Một số gợi ý giải pháp quan trọng là: i Xây dựng chiến lược và quy hoạch phát triển cho từng địa phương cụ thể trên địa bàn huyện; nâng cao nhận thức nông hộ chuyển từ tình trạng tự cấp,
Trang 1BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
Trang 2BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
Trang 3
LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan mọi kết quả của đề tài: “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế
nông nghiệp trên địa bàn huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi” là công trình
nghiên cứu của cá nhân tôi và chưa từng được công bố trong bất cứ công trình khoa học nào khác cho tới thời điểm này
Khánh Hòa, ngày 10 tháng 10 năm 2017
Tác giả luận văn
Võ Văn Sâm
Trang 4
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian thực hiện đề tài, tôi đã nhận được sự giúp đỡ của quý phòng, ban trường Đại học Nha Trang, quý thầy cô đã tạo điều kiện tốt nhất để tôi hoàn thành đề tài Đặc biệt là sự hướng dẫn tận tình của cô giáo Tiến sĩ Phạm Thị Thanh Thủy đã giúp tôi hoàn thành tốt đề tài Qua đây, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến sự giúp đỡ này
Xin trân trọng cảm ơn quý thầy cô Khoa Kinh tế, Khoa Sau Đại học, Trường Đại học Nha Trang đã giảng dạy và giúp đỡ tôi trong quá trình hoàn thành đề tài
Xin trân trọng cảm ơn cô giáo Tiến sĩ Phạm Thị Thanh Thủy người hướng dẫn khoa học chính của luận văn này, đã tận tình giúp đỡ tôi rất nhiều về mọi mặt nhằm thực hiện thành công đề tài
Cảm ơn lãnh đạo các phòng, ban thuộc UBND huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi
đã cung cấp thông tin và các tài liệu tham khảo giúp tôi thực hiện thành công đề tài
Xin trân trọng cảm ơn các thầy, cô trong hội đồng bảo vệ luận văn đã góp ý cho
đề tài này.Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến gia đình, cơ quan và tất cả các bạn bè đã giúp đỡ, động viên tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Khánh Hòa, ngày 10 tháng 10 năm 2017
Tác giả luận văn
Võ Văn Sâm
Trang 5
MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN iii
LỜI CẢM ƠN iv
MỤC LỤC v
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT ix
DANH MỤC BẢNG x
DANH MỤC HÌNH xii
TRÍCH YẾU LUẬN VĂN xiii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG NGHIỆP 5
1.1 Nông nghiệp và đặc điểm của nông nghiệp 5
1.1.1 Khái niệm nông nghiệp 5
1.1.2 Đặc điểm nông nghiệp 6
1.2 Khái niệm Cơ cấu kinh tế và cơ cấu kinh tế nông nghiệp 8
1.2.1 Khái niệm Cơ cấu kinh tế 8
1.2.2 Khái niệm cơ cấu kinh tế nông nghiệp 10
1.3 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp 11
1.3.1 Khái niệm 11
1.3.2 Sự cần thiết phải chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp 12
1.4 Các cơ sở lý thuyết về vai trò của chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp 13
1.4.1 Mô hình Rostow 13
1.4.2 Mô hình Harry T Oshima 15
1.4.3 Mô hình Arthus Lewis 16
1.4.4 Lý thuyết chuyển dịch cơ cấu kinh tế của M Syrquin 17
Trang 6
1.4.5 Quy luật tăng năng suất lao động của A.Fisher 18
1.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp 19
1.5.1 Điều kiện tự nhiên 19
1.5.2 Yếu tố nguồn lực 20
1.6 Kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp của một số quốc gia trên thế giới 23
1.6.1 Kinh nghiệm của Nhật Bản 23
1.6.2 Kinh nghiệm của Thái Lan 25
1.6.3 Kinh nghiệm của Hàn Quốc 26
1.6.4 Kinh nghiệm của Trung Quốc 28
1.7 Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn 30
1.8 Bài học kinh nghiệm cho huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp 32
1.8.1 Đổi mới thể chế đặc biệt là chính sách đất đai trong nông nghiệp 32
1.8.2 Ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp để thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp .32
1.8.3 Xây dựng các chính sách khuyến khích đầu tư trong nông nghiệp 32
1.9 Khung phân tích của đề tài 33
1.10 Nội dung chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp 33
1.10.1 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo ngành 34
1.10.2 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo vùng 35
1.10.3 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hình thức tổ chức sản xuất 35
Tóm tắt Chương 1: 36
CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG NGHIỆP HUYỆN TƯ NGHĨA, TỈNH QUẢNG NGÃI 37
2.1 Tiềm năng phát triển kinh tế nông nghiệp của huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi 37
2.1.1 Tiềm năng về điều kiện tự nhiên 37
Trang 7
2.1.2 Tiềm năng về điều kiện kinh tế xã hội 45
2.2 Những thuận lợi và khó khăn ảnh hưởng đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp của huyện Tư Nghĩa 52
2.2.1 Thuận lợi 52
2.2.2 Khó khăn 54
2.3 Đánh giá qúa trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của huyện Tư Nghĩa giai đoạn 2005-2015 56
2.3.1 Cơ cấu ngành kinh tế của huyện Tư Nghĩa giai đoạn 2005-2015 56
2.3.2 Cơ cấu ngành Nông –Lâm-Thủy sản của huyện Tư Nghĩa giai đoạn 20025-2015 59
2.4 Thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp trên địa bàn huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi 60
2.4.1 Diện tích đất sản xuất nông nghiệp tại huyện Tư Nghĩa 60
2.4.2 Lực lượng lao động tham gia sản xuất nông nghiệp 61
2.4.3 Giá trị sản xuất và tốc độ tăng trưởng ngành nông nghiệp 67
2.4.4 Giá trị sản xuất các ngành chuyên môn hóa trong nông nghiệp và các loại sản phẩm nông nghiệp chủ yếu 69
2.5 Đánh giá tác động của chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp đến quá trình phát triển kinh tế của huyện Tư Nghĩa 74
2.5.1 Tác động đến chất lượng cuộc sống 74
2.5.2 Tác động đến năng suất lao động 78
Tóm tắt chương 2 80
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP GÓP PHẦN THÚC ĐẨY QUÁ TRÌNH CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG NGHIỆP HUYỆN TƯ NGHĨA, TỈNH QUẢNG NGÃI 81
3.1 Chủ trương và định hướng phát triển kinh tế nông nghiệp của huyện Tư Nghĩa trong thời gian tới 81
3.1.1 Đối với ngành trồng trọt 82
Trang 8
3.1.2 Đối với ngành Chăn nuôi 82
3.1.3 Đối với ngành Lâm nghiệp 83
3.1.4 Đối với ngành Thuỷ sản 83
3.1.5 Đối với Hợp tác xã và kinh tế trang trại 84
3.2 Tóm tắt kết quả phân tích 85
3.3 Nhóm giải pháp chủ yếu thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp của huyện Tư Nghĩa trong thời gian đến 86
3.3.1 Xây dựng chiến lược và quy hoạch phát triển cho từng địa phương cụ thể trên địa bàn huyện 86
3.3.2 Tăng cường nguồn lực cho chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp trên địa bàn huyện 87
3.3.3 Nâng cao năng lực lãnh đạo của hệ thống chính trị ở cơ sở 88
3.3.4 Đầu tư nguồn vốn cho khoa học, kỹ thuật và công nghệ 89
3.3.5 Nâng cao nhận thức nông hộ trong việc chuyển đổi phương thức sản xuất 89
3.3.6 Giải pháp về thị trường 90
3.3.7 Thu hút các chính sách thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp 91
3.3.8 Đầu tư cơ sở hạ tầng thông nông thôn, đảm bảo yêu cầu cho sự phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn của huyện Tư Nghĩa 92
3.3.9 Cần nâng cao hiệu lực quản lý các cấp chính quyền địa phương của huyện Tư Nghĩa 93
Tóm tắt chương 3: 94
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 95
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 98 PHỤ LỤC
Trang 9
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CNH- HĐH Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa
CCKT Cơ cấu kinh tế
ĐKKD Đăng ký kinh doanh
FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài (Foreign direct investment)
GTSX Giá trị sản xuất
GCNQSDD Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
GATT Hiệp định chung về thuế quan và Thương mại (The General greement
on Tariffs and Trade) HTX Hợp tác xã
KTXH Kinh tế xã hội
MTQG Mục tiêu quốc gia
NTTS Nuôi trồng thủy sản
PCCC Phòng cháy chữa cháy
OECD Tổ chức hợp tác kinh tế và phát triển (Organisation for Economic
Co-operation and Development)UBND Uỷ ban nhân dân
Trang 10
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Đặc điểm thời tiết, khí hậu huyện Tư Nghĩa 38 Bảng 2.2: Hiện trạng sử dụng đất đai trên địa bàn huyện Tư Nghĩa giai đoạn 2011 – 2015 42 Bảng 2.3: Dân số huyện Tư Nghĩa giai đoạn 2010 - 2015 45 Bảng 2.4: Một số chỉ tiêu lao động huyện Tư Nghĩa các năm 2013-2015 46 Bảng 2.5: Phân tích SWOT về điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức trong phát triển nông nghiệp của huyện Tư Nghĩa 55 Bảng 2.6: Tỷ trọng cơ cấu kinh tế (giá trị sản xuất) giữa các ngành của huyện Tư Nghĩa 57 Bảng 2.7: Tỷ trọng cơ cấu kinh tế (giá trị sản xuất) giữa các ngành Nông-Lâm-Thủy sản của huyện Tư Nghĩa 59 Bảng 2.8: Diện tích đất sản xuất nông nghiệp huyện Tư Nghĩa 60 Bảng 2.9: Tốc độ tăng lao động trong ngành nông nghiệp của huyện Tư Nghĩa trong giai đoạn 2005-2015 62 Bảng 2.10: Qui mô và tốc độ tăng lao động ngành trồng trọt của huyện Tư Nghĩa giai đoạn 2005 - 2015 63 Bảng 2.11: Qui mô và tốc độ tăng lao động trong ngành chăn nuôi của huyện Tư Nghĩa giai đoạn 2005-2015 65 Bảng 2.12: Quy mô và tốc độ tăng lao động trong dịch vụ nông nghiệp của huyện Tư Nghĩa giai đoạn 2005-2015 66 Bảng 2.13: Giá trị sản xuất ngành nông nghiệp của huyện Tư Nghĩa giai đoạn 2005-
2015 (theo giá hiện hành) 68 Bảng 2.14: Tốc độ tăng trưởng ngành nông nghiệp của huyện Tư Nghĩa giai đoạn 2005-2015 68 Bảng 2.15: Cơ cấu diện tích cây trồng của huyện Tư Nghĩa, giai đoạn 2011-2015 69 Bảng 2.16: Giá trị sản xuất và tốc độ tăng trưởng khu vực trồng trọt tại huyện Tư Nghĩa giai đoạn 2005 - 2015 70 Bảng 2.17: Cơ cấu đàn gia súc, gia cầm tại huyện Tư Nghĩa giai đoạn 2011-2015 71
Trang 11
Bảng 2.18: Giá trị sản xuất và tốc độ tăng trưởng khu vực chăn nuôi tại huyện Tư Nghĩa giai đoạn 2005 - 2015 71 Bảng 2.19: Giá trị sản xuất và tốc độ tăng trưởng dịch vụ nông nghiệp tại huyện Tư Nghĩa giai đoạn 2005 - 2015 73 Bảng 2.20: Tổng sản lượng lương thực bình quân đầu người của huyện Tư Nghĩa từ năm 2005-2015 75 Bảng 2.21: Lao động có trình độ chuyên môn đang làm việc trong các ngành nghề kinh tế của huyện Tư Nghĩa từ năm 2005-2015 76 Bảng 2.22: Cán bộ y tế huyện Tư Nghĩa các năm 2013-2015 77 Bảng 2.23: Công tác khám, chữa bệnh huyện Tư Nghĩa các năm 2013-2015 77 Bảng 2.24: Giá trị sản xuất ngành Nông-Lâm-Ngư nghiệp bình quân/ lao đọng nông nghiệp của huyện Tư Nghĩa từ năm 2005-2015 78
