Đặc điểm phân bố và tình trạng quần thể của các loài thú móng guốc chẵn (Artiodactyla) tại khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông (Luận văn thạc sĩ)Đặc điểm phân bố và tình trạng quần thể của các loài thú móng guốc chẵn (Artiodactyla) tại khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông (Luận văn thạc sĩ)Đặc điểm phân bố và tình trạng quần thể của các loài thú móng guốc chẵn (Artiodactyla) tại khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông (Luận văn thạc sĩ)Đặc điểm phân bố và tình trạng quần thể của các loài thú móng guốc chẵn (Artiodactyla) tại khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông (Luận văn thạc sĩ)Đặc điểm phân bố và tình trạng quần thể của các loài thú móng guốc chẵn (Artiodactyla) tại khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông (Luận văn thạc sĩ)Đặc điểm phân bố và tình trạng quần thể của các loài thú móng guốc chẵn (Artiodactyla) tại khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông (Luận văn thạc sĩ)Đặc điểm phân bố và tình trạng quần thể của các loài thú móng guốc chẵn (Artiodactyla) tại khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông (Luận văn thạc sĩ)Đặc điểm phân bố và tình trạng quần thể của các loài thú móng guốc chẵn (Artiodactyla) tại khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông (Luận văn thạc sĩ)Đặc điểm phân bố và tình trạng quần thể của các loài thú móng guốc chẵn (Artiodactyla) tại khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông (Luận văn thạc sĩ)Đặc điểm phân bố và tình trạng quần thể của các loài thú móng guốc chẵn (Artiodactyla) tại khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông (Luận văn thạc sĩ)
Trang 1HÀ VĂN TUNG
ĐẶC ĐIỂM PHÂN BỐ VÀ TÌNH TRẠNG QUẦN THỂ
CỦA CÁC LOÀI THÚ MÓNG GUỐC CHẴN (Artiodactyla)
TẠI KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN PÙ LUÔNG
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
HÀ NỘI, 2017
Trang 2HÀ VĂN TUNG
ĐẶC ĐIỂM PHÂN BỐ VÀ TÌNH TRẠNG QUẦN THỂ
CỦA CÁC LOÀI THÚ MÓNG GUỐC CHẴN (Artiodactyla)
TẠI KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN PÙ LUÔNG
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
Chuyên ngành: Quản lý tài nguyên rừng
Mã số: 60.62.02.11
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS NGUYỄN ĐẮC MẠNH
HÀ NỘI, 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, số liệu, kết quả trong luận văn là trung thực và chưa từng công bố trong bất kì công trình nào, thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc Đồng thời trong quá trình thực hiện đề tài này, tôi luôn chấp hành đúng mọi quy định của địa phương nơi thực hiện đề tài
Hà Nội, ngày 26 tháng 04 năm 2017
Học viên
Hà Văn Tung
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn tôi đã được sự chỉ bảo, hướng dẫn khoa học tận tình của thầy giáo TS Nguyễn Đắc Mạnh trong suốt thời thời gian nghiên cứu và viết Luận văn, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ của thầy
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các quý thầy cô đã giúp đỡ tôi trang bị kiến thức, tạo môi trưởng thuận lợi tốt nhất cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn này
Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu xắc tới Ban lãnh đạo và Cán bộ, Công nhân viên trong khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông tỉnh Thanh Hóa đã cho phép và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt thời gian thực hiện luận văn
Tôi xin gửi lời tri ân sâu sắc đến gia đình, những người bạn và đồng nghiệp đã động viên, hỗ trợ tôi rất nhiều trong suốt quá trình học tập, làm việc và hoàn thiện luận văn
Hà Nội, ngày 26 tháng 4 năm 2017
Học viên
Hà Văn Tung
Trang 5MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC HÌNH ix
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.2 Lược sử nghiên cứu thú móng guốc chẵn ở Việt Nam 5
1.3 Lược sử nghiên cứu thú móng guốc chẵn tại Khu Bảo tồn thiên nhiên Pù Luông 12 1.4 Khái quát về đặc điểm sinh vật học của lợn rừng, hoẵng và sơn dương 15 1.4.1 Lợn rừng (Sus scrofa) 15
1.4.2 Hoẵng (Muntiacus muntjak) 17
1.4.3 Sơn dương (Capricornis milneedwardsii) 19
Chương 2 ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN PÙ LUÔNG 22
2.1 Đặc điểm địa hình, địa chất, thổ nhưỡng 22
Trang 62.2 Đặc điểm khí hậu thuỷ văn 24
2.3 Đặc điểm thảm thực vật rừng 25
2.4 Đặc điểm khu hệ động thực vật 28
2.5 Đặc điểm kinh tế xã hội 29
Chương 3 MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31
3.1 Mục tiêu nghiên cứu 31
3.1.1 Mục tiêu chung 31
3.1.2 Mục tiêu cụ thể 31
3.2 Nội dung nghiên cứu 31
3.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 31
3.3.1 Đối tượng nghiên cứu 31
3.3.2 Phạm vi nghiên cứu 32
3.4 Phương pháp nghiên cứu 32
3.4.1 Phân chia khu vực nghiên cứu và thiết kế tuyến điều tra 32
3.4.2 Phương pháp điều tra thú móng guốc chẵn và sinh cảnh sống của chúng 37
3.4.3 Phương pháp thống kê số liệu 39
3.4.4 Phương pháp phân tích số liệu 43
Chương 4 KẾT QUẢ VÀ PHÂN TÍCH KẾT QUẢ 44
4.1 Tình trạng quần thể của các loài thú móng guốc chẵn trong Khu Bảo tồn thiên nhiên Pù Luông 44
