1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TÀI LIỆU THAM KHẢO KINH tế CHÍNH TRỊ TUẦN HOÀN CHU CHUYỂN tư bản ý NGHĨA vấn đề ở nước TA HIỆN NAY

25 209 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 118,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kinh tế chính trị Mác Lênin do C.Mác (1818 1883), Ph.Ăngghen (1820 1895) sáng lập vào những năm 50 của thế kỉ XIX và được V.I.Lênin (1870 1924) tiếp tục bảo vệ, phát triển vào cuối thể kỉ XIX đầu thế kỉ XX khi chủ nghĩa tư bản chuyển từ tự do cạnh tranh sang độc quyền. Nghiên cứu kinh tế chính trị Mác Lênin không thể không đề cập đến Bộ tư bản, bởi vì ở đó, toàn bộ quan điểm kinh tế của C.Mác và Ph.Ăngghen được trình bày một cách tập trung, đầy đủ và hệ thống nhất. Quá trình hình thành và phát triển học thuyết kinh tế Mác Ănghen gắn liền với quá trình C.Mác nghiên cứu, kế thừa có phê phán các tư tưởng, các học thuyết kinh tế đã từng xuất hiện trước đó và thực tiễn kinh tế xã hội để viết bộ “tư bản”.

Trang 1

TUẦN HOÀN CHU CHUYỂN TƯ BẢN – Ý NGHĨA VẤN ĐỀ Ở NƯỚC TA

HIỆN NAY

MỞ ĐẦU

Kinh tế chính trị Mác Lênin do C.Mác (1818 1883), Ph.Ăngghen (1820 1895) sáng lập vào những năm 50 của thế kỉ XIX và được V.I.Lênin (1870 - 1924)tiếp tục bảo vệ, phát triển vào cuối thể kỉ XIX đầu thế kỉ XX khi chủ nghĩa tư bảnchuyển từ tự do cạnh tranh sang độc quyền Nghiên cứu kinh tế chính trị Mác -Lênin không thể không đề cập đến Bộ tư bản, bởi vì ở đó, toàn bộ quan điểm kinh tếcủa C.Mác và Ph.Ăngghen được trình bày một cách tập trung, đầy đủ và hệ thốngnhất Quá trình hình thành và phát triển học thuyết kinh tế Mác - Ănghen gắn liềnvới quá trình C.Mác nghiên cứu, kế thừa có phê phán các tư tưởng, các học thuyếtkinh tế đã từng xuất hiện trước đó và thực tiễn kinh tế xã hội để viết bộ “tư bản”

-Quá trình hình thành bộ “Tư bản” trải qua một thời gian dài với sự chuẩn bịcông phu của C.Mác Trong suốt quá trình chuẩn bị biên soạn để cho ra đời bộ “Tư

bản”, C.Mác và Ph.Ănghen cho xuất bản nhiều bài viết và tác phẩm như: Bản thảo Kinh tế - Triết học (Ph.Ănghen, 1844), Tình cảnh giai cấp công nhân Anh (Ph.Ănghen, 1844), Lao động làm thuê và tư bản (C.Mác, 1849), Đấu tranh giai cấp ở Pháp (1848)… Trong đó Bản thảo kinh tế (1857) tuy không được xuất bản,

nhưng có thể coi đó là di bản đầu tiên của bộ “Tư bản” Từ tháng 8 năm 1861 đến

tháng 7 năm 1863, ông đã hoàn thành một bản thảo lớn với tên gọi: Phê phán Kinh

tế chính trị học, đây được coi là bản thảo lần thứ hai của bộ “Tư bản” vì hầu hết

những vấn đề C.Mác viết trong bản thảo này đều được đưa vào bộ “Tư bản” sau này

Bộ “tư bản” gồm 4 quyển có kết cấu:

Quyển I - Quá trình sản xuất của tư bản: gồm 8 phần, 32 chương với 4 nộidung: lí luận giá trị; lí luận giá trị thặng dư; lí luận tiền công; lí luận tích luỹ tư bản

Trang 2

Quyển II - Quá trình lưu thông của tư bản: gồm 3 phần, 21 chương với 2 nộidung: lí luận tuần hoàn và chu chuyển tư bản; lí luận tái sản xuất và lưu thông tưbản xã hội.

