1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá sự thay đổi chi phí và hiệu quả sản xuất lúa 2013 và 2016 các xã ven biển trên địa bàn huyện an biên, tỉnh kiên giang

65 103 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 65
Dung lượng 1,28 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tác giả chọn mẫu 80 hộ nông dân sản xuất lúa thuộc các xã ven biển trên địa bàn huyện An Biên bằng phương pháp chọn mẫu phi xác suất, để thu thập các thông tin phục vụ cho việc so sánh h

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

-

BÙI THANH NHÀN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

ĐÁNH GIÁ SỰ THAY ĐỔI CHI PHÍ VÀ HIỆU QUẢ SẢN XUẤT LÚA NĂM 2013 VÀ 2016 CÁC XÃ VEN BIỂN TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN AN BIÊN, TỈNH KIÊN GIANG

TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2017

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

-

BÙI THANH NHÀN

ĐÁNH GIÁ SỰ THAY ĐỔI CHI PHÍ VÀ HIỆU QUẢ SẢN XUẤT LÚA NĂM 2013 VÀ 2016 CÁC XÃ VEN BIỂN TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN AN BIÊN, TỈNH KIÊN GIANG

Chuyên ngành: Quản lý kinh tế

Mã số: 60340410

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS TS NGUYỄN VĂN SĨ

TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2017

Trang 3

Tôi xin cam đoan, luận văn này là hoàn toàn do tôi thực hiện Các đoạn trích dẫn và nguồn số liệu sử dụng trong luận văn đều được trích nguồn và có độ chính xác cao nhất trong khả năng hiểu biết của tôi Luận văn là bài nghiên cứu chính sách của cá nhân, do đó không nhất thiết phản ánh quan điểm của Trường Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh

TP Hồ Chí Minh, ngày 05 tháng 1 năm 2018

Học viên thực hiện

Bùi Thanh Nhàn

Trang 4

MỤC LỤC

TRANG PHỤ BÌA

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG BIỂU

DANH MỤC SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ, BIỂU ĐỒ

TÓM TẮT LUẬN VĂN

CHƯƠNG 1 1

GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU 1

1.1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3

1.2.1 Mục tiêu chung 3

1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3

1.3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU 3

1.4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 3

1.4.1 Đối tượng nghiên cứu 3

1.4.2 Phạm vi nghiên cứu 3

1.5 KẾT CẤU LUẬN VĂN 4

CHƯƠNG 2 5

CƠ SỞ LÝ THUYẾT 5

2.1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM HỘ GIA ĐÌNH NÔNG THÔN 5

2.1.1 Khái niệm nông hộ 5

2.1.2 Khái niệm về kinh tế hộ nông dân 6

2.1.3 Khái niệm hiệu quả kinh tế 7

2.1.4 Khái niệm hiệu quả sản xuất 7

Trang 5

2.2 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ SẢN XUẤT CỦA HỘ

TRỒNG LÚA 7

2.2.1 Các yếu tố đầu vào 7

2.2.1.1 Điều kiện tự nhiên 7

2.2.1.2 Những nhân tố thuộc về điều kiện kinh tế - xã hội 8

2.2.1.3 Điều kiện kỹ thuật 9

2.2.2 Các yếu tố tác động đến năng suất sản xuất trong nông nghiệp 10

2.3 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ XÂM NHẬP MẶN 11

2.3.1 Khái niệm 11

2.3.2 Những yếu tố ảnh hưởng đến xâm nhập mặn 12

2.3.3 Xâm ngập mặn ở đồng bằng Sông Cửu Long 13

2.3.4 Những tác động của xâm ngập mặn ở đồng bằng Sông Cửu Long 17

2.4 CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 20

2.4.1 Các nghiên cứu ngoài nước 20

2.4.2 Các nghiên cứu trong nước 21

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 22

CHƯƠNG 3 23

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23

3.1 QUY TRÌNH NGHIÊN CỨU 23

3.2 DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU 24

3.2.1 Dữ liệu thứ cấp 24

3.2.2 Dữ liệu sơ cấp 24

3.3 CÁC CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH 25

3.4 PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH SỐ LIỆU 25

3.4.1 Quy trình sàng lọc và xử lý dữ liệu 25

3.4.2 Phân tích thống kê mô tả 25

Trang 6

3.4.3 So sánh trung bình mẫu 26

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 27

CHƯƠNG 4 28

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 28

4.1 TỔNG QUAN VỀ HUYỆN AN BIÊN 28

4.1.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội 28

4.1.2 Các mô hình sản xuất nông nghiệp 30

4.1.3 Tình trạng xâm ngập mặn trên địa bàn huyện An Biên 32

4.2 THỐNG KÊ MÔ TẢ MẪU KHẢO SÁT 34

4.2.1 Đặc điểm chủ hộ 34

4.2.2 Đặc điểm hộ gia đình 36

4.3 SO SÁNH HIỆU QUẢ SẢN XUẤT LÚA NĂM 2016 VÀ 2013 38

4.3.1 Các khoản mục chi phí 38

4.3.2 Hiệu quả kinh tế 39

KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 41

CHƯƠNG 5 42

KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý GIẢI PHÁP 42

5.1 KẾT LUẬN 42

5.2 HÀM Ý GIẢI PHÁP 43

5.2.1 Đối với UBND tỉnh Kiên Giang 43

5.2.2 Đối với UBND huyện An Biên 44

5.2.3 Đối với hộ nông dân 44

5.3 HẠN CHẾ CỦA ĐỀ TÀI VÀ HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIẾP THEO 45 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC SỐ LIỆU

Trang 7

TNMT: Tài nguyên môi trường

UBND: Ủy ban nhân dân

UNDP: Chương trình phát triển của Liên hiệp quốc

Trang 8

Bảng 4.4: Mô tả chi phí năm 2016 so với 2013 38

Trang 9

DANH MỤC SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ, BIỂU ĐỒ

Hình 4.1: Bảng đồ hành chính huyện An Biên 28

Biểu đồ 4.2: Diện tích sản xuất lúa hai vụ 31

Biểu đồ 4.4: Diện tích và sản lượng mô hình tôm lúa 32 Biểu đồ 4.5: Giới tính và dân tộc chủ hộ 34

Trang 10

TÓM TẮT LUẬN VĂN

Đánh giá bối cảnh tổn thương, cho thấy tác động ảnh hưởng của hạn hán, xâm nhập mặn làm giảm diện tích sản xuất trồng lúa, gây thất mùa, thiếu nước sinh hoạt, giảm thu nhập của người dân Từ bối cảnh đó, hộ nông dân trên địa bàn huyện An Biên đã tìm được chiến lược sinh kế bằng việc chuyển đổi mô hình trồng lúa hai vụ sang mô hình tôm lúa

Tác giả chọn mẫu 80 hộ nông dân sản xuất lúa thuộc các xã ven biển trên địa bàn huyện An Biên bằng phương pháp chọn mẫu phi xác suất, để thu thập các thông tin phục vụ cho việc so sánh hiệu quả kinh tế của hai giai đoạn 2016

so với năm 2013 để thấy được sự ảnh hưởng của việc xâm nhập mặn đến hiệu quả sản xuất lúa của nông hộ Thống kê mô tả đặc điểm chủ hộ và đặc điểm hộ gia đình gồm giới tính chủ hộ, dân tộc chủ hộ, tuổi chủ hộ, học vấn chủ hộ, tham gia hội nông dân, qui mô hộ gia đình, thu nhập bình quân đầu người trong năm, chi tiêu bình quân đầu người trong năm, diện tích sản xuất, kinh nghiệm sản xuất, số lần tập huấn trong năm Thực hiện kiểm định trung bình các đặc điểm nêu trên, kết quả cho thấy không có sự khác biệt giữa hai nhóm hộ với mức ý nghĩa 1%

