1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng có việc làm của người dân thuộc diện thu hồi đất tại khu kinh tế dung quất, tỉnh quảng ngãi

78 340 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 78
Dung lượng 1,09 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mô hình nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng tới khả năng có việc làm của người dân bị thu hồi đất được thực hiện với 8 yếu tố gồm: i Tuổi của lao động OLD, ii Trình độ học vấn của lao động

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

LÊ MINH TƯỜNG

PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN KHẢ NĂNG

CÓ VIỆC LÀM CỦA NGƯỜI DÂN BỊ THU HỒI ĐẤT TẠI KHU KINH TẾ DUNG QUẤT TỈNH QUẢNG NGÃI

LUẬN VĂN THẠC SĨ

KHÁNH HÒA – 2017

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

LÊ MINH TƯỜNG

PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN KHẢ NĂNG

CÓ VIỆC LÀM CỦA NGƯỜI DÂN BỊ THU HỒI ĐẤT TẠI KHU KINH TẾ DUNG QUẤT TỈNH QUẢNG NGÃI

LUẬN VĂN THẠC SĨ

Quyết định giao đề tài: 410/QĐ-ĐHNT NGÀY 28/4/2017

Quyết định thành lập hội đồng: 1273/QĐ-ĐHNT NGÀY 05/12/2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu do chính tôi thực hiện Các số liệu thu thập và kết quả phân tích trong luận án là trung thực, và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Khánh Hòa, ngày 14 tháng 10 năm 2017

Tác giả

Lê Minh Tường

Trang 4

Trước tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Thầy Phạm Thành Thái, Thầy Trương Ngọc Phong người hướng dẫn tôi nghiên cứu Nếu không có những lời nhận xét, góp ý quý giá để xây dựng đề cương luận văn và sự hướng dẫn nhiệt tình, tận tâm của Thầy trong suốt quá trình nghiên cứu thì luận văn này đã không hoàn thành Tôi cũng học được rất nhiều từ Thầy về kiến thức chuyên môn, tác phong làm việc và những điều bổ ích khác

Tôi cũng xin gởi lời cảm ơn chân thành đến quý Thầy, Cô giáo ở Khoa Kinh tế nói riêng và quý Thầy, Cô ở trường Đại học Nha Trang nói chung nơi tôi học tập và nghiên cứu đã giảng dạy, giúp đỡ tôi trong suốt khóa học này

Sau cùng, lời cảm ơn đặc biệt nhất dành cho bố mẹ, anh chị em, vợ và các con tôi, cũng như những bạn bè, đồng nghiệp của tôi Những cố gắng của tôi để hoàn thành luận văn này là dành cho họ

Khánh Hòa, ngày 14 tháng 10 năm 2017

Tác giả

Lê Minh Tường

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN iii

LỜI CẢM ƠN iv

MỤC LỤC v

DANH MỤC BẢNG viii

DANH MỤC BẢNG viii

DANH MỤC HÌNH ix

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN x

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3

1.2.1 Mục tiêu chung 3

1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3

1.3 Câu hỏi nghiên cứu 3

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

1.4.1 Đối tượng nghiên cứu 3

1.4.2 Phạm vi nghiên cứu 3

1.5 Ý nghĩa của nghiên cứu 4

1.6 Kết cấu của luận văn 5

Tóm tắt chương 1 5

CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 6

2.1 Khái quát về việc làm và tạo việc làm cho người lao động .6

2.1.1 Lao động và sức lao động 6

2.1.2 Người lao động 7

2.1.3 Khái niệm việc làm 7

Trang 6

2.1.4 Thiếu việc làm 10

2.1.5 Thất nghiệp 11

2.1.6 Thu hồi đất 12

2.2 Tạo việc làm 13

2.2.1 Khái niệm tạo việc làm 13

2.2.2 Bản chất của tạo việc làm 13

2.2.3 Cơ chế tạo việc làm 14

2.2.4 Nội dung tạo việc làm 15

2.3 Các nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng có việc làm của lao động 18

2.3.1 Các nghiên cứu nước ngoài 18

2.3.2 Các nghiên cứu trong nước 20

2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng có việc làm của lao động 22

2.4.1 Nhóm yếu tố đặc điểm cá nhân của lao động 22

2.4.2 Nhóm yếu tố đặc điểm địa phương 23

2.4.4 Nhóm yếu tố chính sách tạo việc làm 24

2.5 Mô hình nghiên cứu đề xuất 25

Tóm tắt chương 2 29

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30

3.1 Qui trình nghiên cứu 30

3.2 Mô hình nghiên cứu thực nghiệm và các giả thuyết nghiên cứu 31

3.2.1 Lựa chọn mô hình ước lượng 31

3.2.2 Mô hình ước lượng 32

3.2.3 Các giả thuyết nghiên cứu 34

3.3 Phương pháp nghiên cứu 37

3.4 Chọn mẫu điều tra và dữ liệu nghiên cứu 37

Trang 7

3.4.1 Quy mô mẫu 37

3.4.2 Phương pháp chọn mẫu 38

3.5 Dữ liệu được sử dụng trong nghiên cứu 38

CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ PHÂN TÍCH VÀ THẢO LUẬN 39

4.1 Khái quát về địa điểm nghiên cứu 39

4.1.1 Đặc điểm tự nhiên 39

4.1.2 Đặc điểm kinh tế- kỹ thuật của Khu kinh tế Dung Quất 39

4.1.3 Đặc điểm của người bị thu hồi đất ở Khu kinh tế Dung Quất 42

4.1.4 Thực trạng việc làm tại Khu kinh tế Dung Quất 45

4.2 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng có việc làm của lao động tại khu kinh tế Dung Quất 46

4.2.1 Tổng quan về mẫu nghiên cứu 46

4.2.2 Kết quả ước lượng các yếu tố ảnh hưởng khả năng có việc làm của lao động tại Khu kinh tế Dung Quất, Quảng Ngãi 48

4.2.3 Phân tích các kịch bản thay đổi xác suất có việc làm của lao động bị thu hồi đất tại Khu kinh tế Dung Quất 51

Tóm tắt Chương 4 53

CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH 54

5.1 Kết luận 54

5.2 Khuyến nghị chính sách 54

5.2.1 Chính sách cung cấp thông tin, giới thiệu việc làm cho lao động 54

5.2.2 Chính sách hỗ trợ đào tạo nghề cho lao động 55

5.2.3 Chính sách hỗ trợ việc làm cho lao động nữ 56

Tóm tắt Chương 5 56

TÀI LIỆU THAM KHẢO 57 PHỤ LỤC

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1 Các biến được sử dụng trong nghiên cứu thực nghiệm 32

Bảng 4.1 Vốn đầu tư và giải quyết việc làm ở các KCN, KKT trong tỉnh 41

Bảng 4.2 Trình độ văn hoá theo nhóm tuổi tại thời điểm năm 2014 42

Bảng 4.3 Lao động qua đào tạo và chưa qua đào tạo tại năm 2014 43

Bảng 4.4 Tình hình việc làm của người lao động, năm 2014 .45

Bảng 4.5 Tình hình lao động và việc làm trong mẫu nghiên cứu 46

Bảng 4.6 Giới tính của lao động trong mẫu nghiên cứu 47

Bảng 4.7 Đặc điểm tuổi và học vân của lao động trong mẫu 47

Bảng 4.8 Tình hình đào tạo nghề của lao động trong mẫu 47

Bảng 4.9 Tình trạng nắm bắt thông tin của lao động 48

Bảng 4.10 Kết quả ước lượng 48

Bảng 4.11 Tác động biên của các yếu tố đến sự thay đổi xác suất có việc làm 50

Bảng 4.12 Mô phỏng xác xuất có việc làm khi biến độc lập thay đổi 51

Trang 9

DANH MỤC HÌNH

Hình 2.1 Mô hình nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng có việc làm của lao động bị thu hồi đất tại khu kinh tế Dung Quất, tỉnh Quảng Ngãi 26 Hình 3.1 Quy trình nghiên cứu 30 Hình 4.1 Biểu đồ thể hiện trình độ lao động qua đào tạo và chưa qua đào tạo ở 9 xã thuộc KKT Dung Quất năm 2010 44 Hình 4.2 Biểu đồ về tình hình việc làm của lao động theo nhóm tuổi ở 9 xã Khu kinh

tế Dung Quất 45

Trang 10

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng tới khả năng có việc làm của lao động bị thu hồi đất tại Khu kinh tế Dung Quất, Quảng Ngãi được thực hiện dựa theo khung phân tích của Oliva & Gibson (2009), có việc bổ sung các yếu tố chính sách tạo việc làm

Mô hình nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng tới khả năng có việc làm của người dân bị

thu hồi đất được thực hiện với 8 yếu tố gồm: (i) Tuổi của lao động (OLD), (ii) Trình

độ học vấn của lao động (EDU), (iii) Giới tính lao động (GEN), (iv) Khoảng cách đến khu kinh tế (DIS), (v) Tốc độ trung bình (DIS), (vi) Số doanh nghiệp lao động biết (FIRM), (vii) Thông tin về việc làm (INFO), và (viii) Chính sách đào tạo nghề (TRAPO)

Kết quả nghiên cứu với mẫu khảo sát từ 300 lao động bị thu hồi đất tại Khu kinh tế Dung Quất cho thấy, có 6 yếu tố tác động có ý nghĩa thống kê đến khả năng có

việc làm của lao động gồm: (1) Trình độ học vấn của lao động, (2) Giới tính lao động, (3) Khoảng cách đến khu kinh tế, (4) Số doanh nghiệp lao động biết, (5) Thông tin về

việc làm, và (6) Chính sách đào tạo nghề Trong đó, các yếu tố ảnh hưởng mạnh nhất

đến khả năng có việc làm của lao động gồm: (i) Thông tin về việc làm; (ii) Chính sách

đào tạo nghề Trong khi đó, các yếu tố chưa cho thấy tác động có ý nghĩa gồm: Tuổi của lao động và Tốc độ trung bình của đường giao thông Nghiên cứu cũng đã phân

tích các kịch bản dự báo khả năng có việc làm của lao động khi xác suất có việc làm ban đầu thay đổi dưới ảnh hưởng của 6 yếu tố tác động có ý nghĩa thống kê Bên cạnh

đó, nghiên cứu cũng đã phân tích khái quát về thực trạng lao động và việc làm của lao động bị thu hồi đất tại Khu kinh tế Dung Quất, Quảng Ngãi

Dựa trên kết quả phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới khả năng có việc làm của lao động bị thu hồi đất tại Khu kinh tế Dung Quất, Quảng Ngãi, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm tăng khả năng có việc làm cho lao động bị thu hồi đất gồm: (i) Chính sách cung cấp thông tin, giới thiệu việc làm cho lao động; (ii) Chính sách hỗ trợ đào tạo nghề cho lao động; và (iii) Chính sách hỗ trợ việc làm cho lao động nữ