Quyển III - Các hình thái và loại hình của toàn bộ quá trình nói chung: gồm 7phần, 52 chương với những nội dung: chi phí sản xuất TBCN và lợi nhuận; lợi nhuậnbình quân và giá cả sản xuất; tư bản kinh doanh hàng hoá và lợi nhuận của thươngnhân; tư bản cho vay và lợi tức; tư bản kinh doanh nông nghiệp và địa tô TBCN…Quyển IV - Các học thuyết về giá trị thặng dư: gồm 3 phần: Phê phán chủnghĩa trọng nông và lí thuyết kinh tế của A.Smith; phê phán lí thuyết kinh tế củaD.Ricardo; phê phán KTCT cổ điển và quá trình tầm thường hoá KTCT

Sau khi nghiên cứu bộ “Tư bản”của C.Mác Với phạm vi nghiên cứu và đốitượng của môn học tác phẩm kinh điển, tác giả không trình bày các nội dung chi

tiết của toàn bộ quyển II mà chỉ tập vào nội dung thứ nhất “ Tuần hoàn và chu

chuyển tư bản” từ đó rút ra ý nghĩa của vấn đề đối với nước ta hiện nay.

Trang 3

và sự phân chia giá trị thặng dư giữa các tập đoàn tư bản.

I LÝ LUẬN TUẦN HOÀN VÀ CHU CHUYỂN CỦA TƯ BẢN.

1 Tuần hoàn của tư bản và những biến hóa hình thái của tư bản

Để hiểu quá trình lưu thông tư bản, với phương pháp trừu tượng hóa khoahọc, khi nghiên cứu C.Mác đã “gạt bỏ tất cả những yếu tố hoàn toàn không liênquan gì đến bản thân sự thay thế và hình thành bản thân các hình thái”1 Vì thế, ởđây C.Mác đã giả định: hàng hóa được bán theo đúng giá trị của nó; mọi việc traođổi mua bán đều tiến hành một cách trôi chảy; cấu tạo hữu cơ của tư bản khôngthay đổi; tốc độ lưu thông không đổi trong suốt quá trình tuần hoàn; tư bản đượcnghiên cứu ở đây là tư bản công nghiệp Công nghiệp với ý nghĩa bao quát mọi

Trang 4

ngành sản xuất vật chất kinh doanh theo phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa.Tuần hoàn của tư bản nghiên cứu sự vận động của tư bản cá biệt Trong sự vậnđộng của mình, “tư bản” lần lượt mang những hình thái khác nhau, mà nó khoáclấy rồi lại trút bỏ đi trong quá trình lặp lại sự tuần hoàn của nó, có nghĩa là tư bảnluôn khoác lấy hình thái này, rồi trút bỏ đi để chuyển sang hình thái khác Nhưng sựvận động của tư bản là sự vận động vòng tròn và liên tục Những vòng tuần hoànkhông ngừng nối tiếp nhau Vì vậy mỗi biến hóa hình thái tư bản có thể vừa là điểmbắt đầu, vừa là điểm giữa, vừa là điểm kết thúc của quá trình vận động liên tục của

tư bản và quá trình vận động liên tục của tư bản đều phải trải qua ba hình thái đó

1.1 Tuần hoàn của tư bản tiền tệ

Điểm xuất phát của tư bản nói chung là tiền, cho nền nghiên cứu tuần hoàncủa tư bản, C.Mác bắt đầu nghiên cứu tuần hoàn của tư bản tiền tệ là hợp lôgíc vàlịch sử

Mục đích của việc nghiên cứu vấn đề này là vạch rõ sự biểu hiện của quan

hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa qua hình thái vật thể trong sự vận động của tư bản.Cũng trong phần này, CMác vạch rõ: đây là hình thái chung nhất, đồng thời là hìnhthái phiến diện nhất, nổi bật nhất – nêu rõ động cơ, mục đích vận động của tư bảncông nghiệp là giá trị tăng thêm, là tiền đẻ ra tiền

Để làm rõ những vấn đề đó C.Mác đã kết hợp phân tích cái chung, đặc điểmchung cho tất cả các hình thái tuần hoàn, đồng thời chú ý phân tích đặc điểm riêngcủa tuần hoàn tư bản tiền tệ

Từ công thức chung của tư bản (T – H SX H’ – T’) nghiên cứu ở quyển I,

ta thấy giá trị của tư bản vận động qua ba giai đoạn:

* Giai đoạn 1: Giai đoạn mua, thực hiện hành vi T- H

Giai đoạn mua, thực hiện hành vi T – H trong vòng tuần hoàn tư bản tiền tệ làbiểu hiện một quan hệ mới về chất Quan hệ mới về chất đó, do đâu mà ra?