Trang 74.2 Ổ sinh thái không gian của các loài thú móng guốc chẵn trong Khu Bảo tồn thiên nhiên Pù Luông 46 4.2.1 Phân bố của các loài thú móng guốc chẵn theo từng yếu tố hoàn cảnh 46 4.2.2 So sánh tổng hợp ổ sinh thái 53 4.3 Lựa chọn sinh cảnh sống của các loài thú móng guốc chẵn trong Khu Bảo tồn thiên nhiên Pù Luông 56 4.3.1 Phân tích thành phần chính trong sinh cảnh sống của Lợn rừng 56 4.3.2 Phân tích thành phần chính trong sinh cảnh sống của Hoẵng 58 4.3.3 Phân tích thành phần chính trong sinh cảnh sống của Sơn dương 60 4.4 Thảo luận 62 4.5 Định hướng giải pháp quản lý thú móng guốc chẵn và sinh cảnh sống của chúng tại Khu Bảo tồn thiên nhiên Pù Luông 65 4.5.1 Quy hoạch phân khu ưu tiên bảo tồn các loài thú móng guốc chẵn 65 4.5.2 Đối với công tác quản lý bảo vệ thú móng guốc chẵn 66 4.5.3 Đối với công tác điều tra nghiên cứu bảo tồn thú móng guốc chẵn 66 KẾT LUẬN - TỒN TẠI VÀ KHUYẾN NGHỊ 68 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
2.1 Diện tích và dân số của các xã thuộc KBTTN Pù Luông 29
Trang 104.8
Ma trận hệ số ảnh hưởng của các yếu tố hoàn cảnh đối với 2
thành phần chính trong sinh cảnh sống của Lợn rừng 57
4.9
Giá trị đặc trưng và tỉ lệ đóng góp của các thành phần chính
4.10
Ma trận hệ số ảnh hưởng của các yếu tố hoàn cảnh đối với 3
thành phần chính trong sinh cảnh sống của Hoẵng 59
4.11
Giá trị đặc trưng và tỉ lệ đóng góp của các thành phần chính
4.12
Ma trận hệ số ảnh hưởng của các yếu tố hoàn cảnh đối với 2
thành phần chính trong sinh cảnh sống của Sơn dương 61
Trang 11DANH MỤC CÁC HÌNH
1.1 Hình thái loài Lợn rừng (trưởng thành, con non) và đặc điểm dấu
1.2 Hình thái loài Hoẵng (con đực trưởng thành) và đặc điểm dấu
1.3 Hình thái loài Sơn dương và đặc điểm dấu chân, phân của cá thể
4.1 Biểu đồ phân bố của ba loài thú móng guốc chẵn theo đai cao 47
Trang 12ĐẶT VẤN ĐỀ
Thú móng guốc chẵn bao gồm các loài thú di chuyển ở mặt đất và có cấu tạo cơ thể chuyên hóa với việc lấy các cơ quan sinh dưỡng của thực vật làm thức ăn Trong mạng lưới thức ăn, các loài thú móng guốc chẵn là nhóm sinh vật tiêu thụ sơ cấp, có vai trò điều tiết sự sinh trưởng và phát triển của nhóm sinh vật sản xuất là thực vật và do đó ảnh hưởng lớn đến sự cân bằng động trong hệ sinh thái Tuy nhiên, do các sản phẩm từ thú móng guốc chẵn như: thịt, sừng, da lông, xương, có giá trị kinh tế cao mà chúng đang bị săn bắt và buôn bán ráo riết Số lượng cá thể của một số loài thú móng guốc chẵn ngoài tự nhiên bị suy giảm trầm trọng, chúng đang đứng trước nguy cơ bị tuyệt chủng về phương diện sinh thái và trong tương lai gần có thể bị tuyệt chủng cục bộ
Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông được thành lập nhằm bảo tồn các
hệ sinh thái và các loài động, thực vật đặc trưng cho vùng núi thấp Bắc Việt Nam Kết quả điều tra đánh giá tài nguyên thú của khu bảo tồn trong những năm gần đây (Đặng Ngọc Cần, 2004; Nguyễn Đắc Mạnh và cộng sự, 2011, 2014; Trịnh Văn Hạnh và cộng sự, 2013 ) cho thấy: các loài thú móng guốc chẵn tại đây đều là các loài thú kích thước lớn, chỉ thị tốt cho chất lượng các
hệ sinh thái tự nhiên trong KBTTN Pù Luông Thực hiện bảo tồn thú móng guốc chẵn và sinh cảnh sống của chúng sẽ đồng nghĩa với bảo vệ được nhiều
Trang 13loài động vật khác có kích cỡ nhỏ hơn, yêu cầu sinh cảnh sống hẹp hơn, đồng thời quản lý hiệu quả tài nguyên rừng trong khu vực
Bởi vậy, tôi thực hiện đề tài: “Đặc điểm phân bố và tình trạng quần thể của các loài thú móng guốc chẵn (Artiodactyla) tại khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông”, với mong muốn cung cấp thông tin chi tiết hơn về tình
trạng quần thể và đặc điểm phân bố của các loài thú móng guốc chẵn tại đây,
từ đó làm căn cứ khoa học cho công tác quản lý quần thể các loài thú móng guốc chẵn và điều chế sinh cảnh sống của chúng
Trang 14Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Tổng quan về thú móng guốc chẵn
Bộ Thú Móng guốc chẵn (Artiodactyla) gồm những loài thú mà đầu
các ngón phủ guốc (tấm sừng cuộn thành ống, cùng với phần nệm cũng hóa sừng); số ngón chẵn (có ngón III và IV phát triển bằng nhau lớn hơn các ngón bên, thiếu ngón I; ngón II và V nhỏ hơn hoặc thiếu)
Hầu hết các loài thú móng guốc chẵn có sừng; nhưng kích thước và
nguồn gốc sừng có khác nhau Sừng của các loài thú họ Hươu nai (Cervidae) đặc và rụng hàng năm, gọi là gạc Sừng của các loài thú họ Trâu bò (Bovidae) rỗng trong và không rụng Các loài không sừng (họ Lợn- Suidae, họ Cheo cheo- Tragulidae, họ Hươu xạ- Moschidae, ) thường có răng nanh phát
triển và có chức năng phòng vệ tương tự sừng
Các loài thú móng guốc chẵn đều thuộc thú lớn (không loài nào nặng dưới 1kg), thích nghi với di chuyển trên mặt đất; ngoại trừ các loài thuộc họ Lợn ăn tạp, các loài còn lại chỉ ăn thực vật Các loài ăn thực vật có dạ dầy phức, ruột tịt nhỏ; có tập tính nhai lại thức ăn
Thú móng guốc chẵn phân bố khắp các lục địa trừ Nam Cực, hiện nay
có khoảng 240 loài thuộc 89 giống và 10 họ Ở Việt Nam có 20 loài thuộc 12 giống và 5 họ; trong đó có đến 13 loài thuộc diện nguy cấp, quý, hiếm được pháp luật bảo vệ (Nguyễn Xuân Đặng và Lê Xuân Cảnh, 2009)
