũ trang, biên chế, tổ chức, chiến thuật, chiến lược phụthuộc trước hết vào trình độ sản xuất đạt được trong một thời điểm nhất định vàvào phương tiện giao thông”; thắng lợi của bạo lực dựa vào sản xuất vũ khí, vàsản xuất vũ khí lại dựa vào sản xuất, nghĩa là dựa vào “lực lượng kinh tế”, vào

“tình hình kinh tế”, và phương tiện vật chất mà bạo lực chi phối được,Ph.Ăngghen đưa ra kết luận: “Không có gì lại phụ thuộc vào những điều kiệnkinh tế hơn là chính ngay quân đội và hạm đội” Phát triển luận điểm đó,V.I.Lênin cho rằng “ trong bất cứ cuộc chiến tranh nào, kinh tế quyết định”,đặc biệt trong chiến tranh hiện đại “tổ chức kinh tế có một ý nghĩa quyết định”.Như vậy, kinh tế là nhân tố quyết định qui mô, tổ chức biên chế lực lượng vũtrang, phương thức tiến hành chiến tranh

Tuy nhiên kinh tế quyết định đến quốc phòng, chiến tranh không phải trựctiếp mà gián tiếp thông qua tiềm lực kinh tế quân sự để tạo thành sức mạnh quân

sự Điều này cũng có nghĩa là không phải có kinh tế mạnh là có quốc phòngmạnh Để phục vụ cho quốc phòng, nhất là khi chiến tranh xảy ra phải thông quatổng thể các biện pháp bảo đảm kinh tế thì mới đáp ứng yêu cầu của hoạt độngquốc phòng, chiến tranh

1.3.1.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng ta về bảo đảm kinh tế

cho quốc phòng và chiến tranh

Thứ nhất, bảo đảm kinh tế cho quốc phòng là vấn đề cốt lõi của việc

chuẩn bị thực lực kinh tế kháng chiến.

Theo quan điểm của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh, muốn kháng chiếnlâu dài phải chuẩn bị đầy đủ, qua nhiều giai đoạn gian lao; đặc biệt, trong điều

kiện vừa kháng chiến, vừa kiến quốc, thì “kinh tế là một ngành hoạt động tối

quan trọng”, “một mặt trận rất quan trọng” Vì thế, muốn kháng chiến thắng lợi

“không thể không chú ý đến vấn đề động viên kinh tế ” Để thực hành động viênkinh tế, phải khéo léo huy động mọi lực lượng của cả nước, sao cho “người cósức giúp sức, có tiền giúp tiền, có của giúp của”2 cho kháng chiến Do thực hiệntốt động viên kinh tế mà chúng ta đã huy động hết thảy nhân lực, vật lực, tài lựccho kháng chiến và kiến quốc Nhờ đó thực lực nền kinh tế kháng chiến được bổsung, tăng cường một cách nhanh chóng, không chỉ góp phần quan trọng làm lênthắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, mà còn tạo tiền đề chuẩn

bị động viên kinh tế trong kháng chiến chống Mỹ Điều đó cho thấy, kinh tế vàđộng viên kinh tế là vấn đề cốt lõi của nền kinh tế kháng chiến

Thứ hai, bảo đảm kinh tế cho quốc phòng là chủ động chuẩn bị sớm nền

kinh tế để vừa phục vụ kháng chiến trước mắt, vừa sẵn sàng đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc sau khi kháng chiến thắng lợi

Sau khi thành lập chính quyền, trước bọn thực dân Pháp có ưu thế vượt trội

về tiềm lực kinh tế, tiềm lực quân sự, để bảo vệ thành quả cách mạng và đối phóvới cuộc chiến tranh, nên Đảng ta chủ trương “phải có một nền kinh tế khángchiến Nền kinh tế đó làm cơ sở cho nền kinh tế kiến quốc”; thắng lợi của khángchiến tùy thuộc vào việc “chúng ta động viên kinh tế” thành công ở mức độ nào

Vì vậy, trong khi vừa chỉ đạo cuộc kháng chiến ở Nam Bộ, vừa gấp rút chỉ đạo

2 Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 5, Nxb CTQG, H 2002, tr 477.