Trang 12
DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1 Các mô hình lý thuyết về chuyển dịch cơ cấu kinh tế 13 Hình 1.2: Khung phân tích của nghiên cứu 33 Hình 2.1: Tỷ trọng cơ cấu kinh tế giữa các ngành của huyện Tư Nghĩa giai đoạn 2005-2015 58 Hình 2.2: Sự biến động về qui mô lao động trong ngành nông nghiệp của huyện Tư Nghĩa giai đoạn 2005-2015 61 Hình 2.3: Diễn biến tốc độ tăng lao động trong ngành trồng trọt của huyện Tư Nghĩa giai đoạn 2005-2015 63 Hình 2.4: Diễn biến tốc độ tăng lao động trong ngành chăn nuôi của huyện Tư Nghĩa giai đoạn 2005-2015 64 Hình 2.5: Diễn biến, qui mô và tốc độ tăng lao động trong khu vực dịch vụ nông nghiệp của huyện Tư Nghĩa, giai đoạn 2005-2015 66 Hình 2.6: Diễn biến, qui mô lao động toàn ngành nông nghiệp của huyện Tư Nghĩa, giai đoạn 2005-2015 67 Hình 2.7: Diễn biến, qui mô giá trị sản xuất ngành nông nghiệp của huyện Tư Nghĩa, giai đoạn 2005-2015 73 Hình 2.8: Thu nhập bình quân đầu người của huyện Tư Nghĩa từ năm 2010-2015 74 Hình 2.9: Tổng sản lượng lương thực bình quân đầu người của huyện Tư Nghĩa từ năm 2005-2015 76 Hình 2.10: Gía trị sản xuất ngành Nông-Lâm-Ngư nghiệp bình quân/ lao động nông nghiệp của huyện Tư Nghĩa từ năm 2005-2015 79
Trang 13
TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Nghiên cứu chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp trên địa bàn huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi Mục tiêu nghiên cứu là: Đánh giá thực trạng và tác động của quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp trên địa bàn huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi, trên cơ sở đó nghiên cứu tìm ra một số giải pháp nhằm thúc đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp của huyện theo mục tiêu xác định
Phương pháp nghiên cứu được thực hiện bằng cách tiếp cận các khung lý thuyết
và mô hình về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp; phân tích thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng kết hợp sử dụng các phương pháp điều tra khảo sát thực tế, lấy ý kiến chuyên gia để chứng minh; phương pháp thống kê, so sánh và phân tích
Qua phân tích cho thấy trong những năm gần đây diện tích đất nông nghiệp có
xu hướng giảm dần Đó là điều tất yếu trong thời kỳ đô thị hóa hiện nay (năm 2005 là 13.655,62 ha tăng lên 16.737,91 ha năm 2013 và giảm xuống 15.149,11ha năm 2015, riêng diện tích đất sản xuất nông nghiệp (ngành trồng trọt) từ 10.443,6 ha năm 2005 giảm xuống 9.378,9 ha năm 2015) Lực lượng lao động trong ngành nông nghiệp của huyện cũng có những biến động liên tục, năm 2005 toàn huyện có 51.445 lao động; năm 2010 có 51.245 lao động và giảm 30.527 lao động trong năm 2015.Trung bình giai đoạn 2005-2010 là 48.652 lao động và giai đoạn 2011-2015 giảm xuống còn 31.178 lao động Giá trị sản xuất ngành nông nghiệp huyện cũng có những chuyển biến tích cực năm 2005 đạt 404.619 tỷ đồng, năm 2010 đạt 1.178,929 tỷ đồng và năm
2015 đạt 1.812,382 tỷ đồng Trung bình trong giai đoạn này, giá trị sản xuất của khu vực nông nghiệp đạt 1.084,405 tỷ đồng Tốc độ tăng giá trị sản xuất trung bình trong giai đoạn 2005-2010 đạt 20,95 % và giai đoạn 2011-2015 đạt 14,95 % Trung bình cả giai đoạn 2005-2015 tốc độ tăng giá trị sản xuất là 14,95 % Xét về nội bộ ngành nông nghiệp thì tỷ trọng ngành trồng trọt đóng góp lớn nhất trong giá trị sản xuất của huyện Tiếp đến là ngành chăn nuôi và ngành dịch vụ nông nghiệp là đóng góp giá trị sản xuất thấp nhất cho địa phương Năng suất lao động của ngành nông nghiệp huyện Tư Nghĩa giai đoạn từ 2005-2015 năng suất lao động của ngành có sự gia tăng đáng kể Trong các ngành chuyên môn hóa thì ngành trồng trọt và ngành chăn nuôi đóng góp chính trong việc tăng năng suất của ngành nông nghiệp của huyện Các yếu tố chính ảnh
Trang 14
hưởng đến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tê nông nghiệp của huyện Tư Nghĩa bao gồm: nhân tố Nguồn lực, Khoa học- kỹ thuật, Thị trường, Lợi thế về vị trí địa lý, khí hậu, tài nguyên thiên nhiên
Một số gợi ý giải pháp quan trọng là:
(i) Xây dựng chiến lược và quy hoạch phát triển cho từng địa phương cụ thể trên địa bàn huyện; nâng cao nhận thức nông hộ chuyển từ tình trạng tự cấp, tự túc sang sản xuất hàng hóa; xây dựng hoạt động phi nông nghiệp, công nghiệp nông thôn, tạo việc làm cho nông dân
(ii); thúc đẩy và mở rộng thị trường trong nước và ngoài nước để thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa
(iii); xây dựng hạ tầng thông nông thôn, đảm bảo yêu cầu cho sự phát triển nông
nghiệp và kinh tế nông thôn của huyện Tư Nghĩa
Từ khóa: chuyển dịch cơ cấu kinh tế, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi
Trang 15
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Đối với các nước đang phát triển cũng như ở Việt Nam, nông nghiệp là nguồn sống của đại đa số dân cư Vai trò của nông nghiệp được thể hiện qua năm hình thức
cơ bản: Cung cấp sản phẩm cho sản xuất và xuất khẩu; là thị trường tiêu thụ sản phẩm công nghiệp; cung cấp lao động cho các lĩnh vực kinh tế; xuất khẩu sản phẩm tạo nguồn ngoại tệ cho công nghiệp hoá và góp phần quan trọng trong việc giải quyết các vấn đề xã hội của đất nước, đảm bảo an ninh lương thực, nâng cao hiệu quả việc sử dụng các nguồn tài nguyên, xoá đói giảm nghèo và ổn định đời sống kinh tế - xã hội
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp là hoạt động nhằm đa dạng sinh học, đa dạng hoá sản phẩm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng ngày càng cao của xã hội, là biện pháp
cơ bản để tạo ra nhiều việc làm, sản xuất ra nhiều của cải, vật chất, nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống nhân dân, tăng thêm giá trị hàng hoá xuất khẩu qua đó góp phần đẩy mạnh công nghiệp hóa (CNH), hiện đại hóa (HĐH) đất nước
Ở Việt Nam, mục tiêu tổng quát của chiến lược 10 năm 2001 - 2010 đã nêu: Đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển; nâng cao đời sống vật chất, văn hoá tinh thần của nhân dân; tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại Nguồn lực con người, năng lực khoa học và công nghệ, kết cấu hạ tầng, tiềm lực kinh tế, quốc phòng, an ninh được tăng cường; thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được hình thành về cơ bản; vị thế của đất nước ta trên thị trường quốc tế được nâng cao Để thực hiện mục tiêu đề ra, nước ta phải phát triển đồng bộ tất cả các ngành kinh tế Đối với nông nghiệp, phải đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn theo hướng hình thành nền nông nghiệp hàng hoá lớn phù hợp với nhu cầu thị trường và điều kiện sinh thái của từng vùng
Quảng Ngãi là một trong những tỉnh thuộc khu vực Duyên hải Nam Trung bộ, có một nền nông nghiệp khá toàn diện bao gồm các lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp và thủy sản Tuy nhiên lại có khoảng 48% dân số toàn Tỉnh sống bằng nghề nông nghiệp, do vậy, việc khai thác sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên
và lao động để sản xuất nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững có vai trò rất quan trọng trong việc phát triển kinh tế và ổn định chính trị - xã hội của Tỉnh
Trang 16
Tư Nghĩa là huyện đồng bằng nằm ở cửa ngõ phía nam của thành phố Quảng Ngãi, có diện tích tự nhiên là 205,43km2, dân số 129,9 nghìn người, phần lớn dân số sống bằng nghề nông nghiệp, cơ cấu nông nghiệp chiếm tỷ lệ khoảng 40% trong tổng giá trị sản xuất của ngành kinh tế huyện Đời sống của nhân dân ở khu vực còn nhiều khó khăn, kinh tế còn phụ thuộc chủ yếu vào nông nghiệp Nhận thức được vấn đề đó trong những năm qua huyện Tư Nghĩa đã chú trọng tới đầu tư phát triển của ngành nông nghiệp đạt nhiều kết quả Tuy nhiên, so với tiềm năng và nguồn lực của huyện thì tốc độ phát triển kinh tế nông nghiệp còn thấp, cơ cấu kinh tế nông nghiệp chuyển dịch chậm, chưa hợp lý Cụ thể là quy mô, địa bàn sản xuất của hầu hết các nông sản hàng hóa chủ lực còn phân tán, phát triển theo chiều rộng là chính, hàm lượng khoa học và công nghệ đưa vào sản phẩm còn ít, dẫn đến năng suất và chất lượng sản phẩm thấp, khả năng cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế yếu
Từ thực tế nêu trên, để thúc đẩy kinh tế nông nghiệp trên địa bàn huyện phát triển một cách toàn diện và bền vững thì một yêu cầu đặt ra cho phát triển kinh tế ở địa phương này là phải chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nhằm khai thác tối đa tiềm năng và các lợi thế của vùng đất này
Trước yêu cầu thực tiễn cấp thiết như trên tác giả chọn đề tài: “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi” để nghiên cứu nhằm đánh giá tình hình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp của huyện thời gian qua, từ đó định hướng và đưa ra giải pháp để đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp phù hợp với xu thế chung và điều kiện thực tế phát triển của huyện
2 Mục tiêu nghiên cứu
* Mục tiêu chung
Mục tiêu chung của đề tài là nghiên cứu quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp của huyện Tư Nghĩa trong thời gian qua, trên cơ sở đó đề xuất phương hướng chuyển dịch trong thời gian tới
* Mục tiêu cụ thể
(1) Nghiên cứu xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp tại huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi, giai đoạn 2005-2015
Trang 173 Câu hỏi nghiên cứu
Các nội dung nghiên cứu của đề tài tập trung giải đáp các câu hỏi:
(1) Cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp tại huyện Tư Nghĩa trong giai đoạn
2005-2015 có xu hướng chuyển dịch như thế nào?