Mô tả các khoản chi phí sản xuất của hộ ở hai mô hình gồm chi phí giống, chí phí phân bón, chi phí thuốc, chi phí làm đất, chi phí nhiên liệu, chi phí dặm lúa, chi phí chăm sóc, chi phí thu hoạch và chi phí khác Phân tích các khoản chi phí cho thấy, chi phí sản xuất năm 2016 đều cao hơn so với năm 2013

Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sản xuất như tổng chi phí sản xuất, năng suất, giá bán, doanh thu, lợi nhuận, LN/TCP, LN/TDT cũng được mô tả theo từng mô hình So sánh hiệu quả sản xuất cho thấy tổng chi phí sản xuất năm

2016 cao hơn so với năm 2013 Kiểm định trung bình sự chênh lệch của các tiêu chí đánh giá hiệu quả sản xuất gồm tổng chi phí, doanh thu, lợi nhuận, LN/TCP, LN/TDT cho thấy, các chênh lệch đều có ý nghĩa thống kê Điều này càng chứng tỏ, sản xuất lúa năm 2016 kém hiệu quả hơn so với năm 2013 Đây là

Trang 11

bằng chứng quan trọng để có cơ sở đề xuất các giải pháp giúp hộ nông dân thấy được những ảnh hưởng của tình trạng xâm nhập mặn

Trang 12

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU

1.1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Biến đổi khí hậu (BĐKH) nói chung và tình hình xâm nhập mặn nói riêng đang ngày càng ảnh hưởng một cách rõ rệt trong sản xuất nông nghiệp Việt Nam là quốc gia đang phát triển lao động nông nghiệp còn chiếm tỷ lệ lớn, vai trò của nông nghiệp đối với nền kinh tế đất nước rất quan trọng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) gồm 13 tỉnh và thành phố, trong đó có 11 tỉnh sát biển Theo báo cáo của Tổng cục thống kê năm 2016, ĐBSCL có diện tích khoảng 40.000km², chiếm 12,3% diện tích của cả nước Những năm gần đây, diễn biến xâm nhập mặn ở ĐBSCL phức tạp, bất thường, năm sớm năm muộn so với cùng

kỳ nhiều năm Năm 2011, xâm nhập mặn sớm hơn, từ giữa tháng 2, nhiều địa phương vùng ĐBSCL, Tây Nguyên đã phải đối phó với hạn hán và đặc biệt là tình trạng nước mặn xâm nhập Tại một số tỉnh ven biển ĐBSCL, nước biển xâm nhập sâu vào các sông rạch khiến các dòng sông bị nhiễm mặn sớm, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống người dân và hoạt động nông nghiệp Đặc biệt, những tháng đầu năm 2016, diễn biến xâm nhập mặn tại ĐBSCL được đánh giá nặng nề nhất trong 100 năm qua và dự báo còn diễn biến xấu hơn trong những năm tiếp theo Trên cơ sở đó, Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định số 1397/QĐ-TTg về Quy hoạch phát triển thủy lợi ĐBSCL giai đoạn 2012 - 2020

và định hướng đến 2050 trong điều kiện biến đổi khí hậu, nước biển dâng đã đặt mục tiêu đến năm 2050 cần đảm bảo an toàn dân sinh, sản xuất, cơ sở hạ tầng cho khoảng 32 triệu dân và chủ động ứng phó với các tác động của biến đổi khí hậu như nước biển dâng, xâm nhập mặn

Kiên Giang nằm tận cùng phía Tây Nam của Tổ quốc và thuộc vùng đồng bằng sông Cửu Long, là tỉnh sản xuất lương thực và thủy sản trọng điểm của cả nước Với hơn 200 km bờ biển và có hàng trăm cửa sông, kênh rạch thoát nước

ra biển Tây Kiên Giang giữ một vai trò quan trọng trong nền kinh tế vùng đồng

Trang 13

bằng sông Cửu Long Địa thế tỉnh Kiên Giang là một hệ thống hở, thấp, chịu tác động của chế độ thủy văn, chịu ảnh hưởng bởi 3 yếu tố: thủy triều vịnh Thái Lan, chế độ thủy văn của sông Hậu và mưa tại chỗ, chính các yếu tố này tạo nên

sự phức tạp trong môi trường, đặc biệt là vấn đề xâm nhập mặn từ biển Tây đã gây không ít khó khăn cho sinh hoạt và sản xuất, sự hạn chế về nguồn nước ngọt tại các địa phương ven biển.Nhận thấy những khó khăn, thách thức của BĐKH tác động đến tỉnh, đặc biệt đối với dải ven biển, vùng trũng thấp và các hải đảo; UBND tỉnh đã phê duyệt Kế hoạch hành động ứng phó với BĐKH giai đoạn 2012-2020 và tầm nhìn đến năm 2050 Theo Kế hoạch đề ra trong thời gian đầu tập trung cho công tác nâng cao nhận thức cộng đồng về BĐKH, làm sao đến cuối năm 2015 có khoảng 30% cộng đồng dân cư và trên 65% công chức, viên chức nhà nước có hiểu biết cơ bản về BĐKH và các tác động của nó Đến cuối năm 2020 có trên 80% cộng đồng dân cư và 100% công chức, viên chức nhà nước có hiểu biết về BĐKH (Báo cáo của Sở Công thương năm 2015)

Huyện An Biên là huyện vùng sâu, vùng xa, là huyện của ngõ của vùng U Minh Thượng thuộc tỉnh Kiên Giang, có bờ biển dài trên 21km, kinh tế chủ yếu

là Nông nghiệp có trên 80% dân số sống bằng sản xuất nông nghiệp Huyện có

8 xã và 1 thị trấn, diện tích 40.029 ha, Diện tích dùng để trồng lúa 27.431 ha, dân số 125.600 người Trong những năm qua, trên địa bàn huyện An Biên tình trạng xâm nhập mặn ngày càng sâu vào đất sản xuất nông nghiệp, ảnh hưởng đến sản xuất nói chung mà đặc biệt là ảnh hưởng nhiều đến năng suất lúa của hộ gia đình các xã ven biển, làm cho đời sống nhân dân gặp rất nhiều khó khăn Việc phân tích tác động của xâm nhập nặng đến sinh kế của hộ sản xuất lúa tại huyện An Biên là việc làm cần thiết, góp phần quan trọng để đề xuất các giải pháp giúp chính quyền địa phương có những giải pháp hợp lý trong quy hoạch sản suất lúa, hỗ trợ nguồn vốn giúp hộ nông dân yên tâm canh tác, phát triển sản xuất theo hướ ng thích ứng với BĐKH góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế địa

phương Từ thực tế đó, tác giả quyết định chọn đề tài: “Đánh giá sự thay đổi chi

phí và hiệu quả sản xuất lúa năm 2013 và 2016 các xã ven biển trên địa bàn

huyện An Biên, Kiên Giang” để nghiên cứu

Trang 14

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1.2.1 Mục tiêu chung

Đánh giá sự thay đổi chi phí và hiệu quả sản xuất lúa năm 2013 và 2016 các xã ven biển trên địa bàn huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm ổn định sản xuất, cải thiện thu nhập, nâng cao đời sống của hộ gia đình các xã ven biển trên địa bàn huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang

1.2.2 Mục tiêu cụ thể

Từ mục tiêu chung nói trên, tác giả Luận văn xác định các mục tiêu cụ thể như sau:

Thứ nhất, phân tích thực trạng ảnh hưởng của tình trạng xâm nhập mặn

đến chi phí và hiệu quả sản xuất lúa năm 2013 và 2016 của các hộ gia đình ven biển tại huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang

Thứ hai, đề xuất một số giải pháp nhằm cải thiện điều kiện sản xuất, đề

xuất các mô hình mới nhằm giúp hộ gia đình nâng cao thu nhập, góp phần ổn định kinh tế tại địa phương

1.3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU

Câu hỏi 1: Thực trạng ảnh hưởng của tình trạng xâm nhập mặn đến chi phí và hiệu quả sản xuất lúa năm 2013 và 2016 của các hộ gia đình ven biển tại huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang hiện nay như thế nào?