Trang 15Bảng 1.1 Danh lục thú móng guốc chẵn Việt Nam
TT
loài
1 Lợn rừng Sus scrofa
2 Lơn rừng trường sơn Sus bucculentus
3 Cheo cheo nhỏ Tragulus kanchil
5 Cheo cheo lưng trắng Tragulus versicolor
Trang 16TT
19 Sơn dương Capricornis
1.2 Lược sử nghiên cứu thú móng guốc chẵn ở Việt Nam
Lịch sử nghiên cứu thú móng guốc chẵn ở Việt Nam gắn liền với lịch
sử nghiên cứu động vật có vú ở Việt Nam và có thể chia thành 3 giai đoạn chính như sau:
1) Trước năm 1954: Bước đầu nghiên cứu lập danh lục thú của cả nước;
Trang 172) Từ 1955 đến 1975: Nghiên cứu khu hệ thú các địa phương ở Miền Bắc;
3) Từ 1975 đến nay: Nghiên cứu khu hệ thú các địa phương trên toàn quốc phục vụ qui hoạch sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo tồn đa dạng sinh học
• Thời kỳ trước năm 1954
Cuối thế kỷ 19, với sự xâm chiếm của thực dân Pháp các nhà khoa học nước ngoài bắt đầu xâm nhập nước ta và tiến hành các cuộc điều tra thăm dò động vật giới Việt Nam như: Milne-Edwards, 1867-1874; Morice, 1875; Billet, 1896-1898; Butan, 1900-1906; De Pousargue, 1904; Menegaur, 1905-1906; Bonhote, 1907; Kloss, 1920-1926, Tới đầu thế kỷ 20, việc xây dựng danh lục vẫn được tiếp tục bởi Osgood, 1932; Delacour, 1940, 1951; Bourret, 1942-1944; Một số nghiên cứu tiêu biểu trong thời kỳ này như:
Nghiên cứu của đoàn Pavie (Đoàn nghiên cứu về lịch sử tự nhiên của Đông Dương) từ năm 1879 đến năm 1898 tại Đông Dương (gồm Việt Nam, Lào, Camphuchia, Thái Lan và phần biên giới Thái Lan- Miến Điện) Tại Việt Nam, đoàn Pavie hoạt động chủ yếu ở miền Nam Những tài liệu về thú
do đoàn Pavie thu thập đã giao cho De Pousargue nghiên cứu và kết quả được công bố trong bộ sách của Pavie xuất bản năm 1904 Có thể coi đó là công trình nghiên cứu thú đầu tiên, tương đối hoàn chỉnh ở Đông Dương về mặt khu hệ Trong đó, De Pousargue đã thống kê được 200 loài và loài phụ
Trang 18thú (kể cả thú nuôi) phân bố ở Đông Dương Riêng ở Việt Nam đã phát hiện được 117 loài và loài phụ
Năm 1932, H Osgood đã tập hợp rất nhiều những tài liệu nghiên cứu trước đó (của H Stevens, F.R Wulsin, Delacour, Delacour et Lowe, đoàn Kelley- Roosevelt) và đưa ra thông báo chung về thú Trong tài liệu này Osgood đã ghi nhận được 251 loài và loài phụ, trong đó có 19 dạng mới Trong phạm vi Việt Nam đã gặp tới 172 loài và loài phụ, kèm theo những địa điểm sưu tầm Đây là một công trình có giá trị về mặt nghiên cứu phân loại
và khu hệ
Từ năm 1945 đến 1954, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp diễn
ra ác liệt trên toàn quốc đã làm gián đoạn các hoạt động khảo sát động vật hoang dã ở Việt Nam
• Thời kỳ từ 1955 đến 1975
Sau khi miền Bắc được giải phóng (1954), các hoạt động nghiên cứu
về thú hoàn toàn do những cán bộ khoa học Việt Nam đảm nhiệm Lực lượng điều tra nghiên cứu thời kỳ này chủ yếu là Phòng Động vật học của UBKHKT Nhà nước; Khoa Sinh vật học- Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội; Viện Điều tra Quy hoạch rừng- Tổng Cục Lâm nghiệp và Khoa Sinh vật học- Trường Đại học Sư Phạm Hà Nội Ngoài ra, còn một số cơ quan khác trong lĩnh vực công tác cũng có liên quan nhiều đến việc sưu tầm thú, mà chủ yếu
là thú gặm nhấm dạng chuột như; Viện vệ sinh dịch tễ học, Viện sốt rét- ký
Trang 19sinh trùng, Viện quân y Kết quả nghiên cứu về thú trong thời kỳ đầu miền Bắc giải phóng còn nhiều hạn chế, do lực lượng cán bộ mỏng, địa bàn điều tra hẹp, chỉ tập trung vào thu thập mẫu vật và thống kê thành phần loài
Từ sau năm 1959, đã có một số đợt điều tra tổng hợp về động vật với lực lượng cán bộ và số cơ quan tham gia ngày càng lớn Phạm vi điều tra được mở rộng trên toàn miền Bắc Nội dung điều tra cũng phong phú hơn, bao gồm cả điều tra thành phần loài, nghiên cứu sinh học, sinh thái, phát hiện trữ lượng và khả năng khai thác sử dụng các loài có giá trị kinh tế Đặc biệt,
UBKHKT Nhà nước đã tổ chức và chủ trì “Đoàn điều tra liên hợp động vật-ký sinh trùng” với sự tham gia của 5 cơ sở nghiên cứu lớn, trong đó Bộ
môn Động vật học của Trường Đại học Tổng hợp và Phòng Động vật học của UBKHKT Nhà nước đảm nhận phần điều tra động vật có xương sống Trong thời gian các năm 1962-1966, Đoàn đã thực hiện được 5 đợt điều tra tại 12 tỉnh miền Bắc: Lạng Sơn, Quảng Ninh, Cao Bằng, Hà Giang, Tuyên Quang, Lai Châu, Yên Bái, Sơn La, Thanh Hoá, Quảng Bình, Hà Tĩnh và Nghệ An
Kết quả của các đợt điều tra trong thời kỳ 1955-1975, đã được các nhà khoa học trong nước phân tích và công bố (Đào Văn Tiến, 1960-1985; Đặng Huy Huỳnh, 1968-1981; Lê Hiền Hào, 1962-1973; Cao Văn Sung, 1976-1980; Phạm Trọng Ảnh, 1974; ) Mỗi tác giả công bố kết quả nghiên cứu về một số nhóm thú riêng, trong đó công trình nghiên cứu về thú móng
Trang 20guốc miền Bắc Việt Nam của Đặng Huy Huỳnh năm 1968 và thú kinh tế miền Bắc Việt Nam của Lê Hiền Hào năm 1973 đã đề cập đến nhiều đặc điểm sinh thái học của 6 loài thú móng guốc chẵn
Ở miền Nam, do bị đế quốc Mỹ chiếm đóng nên công tác điều tra nghiên cứu thú hầu như không được tiến hành Đáng chú ý Van Peenen và cộng sự (1965-1969) đã khảo sát ở một số tỉnh và ghi nhận được 151 loài thú (Van Peene et al, 1969)
• Thời kỳ từ 1975 đến nay