(2) Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp tại huyện Tư Nghĩa trong thời gian qua có ảnh hưởng như thế nào đến chất lượng cuộc sống và năng suất lao động của vùng?
(3) Những chính sách nào có thể thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp của huyện Tư Nghĩa một cách hợp lý?
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp của huyện
Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi và các vấn đề liên quan đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp
* Phạm vi nghiên cứu:
Đề tài nghiên cứu được thực hiện trong các giới hạn sau:
+ Về không gian: đề tài luận văn nghiên cứu trên địa bàn huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi
+ Về thời gian: đề tài luận văn thu thập số liệu liên quan từ năm 2005 - 2015
6 Đóng góp của đề tài luận văn
* Đóng góp về mặt khoa học
Đề tài luận văn đóng góp một phần nhỏ để làm rõ hơn khía cạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp về mặt phương pháp luận
Trang 188 Kết cấu của đề tài luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận - Kiến nghị và tài liệu tham khảo, nghiên cứu được trình bày thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp Chương 2: Phân tích chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi thời gian qua
Chương 3: Một số giải pháp góp phần thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi
Trang 19
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
1.1 Nông nghiệp và đặc điểm của nông nghiệp
1.1.1 Khái niệm nông nghiệp
Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản của xã hội, sử dụng đất đai để trồng trọt và chăn nuôi, khai thác cây trồng và vật nuôi làm tư liệu và nguyên liệu lao động chủ yếu để tạo ra lương thực thực phẩm và một số nguyên liệu cho công nghiệp Nông nghiệp là một ngành sản xuất lớn, bao gồm nhiều chuyên ngành: trồng trọt, chăn nuôi, sơ chế nông sản; theo nghĩa rộng, còn bao gồm cả lâm nghiệp, thủy sản (Đinh Phi Hổ, 2003)
Sản xuất nông nghiệp không những cung cấp lương thực, thực phẩm cho con người, đảm bảo nguồn nguyên liệu cho các ngành công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng
và công nghiệp chế biến lương thực, thực phẩm mà còn sản xuất ra những mặt hàng có giá trị xuất khẩu, tăng thêm nguồn thu ngoại tệ Hiện tại cũng như trong tương lai, nông nghiệp vẫn đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của xã hội loài người, không ngành nào có thể thay thế được Trên 40% số lao động trên thế giới đang tham gia vào hoạt động nông nghiệp Đảm bảo an ninh lương thực là mục tiêu phấn đấu của mỗi quốc gia, góp phần ổn định chính trị, phát triển nền kinh tế (Khuất Quang Cảnh, 2012) Nông nghiệp là một ngành kinh tế quan trọng trong nền kinh tế của nhiều nước, đặc biệt là trong các thế kỷ trước đây khi công nghiệp chưa phát triển
Trong nông nghiệp cũng có hai loại chính, việc xác định sản xuất nông nghiệp thuộc dạng nào cũng rất quan trọng:
Nông nghiệp thuần nông hay nông nghiệp sinh nhai là lĩnh vực sản xuất nông nghiệp có đầu vào hạn chế, sản phẩm đầu ra chủ yếu phục vụ cho chính gia đình của mỗi người nông dân Không có sự cơ giới hóa trong nông nghiệp sinh nhai
Nông nghiệp chuyên sâu: là lĩnh vực sản xuất nông nghiệp được chuyên môn hóa trong tất cả các khâu sản xuất nông nghiệp, gồm cả việc sử dụng máy móc trong trồng trọt, chăn nuôi, hoặc trong quá trình chế biến sản phẩm nông nghiệp Nông nghiệp
Trang 20
chuyên sâu có nguồn đầu vào sản xuất lớn, bao gồm cả việc sử dụng hóa chất diệt sâu, diệt cỏ, phân bón, chọn lọc, lai tạo giống, nghiên cứu các giống mới và mức độ cơ giới hóa cao Sản phẩm đầu ra chủ yếu dùng vào mục đích thương mại, làm hàng hóa bán
ra trên thị trường hay xuất khẩu Các hoạt động trên trong sản xuất nông nghiệp chuyên sâu là sự cố gắng tìm mọi cách để có nguồn thu nhập tài chính cao nhất từ ngũ cốc, các sản phẩm được chế biến từ ngũ cốc hay vật nuôi (Trương Thị Mỹ Hoa, 2011)
1.1.2 Đặc điểm nông nghiệp
Theo Đinh Thu Nga (2010), phát triển nông nghiệp, nông thôn hiện vẫn được coi
là vấn đề then chốt, quyết định sự thành công của quá trình phát triển kinh tế - xã hội nói chung và công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa nói riêng của nhiều quốc gia Đặc biệt với Việt Nam, một nước có nền sản xuất nông nghiệp làm nền tảng, sự đóng góp của nông nghiệp, nông thôn vào sự phát triển chung của quốc dân càng to lớn Phát triển nông nghiệp, nông thôn là một quá trình tất yếu cải thiện một cách bền vững
về kinh tế, xã hội, văn hóa và môi trường Nhìn chung, vai trò cơ bản của nông nghiệp, nông thôn thể hiện dưới đây:
Nông nghiệp là ngành cung cấp lương thực, thực phẩm cho tiêu dùng, nó tạo nên
sự ổn định, đảm bảo an toàn cho phát triển của nền kinh tế quốc dân và đời sống xã hội Đồng thời, nông nghiệp cũng là ngành cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp; nguyên liệu từ nông nghiệp là đầu vào quan trọng cho sự phát triển của các ngành công nghiệp khác Nông nghiệp giúp phát triển thị trường nội địa, việc tiêu dùng của người nông dân và mạng dân cư nông thôn đối với hàng hóa công nghiệp, hàng hóa tiêu dùng (vải, đồ gỗ, dụng cụ gia đình, vật liệu xây dựng), hàng hóa tư liệu sản xuất (phân bón, thuốc trừ sâu, nông cụ, trang thiết bị, máy móc) là tiêu biểu cho sự đóng góp về mặt thị trường của ngành nông nghiệp đối với quá trình phát triển kinh tế Bên cạnh đó, nông nghiệp còn mang lại nguồn ngoại tệ và nguồn nhân lực cho nền kinh tế Thông qua nguồn thu từ thuế đất nông nghiệp, thuế xuất khẩu nông sản, nhập khẩu tư liệu sản xuất nông nghiệp, Nhà nước sẽ thu được một nguồn ngân sách lớn, dùng đầu
tư cho phát triển kinh tế
Nông thôn là địa bàn sản xuất và cung cấp lương thực, thực phẩm cho tiêu dùng của cả xã hội; là thị trường quan trọng để tiêu thụ sản phẩm của khu vực thành thị hiện đại Nông thôn chiếm đại đa số nguồn tài nguyên, đất đai, khoáng sản, động thực vật,
Trang 21
rừng, biển nên sự phát triển bền vững nông thôn có ảnh hưởng to lớn đến việc bảo vệ môi trường sinh thái, việc khai thác, sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên khu vực nông thôn đảm bảo cho sự phát triển lâu dài và bền vững của đất nước Vai trò của phát triển nông thôn còn thể hiện trong việc gìn giữ và tô điểm cho môi trường sinh thái của con người, tạo sự gắn bó hài hòa giữa con người với thiên nhiên và hình thành những nơi nghỉ dưỡng trong lành, giải trí phong phú, vùng du lịch sinh thái đa dạng và thanh bình, góp phần nâng cao đời sống tinh thần cho con người
Để có thể phát triển nông nghiệp, nông thôn một cách toàn diện và bền vững, Việt Nam cần phải xây dựng một mô hình CNH-HĐH nông nghiệp, phát triển nông thôn phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của mình Thực tiễn kinh nghiệm các quốc gia cho thấy các mô hình CNH-HĐH nông nghiệp, phát triển nông thôn được
áp dụng chủ yếu trên thế giới thành công hay thất bại phụ thuộc nhiều vào quan điểm
và chính sách của Nhà nước đối với quá trình này Đối với các nước đang trong quá trình CNH, phát triển của khu vực nông nghiệp nông thôn đang được coi là chìa khoá cho phát triển bền vững, song ở nhiều nơi việc thiếu hụt các nguồn lực cũng như nhận thức chưa đầy đủ về vai trò quan trọng này đã khiến quá trình phát triển nông nghiệp, nông thôn gặp nhiều khó khăn Mặc dù quá trình CNH-HĐH nông nghiệp, phát triển nông thôn diễn ra hết sức đa dạng ở những quốc gia có đặc điểm và lộ trình phát triển không giống nhau, song xét về bản chất có thể thấy tập trung vào ba mô hình chủ đạo sau đây:
Một là, mô hình CNH-HĐH nông nghiệp, phát triển nông thôn ngoại sinh, diễn
ra ở những nền kinh tế có cơ sở công nghiệp phát triển mạnh mẽ giúp thu hút một lực lượng lao động lớn khỏi nông nghiệp - nông thôn, đến một mức độ phát triển nhất định
có xu hướng chuyển dịch công nghiệp về nông thôn và lấy HĐH nông nghiệp - nông thôn làm xung lực mới cho quá trình công nghiệp hóa Mô hình này phổ biến đối với các nước phát triển, là sản phẩm của thời kỳ “hậu công nghiệp”
Hai là, mô hình CNH-HĐH nông nghiệp, phát triển nông thôn nội sinh, diễn ra ở những nền kinh tế có cơ sở công nghiệp còn lạc hậu, không đủ sức thu hút lực lượng lao động lớn từ nông nghiệp - nông thôn, buộc khu vực nông nghiệp - nông thôn phải thực hiện tự hiện đại hóa và chuyển dịch cơ cấu sang các ngành công nghiệp và dịch
vụ để giải quyết vấn đề việc làm, thu nhập và giải quyết các vấn đề xã hội ở nông thôn
Trang 22
Mô hình này phổ biến đối với các nước đang phát triển, không phải là sự nối dài của công nghiệp thành thị mà có thể trở thành lực lượng bổ sung hoặc thậm chí cạnh tranh với công nghiệp thành thị trong quá trình công nghiệp hóa