Trang 6

chuẩn bị mọi mặt cho cả nước bước vào cuộc kháng chiến lâu dài, trong đó đãkhéo léo huy động mọi nguồn lực cả trong và ngoài nước cho kháng chiến là vấn

đề cơ bản, cấp bách khi đó Như vậy, bảo đảm kinh tế vừa xuất phát từ yêu cầukháng chiến, vừa là bước chuẩn bị sớm thực lực nền kinh tế kháng chiến nhằmđáp ứng kịp thời yêu cầu kháng chiến trước mắt; đồng thời từng bước chuẩn bịtiền đề cần thiết cho kiến quốc, sẵn sàng đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổquốc sau khi kháng chiến thắng lợi

Thứ ba, toàn dân kháng chiến là đặc trưng tiêu biểu của bảo đảm kinh tế

trong chiến tranh chiến tranh giải phóng dân tộc

Khi chiến tranh bùng nổ, ảnh hưởng của nó sẽ lan rộng khắp cả nước và

tác động sâu sắc đến mọi hoạt động của xã hội; nghĩa là “chiến tranh khôngnhững chỉ phát động trong địa hạt quân sự ở tiền phương, mà còn phát động cảtrong các địa hạt khác ở hậu phương” Do đó, muốn kháng chiến thắng lợi, kiếnquốc thành công, cần phải động viên hết thảy mọi lực lượng, phải thực hiện toàndân kháng chiến, nếu “thực hiện được toàn dân kháng chiến, phần thắng thế nàocũng về ta” Vì thế “ở hậu phương làm sao góp được nhiều sức, làm được nhiềucủa, đó là kháng chiến” Muốn thực hiện toàn dân kháng chiến, thì “ngoài việcđộng viên quân sự, chính trị, ngoại giao, còn phải động viên cả tinh thần lẫnkinh tế”, sao cho “các tầng lớp nhân dân đều chung đúc tâm trí vào lợi ích củadân tộc mà phấn đấu Dù đau khổ đến đâu mặc lòng, ai cũng phải trổ hết tàinăng, làm hết nhiệm vụ để sáng tạo tất cả cái gì có thể giúp ích cho sự khángchiến, để làm cho mọi việc đều được tăng tiến”

Thứ tư, tiết kiệm và tăng gia sản xuất là một sáng tạo độc đáo của Chủ

tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta để bảo đảm kinh tế cho quốc phòng trong điều kiện chiến tranh

Khác với sản xuất hoặc tăng gia sản xuất, tiết kiệm không trực tiếp sản xuất

ra sản phẩm mới hay giá trị sử dụng mới, nhưng lại có ý nghĩa tích lũy giá trịcho xã hội Vì thê, “việc tiết kiệm cũng có tính chất quan trọng như tăng gia sảnxuất” Với ý nghĩa đó, thì chủ trương “tích cực tiết kiệm và tăng gia sản xuất”làmột trong các mục đích của bảo đảm kinh tế cho quốc phòng

Trong hai cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, kẻ thù có ưu thế hơn hẳn vềkinh tế, quân sự nên chúng ta chủ trương kháng chiến trường kỳ Để khángchiến trường kỳ, cần phải chuẩn bị nhiều lương thực, thực phẩm, quân trang,quân dụng, nhu yếu phẩm và các phương tiện chiến tranh khác Nếu không tíchcực tăng gia sản xuất sẽ không đủ cung cấp các nhu cầu đó cho kháng chiến

“Tăng gia sản xuất đã vậy, lại còn phải tiết kiệm để có đủ mà cống hiến chocuộc kháng chiến”3 Để thực hành tiết kiệm, trước hết,“hạn chế những nghềnghiệp phải dùng đến thóc gạo như nghề nấu rượu Khuyến khích giồng nhiềunhững thức ăn thay cho gạo như ngô, khoai, đậu, sắn, v.v Cấm ngặt những sựchi tiêu xa xỉ và vô ích Ngoài việc tiết kiệm tiền bạc, lương thực, chúng ta cònphải tiết kiệm những thứ cần về quân sự mà phải mua ở ngoài như étxăng, cácchất hoá học…” Mặt khác, phải “thực hành tự cấp tự túc bằng cách thiết thực,bằng tăng gia sản xuất” Với khẩu hiệu: “Tăng gia sản xuất! Tăng gia sản xuất

3 Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 4, Nxb CTQG, H 2002, tr 478.

Trang 7

ngay! Tăng gia sản xuất nữa” mà phong trào tăng gia sản xuất và thực hành tiếtkiệm được đẩy mạnh Nhờ đẩy mạnh tăng gia sản xuất kết hợp chiến đấu với sảnxuất, vừa đánh giặc vừa tăng gia sản xuất mà đời sống nhân dân từng bước được

ổn định, động viên mọi nguồn lực cho kháng chiến, góp phần quan trọng vào

thắng lợi của sự nghiệp kháng chiến và kiến quốc Đó là một sáng tạo độc đáo

của Đảng ta để bảo đảm kinh tế cho quốc phòng

Thứ năm, trong điều kiện chiến tranh, để bảo đảm kinh tế phải động viên

toàn diện các ngành, các lĩnh vực, trong đó nhấn mạnh động viên nhân lực, giao thông, công nghệ (công nghiệp), nông nghiệp, tài chính và tiết kiệm Cụ thể

là :