Từ khóa: lao động bị thu hồi đất, việc làm, yếu tố ảnh hưởng, Dung Quất

Trang 11

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1.1 Đặt vấn đề

Đất đai là tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt,

là một yếu tố đầu vào quan trọng của bất kỳ một ngành sản xuất, dịch vụ nào, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố dân cư, phát triển

cơ sở kinh tế - văn hóa- xã hội và an ninh, quốc phòng Đặc biệt, là tư liệu sản xuất chủ yếu, quan trọng của lao động nông nghiệp

Công nghiệp hóa và đô thị hóa là xu hướng tất yếu đối với các quốc gia muốn nhanh chóng thoát khỏi tình trạng kinh tế nông nghiệp lạc hậu, năng suất thấp, mức sống thấp sang nền kinh tế công nghiệp, năng suất cao Quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa kéo theo nhu cầu sử dụng đất thay đổi, trước đây đất đai chủ yếu dùng để trồng trọt cây lương thực, hoa màu và phân bố dân cư thì nay chuyển sang đất chuyên dùng, để xây dựng cơ sở hạ tầng, xây dựng các khu công nghiệp tập trung, khu kinh tế, khu chế xuất, xây dựng các khu đô thị Quá trình đó, thu hồi đất để đáp ứng nhu cầu sử dụng đất là tất yếu

Thực tế cho thấy, công tác thu hồi đất là vấn đề hết sức nhạy cảm và phức tạp, tác động tới nhiều mặt của đời sống kinh tế - xã hội của người lao động bị thu hồi đất Chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư, tuy được Chính phủ quan tâm điều chỉnh bổ sung cho phù hợp với yêu cầu thực tiễn, nhưng vẫn còn nhiều vấn đề cần được nghiên cứu; trong đó vấn đề tạo việc làm cho người dân bị thu hồi đất còn nhiều bất cập và chưa được thực hiện một cách đồng bộ và bền vững Do vậy, phần lớn người lao động bị thu hồi đất sản xuất không có việc làm, thiếu việc làm ngày càng gia tăng theo quá trình thu hồi đất

Vấn đề tạo việc làm, đóng vai trò rất quan trọng trong việc giảm thiểu nguy cơ rủi ro cho người dân bị thu hồi đất, phải tái định cư Bởi vì, đây là những người bị tước đi tư liệu sản xuất chủ yếu là đất đai, lối sống, tập quán sản xuất vốn có của mình, để chuyển đến một môi trường mới, với những điiều kiện sản xuất mới; họ rất

dễ bị cô lập hoặc nghèo đi so với thời điểm trước khi bị thu hồi đất và tái định cư

Sau 20 năm thành lập, Khu Kinh tế Dung Quất đã đạt được những thành tựu quan trọng, góp phần đưa tỉnh Quảng Ngãi thoát khỏi tình trạng là 01 tỉnh kém phát

Trang 12

triển Trong quá trình xây dựng và phát triển Khu Kinh tế Dung Quất, tất yếu có một

bộ phận nhân dân sở tại bị thu hồi đất sản xuất, đất ở để giải phóng mặt bằng thi công các công trình, dự án và thực tế đã phát sinh một số vấn đề sau đây:

Công tác về thu hồi đất đai của các ngành, các cấp nhiều nơi còn buông lỏng, không chặt chẽ và còn nhiều bất cập; chưa công khai để dân biết, dân thực hiện, dân giám sát Chưa có sự ủng hộ, đồng thuận cao của người dân khi Nhà nước quyết định thu hồi đất phục vụ phát triển Khu Kinh tế

Chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư hiện nay không đảm bảo được vấn đề

an sinh xã hội, đời sống của người dân bị thu hồi đất tại các khu tái định cư rất bấp bênh, không ổn định và không bằng nơi ở cũ Xuất hiện nhóm hộ gia đình không còn ruộng đất để sản xuất; nhóm người tái định cư chưa ổn định sinh hoạt và đời sống kinh

tế còn rất khó khăn (trong đó có một bộ phận người dân thuộc diện di dời, tái định cư nhưng kinh phí bồi thường không đủ để xây dựng lại nhà ở); nhóm người thất nghiệp

do chưa có việc làm mới

Hiện nay, Khu Kinh tế Dung Quất đã được quy hoạch mở rộng từ 10.300ha lên 45.332ha và là 01 trong 05 Khu Kinh tế ven biển được Chính phủ xác định tập trung đầu tư phát triển từ nguồn ngân sách nhà nước nên chắc chắn trong giai đoạn đến, Khu Kinh tế Dung Quất sẽ tiếp tục tăng tốc đầu tư, dẫn đến tốc độ thu hồi đất sẽ diễn ra ngày càng nhanh và tất yếu sẽ đặt ra nhiều vấn đề cần tập trung giải quyết, kể cả những bất cập còn tồn tại trong thời gian qua về tác động của thu hồi đất tại Khu Kinh

chính quyền và người dân ổn định cuộc sống và sinh kế

Trang 13

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

1.2.1 Mục tiêu chung

Mục tiêu tổng quát của nghiên cứu này là nhằm xác định các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng có việc làm của người dân bị thu hồi đất tại Khu Kinh tế Dung Quất, tỉnh Quảng Ngãi, trên cơ sở đó đề xuất các hàm ý chính sách giúp nâng cao khả năng có việc làm của người dân bị thu hồi đất trên địa bàn khu kinh tế Dung Quất

1.3 Câu hỏi nghiên cứu

(1) Có những nhân tố nào ảnh hưởng đến khả năng có việc làm của người dân thuộc diện thu hồi đất tại KKT Dung Quất, tỉnh Quảng Ngãi?

(2) Các nhân tố đó tác động như thế nào đến khả năng có việc làm của người dân thuộc diện thu hồi đất tại KKT Dung Quất, tỉnh Quảng Ngãi?

(3) Những hàm ý chính sách nào có thể giúp tăng khả năng có việc làm cho người dân thuộc diện thu hồi đất tại KKT Dung Quất, tỉnh Quảng Ngãi thời gian tới?

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là khả năng có việc làm của người dân bị thu hồi đất tại KKT Dung Quất, tỉnh Quảng Ngãi và các yếu tố ảnh hưởng đến nó

Đối tượng khảo sát của đề tài là các hộ gia đình bị thu hồi đất tại KKT Dung Quất

1.4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về không gian: Nghiên cứu trong vùng quy hoạch Khu kinh tế Dung Quất;

gồm 9/25 xã, thị trấn của huyện Bình Sơn: Bình Chánh, Bình Thạnh, Bình Đông, Bình Thuận, Bình Trị, Bình Hải, Bình Hoà, Bình Phước và Bình Phú

- Về thời gian: Nghiên cứu thực trạng việc làm và tạo việc làm cho người lao

động thuộc diện thu hồi đất tại Khu kinh tế Dung Quất giai đoạn 2011-2015

Trang 14

1.5 Ý nghĩa của nghiên cứu

Luận văn là công trình nghiên cứu khoa học có ý nghĩa lý luận và thực tiễn, là tài liệu giúp cho KKT Dung Quất, tỉnh Quảng Ngãi xây dựng kế hoạch phát triển nguồn nhân lực, đảm bảo công ăn việc làm cho người dân trong KKT, nâng cao mức sống cho người dân, phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói giảm nghèo trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi đến năm 2020

Luận văn nghiên cứu và phản ánh khá toàn diện về việc làm, tạo việc làm cho người dân trong KKT và tình hình phát triển sản xuất để tạo việc làm ở KKT Dung Quất Các giải pháp đưa ra có ý nghĩa thiết thực đối với tạo việc làm cho người dân cũng như đóng góp cho sự phát triển kinh tế-xã hội chung của tỉnh Quảng Ngãi

Thứ hai, đề tài luận văn làm rõ các yếu tố ảnh hưởng đến việc làm của hộ dân tại KKT Dung Quất Trên cơ sở đó, góp phần đóng góp những giải pháp có cơ sở khoa học

và khả thi cho việc giải quyết việc làm cho các hộ gia đình tại KKT Dung Quất

Thứ ba, kết quả nghiên cứu là tài liệu tham khảo cho các cá nhân, tổ chức, cơ quan khi nghiên cứu về việc làm của hộ gia đình trong KKT từ đó đưa ra các giải pháp

có ý nghĩa thiết thực đối với tạo việc làm cho người dân cũng như đóng góp cho sự phát triển kinh tế-xã hội chung của tỉnh Quảng Ngãi

Trang 15

1.6 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần các phần trích yếu, mục lục, tài liệu tham khảo, và phụ lục; kết cấu của đề tài gồm 5 chương như sau:

Chương 1: Giới thiệu tổng quan về nghiên cứu, chương này giới thiệu tính cấp

thiết của nghiên cứu, mục tiêu, ý nghĩa và đóng góp của nghiên cứu về tạo việc làm cho người dân bị thu hồi đất tại Khu Kinh tế Dung Quất, tỉnh Quảng Ngãi

Chương 2: Trong chương này sẽ đưa ra các cơ sở lý thuyết về tạo việc làm cho

người dân tại Khu Kinh tế Dung Quất Thông qua việc tổng quan các hệ thống các lý thuyết kinh tế nghiên cứu về tự tạo việc làm, chuyên đề xây dựng khung lý thuyết nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng tới khả năng có việc làm cho người dân thuộc diện thu hồi đất tại Khu Kinh tế Dung Quất

Chương 3: Giới thiệu phương pháp sử dụng trong nghiên cứu, các nguồn số

liệu, và phương pháp phân tích cùng với các công cụ được sử dụng để phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng có việc làm của người dân Các phương pháp và các

kỹ thuật nghiên cứu cụ thể cũng được giải thích chi tiết trong phần này và làm cơ sở để phân tích thực trạng trong chương 4

Chương 4: Phân tích thực trạng tạo việc làm cho người dân tại Khu Kinh tế

Dung Quất Với đặc điểm các nguồn số liệu được phân tích ở chương 3, luận văn đánh giá phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng có việc làm của người dân thuộc diện thu hồi đất tại Khu Kinh tế Dung Quất Đây chính là căn cứ để đưa ra các kết luận và kiến nghị cụ thể nhằm tăng cường khả năng tạo việc làm cho người dân tại Khu Kinh

tế Dung Quất trong Chương 5

Chương 5: Từ việc phân tích thực trạng tạo việc làm cho người dân thuộc diện

thu hồi đất ở chương 4 chương này đưa ra các kết luận của nghiên cứu và các gợi ý chính sách trong việc tạo việc làm cho người dân trên địa bàn Khu Kinh tế Dung Quất

Tóm tắt chương 1

Chương này đã trình bày tính cấp thiết của nghiên cứu, từ đó xây dựng các mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu cần giải quyết Đồng thời chương 1 cũng đã mô tả khái quát đối tượng, phạm vi nghiên cứu và ý nghĩa của nghiên cứu, cũng như tóm tắt nội dung các chương

Trang 16

CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Khái quát về việc làm và tạo việc làm cho người lao động

2.1.1 Lao động và sức lao động

Lao động là hoạt động có mục đích của con người, thông qua hoạt động đó con

người tác động vào giới tự nhiên, cải biến chúng thành những vật có ích nhằm đáp ứng nhu cầu nào đó của con người (Trần Xuân Cầu và Mai Quốc Chánh, 2008) Hoạt động lao động có 3 đặc trưng cơ bản:

Thứ nhất, xét về tính chất, hoạt động lao động phải có mục đích (có ý thức) của con người

Thứ hai, xét về mục đích, hoạt động đó phải tạo ra sản phẩm nhằm thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người (nhu cầu chính đáng phục vụ cho con người, phục vụ cho sự tiến bộ của xã hội)

Thứ ba, xét về mặt nội dung, hoạt động của con người phải là sự tác động vào

tự nhiên, làm biến đổi tự nhiên và xã hội nhằm tạo ra của cải vật chất và tinh thần phục

vụ lợi ích của con người

Ngày nay, hoạt động lao động được quan niệm không chỉ là khai thác tự nhiên

mà còn song song với nó là sự bồi đắp, bảo tồn tự nhiên

Sức lao động là phạm trù chỉ khả năng lao động của con người, là tổng hợp thể

lực và trí lực của con người, được con người vận dụng trong quá trình lao động Theo

C Mác, sức lao động hay năng lực lao động là toàn bộ những năng lực thể chất và tinh thần tồn tại trong một cơ thể, trong một con người đang sống và được người đó đem ra vận dụng mỗi khi sản xuất ra một giá trị sử dụng nào đó (Trần Xuân Cầu và Mai Quốc Chánh, 2008)

Như vậy, khả năng lao động của con người hay sức lao động được thể hiện: + Khả năng về thể chất (thể lực): chỉ rõ khả năng làm việc chân tay, được biểu hiện thông qua các chỉ tiêu như về chiều cao, cân nặng, sức mạnh cơ bắp, thị lực, thính lực…

+ Khả năng về tinh thần (trí lực): chỉ rõ khả năng làm việc trí tuệ, được biểu hiện thông qua các chỉ tiêu về trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn kỹ thuật, kinh nghiệm công tác…

Trang 17

Ngày nay, không chỉ dừng lại ở hai tiêu chí trên mà còn quan tâm nhiều đến năng lực phẩm chất của người lao động Năng lực phẩm chất chỉ rõ tính năng động, sáng tạo, thái độ làm việc, lòng tự tin, khả năng thích ứng, dễ chuyển đổi, làm việc có tinh thần trách nhiệm với cá nhân, nhóm và tổ chức…

Như vậy, để biến khả năng lao động (sức lao động) thành hiện thực (lao động), cần phải có những điều kiện nhất định (điều kiện vật chất, điều kiện con người, môi trường xã hội…), mà thiếu những điều kiện này, quá trình lao động không thể diễn ra được

2.1.2 Người lao động

Điều 6 của bộ Luật Lao động đã sửa đổi, bổ sung năm 2007 định nghĩa “ Người lao động là người ít nhất đủ 15 tuổi, có khả năng lao động và có giao kết hợp đồng lao động”; và Điều 145 định nghĩa “ Người lao động được hưởng chế độ hưu trí hàng tháng khi có đủ điều kiện về tuổi đời và thời gian đóng bảo biểm xã hội như sau: nam

đủ 60 tuổi, nữ đủ 55 tuổi

Như vậy căn cứ vào đó, độ tuổi lao động của người Việt Nam được xác định đối với nam từ đủ 15 tuổi đến đủ 60 tuổi và nữ từ đủ 15 tuổi đến đủ 55 tuổi

2.1.3 Khái niệm việc làm

Theo Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), khái niệm việc làm chỉ đề cập đến mối quan hệ với lực lượng lao động Khi đó, việc làm được phân làm hai loại: có trả công (những người làm thuê, học việc …) và không được trả công nhưng vẫn có thu nhập (những người như giới chủ làm kinh tế gia đình …) Vì vậy, “việc làm có thể được định nghĩa như một tình trạng trong đó có sự trả công bằng tiền hoặc hiện vật, do có một sự tham gia tích cực, có tính chất cá nhân và trực tiếp vào nỗ lực sản xuất” (ILO

1993, trích trong Phạm Đức Chính, 2005) Theo khái niệm này, người có việc làm là người làm việc gì đó để được trả công, lợi nhuận được thanh toán bằng tiền hoặc hiện vật, hoặc tham gia vào các hoạt động mang tính chất tự tạo việc làm vì lợi ích hay vì thu nhập của gia đình (không được nhận tiền công hay hiện vật) Khái niệm này đã được chính thức nêu tại Hội nghị quốc tế lần thứ 13 của nhà thống kê lao động và đã được áp dụng ở nhiều nước Tuy nhiên, quan niệm này mang nghĩa rất rộng, bao trùm mọi hoạt động lao động của con người Trong thời đại ngày nay, với quan niệm trên,

có rất nhiều người sẽ thuộc diện có việc làm, bao gồm: những hoạt động mang tính

Trang 18

hợp pháp và những hoạt động mang tính phi pháp hay là những hoạt động lao động của con người vi phạm pháp luật hoặc bị cho là vi phạm đạo đức xã hội và bị ngăn cấm ở một số nước Do vậy, khái niệm trên chỉ mang tính khái quát, là cơ sở nghiên cứu vấn đề chung cho các nước trên thế giới

Ở Việt Nam, trong thời kỳ tập trung bao cấp, nhà nước đã đứng ra giải quyết việc làm, trực tiếp quản lý nguồn lao động kể từ khâu đào tạo, phân bổ đến việc sử dụng đãi ngộ đối với người lao động thực hiện theo chỉ tiêu pháp lệnh Trong giai đoạn này, những khái niệm về thiếu việc làm, lao động dư thừa, việc làm không đầy đủ… hầu như không được biết đến Còn khái niệm “thất nghiệp” dường như là điều cấm kị nói tới dưới bất kỳ hình thức nào, trong nền kinh tế quốc dân, xu hướng quốc doanh hóa được coi là một điều tất yếu Hướng phấn đấu của mọi cơ sở sản xuất kinh doanh

là chuyển nhanh vào khu vực quốc doanh, đối với mỗi công dân là vào đội ngũ viên chức nhà nước Do đó việc làm và người có việc làm được xã hội thừa nhận và trân trọng là những người làm việc trong thành phần kinh tế quốc doanh, khu vực Nhà nước và kinh tế tập thể

Khi chuyển sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước, quan điểm về việc làm được hiểu là hoạt động lao động không bị pháp luật ngăn cấm, tạo thu nhập hoặc tạo ra điều kiện cho các thành viên trong hộ gia đình có thêm thu nhập Điều này cũng phù hợp với cách nhìn nhận và phân tích được quy định trong Điều 13 của Bộ Luật Lao động sửa đổi bổ sung năm 2007: “Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập, không bị pháp luật ngăn cấm đều được thừa nhận là việc làm”

Khái niệm việc làm của Bộ luật Lao động Việt Nam được cụ thể hóa, có thể hiểu dưới ba dạng hoạt động sau:

Làm các công việc để nhận tiền công, tiền lương bằng tiền mặt hoặc bằng hiện vật Làm các công việc để thu lợi nhuận cho bản thân

Làm các công việc cho hộ gia đình mình nhưng không được trả thù lao dưới hình thức tiền lương, tiền công cho công việc đó

Theo quan niệm trên, một hoạt động được coi là việc làm cần thỏa mãn hai tiêu thức

Một là, hoạt động đó phải có ích và tạo ra thu nhập cho người lao động và cho

các thành viên trong gia đình Điều này chỉ ra tính hữu ích và nhấn mạnh tiêu thức tạo

ra thu nhập của việc làm

Trang 19

Hai là, hoạt động đó không bị pháp luật ngăn cấm Điều này chỉ ra tính pháp lý

của việc làm, quan niệm đó rõ ràng hơn so với quan niệm của tổ chức ILO Hoạt động

có ích không giới hạn về phạm vi, hành nghề và hoàn toàn phù hợp với sự phát triển thị trường lao động ở Việt Nam trong quá trình phát triển nền kinh tế nhiều thành phần Người lao động hợp pháp ngày nay được đặt vào vị trí chủ thể, có quyền tự do hành nghề, tự do liên kết kinh doanh, tự do tìm kiếm việc làm, tự do thuê mướn lao động trong khuôn khổ của pháp luật, không bị phân biệt đối xử dù làm việc trong hay ngoài khu vực ngoài nhà nước và các khu vực phi chính thức

Hai điều kiện đó có quan hệ chặt chẽ với nhau và là điều kiện cần và đủ để một hoạt động lao động được thừa nhận là việc làm Nếu một hoạt động tạo ra thu nhập, nhưng vi phạm pháp luật như trộm cắp, buôn bán ma túy, mại dâm,… thì không được thừa nhận là việc làm Mặt khác một hoạt động là hợp pháp và có ích, nhưng không tạo ra thu nhập cũng không được thừa nhận là việc làm; chẳng hạn công việc nội trợ hàng ngày của người phụ nữ cho chính gia đình họ ( như đi chợ, nấu cơm, dọn dẹp, giặt quần áo…) Nhận thức về việc làm và tạo việc làm đó có sự chuyển biến căn bản Nếu như trước đây, quan niệm phổ biến là Nhà nước chịu trách nhiệm tạo việc làm và

bố trí việc làm cho người lao động thì nay đã chuyển sang quan niệm tạo việc làm là trách nhiệm của nhà nước, doanh nghiệp, xã hội và của chính bản thân người lao động

Sự thay đổi quan niệm về việc làm của Nhà nước phù hợp với nền kinh tế thị trường, coi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm, có vai trò quan trọng trong giải phóng sức lao động, thúc đẩy tạo mở việc làm và phát triển thị trường lao động ở nước ta

Quan niệm về việc làm nêu trên nó mang tính khái quát cao, tuy nhiên vẫn còn một số hạn chế, cụ thể là:

Thứ nhất, xét trên phạm vi rộng thì tính hợp pháp của một hoạt động lao động được thừa nhận là việc làm tùy thuộc vào luật pháp của mỗi quốc gia và mỗi thời kỳ

Có hoạt động là việc làm ở nước này nhưng lại không được thừa nhận là việc làm ở nước khác

Thứ hai, không phải mọi hoạt động có ích và cần thiết cho gia đình và xã hội đều tạo ra thu nhập mặc dù nó góp phần làm giảm chi tiêu cho gia đình thay vì thuê người làm công

Trang 20

Theo Trần Xuân Cầu và Mai Quốc Chánh (2008) việc làm được hiểu “là phạm trù

để chỉ trạng thái phù hợp giữa sức lao động và những điều kiện cần thiết (vốn, tư liệu sản xuất, công nghệ,…) để sử dụng sức lao động đó”