Trang 5

T – H, việc chuyển T thành H Hành vi chung của lưu thông hàng hóa trởthành một giai đoạn trong tuần hoàn của tư bản, hay T trở thành tư bản, bởi vìtrong số hàng hóa mà tiền chuyển hóa thành thì cùng với tư liệu sản xuất có mộthàng hóa đặc biệt là hàng hóa sức lao động (H - SLĐ).

Nghĩa là bản thân việc mua hàng hóa, hay bản thân chức năng lưu thông củatiền, không làm cho tiền thành tư bản, không làm cho T – H thành một giai đoạncủa tuần hoàn tư bản T chỉ trở thành tư bản, hay hành vi T – H chỉ trở thành mộtgiai đoạn của tuần hoàn tư bản, khi trong số hàng hóa mà T mua được phải có mộthàng hóa đặc biệt (hàng hóa sức lao động)

Như vậy, trong nội dung vật chất của hành vi T – H ( TLSX, SLĐ) thì T –SLĐ là đặc trưng tư bản chủ nghĩa ở giai đoạn mua Nhưng đặc trưng tư bản chủnghĩa không phải ở chỗ có thể mua được sức lao động bằng tiền, mà là do quan hệ sảnxuất tư bản chủ nghĩa đã làm cho sức lao động biến thành hàng hóa trước khi dùng Tmua được nó, vì khi sức lao động đã trở thành hàng hóa thì việc mua hàng hóa sức laođộng chẳng khác gì việc mua các hàng hóa khác

Ở đây không phải bản chất của T đẻ ra mối quan hệ tư bản chủ nghĩa; tráilại, chính sự tồn tại của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa mới làm cho T trở thành

tư bản Nghĩa là chính trên cơ sở tư liệu sản xuất và sức lao động bị tách rời nhau;quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa; quan hệ giữa giai cấp tư sản và lao động làmthuê đã có, thì tiền của nhà tư bản ứng ra để thực hiện hành vi T – H mới là tư bảntiền tệ, hay nói chính xác hơn là khoác áo tư bản tiền tệ Cần lưu ý: không phải mọikhoản tiền đều là tư bản tiền tệ, mà chỉ có T nào tham gia vào sự vận động của tưbản, thì T đó mới trở thành tư bản

Hành vi T – SLĐ là hành vi đặc trưng để T mang quan hệ tư bản chủ nghĩa,

T – SLĐ là điều kiện để T chuyển hóa thành tư bản Hành vi T – H ( TLSX, SLĐ)

là sự phân phối các yếu tố sản xuất, nhưng dưới chủ nghĩa tư bản chứa đựng mộtmâu thuẫn: một bên tập trung các yếu tố cho quá trình sản xuất, một bên sức laođọng bị tách tư liệu sản xuất do quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa chi phối

Trang 6

Đó là mặt chất về mặt chất của hành vi mua T – H, còn xét về mặt lượng cóhai khía cạnh:

Một là, Tư liệu sản xuất và sức lao động mà nhà tư bản mua trên thị trườngphải phù hợp với hàng hóa mà nhà tư bản định chế tạo hay sản xuất

Hai là, giữa tư liệu sản xuất và sức lao động phải theo một tỷ lệ thích hợp vớinhau về mặt số lượng để sử dụng có hiệu quả tư liệu sản xuất và sức lao động, để số

tư liệu sản xuất đủ nhằm sử dụng hết số sức lao động đã mua và ngược lại Khi hành

vi T – H ( TLSX, SLĐ) hoàn thành giá trị tư bản ban đầu tồn tại dưới hình thức T,

là tư bản tiền tệ, bây giờ tồn tại dưới hình thái hiện vật, các yếu tố của sản xuất, là

tư bả sản xuất Nghĩa là kết thúc giai đoạn 1: tư bản tiền tệ đã chuyển hóa thành tưbản sản xuất

* Giai đoạn 2: Giai đoạn sản xuất, thực hiện chức năng của tư bản sản xuất.