Câu hỏi 2: Các giải pháp nào giúp hộ gia đình ven biển ổn định sản xuất trong điều kiện xâm nhập mặn như hiện nay?

1.4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

1.4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tác động của xâm nhập mặn đến sản xuất lúa của các hộ gia đình ven biển

1.4.2 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài thực hiện tại 4 xã vùng ven biển là Tây Yên, Nam Yên, Nam Thái

và Nam Thái A của huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang vì nơi đây có bờ biển dài

trên 21 km và có nhiều hộ bị ảnh hưởng xâm nhập mặn làm giảm năng suất lúa

Nghiên cứu được thực hiện trong vòng 3 tháng từ tháng 9 đến tháng 12 năm

Trang 15

2017 số liệu thứ cấp được lấy từ các báo cáo và Niên giám thống kê tỉnh Kiên Giang giai đoạn 2012 – 2016

1.5 KẾT CẤU LUẬN VĂN

Luận văn gồm 5 chương cụ thể như sau:

Chương 1 Giới thiệu nghiên cứu Chương này trình bày lý do chọn đề tài

nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, kết cấu luận văn

Chương 2 Cơ sở lý thuyết Chương này trình bày cơ sở lý thuyết về biến

đổi khí hậu và ảnh hưởng của nó đối với sản xuất nông nghiệp Tổng hợp các nghiên cứu liên quan đến đề tài

Chương 3 Phương pháp nghiên cứu Chương này trình bày về chọn điểm

nghiên cứu, phương pháp thu thập số liệu, phương pháp phân tích dữ liệu

Chương 4 Kết quả nghiên cứu Chương này trình bày tổng quan về sản

xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện An Biên Phân tích tác động của tình trạng xâm nhập mặn đến sản xuất lúa của hộ gia đình các xã ven biển trên địa bàn huyện An Biên

Chương 5 Kết luận và kiến nghị giải pháp Chương này trình bày những

kết quả chính đạt được trong đề tài, các hàm ý giải pháp giúp hộ gia đình các xã ven biển trên địa bàn huyện An Biên cải thiện điều kiện sản xuất, lựa chọn mô hình phù hợp, góp phần nâng cao thu nhập của hộ gia đình

Trang 16

CHƯƠNG 2

CƠ SỞ LÝ THUYẾT

2.1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM HỘ GIA ĐÌNH NÔNG THÔN

2.1.1 Khái niệm nông hộ

Trên thế giới nhiều khái niệm về hộ nông dân:

Ellis (1988) định nghĩa "Hộ nông dân là các hộ gia đình làm nông nghiệp,

tự kiếm kế sinh nhai trên những mảnh đất của mình, sử dụng chủ yếu sức lao động của gia đình để sản xuất, thường nằm trong hệ thống kinh tế lớn hơn, nhưng chủ yếu đặc trưng bởi sự tham gia cục bộ vào các thị trường và có xu

hướng hoạt động với mức độ không hoàn hảo cao"

Nhà nông học Nga - Traianốp (1925) cho rằng "Hộ nông dân là đơn vị sản xuất rất ổn định, là đơn vị tuyệt vời để tăng trưởng và phát triển nông nghiệp" Luận điểm trên của ông đã được áp dụng rộng rãi trong chính sách nông nghiệp tại nhiều nước trên thế giới, kể cả các nước phát triển (trích bởi Vương Quốc Duy và Đặng Hoàng Trung, 2015)

Ở nước ta, có nhiều tác giả đề cập đến khái niệm hộ nông dân Theo nhà khoa học Lê Đình Thắng (1993) cho rằng: "Nông hộ là tế bào kinh tế xã hội, là hình thức kinh tế cơ sở trong nông nghiệp và nông thôn" Đào Thế Tuấn (1997) cho rằng: “Hộ nông dân là những hộ chủ yếu hoạt động nông nghiệp theo nghĩa rộng, bao gồm cả nghề rừng, nghề cá và hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn”

Còn theo nhà khoa học Nguyễn Sinh Cúc (2001), trong phân tích điều tra nông thôn năm 2001 cho rằng: "Hộ nông nghiệp là những hộ có toàn bộ hoặc 50% số lao động thường xuyên tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp các hoạt động trồng trọt, chăn nuôi, dịch vụ nông nghiệp (làm đất, thuỷ nông, giống cây trồng, bảo vệ thực vật, ) và thông thường nguồn sống chính của hộ dựa vào nông nghiệp"

Tuy có nhiều quan niệm về nông hộ nhưng nhìn chung nông hộ là hình thức tổ chức cơ sở của nông nghiệp ở nông thôn đã tồn tại từ lâu đời ở các nước

Trang 17

nông nghiệp Nông hộ bao gồm chủ yếu cha mẹ và con cái, có hộ còn có ông bà

và cháu chắt Hộ nông dân có thể chuyên trồng trọt, làm nghề rừng, chăn nuôi hoặc nuôi trồng thủy sản

Trong cấu trúc nội tại của nông hộ, các thành viên cùng huyết tộc là chủ thể đích thực của hộ nên ở nông hộ có sự thống nhất chặt chẽ giữa việc sở hữu, quản lý, sử dụng các yếu tố sản xuất, có sự thống nhất giữa quá trình sản xuất, trao đổi, phân phối, sử dụng và tiêu dùng trong một đơn vị kinh tế Do đó, nông

hộ có thể thực hiện cùng một lúc nhiều chức năng mà các đơn vị khác không thể

có được Bản thân mỗi nông dân là một tế bào xã hội, là một đơn vị sản xuất và tiêu dùng, đơn vị tiêu dùng xét cả khía cạnh cho tiêu dùng cho sản xuất và tiêu

dùng cho sinh hoạt

2.1.2 Khái niệm về kinh tế hộ nông dân

Theo Ellis (1988), kinh tế hộ nông dân là kinh tế của những hộ gia đình

có quyền sinh sống trên các mảnh đất đai, sử dụng chủ yếu sức lao động gia đình Sản xuất của họ thường nằm trong hệ thống sản xuất lớn hơn và tham gia ở mức độ không hoàn hảo và hoạt động thị trường

Từ khái niệm trên, có thể thấy kinh tế hộ nông dân là hình thức kinh tế có quy mô gia đình, các thành viên có mối quan hệ gắn bó với nhau về kinh tế cũng như huyết thống Mức độ phát triển của kinh tế hộ nông dân bao gồm kinh tế hộ sinh tồn, kinh tế hộ tự cấp tự túc và kinh tế hộ sản xuất hàng hóa Trong sản xuất nông nghiệp của nông dân, đất là yếu tố quan trọng nhất trong các tư liệu sản xuất của hộ nông dân, đời sống của học chủ yếu dựa vào đất sản xuất Giải quyết mối quan hệ giữa nông dân và đất đai là giải quyết vấn đề cơ bản về kinh tế nông hộ Mặt khác, trong sản xuất người dân sử dụng lao động gia đình là chính, thuê mướn thêm nhân công chỉ là nhu cầu tạm thời Kinh tế hộ nông dân có quan hệ với thị trường, tuy nhiên mức độ quan hệ còn thấp, chưa gắn chặt với thị trường Nếu tách họ ra khỏi thị trường thì họ vẫn tồn tại

Trang 18

2.1.3 Khái niệm hiệu quả kinh tế

Hiệu quả kinh tế phản ánh mối quan hệ tỷ số giữa đầu ra với đầu vào được sử dụng đầu vào có thể tính theo số lao động, vốn hay thời gian lao động hao phí, chi phí thường xuyên Đầu ra thường dùng giá trị tăng thêm (Lê Dân, 2007)