Trạng thái phù hợp được thể hiện thông qua quan hệ tỷ lệ giữa chi phí ban đầu (C) như nhà xưởng, máy móc thiết bị, nguyên vật liệu và chi phí về sức lao động (V) Quan hệ tỷ lệ biểu hiện sự kết hợp giữa C và V phải phù hợp với trình độ công nghệ của sản xuất Khi trình độ kỹ thuật công nghệ thay đổi thì sự kết hợp đó cũng thay đổi theo hướng công nghệ sử dụng nhiều vốn hoặc công nghệ sử dụng nhiều sức lao động Chẳng hạn, trong điều kiện kỹ thuật thủ công một đơn vị chi phí ban đầu về

tư liệu sản xuất có thể kết hợp với nhiều đơn vị sức lao động Còn trong điều kiện tự động hóa, sản xuất theo dây chuyền hiện đại thì chi phí về vốn, thiết bị, công nghệ rất cao nhưng đòi hỏi sức lao động với tỷ lệ rất thấp (công nghệ sử dụng nhiều vốn, ít lao động) Do đó, tùy theo từng điều kiện cụ thể mà lựa chọn phương án phù hợp để có thể tạo việc làm cho người lao động

Sự phù hợp giữa chi phí ban đầu và sức lao động sẽ dẫn đến thiếu nguồn nhân lực hoặc thừa nguồn nhân lực, tức thiếu việc làm và thất nghiệp

Từ những phân tích trên, tác giả đồng tình với khái niệm: việc làm là phạm trù

để chỉ trạng thái phù hợp giữa sức lao động và những điều kiện cần thiết (vốn, tư liệu sản xuất, công nghệ…) để sử dụng sức lao động đó Trên cơ sở này sẽ hình thành các dạng việc làm cũng như phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến tạo việc làm

2.1.4 Thiếu việc làm

Thiếu việc làm là những người làm việc ít hơn mức mà mình mong muốn (Trần Xuân Cầu và Mai Quốc Chánh, 2008)

Thiếu việc làm được biểu hiện dưới hai dạng, hoặc là người lao động không có

đủ việc làm theo thời gian quy định trong tuần, trong tháng, hoặc làm những công việc

có thu nhập quá thấp không đảm bảo cuộc sống nên muốn làm việc thêm để có thu nhập

Người thiếu việc làm gồm những người trong khoảng thời gian xác định của cuộc điều tra có tổng số giờ làm việc nhỏ hơn số giờ quy định trong tuần, trong tháng, trong năm và có nhu cầu làm thêm giờ; hoặc là những người có tổng số giờ làm việc bằng số giờ quy định trong tuần, tháng, năm nhưng có thu nhập quá thấp nên muốn làm thêm để có thu nhập

Trang 21

2.1.5 Thất nghiệp

Có hai quan niệm thất nghiệp:

Thứ nhất, ngiệp là sự mất việc Như vậy, người thất nghiệp là những người đang làm việc bị đẩy ra khỏi nơi làm việc Khái niệm này không tính đến số người trong độ tuổi lao động, cần làm việc, phải làm việc nhưng chưa có được việc để làm Khái niệm này xuất phát thuần túy từ chữ “ thất” là mất

Thứ hai, thất nghiệp là tình trạng đứng ngoài công cuộc lao động của những người trong độ tuổi lao động, có nhu cầu, có khả năng, có nghĩa vụ lao động của mình

và cho xã hội, vì lý do khách quan

Theo Trần Xuân Cầu và Mai Quốc Chánh (2008) thất nghiệp là sự mất việc làm hay là sự tách rời sức lao động khỏi tư liệu sản xuất, nó gắn liền với người có khả năng lao động nhưng không được sử dụng có hiệu quả

Người thất nghiệp gồm những người trong khoảng thời gian xác định của cuộc điều tra không có việc làm nhưng đang tích cực tìm việc làm và có nhu cầu được làm việc Tiêu thức hoặc dấu hiệu để xác định người thất nghiệp là người trong độ tuổi lao động đang không có việc làm, tích cực tìm việc làm, có khả năng lao động và có nhu cầu làm việc; hoặc có việc làm nhưng không ổn định

Thất nghiệp có thể được chia ra làm một số loại chính sau:

- Thất nghiệp tạm thời: là thất nghiệp xảy ra khi một số người lao động đang

trong thời kỳ tìm kiếm việc làm hoặc chờ làm ở nơi có việc làm tốt hơn

- Thất nghiệp cơ cấu: là thất nghiệp xảy ra khi có sự mất cân đối cung - cầu giữa

các loại lao động, giữa các ngành nghề trong khu vực

- Thất nghiệp do thiếu cầu: là thất nghiệp xảy ra khi mức cầu chung về lao

động giảm xuống, nguồn gốc chính là do sự suy giảm tổng cầu

- Thất nghiệp do yếu tố ngoài thị trường: là loại thất nghiệp theo lý thuyết cổ điển, xảy ra khi tiền lương được xác định không bởi các lực lượng thị trường và

cao hơn mức lương cân bằng thực tế của thị trường lao động

Thất nghiệp là hiện tượng kinh tế tất yếu, song duy trì ở mức độ nào cho hợp lý còn tuỳ thuộc vào điều kiện cụ thể của mỗi quốc gia và khả năng quản lý nền kinh tế

Trang 22

của Chính phủ Tỷ lệ thất nghiệp thấp, đồng nghĩa với lực lượng lao động trong nền kinh tế được tăng cường và tỷ lệ lạm phát cao Ngược lại, tỷ lệ thấp nghiệp cao, đồng nghĩa với tỷ lệ lạm phát thấp cũng tạo ra những vấn đề xã hội bức xúc về việc làm, về

tệ nạn xã hội, Vì vậy, duy trì một tỷ lệ thất nghiệp hợp lý ở mức thất nghiệp tự nhiên (tỷ lệ thất nghiệp mà ở đó ai có nhu cầu làm việc đều có thể kiếm được việc làm) là điều lý tưởng

Thất nghiệp trong trường hợp bị thu hồi đất sản xuất, là thuộc loại thất nghiệp

cơ cấu, vì việc làm của lao động nông thôn gắn liền với đất đai Khi tư liệu sản xuất bị mất, lao động nông nghiệp dôi dư (cung thừa) nhưng không đáp ứng được cầu lao động của các ngành nghề phi nông nghiệp nên họ không có việc làm

2.1.6 Thu hồi đất

Ở Việt Nam, đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu; theo đó Nhà nước có quyền định đoạt đối với đất đai như: Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất thông qua hình thức quyết định giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất, công nhận quyền sử dụng đất đối với người đang sử dụng đất ổn định

Theo khoản 5, Điều 4 Luật đất đai 2003 sửa đổi năm 2006 “Thu hồi đất là việc Nhà nước ra quyết định hành chính để thu lại quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất đã giao cho tổ chức, Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn quản lý theo quy định của luật này”

Với chủ trưởng đẩy mạnh công nghiệp hóa, đô thị hóa, nhu cầu thu hồi đất để

sử dụng vào mục đích đầu tư phát triển các công trình công cộng, phát triển các khu kinh tế, khu công nghiệp tập trung, phát triển đô thị là một tất yếu khách quan trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam cũng như các nước khác trên thế giới, vấn đề thu hồi đất, bồi thường thiệt hại, giải phóng mặt bằng, tái định cư là hiện tượng phát triển mà các Nhà nước phải đối mặt như một quy luật tất yếu và phổ biến

Thu hồi đất để thực hiện quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa tác động đến phân công lao động xã hội theo hướng lao động nông nghiệp giảm dần, lao động công nghiệp, dịch vụ tăng lên nhanh; lao động và dân cư nông thôn giảm, lao động và dân

cư đô thị tăng lên nhanh chóng Đây là quá trình biến đổi và phân bố các lực lượng sản xuất trong nền kinh tế quốc dân, bố trí dân cư, hình thành, phát triển các hình thức và điều kiện sống, đem đến cho người dân nông thôn lối sống công nghiệp và văn minh

đô thị

Trang 23

2.2 Tạo việc làm

2.2.1 Khái niệm tạo việc làm

Theo Trần Xuân Cầu và Mai Quốc Chánh (2008) tạo việc làm là quá trình tạo ra

số lượng, chất lượng tư liệu sản xuất, số lượng và chất lượng sức lao động và các điều kiện kinh tế xã hội khác để kết hợp tư liệu sản xuất và sức lao động

Quan niệm trên, chỉ rõ cho chúng ta thấy rằng; để tạo việc làm trước hết phải tạo ra số lượng và chất lượng tư liệu sản xuất, tức là phải tạo ra được số lượng ngành nghề đa dạng, qui mô ngành nghề phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội; đồng thời yêu cầu số lượng và chất lượng sức lao động phải phù hợp và đáp ứng với thiết bị, công nghệ, phù hợp giữa giá vốn và giá nhân công để lựa chọn công nghệ của tư liệu sản xuất Mặt khác để tạo ra số lượng và chất lượng sức lao động, đòi hỏi phải có nguồn nhân lực dồi dào nhưng phải có sức khỏe tốt, có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao, có kinh nghiệm, có ý thức tổ chức kỷ luật và tác phong công nghiệp Bên cạnh đó

là điều kiện tự nhiên, cơ sở hạ tầng kỹ thuật, môi trường kinh tế - chính trị - xã hội thuận lợi để kết hợp có hiệu quả giữa tư liệu sản xuất và sức lao động

2.2.2 Bản chất của tạo việc làm

Như đã nêu, việc làm là phạm trù để chỉ trạng thái phù hợp giữa sức lao động

và những điều kiện cần thiết (vốn, tư liệu sản xuất, công nghệ…) để sử dụng sức lao động đó Như vậy, để có việc làm trước hết là cần hai yếu tố sức lao động và những điều kiện cần thiết (đối tượng lao động; tư liệu lao động) để sử dụng sức lao động, trong đó bao gồm cả những yêu tố xã hội Sự kết hợp giữa sức lao động với tư liệu sản xuất theo một kết cấu, tỷ lệ và yêu cầu nhất định

Vì vậy, vấn đề đặt ra khi nào chúng ta tạo việc làm, khi có lao động nhưng không có việc làm, thiếu việc làm Nguyên nhân của thiếu việc làm là do: thiếu đối tượng lao động, công cụ lao động hoặc lao động không phù hợp với yêu cầu công việc

Cho nên, thực chất của tạo việc làm là:

- Hoặc làm cho người lao động phù hợp với yêu cầu của công việc, tức lao

động phải qua đào tạo nghề thích hợp với yêu cầu;

- Hoặc tăng thêm đối tượng lao động, hoặc tăng thêm công cụ lao động; đòi hỏi

phải có vốn để mua máy móc thiết bị, công nghệ, nguyên nhiên vật liệu

Trang 24

- Và có cơ chế để phối hợp các yêu tố này lại với nhau; nhằm để sáng tạo ra của cải vật chất có ích cho xã hội, phục vụ cho nhu cầu chính đáng của con người trong xã hội và lao động phải có hiệu quả

Chính vì vậy, quá trình tạo việc làm là quá trình tạo ra của cải vật chất (số lượng, chất lượng tư liệu sản xuất), sức lao động (số lượng, chất lượng sức lao động)

và điều kiện kinh tế, xã hội khác

2.2.3 Cơ chế tạo việc làm

Để tạo việc làm đòi hỏi phải có sự phối hợp của nhiều cơ quan, tổ chức cũng như cá nhân người lao động, tạo thành cơ chế tạo việc làm; trong đó có cơ chế 3 bên với sự tham gia của người lao động, Nhà nước và người sử dụng lao động