Sau khi miền Nam giải phóng (1975), đất nước được thống nhất thì công tác nghiên cứu đa dạng sinh học thú đã có những bước phát triển lớn Địa bàn nghiên cứu được mở rộng ra toàn quốc và các nghiên cứu hướng đến mục tiêu ứng dụng để phục vụ công tác qui hoạch sử dụng hợp lý tài nguyên
và bảo tồn đa dạng sinh học Tuy nhiên các công trình được công bố ở thời
kỳ đầu chủ yếu dựa trên kết quả khảo sát thú ở miền Bắc trước đó, liên quan đến thú móng guốc có công trình nghiên cứu của Đặng Huy Huỳnh năm
1986 Trong tài liệu này, tác giả không những giới thiệu về thành phần loài thú móng guốc ở Việt Nam, mà còn nêu đặc điểm sinh học, sinh thái của 15 loài thú móng guốc Với mỗi loài đều trình bày với các tiểu mục: tên khoa học, tên phổ thông, mô tả, phân bố địa lý, tập tính, thức ăn, sinh sản, vùng sinh sống, kẻ thù và giá trị kinh tế
Trang 21Trong những năm tiếp theo, để đáp ứng nhu cầu của dân số ngày càng tăng, để hàn gắn vết thương chiến tranh, xây dựng nền kinh tế còn yếu của mình nhân dân Việt Nam vẫn phải tiếp tục khai thác một cách mạnh mẽ tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là tài nguyên rừng Vì thế rừng đã bị tàn phá nặng nề trong chiến tranh nay lại càng thu hẹp hơn, tài nguyên động vật hoang dã bị giảm sút nhanh chóng đặc biệt là nhóm thú móng guốc chẵn Nhận thức được việc mất rừng là tổn thất nghiêm trọng đang đe doạ sức sinh sản lâu dài của các nguồn tài nguyên có khả năng tái tạo, năm 1986 Chính phủ Việt Nam đã thành lập một hệ thống 87 khu rừng đặc dụng với diện tích 1.169.000ha Nhưng hầu hết các khu rừng này hoạt động kém hiệu quả do thiếu kinh phí và thiếu cán bộ kỹ thuật, người quản lý không biết cụ thể hiện trạng tài nguyên trong khu vực mình quản lý
Trong giai đoạn này, công trình “Sách Đỏ Việt Nam-Phần Động vật” của
Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường (1992) và công trình “Danh lục các loài thú (Mammalia) Việt Nam” của Đặng Huy Huỳnh và các cộng sự (1994) ra
đời đã góp phần giải quyết những khó khăn trên Bản danh lục gồm 12 bộ, 37
họ và 223 loài thú đã tìm thấy ở Việt Nam tính đến năm 1994, trong đó có 13 loài thú móng guốc chẵn, gồm: Lợn rừng, Cheo cheo, Hươu xạ, Hoẵng, Hươu sao, Hươu vàng, Nai cà tông, Nai, Bò tót, Bò banten, Bò xám, Trâu rừng và Sơn dương Đây là công trình đầu tiên thống kê thành phần phân loại thú trên toàn lãnh thổ Việt Nam và chỉ ra một số loài thú cần ưu tiên bảo vệ
Trang 22Đặc biệt, trong giai đoạn này đã phát hiện thêm nhiều loài thú móng
guốc chẵn mới cho khoa học như: Sao la (Pseudoryx nghetinhensis Vu Dung
et al., 1993), Mang lớn (Megamuntiacus vuquangensis Do Tuoc et al.,1994), Mang trường sơn (Muntiacus truongsonensis Giao et al., 1998), đã thu hút
được sự quan tâm đặc biệt của thế giới đối với khu hệ thú Việt Nam
Năm 2000, Lê Vũ Khôi đã cập nhật những phát hiện mới của khu hệ
thú Việt Nam để cho ra công trình: “Danh lục các loài thú ở Việt Nam” Bản
danh lục gồm 252 loài (289 loài và phân loài) thú thuộc 40 họ và 14 bộ Với mỗi taxon tác giả trình bày; tên khoa học đầy đủ theo danh pháp quốc tế, tên tiếng Việt và các dân tộc Việt Nam, tên tiếng Anh, tiếng Pháp và tiếng Nga Đây như là “Cuốn từ điển” tên các loài thú Việt Nam
Như vậy đã có nhiều công trình của các tác giả trong nước cũng như ngoài nước nghiên cứu về khu hệ thú Việt Nam, trong đó có các loài thú móng guốc chẵn; nhưng suốt thời gian dài, những công trình nghiên cứu này chủ yếu chỉ đề cập đến các vấn đề về khu hệ Một số tác giả (Đặng Huy Huỳnh-1968, 1986, Lê Hiền Hào-1973) cũng bắt đầu quan tâm đề cập đến đặc điểm sinh học, sinh thái một số loài thú móng guốc chẵn có ý nghĩa kinh tế; tuy nhiên nguồn thông tin chủ yếu qua kế thừa tài liệu nước ngoài, kết hợp với quan sát thực địa tại Việt Nam để kiểm chứng thông tin
Trang 231.3 Lược sử nghiên cứu thú móng guốc chẵn tại Khu Bảo tồn thiên nhiên Pù Luông
Năm 1998, dự án đầu tư thành lập khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông
đã được Viện Điều tra Quy hoạch rừng xây dựng, trong đó đề xuất diện tích
là 17.662 ha, gồm 13.320 ha phân khu bảo vệ nghiêm ngặt và 4.343 ha phân khu phục hồi sinh thái Dự án đầu tư này đã được Bộ NN PTNT phê chuẩn ngày 09/01/1999, theo Quyết định Số 556/BNN-KH và UBND tỉnh Thanh Hóa phê chuẩn ngày 27/03/1999, theo Quyết định số 495/QĐ-UB Dựa trên
sự phê chuẩn đó, UBND tỉnh Thanh Hóa đã thành lập Ban quản lý khu bảo tồn thiên nhiên ngày 24/04/1999 theo Quyết định số 472/QĐ-UB Theo kết quả rà soát, quy hoạch lại 3 loại rừng tỉnh Thanh Hóa năm 2007, và theo kế hoạch đầu tư xây dựng KBTTN Pù Luông giai đoạn 2006-2010 và sau đó là giai đoạn 2011-2015 đã được UBND tỉnh Thanh Hóa phê duyệt thì diện tích đất lâm nghiệp giao cho KBTTN Pù Luông quản lý là 17.171,03 ha (Ban quản lý KBTTN Pù Luông, 2013)
Những điều tra, nghiên cứu chi tiết về tài nguyên động thực vật ở KBTTN Pù Luông và vùng phụ cận bắt đầu được thực hiện trong các năm
1997 và 1998 với mục đích xây dựng dự án đầu tư thành lập khu bảo tồn
Trong các đợt khảo sát này, về nhóm thú Móng guốc chẵn (Artiodactyla) đã ghi nhận được 4 loài là: Lợn rừng (Sus scrofa), Hoẵng (Muntiacus muntjak),