Hoàng Hùng (2007) cho rằng hiệu quả kinh tế được xem như là tỷ lệ giữa kết quả thu được với chi phí bỏ ra Nó được tính toán khi kết thúc một quá trình sản xuất kinh doanh

2.1.4 Khái niệm hiệu quả sản xuất

Hiệu quả sản xuất là việc xem xét và lựa chọn thứ tự ưu tiên các nguồn lực sao cho đạt được kết quả tốt nhất Để đạt được hiệu quả sản xuất thì người nông dân phải chú ý đến ba yếu tố: (1) không sử dụng nguồn lực lãng phí; (2)

sản xuất với chi phí thấp nhất; (3) sản xuất để đáp ứng nhu cầu con người

2.2 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ SẢN XUẤT CỦA HỘ TRỒNG LÚA

2.2.1 Các yếu tố đầu vào

2.2.1.1 Điều kiện tự nhiên

Trích theo nghiên cứu của Trần Thị Mỹ Dung (2015), cho thấy ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên trong sản xuất nông nghiệp bao gồm đất đai, khí hậu, nguồn nước

Đất đai: giữ vai trò quan trọng trong sản xuất nông nghiệp Đất đai là cơ

sở tự nhiên, là tiền đề đầu tiên của mọi quá trình sản xuất Đất đai tham gia hầu hết vào các quá trình sản xuất của xã hội nhưng tùy thuộc vào từng ngành, lĩnh vực cụ thể, từng vị trí tọa lạc mà vai trò của đất đai có sự chênh lệch lớn về giá trị kinh tế cũng như điều kiện sản xuất kinh doanh Nếu trong công nghiệp, thương mại, giao thông, đất đai là sơ sở, nền móng để xây dựng nhà xưởng, cửa hàng, mạng lưới đường giao thông… thì ngược lại trong nông nghiệp, đất đai tham gia với tư cách là yếu tố tích cực của sản xuất và là tư liệu sản xuất chủ yếu không thể thay thế được

Trang 19

Điểm cơ bản cần đánh giá mức độ thuận lợi hay khó khăn của đất đai là phải gắn với từng loại cây trồng cụ thể Rất có thể một đặc điểm nào đó của đất đai là không phù hợp cho loại cây trồng này nhưng lại là thuận lợi cho loại cây trồng khác phát triển Đồng thời cũng cần xem xét trong từng thời vụ cụ thể trong năm về ảnh hưởng của đất đai đối với sản xuất một loại cây trồng cụ thể

Khí hậu: nhiệt độ bình quân hàng năm, hàng tháng; nhiệt độ cao nhất,

thấp nhất hàng năm, hàng tháng; lượng mưa hàng năm, hàng tháng, lượng mưa bình quân cao nhất, thấp nhất trong thời kỳ quan trắc; thời gian chiếu sáng, cường độ chiếu sáng; chế độ gió; những hiện tượng đặc biệt của khí hậu như biến đổi khí hậu, xâm nhập mặn, sương muối, mưa đá, mưa trái mùa, tuyết rơi, sương mù v.v…đều phải được phân tích, đánh giá về mức độ ảnh hưởng của từng loại cây trồng cụ thể

Nguồn nước: trong lĩnh vực nông nghiệp, nước tưới được xem là yếu tố

quan trọng Việc tưới đúng phương pháp, kỹ thuật có tác dụng nâng cao năng suất cây trồng (Lê Ngọc Báu, 1999) Để xây dựng một chế độ nước tưới hợp lý cần tính toán đến yêu cầu sinh lý của cây, điều kiện khí hậu thời tiết, lượng mưa từng vùng, đặc điểm của đất v.v…

2.2.1.2 Những nhân tố thuộc về điều kiện kinh tế - xã hội

Mật độ dân cư, lao động ảnh hưởng rất lớn đến cơ cấu, sự phân bố, phát triển cây trồng, vật nuôi (là lực lượng lao động, tiêu thụ, quan trọng để phát triển nông nghiệp)

Sở hữu ruộng đất: Nhiều, ít, lớn nhỏ anh hưởng đến đường lối phát

triển, các hình thức tổ chức lãnh thổ để phát triển nông nghiệp

Tiến bộ khoa học kĩ thuật: Ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng, sản

lượng

Thị trường tiêu thụ: Ảnh hưởng đến giá cả, điều tiết sản xuất, hướng

chuyên môn hóa

Trang 20

2.2.1.3 Điều kiện kỹ thuật

Cũng theo nghiên cứu của Trần Thị Mỹ Dung (2015), các điều kiện kỹ thuật ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp bao gồm giống cây trồng, vật nuôi,

kỹ thuật canh tác, công nghệ, vốn, lao động và phân bón

Giống cây trồng, vật nuôi: Các loại giống cây, con có năng suất cao,

chất lượng sản phẩm tốt cho phép tăng qui mô sản lượng hàng hoá Các loại giống mới có sức kháng chịu dịch bệnh cao giúp ổn định năng suất cây trồng, vật nuôi; ổn định sản lượng sản phẩm hàng hoá

Kỹ thuật canh tác: Trình độ ứng dụng quy trình kỹ thuật tiên tiến cũng

góp phần làm tăng năng suất cây trồng Hiện nước ta đã và đang đầu tư cho đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật, đầu tư các trung tâm nghiên cứu, hệ thống khuyến nông nên đã rút ngắn được thời gian chuyển tải kỹ thuật mới từ nơi nghiên cứu đến người nông dân

Công nghệ: Nghiên cứu, tham khảo các công trình ứng dụng khoa học

công nghệ đi trước rút kinh nghiệm áp dụng phù hợp điều kiện kinh tế xã hội và

tư nhiên của địa phương để sản xuất; công nghệ sau thu hoạch, bảo quản và chế biến sản phẩm được xem là đầu vào quan trọng làm thay đổi phương pháp sản xuất, tăng năng suất lao động Ứng dụng công nghệ mới vào sản xuất sẽ nâng cao quy mô sản lượng, chất lượng sản phẩm, tiết kiệm lao động, chi phí sản xuất thấp do đó sẽ gia tăng lợi nhuận và hiệu quả sản xuất

Vốn: vốn trong sản xuất nông nghiệp: vốn là nguồn lực hạn chế đối với

các ngành kinh tế nói chung, nông nghiệp nói riêng Vốn trong nông ngiệp là biểu hiện bằng tiền của tư liệu lao động và đối tượng lao động được sử dụng đưa vào sản xuất nông nghiệp Để phát triển một nền nông nghiệp bền vững, nhằm bảo đảm an toàn lương thực quốc gia, đa dạng hóa nông nghiệp thì vấn đề đầu tiên, mang tính quyết định là vốn Vốn có vai trò quyết định đến việc hộ gia đình

có khả năng tiếp tục đầu tư vào sản xuất cũng như các trang thiết bị phương tiện

kỹ thuật hiện đại hỗ trợ cho sản xuất (Randrianarisoa và Minten, 2005)

Lao động: nguồn lao động trong nông nghiệp bao gồm toàn bộ những

người tham gia vào sản xuất nông nghiệp Nguồn lao động trong nông nghiệp là

Trang 21

yếu tố sản xuất đặc biệt tham gia vào quá trình sản xuất không chỉ về số lượng người lao động mà còn cả chất lượng nguồn lao động Đặc biệt là yếu tố phi vật chất của lao động như trình độ, kỹ năng, kiến thức, kinh nghiệm lao động được xem như yếu tố ảnh hưởng đến gia tăng sản lượng Do đó, đầu tư nâng cao chất lượng nguồn lao động chính là đầu tư làm gia tăng giá trị yếu tố đầu vào đặc biệt này

Phân bón: Theo Viện Khoa học kỹ thuật nông lâm nghiệp Tây Nguyên

(1999), lượng phân bón và kỹ thuật bón phân đã trở thành một biện pháp quyết định đến năng suất cây công nông nghiệp Bón phân sẽ nâng cao được năng suất, phẩm chất, hiệu quả kinh tế đồng thời giúp cây lúa khỏe, cứng cây, chống