+ Về phía người lao động, muốn tìm được việc làm phù hợp, có thu nhập cao

phải có kế hoạch thực hiện và đầu tư cho phát triển sức lao động của mình, có nghĩa là phải tự mình, hoặc dựa vào các nguồn tài trợ từ gia đình, từ các tổ chức xã hội…để tham gia đào tạo, phát triển, nắm vững một nghề nghiệp nhất định Tuy nhiên, để tham gia đào tạo, nắm vững một ngành nghề đáp ứng được yêu cầu của thị trường lao động, đòi hỏi người lao động phải nắm bắt được thông tin về thị trường lao động để lựa chọn ngành nghề đào tạo phù hợp với khả năng của mình và nhu cầu của thị trường lao động Đây là điều kiện cần thiết cho người lao động tham gia vào thị trường lao động

Có nghĩa là làm cho lao động phù hợp với công việc

+ Về phía Nhà nước, Nhà nước tạo hành lang pháp lý, ban hành các luật, cơ chế

chính sách liên quan trực tiếp đến người lao động và người sử dụng lao động, tạo ra môi trường pháp lý kết hợp sức lao động với tư liệu sản xuất là một bộ phận cấu thành trong cơ chế tạo việc làm cho người lao động

Nhà nước có những chính sách khuyến kích đầu tư, đổi mới công nghệ sản xuất thông qua những chính sách tiền tệ, chính sách xuất nhập khẩu, chính sách giá cả tư liệu lao động, tiền công, tiền lương, chính sách thuế thu nhập Trong điều kiện như nước ta, nguồn nhân lực dồi dào, nhưng thiếu vốn; Nhà nước cần có chính sách khuyến khích phát triển doanh nghiệp nhỏ, thủ công, cá thể cần ít vốn nhưng sử dụng nhiều lao động, thông qua việc hỗ trợ của nhà nước về vốn, về nguyên liệu, tiêu thụ, dạy nghề….Sự hỗ trợ về vốn có thể thông qua hệ thống quỹ đặc biệt, qua các chương

Trang 25

trình, dự án tạo việc làm… Tổ chức tốt việc dạy nghề và đào tạo lại lao động đã bị lạc hậu về nghề, tổ chức thị trường lao động, tạo điệu kiện thuận lợi cho người thất nghiệp, thiếu việc làm kiếm việc làm, rút ngắn thời gian tìm việc; có chính sách đẩy mạnh và hỗ trợ xuất khẩu lao động thông qua chính sách hợp tác quốc tế, thu hút đầu

tư trực tiếp nước ngoài…

+ Về phía người sử dụng lao động, gồm các doanh nghiệp trong nước thuộc các

thành phần kinh tế, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các tổ chức kinh tế xã hội cần có thông tin về thị trường đầu vào và đầu ra để không chỉ tạo ra chỗ làm việc

mà còn phải duy trì và phát triển chỗ làm việc cho người lao động Đó cũng chính là duy trì sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Do đó, người sử dụng lao động cần

có vốn để mua hoặc thuê nhà xưởng (nơi làm việc), công nghệ, máy móc thiết bị, nguyên vật liệu, mua sức lao động để sản xuất ra sản phẩm, dịch vụ Hơn nữa, để nâng cao hiệu quả sản xuất thì các chủ sử dụng lao động không những cần vốn, mà còn cần

có kinh nghiệm quản lý, biết vận dụng linh hoạt chính sách của Nhà nước trong lĩnh vực lao động, việc làm; đồng thời đề ra được các quy định phù hợp, biết quản lý lao động một cách khoa học, hợp lý, nhằm đạt được mục tiêu của doanh nghiệp và nâng cao sự thoả mãn của người lao động, khơi dậy động lực lao động nhằm thu hút và giữ chân những người lao động giỏi phù hợp với yêu cầu công việc, đây là tài sản quan trọng của tổ chức, doanh nghiệp, yếu tố quyết định sự thành công trong cạnh tranh

Tóm lại, cơ chế tạo việc làm cho nguời lao động đòi hỏi có sự tham gia tích cực của ba phía: Nhà nước, người sử dụng lao động và của chính bản thân những người lao động sao cho cơ hội việc làm và mong muốn nguyện vọng được làm việc của người lao động gặp nhau trên thị trường lao động đúng lúc, đúng chỗ

2.2.4 Nội dung tạo việc làm

2.2.4.1 Đào tạo nghề cho người lao động

Hoàn thiện chính sách đào tạo và đào tạo lại nghề phổ thông cũng như đào tạo nghề bậc cao cho lực lượng lao động; thực hiện xã hội hóa đào tạo nghề cho người lao động nhằm phát huy mọi nguồn lực trong nước và nước ngoài để đầu tư cho hệ thống dạy nghề; nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện các cấp học, tạo tiền đề cho đào tạo nghề, chuyên môn nghiệp vụ cho người lao động; tư vấn nghề nghiệp đối với những học sinh tốt nghiệp phổ thông; gắn dạy nghề với tạo việc làm cho người lao động…là đòi hỏi đầu tiên và tiền đề của việc tạo việc làm cho người lao động

Trang 26

2.2.4.2 Trang bị thêm công cụ cho người lao động

Khuyến khích sử dụng nguồn nhân lực đông, bằng cách đầu tư các trang thiết bị mới áp dụng công nghệ sử dụng nhiều lao động sống trong các khâu sản xuất, công cụ chủ yếu là máy móc, thiết bị trong công nghiệp, công nghiệp có quy mô vừa và nhỏ, tiểu công nghiệp, thủ công nghiệp, nông nghiệp ứng dụng kỹ thuật cao; thông qua chính sách miễn giảm thuế nhập khẩu máy móc thiết bị cho doanh nghiệp, trợ cấp tín dụng, phương thức hỗ trợ ưu đãi giá thuê mặt bằng sản xuất, kinh doanh, chuyển giao công nghệ, cải tiến máy móc, thiết bị theo chương trình khuyến công, khuyến nông…; chính sách đầu tư và thu hút đầu tư hợp lý vào lĩnh vực công nghiệp và dịch

vụ nhằm tạo nhiều chỗ làm việc cho người lao động

2.2.4.3 Hỗ trợ vốn cho người lao động

Hiện nay, hầu hết các hộ gia đình nông thôn đều có khó khăn về vốn, đặc biệt sau khi bị thu hồi đất, việc thay đổi phương thức sản xuất càng làm cho yêu cầu về vốn cao hơn trước Nhà nước cần có chính sách cho vay thiết thực hơn, đối với các hộ có nhu cầu vay vốn và tạo điều kiện cho các hộ có khả năng chi trả sau khi vay Ưu tiên cho vay từ các nguồn vốn khác nhau, với lãi suất ưu đãi Nâng cao vai trò của các quỹ tín dụng, quỹ xoá đói giảm nghèo, quỹ quốc gia về giải quyết việc làm để hỗ trợ cho các hộ gia đình, các cơ sở công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, làng nghề Bên cạnh

đó, thực hiện hỗ trợ vốn cho người lao động từ quỹ đào tạo nghề, hỗ trợ chuyển đổi nghề của địa phương Ngoài ra, khi có sự ưu đãi của Nhà nước về tín dụng, các doanh nghiệp sẽ có trách nhiệm hơn với các hộ nông dân mất đất, thông qua việc trợ giúp đào tạo nghề tại chỗ

2.2.4.4 Phát triển các ngành nghề phù hợp

Trong điều kiện nền kinh tế Việt Nam chưa phát triển, thiếu vốn sản xuất, trình

độ của người lao động còn thấp nhưng lực lượng lao động nhiều Để tạo được nhiều chỗ làm việc cho người lao động trong quá trình thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế, cần chú ý vừa phát triển các ngành kinh tế theo chiều rộng và chiều sâu Do đó, trước hết cần có những chính sách cụ thể thu hút và khuyến khích đầu tư nước ngoài vào các khu công nghiệp lớn, phát triển sản xuất các khu công nghiệp lớn, khu công nghệ cao, suất đầu tư cho một chỗ làm việc lớn, nhằm phát huy thế mạnh của

Trang 27

công nghiệp, tạo ra bước chuyển biến rõ rệt về cơ cấu lao động có chất lượng cao Đồng thời, phát triển công nghiệp vừa và nhỏ, tiểu thủ công nghiệp và các ngành nghề truyền thống, tận dụng tiềm năng sẵn có của đất nước về lao động và nguyên liệu Để thúc đẩy các ngành nghề thủ công phát triển, tạo cơ hội việc làm cho người lao động Việc khôi phục các làng nghề truyền thống, có vai trò vô cùng quan trọng; nó không chỉ sản xuất ra các sản phẩm hàng hóa, bảo tồn được nét văn hóa truyền thống của dân tộc, mà còn góp phần tạo công ăn việc làm, nâng cao đời sống cho người lao động Tuy nhiên, cần phải giải quyết các khâu cơ bản như thiếu thị trường đầu ra; thiếu vốn;

cơ sở vật chất nghèo nàn và môi trường ô nhiễm Cùng với phát công nghiệp, là phát triển mạnh các loại hình dịch vụ có chất lượng cao phục vụ công nghiệp hóa và đời sống của người dân, vừa tạo thêm việc làm cho người lao động Tiếp tục phát triển nông nghiệp theo hướng phát triển kinh tế trang trại, tăng cường đầu tư cơ sở hạ tầng

kỹ thuật nông thôn, chuyển đổi cơ cấu sản xuất, tạo nhiều sản phẩm hàng hóa có giá trị cao Chính quyền địa phương cùng với nhà nước hướng dẫn nông dân về kỹ thuật, cây giống, con giống và đặc biệt là thị trường tiêu thụ ổn định lâu dài; củng cố phát triển các trung tâm chuyển giao công nghệ, cung cấp giống cây, con theo phương pháp tiên tiến và công nghệ sinh học hiện đại; phát triển vùng chuyên canh như: rau sạch, hoa, cây cảnh, cây ăn quả, chăn nuôi có hiệu quả kinh tế cao; phát triển các cơ sở sản xuất

cơ khí nhỏ và sửa chữa máy nông nghiệp, hỗ trợ và phát triển các làng nghề, phát triển mạng lưới giao thông nông thôn và các dịch vụ nhỏ

2.2.4.5 Đẩy mạnh xuất khẩu lao động

Xuất khẩu lao động là một trong những giải pháp được các nước trên thế giới quan tâm và khai thác tối đa Thông qua việc xuất khẩu lao động không chỉ giảm bớt gánh nặng về việc làm trước mắt trong nước, mà hàng năm còn thu về một lượng ngoại tệ đáng kể do người đi lao động nước ngoài gửi về Mặt khác, thông qua xuất khẩu lao động, người lao động học hỏi và tiếp nhận được kỹ thuật hiện đại, phương pháp làm việc tiên tiến, tác phong công nghiệp của người lao động tại các nước phát triển Cùng với xuất khẩu lao động ra nước ngoài, cần có chính sách thu hút xuất khẩu lao động tại chỗ thông qua hình thức gia công sản phẩm theo đơn đặt hàng của nước ngoài và lao động làm việc tại các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