Bò tót (Bos frontalis) và Sơn dương (Capricornis milneedwardsii), trong đó
Trang 24Bò tót và Sơn dương được ghi nhận qua phỏng vấn (Lê Trọng Trải và Đỗ Tước, 1998)
Năm 2003, các chương trình điều tra đa dạng sinh học được bắt đầu tại
khu đề xuất bảo tồn thiên nhiên trong khuôn khổ án ảo tồn cảnh qu n
đá v i ù u ng - c hư ng, được thực hiện bởi Tổ chức FFI- Chương
trình Việt Nam Các đợt điều tra chi tiết đã hoàn tất danh lục loài các nhóm thực vật, thú, cá, bướm, thân mềm và các loài không xương sống trong hang động Đã ghi nhận thêm nhiều loài thú mới nâng tổng số loài thú của khu vực lên 84 loài (tính cả nhóm Dơi), nhóm thú móng guốc chẵn vẫn ghi nhận có 4 loài, riêng loài Sơn dương được ghi nhận qua quan sát trực tiếp và dấu phân ngoài tự nhiên (Đặng Ngọc Cần, 2004) Trong những năm tiếp theo các đợt điều tra tập trung vào nhóm thú linh trưởng và chim, nhóm thú móng guốc chẵn không có báo cáo điều tra
Năm 2011, trong khuôn khổ dự án Quỹ Sự nghiệp Môi trường tỉnh Thanh Hoá, các đợt điều tra động thực vật quý hiếm được thực hiện bởi Trung tâm Đa dạng sinh học- Trường Đại học Lâm nghiệp, trong nhóm thú móng guốc chẵn chỉ loài Sơn dương được lựa chọn điều tra chuyên sâu Kết quả điều tra đã ghi nhận được 39 cá thể Sơn dương phân bố tập trung ở 3 khu vực: giáp ranh giữa xã Phú Lệ và xã Lũng Cao; phía Tây Nam xã Phú Xuân và; phía
Đông Nam xã Cổ Lũng, ngoài ra cũng ghi nhận một mẫu sừng Nai (Rusa unicolor) tại bản Tân Phúc, xã Phú Lệ (Nguyễn Đắc Mạnh và cộng s , 2011)
Trang 25Năm 2012-2013, trong án điều tra lập danh lục khu hệ động th c vật rừng ù u ng, được thực hiện bởi liên danh Viện sinh thái& bảo
vệ công trình và Trường Đại học khoa học tự nhiên đã xây dựng danh lục loài các nhóm thực vật, động vật nổi, động vật đáy, cá, côn trùng, chim, thú, lưỡng
cư và bò sát So với danh lục được lập năm 2004, về nhóm thú móng guốc chẵn đã ghi nhận thêm loài Nai, tuy nhiên Nai được ghi nhận qua phỏng vấn kết hợp phân tích mẫu sừng trong nhà dân, đồng thời rút loài Bò tót ra khỏi danh lục thú KBTTN Pù Luông (Trịnh Văn Hạnh và cộng sự, 2013)
Năm 2014, trong khuôn khổ dự án Quỹ Sự nghiệp Môi trường tỉnh
Thanh Hoá, hạng mục điều tra tình trạng phân bố củ các loài th ăn cỏ tại KBTTN Pù Luông được triển khai khảo sát ngoài thực địa trong hai tháng
mùa hè (tháng 7, tháng 8) Về đối tượng điều tra, báo cáo đã chỉ rõ: tại KBTTN Pù Luông thì nhóm thú móng guốc chẵn chính là các loài thú ăn cỏ
di chuyển ở mặt đất, có cấu tạo cơ thể chuyên hóa với việc lấy các cơ quan sinh dưỡng của thực vật như: thân, cành, lá, chồi, củ, quả, làm thức ăn Mặc dù được triển khai điều tra trong hai tháng nhưng số liệu thu thập được
về các loài thú móng guốc chẵn còn khiêm tốn; bởi vậy, báo cáo kết quả điều tra mới dừng lại ở đánh giá hiện trạng phân bố của 03 loài thú móng guốc chẵn (Lợn rừng, Hoẵng, Sơn dương) theo các khu vực khác nhau trong khu bảo tồn; đồng thời gộp số liệu ghi nhận của 03 loài thú móng guốc chẵn trên vào cùng một nhóm để xử lý thống kê xác định quy luật phân bố của chúng
Trang 26theo 07 yếu tố hoàn cảnh: kiểu địa hình, độ cao, độ dốc, hướng dốc, cự ly nguồn nước, loại hình thảm thực vật và, cường độ gây nhiễu của con người
(Nguyễn Đắc Mạnh và cộng s , 2014)
Như vậy, hầu hết các đợt điều tra, nghiên cứu tại KBTTN Pù Luông
có liên quan đến thú móng guốc chẵn mới dừng lại ở việc thống kê thành phần loài (xác định loài có mặt/không có mặt tại KBT); đã thống kê tổng cộng có 5 loài thú móng guốc chẵn, tuy nhiên chỉ có Lợn rừng, Hoẵng và Sơn dương là được khẳng định chắc chắn còn tồn tại trong khu bảo tồn Riêng đợt điều tra năm 2011 đã có được thông tin cụ thể hơn về hiện trạng quần thể của loài Sơn dương; đợt điều tra năm 2014 đã xác định quy luật phân bố của nhóm thú ăn cỏ nói chung theo các yếu tố hoàn cảnh
1.4 Khái quát về đặc điểm sinh vật học của lợn rừng, hoẵng và sơn dương
1.4.1 Lợn rừng (Sus scrofa)
Hình 1.1 Hình thái loài Lợn rừng (trưởng thành, con non) và đặc điểm dấu
chân của cá thể trưởng thành
Trang 27Cơ thể Lợn rừng vạm vỡ, bốn chân thô ngắn, đầu khá dài, tai nhỏ và mọc thẳng, phần mõm nhô ra dạng trùy tròn, chóp đỉnh của mõm là đệm xương sụn lộ trần (cũng chính là vòm mũi) Mỗi chân có 4 ngón, có lớp sừng bao ngoài (guốc cứng), bình thường chỉ hai ngón ở giữa chạm đất, nếu Lợn rừng
đi trên nền đất mềm mới để lại dấu vết đủ cả 4 ngón chân Đuôi nhỏ ngắn Răng nanh hàm dưới phát triển, ở con đực răng nanh lộ rõ ra ngoài, và nhọn hướng lên trên Sau vành tai có lông nhọn cứng mà thưa thớt, bờm lông dọc sống lưng khá dài và cứng Toàn cơ thể màu nâu tối hoặc xám đen, theo khu vực lợn rừng sống mà có sự sai khác, con nhỏ có các vạch nâu vàng dọc hai bên thân (Phạm Nhật và Nguyễn Xuân Đặng, 2000a, 2000b)
Lợn rừng là loài thú phổ biến, nhưng lại khiến chúng ta khó nắm bắt quy luật hoạt động của chúng Bởi ban ngày lợn rừng thường trú ẩn không di động, hoạt động kiếm ăn chỉ diễn ra vào lúc sáng sớm và chiều tối, chủ yếu hoạt động theo đàn, thường gặp một đàn có từ 4-10 cá thể Lợn rừng thích đằm mình trong bùn nước, con đực còn tiêu phí khá nhiều thời gian ở bên gốc cây, phiến đá và bờ sông suối để chà sát hai bên thân của nó, điều này làm cho lớp