đổ ngã, tạo điều kiện cho máy gặt làm việc thuận lợi, có năng suất cao, giảm thất thoát trong và sau thu hoạch

2.2.2 Các yếu tố tác động đến năng suất sản xuất trong nông nghiệp

Theo Nguyễn Thị Cành (2004), các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất trong sản xuất nông nghiệp gồm:

Cơ giới hóa: sử dụng các máy móc, thiết bị trong sản xuất

Kết hợp sinh học: việc sử dụng các yếu tố như giống, nước, lượng mưa,

phân bón, thuốc trừ sâu v.v…có thể cho phép nâng cao và tạo khả năng nâng cao sản lượng nông nghiệp

Đất đai: đất canh tác, quyền sử dụng đất trong nông nghiệp có tác động

đến quyền lợi của nông dân Nông dân thường làm việc có năng suất cao hơn khi họ có quyền lợi trực tiếp trên đất canh tác Bởi vì họ biết rằng làm gia tăng sản lượng sẽ làm gia tăng thu nhập cho họ

Lao động nông nghiệp: Một trong những khó khăn khi muốn nâng cao

thu nhập là việc phân chia lao động theo giới tính, thường thì người phụ nữ là tăng một nữa sản lượng nông nghiệp ở các nước đang phát triển, trong khi đó nam giới là người có quyền quyết định các nguồn lực sản xuất nông nghiệp Lao động nông nghiệp thường không có chuyên môn, họ có thể trồng trọt, chăm sóc con cái, nhà cửa và làm những công việc khác khi mùa vụ đã qua

Trang 22

Vốn: rất cần thiết để đầu tư phát triển nhằm nâng cao năng suất Việc

thiếu vốn hoặc chi phí cao khiến nông dân ngại không dám đầu tư, ứng dụng kỹ thuật mới vì sợ rủi ro

Khuyến nông: Trình độ chuyển giao các kỹ thuật mới, áp dụng các loại

giống mới và các phương pháp sản xuất mới cho năng suất cao có ảnh hưởng quan trọng đối với người dân Thông thường các kinh nghiệm sản xuất người dân học hỏi lẫn nhau (tuy nhiên cần chú ý điều kiện hai người có giống nhau không) Lúc này vai trò của cán bộ khuyến nông, các Trung tâm khuyến nông, các chương trình khuyến nông hỗ trợ người nông dân rất nhiều

Các yếu tố xã hội: bao gồm trình độ kỹ thuật của nông dân, tổ chức sản

xuất, cơ cấu xã hội, đặc điểm văn hóa, sắc tộc v.v…Đây là những yếu tố quan trọng tác động lớn đến năng suất cây trồng Trình độ của nông dân (trình độ thâm canh của nông dân, trình độ tiếp thu và ứng dụng khoa học kỹ thuật trong nông nghiệp, kinh nghiệm trong sản xuất)

Các yếu tố tự nhiên: bao gồm yếu tố giống (mỗi giống khác nhau sẽ cho

năng suất khác nhau), sinh vật, thời tiết (mưa, nắng thuận mùa hoặc trái mùa), khí hậu, biến đổi khí hậu (nước, ánh sáng, nhiệt độ, không khí là những yếu tố sinh thái ảnh hưởng quan trọng đến sự phát triển của cây trồng, vật nuôi), địa hình, vị trí đất, loại đất (đất là một nhân tố sinh thái đặc biệt quan trọng với các sinh vật trên cạn Các đặc trưng được quan tâm của đất như cấu trúc, nước trong đất, độ chua, thành phần cơ giới, độ phì nhiêu Chế độ ẩm, độ thoáng khí, nhiệt

độ và cấu trúc lớp đất mặt ảnh hưởng đến sự phân bố của các loài), yếu tố phân bón

2.3 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ XÂM NHẬP MẶN

2.3.1 Khái niệm

Nước ngọt là nguồn tài nguyên khan hiếm Theo Tổ chức Khí tượng Thế giới, chỉ có 2,5% tổng lượng nước trên trái đất là nước ngọt, phần còn lại là nước mặn Nguồn nước ngọt lớn nhất nằm dưới lòng đất và một phần nước mặt nằm rải rác ở nhiều khu vực trên thế giới Nước ngầm được sử dụng rộng rãi để

bổ sung cho nguồn nước mặt nhằm đáp ứng nhu cầu nước ngày càng tăng Tuy

Trang 23

nhiên, một trong những vấn đề đối với hệ thống nước ngầm ở những vùng ven biển chính là xâm nhập mặn Xâm nhập mặn là quá trình thay thế nước ngọt trong các tầng chứa nước ở ven biển bằng nước mặn do sự dịch chuyển của khối nước mặn vào tầng nước ngọt Xâm nhập mặn làm giảm nguồn nước ngọt dưới lòng đất ở các tầng chứa nước ven biển do cả hai quá trình tự nhiên và con người gây ra

Theo Trung tâm phòng tránh và giảm nhẹ thiên tai, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn: Xâm nhập mặn là hiện tượng nước mặn với nồng độ mặn bằng 4‰ xâm nhập sâu vào nội đồng khi xảy ra triều cường, nước biển dâng hoặc cạn kiệt nguồn nước ngọt

Xâm nhập mặn là vấn đề nghiêm trọng đối với nhiều chính quyền địa phương, vấn đề này đã được nỗ lực giải quyết trong bối cảnh đang diễn ra biến đổi khí hậu như nước biển dâng, tăng nhiệt độ, khai thác nước ngầm quá mức để đáp ứng nhu cầu nước cho phát triển, những nguyên nhân này đang làm tăng nguy cơ xâm nhập mặn

2.3.2 Những yếu tố ảnh hưởng đến xâm nhập mặn

Trong tự nhiên, bề mặt phân cách giữa nước ngọt và nước mặn hiếm khi

ổn định Quá trình bổ sung nước hoặc khai thác nguồn nước ngầm đều dẫn đến

sự dịch chuyển bề mặt phân cách giữa nước ngọt và nước mặn từ vị trí này sang

vị trí khác Sự dịch chuyển đó có thể làm mực nước dâng lên hoặc hạ xuống tùy thuộc vào việc nước ngọt đổ vào tầng ngậm nước tăng hay giảm Do đó, sự thay đổi lượng nước ngầm gây ảnh hưởng trực tiếp đến xâm nhập mặn Tình trạng này sẽ tăng nhanh hơn nếu giảm bổ sung nước ngầm

Những thay đổi do biến đổi khí hậu như lượng mưa và nhiệt độ, thay đổi mục đích sử dụng đất cũng có thể làm thay đổi đáng kể tốc độ bổ sung nước ngầm cho các hệ thống tầng ngậm nước, gây ảnh hưởng đến quá trình xâm nhập mặn

Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu

Biến đổi khí hậu có thể ảnh hưởng sâu sắc đến chu trình thủy văn thông qua thay đổi mô hình lượng mưa, lượng nước bốc hơi và độ ẩm của đất Lượng

Trang 24

mưa có thể tăng hoặc giảm và phân bố không đồng đều trên toàn cầu Hiện tượng này sẽ làm thay đổi lượng nước ngầm được bổ sung, đồng thời thay đổi tốc độ xâm nhập mặn vào tầng ngậm nước ven biển Vì vậy, thông tin về các tác động của biến đổi khí hậu ở địa phương hoặc khu vực, các quá trình thủy văn và tài nguyên nước ven biển trở nên rất quan trọng

Ảnh hưởng của quá trình thay đổi mục đích sử dụng đất

Các hoạt động thay đổi mục đích sử dụng đất và quản lý đất cũng có thể làm thay đổi trực tiếp đến hệ thống thủy văn, chế độ bốc hơi nước và dòng chảy