Do sự chuyển hóa của tư bản tiền tệ thành tư bản sản xuất, nó không thể tiếptục lưu thông được nữa, mà phải đi vào tiêu dùng sản xuất Nhà tư bản không thểđem công nhân bán lại, vì nhà tư bản chỉ mua quyền sử dụng sức lao động củacông nhân trong một thời kỳ nhất định thôi Như vậy, kết quả của giai đoạn thứnhất là bước vào giai đoạn thứ hai, giai đoạn sản xuất của tư bản, biểu hiện bằngcông thức: T – H ( TLSX, SLĐ) SX – H’

Sản xuất nói chung và sản xuất tư bản chủ nghĩa nói riêng bao giờ cũng là sựkết hợp của hai yếu tố: tư liệu sản xuất và sức lao động Nhưng ở đây lại là sảnxuất tư bản chủ nghĩa và sản xuất ở đây là một giai đoạn của tuần hoàn tư bản điềunày thể hiện

Trước khi bước vào sản xuất hai yếu tố sức lao động và tư liệu sản xuất táchrời nhau và là những nhân tố trong trạng thái khả năng, muốn sản xuất thì hai yếu

tố đó phải được kết hợp với nhau, nhà tư bản có công là đã ứng tư bản của mình ra

để thực hiện sự kết hợp hai yếu tố này Tư bản được ứng ra mua hai yếu tố đó rồi

Trang 7

kết hợp lại trong xí nghiệp tư bản chủ nghĩa Từ chỗ tư liệu sản xuất và sức laođộng chưa phải là tư bản, sau khi kết thúc giai đoạn 1 (T – H ), giờ đây sức laođộng và tư liệu sản xuất trở thành hình thái tồn tại của giá trị tư bản ứng trước,được phân thành những yếu tố khác nhau của tư liệu sản xuất Quá trình sản xuất ở

xã hội tư bản chủ nghĩa đòi hỏi phải có sự vận động của tư bản, chức năng sản xuất

ở đây, trở thành một chức năng của tư bản Chức năng tư bản sản xuất chính làchức năng tạo ra giá trị thặng dư, vì quá trình sản xuất tư bản chủ nghĩa là quá trìnhtiêu dùng các thành phần sức lao động, tư liệu sản xuất để tạo ra giá trị sử dụngmới và một giá trị mới lớn hơn Kết thúc giai đoạn 1: T – H, thì tư liệu sản xuất vàsức lao động không còn đơn thuần là các yếu tố của sản xuất, mà chúng đã mangtrong mình giá trị tư bản ứng trước, chúng đã trở thành hình thái tư bản sản xuấtcủa tư bản

Trong chủ nghĩa tư bản, phương thức đặc thù kết hợp hai yếu tố này do tưbản thực hiện không chỉ là kết quả, mà còn là yêu cầu của sự vận động của tư bản.Trong chủ nghĩa tư bản, sự kết hợp hai yếu tố thực hiện trong tay nhà tư bản với tưcách là hình thái tồn tại có tính chất sản xuất của tư bản Vì vậy, quá trình sản xuấttrở thành một chức năng của tư bản, trở thành quá trình sản xuất tư bản chủ nghĩa,thực hiện một giai đoạn tuần hoàn của tư bản Vì giá trị tư bản buộc phải đi quagiai đoạn này để T tự lớn lên Kết qủa của giai đoạn này là: kết thúc giai đoạn 2, tưbản sản xuất biến hóa thành tư bản hàng hóa

* Giai đoạn 3: giai đoạn bán, thực hiện hành vi H – T’

Kết thúc giai đoạn 2: giá trị tư bản từ hình thái tư bản sản xuất biến thànhhình thái tư bản hàng hóa và tư bản chưa thể ngừng vận động vì giá trị tư bản đangtồn tại dưới hình thức H’ cần phải đem bán để thu T’ về Đặc trưng tư bản chủnghĩa là ở chỗ: ngoài việc thực hiện giá trị H, chức năng quan trọng hơn của tư bảnhàng hóa là thực hiện giá trị thặng dư được tạo ra trong sản xuất

Vừa mới được sản xuất ra, hàng hóa đã là tư bản hàng hóa với tư cách là hìnhthái tồn tại chức năng của giá trị tư bản đã tăng thêm giá trị vì ngay sau khi sản xuất,

Trang 8

nó đã là H’ có giá trị = giá trị tư bản ứng trước + giá trị thặng dư.