Trang 28

2.2.4.6 Tăng cường hoạt động của hệ thống thông tin thị trường lao động

Ở Việt Nam, cung – cầu lao động nói chung và trong từng ngành, từng vùng nói riêng còn bất hợp lý Đào tạo và sử dụng lao động chưa gắn kết với nhau làm cho người sử dụng lao động và người lao động khó gặp nhau Do đó, đẩy mạnh hoạt động của hệ thống thông tin thị trường lao động nhằm tạo môi trường để người lao động và người sử dụng lao động gặp nhau trên thị trường đúng thời gian và không gian là rất cần thiết Các biện pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động của thông tin thị trường lao động như: tăng cường quản lý và nâng cao chất lượng hoạt động của các trung tâm dịch vụ việc làm, tổ chức hội chợ việc làm, ngày hội lao động… tạo cơ hội cho người lao động tiếp cận với các chủ sử dụng lao động

2.2.4.7 Động viên và giúp đỡ người lao động tự tạo việc làm trong các ngành nghề thuộc khu vực kinh tế ngoài nhà nước

Tiếp tục nâng cao nhận thức về tự tạo việc làm trong khu vực kinh tế ngoài nhà nước, đặc biệt là khu vực phi chính thức Xác định khu vực phi chính thức là một bộ phận hợp thành của nền kinh tế đang phát triển, có vai trò lớn trong việc giải quyết việc làm; tôn trọng sự phát triển khách quan và năng động của nó, hỗ trợ cho nó cùng phát triển theo hướng lành mạnh, nâng cao chất lượng phục vụ, cải tiến kỹ thuật, công

nghệ, bảo vệ môi trường và quyền lợi của người lao động

2.3 Các nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng có việc làm của lao động 2.3.1 Các nghiên cứu nước ngoài

Oliva & Gibson (2009) nghiên cứu ảnh hưởng của khả năng tiếp cận và chất lượng cơ sở hạ tầng đối với việc làm phi nông nghiệp và thu nhập ở nông thôn Indonesia Nghiên cứu sử dụng mô hình Probit và 3.951 mẫu quan sát từ bộ dữ liệu khảo sát mức sống hộ gia đình Indonesia (IFLS: Indonesian Family Life Survey) để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến việc làm phi nông nghiệp cở khu vực nông thôn Các yếu tố ảnh hưởng đến cơ hội việc làm của lao động nông thôn Indonesia được chia thành 2 nhóm yếu tố: (i) Nhóm yếu tố đặc điểm hộ gia đình, bao gồm các yếu tố sau: qui mô hộ gia đình, số chủ hộ gia đình là nữ giới, tuổi của chủ hộ, tình trạng hôn nhân của chủ hộ, tỷ lệ trẻ dưới 6 tuổi, tỷ lệ trẻ từ 7 đến 14 tuổi, tỷ lệ người từ 15 đến 49 tuổi, trình độ học vấn của lao động, diện tích đất sản xuất, dân tộc, và thu nhập của hộ gia

Trang 29

đình (ii) Nhóm yếu tố vị trí và cơ sở hạ tầng của địa phương, bao gồm các yếu tố:

khoảng cách đến đô thị trung tâm, tốc độ trung bình của đường giao thông, có đường đất, tỷ lệ hộ được dùng điện lưới, làng không bị mất điện (Village never has blackouts) Nghiên cứu chỉ ra rằng việc cải thiện cơ sở hạ tầng địa phương sẽ làm gia tăng các doanh nghiệp và tăng khả năng kiếm được việc làm cũng như tăng thu nhập của người dân ở vùng nông thôn Trong đó, việc kết nối các vùng nông thôn với điện lưới làm tăng khả năng có việc làm trong lĩnh vực phi nông nghiệp lên 13%, và nâng cấp đường giao thông ở các vùng nông thôn làm tăng khả năng có việc làm cho người dân lên 4%

Isgut (2004) đánh giá các yếu tố địa phương trong việc tạo việc làm và thu nhập phi nông nghiệp tại các vùng nông thôn ở Honduras với 3 mô hình hồi qui cho 3 trường hợp là thu nhập từ việc làm phi nông nghiệp, thu nhập phi nông nghiệp từ hoạt động tự kinh doanh, và thu nhập từ việc làm nông nghiệp Các yếu tố ảnh hưởng đến việc làm và thu nhập của lao động gồm: giới tính, tuổi lao động, số năm đi học, tiếp cận điện lưới, tiếp cận nước công cộng, tỷ lệ đô thị hóa của địa phương Kết quả nghiên cứu cho thấy các công việc tạo thu nhập phi nông nghiệp chủ yếu nằm gần các khu vực thành thị, các công việc phi nông nghiệp tự làm được phân bổ trên toàn quốc,

nó phụ thuộc vào các đặc điểm của địa phương như có đường giao thông quan trọng đi qua, hay có một địa điểm thu hút khách du lịch Nghiên cứu này cũng nhấn mạnh vai trò của thu nhập phi nông nghiệp ở các vùng nông thôn Honduras khi nó chiếm tới 31,3% tổng thu nhập của hộ gia đình, vì vậy cần chú trọng các chính sách tạo việc làm phi nông nghiệp cho lao động nông thôn

Reardon et al (2001) nghiên cứu về việc làm và thu nhập phi nông nghiệp trong khu vực nông thôn ở khu vực châu Mỹ La tinh đã kết luận rằng tiếp cận giáo dục là yếu tố có tác động mạnh nhất đến khả năng có việc làm phi nôn nghiệp, ngoài có học vấn cao càng có khả năng kiếm được việc làm và thu nhập phi nông nghiệp cao hơn, đồng thời những người có học vấn cao cũng có khả năng kiếm được thu nhập cao hơn nếu họ làm việc độc lập hay tự kinh doanh Tiếp cận cơ sở hạ tầng như đường giao thông, điện lưới, nước sạch, gần đô thị trung tâm cũng làm tăng cơ hội việc làm phi nông nghiệp cho người dân Giới tính của lao động cũng tác động đến cơ hội việc làm

và thu nhập của lao động Tuy nhiên, có nhiều sự khác biệt ở các khu vực khác nhau,

Trang 30

chẳng hạn ở Chi Lê lao động nữ có khả năng kiếm được thu nhập cao hơn lao động nam, nhưng ở Ecuador và Nicaragau thì cho thấy điều ngược lại Cuối cùng, việc có thêm nhiều việc làm phi nông nghiệp làm giảm tỷ lệ nghèo đói ở khu vực nông thôn các nước châu Mỹ La tinh

2.3.2 Các nghiên cứu trong nước

Theo Lê Xuân Bá và cộng sự (2006) trong báo cáo nghiên cứu của dự án IAE – MISPA, các yếu tố tác động đến quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động từ nông nghiệp sang lao động PNN ở nông thôn Việt Nam chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố như: tuổi, giáo dục, giới tính, đất sản xuất, thành viên, tài sản, dự án tạo việc làm, dự án xóa đói giảm nghèo, dự án cơ sở hạ tầng, số nhà máy, giao thông, nông nhàn, thu nhập nông nghiệp, vùng sinh thái Nghiên cứu đã chia các yếu tố này thành 03 nhóm gồm: nhóm đặc điểm của bản thân cá nhân người chuyển dịch, đặc điểm của hộ gia đình của người

đó, và đặc điểm của địa phương nơi hộ gia đình đó đang sinh sống Nghiên cứu cũng

đề xuất các chính sách khuyến khích chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn để thúc đẩy giải quyết việc làm của lao động, không nên sử dụng các biện pháp kinh tế để thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu lao động và việc làm Bên cạnh đó, cần nâng cao chất lượng lực lượng lao động nông thôn để tạo năng lực nắm bắt cơ hội chuyển dịch lao động: tăng đầu tư để củng cố hệ thống trường lớp và giáo viên ở nông thôn và các vùng xa xôi; xây dựng một chiến lược và kế hoạch cụ thể về đào tạo nghề cho các lao động nông thôn, đặc biệt là chú trọng các ngành nghề có ý nghĩa thiết thực với sự phát triển của địa phương; Không nên chỉ có một chương trình đào tạo nghề giống nhau áp dụng cho mọi địa phương; Nội dung đào tạo nhất là đối với lao động sẽ chuyển dịch sang khu vực công nghiệp cần chú ý cả hai mặt: i) Nội dung chuyên môn và kỹ năng và ii) Tác phong công nghiệp và ý thức kỷ luật của lao động Trong khi khuyến khích phát triển các nghề tiểu thủ công nghiệp, các làng nghề truyền thống, cần chú trọng nâng cao trình độ văn hoá và các kỹ năng làm việc khác cho lao động loại này để tăng khả năng linh hoạt và chuyển đổi công việc khi thị trường sản phẩm các nghề truyền thống này

có biến động

Ngô Quang An (2012) nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng tới khả năng có việc làm của người lao động Việt Nam với mô hình hồi qui đa biến để phân tích ảnh hưởng riêng của một yếu tố cần nghiên cứu tới khả năng có được việc làm được trả lương cho

Trang 31

toàn bộ dân số từ 10 tuổi trở lên Kết quả nghiên cứu cho biết trình độ phải đạt tới mức trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học và dạy nghề trở lên mới tăng khả năng có được việc làm trên thị trường của người lao động, yêu cầu về trình độ này làm tăng khả năng có việc làm của nữ cao hơn so với nam Thành viên các gia đình nghèo trong nghiên cứu này lại có khả năng có được việc làm cao hơn ở những hộ gia đình không nghèo Điều này có thể là do gia đình nghèo thì động lực thúc đẩy các thành viên đi làm lớn hơn, mặt khác cũng phản ánh cơ cấu việc làm hiện nay cũng phù hợp đối với người nghèo, phổ biến nhiều công việc lao động chân tay và việc làm trong khu vực phi kết cấu Đối với nữ trong các gia đình nghèo, xác suất có việc làm cao hơn so với nam giới, nhưng sự khác biệt không đáng kể

Nghiên cứu của Trần Thị Minh Phương và Nguyễn Thị Minh Hiền (2014) về các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng có việc làm phi nông nghiệp của lao động ở khu vực nông thôn thành phố Hà Nội Nghiên cứu sử dụng dữ liệu VHLSS năm 2010 và

2012 với mô hình Probit đã chỉ ra rằng trình độ đào tạo của lao động ở khu vực nông thôn Hà Nội có vai trò quan trọng trong việc tìm kiếm việc làm trả lương hoặc tự hoạt động sản xuất kinh doanh Nếu các yếu tố khác không đổi thì 1 năm đi học gia tăng khả năng có việc làm phi nông nghiệp tăng khoảng 3% Bên cạnh đó chương trình tạo việc làm cũng có có tác động tích cực đến khả năng có việc làm phi nông nghiệp của người lao động ở nông thôn Tăng trưởng kinh tế kéo theo sự gia tăng các doanh nghiệp ở khu vực nông thôn, có dự án đầu tư cũng tác động làm tăng khả năng có việc làm phi nông nghiệp Ngoài ra, các yếu tố nhân khẩu học như giới tính, tuổi lao động cũng có ảnh hưởng đến khả năng có việc làm của lao động phi nông nghiệp tại khu vực nông thôn Hà Nội Nghiên cứu cũng nhấn mạnh chính sách về đào tạo nghề cho lao động, và đổi mới các chương trình đào tạo nghề tại địa phương