Do đó, sử dụng đất cũng đóng vai trò quan trọng trong việc đánh giá nguồn nước ngầm

Đối với các cửa sông tiếp giáp với biển, hiện tượng xâm nhập mặn từ biển vào các sông xảy ra khá phổ biến, đặc biệt vào mùa khô Khi đó lượng nước từ sông đổ ra biển giảm, thủy triều từ biển sẽ mang nước mặn lấn sâu vào lòng sông làm cho nước sông bị nhiễm mặn Nồng độ mặn sẽ giảm dần khi càng tiến

sâu vào đồng bằng

Mức độ xâm nhập mặn vào sâu trong nội đồng phụ thuộc vào nhiều yếu tố:

- Lượng nước từ thượng nguồn đổ về, lưu lượng càng giảm, nước mặn

càng tiến sâu vào đất liền

- Biên độ triều vùng cửa sông: vào giai đoạn triều cường, nước mặn càng

lấn sâu vào

- Địa hình: Địa hình bằng phẳng là yếu tố thuận lợi cho sự xâm nhập mặn

- Các yếu tố khí tượng: Gió từ biển hướng vào đất liền, nhiệt độ cao, mưa

ít, sẽ là tác nhân làm mặn lấn sâu vào nội địa

- Hoạt động kinh tế của con người: Nhu cầu sử dụng nước ngọt vào mùa

khô tăng sẽ làm giảm nguồn nước ngầm, làm tăng nguy cơ xâm nhập mặn

2.3.3 Xâm ngập mặn ở đồng bằng Sông Cửu Long

Với diện tích lưu vực 795.000 km2 và tổng lượng dòng chảy năm khoảng

507 km3, sông Mê Công là một trong những dòng sông lớn trên thế giới, xếp thứ 14 về tổng lượng dòng chảy năm và thứ 6 về chiều dài sông Bắt nguồn từ

Trang 25

độ cao trên 5.000 m so với mặt biển ở sườn phía tây bắc dãy núi Đương Cổ La thuộc địa phận huyện Tra Đa, tỉnh Thanh Hải, Trung Quốc Sông chảy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam trên hành trình khoảng 4.880 km qua lãnh thổ của

6 nước là: Trung Quốc, Myanma, Lào, Thái Lan, Cămpuchia và Việt Nam rồi đổ

ra Biển Đông Chiều dài sông chính nằm trong lãnh thổ Việt Nam là 230 km

Từ hạ lưu Phnôm Pênh đến biển được coi là châu thổ sông Mê Công ĐBSCL thuộc lãnh thổ Việt Nam là phần cuối giáp biển của đồng bằng châu thổ sông Mê Công, được giới hạn bởi vịnh Thái Lan ở phía Tây Nam, biển Đông ở phía Nam và Đông Nam, sông Vàm Cỏ Tây ở phía Đông Bắc và Cămpuchia ở phía Bắc, với diện tích 4 triệu ha, bao gồm địa phận của 13 tỉnh, thành là: Long

An, Tiền Giang, Đồng Tháp, Trà Vinh, Hậu Giang, Sóc Trăng, Bến Tre, An Giang, Kiên Giang, Bạc Liêu, Cà Mau và Thành phố Cần Thơ, trong đó bao gồm một phần lưu vực sông Vàm Cỏ Tây trên địa phận tỉnh Long An

Do vị trí địa lý, ĐBSCL chịu ảnh hưởng của thủy triều từ cả biển Đông và biển Tây Trong mùa cạn, khi lưu lượng nước ở thượng lưu đổ về giảm, thủy triều ảnh hưởng mạnh lên thượng lưu và hệ thống kênh rạch nội đồng, dẫn theo nước mặn xâm nhập sâu cả trên sông và nội đồng Theo thống kê, có trên 50% diện tích ĐBSCL (39.330 km2) bị nhiễm mặn, gồm địa phận các tỉnh: Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau và Kiên Giang Trên cơ sở số liệu tại các trạm đo mặn và số liệu điều tra khảo sát mặn ở vùng cửa sông Tiền - sông Hậu (các tỉnh Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, và một phần Sóc Trăng), sông Vàm Cỏ (tỉnh Long An), vùng bán đảo cà mau (tỉnh Sóc Trăng, Bạc Liêu và Cà Mau) và vùng ven biển Tây (tỉnh Kiên Giang và một phần tỉnh Cà Mau), có thể chia ĐBSCL ra các vùng chịu ảnh hưởng của xâm nhập mặn như sau:

Vùng ven sông Vàm Cỏ thuộc địa phận tỉnh Long An

Hiện trạng xâm nhập mặn vùng hai sông Vàm Cỏ từ đầu mùa khô đến đầu tháng 3 (4/3/2016), độ mặn xuất hiện lớn nhất so với cùng kỳ năm 2015 tăng từ 4,7-7,4g/l, cụ thể một số trạm chính sau:

Trang 26

- Trên dòng sông chính Vàm Cỏ, tại trạm Cầu Nổi: độ mặn lớn nhất đạt 20,3g/l (ngày 9/2/2016); so với cùng kỳ năm 2015 (15,6g/l) tăng 4,7 g/l

- Trên sông Vàm Cỏ Đông, tại trạm Bến Lức: độ mặn lớn nhất đạt 9,7 g/l (ngày8/2/2016); so với cùng kỳ năm 2015 (3,1 g/l) tăng 6,6 g/l

- Trên sông Vàm Cỏ Tây, tại trạm Tân An: độ mặn lớn nhất đạt 8,1 g/l

(ngày 8/2/2016); so với cùng kỳ năm 2015 (0,7 g/l) tăng 7,4 g/l

Vùng các cửa sông Cửu Long

Hiện tượng xâm nhập mặn vùng cửa sông Cửu Long từ đầu mùa khô đến đầu tháng 3 (ngày 4/3/2016), độ mặn xuất hiện lớn nhất so với cùng kỳ năm

Trang 27

- Tại Láng Thé, trên sông Cổ Chiên: Độ mặn lớn nhất đạt 12,4 g/l (ngày 7/2/2016); so với cùng kỳ năm 2015 (7,8 g/l) tăng 4,6 g/l

- Tại Trà Kha, trên sông Hậu: Độ mặn lớn nhất đạt 20,5 g/l (ngày 8/2/2016), so với cùng kỳ năm 2015 (14,6 g/l) tăng 5,9 g/l

- Tại Cầu Quan, trên sông Hậu: Độ mặn lớn nhất đạt 16,5 g/l (ngày 8/2/2016); so với cùng kỳ năm 2015 (10,1 g/l) tăng 6,4 g/l

- Tại Rum Rạch, trên sông Hậu: Độ mặn lớn nhất đạt 7,2 g/l (ngày 8/2/2016); so với cùng kỳ năm 2015 (4,4 g/l) tăng 2,8 g/l

Vùng các cửa sông Tiền, sông Hậu

Mặn cũng theo thủy triều từ biển Đông xâm nhập vào trong sông Độ mặn trung bình tháng và độ mặn lớn nhất trong năm thường xuất hiện trong tháng 3 hoặc tháng 4 Độ mặn cao nhất trong mỗi tháng và độ mặn lớn nhất trong thời gian quan trắc tại các vị trí khác nhau trên một dòng sông Chiều dài xâm nhập của độ mặn 4‰ khoảng 50 - 57 km, trong đó sâu nhất trên nhánh cửa Tiểu - nhánh sông có tỉ lệ phân nước nhỏ nhất

Vùng ven biển Tây gồm tỉnh Kiên Giang và một phần tỉnh Cà Mau

Hiện tượng xâm nhập mặn khu vực ven biển Tây, trên sống Cái Lớn từ đầu mùa khô đến đầu tháng 3 (ngày 4/3/2016), độ mặn xuất hiện lớn nhất so với cùng kỳ năm 2015 tăng từ 4,8 - 7,6 g/l