Ba là, mô hình CNH, HĐH nông nghiệp - nông thôn hỗn hợp, là sự kết hợp của hai mô hình nêu trên Mô hình này được áp dụng ở nhiều quốc gia mới CNH hoặc mới nổi, trong đó cơ sở công nghiệp cũng đã có những tích lũy nhất định song lực lượng lao động ở khu vực nông nghiệp - nông thôn vẫn còn chiếm tỷ trọng lớn, quá trình chuyển dịch công nghiệp từ thành thị tới nông thôn diễn ra song song với HĐH nông nghiệp - nông thôn, kết cấu nhị nguyên trong kinh tế này khi được vận dụng phù hợp
đã đưa tới sự thành công nhanh chóng của nhiều nền kinh tế trong quá trình CNH Mặc dù mỗi quốc gia hay nền kinh tế có điều kiện đặc thù riêng, song lịch sử phát triển công nghiệp hóa của các quốc gia trên thế giới trải qua vài trăm năm đã chứng tỏ rằng chỉ những quốc gia nào xây dựng được chính sách phát triển trong đó ý thức được tầm quan trọng của khu vực nông nghiệp, phát triển nông thôn và dành cho khu vực này quyết tâm chính trị cao độ mới có thể thành công trong công cuộc hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn nói riêng và công nghiệp hóa nền kinh tế nói chung Ngoài ra, để phát triển nông nghiệp - nông thôn hiệu quả, mỗi nước cần sử dụng tất cả những điều kiện sẵn có, từ kiến thức công nghệ sinh học hiện đại cho tới những kinh nghiệm cổ truyền Mỗi địa phương, mỗi quốc gia đều có thể lựa chọn để phát triển bền vững nền nông nghiệp của mình
1.2 Khái niệm Cơ cấu kinh tế và cơ cấu kinh tế nông nghiệp
1.2.1 Khái niệm Cơ cấu kinh tế
Nền kinh tế quốc dân là một hệ thống phức tạp, được cấu thành bởi nhiều bộ phận khác nhau Đồng thời giữa chúng luôn có quan hệ biện chứng với nhau trong quá trình vận động và phát triển Sự vận động và phát triển của nền kinh tế còn chứa đựng
sự thay đổi của chính bản thân các bộ phận và cách thức quan hệ giữa chúng với nhau trong mỗi thời điểm và trong mỗi điều kiện khác nhau Do đó, có thể khái quát cơ cấu kinh tế là tổng thể các bộ phận hợp thành cùng với những mối quan hệ về chất lượng
và số lượng giữa các bộ phận cấu thành nền kinh tế trong không gian, thời gian và điều kiện kinh tế, xã hội nhất định (Nguyễn Thành Độ và Lê Du Phong, 1999)
Trang 23
Trong khi đó, theo Thư viện học liệu mở Việt Nam (VOER) cho rằng, cơ cấu
kinh tế là một tổng thể các bộ phận hợp thành kết cấu (hay cấu trúc) của nền kinh tế
trong quá trình tăng trưởng sản xuất xã hội Các bộ phận đó gắn bó với nhau, tác động qua lại lẫn nhau và biểu hiện ở các quan hệ tỷ lệ về số lượng, tương quan về chất lượng trong những không gian và thời gian nhất định, phù hợp với những điều kiện kinh tế xã hội nhất định nhằm đạt được hiệu quả kinh tế xã hội cao
Cơ cấu kinh tế không phải là một hệ thống tĩnh bất biến mà luôn ở trạng thái vận động, biến đổi không ngừng Chính vì vậy, cần phải nghiên cứu các qui luật khách quan, thấy được sự vận động phát triển của lực lượng sản xuất xã hội để xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý, phù hợp với những mục tiêu chiến lược kinh tế xã hội của từng thời kỳ lịch sử nhất định
Một cơ cấu kinh tế hợp lý phải có các bộ phận kết hợp một cách hài hoà, cho phép khai thác tối đa các nguồn lực của đất nước một cách có hiệu quả, đảm bảo nền kinh tế tăng trưởng với nhịp độ cao và phát triển ổn định, không ngừng nâng cao đời sống vật chất, văn hoá tinh thần của người dân
Như vậy, bản chất của cơ cấu kinh tế là sự biểu hiện của các mối quan hệ giữa các yếu tố của quá trình sản xuất xã hội, đó là mối quan hệ của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, nhưng không đơn thuần chỉ là những quan hệ về mặt số lượng và tỷ
lệ giữa các yếu tố - biểu hiện về lượng hay sự tăng trưởng của hệ thống, mà là những mối quan hệ bên trong và bên ngoài của các yếu tố đó - biểu hiện về chất hay sự phát triển của hệ thống (Lê Đình Thắng, 1998)
Cơ cấu kinh tế là tổng thể các mối quan hệ chủ yếu về số lượng và về chất lượng, tương đối ổn định của các yếu tố kinh tế hoặc các bộ phận của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất (quan hệ giữa chúng với nhau và với toàn bộ hệ thống trong một hệ thống tái sản xuất xã hội với những điều kiện kinh tế - xã hội nhất định vào những khoảng thời gian nhất định (Bùi Tất Thắng, 2006)
Cơ cấu kinh tế là số lượng các ngành chuyên môn hoá và mối quan hệ tỷ lệ giữa các ngành chuyên môn hoá với nhau của một nền kính tế với những điều kiện kinh tế -
xã hội nhất định và trong một khoảng thời gian nhất định Cơ cấu kinh tế không chỉ phản ánh sự phân chia tỷ lệ về lượng mà còn biểu hiện sự khác nhau về chất của một
Trang 24
nền kinh tế Chẳng hạn, ở một nền kinh tế trong đó công nghiệp chiếm tỷ trọng cao, thường cũng là nền kinh tế có năng suất và thu nhập bình quân đầu người cao hơn một nền kinh tế có tỷ trọng công nghiệp thấp hơn Mức độ liên kết kinh tế giữa các bộ phận cũng là một tiêu chuẩn đánh giá trình độ phát triển của một nền kinh tế (Nguyễn Đình Quế, 2004)
1.2.2 Khái niệm cơ cấu kinh tế nông nghiệp
Với tư cách là bộ phận hợp thành hệ thống kinh tế quốc dân thống nhất, sự phát triển nông nghiệp có quan hệ tương hỗ với sự phát triển của công nghiệp và dịch vụ Nó đóng vai trò quan trọng trong phát triển nền kinh tế quốc dân, nhất là đối với các nước kém phát triển
Cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp là một tổng thể các mối quan hệ kinh tế trong khu vực nông nghiệp Nó là cấu trúc hữu cơ các bộ phận kinh tế trong khu vực nông nghiệp trong quá trình phát triển, có mối quan hệ gắn bó hữu cơ với nhau theo những
tỷ lệ nhất định về mặt lượng và có liên quan chặt chẽ về mặt chất, chúng có tác động qua lại lẫn nhau, trong không gian và thời gian, phù hợp với những điều kiện kinh tế -
xã hội nhất định, tạo thành một hệ thống kinh tế trong nông nghiệp
Xác lập cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp chính là giải quyết mối quan hệ giữa những bộ phận cấu thành trong tổng thể kinh tế nông nghiệp dưới tác động của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, giữa tự nhiên và con người, đồng thời giải quyết mối quan hệ giữa kinh tế nông nghiệp và kinh tế thành thị trong điều kiện và hoàn cảnh lịch sử cụ thể
Cơ cấu ngành trong kinh tế nông nghiệp là sự thể hiện các mối quan hệ tỷ lệ giữa các ngành kinh tế trong nông nghiệp Các ngành trong nông nghiệp thường được phân thành 3 nhóm ngành lớn bao gồm nông nghiệp, lâm nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản Trong mỗi ngành lớn lại được phân thành các ngành nhỏ hơn - những ngành chuyên môn hóa hẹp
Cơ sở để phân chia các ngành kinh tế trong nông nghiệp là do các đặc điểm tự nhiên, kinh tế, kỹ thuật và trình độ phân công lao động để thực hiện các hoạt động với những đặc tính khác nhau đó Đối với mỗi ngành, các đặc điểm tự nhiên, kinh tế, kỹ thuật tương đối ổn định, vì vậy phân công lao động là cơ sở quan trọng để phân chia các ngành Phân công lao động càng thực hiện sâu sắc, tỉ mỉ thì cơ cấu ngành càng đa dạng, trong từng nhóm ngành lại được phân chia thành từng tiểu ngành nhỏ hơn
Trang 25
Trong cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp, việc xác lập những mối quan hệ hợp lý giữa các ngành nông nghiệp trên địa bàn lãnh thổ có ý nghĩa hết sức quan trọng Để xác lập cơ cấu ngành trong nông nghiệp cần hiểu rõ: Nông nghiệp là ngành có vị trí quan trọng trong kinh tế quốc dân, nhất là ở giai đoạn nền kinh tế còn ở mức độ phát triển thấp Sự phát triển của nông nghiệp gắn bó chặt chẽ với các ngành khác trên địa bàn nông thôn, vừa phản ánh những nét riêng biệt mang tính đặc thù của một ngành với những mối quan hệ nội tại gắn bó của những sinh vật là đối tượng của sản xuất Tuy nhiên, trong quá trình phát triển kinh tế đất nước, thì vai trò của ngành nông nghiệp ngày càng giảm, vai trò của các ngành công nghiệp và dịch vụ có xu hướng tăng Cơ cấu kinh tế nông nghiệp có sự chuyển dịch mang tính quy luật
Các dạng cơ cấu trong nông nghiệp bao gồm:
Cơ cấu kinh tế nông nghiệp - nông thôn theo ngành
Cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp - nông thôn theo vùng lãnh thổ:
Cơ cấu kinh tế nông nghiệp - nông thôn theo thành phân kinh tế
Cơ cấu kỹ thuật trong nông nghiệp
1.3 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp
1.3.1 Khái niệm
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp là sự vận động của các yếu tố cấu thành của kinh tế nông nghiệp theo các quy luật khách quan dưới sự tác động của con người vào các nhân tố ảnh hưởng đến chúng theo những mục tiêu xác định Chuyển dịch cơ cấu ngành trong nông nghiệp là sự dịch chuyển vai trò, vị trí và tỷ lệ hợp thành của các ngành, lĩnh vực, bộ phận trong sản xuất nông nghiệp theo hướng hợp lý nhằm đạt được hiệu quả kinh tế, xã hội cao (Thư viện Học liệu mở Việt Nam, 2016)
Theo H Chenery (1988), khái niệm chuyển đổi cơ cấu kinh tế là các thay đổi về
