Xuất phát từ những tổ chức sản xuất độc quyền hình thành trong quá trình tích tụ và tập trung tư bản, các công ty nói chung và các tập đoàn tài chính và công nghiệp nói riêng luôn tự điều chỉnh để phát triển. Nhờ đó các hình thức tổ chức hoạt động và cơ chế quản lý của chúng cũng được hoàn thiện thích ứng với yêu cầu của hệ thống kinh tế thị trường đang ngày càng được quốc tế hoá. Sự thích ứng đó luôn diễn ra trên hai mặt điều tiết hoạt động của công ty, đó là điều tiết độc quyền và cạnh tranh. Những năm 90 của thế kỷ XIX hệ thống các Trust, Cartel và Cyndicat ở Mỹ và các nước phát triển khác đã hình thành và hoạt động. Điều này có nghĩa là tăng cường cho tới khống chế xu hướng độc quyền trên thị trường ngành.
Trang 1MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ HIỆN TƯỢNG THÔN TÍNH, LIÊN KẾT VÀ SÁP
NHẬP CỦA CÁC CÔNG TY TRÊN THẾ GIỚI
Xuất phát từ những tổ chức sản xuất độc quyền hình thành trong quá trình tích
tụ và tập trung tư bản, các công ty nói chung và các tập đoàn tài chính và công nghiệp nói riêng luôn tự điều chỉnh để phát triển Nhờ đó các hình thức tổ chức hoạt động và
cơ chế quản lý của chúng cũng được hoàn thiện thích ứng với yêu cầu của hệ thống kinh tế thị trường đang ngày càng được quốc tế hoá Sự thích ứng đó luôn diễn ra trên hai mặt điều tiết hoạt động của công ty, đó là điều tiết độc quyền và cạnh tranh Những năm 90 của thế kỷ XIX hệ thống các Trust, Cartel và Cyndicat ở Mỹ và các nước phát triển khác đã hình thành và hoạt động Điều này có nghĩa là tăng cường cho tới khống chế xu hướng độc quyền trên thị trường ngành Dựa vào sức mạnh của mình, các Trust tiến hành trong phạm vi ngành một chính sách thị trường có lợi cho
họ và buộc những người sản xuất ở các ngành khác phải tuân theo Điều này có thể lấy các ngành luyện kim đen, hoá dầu, công nghiệp nhôm, thuốc lá ở Mỹ làm điển hình Tại các nước khác, với tính cách là các tổ chức độc quyền có Cartel và cyndicat
là các tổ chức ngành dựa trên những thoả thuận pháp lý giữa tất cả hoặc phần lớn các công ty của ngành trong quan hệ về mặt này hay mặt khác của chính sách thị trường, trước hết là giá cả Tuy nhiên, cơ chế tập trung của các công ty lớn và cơ chế cạnh tranh của thị trường không phủ nhận lẫn nhau mà luôn luôn cùng tồn tại như hai mặt của một chỉnh thể Chúng nương tựa, bổ sung cho nhau, mặt này là tiền đề ra đời, phát triển của mặt kia và ngược lại Sự phát triển của các ngành mà ở đó các tổ chức độc quyền ngành thống trị được xác định bởi sự tác động qua lại phức tạp giữa những lực lượng độc quyền và cạnh tranh Thậm chí, trong trường hợp thâu tóm tất cả quá trình sản xuất của một ngành thì các Trust cũng không thể loại bỏ hoàn toàn cạnh tranh ra khỏi thị trường của ngành đó Và một Trust như vậy, khi đã thống trị trong một ngành vẫn cố đạt tới sự độc quyền cho dù không phải khi nào cũng thành công
Trang 2Đối với Trust, nguyên nhân quan trọng nhất của sự suy giảm ảnh hưởng của nó là sự thay đổi xu hướng tập trung tương đối sản xuất và tư bản
Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX vai trò quyết định trong tập trung sản xuất và
tư bản là liên kết theo chiều ngang, điều này quyết định sự thành lập các Trust Nhưng đến những năm 20 đã thể hiện tính không hiệu quả về kinh tế của quá trình liên kết thái quá này Đặc biệt là sự yếu kém về khả năng thích ứng với những thay đổi của thị trường, thay đổi chủng loại mặt hàng và chất lượng sản phẩm trước làn sóng tích tụ tư bản liên ngành Quá trình liên kết theo chiều dọc được đưa lên hàng đầu và sau chiến tranh thế giới lần
thứ hai là quá trình đa dạng hoá, hình thành các công ty lớn kiểu mới Cái gọi là tập đoàn thống trị tồn tại dưới hình thức các công ty xuyên quốc gia được đưa ra thay thế
vị trí các Cartel, Cyndicat, Trust với tính chất là một tổ chức thống trị không chỉ của một ngành Sự tương quan giữa lực lượng điều
tiết của độc quyền và cạnh tranh luôn thay đổi và phản ánh xu hướng tăng lên của cạnh tranh Hơn nữa, sản xuất của các công ty này không chỉ thuộc các ngành công nghệ cao, mà phương thức tổ chức và cơ chế quản lý của chúng cũng vượt ra khỏi khuôn khổ truyền thống, đã xây dựng một cơ chế
quản lý mới
Hai thập kỷ gần đây, ở hầu hết các nước tư bản phát triển đã xuất hiện nhiều biện pháp kích thích mạnh mẽ vào quá trình tích luỹ tư bản Do khó khăn về điều kiện đầu tư tư bản vào thập kỷ 70 và 80, do việc giảm sút tỷ suất lợi nhuận bình quân dưới tác động của cách mạng khoa học-kỹ thuật đã buộc nhiều công ty lớn phải thu hút các đối thủ của mình để cùng tồn tại Chính vì vậy các công ty xuyên quốc gia đã trở thành hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh quốc tế phổ biến Chúng như những dây xích neo chặt các nền kinh tế có trình độ phát triển khác nhau lại thành từng khối trong guồng máy phân công lao động quốc tế Làn sóng hợp nhất và thôn tính lẫn nhau giữa các tập đoàn xuyên quốc gia hiện nay thực tế không vượt ra ngoài khuôn
Trang 3khổ các công ty xuyên quốc gia Nó bị quy định bởi những điều kiện đặc thù của giá trị tư bản tự tăng lên và cuộc khủng hoảng cơ cấu kéo dài ngày càng đe doạ các ngành truyền thống vốn là những ngành chịu sự chi phối và thống trị của các nhóm công ty khổng lồ đã đặt chúng trước sự diệt vong tất yếu nếu không kịp thời xâm nhập vào các ngành mũi nhọn có hàm lượng công nghệ cao Mặt khác, sự suy giảm hiệu lực rõ rệt trong các điều khoản của luật chống độc quyền ở một số nước này đã tạo điều kiện cho các công ty xuyên quốc gia ở một số nước khác tăng cường cắm nhánh bằng con đường hợp nhất
Ở Mỹ, từ nửa đầu thập kỷ 80 đã diễn ra hàng loạt vụ sáp nhập lớn với số vốn hàng tỷ USD Quá trình này bắt đầu từ các công ty hoạt động trong ngành công nghiệp, sau đó lấn sang toàn bộ nền kinh tế và cuối cùng tràn ra toàn thế giới Trong chiến lược chiếm lĩnh và khai thác thị trường quốc tế của các công ty xuyên quốc gia, việc nhanh chóng mở rộng quy mô bằng cắm nhánh trở thành biện pháp hữu hiệu để giải toả áp lực khủng hoảng cơ cấu và xu hướng giảm sút tỷ suất lợi nhuận của các công ty trong nước, đồng thời củng cố vị trí của mình trên thị trường quốc tế