- Mục đích của động viên nguồn nhân lực là nhằm “trưng mộ và phân phốinhân công” cho thích hợp đối với mọi nhu cầu sử dụng lao động theo phươngchâm sử dụng “sức lao động thế nào cho khỏi phí một giọt mồ hôi, một giọtmáu, mà tăng thêm được lực lượng cho cuộc kháng chiến” Trong đó: ưu tiên lựclượng chiến đấu, vì “quân sự cần rất nhiều sức người”; coi trọng các lĩnh vựcsản xuất, nhất là vận tải, chế tạo quân nhu, thông tin; trưng dụng nhân viênchuyên môn dự bị; tổ chức những đội quân lao động, đội dân binh từ những thợ

ít tuổi, thợ đàn bà thay cho trai tráng ra mặt trận để làm công việc vận tải, xâydựng và công việc khẩn cấp khác

- Vì giao thông là hoạt động rất quan trọng, nên động viên giao thông làhuy động mọi loại phương tiện cả hiện đại và thô sơ, củng cố hệ thống đường xáthủy bộ cho thuận tiện, giao thông và thông tin kịp thời Để động viên giaothông có hiệu quả, phục vụ tốt cho kháng chiến, Đảng ta và Chủ tịch Hồ ChíMinh chủ trương “nếu cần, phải mở thêm đường thay cho những đường bị phá,

bị nghẽn Nên dùng thêm cả lừa, ngựa, trâu, bò vào việc vận tải”

- Công nghiệp là ngành sản xuất vũ khí, phương tiện chiến tranh, nên độngviên công nghiệp là nội dung cốt lõi của động viên kinh tế Vì vậy, phải độngviên công nghiệp “chế nhiều vũ khí, dụng cụ, sản phẩm để đánh giặc và để cungcấp cho nhân dân” Để thực hành động viên công nghiệp, cùng với mở rộng cáclĩnh vực sản xuất cho nhu cầu chiến tranh do chính phủ quản lý, phải đẩy mạnhphát triển sản xuất công nghiệp của khu vực tư nhân; đồng thời có kế hoạch sơtán, di chuyển các nhà máy, công xưởng quan trọng, cần thiết nhất cho khángchiến đến các nơi an toàn để hạn chế tổn thất nếu bị đánh phá Động viên côngnghiệp cần “chú ý nhất về việc cung cấp nguyên liệu”

- Vai trò của sản xuất nông nghiệp là cung cấp nhiều lương thực, thực phẩmcho tiêu dùng và cung cấp một phần nguyên liệu cho sản xuất công nghiệp trongnền kinh tế kháng chiến Vì vậy, động viên nông nghiệp phải hướng đến khuyếnkhích giai cấp nông dân phát triển nông nghiệp, cải tiến nông cụ, mở rộng diệntích canh tác, đẩy mạnh thâm canh, nâng cao năng suất lao động Nghĩa là làmcho nông nghiệp “trồng nhiều lúa, nhiều màu, nhiều bông để quân và dân đủ ăn,

đủ mặc, đủ dùng; Bảo vệ mùa màng, cất giấu thóc lúa; Sẵn sàng tiếp tế lươngthực cho quân đội và các cơ quan”

- Động viên tài chính là huy động các nguồn lực tài chính phục vụ cho pháttriển nền kinh tế kháng chiến, nhất là phát triển các ngành công, nông, thương và

Trang 8

dịch vụ Biện pháp thực hiện động viên tài chính được áp dụng chủ yếu la: hoãncác khoản nợ, cấm buôn bán vàng bạc, kiểm tra chặt chẽ hoạt động thương mại,phát hành công trái, tập trung các loại kim khí do dân tích trữ, đánh thuế đối vớinhu cầu tiêu dùng xa xỉ, thực hiện đảm phụ quốc phòng Mặc dù đảm phụ quốcphòng chỉ thực hiện trong năm 1946 như một biện pháp động viên tài chính,nhưng đã góp phần tăng cường tiềm lực quốc phòng, bảo đảm cho cả nước chủđộng bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.

CHÚ Ý:

ĐPQP là hình thức huy động sự đóng góp tài chính theo nghĩa vụ công dân nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu quốc phòng trong kháng chiến chống Pháp ĐPQP ban hành theo sắc lệnh số 48-SL, 10/4/1946 của chủ tịch nước

Theo sắc lệnh này, mọi công dân từ 18 tuổi đến 65 tuổi, không phân biệt nam nữ, đều phải nộp ĐPQP (trừ những người được miễn theo quy định)

ĐPQP có:

+ Đảm phụ chính: thu 5 đồng một người

+ Đảm phụ tỉ lệ: thu của người nộp thuế hoặc thu nhập cao, theo luỹ tiến

- Tiết kiệm là biện pháp quan trọng để thực hành động viên kinh tế Đểthực hành tiết kiệm, ngoài việc đặt ra Ủy ban xem xét việc cung cấp và tiêudùng lương thực, điều tra số thóc hiện có và định lượng mỗi người, Hồ ChíMinh còn kêu gọi thực hiện chủ trương “những vật nhu cầu cho cuộc khángchiến, chúng ta phải hết sức tăng gia sản xuất Những việc tiêu xài vô ích, chúng

ta phải cố gắng tinh giảm”, “phải cần kiệm bỏ hết mọi xa xỉ để lấy tiền cốnghiến cho quỹ kháng chiến” Đặc biệt, khi cần “phải trưng thu những số thóc thừa

rồi trả bằng tiền” Để kịp thời đẩy lùi nạn đói đang trầm trọng và khắc phục tình trạng kiệt quệ của đất nước sau chiến tranh, Người đề nghị mở cuộc lạc quyên

và Người đã gương mẫu thực hiện “10 ngày nhịn ăn một bữa, mỗi tháng nhịn 3bữa Đem gạo đó (mỗi bữa một bơ) để cứu dân nghèo” Nhờ các biện pháp tíchcực như vậy, chỉ trong một thời gian ngắn, nhân dân cả nước đã quyên góp đượchàng vạn tấn gạo cứu đói

Từ những vấn đề trên cho thấy, bảo đảm kinh tế cho quốc phòng đã trở

thành chủ trương chiến lược của Đảng ta không chỉ trong đấu tranh chống xâmlược, mà cả trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Ngày nay, vấn đề này

đã được Đảng ta kế thừa, phát triển lên trình độ mới, phù hợp, hiệu quả hơntrong tình hình mới

1.3.1.3 Nhu cầu bù đắp cho tiêu hao và tổn thất kinh tế trong chiến tranh

ngày càng tăng nhanh Điều đó được thể hiện trên các nội dung sau:

Đặc điểm của chiến tranh hiện đại là quy mô tuy không lớn nhưng mức tiêuhao rất lớn về nhân lực, vật tư, tài chính Chiến tranh càng hiện đại, khối lượng

sử dụng và tiêu hao vật chất, kỹ thuật càng lớn Chẳng hạn:

- Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, để sản xuất cho chiến tranh “Mỹ đãphải động viên hơn 60% Liên Xô đã động viên tới 78% Nước Đức động viêntoàn bộ khả năng sản xuất công nghiệp để sản xuất sản phẩm quân sự”

Trang 9

- Mức tiêu hao vật chất, kỹ thuật của chiến tranh Trung Đông lần thứ tưkhoảng “hai lần đại chiến thế giới lần thứ hai; 20 lần đại chiến lần thứ nhất”4

- Trong chiến tranh vùng Vịnh (năm 1991) con số khổng lồ hơn: mỗi ngày

Mỹ tiêu tốn gần 1,5 tỷ USD; một giờ bắn 0,6 vạn tấn đạn; huy động 80 bộ mônkinh tế và kỹ thuật tham gia sản xuất quân sự; 38 công ty hàng không; 7 công tyđường sắt; 10 công ty hàng hải; 73 công ty sản xuất thực phẩm Liên quân Anh,Pháp, Đức, Canađa huy động hơn 1.000 công ty tham gia cuộc chiến này

- Mức độ thiệt hại của Irắc và một số quốc gia Trung Đông khác đạt con số

kỷ lục trong lịch sử của các cuộc chiến tranh

Hoặc tính bình quân mức tiêu dùng/một ngày/một người trong một số cuộc chiến tranh gần đây như sau:

- Chiến tranh thế giới thứ nhất: 6 kg/1người/1 ngày

- Chiến tranh thế giới thứ hai: 20 kg/1người/1ngày

- Chiến tranh xâm lược Việt Nam của Mỹ: 90 kg/1 người/1ngày

- Chiến tranh vùng Vịnh tiêu hao đạn dược bình quân một ngày gấp 21 lầnchiến tranh Triều Tiên và 3, 6 lần chiến tranh Việt Nam

Với mức tiêu hao lớn như vậy nếu chỉ dựa vào mức độ dự trữ nóng và nănglực của công nghiệp quốc phòng thì không thể đáp ứng được Ngay cả các nước

có tiềm lực kinh tế và quốc phòng mạnh, có khả năng cho phép dự trữ lớn cũngkhông thể dự trữ sẵn trong kho một khối lượng vật chất đủ bù đắp tiêu hao trongthời gian dài của chiến tranh Thông thường chỉ chuẩn bị ở mức tối ưu cho phép

từ 3 đến 6 tháng tùy khả năng của từng nước mà mức dự trữ khác nhau Hết thờigian đó nền kinh tế quốc dân, trong đó có công nghiệp dân dụng phải cung ứngkịp thời cho nhu cầu tiếp theo của chiến tranh Điều đó có nghĩa là tùy theo quy

mô chiến tranh mà tiến hành động viên cục bộ hoặc toàn bộ nền kinh tế để tậptrung sản xuất các loại sản phẩm quân sự cho chiến tranh Nếu chỉ dựa vào mức

dự trữ trong thời bình mà không quan tâm hoặc không xác định kế hoạch đểđộng viên kinh tế thì khó có thể tồn tại ngay từ ngày đầu chiến tranh chứ chưanói đến duy trì động viên trong các giai đoạn tiếp theo