cơ cấu kinh tế và thể chế cần thiết cho sự tăng trưởng liên tục của tổng sản phẩm quốc dân (GDP), bao gồm sự tích luỹ của vốn vật chất và con người, thay đổi nhu cầu, sản xuất, lưu thông và việc làm Ngoài ra còn các quá trình kinh tế xã hội kèm theo như đô thị hoá, biến động dân số, thay đổi trong việc thu nhập Khái niệm chuyển đổi cơ cấu kinh tế được sử dụng đồng nghĩa với cụm từ chuyển dịch cơ cấu kinh tế được một số tài liệu nghiên cứu khác sử dụng, về bản chất chỉ sự thay đổi trong cơ cấu kinh tế (change hay transformation)
Trang 26
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp là sự vận động của các yếu tố cấu thành của kinh tế nông nghiệp theo các quy luật khách quan dưới sự tác động của con người vào các nhân tố ảnh hưởng đến chúng theo những mục tiêu xác định Chuyển dịch cơ cấu ngành trong nông nghiệp là sự dịch chuyển vai trò, vị trí và tỷ lệ hợp thành của các ngành, lĩnh vực, bộ phận trong sản xuất nông nghiệp theo hướng hợp lý nhằm đạt được hiệu quả kinh tế, xã hội cao (Đoàn Tranh, 2012)
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo vùng nông nghiệp là sự chuyển dịch của các ngành nông nghiệp xét theo từng vùng trong nông nghiệp Về thực chất, đó cũng là sự chuyển dịch của ngành nhưng được xem xét ở phạm vi hẹp hơn theo từng vùng lãnh thổ Xuất phát từ đặc điểm tự nhiên nước ta, việc kết hợp sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp trên toàn vùng lãnh thổ cũng như trong từng vùng là yêu cầu tất yếu khách quan Thực chất đó là quan điểm sinh thái của sự kết hợp Vì việc kết hợp giữa nông, lâm, ngư nghiệp cho phép tạo ra cân bằng sinh thái hợp lý đảm bảo những điều kiện cần thiết cho sản xuất (đất đai, khí hậu, nước, độ ẩm, ) kinh doanh lâu dài với hiệu quả cao Đó còn là yêu cầu tất yếu của việc sử dụng tài nguyên, tổ chức sản xuất hợp
lý theo lãnh thổ (Trương Thị Mỹ Hoa, 2011)
1.3.2 Sự cần thiết phải chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nhằm đáp ứng sự phát triển của nền kinh tế thị trường, nhu cầu của người tiêu dùng và xu thế phát triển của thế giới
Sản xuất nông nghiệp nhằm tạo ra các sản phẩm phục vụ cho nhu cầu thiết yếu của con người, vì vậy sản xuất nông nghiệp phụ thuộc rất lớn vào nhu cầu thị trường, thị hiếu, sức mua dân cư, Cùng với sự phát triển của kinh tế - xã hội, dân số tăng cao, kinh tế phát triển mạnh mẽ, cuộc sống của con người ngày càng được cải thiện theo hướng tích cực, sức mua tăng cao, nhu cầu và thị hiếu đối với các sản phẩm nông nghiệp ngày càng khắt khe hơn đòi hỏi ngành nông nghiệp phải tăng trưởng nhanh, để không chỉ đáp ứng về mặt số lượng mà còn phải thỏa mãn nhu cầu về chất lượng sản phẩm Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp chính là sự thích ứng của sản xuất nông nghiệp với thị trường về các sản phẩm do ngành nông nghiệp làm ra trong từng giai đoạn cụ thể Bên cạnh đó, trong quá trình hội nhập với nền kinh tế thế giới, sự phát triển nhanh chóng và mạnh mẽ của thị trường thế giới buộc chúng ta phải chuyển dịch
cơ cấu kinh tế nông nghiệp để có thể bắt kịp xu hướng với thị hiếu, nhu cầu của thị trường toàn cầu, như vậy mới có khả năng cạnh tranh với các nước có nền nông
nghiệp phát triển trên thế giới
Trang 27
Sự cần thiết phải chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp còn bắt nguồn từ nhu cầu khai thác có hiệu quả mọi tiềm năng tự nhiên, kinh tế, kỹ thuật, lao động hiện có trong nông nghiệp Ngành nông nghiệp là ngành sản xuất phụ thuộc rất lớn vào điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế - xã hội, ở nước ta nông nghiệp còn mang tính chất manh mún, lạc hậu, quy mô chưa lớn, việc khai khác và sử dụng mọi tiềm năng trong nông nghiệp còn lãng phí và chưa hiệu quả Để khai thác có hiệu quả mọi tiềm năng của ngành nông nghiệp, phát triển sản xuất hàng hóa, mở rộng thị trường thì chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu
Bên cạnh việc khai thác tối ưu mọi tiềm năng thì chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp còn nhằm thay đổi bộ mặt kinh tế - xã hội của khu vực nông thôn
Khu vực nông thôn, các cư dân ở đây chủ yếu là nông dân và làm nghề nông, đây là địa bàn hoạt động chủ yếu của ngành nông nghiệp Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp chính là giúp thay đổi bộ mặt của khu vực nông thôn Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế buộc khu vực nông thôn phải huy động tối đa các nguồn lực để xây dựng cơ sở, hạ tầng kỹ thuật, nâng cao trình độ dân trí,…thông qua đó phát triển sản xuất nông nghiệp Việc xây dựng một cơ cấu kinh tế nông nghiệp hợp lý sẽ góp phần tích cực trong phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của người dân nông thôn
1.4 Các cơ sở lý thuyết về vai trò của chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp 1.4.1 Mô hình Rostow
Hình 1.1 Các mô hình lý thuyết về chuyển dịch cơ cấu kinh tế
(Nguồn: Tác giả tổng hợp)
Trang 28
Mô hình Rostow là mô hình phát triển thịnh hành của nhiều quốc gia trên thế giới Mô hình W Rostow cho rằng mỗi quốc gia đều phải trải qua 05 giai đoạn phát triển, bao gồm giai đoạn xã hội truyền thống, giai đoạn chuẩn bị cất cánh, giai đoạn cất cánh, giai đoạn trưởng thành, và giai đoạn tiêu dùng cao
Các đặc điểm của từng giai đoạn như sau:
Trong giai đoạn 1, nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn với kiến thức canh tác truyền thống, dân cư chủ yếu sống ở nông thôn, không khuyến khích hay chấp nhận các ý tưởng mới; không đầu tư cho nghiên cứu và phát triển Giai đoạn 1 biểu hiện một
xã hội cực kỳ bảo thủ, mức độ tích lũy thấp, ít vốn tài chính, sử dụng tiền mặt là chủ yếu, ít hoặc không có đầu tư Cơ sở hạ tầng bao gồm đường sá, hệ thống thông tin ở mức rất thấp Tổ chức chính phủ kém thể hiện qua việc các nguồn lực sử dụng không hiệu quả Trình độ giáo dục thấp Quốc gia dễ tổn thương bởi các thảm họa thiên nhiên
và tầm nhìn quốc gia thấp
Giai đoạn 2: Chuẩn bị cất cánh
Trong giai đoạn 2, xã hội đã hình thành các nền tảng phát triển mức đơn giản, đang nỗ lực hiện đại hóa nông nghiệp Quốc gia phụ thuộc vào các tài nguyên tự nhiên
để phát triển các nền công nghiệp non trẻ, rất phụ thuộc vào nhập khẩu Các thị trường chưa được phân khúc rõ ràng Đất nước phát triển dựa vào vốn Nền kinh tế không ổn định Chính phủ cố gắng thu hút đầu tư và sự trợ giúp từ nước ngoài Trong giai đoạn này, phân bổ các nguồn lực không thực sự hiệu quả, rất ít các doanh nghiệp vừa và nhỏ
Giai đoạn 3: Cất cánh
Trong giai đoạn 3, tỷ trọng cho đầu tư ngày càng cao hơn là động lực cho nền kinh tế Đất nước được hỗ trợ bởi các quỹ đầu tư, giáo dục tư vấn từ nước ngoài, Việc làm và thu nhập tăng trưởng cao bắt đầu tăng trưởng tiêu dùng, có sự chuyển dịch lao động từ nông thôn ra thành thị nơi có những cơ hội việc làm tốt hơn Giáo dục được đặc biệt coi trọng Cơ sơ hạ tầng phát triển thúc đẩy giao thương Các nhà sản xuất nước ngoài xâm nhập; bắt đầu với vai trò gia công (OEM) các sản phẩm Tiền lương, việc làm tăng trưởng khiến mức sống được nâng cao Lực lượng lao động phát triển tiến dần tới các tiêu chuẩn quốc tế
Trang 29
Giai đoạn 4: Trưởng thành
Trong giai đoạn 4, nền kinh tế tăng trưởng nhờ tiêu dùng; người dân có tích lũy Năng lực nghiên cứu và phát triển cao Trình độ công nghiệp ở mức cao Phân khúc thị trường mạnh mẽ và rõ ràng Hệ thống logistic tinh vi Số lượng lớn doanh nghiệp vừa
và nhỏ Các công ty và cá nhân tuân thủ pháp luật ở mức độ cao Nền giáo dục phát triển Lượng lớn dân số sống ở thành thị
Giai đoạn 5: Tiêu dùng cao
Trong giai đoạn 5, công nghiệp và nông nghiệp giảm dần thay thế bằng dịch vụ, tăng nhập khẩu hàng tiêu dùng từ các quốc gia sản xuất có giá rẻ, giảm dần các khu đô thị và tăng trưởng ở các khu vực khác (phát triển khu vực ngoại thành) Đất nước đầu
tư theo hướng ít rủi ro như các khu mua sắm Các công ty khởi nghiệp thường được thành lập bởi những người mới nhập cư Số người thất nghiệp tăng Dân số giảm, tốc
độ tăng trưởng giảm
1.4.2 Mô hình Harry T Oshima
Harry T Oshima (1918-1998), nhà kinh tế học người Nhật Bản Theo Ông, mô hình Hary T Oshima chỉ ra các đặc điểm của các nước châu Á sản xuất lúa nước là có tính thời vụ cao trong sản xuất nông nghiệp, cụ thể: (1) Thời kỳ chính vụ: thiếu lao động, (2) Thời kỳ nông nhàn: thừa lao động
Theo Oshima, các quốc gia trải qua các giai đoạn phát triển sau:
Giai đoạn 1: Tạo công ăn việc làm trong lúc nông nhàn
Giai đoạn 1: là giai đoạn đầu của quá trình tăng trưởng kinh tế Mục tiêu của giai đoạn này là giải quyết lao động thất nghiệp thời vụ, đảm bảo nhu cầu lương thực, thực phẩm tiến tới xuất khẩu lương thực để từ đó có nguồn thu ngoại tệ, và nhập khẩu
tư liệu sản xuất cho công nghiệp
Quan điểm đầu tư trong giai đoạn này là đầu tư cho khu vực nông nghiệp trước
để có thể giải quyết vấn đề dư thừa lao động thời vụ trong nông nghiệp