Nguyễn Đình Phúc (2015) nghiên cứu các yếu tố tác động đến khả năng tham gia việc làm phi nông nghiệp của lao động nông thôn trên địa bàn thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định Kết quả phân tích định lượng bằng mô hình hồi quy xác suất Probit cho thấy, có 9 yếu tố giải thích cho sự tham gia việc làm phi nông nghiệp của người lao động gồm: tuổi, giới tính, trình độ giáo dục, học nghề, quy mô gia đình, thu nhập

Trang 32

phi nông nghiệp, nông nhàn, tổ hợp sản xuất, dự án tạo việc làm Nghiên cứu đã chỉ ra, nông nhàn, tổ hợp sản xuất và học nghề là 3 yếu tố có tác động lớn nhất đến khả năng tham gia việc làm phi nông nghiệp của lao động trong vùng Kết quảnghiên cứu là cơ

sở đề xuất giải pháp tác động chủ yếu nhằm tạo cơ hội việc làm phi nông nghiệp cho lao động nông thôn trên địa bàn thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định trong thời gian tới

2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng có việc làm của lao động

Nghiên cứu của Oliva & Gibson (2009) đã chỉ ra hai nhóm yếu tố: vị trí và cơ

sở hạ tầng của địa phương, và đặc điểm hộ gia đình có ảnh hưởng đến khả năng có

việc làm của lao động Nghiên cứu của Lê Xuân Bá và cộng sự (2006) đã chỉ ra 03 nhóm yếu tố ảnh hưởng đến khả năng có việc làm gồm: nhóm đặc điểm của bản thân

cá nhân người chuyển dịch, đặc điểm của hộ gia đình của người đó, và đặc điểm của địa phương nơi hộ gia đình đó đang sinh sống Trong nghiên cứu này, tác giả xem xét các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng có việc làm của lao động bị thu hồi đất nên cho rằng các chính sách tạo việc làm của chính quyền địa phương cũng có tác động không nhỏ đến khả năng có việc làm của người lao động Vì vậy, tác giả đề xuất nhóm yếu tố thuộc về chính sách việc làm, với sự kế thừa các yếu tố từ nghiên cứu của Nguyễn

Đình Phúc (2015), Trần Thị Minh Phương và Nguyễn Thị Minh Hiền (2014)

2.4.1 Nhóm yếu tố đặc điểm cá nhân của lao động

1) Tuổi lao động (Age)

Tuổi của lao động được tính theo năm, là yếu tố ảnh hưởng đến khả năng có việc làm của lao động Thông thường lao động càng trẻ tuổi càng có nhiều cơ hội kiếm được việc làm, trong khi các lao động có tuổi đời cao thường ít có cơ hội kiếm được việc làm hơn Tùy vào mỗi ngành nghề mà nhu cầu tuyển dụng ở độ tuổi khác nhau Người lao động trẻ khả năng có việc làm cao hơn người lớn tuổi bởi yếu tố sức khỏe, khả năng nhạy bén trong nắm bắt thông tin việc làm Các nghiên cứu thực nghiệm của Isgut (2004), Trần Thị Minh Phương và Nguyễn Thị Minh Hiền (2014), Nguyễn Đình Phúc (2015) đều cho thấy tuổi của lao động có ảnh hưởng đến khả năng có việc làm của lao động theo mối quan hệ nghịch biến

Trang 33

2) Giới tính của lao động (Gen)

Trong phần lớn các ngành nghề sản xuất, lao động nam được ưu tiên lựa chọn hơn lao động nữ bởi sức khỏe, sự dẻo dai của nam giới thường tốt hơn phụ nữ, ngược lại một số ngành nghề đòi hỏi sự khéo léo như may mặc, chế biến thì nữ giới lại có ưu thế hơn Đối với khu vực nông thôn, các công việc phi nông nghiệp thường ưu tiên chọn nam giới hơn Mối quan hệ giữa giới tính và khả năng có việc làm của lao động

đã được kiểm chứng trong các nghiên cứu thực nghiệm của Reardon et al (2001), Isgut (2004), Oliva & Gibson (2009), Ngô Quang An (2012), Trần Thị Minh Phương

và Nguyễn Thị Minh Hiền (2014), và Nguyễn Đình Phúc (2015) Kết quả các nghiên cứu này đều cho rằng lao động là nam giới có khả năng kiếm được việc làm cao hơn

so với lao động là nữ giới

3) Trình độ học vấn của lao động (Edu)

Trình độ học vấn được đo lường bằng số năm đi học của người lao động, bao gồm thời gian học phổ thông và thời gian được đào tạo nghề chuyên nghiệp (học trung cấp, cao đẳng, đại học) Thông thường, lao động có trình độ học vấn cao có khả năng kiếm được việc làm cao hơn Các nghiên cứu thực nghiệm của Reardon et al (2001), Isgut (2004), Oliva & Gibson (2009), Ngô Quang An (2012), Trần Thị Minh Phương

và Nguyễn Thị Minh Hiền (2014), và Nguyễn Đình Phúc (2015) đều chỉ ra giữu trình

độ học vấn và khả năng có việc làm có mối quan hệ đồng biến Trong đó nghiên cứu của Reardon et al (2001), Ngô Quang An (2012), và Trần Thị Minh Phương và Nguyễn Thị Minh Hiền (2014) nhấn mạnh vai trò của trình độ học vấn đối với khả năng có việc làm như là yếu tố quan trọng nhất

2.4.2 Nhóm yếu tố đặc điểm địa phương

1) Tốc độ trung bình của đường giao thông

Cơ sở hạ tầng là yếu tố ảnh hưởng đến khả năng thu hút doanh nghiệp đầu tư và tạo việc làm cho người lao động Trong các yếu tố này, đường giao thông và tốc độ là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của các doanh nghiệp Nếu đường giao thông tốt, tốc độ di chuyển nhanh sẽ tạo thuận lợi cho doanh nghiệp trong việc

Trang 34

vận chuyển hàng hóa, nguyên liệu; do đó, các doanh nghiệp sẽ ưu tiên đầu tư vào những địa phương có đường giao thông tốt, và từ đó tạo ra việc làm cho người lao

động Nghiên cứu của Oliva & Gibson (2009), Lê Xuân Bá và cộng sự (2006), và

Reardon et al (2001) cho thấy tốc độ trung bình của đường giao thông có mối quan hệ đồng biến với khả năng có việc làm của lao động tại địa phương

2) Khoảng cách đến đô thị gần nhất

Khoảng cách từ nơi ở của lao động đến trung tâm đô thị gần nhất được đo bằng

số km Khoảng cách từ nơi ở của lao động đến trung tâm đô thị gần nhất ảnh hưởng khả năng có việc làm phi nông nghiệp của lao động Thông thường, lao động ở gần các trung tâm đô thị thường dễ kiếm được việc làm, và có cơ hội lựa chọn việc làm nhiều hơn Nghiên cứu thực nghiệm của Oliva & Gibson (2009) tại Indonesia và của Reardon et al (2001) ở khu vực châu Mỹ La tinh cho thấy, khoảng cách đến đo thị có mối quan hệ đồng biến với khả năng có việc làm phi nông nghiệp của lao động

3) Số doanh nghiệp tại địa phương

Số doanh nghiệp tại địa phương là số doanh nghiệp có trong bán kính 10 km so với hộ gia đình được khảo sát Số lượng doanh nghiệp thể hiện khả năng chuyển đổi của lao động từ lĩnh vực nông nghiệp sang sang lĩnh vực phi nông nghiệp Khi các doanh nghiệp xuất hiện sẽ có thể tác động làm tăng số lao động làm thuê đồng thời làm tăng số lao động phi nông nghiệp tự làm thông qua việc cung cấp các dịch vụ cho các doanh nghiệp này Đối với địa phương có đất được thu hồi cho các dự án trong khu kinh tế Dung Quất thì vai trò của các doanh nghiệp trong việc tạo ra việc làm thay thế cho người dân là rất quan trọng Nghiên cứu của Trần Thị Minh Phương và Nguyễn Thị Minh Hiền (2014), Nguyễn Đình Phúc (2015) cho thấy việc gia tăng số doanh nghiệp đã gia tăng cơ hội có việc làm của lao động tại các khu vực ngoại thành

Trang 35

động được đào tạo nghề thường có cơ hội kiếm được việc làm cao hơn Nghiên cứu của Lê Xuân Bá và cộng sự (2006) đã nhấn mạnh vai trò của đào tạo nghề đối với việc tạo việc làm cho lao động; trong đó cần chú trọng đào tạo chuyên môn và kỹ năng, tác phong công nghiệp, và ý thức kỷ luật của lao động Nguyễn Quang Tuyến và Nguyễn Hữu Lộc (2014) trong một nghiên cứu về vai trò đào tạo nghề đối với giải quyết việc làm cho lao động nông thôn tại Bến Tre cho thấy lao động được đào tạo nghề có cơ hội tìm được việc làm cao hơn, và thu nhập của nông hộ cũng được cải thiện nhiều hơn Nghiên cứu của Nguyễn Đình Phúc (2015) cho thấy lao động được đào tạo nghề có khả năng kiếm được việc làm phi nông nghiệp cao hơn so với nhóm không được học nghề khoảng 0,1245 lần Như vậy, chính sách đào tạo nghề có vai trò quan trong đối với giải quyết việc làm phi nông nghiệp cho lao động khu vực nông thôn

2) Thông tin việc làm

Tiếp cận thông tin giới thiệu việc làm sẽ giúp tăng cơ hội việc làm cho lao động Tuy nhiên, tại khu vực nông thôn, các thông tin về thị trường lao động là rất hạn chế Do đó, nếu có chính sách cung cấp thông tin cho người dân sẽ làm gia tăng khả năng kiếm được việc làm cho lao động Nghiên cứu của Nguyễn Đình Phúc (2015) cho thấy tiếp cận thông tin việc làm làm tăng cơ hội có việc làm phi nông nghiệp của lao động

2.5 Mô hình nghiên cứu đề xuất

Từ tổng quan lý thuyết các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng có việc làm của lao động, và mô hình nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng tới khả năng có việc làm của lao động được Lê Xuân Bá và cộng sự (2006), và Oliva & Gibson (2009) sử dụng Trong nghiên cứu này, tác giả xem xét các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng có việc làm của lao động bị thu hồi đất nên cho rằng các chính sách tạo việc làm của chính quyền địa phương cũng có tác động không nhỏ đến khả năng có việc làm của người lao động Vì vậy, tác giả kết hợp với việc bổ sung các yếu tố chính sách tạo việc làm, mô hình nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng tới khả năng có việc làm của người dân bị thu hồi đất tại Khu Kinh tế Dung Quất, tỉnh Quảng Ngãi được đề xuất như sau

Trang 36

Hình 2.1: Mô hình nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng có việc làm của lao động bị thu hồi đất tại khu kinh tế Dung Quất, tỉnh Quảng Ngãi