Từ những số liệu trên cho thấy: chiến tranh càng hiện đại, thì nhu cầu kinh

tế cho chiến tranh tăng cả về số lượng, chất lượng, chủng loại Vì vậy, để đápứng nhu cầu đó, đòi hỏi mỗi quốc gia phải chuẩn bị sớm, từ trước về mọi mặt,trong đó chuẩn bị kinh tế là vấn đề cốt lõi

4 “Chương 9: Xây dựng động viên quốc phòng”, Giáo trình chiến lược học phát triển quốc phòng, Nxb Đại học Quốc phòng Trung Quốc,

Bắc Kinh, 1992, Phòng Khoa học kinh tế - Quân sự, Tổng cục Công nghiệp quốc phòng - Kinh tế dịch, tr 19.

Trang 10

PHẦN II THỰC TIỄN BẢO ĐẢM KINH TẾ CHO QUỐC PHÒNG

Ở VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ NƯỚC 2.1 Thực tiễn bảo đảm kinh tế cho quốc phòng trong lịch sử nhân loại

Thực tiễn cho thấy, bảo đảm kinh tế cho quốc phòng và chiến tranh đượctiến hành ngay từ khi xã hội phân chia thành giai cấp đối kháng Từ nhà nướcchiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa đến nhà nước xã hội chủ nghĩađều phải bảo đảm kinh tế cho quốc phòng, chỉ khác nhau ở mục đích bảo đảm.Trong xã hội nô lệ và phong kiến, nguồn bảo đảm kinh tế cho quốc phòngđược lấy từ các sản phẩm và tiền thuế của khu vực nông nghiệp và các xưởngthủ công; quy mô bảo đảm chưa lớn, tính chất chưa phức tạp;

Đến chủ nghĩa tư bản, do sự phát triển của lực lượng sản xuất, sự phát triểncủa vũ khí, phương tiện kỹ thuật quân sự làm cho quy mô và tính chất của chiếntranh phát triển, theo đó là yêu cầu bảo đảm kinh tế cho quốc phòng, chiến tranhtăng nhanh Để bảo đảm kinh tế cho quốc phòng, nhất là khi chiến tranh, nhànước tư sản thường tiến hành các biện pháp chủ yếu sau:

Một là, xây dựng các đạo luật bảo đảm kinh tế cho quốc phòng như: luật

nghĩa vụ quân sự; luật dự bị động viên; luật ngân sách… Theo đó là bộ máy đồ

sộ từ trung ương đến cơ sở để tổ chức động viên kinh tế cho chiến tranh

Hai là, coi trọng hiện đại hoá quân đội, chủ động chuẩn bị tiềm lực kinh tế

quân sự đáp ứng nhu cầu quốc phòng, chiến tranh

Ba là, thực hiện quân sự hoá nền kinh tế, huy động tối đa năng lực sản xuất

quân sự, mở rộng quy mô, cơ cấu sản xuất quân sự đáp ứng yêu cầu chiến tranh

Bốn là, tăng ngân sách quốc phòng, kể cả khi chiến tranh lạnh đã kết thúc Năm là, chủ động dữ trữ chiến lược cơ sở vật chất, tài chính, nhân lực cho

quốc phòng và chiến tranh

Sáu là, thông qua các khối quân sự, liên minh quân sự để tăng cường khả

năng bảo đảm kinh tế cho quốc phòng, chiến tranh

2.2 Bảo đảm kinh tế cho quốc phòng ở Liên Xô

Sau cách mạng tháng Mười, trước nguy cơ xâm lược, V.I.Lênin cho rằng,nếu kinh tế không được chuẩn bị sớm, từ trước thì việc tiến hành chiến tranhchống xâm lược là điều không thể Vì theo V.I.Lênin: “Cuộc chiến tranh cáchmạng này cần được chuẩn bị lâu dài, nghiêm túc, bắt đầu phát triển kinh tế…”5.Trong nhiều trường hợp, V.I.Lênin khẳng định kinh tế có vai trò quyết định sựnghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, theo đó để chuẩn bị quốc phòng, ngăn chặnchiến tranh phải “bắt đầu phát triển kinh tế” Với nhận thức đó, V.I.Lênin đãlãnh đạo thành công việc khôi phục nền kinh tế nước Nga, khẩn trương chuẩn bịkinh tế quân sự để tiến hành chiến tranh vệ quốc, góp phần đập tan mưu đồ xâmlược, thôn tính của chủ nghĩa đế quốc đối với nước Nga Xô Viết, bảo vệ vữngchắc Tổ quốc