Biện pháp thực hiện các hoạt động, chiến lược tăng trưởng kinh tế bao gồm: Đa dạng hóa vật nuôi, cây trồng, xen canh tăng vụ để tạo việc làm trong thời kỳ nông nhàn – điều này phù hợp với điều kiện của các nước đang phát triển Nhà nước hỗ trợ đầu tư nông nghiệp thông qua hỗ trợ tín dụng và xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn
Trang 30
Kết quả của giai đoạn 1 là hàng hóa nông sản tăng cả về khối lượng, chủng loại, gia tăng nhu cầu trao đổi hàng hóa nông sản, nhu cầu chế biến nông sản để nâng cao giá trị kinh tế và khả năng tiêu thụ, nhu cầu cung cấp các yếu tố đầu vào cho ngành nông nghiệp (công nghiệp phục vụ sản xuất nông nghiệp) Số lượng việc làm tăng, giải quyết được vấn đề việc làm trong thời kỳ nông nhàn
Dấu hiệu kết thúc giai đoạn 1 là khi các nhu cầu trên ngày càng cao, biểu hiện không còn thất nghiệp thời vụ
Giai đoạn 2: Hướng tới có việc làm đầy đủ trong cả hai khu vực
Quan điểm đầu tư của giai đoạn 2 là đầu tư cho cả 2 khu vực nông nghiệp và công nghiệp theo chiều rộng Biện pháp được thực hiện bao gồm: Về nông nghiệp, tiếp tục mở rộng quy mô sản xuất, đa dạng hóa sản phẩm Về công nghiệp, đầu tư phát triển các ngành công nghiệp chế biến nông sản, các ngành công nghiệp cung cấp các yếu tố đầu vào cho nông nghiệp Mô hình thực chất là nhấn mạnh sự liên kết nông – công nghiệp, hình thành các tổ hợp gắn kết nông – công nghiệp, các tổ hợp sản xuất Kết quả của giai đoạn 2 là chủng loại sản phẩm gia tăng, năng suất, sản lượng tăng, tăng tỷ trọng ngành công nghiệp chế biến nông sản, tăng tỷ trọng ngành công nghiệp phục vụ sản xuất nông nghiệp
Dấu hiệu kết thúc giai đoạn 2 là tốc độ tăng trưởng việc làm tỏ ra nhanh hơn tốc độ tăng lao động (Cung lao động < Cầu lao động)
Giai đoạn 3: Sau khi có việc làm đầy đủ
Mục tiêu của giai đoạn 3 là nâng cao hiệu quả, năng suất Quan điểm đầu tư là đầu tư cho cả 2 khu vực nông nghiệp và công nghiệp theo chiều sâu
1.4.3 Mô hình Arthus Lewis
Athur Lewis chia nền kinh tế thành 2 khu vực cùng song song và tồn tại, đó là khu vực nông nghiệp và công nghiệp Lý thuyết này đề cập đến mối quan hệ giữa công nghiệp và nông nghiệp trong việc giải quyết lao động dư thừa ở nông thôn Khu vực nông nghiệp có đặc trưng trì trệ, năng suất lao động thấp và dư thừa lao động; trong khi đó khu vực công nghiệp hiện đại, năng suất cao và có khả năng tự tích lũy
Do năng suất lao động cao và tiền công cao hơn nên khu vực công nghiệp thu hút lao động dư thừa từ khu vực nông nghiệp chuyển sang và do lao động khu vực nông nghiệp quá dư thừa và tiền công thấp nên các ông chủ công nghiệp có thể thuê nhiều nhân công mà không phải tăng tiền công, lợi nhuận các ông chủ ngày càng tăng
Trang 31
Như vậy có thể rút ra nhận định từ lý thuyết này: để thúc đẩy phát triển, các quốc gia đang phát triển phải mở rộng khu vực công nghiệp hiện đại bằng mọi giá mà không quan tâm đến khu vực truyền thống Sự tăng trưởng của khu vực công nghiệp tự
nó sẽ thu hút lượng lao động dư thừa trong nông nghiệp chuyển sang và từ trạng thái nhị nguyên, nền kinh tế sẽ chuyển sang nền kinh tế công nghiệp phát triển Bởi vì trong khu vực nông nghiệp, đất đai chật hẹp, lao động lại quá dư thừa Ngoài số lao động cần đủ cho sản xuất nông nghiệp, còn có lao động thừa làm các ngành nghề lặt vặt, buôn bán nhỏ, phục vụ trong gia đình và lao động phụ nữ Số lao động dôi dư này không có công ăn việc làm Nói cách khác, họ không có tiền lương và thu nhập Vì vậy, việc di chuyển lao động từ khu vực nông nghiệp sang khu vực công nghiệp có hai tác dụng Một là, chuyển bớt lao động ra khỏi lĩnh vực nông nghiệp, chỉ để lại lượng lao động đủ để tạo ra sản lượng cố định Từ đó nâng cao sản lượng theo đầu người đồng thời tạo việc làm cho số lao động dôi dư trong nông nghiệp Mặt khác, việc di chuyển này sẽ làm tăng lợi nhuận trong lĩnh vực công nghiệp, tạo điều kiện nâng cao sức tăng trưởng và phát triển kinh tế nói chung (Michael P Torado, Stephen C Smith, 2012)
1.4.4 Lý thuyết chuyển dịch cơ cấu kinh tế của M Syrquin
Trong lịch sử phát triển kinh tế thế giới cho thấy quá trình phát triển kinh tế cũng đồng nghĩa với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, từ một nền kinh tế với nông nghiệp lạc hậu trở thành một nền kinh tế công nghiệp hóa và dần chuyển sang một nền kinh tế phát triển Lý thuyết chuyển dịch cơ cấu kinh tế của M.Syrquin có thể chia làm ba giai đoạn: (1) Sản xuất nông nghiệp, (2) Công nghiệp hóa, (3) Nền kinh tế phát triển
Giai đoạn 1: đặc trưng chính là sự thống trị của các hoạt động của khu vực khai
thác, đạc biệt là nông nghiệp Trong giai đoạn này tốc độ tăng trưởng kinh tế khá chậm, một trong những nguyên nhân chính là do tỷ trọng tương đối cao của khu vực nông nghiệp trong tổng giá trị gia tăng Đặc trưng chính của giai đoạn này là tỷ lệ tích lũy tư bản thấp nên tỷ lệ đầu tư thấp, tốc độ tăng trưởng cao của lực lượng lao động và tốc độ tăng trưởng tổng năng suất nhân tố (TFP) rất thấp
Giai đoạn 2: giai đoạn công nghiệp hóa, có đặc điểm nổi bậc là tầm quan trọng
trong nền kinh tế đã được chuyển từ khu vực nông nghiệp sang khu vực chế biến và đóng góp vào tăng trưởng kinh tế chung ngày càng tăng lên Sự dịch chuyển này xuất hiện ở các nước có mức thu nhập bình quân đầu người cao hơn hay thấp hơn, phụ
Trang 32
thuộc vào các yếu tố nguồn tài nguyên sẳn có cũng như chính sách ngoại thương của các nước Xét ở mặt cung sự đóng góp vào tăng trưởng của nhân tố tích lũy tư bản vẫn được giữ ở mức cao trong hầu hết giai đoạn 2 do có sự gia tăng mạnh của đầu tư
Giai đoạn 3: giai đoạn của một nền kinh tế phát triển, sự sụt giảm tỷ trọng công
nghiệp trong cơ cấu GDP hay trong cơ cấu lực lượng lao động Khu vực dịch vụ trở thành khu vực quan trọng nhất và chiếm tỷ trọng lớn nhất trong cơ cấu GDP cũng như
cơ cấu lao động Sự thay đổi này xuất hiện rất rõ ràng ở tất cả các nước công nghiệp phát triển trong suốt nhiều năm qua Đồng thời là sự suy giảm trong đóng góp vào tăng trưởng của nhân tố tư bản (vốn) giảm xuống bởi cả hai yếu tố tốc độ tăng trưởng chậm hơn và tỷ trọng ngày càng thấp hơn Trong giai đoạn này, nhân tố đóng góp lớn nhất cho tăng trưởng là nhân tố tổng năng suất nhân tố Đối với các nước phát triển, tăng trưởng TFP có tác động lan tỏa đến toàn nền kinh tế rộng hơn so với giai đoạn 2 Thay đổi dễ nhận thấy nhất là trong khu vực nông nghiệp, từ khu vực tăng trưởng năng suất thấp trở thành khu vực có năng suất lao động cao nhất trong hầu hết các nền kinh tế phát triển Nguyên nhân là do sự dịch chuyển của lao động từ nông nghiệp sang các khu vực khác và chênh lệch tiền lương giữa khu vực nông nghiệp và các khu vực khác ngày càng được thu hẹp lại, thúc đẩy sự thay thế của tư bản cho lao động cũng như đẩy mạnh cải tiến về công nghệ
Thực tế cho thấy, lý thuyết chuyển dịch cơ cấu của M.Syrquin là một bức tranh tổng thể về sự phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên thế giới thời kỳ hiện đại
1.4.5 Quy luật tăng năng suất lao động của A.Fisher
Căn cứ của quy luật tăng năng suất lao động của A.Fisher (1935), bao gồm hai căn cứ chính: (1) khoa học công nghệ phát triển dẫn đến năng suất lao động tăng (đặc biệt tăng nhanh trong lĩnh vực nông nghiệp), (2) Nhu cầu tiêu dùng các loại hàng hóa (thiết yếu, lâu bền, xa xỉ) tăng lên
Theo quy luật của A Fissher, cơ cấu lao động cũng có sự thay đổi: Về nông nghiệp, dễ thay thế lao động, cầu nông sản hàng hóa có xu hướng giảm, từ đó lao động nông nghiệp sẽ giảm Về công nghiệp, khó thay thế lao động hơn, trong khi hàng hóa công nghiệp không có biểu hiện giảm dẫn đến lao động công nghiệp tăng Về dịch vụ, thay thế lao động khó khăn nhất và cầu hàng hóa có xu hướng ngày càng tăng nhanh, dẫn đến lao động dịch vụ có xu hướng tăng càng ngày càng nhanh
Trang 33
1.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp
1.5.1 Điều kiện tự nhiên
Điều kiện tự nhiên bao gồm các yếu tố về vị trí địa lý, đất đai, nguồn nước, khí hậu,…Điều kiện tự nhiên ảnh hưởng mạnh tới với sự hình thành và hướng phát triển của ngành nông nghiệp từng vùng, tiểu vùng Do điều kiện tự nhiên không giống nhau giữa các vùng đã tạo ra lợi thế so sánh và sức cạnh tranh riêng của ngành nông nghiệp
ở từng vùng đó, làm cho nông nghiệp mang tính khu vực rất rõ nét, đây cũng là căn cứ quan trọng để định hướng, quy hoạch cho sản xuất nông nghiệp của từng địa bàn
Điều kiện tự nhiên có thể là lợi thế nhưng cũng vừa có thể gây ra những khó khăn cho sự phát triển nông nghiệp của từng vùng Nếu điều kiện tự nhiên thuận lợi như: thời tiết, khí hậu ôn hòa, lượng nước cung cấp cho sản xuất ổn định, nguồn năng lượng ánh sáng (cường độ ánh sáng, nhiệt độ trung bình,…) dồi dào thì sẽ tạo điều kiện cho ngành nông nghiệp phát triển mạnh, bền vững Tuy nhiên, nếu sản xuất nông nghiệp diễn ra trong điều kiện bất lợi như: hạn hán, lũ lụt, sương muối,…thì ngành nông nghiệp sẽ phải chịu những thiệt hại to lớn, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của nhân dân nói chung và nông hộ nói riêng