Từ hơn 10 năm trở lại đây, sự kết hợp vốn của nhiều công ty khác nhau diễn ra nhanh chóng và sâu rộng Công ty "Ford" của Mỹ có một phần vốn của "Toyota Motor" của Nhật Bản, công ty "Genral Motor" của Mỹ kết hợp vốn với công ty
"Isuzi" và "Suzuki" của Nhật Bản, các công ty của CHLB Đức, Pháp, Nhật Bản cũng
bỏ vốn ra mua các doanh nghiệp trong ngành hoá chất, luyện kim, ô tô v.v của Mỹ Đến cuối năm 1985, có tới 10% các công ty Mỹ thuộc sở hữu tư bản nước ngoài Tỷ trọng của nó trong giá trị sản phẩm của ngành công nghiệp chế biến tăng từ 5,1% năm 1981 lên 8,5% năm 1985 Cuối năm 1988, "Cục thẩm toán chung" của Quốc hội
Mỹ công bố một bản nghiên cứu cho biết số công ty của Mỹ bị tư bản nước ngoài hợp nhất không ngừng tăng lên, từ 182 công ty với giá trị 8 tỷ USD vào năm 1984 tăng vọt lên 362 công ty với giá trị 42 tỷ USD vào năm 1987
Trang 4Tình hình từ đầu những năm 90 đến nay cho thấy, trong làn sóng hợp nhất các công ty lớn diễn ra mạnh mẽ trên thế giới, các công ty xuyên quốc gia Mỹ đang đi hàng đầu với những cuộc mua bán, sáp nhập lớn nhất "Nếu như làn sóng mua lại tiếp tục và số những người cạnh tranh không ngừng giảm trên từng thị trường, các doanh nghiệp có thể hướng vào khai thác các thế mạnh của mình để nâng giá Đặc biệt trong các ngành như công nghiệp quốc phòng, đường sắt, ngân hàng phục vụ các cá nhân
và bảo hiểm bệnh tật là những ngành mà những người cạnh tranh nước ngoài không
có bao nhiêu"
Đây là lời nhận xét của tờ Business Week về tình hình đang diễn ra ở Mỹ Nhưng cần thấy rằng, quy mô của nó bao trùm cả những ngành công nghệ mũi nhọn và nhiều ngành khác Cả một loạt hiệp định hợp nhất được ký kết giữa Chase - Chemical (ngân hàng) Sandoz - Geigy (dược phẩm) Bell Atlantic - Nynex (viễn thông), British Telecom - MCI (viễn thông), Boeing - Mc Donnell Douglas (quốc phòng), Morgan Stanley - Dean Witter (chứng khoán) Người ta đang thực sự chứng kiến một làn sóng hợp nhất mới chưa từng thấy kể từ Làn sóng cuồng nhiệt mua lại trong những năm
80, hoặc làn
sóng thành lập những Conglomerat như LTV, Textron trong những năm 60 dẫn đến sự sáp nhập hàng chục doanh nghiệp lớn, với những quy mô lớn hơn và động cơ rất khác nhau Tạp chí Fortune cho rằng, đây là làn sóng dung hợp lớn nhất trong lịch
sử Hoa Kỳ
Làn sóng sáp nhập và thôn tính trong những năm 1996 trên thế giới lên đến
1000 tỷ đôla Trong đó chỉ ở Mỹ đã diễn ra 10.000 vụ với trên 650 tỷ đôla, tức là gấp hơn hai lần về số vụ và giá trị so với năm diễn ra cao nhất trong thập niên 80 (1989) Trong số này có những làn sóng khổng lồ: năm 1996 có tới 6 vụ vượt quá 10 tỷ đôla
và theo công ty Security Data of Newark có trên 100 vụ di chuyển ở tầm cỡ trên 100
tỷ đôla Đây thực sự là những con số kỷ lục chưa từng thấy trong lịch sử nước Mỹ
Trang 5Mua bán hoặc trao đổi những hoạt động không mang tính chiến lược, hoặc tập trung trở lại vào những chuyên ngành vốn có để giành lấy tầm cỡ cao nhất, chẳng hạn tầm cỡ toàn cầu nếu có được, đó là bức tranh mới nhất hiện nay của các tập đoàn lớn