Nguồn: Xây dựng của tác giả từ lược khảo lý thuyết

Các biến trong mô hình trên được định nghĩa như sau:

Biến phụ thuộc:

Khả năng có việc làm của lao động (JOB): là biến giả, nhận giá trị 1 nếu lao

động có việc làm và nhận giá trị 0 nếu lao động không có việc làm

Biến độc lập:

1) Tuổi lao động (OLD): Độ tuổi của lao động, được tính bằng năm Thông

thường lao động lớn tuổi có khả năng kiếm được việc làm thấp hơn lao động trẻ tuổi Các nghiên cứu thực nghiệm của Isgut (2004), Trần Thị Minh Phương và Nguyễn Thị Minh Hiền (2014), Nguyễn Đình Phúc (2015) đều cho thấy tuổi của lao động có ảnh hưởng đến khả năng có việc làm của lao động theo mối quan hệ nghịch biến Vì vậy,

kỳ vọng mối quan hệ giữa biến này với biến phụ thuộc (JOB) là nghịch biến

Khả năng có việc làm

Thông tin việc làm

Tốc độ đường giao thông

Số doanh nghiệp

Trang 37

2) Giới tính (GEN): Giới tính của lao động, là biến giả, nhận giá trị 1 nếu là lao

động nam giới, nhận giá trị 0 nếu lao động là nữ giới Nhìn chung, lao động là nam giới thường có nhiều khả năng kiếm được việc làm hơn các lao động là nữ giới, đặc biệt là ở các vùng nông thôn Các nghiên cứu thực nghiệm của Reardon et al (2001), Isgut (2004), Oliva & Gibson (2009), Ngô Quang An (2012), Trần Thị Minh Phương

và Nguyễn Thị Minh Hiền (2014), và Nguyễn Đình Phúc (2015) đều nhận định lao động nam có khả năng kiếm được việc làm cao hơn lao động nữ Vì vậy, nghiên cứu này kỳ vọng nếu các yếu tố khác không đổi, lao động là nam giới có xác suất có việc làm cao hơn lao động là nữ giới

3) Trình độ học vấn của lao động (EDU): Trình độ học vấn được đo lường bằng

số năm đi học của người lao động, bao gồm thời gian học phổ thông và thời gian được đào tạo nghề chuyên nghiệp (học trung cấp, cao đẳng, đại học) Thông thường, lao động có trình độ học vấn cao có khả năng kiếm được việc làm cao hơn Các nghiên cứu thực nghiệm của Reardon et al (2001), Isgut (2004), Oliva & Gibson (2009), Ngô Quang An (2012), Trần Thị Minh Phương và Nguyễn Thị Minh Hiền (2014), và Nguyễn Đình Phúc (2015) đều chỉ ra giữu trình độ học vấn và khả năng có việc làm có mối quan hệ đồng biến Vì vậy, kỳ vọng mối quan hệ giữa biến này với biến phụ thuộc (JOB) là đồng biến

4) Khoảng cách đến đô thị gần nhất (DIS): Được đo bằng số km từ nơi ở của lao

động đến trung tâm đô thị gần nhất Thông thường, lao động ở gần các trung tâm đô thị thường dễ kiếm được việc làm, và có cơ hội lựa chọn việc làm nhiều hơn bởi đô thị

là nơi tập trung các doanh nghiệp, hoạt động thương mại Nghiên cứu thực nghiệm của Oliva & Gibson (2009) tại Indonesia và của Reardon et al (2001) ở khu vực châu Mỹ

La tinh cho thấy, khoảng cách đến đô thị có mối quan hệ nghịch biến với khả năng có việc làm phi nông nghiệp của lao động Vì vậy, kỳ vọng mối quan hệ giữa biến này với biến phụ thuộc (JOB) là nghịch biến

5) Tốc độ trung bình của đường giao thông (SPID): Được đo lường bằng số km/h trung bình khi di chuyển tại khu vực lao động sinh sống Cơ sở hạ tầng là yếu tố

ảnh hưởng đến khả năng thu hút doanh nghiệp đầu tư và tạo việc làm cho người lao động Nếu đường giao thông tốt, tốc độ di chuyển nhanh sẽ tạo thuận lợi cho doanh nghiệp trong việc vận chuyển hàng hóa, nguyên liệu; do đó, các doanh nghiệp sẽ ưu tiên đầu tư vào những địa phương có đường giao thông tốt, và từ đó tạo ra việc làm

Trang 38

cho người lao động Nghiên cứu của Oliva & Gibson (2009), Lê Xuân Bá và cộng sự (2006), và Reardon et al (2001) cho thấy tốc độ trung bình của đường giao thông có

mối quan hệ đồng biến với khả năng có việc làm của lao động tại địa phương Vì vậy,

kỳ vọng mối quan hệ giữa biến này với biến phụ thuộc (JOB) là đồng biến

6) Số doanh nghiệp tại địa phương (FIRM): Được đo lường bằng số lượng

doanh nghiệp mà lao động biết trong bán kính 10 km so với nơi ở của lao động Số lượng doanh nghiệp thể hiện khả năng chuyển đổi của lao động từ lĩnh vực nông nghiệp sang sang lĩnh vực phi nông nghiệp Khi các doanh nghiệp xuất hiện sẽ có thể tác động làm tăng số lao động làm thuê đồng thời làm tăng số lao động phi nông nghiệp tự làm thông qua việc cung cấp các dịch vụ cho các doanh nghiệp này Đối với địa phương có đất được thu hồi cho các dự án trong khu kinh tế Dung Quất thì vai trò của các doanh nghiệp trong việc tạo ra việc làm thay thế cho người dân là rất quan trọng Nghiên cứu của Trần Thị Minh Phương và Nguyễn Thị Minh Hiền (2014) cho thấy việc gia tăng số doanh nghiệp đã gia tăng cơ hội có việc làm của lao động tại các khu vực ngoại thành Hà Nội Nghiên cứu của Nguyễn Đình Phúc (2015) cũng cho thấy kết quả tương tự tại An Nhơn, Bình Định Vì vậy, kỳ vọng mối quan hệ giữa biến này

với biến phụ thuộc (JOB) là đồng biến

7) Chính sách đào tạo nghề (TRAPO): Biến giả, nhận giá trị 1 nếu lao động đã được đào tạo nghề, và nhận giá trị 0 nếu lao động chưa được đào tạo nghề Thông

thường, lao động được đào tạo nghề thường có cơ hội kiếm được việc làm cao hơn Nghiên cứu của Lê Xuân Bá và cộng sự (2006), Nguyễn Quang Tuyến và Nguyễn Hữu Lộc (2014), Nguyễn Đình Phúc (2015) cho thấy lao động được đào tạo nghề có khả năng kiếm được việc làm cao hơn so với nhóm không được học nghề Vì vậy, nghiên cứu này kỳ vọng nếu lao động đã qua đào tạo nghề sẽ có khả năng có việc làm

cao hơn các lao động chưa qua đào tạo nghề

8) Thông tin việc làm (INFO): Biến giả, nhận giá trị 1 nếu lao động được tiếp

cận với thông tin việc làm của chính quyền địa phương, nhận giá trị 0 nếu lao động

chưa được tiếp cận với thông tin việc làm Tiếp cận thông tin giới thiệu việc làm sẽ

giúp tăng cơ hội việc làm cho lao động Tuy nhiên, tại khu vực nông thôn, các thông tin về thị trường lao động là rất hạn chế Do đó, nếu có chính sách cung cấp thông tin cho người dân sẽ làm gia tăng khả năng kiếm được việc làm cho lao động Nghiên cứu của Nguyễn Đình Phúc (2015) cho thấy tiếp cận thông tin việc làm làm tăng cơ hội có

Trang 39

việc làm phi nông nghiệp của lao động Vì vậy, nghiên cứu này kỳ vọng nếu lao động được tiếp cận thông tin việc làm sẽ có khả năng có việc làm cao hơn các lao động

không được tiếp cận thông tin việc làm chính thức

Tóm tắt chương 2

Trong chương này tác giả đã trình bày các cơ sở lý thuyết về tạo việc làm cho người dân tại Khu Kinh tế Dung Quất Thông qua việc tổng quan các hệ thống các lý thuyết kinh tế nghiên cứu về tự tạo việc làm, xây dựng khung lý thuyết nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng tới khả năng có việc làm cho người dân thuộc diện thu hồi đất tại Khu Kinh tế Dung Quất Có 8 yếu tố được đưa vào phân tích định lượng để tìm ra yếu

tố tác động và mức độ tác động lên khả năng có việc làm của lao động bị thu hồi đất tại KKT Dung Quất

Ngày đăng: 21/05/2018, 09:40

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
7) Trần Xuân Cầu & Mai Quốc Chánh (2008). Giáo trình kinh tế nguồn nhân lực, NXB Đại học Kinh tế Quốc Dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình kinh tế nguồn nhân lực
Tác giả: Trần Xuân Cầu & Mai Quốc Chánh
Nhà XB: NXB Đại học Kinh tế Quốc Dân
Năm: 2008
1) Bộ luật lao động của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (sửa đổi, bổ sung năm 2007), tái bản lần thứ IV (2010), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Khác
2) Ban Quản lý KKT Dung Quất (2011), Báo cáo số: 16/BC-BQL, về kết quả điều tra lao động, việc làm 9 xã trong Khu kinh tế Dung Quất Khác
3) Ban Quản lý KKT Dung Quất (2009), Báo cáo số 57/BC-BQL, về tình hình đời sống, việc làm của người dân ở các khu tái định cư Khác
4) Lê Xuân Bá, Nguyễn Mạnh Hải, Trần Toàn Thắng, Vũ Xuân Nguyệt Hồng, Lưu Đức Khải (2006). Các yếu tố tác động đến quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn Việt Nam. Viện nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương, Hà Nội Khác
5) Nguyễn Đình Phúc (2015). Nghiên cứu các yếu tố tác động đến khả năng tham gia việc làm phi nông nghiệp của lao động nông thôn trên địa bàn thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định. Tạp chí khoa học Trường Đại học An Giang. Số 13 (1), trang 11-18 Khác
6) Nguyễn Quang Tuyến và Nguyễn Hữu Lộc (2014). Thực trạng lao động nông thôn - ảnh hưởng của đào tạo nghề- việc làm - thu nhập của lao động tỉnh Bến Tre. Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ Phần C: Khoa học Xã hội, Nhân văn và Giáo dục: 32 (2014), trang 51-61 Khác
8) Trần Thị Minh Phương và Nguyễn Thị Minh Hiền (2014). Các yếu tố ảnh hưởng đến việc làm phi nông nghiệp ở nông thôn thành phố Hà Nội. Tạp chí Khoa học và Phát triển 2014, tập 12, số 6, trang 829-835.Tiếng Anh Khác
9) Susan Olivia & John Gibson (2009) The Effect of Infrastructure Access and Quality on Non-farm Employment and Income in Rural Indonesia. Contributed paper prepared for presentation at the International Association of Agricultural Economists Conference, Beijing, China, August 16-22, 2009 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w