Một trong những vấn đề quan trọng nhất hiện nay thuộc về điều kiện tự nhiên, tác động rất lớn đến phát triển nông nghiệp và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp
là “biến đổi khí hậu”
Theo Điều 1, Công ước khung của Liên Hiệp Quốc: “Biến đổi khí hậu nghĩa là biến đổi của khí hậu được quy cho trực tiếp hoặc gián tiếp do hoạt động của con người làm thay đổi thành phần của khí quyển toàn cầu và sự thay đổi này được cộng thêm vào khả năng biến động tự nhiên của khí hậu quan sát được trong những thời kỳ có thể
so sánh được”
“Những ảnh hưởng có hại của biến đổi khí hậu” nghĩa là những biến đổi trong môi trường vật lý hay sinh học do những biến đổi khí hậu gây ra những ảnh hưởng có hại đáng kể đến thành phần, khả năng phục hồi hoặc sinh sản của các hệ sinh thái tự nhiên đến hoạt động của các hệ thống kinh tế - xã hội hoặc đến sức khỏe và phúc lợi của con người
Biến đổi khí hậu hiện nay là một trong những thách thức lớn nhất đối với nhân loại Biến đổi khí hậu sẽ tác động nghiêm trọng đến sản xuất, đời sống và môi trường
Trang 34
trên phạm vi toàn thế giới Trong những năm qua, dưới tác động của biến đổi khí hậu, tần suất và cường độ thiên tai ngày càng gia tăng, gây ra nhiều tổn thất to lớn về người, tài sản, các cơ sở hạ tầng về kinh tế, văn hoá, xã hội, tác động xấu đến môi trường Chỉ tính trong 10 năm gần đây (2005 - 2015), các loại thiên tai như: Bão, lũ, lũ quét, sạt lở đất, úng ngập, hạn hán, xâm nhập mặn và các thiên tai khác đã làm thiệt hại đáng kể về người và tài sản
Nông nghiệp là ngành đầu tiên phải chịu thiệt hại lớn do biến đổi khí hậu, vì hoạt động sản xuất nông nghiệp phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên, thời tiết, khí hậu Biến đổi khí hậu đã và đang đe dọa nghiêm trọng đến an ninh lương thực và phát triển nông nghiệp: làm thu hẹp diện tích đất nông nghiệp, tác động lớn đến sinh trưởng, năng suất cây trồng, thời vụ gieo trồng, làm tăng nguy cơ lây lan sâu bệnh hại cây trồng; thời gian thích nghi của cây trồng nhiệt đới mở rộng và của cây trồng á nhiệt đới thu hẹp lại; ảnh hưởng đến sinh sản, sinh trưởng, tăng khả năng sinh bệnh, truyền dịch của gia súc, gia cầm
Do tác động của biến đổi khí hậu, tài nguyên nước phải chịu thêm nguy cơ suy giảm
do hạn hán ngày một tăng ở một số vùng, mùa, ảnh hưởng trực tiếp đến nông nghiệp, cung cấp nước ở nông thôn, thành thị và sản xuất thủy điện Chế độ mưa thay đổi có thể gây lũ lụt nghiêm trọng vào mùa mưa, và hạn hán vào mùa khô, tăng mâu thuẫn trong khai thác và sử dụng tài nguyên nước
Để thích ứng với biến đổi khí hậu, ngành nông nghiệp buộc phải có những thay đổi hợp lý Phải xây dựng một hệ thống sản xuất nông nghiệp phù hợp, cơ cấu cây trồng, vật nuôi hợp lý thích ứng với biến đổi khí hậu, đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay Như vậy có thể thấy, biến đổi khí hậu là một nhân tố rất quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động sản xuất nông nghiệp và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp hiện nay
Trang 35
Đối với lao động trong ngành nông nghiệp, nếu có trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn cao thì khả năng chủ động trong hoạt động sản xuất nông nghiệp cũng cao hơn Người lao động sẽ thường chủ động trong việc tiếp cận thông tin về giá cả thị trường, thông tin kỹ thuật, nhu cầu thị trường, qua đó điều tiết hoạt động sản xuất nông nghiệp của mình cho phù hợp với nhu cầu thị trường và bắt kịp với xu hướng phát triển chung của ngành nông nghiệp Người lao động có trình độ cũng có khả năng tiếp thu các tiến bộ của khoa học kỹ thuật, công nghệ, công nghệ thông tin cũng nhanh hơn
Như vậy, số lượng, chất lượng nguồn nhân lực là một yếu tố rất cần thiết cho việc tiếp cận thông tin nông nghiệp, chuyển giao các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào nông nghiệp được tiến hành thuận lợi, qua đó gián tiếp góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp
Vì vậy, việc nâng cao trình độ cho người lao động và đào tạo nguồn nhân lực cho hoạt động sản xuất nông nghiệp là việc làm cấp thiết trong hoàn cảnh hiện nay
1.5.2.2 Yếu tố vốn
Vốn là yếu tố quan trọng nhất đối với tăng trưởng Vốn là một yếu tố sản xuất trong quá trình sản xuất Vốn được tích tụ khi một phần của thu nhập hiện hành được tiết kiệm và đem tái đầu tư để tăng sản lượng và thu nhập tương lai Vốn đóng góp vào tăng trưởng sản lượng không chỉ một cách trực tiếp như một yếu tố đầu vào mà còn gián tiếp thông qua sự cải tiến kỹ thuật Thông qua cải tiến kỹ thuật, đầu tư sẽ giúp nâng cao kỹ năng của người lao động, điều này sẽ làm tăng năng suất lao động giúp cho quá trình sản xuất trở nên hiệu quả hơn và cuối cùng là làm tăng trưởng kinh tế bởi vì lao động có kỹ thuật cao sẽ vận hành máy móc dễ dàng và hiệu quả hơn cũng như dễ dàng tiếp thu công nghệ mới
Để chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nhu cầu vốn đầu tư cho nông nghiệp là rất lớn Việc đầu tư cho nông nghiệp sẽ làm tăng năng suất lao động, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển sản xuất nông nghiệp, nâng cao chất lượng sản phẩm nông nghiệp
Ngoài ra, để phát triển nền nông nghiệp thì cũng cần một lượng vốn rất lớn để đầu tư cho quy hoạch vùng sản xuất nông nghiệp chuyên môn hóa, từ khâu sản xuất đến chế biến và tiêu thụ, bên cạnh đó cần phải đầu tư cho cơ sở hạ tầng, giao thông,
Trang 36
thông tin liên lạc để tạo điều kiện thuận lợi cho việc khai thác, vận chuyển và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp Đồng thời đầu tư vốn để giúp cho người nông dân có thể tiếp cận công nghệ hiện đại như công nghệ sinh học, các giống cây trồng vật nuôi cho năng suất cao, các loại máy móc giúp thay thế sức lao động của con người và nâng cao năng suất sản xuất
1.5.2.3 Thị trường
Theo Lê Quốc Doanh (2006), “Thị trường có ý nghĩa quyết định rõ nhất khả
năng chuyển dịch và sự bền vững của chuyển dịch cơ cấu kinh tế”
Thị trường là khâu trung gian giữa sản xuất và tiêu dùng, do đó luôn là yếu tố quyết định sự phát triển kinh tế và đặc biệt nó làm ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự hình thành và biến đổi giữa các ngành kinh tế, nói đến thị trường là nói đến nhu cầu của con người cần được thỏa mãn thông qua thị trường
Đối với ngành nông nghiệp, tính đa dạng trong nhu cầu tiêu dùng các loại nông sản thực phẩm của người dân không những quy định về số lượng, mà cả về chất lượng hàng hóa nông sản, nên nó tác động trực tiếp đến quy mô, trình độ, xu hướng phát triển của sản xuất nông nghiệp, từ đó tác động đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp
1.5.2.4 Chính sách
Chính sách phát triển của quốc gia là nhân tố mang tính quyết định đến sự thành bại của chiến lược, mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội Chính sách nông nghiệp nói riêng và chính sách nói chung đều là một trong những công cụ quản lý của Nhà nước đối với các hoạt động kinh tế, xã hội Dựa trên công cụ chính sách, Nhà nước thể hiện chủ trương và định hướng của mình, giải quyết một vấn đề nhất định, tạo động lực phát triển Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của khu vực nông nghiệp và gắn bó chặt chẽ với các điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội cụ thể của từng vùng miền, do đó các chính sách nông nghiệp được ban hành để thúc đẩy quá trình chuyển dịch đi đúng hướng với chủ trương, định hướng phát triển nông nghiệp của Nhà nước
Ngoài ra, hoạt động sản xuất nông nghiệp là hoạt động mang nhiều yếu tố rủi ro
do chịu sự tác động lớn của yếu tố chu kỳ sinh học và điều kiện tự nhiên Để lực lượng lao động trong lĩnh vực nông nghiệp phát triển, gia tăng phân công lao động trong sản
Trang 37
xuất nông nghiệp đòi hỏi phải có những tác động từ phía bên ngoài để phân phối lại các nguồn lực kinh tế - xã hội, tạo động lực thúc đẩy cho quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp chuyển dịch nhanh hơn Dựa trên cơ sở các chính sách được ban hành, các điều kiện ưu đãi khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia vào hoạt động sản xuất nông nghiệp sẽ được tạo ra hoặc Nhà nước sẽ tạo cơ chế thích hợp, phân
bổ các nguồn lực cơ bản về đất đai, vốn, nhân lực, công nghệ…hỗ trợ cho quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp diễn ra nhanh hơn
1.5.2.5 Khoa học - công nghệ
Trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi có sự đóng góp quan trọng của khoa học -công nghệ Hoạt động này đã có sự gắn kết nhất định với sản xuất của các ngành, góp phần nâng cao trình độ công nghệ, đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng của huyện Tư Nghĩa, nói chung, nông nghiệp nói riêng Trên địa bàn tỉnh có các đơn vị làm công tác quản lý, nghiên cứu ứng dụng chuyển giao tiến