Tại Xẻo Rô, trên sông Cái Lớn: Độ mặn lớn nhất đạt 23,8 g/l (ngày 4/2/2016); so với cùng kỳ năm 2015 (16,2 g/l) tăng 7,6 g/l

Tại Gò Quao, trên sông Cái Lớn: Độ mặn lớn nhất đạt 11 g/l (ngày 6/2/2016); so với cùng kỳ năm 2015 (4g/l) tăng 7 g/l

Tại Cầu Cái Tư, trên sông Cái Lớn: Độ mặn lớn nhất đạt 5,5 g/l (ngày 7/2/2016); so với cùng kỳ năm 2015 (0,7 g/l) tăng 4,8 g/l

Vùng Bán đảo Cà Mau

Đây là khu vực chịu ảnh hưởng của mặn theo thủy triều ở cả biển Tây và biển Đông Mặn theo thủy triều biển Đông ngược sông Hậu và sông Mĩ Thanh ảnh hưởng trong phạm vi tỉnh Sóc Trăng; ngược sông Gành Hào ảnh hưởng tới thị xã Bạc Liêu trên kênh Cà Mau - Bạc Liêu, đến kênh Quản Lộ - Phụng Hiệp

Trang 28

Trên kênh Cà Mau - Bạc Liêu xuất hiện vùng giáp triều - mặn ở khu vực lân cận thị xã Bạc Liêu Khi triều lên, nước chảy từ Bạc Liêu về phía sông Gành Hào

Diễn biến mặn trong khu vực khá phức tạp, độ mặn lớn nhất trong thời kỳ quan trắc hầu như không xuất hiện đồng thời cùng một năm ở các vị trí khác nhau Tuy nhiên, độ mặn trung bình tháng lớn nhất xuất hiện chủ yếu trong tháng 4 hoặc tháng 5 - chậm hơn so với các khu vực khác

2.3.4 Những tác động của xâm nhập mặn ở đồng bằng Sông Cửu Long

Mặn xâm nhập vào ĐBSCL theo thuỷ triều biển Đông và biển Tây Tuỳ theo chế độ dòng chảy từ thượng nguồn sông Mê Công, điều kiện khí tượng (mưa, gió, nhiệt độ,…), hệ thống sông kênh, rạch tự nhiên của vùng cùng với những tác động của con người (xây dựng các hệ thống công trình thuỷ lợi, bố trí

cơ cấu cây trồng) mà mức độ xâm nhập vào trong sông có sự thay đổi khác nhau

Nước biển chứa khoảng 35g muối trong một lít (tức 35‰) Tiêu chuẩn độ mặn trong nước uống là < 0,25‰ Nước có độ mặn 0,14‰ thì không ảnh hưởng xấu tới hoa màu Có vài loại hoa màu chịu đựng được nước có độ mặn 0,36‰ Trên mức này, thực vật thông thường có dấu hiệu suy thoái hay bị chết Tuy nhiên, có khoảng 3.500 loài thực vật chịu đựng được nước mặn - gọi là nhóm halophytes Trong số này, thực vật trong rừng ngập mặn, đứng đầu chịu mặn là cây Mấm (Avicennia alba) Một số loài thực vật trong sa mạc cũng chịu đựng được nước mặn Lúa thông thường không thể canh tác khi nước có độ mặn quá 4‰

Các giống lúa thông thường bắt đầu có triệu chứng chậm phát triển ở độ mặn 2‰, tuy nhiên có một số giống lúa kháng mặn như CSR10 của Australia vẫn cho năng xuất khá Yêu cầu nước uống cho gia súc có độ mặn dưới 1,5‰

Cá nước ngọt có thể sống được ở trong môi trường độ mặn 15‰

Trang 29

tích Cà Mau bị nhiễm mặn 4‰, không canh tác được Năm 1999, riêng tại các tỉnh Bến Tre, Trà Vinh, Tiền Giang và Cà Mau khoảng 100.000 ha đất canh tác

bị nhiễm mặn Ngay đầu năm 2001, khi bắt đầu mùa mưa vào tháng 5, một số tỉnh ở ĐBSCL vẫn bị nước mặn ảnh hưởng

- Ảnh hưởng mặn trong mùa khô các năm 2004 - 2005:

Độ mặn có khuynh hướng gia tăng Ví dụ như độ mặn ở cùng một địa điểm thuộc Long An tăng từ 0,3‰ vào tháng 3/2002 lên 1,8‰ vào tháng 3/2004 Tại cống Cái Xe (rạch Mỹ Xuyên và thị xã Sóc Trăng), ngày 20/2/2005

độ mặn trong nước là 5,9‰ Tại cống Xuân Hoà (Gò Công), vào những năm trước đây độ mặn chỉ ở mức 2‰, nhưng những năm gần đây độ mặn đạt mức 3‰ thậm chí 5‰

- Ảnh hưởng mặn trong mùa khô các năm 2009 - 2010:

Diện tích bị nhiễm mặn ở ĐBSCL trong mùa khô bình thường thay đổi từ 1,4 và 2,0 triệu ha (riêng năm 1998, diện tích nhiễm mặn lên tới 2,8 triệu ha) Trong mùa khô năm 2010 độ mặn trong các sông ở khu vực hạ lưu ven biển ĐBSCL thay đổi từ 0,1 đến 12,4‰, cao hơn so với cùng kỳ năm 2009: tại Sóc Trăng, độ mặn từ 1,9 đến 9,6‰; tại Bạc Liêu, độ mặn đạt khoảng 3‰; tại Hậu Giang khoảng 7‰ Vùng 2 sông Vàm Cỏ (tỉnh Long An), độ mặn trong kỳ triều cường cuối tháng 2 tăng từ 0,8 - 2‰ so với cùng kỳ năm 2009 Vùng cửa sông Tiền, sông Hậu tính đến đầu tháng 3, độ mặn tăng từ 0,9 đến 1,5‰ Cao nhất là vùng ven biển Tây và bán đảo Cà Mau, độ mặn tăng từ 1 đến 8‰ Diện tích lúa đông xuân 2009 - 2010 chịu ảnh hưởng mặn lên đến 620.000 ha, chiếm 40% diện tích toàn vùng, tập trung ở các tỉnh ven biển như Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau và Kiên Giang Ngoài ra, còn 100.000 ha khác có nguy cơ bị ảnh hưởng của mặn Các trà lúa xuống giống trong tháng 12

và đầu tháng 1 đang ở giai đoạn ngậm sữa và trổ có khả năng bị giảm năng suất

- Ảnh hưởng mặn trong mùa khô năm 2013:

Theo thống kê của Cục Trồng trọt, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, khoảng 300.000 ha lúa ở ĐBSCL bị tác động bởi tình trạng hạn, trong đó hơn 100.000 ha sẽ bị tác động trực tiếp, ảnh hưởng lớn đến năng suất

Trang 30

Theo Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Bình Đại (Bến Tre) thì trong vụ lúa đông xuân, toàn huyện đã xuống giống 1.158 ha, nhưng đã

có 500 ha bị khô hạn, thiếu nước và nhiễm mặn có khả năng giảm năng suất 70% Bên cạnh đó, có 30 ha hoa màu bị nhiễm mặn, cho thu hoạch kém, thiệt hại từ 80 đến 90% (vì nhiều nơi độ mặn đo được lên tới 8‰) Do đó, Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã khuyến cáo người dân chuyển sang trồng rau màu ngắn ngày