5 V.I.Lênin, Toàn tập, Tập 35, Nhà xuất bản Tiến Bộ, Mátxcơva - 1976, tr 481.

Trang 11

Dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Liên Xô và sự nỗ lực của nhân dân,chỉ trong thời gian ngắn từ 1917-1937 Liên Xô đã trở thành nước công nghiệphiện đại, trong đó công nghiệp quốc phòng có khả năng trang bị vũ khí, phươngtiện kỹ thuật quân sự hiện đại đáp ứng yêu cầu của các lực lượng vũ trang.

Trước nguy cơ chiến tranh thế giới thứ hai, Liên Xô đã thi hành những biệnpháp đặc biệt, tăng thêm quân số của lực lượng vũ trang, xây dựng thêm các sưđoàn không quân, thiết giáp, pháo binh và hạm đội; tổ chức lại Hồng quân; xâydựng mới nhiều cơ sở công nghiệp quốc phòng Đến năm 1940, số lượng nhàmáy sản xuất máy bay tăng 74% so với năm 1937 Năng lực sản xuất máy bay,

xe thiết giáp có công suất cao hơn Đức 1,5 lần Nhà máy sản xuất súng bộ binh,pháo, đạn vượt xa Đức Liên Xô đã thi hành nhiều biện pháp để động viên kinh

tế cho chiến tranh, mở rộng hậu cần, nhất là hậu cần quân đội để đáp ứng nhucầu của Hồng quân

Trong chiến tranh thế giới thứ hai, Liên Xô đã ban hành nhiều sắc lệnhnhằm động viên mọi nguồn lực để năng lực sản xuất và tiềm lực kinh tế, nhất làtiềm lực kinh tế quân sự , hướng mọi lực lượng, mọi phương tiện để bảo đảm tốtnhất, nhanh nhất cho Hồng quân Nhờ vậy, trong thời gian chiến tranh, Liên Xô

đã sản xuất 134 ngàn máy bay, 103 ngàn xe tăng và pháo tự hành, 825 ngàn đạibác và súng cối; trong khi Đức chỉ sản xuất 79 ngàn máy bay, 54 ngàn xe tăng,

170 ngàn đại bác và súng cối

Đặc biệt, để bảo đảm kinh tế cho chiến tranh, Liên Xô rất chú trọng xâydựng ngành hậu cần quân đội Cho phép ngành này giải quyết mọi vấn đề từkhai thác nguồn đến phương thức bảo đảm Đặc biệt được áp dụng biện phápkhẩn cấp để nâng cao khả năng vận tải đáp ứng cho các hướng chiến lược, cácchiến trường trọng yếu Nhờ đó mà ngành hậu cần đã bảo đảm một khối lượnghàng hoá lớn cho Hồng quân: 108 ngàn máy bay chiến đấu, 95 ngàn xe tăng vàpháo tự hành, 445,7 ngàn đại bác và súng cối, 954,5 ngàn súng máy, 12 triệusúng trường, 6,1 triệu tiểu liên, 427 triệu viên đạn súng trường, 21,4 triệu viênđạn súng máy, 168,3 triệu lựu đạn, 16 triệu tấn nhiên liệu, 40 triệu tấn lươngthực, thực phẩm, 38 triệu áo caphot, 73 triệu bộ quần áo, 20 triệu quần đệmbông và 11 triệu đôi ủng Đây là cơ sở vật chất và kỹ thuật quan trọng, góp phầnvào thắng lợi của nhân dân Liên Xô trong chiến tranh thế giới hai

Thắng lợi của Liên Xô đã chứng minh, trong chiến tranh, thắng lợi chỉthuộc về bên nào có ưu thế bảo đảm kịp thời về nhân lực, vật lực, tài chính chochiến tranh Tuy nhiên, điều này lại phụ thuộc vào phương thức huy động, biệnpháp bảo đảm, được quy định bởi bản chất chế độ kinh tế-xã hội và mục đíchchính trị của chiến tranh

2.3 Bảo đảm kinh tế cho quốc phòng ở một số nước ASEAN

Ngoài Việt Nam, Lào, Cămpuchia, hầu hết các nước ASEAN đều có sự bảotrợ quân sự của Mỹ Mặc dù vậy, việc bảo đảm kinh tế cho quốc phòng ở cácnước này vẫn được chính phủ quan tâm Có thể tham khảo trên một số nội dung:

Một là, bảo đảm kinh tế cho quốc phòng thông qua ngân sách quốc phòng

(4-5% GDP) Với nguồn ngân sách lớn, lại được Mỹ, Nhật hỗ trợ nên Thái Lan,MaLaixia, Inđônêxia, Myanma, Singapo đã xây dựng được tiềm lực quân sự

Trang 12

mạnh, trong đó quân đội Thái Lan, Singapo với nhiều quân binh chủng có vũkhí, phương tiện kỹ thuật quân sự tương đối hiện đại.