bộ khoa học kỹ thuật công nghệ mới vào sản xuất là Chi cục bảo vệ thực vật, Chi cục thú y, Trung tâm Khuyến nông - Khuyến lâm đã thực hiện nhiều đề tài và ứng dụng
có kết quả vào thực tế, đặc biệt trong công tác cải tạo giống cây và giống con Hoạt động khuyến nông đã góp phần chuyển dịch cơ cấu sản xuất, tăng năng suất cây trồng vật nuôi Nhiều mô hình sản xuất đã và đang được nghiên cứu và ứng dụng theo hướng thích hợp, cải thiện môi trường để phát triển bền vững Tuy nhiên, số lượng cán
bộ KHKT nông nghiệp phục vụ trực tiếp ở cơ sở chưa đủ và chưa đồng bộ Đội ngũ cán bộ khoa học công nghệ sinh học vừa thiếu vừa yếu so với yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp
1.6 Kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp của một số quốc gia trên thế giới
1.6.1 Kinh nghiệm của Nhật Bản
Theo Nguyễn Hữu Sở (2009), có thể thấy Nhật Bản từ một “đống tro tàn” sau Chiến tranh Thế giới lần thứ II, Nhật Bản đã vươn lên xây dựng nền kinh tế hiện đại
và đạt được những kì tích, trở thành siêu cường kinh tế đứng thứ hai thế giới sau nước
Mĩ Suốt một thời kì lịch sử lâu dài, Nhật Bản thực hiện khá thành công trong quá trình phát triển nền kinh tế và chuyển đổi cơ cấu ngành kinh tế quốc gia theo hướng công nghiệp hóa và chiến lược hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực Năm 1960, tỉ trọng
Trang 38
ngành công nghiệp trong GDP đạt 45,6%, ngành dịch vụ là 48% và nông nghiệp là 6,4% Đến năm 2005, tỉ trọng công nghiệp chiếm 25,3% GDP, ngành dịch vụ đạt 73,5%, nông nghiệp chỉ c̣òn 1,3% Năm 2005, GDP của Nhật Bản là 4.664 tỉ USD với mức tăng trưởng 2,7% Thu nhập bình quân đầu người là 31.500 USD Đạt được thành tựu trong phát triển kinh tế là do Nhật Bản đã thực thi các chính sách và biện pháp sau: + Mạnh dạn mở cửa, hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực cho dù nền kinh tế còn non yếu, để tranh thủ các nguồn lực bên ngoài thực hiện công nghiệp hóa và phát triển đất nước Thực hiện tự do hóa thương mại và đầu tư từng bước, phù hợp với điều kiện, khả năng trong từng giai đoạn của quá trình phát triển, bằng việc xin bảo lưu, trì hoãn một số điều khoản khi ra nhập GATT, IMF, OECD
+ Kiên trì chiến lược phát triển nền kinh tế và chuyển đổi cơ cấu ngành kinh tế hướng về xuất khẩu, coi xuất khẩu hàng hóa luôn là lợi ích sống còn, là động lực mạnh mẽ phát triển kinh tế; Nhật Bản đã lựa chọn những ngành có lợi ích so sánh động, có khả năng tăng năng suất cao, có nền tảng công nghệ cao để đẩy mạnh phát triển Trong thời kì tăng trưởng nhanh, Nhật Bản xây dựng cơ cấu công nghiệp phát triển theo chiều rộng, chọn ngành công nghiệp cơ bản (công nghiệp nặng, gồm sản xuất sắt thép, chế tạo cơ khí và hóa chất), có công nghệ mũi nhọn đạt được hiệu quả kinh tế cao nhờ quy mô để ưu tiên phát triển Nhật Bản sắp xếp thứ tự ưu tiên các ngành theo từng thời kì, trước tiên là ngành luyện kim, chế tạo máy, đóng tàu, ô tô, điện lực, thép Sau đó là các ngành cơ khí, hóa chất, cuối cùng là ngành công nghệ cao Kết quả là chỉ trong thời gian ngắn công nghiệp nặng đã nhanh chóng thay thế vai trò chủ đạo của công nghiệp nhẹ Để hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới, Nhật Bản điều chỉnh cơ cấu ngành theo hướng tăng năng lực cạnh tranh quốc tế, hướng lựa chọn
và phát triển các ngành công nghiệp có hàm lượng vốn và khoa học - công nghệ cao, không gây ô nhiễm môi trường tiêu hao ít nguyên liệu và lao động sống như công nghệ điện tử, viễn thông, tin học, sinh học, vật liệu mới, ; Nhật Bản cũng coi trọng và chú ý phát triển nông nghiệp, tạo điều kiện, hỗ trợ phát triển nông nghiệp, nông thôn,
để ngành nông nghiệp đảm bảo nhu cầu trong nước, đảm bảo lương thực cho 127,4 triệu dân, đảm bảo sự ổn định để phát triển
+ Nhật Bản đã kết hợp vai trò nhà nước và sự năng động của thị trường trong việc thúc đẩy phát triển nền kinh tế và chuyển đổi cơ cấu ngành kinh tế Chính phủ
Trang 39
Nhật Bản đã tăng cường can thiệp vào nền kinh tế với nhiều công cụ khá đa dạng thông qua các chính sách, kế hoạch định hướng phát triển khuyến khích các công ty tư nhân, các thương xá tổng hợp hoạt động kinh doanh xuất khẩu; khuyến khích và ủng
hộ mọi mặt cho sự phát trlển của các tập đoàn tài phiệt - Zalbatsu, còn các Zalbatsu cũng phát triển năng động hơn, mở cửa thị trường bên ngoài và đã dần phát triển thành công ty xuyên quốc gia hiện đại
1.6.2 Kinh nghiệm của Thái Lan
Thái Lan là một nước nằm trong khu vực với nước ta, có diện tích canh tác 19,62 triệu ha, có điều kiện tự nhiên và khí hậu tương tự miền Nam Việt Nam, có nền nông nghiệp phát triển trong khu vực và trên thế giới, mặc dù hàng chục năm trước Thái Lan cũng chỉ là một nước nông nghiệp lạc hậu
Trong những năm 1960, Thái Lan là một nước nông nghiệp kém phát triển Cơ sở
hạ tầng yếu kém với thu nhập bình quân đầu người thấp ở mức 175 USD/người Nông nghiệp đóng góp vào GDP gấp đôi so với công nghiệp, hàng hóa nông sản xuất khẩu chủ yếu là sản phẩm thô
Tuy nhiên, bằng những chính sách phát triển nông nghiệp đúng đắn, trong vài thập kỷ qua, Chính phủ Thái Lan đã ra sức “chấn hưng” nền nông nghiệp của đất nước
và hướng đến mục tiêu sản xuất nông nghiệp bền vững bằng các chính sách: chính sách trợ giá nông sản, chính sách đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ khoa học và kỹ thuật mới trong nông nghiệp, Thái Lan cũng đã có những chính sách hết sức cởi mở cho bất cứ nhà đầu tư nào trong và ngoài nước muốn tham gia vào lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi Ngoài ra chính sách đẩy mạnh đào tạo kỹ thuật canh tác, chuyển giao khoa học công nghệ cho nông dân cũng được ưu tiên hàng đầu
Từ những hướng đi đúng đắn, nông nghiệp của Thái Lan đã ngày càng phát triển, hàng nông sản của Thái Lan hiện nay hết sức đa dạng, mẫu mã đẹp, có độ tin tưởng về an toàn vệ sinh thực phẩm và nó đã được các thị trường khó tính như Mỹ, Nhật, EU chấp nhận Chỉ riêng về các loại hàng trái cây Thái (theo chương trình Thai GAP) như: Sầu riêng, măng cụt, xoài, nho, dừa cũng đã thâm nhập mạnh vào thị trường Trung Quốc, Việt Nam cạnh tranh với hàng trái cây nội địa
Tuy nhiên, cũng như Nhật Bản, Thái Lan cũng không tránh khỏi bị ảnh hưởng bởi biến đổi khí hậu toàn cầu Trong nhiều năm trở lại đây, hạn hán đã trở thành mối
đe dọa thật sự cho nền nông nghiệp nước này Nông nghiệp chiếm 8% GDP của Thái
Trang 40
Lan nhưng vì hạn hán trong hai năm 2014-2015, sản lượng nông nghiệp đã giảm 8% mỗi năm Nguồn nước cung cấp giảm, tình hình nhiễm mặn ngày càng diễn ra trầm trọng
7-Chính phủ Thái Lan đã chủ động đưa ra một loạt biện pháp để giúp nông dân, khuyến khích họ trồng các loại cây tiêu thụ ít nước, gia hạn nợ vay, khai thác lợi thế tự nhiên để triển khai các dự án thủy lợi, ứng dụng khoa học công nghệ để chủ động quản
lý nguồn nước phục vụ sản xuất và sinh hoạt, Cùng với Chính phủ, bản thân người nông dân Thái Lan cũng tự nhận thấy những khó khăn của họ để chủ động tự điều chỉnh, chuyển sang trồng các loại cây trồng phù hợp với điều kiện hiện tại Nhờ đó, người dân không còn quá lo ngại về tình trạng hạn hán nữa Ngoài ra, người nông dân cũng không phải lo lắng về tình trạng được mùa mất giá vì các chính sách nông nghiệp của Thái Lan đã đảm bảo đầu ra cho các nông sản này
Như vậy, qua thực tế sản xuất nông nghiệp của Thái Lan có thể thấy cách người Thái ứng phó với biến đổi khí hậu là bài học kinh nghiệm không chỉ cho các quốc gia trong khu vực mà cả các quốc gia khác trên thế giới Việc phát triển nông nghiệp ứng phó với biến đổi khí hậu được triển khai sâu rộng, từ Chính phủ đến những người nông dân của Thái Lan Chính vì sự nhanh nhạy, thích ứng nhanh với tình hình đã giúp ngành nông nghiệp Thái Lan giảm thiệt hại đến mức tối đa trước tác động của biến đổi khí hậu
1.6.3 Kinh nghiệm của Hàn Quốc
Hàn Quốc là một nước công nghiệp mới phát triển, được xếp vào nước có kinh tế thị trường đứng thứ 11 trên thế giới Cuối năm 1997, cuộc khủng hoảng tài chính - tiền
tệ khu vực đã lan đến, tàn phá những thành tựu hơn 30 năm phát triển, nhưng sau đó Hàn Quốc đã nỗ lực khắc phục và hiện đang phục hồi Đạt được nhiều thành tựu to lớn trong quá trình phát triển nền kinh tế là do Hàn Quốc đã chuyển đổi nhanh chóng cơ cấu ngành kinh tế theo hướng công nghiệp hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, khu vực: tăng tỉ lệ công nghiệp trong GDP từ 33,6% năm 1975 lên 40,2% năm 2005 Tăng tỉ trọng ngành dịch vụ 42%GDP vào năm 1975 lên 56,3% năm 2005 Giảm tỉ trọng nông nghiệp trong GDP từ hơn 60% xuống còn 24,5% vào năm 1975 và chỉ còn 3,7% vào năm 2005 Theo bản thống kê do Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế OECD công bố
về quy mô GDP của Hàn Quốc năm 2007 là 979,9 tỉ USD và trở thành nền kinh tế lớn