da bì trở thành tầng bảo vệ cứng chắc, có thể giảm bị trọng thương trong tranh đấu ở kỳ phát dục Phạm vi hoạt động của đàn lợn rừng, thông thường từ 8-12
km2 (800-1200 ha) phần lớn thời gian chúng hoạt động ở trong lãnh địa, thải phân nước tiểu ở địa điểm cố định trong vùng lãnh địa, bãi phân chồng chất lên nhau, có thể đạt đến độ cao 1m (Yang Bohui et al, 2006)
Trang 28Lợn rừng ăn tạp cả thực vật và động vật, thức ăn của nó cũng rất phong phú; cỏ xanh, rễ củ thực vật, quả rụng, ấu trùng trong đất, chuột, rắn, ếch nhái, đều là đối tượng thức ăn của nó, có khi còn ăn trộm trứng chim, đặc biệt là trứng và chim non của các loài chim họ Trĩ làm tổ ở mặt đất Cho dù
tổ chim thường được làm rất kín đáo, nhưng khướu giác của Lợn rừng rất nhạy bén, có khả năng đánh hơi đến vị trí tổ chim Năng lực sinh sản của Lợn rừng mạnh, con cái 18 tháng tuổi là trưởng thành có thể sinh sản, con đực phải 3-4 năm tuổi mới trưởng thành sinh dục; kỳ sinh sản tập trung vào tháng 1- 2 và tháng 7-8 hàng năm; thai kỳ từ 112- 130 ngày, mỗi phôi đẻ 4-12 con (Đặng Huy Huỳnh, 1986; Lê Hiền Hào, 1973)
1.4.2 Hoẵng (Muntiacus muntjak)
Hoẵng là loài thú có thể hình khá lớn, con trưởng thành dài thân khoảng 100cm, dài đuôi 17-21cm, thể trọng 20-33kg Phần mặt khá là dài hẹp, lông
ở phần trước trán đến mõm màu đen mịn, từ tuyến hốc mắt đến khu vực mọc sừng mỗi bên có một dải tuyến trán khá rộng mà lộ rõ, tuyến trán kéo dài mà giao cắt với nhau thành hình chữ “V” Chỉ con đực mới có sừng, hai sừng dài
mà uốn cong ra sau mút hướng vào trong, so với các loài khác trong họ
Hươu nai (Cervidae) thì đế sừng của Hoẵng rất cao, thân sừng phân làm 2
nhánh Hoẵng cái không sừng, nhưng đỉnh trán của nó tương ứng với vị trí mọc sừng ở hoãng đực vẫn nhô cao, mà sinh ra đám lông đen đặc thù, giống như nhung sừng Hàm trên của Hoẵng không răng cửa, nhưng con đực có
Trang 29răng nanh phát triển, mọc hướng xuống dưới mút cong về phía sau Cả cơ thể màu đỏ son hoặc nâu đỏ chiếm chủ đạo, phần bụng, cằm, phía trong các chân
có tông màu nhạt hơn Bốn chân dài mảnh, phía ngoài lông màu đen nâu (Phạm Nhật và Nguyễn Xuân Đặng, 2000a, 2000b)
Hình 1.2 Hình thái loài Hoẵng (con đực trưởng thành) và đặc điểm dấu
chân, phân của cá thể trưởng thành
Hoẵng là loài thú hoạt động đơn độc, kiếm ăn chủ yếu vào ban đêm, mờ sáng và hoàng hôn, ban ngày nó ẩn nấp ở trong bụi cây để nghỉ ngơi, không
dễ để phát hiện Thân thể và 4 chi linh động nên có khả năng hoạt động tự do linh hoạt, bước nhanh trong rừng rậm và bụi cỏ; khi rảo bước trong rừng rậm, phần hông dâng cao lên, phần đầu chúi thấp, khéo léo dị thường Hoẵng chủ yếu lấy ăn cành non, lá, hoa của nhiều loài thực vật, nó cũng thích ăn quả, mầm non, có khi ăn trộm các sản phẩm của canh tác nông nghiệp như đậu, lạc, Năng lực sinh dục của Hoẵng rất mạnh, sinh sản quanh năm; Hoẵng
Trang 30cái 8 tháng tuổi, Hoẵng đực 12 tháng tuổi là trưởng thành có thể sinh sản; thời kỳ động dục tập trung vào tháng 1-2, thai kỳ 6 tháng, mỗi phôi đẻ 1-2con (Đặng Huy Huỳnh, 1986; Yang Bohui et al, 2006)
1.4.3 Sơn dương (Capricornis milneedwardsii)
Sơn dương là loài thú lớn, sự sai khác giữa con đực và con cái không rõ ràng, con trưởng thành dài thân 140-190cm, cao vai 86-110cm, cao tai 17- 21cm, dài đuôi 9-16cm, thể trọng 85-140kg Cả con đực và con cái đều có đôi sừng ngắn đen bóng, đôi sừng mọc từ xương trán và trong giới hạn giữa hai tai, sừng nhọn hướng cong ra sau Phần gáy có bờm lông dài và bồng hình thành nên dải lông thô kéo dài hơn 10cm về phía lưng Có tuyến dưới hốc mắt dạng túi tròn rõ rệt Bộ lông khá tối màu, lông thô với màu đen là chính, bờm lông và lông phủ phía trong vành tai màu xám trắng, lông phủ ở
4 vó và bên ngoài vành tai màu xám đỏ (Phạm Nhật và Nguyễn Xuân Đặng, 2000a, 2000b)
Sơn dương thường kết thành đàn nhỏ sinh sống, ngoại trừ con đực hoạt động đơn độc, con cái và các con của nó kết thành đàn nhỏ
Trang 31Hình 1.3 Hình thái loài Sơn dương và đặc điểm dấu chân, phân của cá
thể trưởng thành
Mùa hè thích ở khu vực yên tĩnh dưới cây to, trong lùm cây bụi hoặc giữa các phiến đá lớn để nghỉ ngơi; mùa đông thường đến hang đá để tránh gió, qua đêm Ban đêm và sáng sớm ra kiếm ăn uống nước ở khu trống trong rừng, ven rừng hoặc bên suối, chủ yếu lấy cỏ xanh, cành non, lá, mầm, quả rụng của cây gỗ và rêu làm thức ăn Sơn dương có đường mòn đi lại kiếm ăn, nơi nghỉ ngơi và địa điểm thải phân khá là cố định Mỗi ngày Sơn dương thường thải phân 1 lần; phân dạng đống rời rạc (Yang Bohui et al, 2006) Sơn dương rất thiên về leo trèo và chạy nhảy, có thể đi lại tự do giữa các phiến đá dốc ngược hiểm trở, hoặc chạy nhảy như bay giữa các khe suối có nhiều hòn đá mồ côi Điều này là bởi đế guốc của nó được tạo thành từ hai guốc có thể khép kín chặt với nhau, phía trước hẹp nhọn, phía sau rộng mở,
Trang 32bao xung quanh là chất sừng, ở trung tâm được tổ thành bởi các bộ phận mềm dẻo, giống như một đế giác hút, khiến nó có khả năng tiếp đất ổn định hoặc chạy nhảy giữa các vánh đá dốc Ngoài ra, phần đáy 4 chân của nó còn