ở Mỹ và châu Âu thể hiện trong làn sóng sáp nhập và thôn tính hiện nay Người ta đã thông báo về những vụ sáp nhập lớn mà trong đó có những vụ sáp nhập giữa Morgan Stanley và Dean Witter Discover hay giữa Big One và First USA (ngân hàng) Cuộc vận động này đã diễn ra từ năm 1993 và gần đây đã đột nhiên gia tăng mạnh Những tài liệu mới nhất cho thấy, trong hầu khắp các ngành kinh tế Mỹ, quý I/1997 giá trị các hợp đồng sáp nhập các công ty của Mỹ đã lên tới mức kỷ lục là 183 tỷ đôla so với mức kỷ lục quý I/1996 là 120,6 tỷ đôla
Đây là biểu hiện mạnh mẽ của quá trình tập trung sản xuất Song hiện nay có nhiều nhân tố mới buộc các doanh nghiệp, các công ty xuyên quốc gia phải tìm kiếm những đối tác thích hợp và thay đổi thực chất các liên minh mong muốn Những nhân
tố này vừa mang tính tình huống vừa mang tính lâu dài của quá trình có tính quy luật của tập trung sản xuất TBCN nhất là ở nước Mỹ
Thứ nhất, mọi tìm kiếm lợi nhuận trong điều kiện lạm phát đã diễn ra yếu Trong những năm 90, các nền kinh tế phát triển, đặc biệt là kinh tế Mỹ đã thoát khỏi tình trạng lạm phát phi mã, các doanh nghiệp không có mấy khả năng tăng giá và một giải pháp duy nhất đảm bảo mục tiêu lợi nhuận là làm sao giảm được giá và chiếm lĩnh được thêm thị phần càng rộng càng tốt
Thứ hai, sự bốc lên mạnh của thị trường chứng khoán trở thành một điểm tựa quan trọng của các doanh nghiệp, và giúp chúng có khả năng dùng các cổ phần của mình để thanh toán cho các vụ mua đoạt quy mô lớn
Thứ ba, môi trường pháp quy liên quan đến một yếu tố đặc biệt xuất phát từ luật chống Trust Nhờ luật này nhiều lĩnh vực mới đã mở cửa cho cạnh tranh và việc tập hợp lại các tập đoàn cũng được khuyến khích trong một số trường hợp
Trang 6Thứ tư, do điều kiện môi trường cạnh tranh kinh doanh cực kỳ khốc liệt, không một ai có thể lường trước điều gì có thể xảy ra, nên một nhu cầu bức bách nẩy sinh là phải thực hiện những thay đổi về mặt chiến lược, chính sách, càng nhanh càng tốt, thậm chí ngay cả khi điều này có nghĩa là lao vào
một cuộc chiến tranh thù địch
Thứ năm, để thích ứng được với quá trình toàn cầu hóa đang diễn ra với cường
độ cao chưa từng thấy, các doanh nghiệp cần phải có tầm vóc đủ sức cạnh tranh toàn cầu, và phương sách phù hợp là mua thêm hoặc mua lại bằng những con đường nào đó
Như vậy, làn sóng hợp nhất hiện nay bắt nguồn chủ yếu từ những vấn đề có tính chất chiến lược Nó khác hẳn làn sóng tập trung trong những năm 80 ở chỗ, trong những năm này những người được lợi thường là những nhà tài chính tìm kiếm những chứng khoán hạ giá có khả năng được bán lại với giá hời Nó cũng khác với giai đoạn hình thành những Conglomerat thuộc thế hệ đầu (đa dạng hóa) đầu những năm 60, khi những người cầm đầu các doanh nghiệp đã tiến hành đa dạng hóa các doanh nghiệp vào các lĩnh vực hoạt động mới lạ đối với chúng, nhằm đối phó với nguy cơ lặp lại của chu kỳ kinh doanh Chính vì vậy mà ITT đã