Malaixia, Inđônêxia, Myanma, Philippin đang chuyển quân đội từ lựclượng ứng phó với xung đột dân tộc và chống nổi dậy sang xây dựng quân đội

có khả năng ứng phó với nguy cơ xâm lược Ngoài bảo đảm từ ngân sách quốcphòng, quân đội các nước này còn có nguồn thu từ tổ hợp công nghiệp quốcphòng thông qua xuất, nhập khẩu vũ khí, phương tiện kỹ thuật quân sự, chuyểngiao công nghệ, nổi bật là Singapo, MaLaixia

Hai là, về phương thức bảo đảm kinh tế cho quốc phòng Kết hợp giữa hậu

cần quân đội và cơ chế thị trường Trong đó cơ chế thị trường chiếm tỷ trọng 79% Đây là phương thức bảo đảm có hiệu quả trong thời bình

60-Ba là, ngoài ra, các nước này còn thường xuyên nhận được viện trợ quân

sự thông qua trao đổi, mua bán vũ khí, phương tiện kỹ thuật quân sự với phươngTây và một số nước thuộc Liên Xô cũ, Trung Quốc, Ân Độ…`

Tuy nhiên việc bảo đảm kinh tế cho quốc phòng ở các nước này còn hạnchế như: chưa xây dựng được nền quốc phòng toàn dân; chịu sức ép từ sự bảotrợ của Mỹ; quá nhấn mạnh cơ chế thị trường nên khi đất nước chuyển sangtrạng thái chiến tranh sẽ gặp khó khăn, nhất là động viên kinh tế cho chiến tranh

2.4 Bảo đảm kinh tế cho quốc phòng ở Việt Nam

2.4.1 Trong kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)

Trong kháng chiến chống Pháp, do nhận thức và đánh giá đúng vai trò củakinh tế và chuẩn bị tiềm lực kinh tế quân sự mà Đảng ta đã lãnh đạo thực hiệnkết hợp chiến đấu với sản xuất, vừa đánh giặc vừa tăng gia sản xuất Với đườnglối “kháng chiến phải đi đôi với kiến quốc Kháng chiến có thắng lợi thì kiếnquốc mới thành công Kiến quốc có chắc thành công, kháng chiến mới mauthắng lợi”, nên trong điều kiện kháng chiến, chúng ta đã xây dựng nhiều cơ sởsản xuất quốc phòng để sản xuất vũ khí, phương tiện vật chất khác, đồng thờihuy động tối đa tiềm lực kinh tế để tăng cường thực lực quốc phòng Thực chấtđây là quá trình chuẩn bị tiềm lực kinh tế quân sự cho kháng chiến trường kỳ.Theo đó, mỗi tỉnh có 1 đơn vị vệ quốc quân Nếu năm 1945 tổng số bộ đội

là 5.000 người thì năm 1946 đã là 80.000 người, bao gồm 32 trung đoàn ở Bắc

và Trung bộ, 25 chi đội ở Nam bộ Ngoài ra, gần 1 triệu dân quân du kích ở cácđịa phương6 Nhờ nỗ lực của cả nước, với phong trào toàn dân kháng chiến pháttriển mạnh mẽ, đến năm 1951 các đại đoàn chủ lực đã ra đời Đây là mốc dánhdấu sự phát triển vượt bậc của lực lượng vũ trang cách mạng nước ta, trong đóquân đội là lực lượng nòng cốt

Khi kháng chiến bước vào giai đoạn quyết định, quân đội ta cần xây dựngmột số đại đoàn chủ lực mạnh để mở các chiến dịch nhằm thay đổi so sánh lựclượng giữa ta và địch, thì mọi nguồn lực cho nhu cầu kháng chiến sẽ khó đápứng nếu chỉ dựa vào đóng góp của nhân dân Vấn đề cấp bách đặt ra là phải tạobước phát triển nhảy vọt về khả năng bảo đảm kinh tế cho kháng chiến, nghĩa là

“quân đội phải đủ súng, quân và dân phải đủ ăn, đủ mặc…”, phải “cung cấp đủsúng đạn, đủ cơm áo cho bộ đội, thì bộ đội mới đánh thắng trận điều đó rất rõ

6 40 năm xây dựng Lực lượng vũ trang Việt Nam, Nxb Sự thật, H 1994, tr 49.