Trong khi đó, tại huyện Trần Đề (Sóc Trăng), bà con nông dân đã ngừng chăm sóc hơn 600 ha xuống giống muộn, xem như thất thu hoàn toàn, những diện tích còn lại hoặc bị khô hạn hoặc bị nhiễm mặn nên phát triển rất kém Theo Chi cục Thủy lợi tỉnh Kiên Giang, để đối phó với xâm nhập mặn, đảm bảo sản xuất, ngành thủy lợi tỉnh đầu tư hơn 4,5 tỷ đồng đắp 95 đập ngăn mặn, nạo vét kênh mương nội đồng, vận động nhân dân tiết kiệm nước, duy tu sửa chữa các trạm bơm Kiên Giang và An Giang đã cho đóng toàn bộ 27 cống ngăn mặn trong vùng Tứ giác Long Xuyên để ngăn mặn và giữ nước ngọt phục vụ sản xuất

Tỉnh Bạc Liêu cũng đang khẩn trương đắp hơn 30 đập ngăn mặn giữ ngọt tại các huyện Hồng Dân, Giá Rai, Phước Long, ; đồng thời khuyến cáo nông dân gia cố lại ao hồ, bờ ruộng nhằm tránh thiệt hại

- Ảnh hưởng mặn những tháng đầu năm 2016:

Tính đến ngày 15/3/2016, cả 13 địa phương thuộc ĐBSCL đều đã bị nhiễm mặn, trong đó đã có 11/13 tỉnh/thành công bố tình trạng thiên tai hạn hán, xâm nhập mặn: Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vình, Sóc Trăng, Bạc Liêu,

Cà Mau, Kiên Giang, Cần Thơ, Hậu Giang, Ninh Thuận

Ngày 07/3/2016 Bộ Ngoại giao đã có công hàm số 128/NG-ĐBA gửi Đại

sứ quán nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa tại Việt Nam đề nghị phía Trung Quốc có biện pháp hỗ trợ gia tăng lưu lượng xả nước từ thủy điện Cảnh Hồng (Vân Nam) của Trung Quốc xuống Hạ lưu sông Mê Công để góp phần phòng, chống hạn hán, xâm nhập mặn, giảm bớt thiệt hại cho nhân dân Việt Nam tại khu vực đồng bằng sông Cửu Long Các cơ quan chức năng Trung Quốc cho

Trang 31

biết sẽ tích cực phối hợp, sớm triển khai kế hoạch xả nước khẩn cấp trong thời gian từ ngày 15/3/2016 đến 10/4/2016

Đến thời điểm ngày 25/3/2016, đã có 170.000 ha lúa và hoa màu bị ảnh hưởng và nếu tiếp tục như vậy trong vòng 2 tháng nữa, sẽ có 500.000 ha bị ảnh hưởng Đối với sinh hoạt, việc cung ứng nước ngọt rất khó khăn, nhiều nơi đã đào giếng sâu đến 80 m nhưng tình trạng nhiễm mặn vẫn không được cải thiện

2.4 CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

2.4.1 Các nghiên cứu ngoài nước

Nicholls và Lowe (2006) tính rằng khi mực nước biển dâng cao 40 cm, số nạn nhân của lũ trên thế giới hiện nay là 13 triệu người sẽ tăng lên 94 triệu người Khoảng 20% trong số họ sống ở vùng Đông Nam Á, trong đó vùng bị ảnh hưởng nặng nhất là vùng Đồng bằng sông Cửu Long và tiếp đến là vùng Đồng bằng sông Hồng

Ủy ban Liên Chính phủ về Biến đổi khí hậu (2007) qua phân tích và phỏng đoán các tác động của nước biển dâng đã công nhận ba vùng châu thổ được xếp trong nhóm cực kỳ nguy cơ do sự biến đổi khí hậu là vùng hạ lưu sông Mekong (Việt Nam), sông Ganges - Brahmaputra (Bangladesh) và sông Nile (Ai Cập) Khi nước biển tăng lên 1 mét, Việt Nam sẽ mất 5% diện tích đất đai, 11% người dân mất nhà cửa, giảm 7% sản lượng nông nghiệp (tương đương 5 triệu tấn lúa và 10% thu nhập quốc nội ĐBSCL sẽ có khoảng 2 triệu ha nằm dưới mực nước biển (Chương trình Phát triển của Liên hiệp quốc – UNDP, 2007)

Năm 2009, Trung tâm START vùng Đông Nam Á (Đại học Chulalongkorn, Thái Lan) và Viện Nghiên cứu Biến đổi Khí hậu - Đại học Cần Thơ đã phối hợp chạy mô hình khí hậu vùng PRECIS với kịch bản A2 và B2, dựa vào chuỗi số liệu khí hậu giai đoạn 1980-2000 để phỏng đoán giai đoạn 2030-2040 Kết quả mô hình cho thấy nhiều khu vực của vùng Đồng bằng sông Cửu Long sẽ bị tác động sau: nhiệt độ cao nhất trung bình trong mùa khô sẽ gia tăng từ 33-35°C lên 35-37°C; lượng mưa đầu vụ Hè Thu (15/4 - 15/5) sẽ giảm chừng 10-20%; sự phân bổ mưa tháng sẽ có khuynh hướng giảm vào đầu và giữa vụ Hè Thu nhưng gia tăng một ít vào cuối mùa mưa; Tổng lượng mưa năm

Trang 32

tại An Giang, Cần Thơ và Sóc Trăng sẽ giảm chừng 20%, đồng thời thời kỳ bắt đầu mùa mưa sẽ trễ hơn khoảng 2 tuần lễ; diện tích ngập ở ĐBSCL do lũ sẽ gia

tăng

2.4.2 Các nghiên cứu trong nước

Nghiên cứu của Nguyễn Thị Yến (2013) về “Tác động của biến đổi khí hậu đối với ngành trồng lúa vùng đồng bằng Sông Cửu Long và các giải pháp thích ứng” Thông qua phương pháp GIS, kết quả cho thấy diện tích đất trồng

lúa ở ĐBSCL có thể bị mất vào năm 2100 là 65% Con số này khiến cho vấn đề

an ninh lương thực của Việt Nam bị phá vỡ Năng lực thích ứng của ngành trồng lúa ĐBSCL với nước biển dâng cũng cho thấy, những nguồn lực mà có thể sử dụng để đương đầu với BĐKH ở ĐBSCL là rất yếu Ngoại trừ nguồn lực tự nhiên được đánh giá ở mức độ trung bình, các yếu tố khác như con người, xã hội, vật chất, tài chính đều không đủ khả năng để ứng phó BĐKH Tác giả cũng gợi ý chính sách cần thiết là xây dựng đê biển bao quanh khu vực ĐBSCL để ngăn mặn, đồng thời kết hợp các giải pháp phi công trình để ĐBSCL ứng phó với biến đổi khí hậu tốt hơn

Nghiên cứu của Lê Hà Phương (2014) về “Đánh giá tác động và tính dễ

bị tổn thương do biến đổi khí hậu đối với sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản tại huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình” Kết quả nghiên cứu cho

thấy hạn hán gây ra tác động và thiệt hại nhiều nhất, sau đó là ngập lụt và mưa lớn Canh tác nông nghiệp và chăn nuôi bị tác động do thủy tai nhiều nhất, sau

đó đến nuôi trồng thủy sản và đánh bắt thủy sản Các hoạt động sinh kế của các

hộ gia đình dễ bị tổn thương do tác hại của các hiện tượng thủy tai vì vốn con người không đủ cả về số lượng và trình độ, vốn vật chất bị hạn chế chủ yếu là thiếu phương tiện sản xuất và điều kiện nhà ở còn thô sơ, vốn tài chính thấp do thu nhập của các hộ gia đình không ổn định, vốn tự nhiên liên quan đến diện tích đất canh tác mỗi hộ gia đình còn thấp và vốn xã hội mặc dù khá đa dạng nhưng

đa phần vẫn không đủ để khắc phục thiệt hại do thủy tai Những hiện tượng thủy tai đã làm thay đổi cơ cấu nguồn thu của các hộ gia đình và họ đều phải tự điều chỉnh bằng những thay đổi để thích ứng được với điều kiện hiện tại Trong

Ngày đăng: 20/05/2018, 22:46

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w