định vị vào công nghiệp chế tạo ôtô, bột giấy, bảo hiểm và công nghiệp chế biến bánh mỳ Các doanh nghiệp tham gia vào làn sóng tập trung hiện nay theo đuổi những mục đích khác nhau bằng cách sáp nhập lại những công ty mà hoạt động của chúng đồng nhất hoặc bổ sung cho nhau, và đôi khi chúng tự giải ước vì cho rằng sự tồn tại của chúng không có ý nghĩa chiến lược Những cuộc dung hợp này ít rủi ro nhất Người mua thông thường là một doanh nghiệp chứ không phải "những tay đầu cơ" "đón lõng" Những công ty tài chính kiểu này (đầu tư đón lõng) chỉ chiếm khoảng 5% các vụ giao dịch so với 30% trong những năm 80 Trong thực tế, hiện nay các doanh nghiệp hoàn toàn có thể tiến hành hợp nhất bằng cách dùng các cổ phần được đánh giá cao của mình để mua những đối tượng nhằm tới
Trang 7Làn sóng hợp nhất hiện nay còn tuân thủ mục tiêu hiệu quả và thống nhất thị trường Hãy xem một ví dụ điển hình năm 1996 Đó là cuộc hợp nhất của ngân hàng Chemical và Chase Manhattan Trước khi sáp nhập, có hai ngân hàng, hai chủ tịch, hai cơ sở phục vụ các doanh nghiệp cần vay với khoảng 600 đại lý và trên 75.000 nhân viên Nay không chỉ còn một ngân hàng, một chủ tịch và một cơ sở phục vụ các doanh nghiệp cần vay, mà đồng thời hàng trăm đại lý bị xóa bỏ và 12.000 chỗ làm việc phải biến mất Kết quả là khu vực ngân hàng mang tính không định hình hơn và thực thể này được tăng trưởng hết mức
Nhiều doanh nghiệp khác tìm phương thức phát triển bằng cách làm phát triển khả năng sinh lợi ở những kênh phân phối tiêu thụ hiện có Công ty Gillette là một điển hình Nó đã mua lại Duracell International, một công ty dẫn đầu trên thị trường pin điện bằng 9 tỷ đôla cổ phiếu Những vụ hợp nhất rất thường hay xảy ra vì một mục tiêu rõ rệt là đạt được quy mô nhất định Bằng cách để cho British Telecom mua lại 25 tỷ đôla, MCI Comunication có thể theo đuổi được chiến lược xâm nhập trên quy mô toàn bộ một vùng và không phải lo ngại tác động ngắn hạn đối với kết quả hoạt động của nó
Làn sóng hợp nhất cũng bao trùm cả những ngành công nghệ mũi nhọn, tức là lĩnh vực mà doanh nghiệp ở đó có ưu thế quen thuộc về tăng trưởng nội tại nhờ sự cho ra đời những sản phẩm mới Cisco Systems có cơ tăng rất mạnh kể từ đầu những năm 90, năm 1996 đã đầu tư một bộ phận cực nhỏ trong kho vũ khí của nó vào Granite Systems, một doanh nghiệp còn chưa có tiếng tăm nhưng đã đề ra chương trình chế tạo một hệ thống điều tiết giao thông đầy hứa hẹn - một bộ phận quyết định của trò chơi chắp hình mạng trong tương lai Cisco muốn đáp ứng được ý định nêu ra được cho khách hàng những giải pháp toàn diện và không để mất thời gian "Hành động hay là chết" đã trở thành khẩu hiệu trong một số trận chiến đấu gần đây Chẳng hạn sự khôi phục hoạt động trong lĩnh vực quân sự của Hughes Electronic, một chi nhánh của General Motors Trong mỗi trường hợp như vậy người chiến thắng quyết
Trang 8định "bộ mặt" kẻ sống sót trong khi đó tương lai của kẻ bại trận là sự nhân nhượng Ông Dennis Kozlowski, chủ tịch của Tyco nhận xét rằng "Dù thị trường ra sao, cần phải trở thành khổng lồ đã Theo quan điểm của tôi, trong thực tế các ông chủ tịch đều thực hiện các cuộc hợp