Cần phải đặc biệt lưu ý rằng: H chỉ có thể làm chức năng tư bản chừng nào

mà trước khi đi vào lưu thông, nó đã mang tính chất tư bản, đã có sẵn từ trong quátrình sản xuất H trở thành H’ là do lượng giá trị của H’ lớn hơn giá trị của tư bảnsản xuất (hàng hóa) đã tiêu dùng khi sinh ra nó (H’ = H + h)

Nên khi tiến hành trao đổi theo đúng nguyên tắc ngang giá thì H’ cũng thu

về được T’ nghiã thu được số t trội hơn số tiền ứng ra ban đầu Chính chức năngthực hiện giá trị thặng dư này (h - t) đã làm cho hành vi H’ – T’ trở thành một giaiđoạn tuần hoàn của tư bản Để làm rõ hơn vấn đế này C.Mác đã phân tích H’ và T’

H’ là tư bản hàng hóa và lưu thông hàng hóa trở thành một chức năng của tưbản H’ trở thành tư bản là do quá trình sản xuất tư bản chủ nghĩa sinh ra tư bảnhàng hóa, vì lượng giá trị của H’ lớn hơn lượng giá trị H Như vậy H’ là kết quảcủa quá trình sản xuất tư bản chủ nghĩa và trở thành tư bản hàng hóa là do quan hệbên trong, chứ không phải xét lượng tuyệt đối: nghĩa là so ánh lượng giá trị của H’với lượng tư bản ứng ra H, phải xét H’ trong vòng tuần hoàn của tư bản thì mớithấy H’ là tư bản hàng hóa

Dưới hình thái tư bản hàng hóa thì nhất thiết phải biến H’ thành T’, thựchiện giá trị H Ngoài ra việc bán H’ còn để thực hiện giá trị thặng dư ở trong đó,chính điều này làm cho lưu thông hàng hóa trở thành một chức năng của tư bản H’– T’ trở thành một giai đoạn tuần hoàn của tư bản

H’ = H + h (giá trị tư bản ứng trước + giá trị thặng dư) Nhưng không phảilúc nào cũng chia H’ = H + h được mà bản thân H’ bao gồm cả H và h Hành vi h –

t là hành vi của giá trị mới bắt đầu đi vào lưu thông (lần đầu tiên đi vào lưu thông:hoặc là lưu thông hàng hoá giản đơn nếu nhà tư bản tiêu dùng cho cá nhân hết giátrị thặng dư, hoặc là lưu thông tư bản nếu một phần giá trị thặng dư tích luỹ cho táisản xuất mở rộng)

T’ quay trở về hình thái T như hình thái ban đầu, nhưng lớn hơn Tức là có

Trang 9

sự chênh lệch về lượng Đồng thời, biểu thị một quan hệ mới về chất Nếu H’ – T’được thực hiện, thì vòng tuần hoàn kết thúc: lượng đã biến đổi T’ > T, còn hìnhthái thì không biến đổi (tư bản tiền tệ).

T’ = T + t còn biểu thị một quan hệ mới về chất: T; thành tư bản vì nó làquan hệ giữa T và t Xét mối quan hệ bên trong ở chỗ: cái mà đối với giá trị thặng

dư là sự chuyển hoá đầu tiên từ hình thái H sang hình thái T (h - t), thì đối với giátrị tư bản lại là bước quay trở lại hay sự chuyển hoá trở lại hình thái T lúc ban đầucủa nó (H - T) Bên ngoài thì T và t đều là tiền, không phân biệt về chất Ở đâyquan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa hoàn toàn bị che giấu: việc T lớn thành T’ nhưthế nào hoàn toàn không rõ, mà chỉ thấy kếtquả cuối cùng là T’ một lượng T lớnhơn tiền ứng ra ban đầu

Trong hai nhân tố H’ và T’ thì H’ thấy hợp lý hơn T’, vì H’ đi từ sản xuất

mà ra, còn T’ chỉ là kết quả thực hiện H’ mà có, T’ từ lưu thông mà ra

Về hình thức: T’ và T là hai lượng khác nhau, song đồng chất Nhưng xétthêm sự biến đổi thì T’ đã khác T về chất T là tiền ứng ra, được C.Mác gọi là tưbản tiền tệ, còn T’ thì bản thân nó đã là tư bản tiền tệ rồi