có cơ quan cảm nhận môi trường xung quanh rất nhạy bén; sau khi đế guốc tiếp nhận kích thích từ phần đáy, cơ quan cảm nhận có thể chuyển đổi thành một loại tín hiệu, lan truyền đến hệ thống trung khu thần kinh, hệ thống trung khu thần kinh xử lý tín hiệu tiếp nhận và chuyển đổi thành tín hiệu khống chế, lại lan truyền trở lại các nhóm cơ bắp khác nhau trên 4 chân, từ đó mà điều tiết cân bằng trọng tâm cơ thể (Đặng Huy Huỳnh, 1986)
Sơn dương mỗi năm đẻ 1 lứa, động dục vào tháng 9-10, thời gian mang thai là 8 tháng, mỗi lứa đẻ 1-2 con Sơn dương 2-3 năm tuổi là trưởng thành sinh dục, có thể sinh sản, nhưng lúc 2 năm tuổi vẫn theo mẹ, 3 năm tuổi mới bắt đầu hoạt động độc lập (Lê Hiền Hào, 1973)
Trang 33Chương 2 ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN PÙ LUÔNG
KBTTN Pù Luông thuộc tỉnh Thanh Hoá; cách thành phố Thanh Hoá 125km về phía Tây Bắc, cách đường Hồ Chí Minh theo đường 15A đi vào từ huyện Cẩm Thuỷ khoảng 25 km Khu bảo tồn trải dài từ 200 21' đến 200 34’
vĩ độ Bắc và từ 1050
02’ đến 1050 20’ kinh độ Đông Phía Bắc, Đông Bắc của khu bảo tồn giáp với các huyện Mai Châu, Tân Lạc và Lạc Sơn của tỉnh Hoà Bình Phía Tây ngăn cách với KBTTN Pù Hu bởi sông Mã và đường 15A (Hình 2-1)
Vùng lõi và vùng đệm KBTTN Pù Luông nằm trên địa giới hành chính của 9 xã thuộc 2 huyện Huyện Quan Hoá: 5 xã (Phú Lệ, Phú Xuân, Thanh Xuân, Hồi Xuân và Phú Nghiêm) Huyện Bá Thước: 4 xã (Lũng Cao,
Cổ Lũng, Thành Sơn và Thành Lâm)
2.1 Đặc điểm địa hình, địa chất, thổ nhưỡng
Khu bảo tồn là một phần của dãy núi đá vôi Pù Luông- Cúc Phương, bao gồm hai dãy núi chạy song song theo hướng Tây Bắc- Đông Nam và ngăn cách với nhau bởi thung lũng ở giữa (đường 15C đi qua thung lũng)
Hai dãy núi có kiểu địa mạo tương phản một cách rõ ràng do khác nhau về nền địa chất Dãy nhỏ hơn ở phía Tây Nam được hình thành chủ yếu
từ đá lửa và đá biến chất, dãy này bao gồm các đồi bát úp có rừng che phủ và
Trang 34các thung lũng nông Dãy lớn hơn ở phía Đông Bắc lại hình thành bởi những vùng đá vôi bị chia cắt mạnh, đây là một phần của dãy núi đá vôi liên tục chạy từ Vườn Quốc gia Cúc Phương đến tỉnh Sơn La Độ cao của khu vực biến động từ 60m đến 1667 m, đỉnh cao nhất là núi Pù Luông
Hình 2.1 Vị trí của Pù Luông và các khu bảo vệ khác trong tỉnh Thanh Hóa
Do sự có mặt của nhiều loại đá vôi khác nhau đã tạo nên nhiều dạng địa hình karst và karst-xâm thực trong KBTTN Pù Luông như; cao nguyên karst, thung lũng karst-xâm thực, cánh đồng karst, Tuy nhiên, các dạng địa hình xâm thực và kiến tạo như sườn xâm thực, bề mặt san bằng, pediment, rãnh xói, phát triển trên đá macma và đá lục nguyên mới làm nên sự khác
Trang 35biệt giữa KBTTN Pù Luông và Vườn Quốc gia Cúc Phương Theo cơ cấu diện tích; 60% diện tích khu bảo tồn là đá vôi, 37% là đá macma và chỉ có 3% là đá lục nguyên (Trần Tản Văn và các cộng sự, 2003)
Do đặc điểm địa chất, địa mạo khá đa dạng nên lớp đất phủ ở KBTTN
Pù Luông phong phú Theo các bảng phân loại của FAO, UNESCO, WRB
và của Việt Nam, lớp đất phủ trong vùng hình thành từ các loại đá nêu trên
có thể chia thành các kiểu loại chính sau: (1) Đất Renzit mầu nâu vàng, mầu đen, phát triển trên đá vôi; (2) Đất Luvisol mầu vàng xám, phát triển trên đá vôi; (3) Đất Leptosol mầu vàng xám, phát triển trên các sườn đá vôi; (4) Đất Cabisol mầu xám đen, mầu vàng xám, phát triển trên đá macma; (5) Đất Acrisol mầu xám nâu, phát triển trên đá macma; (6) Đất Acrisol mầu vàng xám, xám nâu, phát triển trên đá lục nguyên và (7) Đất Fluvisol và Gleysol mầu vàng xẫm đến nâu xẫm, phát triển dọc các thung lũng (Trần Tản Văn và các cộng sự, 2003)
2.2 Đặc điểm khí hậu thuỷ văn
KBTTN Pù Luông có khí hậu nhiệt đới gió mùa, và có gió mùa Đông Bắc từ tháng 11 đến tháng 2 năm sau, gió mùa Đông Nam từ tháng 3 đến tháng 10 Gió Lào khô nóng thổi từ hướng Tây xuất hiện vào giữa tháng 4 và tháng 5 (Anon, 1998)
Nhiệt độ trung bình hàng năm biến động trong khoảng từ 20-250C Nhiệt
độ tối đa đạt xấp xỉ 370C đến 390
C, trong khi nhiệt độ tối thiểu trong khoảng từ
Trang 365-100C Nhiệt độ trên các vùng cao như khu vực Son- Bá- Mười có thể xuống tới điểm đóng băng Lượng mưa trung bình hàng năm tương đối thấp, từ 1.500-1.600 mm Lượng mưa tối đa ước đạt 2.540 mm, tập trung từ tháng 7 đến tháng 9 (chiếm 65-70%) Mưa phùn tập trung vào mùa Xuân (từ tháng 12 đến tháng 2 năm sau) Lượng mưa tối thiểu khoảng 1.000 mm (Anon, 1998)
Chế độ thủy văn ở dãy núi đá vôi tương đối phức tạp, ở đây có rất ít hay gần như không có mặt nước thường xuyên Dãy núi phía Tây Nam, các mạch nước nổi phổ biến hơn và các khe suối có mực nước ít thay đổi theo mùa hơn Tuy nhiên, đặc trưng chính của hệ thống thuỷ văn trong khu vực nằm ở vùng thung lũng Thung lũng này không liên tục nhưng vùng yên ngựa ở điểm giữa của thung lũng lại là nơi xuất phát của hai sông nhỏ, một chảy về hướng Tây Bắc dọc theo thung lũng rồi đổ vào sông Mã ở khu vực
xã Phú Lệ, con sông còn lại cũng chạy dọc theo thung lũng nhưng theo hướng Đông Nam và đổ vào sông Mã ở vùng hạ lưu
2.3 Đặc điểm thảm thực vật rừng
Thảm thực vật rừng tại KBTTN Pù Luông được xác định là rừng kín thường xanh mưa mùa nhiệt đới Dựa vào độ cao, chất đất nền và tác động của con người được chia ra làm 5 kiểu chính và 3 kiểu phụ thứ sinh nhân tác