nhất hoặc thôn tính theo tinh thần dù là doanh nghiệp của họ có tầm cỡ như thế nào"
Phương thức hợp nhất này dù có những biểu hiện và quy mô khác trước nhưng tính chất tập trung tư bản để tăng khả năng độc quyền lại giống điều đã từng xảy ra từ một thế kỷ ở Hoa Kỳ đã nêu trên Thời bấy giờ, những viên chức chịu trách nhiệm trong cuộc đấu tranh chống Trust đã tuyên chiến với những các cartels có mưu đồ kiểm soát các thị trường Làm như vậy, họ đã muốn hợp nhất thành những cartels cho
ra đời những công ty khổng lồ như General Electric, U.S.Steel, Du Pont, International Harvester và Nabisco Suốt thế kỷ XX, các đạo luật chống Trust đã ngăn cản những
vụ hợp nhất có khả năng dẫn đến độc quyền trên thị trường Nhưng kể từ những năm
80 chính quyền Reagan đã nới lỏng những ràng buộc pháp quy chống Trust Trong thời gian gần đây, mặc dù có một số vụ cấm, như vụ Rite - Aid và Revco, vụ Microsoft và Intuit, chính quyền Clinton không ngăn cản các vụ giao dịch có tính chất tập trung Đặc biệt là trong lĩnh vực quân sự, Tổng thống Clinton còn tỏ ra khuyến khích các vụ hợp nhất
Một trong những biểu hiện quan trong của đợt sóng hợp nhất hiện nay ở Mỹ, bên cạnh việc mở rộng quy mô tư bản và sản xuất, chiếm lĩnh thị trường, các công ty xuyên quốc gia đã mở rộng lĩnh vực hoạt động của mình, đặc biệt là trong lĩnh vực dịch vụ công nghệ cao Những công ty nổi tiếng của Mỹ như General Electric, Wang laboratories, Xerox, Hewlett- Packard trước đây hầu như hoàn toàn kiếm được lợi nhuận từ việc bán các sản phẩm vật chất vật thể của mình Hiện nay những công ty này đều đang nhanh chóng sắp xếp, tổ chức lại thành những công ty cung cấp dịch vụ bên cạnh cơ sở hoạt động nghề nghiệp truyền thống của chúng Một số lượng ngày càng tăng các công ty Mỹ đang đi theo hướng này Việc bảo trì, thiết kế, quản lý các
Trang 9hệ thống thông tin, tài trợ cho các dự án , đang trở thành hướng thời thượng Các công ty công nghệ thông tin như Unisys và IBM đã thiết kế, lắp đặt và quản lý các hệ thống công nghệ thông tin của nhiều công ty khác Đến lượt mình, những công ty chế tạo vật tư thiết bị văn phòng như Xerox và Pitney Bowes lại đảm nhiệm tổ chức dịch
vụ thư tín và các trung tâm kỹ thuật in, sao, đảm bảo truyền tải điện các văn kiện tài liệu Hewlett - Packard
không chỉ thiết kế, quản lý các hệ thống thông tin mà còn tài trợ tạo dựng một tổng thể các dịch vụ và sau đó cho thuê ông Ann Livemore, phó chủ tịch phụ trách các dịch vụ này của Hewlett - Packard giải thích rằng "Các khách hàng tìm kiếm sự tài trợ cho một giải pháp toàn cục, không phải chỉ cho sự khởi động của giải pháp"
Khi phát triển các hoạt động dịch vụ, các công ty Mỹ đều chấp nhận những chiến lược đang được ưa chuộng nhất Chúng phản ứng nhanh với những thay đổi đặc thù của lĩnh vực sản xuất và do cạnh tranh khốc liệt giới hạn về thiết bị thu hẹp mạnh, đồng thời các khách hàng lại có khuynh hướng đặt thầu nhiều dịch vụ trước đây chỉ là hoạt động nội bộ Giá cả dịch vụ vì vậy leo thang mạnh cần phải được giám định