Kết thúc giai đoạn 3: Giá trị tư bản từ hình thái tư bản hàng hoá biến thành

tư bản tiền tệ Và chính vì hình thái ban đầu và hình thái cuối cùng của vòng tuầnhoàn đều là hình thái tư bản tiền tệ, cho nên C.Mác gọi: quá trình tuần hoàn dướihình thái này là tuần hoàn của tư bản tiền tệ

Kết thúc một vòng tuần hoàn thì mục đích của vận động tư bản được thựchiện: giá trị tư bản trở lại hình thái ban đầu với số lượng lớn hơn trước Tổng hợpquá trình vận động của tư bản trong cả ba giai đoạn với ba biến hoá hình thái, ta cócông thức chung:

SLĐ

T – H …SX…H’ – T’

Trang 10

TLSX

Tóm lại, sự vận động tuần hoàn của tư bản là một sự vận động liên tục, đồng

thời là sự vận động đứt quãng không ngừng Chính trong sự vận động mâu thuẫn

đó mà giá trị tư bản tự bảo tồn, chuyển hóa giá trị và không ngừng lớn lên Nghĩa

là tuần hoàn của tư bản chỉ có thể tiến hành được bình thường

khi nào các giai đoạn khác nhau của tư bản không ngừng chuyển tiếp từ giaiđoạn này sang giai đoạn khác Đồng thời, bản thân sự tuần hoàn lại làm cho tư bảnphải nằm lại ở mỗi giai đoạn tuần hoàn trong thời gian nhất định

* Đặc điểm tuần hoàn của tư bản tiền tệ

- Điểm xuất phát là T và kết thúc là T’ nói lên rằng giá trị trao đổi chứkhông phải giá trị sử dụng là mục đích tự thân quyết định sự vận động Chính vìvậy tuần hoàn của tư bản tiển tệ biểu thị một cách rõ ràng nhất, động cơ mục đíchcủa vận động tư bản là giái trị tăng thêm giá trị, T để ra t

- Trong tuần hoàn tư bản tiền tệ, giai đoạn sản xuất biểu hiện như một thủđoạn đơn thuần để làm cho gá trị ứng trước tăng thêm giá trị, do đó, làm giàu đểlàm giàu là mục đích tự thân của việc sản xuất

- Việc giá trị đẻ ra giá trị thặng dư (m) không những biểu hiện ra thành điểmđầu và điểm cuối của quá trình, mà còn trực tiếp biểu hiện ra dưới hình thái chóilọi của tiền nữa

- Tuần hoàn T – T’ không nói lên rằng: Khi tuần hoàn được lặp lại, thì lưuthông của t tách rời lưu thông của T Vì thế nếu chúng ta tách riêng môt vòng tuầnhoàn của tư bản tiền tệ mà xét, thì về mặt hình thức của nó chỉ biểu hiện quá trìnhtăng thêm giá trị và quá trình tích lũy mà thôi

1.2 Tuần hoàn của tư bản sản xuất

Công thức chung của tuần hoàn tư bản sản xuất là:

SX H’ - T’ - H SX

Trang 11

Từ công thức chung C.mác khẳng định quá trình sản xuất cũng là quá trìnhtái sản xuất, vì tuần hoàn của tư bản sản xuất nói lên sự hoạt động lặp đi lặp lại mộtcách chu kỳ của sản xuất và đó là quá trình tái sản xuất.

* Tái sản xuất giản đơn

Tuần hoàn của tư bản sản xuất làm nổi bật quá trình sản xuất tư bản chủnghĩa Muốn tuần hoàn của tư bản sản xuất được liên tục thì H’ phải được bán toàn

bộ, tư bản tiền tệ chỉ là môi giới của tư bản hàng hóa chuyển thành tư bản sản xuất.Trong tái sản xuất giản đơn thì toàn bộ giá trị thặng dư sẽ đi vào tiêu dùng cá nhâncủa nhà tư bản