Cụ thể như sau:
+ Rừng lá rộng đất thấp trên đá v i: Phân bố ở độ cao dưới 700m trên
các sườn và đỉnh núi đá vôi bị bào mòn mạnh, tập trung ở khu vực xã Cổ
Trang 37Lũng và xã Phú Lệ Rừng có cấu trúc nhiều tầng tán, cây lá rộng Aglaia sp., Anogeissus acuminata, Heritiera macrophylla là những loài cây điển hình tại những nơi ẩm ướt; trong khi Burretiodendron hsienmu và Millettia ichthyochtona là những loài phổ biến tại những sườn khô và dốc Đôi khi, một số cây thuộc loài Anogeissus acuminata, Heritiera macrophylla và một vài loài thuộc chi Ficus đạt tới độ cao 50-55m với đường kính ngang ngực
tới 2m và những rễ chống cao tới 3m (Averyanov L.V và cộng sự, 2003)
+ Rừng lá rộng đất thấp trên đá phiến và đá cát: Phân bố từ độ cao
400- 700m Kiểu rừng này trước đây phân bố rộng khắp trong khu bảo tồn, nhưng hiện nay chỉ còn sót lại ở chân các ngọn núi phía Bắc, tại khu vực xã
Cổ Lũng Những cây gỗ to lớn như Heritiera macrophylla và 2 loài thuộc chi Ficus cao tới 45-50 m là những cây điển hình, ưu thế Các loài thực vật phụ
sinh nhìn chung là phổ biến nhưng không đa dạng (Averyanov L.V và cộng
sự, 2003)
+ Rừng lá rộng núi thấp trên đá v i: Phân bố rộng rãi ở khu vực xã Cổ
Lũng và xã Phú Lệ từ độ cao 700- 950m Kiểu rừng này mọc phần lớn ở các sườn núi cao và đường đỉnh núi đá vôi trong khu vực, chúng ít bị tàn phá hơn
nhiều so với các kiểu rừng khác Tầng cây gỗ có các loài như Eriobotrya bengalensis, Pistacia weinmanifolia, Platycarya strobilacea, Schefflera pes-avis và Sinosideroxylon wightianum, đặc biệt loài Thông nàng (Dacrycarpus imbricatus) khá phổ biến trên các sườn núi hướng Nam tại khu
Trang 38vực xã Cổ Lũng Tầng cây bụi và cỏ phát triển rất mạnh (Averyanov L.V và cộng sự, 2003)
+ Rừng thông núi thấp trên đá v i: Phân bố ở một vài đỉnh núi thuộc khu vực xã Cổ Lũng Pinus kwangtungensis là loài ưu thế, đặc trưng trong tầng tán của kiểu rừng này Ngoài ra; ở một vài địa điểm Taxus chinensis là
loài đồng ưu thế trong tầng tán Thực vật sống bám rất phát triển, chúng nhiều vô số và thường phủ kín 100% bề mặt các thân cây và các hòn đá Các
loài lan như: Coelogyne fimbriata, Dendrobium dentatum, Epigeneium chapaense và Eria thao xuất hiện khá phổ biến (Averyanov L.V và cộng sự,
2003) Kiểu rừng này có tính nhạy cảm cao và rất dễ bị đe doạ tuyệt chủng
+ Rừng lá rộng núi thấp trên đá z n tại các sườn n i và đường đỉnh:
Trong KBT, đá bazan chỉ có tại dãy núi Pù Luông, ở độ cao trên 900 m Trước đây khu vực này được che phủ hoàn toàn bởi các khu rừng nguyên sinh Hiện nay rừng nguyên sinh chỉ còn ở độ cao trên 1.200m, những sườn núi thấp hơn thì được che phủ bởi rừng thứ sinh có chất lượng khác nhau
Kiểu rừng này có rất nhiều loài thực vật cổ xưa có từ thời kỳ phấn trắng muộn Đó là các loài thuộc các họ: Actinidiaceae, Annonaceae, Chloranthaceae, agaceae, Hamamelidaceae, Lardizabalaceae, Lauraceae, Magnoliaceae, Menispermaceae và Theaceae cũng như một số chi hiếm thuộc ngành hạt trần như: Amentotaxus (Cephalotaxaceae), Cephalotaxus (Cephalotaxaceae), odocarpus và Nageia (Podocarpaceae) Kiểu rừng này có
Trang 39tính đa dạng thực vật rất cao và có cả yếu tố đặc hữu (Averyanov L.V và cộng sự, 2003)
+ Rừng phục hồi sau khai thác: Kiểu phụ thứ sinh nhân tác Kiểu phụ
này phân bố rải rác trong khu bảo tồn và là sản phẩm của hình thức khai thác chọn Bao gồm các trạng thái rừng: IIIA1, IIIA2
+ Rừng phục hồi s u nư ng rẫy: Kiểu phụ thứ sinh nhân tác Kiểu phụ
này phân bố gần các khu dân cư, trước đây là nương rẫy nhưng đã được khoanh nuôi bảo vệ Bao gồm các trạng thái rừng: IIA, IIB
+ Rừng tre nứa: Kiểu phụ thứ sinh nhân tác Trước đây là kiểu phụ
rừng phục hồi sau khai thác hoặc sau nương rẫy nhưng tầng cây gỗ không tái sinh, phát triển được do bị các loài tre nứa xâm lấn Đến nay các loài tre nứa
đã chiếm ưu thế
2.4 Đặc điểm khu hệ động thực vật
KBTTN Pù Luông có hệ thực vật rất phong phú và có tính đa dạng cao Đến nay đã ghi nhận được 1.579 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 680 chi,
200 họ, 76 bộ, 12 lớp và 6 ngành (Đinh Văn Lâm và cộng sự, 2013) Ngành
có số loài nhiều nhất là Ngành Ngọc lan (Magnoliophyta) với 1.396 loài
được ghi nhận
Về khu hệ động vật: đến nay đã ghi nhận được 84 loài thú (gồm cả 24 loài Dơi), 162 loài chim, 40 loài bò sát và 26 loài lưỡng cư, 67 loài cá, 347 loài côn trùng, 177 loài động vật đáy và 55 loài động vật nổi (Lê Trọng Trải
Trang 40và Đỗ Tước, 1998; BirdLife International and FIPI, 2001; Mai Dinh Yen et
al, 2003; Vu Dinh Thong, 2003; Đặng Ngọc Cần, 2003, Trịnh Văn Hạnh và cộng sự, 2013)
2.5 Đặc điểm kinh tế xã hội
Có 18.572 nhân khẩu, 4.201 hộ dân sống trong vùng lõi và vùng đệm của KBTTN Pù Luông thuộc 9 xã và 2 huyện Mật độ dân số trung bình là: 69,33 người/km2
, mật độ cao nhất tại xã Thành Lâm (120 người/km2) và thấp nhất tại xã Thanh Xuân (42 người/km2) Tỉ lệ tăng dân số tự nhiên toàn khu vực là 0,98 % (Ban quản lý khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông, 2013)
Bảng 2.1 Diện tích và dân số của các xã thuộc KBTTN Pù Luông
Số nhân khẩu