Gần đây các nhà sản xuất nhấn mạnh vào các dịch vụ là một nguy cơ thực sự đối với công ty Electronic Data System (EDS), Andersen Consulting và những chuyên gia tư vấn công nghệ khác Không có những tài liệu thống kê đầy đủ về các kiểu loại dịch vụ khác nhau Nhưng theo nhiều chuyên gia, dịch vụ kỹ thuật thông tin nói chung được hiểu là một tổng thể dịch vụ thiết kế, bảo trì lắp đặt các hệ thống kỹ thuật thông tin là lĩnh vực hoạt động dịch vụ chủ yếu Theo hãng Dataquest chuyên môn nghiên cứu thị trường, doanh số của lĩnh vực này lên đến 234 tỷ đôla năm 1996
và sẽ vượt 400 tỷ đôla từ nay đến năm 2000 Người ta dự báo chắc chắn rằng, những công ty tư vấn độc lập sẽ tiếp tục thống trị thị trường, nhưng các nhà sản xuất tiếp tục
ở thế thượng phong
Trang 10Tầm quan trọng của hoạt động dịch vụ còn nổi bật hơn nữa trong các doanh nghiệp kỹ thuật thông tin, là những doanh nghiệp ngày càng hướng vào việc thiết kế
và quản lý toàn bộ các hoạt động đã được thông tin hóa của khách hàng từ việc thanh toán cho đến việc theo dõi các hợp đồng đặt hàng Đối với công ty Hewlett - Packard, doanh thu về dịch vụ này lên tới 5,3 tỷ đôla năm 1996, tăng 20% từ dịch vụ này Theo Lloyd Waterhouse, Tổng giám đốc của IBM Global Services, những dịch vụ này tăng tiến nhanh hơn là sản xuất và cung ứng vật tư Năm 1995 General Electric chiếm được 7 tỷ đôla trong 70 tỷ đôla doanh số nhờ các dịch vụ như sửa chữa và bảo trì đầu máy xe lửa, động cơ máy bay, các trung tâm điện và thiết bị y khoa Nó dự tính, nhờ các dịch vụ này từ nay đến năm 2000 có thể kiếm 15 tỷ đôla Mới đây, công
ty này đã lập một Uỷ ban để các đại biểu của tất cả các lĩnh vực hoạt động sản xuất của nó có thể cùng nhau trao đổi ý kiến phát triển các hoạt động dịch vụ Chẳng hạn,
"Ban y khoa" của GE chuyên phục vụ thiết bị đặc biệt để giải thích các thông tin được truyền bằng điện, giúp cho việc chẩn đoán đã học "Ban động cơ máy bay" trong việc phục vụ bằng cùng một công nghệ ấy, để xác định sự cố của máy bay đậu tại một sân bay cách xa hàng ngàn kilômét John Welch, chủ tịch của GE giải thích rằng
"Phương thức tốt nhất đảm bảo mở rộng mạnh mẽ hoạt động của tôi là cải tiến thiết
bị mà tôi đã lắp và đảm bảo bảo trì nó hơn là bán nhiều vật tư, những dịch vụ liên quan đến sản phẩm phát triển với tốc độ nhanh hơn tốc độ tăng sản phẩm từ 2-3 lần" Như vậy đối với GE, dịch vụ rõ ràng là một thủ đoạn để bành trướng song đối với nhiều công ty kỹ thuật thông tin thì đó là chiến lược để sống sót Bởi vì cạnh tranh diễn ra mạnh mẽ, thời hạn sinh tồn của sản phẩm rút ngắn và sự xuất hiện "các nhà kiến trúc mới" (tức là những hệ thống máy linh hoạt cho phép các doanh nghiệp có thể xáo trộn các cấu kiện của các nhà sản xuất kình địch và lắp ghép chúng lại với nhau), các khách hàng có thể chọn người cung cấp khi họ muốn cải tiến thiết bị của
họ hay muốn mua thêm vật tư bổ sung