Số tiền thu được đại biểu cho giá trị tư bản vẫn tiếp tục lưu thông trong tuầnhoàn của tư bản công nghiệp, còn bộ phận kia, tức giá trị thặng dư, thì đi vào lưuthông hàng hóa, diễn ra ở ngoài lưu thông của tư bản cá biệt:

Nhưng cả hai lưu thông H – T – H và h – t – h , xét về hình thái chung, đềuthuộc về lưu thông hàng hóa Vì vậy người ta dễ quan niệm – như khoa kinh tếchính trị tầm thường vẫn làm rằng: quá trình sản xuất tư bản chủ nghĩa chỉ đơn thuần

là việc sản xuất ra hàng hóa, ra những giá trị sử dụng nhằm thỏa mãn một loại tiêudùng nào đó Để làm rõ nội dung chính của tái sản xuất giản đơn xem H’ – T’ – Hvận động như thế nào, ta theo C.Mác đi vào phân tích hai giai đoạn của lưu thông:

* Giai đoạn 1 (H’ – T’)

H’ trong lưu thông chung của hàng hóa chỉ làm chức năng của hàng hóa, nhưng

về mặt là yếu tố của lưu thông tư bản, thì H’ làm chức năng tư bản hàng hóa

Trong tuần hoàn của tư bản sản xuất, H’ – T’ cỏ thể chia H – T và h – t.Việc chia này có ý nghĩa về bản chất, đẻ xem quá trình này là tái sản xuất giản đơnhay tái sản xuất mở rộng

Nếu tái sản xuất giản đơn, thì chỉ có H – T đi vào lưu thông trong tuần hoàncủa tư bản, còn h – t đi vào lưu thông hàng hóa giản đơn phục vụ cho tiêu dùng cá

Trang 12

nhân của nhà tư bản Cò nếu H – T được bổ xung bằng h – t và cả hai đi vào lưuthông tư bản, thì là tái sản xuất mở rộng.

* Giai đoạn 2 (T – H)

Tuần hoàn của tư bản sản xuất làm nội bật quá trình sản xuất tư bản Trogtuần hoàn nào thì T – H cũng là sự chuyển hóa tư bản từ hình thái tư bản tiền tệsang hình thái tư bản sản xuất Nhưng tuần hoàn của tư bản tiền tệ không nói rõnguồn gốc của T T được coi là T ứng ra còn tuần hoàn tư bản sản xuất, chỉ rõ T làmột bộ phận của T’ T’ vừa là giá trị tư bản mới được thực hiện, vừa là tư bản bắtđầu cuộc hành trình vận động tuần hoàn mới

Ở đây chỉ rõ: nguồn gốc của T từ H’ mà ra hay từ sản xuất mà ra T là một

bộ phận của giá trị hàng hóa lao động sống tạo ra T ứng ra ở đây cho công nhâncho là hình thái ngang giá đã chuyển hóa của một bộ phận giá trị hàng hóa dochính người công nhâ sản xuất ra T ấy không phải chỉ là hình thái T của lao động

đã qua của công nhân, mà đồng thời còn là một tấm phiếu trả công lao động hiệntại hoặc lao động tương lai Tức là, khi cấp một phần lao động quá khứ cho ngườicông nhân, nhà tư bản đã cấp cho anh ta một tấm phiếu để lĩnh lao động tương laicủa chính anh ta

Nhưng trước khi có vận động T – H đã có sự tách T’ = T + t Trong đó là tưbản tiền tệ, T tiếp tục tuần hoàn của tư bản, còn t bị tiêu dùng đi với tư cách là thunhập, thì đi vào lưu thông chung, nhưng lại tách khỏi tuần hoàn của tư bản

Trong lưu thông H’ - T’ – H, hình thái T của tư bản chỉ là một yếu tố tạmthời, chỉ là phương tiện môi giới của lưu thông để chuyển hóa ngược lại tư bảnhàng hóa thành tư bản sản xuất Vì vậy điều kiện quyết định để tuần hoàn của tưbản sản xuất tiến hành được bình thường, thì H’ phải được bán đi toàn bộ để thu T’

về Nếu H’ bán được thì mọi việc tiến hành trôi chảy

* Tích lũy và tái sản xuất trên qui mô mở rộng

Muốn có tái sản xuất mở rộng thì phải có tích lũy, phải có một bộ phận giá

Ngày đăng: 21/05/2018, 09:59

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w