Trang 13

ràng dễ hiểu”7 Để đáp ứng nhu cầu đó, các ngành kinh tế, nhất là công nghiệp,nông nghiệp phải sản xuất nhiều vũ khí, trang bị cung cấp cho lực lượng vũtrang và nhiều sản phẩm thiết yếu khác cho tiêu dùng xã hội Nhờ đẩy mạnhtăng gia sản xuất, kết hợp chiến đấu với sản xuất, vừa đánh giặc vừa tăng gia sảnxuất, chúng ta đã dập tắt nạn đói, từng bước ổn định đời sống nhân dân, độngviên được mọi nguồn lực cho kháng chiến

Đảng và Nhà nước ta coi việc bảo đảm kinh tế cho lực lượng vũ trang làtrách nhiệm của các cáp bộ đảng, chính quyền Tại Hội nghị Trung ương 10(năm 1951) Đảng ta chủ trương: “Phải thực hiện từng bước tiêu chuẩn cung cấpcho bộ đội, xem đó là trách nhiệm của Trung ương, của các cấp, các ngành, nhất

là của các đồng chí phụ trách ngân hàng, mậu dịch, tài chính, canh nông, nônghội, công đoàn và tổng cục cung cấp (nay là TCHC) Đồng thời phải làm chotoàn dân nhận rõ trách nhiệm của mình đối với việc cung cấp cho bộ đội”8

Sau chiến dịch Biên giới, chúng ta đã phá được thế bao vây, cô lập củađịch, mở thông thương với Trung Quốc và các nước trong hệ thống XHCN, nênviệc bảo đảm kinh tế cho kháng chiến, nhất là cho quân đội, ngoài việc tự cungcấp, còn nhận được sự viện trợ từ Trung Quốc, Liên Xô và các nước trong hệthống xã hội chủ nghĩa

Đặc trưng bảo đảm kinh tế cho quốc phòng trong kháng chiến chống thựcdân Pháp là: đã kết hợp tốt giữa hậu cần quân đội với hậu cần nhân dân, coi hậucần là cầu nối của công tác bảo đảm Đảng, Nhà nước đặc biệt coi trọng sứcmạnh hậu cần nhân dân, do đó đã dựa vào nhân dân để tiến hành công tác hậucần bằng cách vừa bồi dưỡng sức dân (thông qua cải cách ruộng đất, giảm tô,giảm thuế ở vùng giải phóng) vừa động viên sức dân bảo đảm cho quân đội

Hồ Chí Minh khẳng định: “Phải dựa vào dân, dựa chắc vào dân thì kẻ thù

không thể nào tiêu diệt được”, “Kháng chiến trường kỳ thì quân đội phải có đủ súng đạn, quân và dân phải đủ ăn, đủ mặc Nước ta nghèo, kỹ thuật kém phải dùng tinh thần hăng hái của toàn dân để tìm cách giải quyết thiếu, kém về vật chất” Tại Hội nghị Trung ương bốn (năm 1952) Người chỉ rõ: “Để cho nhân dân hăng hái và có sức đóng góp cho kháng chiến phải bồi dưỡng sức dân, phải bồi dưỡng lực lượng nhân dân nhiều hơn yêu cầu nhân dân đóng góp”

Thực hiện quan điểm trên, chúng ta đã huy động được sức dân trong bảođảm hậu cần cho quân đội Chỉ tính riêng trong chiến dịch Điện Biên phủ, nhândân đã đóng góp 2 vạn xe đạp thồ, 1 vạn chiếc thuyền, 500 ngựa thồ và hàng vạndân công hoả tuyến để làm đường, vận chuyển lương thực, vũ khí đạn dược chochiến dịch Riêng lực lượng vận chuyển bảo đảm trong chiến dịch điện Biên Phủ

đã huy động 29.000 dân công, 3.000 lực lượng hậu cần quân đội; “Tổng sốnguyên liệu ta tự sản xuất trong 9 năm kháng chiến là hơn 50.000 tấn”9 Riêngcông nghiệp quốc phòng “đã sản xuất được 12.000 tấn vũ khí đạn dược cho cáclực lượng vũ trang, đào tạo một đội ngũ cán bộ công nhân trên 6 vạn người”10

7 Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 6, Nxb CTQG, Hà Nội - 1995, tr 295.

8 Văn kiện quân sự của Đảng, Tập 2, Nxb QĐND, H 1976, tr 95

9 Kinh tế Việt Nam từ Cách mạng Tháng Tám đến kháng chiến thắng lợi (1945-1954), Nxb Khoa học, Hà Nội, 1996, tr 193.

10 Hậu phương chiến tranh Việt Nam 1945-1975, Nxb QĐND, Hà Nội, 1997, tr 46.

Ngày đăng: 21/05/2018, 10:19

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w