Đo lường mức độ hài lòng của người sử dụng, theo Parasuraman, Zeithaml và Berry 1985, mức độ hài lòng có thể đo lường với 5-7 khoảng cách, do đó đề xuất tiếp tục sử dụng thang đo Likert
Trang 1B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
_
ẢNH HƯỞNG CỦA LỢI ÍCH KẾ TOÁN TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ HÀI
Trang 2B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
Trang 3L ỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bài luận văn này là công trình nghiên cứu do tôi thực hiện dưới
sự hướng dẫn của TS Nguyễn Bích Liên Việc thu thập số liệu do tôi thực hiện, không sao chép hay lấy bất kỳ một bài nghiên cứu khoa học nào khác Đồng thời, các nội dung tham khảo ở các bài nghiên cứu khác tôi đã trích dẫn nguồn đầy đủ kèm theo danh mục tài liệu tham khảo
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về những cam kết của mình
Trang 4M ỤC LỤC
PH ẦN MỞ ĐẦU ……… 1
CHƯƠNG 1 T ỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 6
1.1 Các nghiên cứu nước ngoài 6
1.2 Các nghiên cứu trong nước 8
1.3 Nhận xét và xác định khe hổng nghiên cứu 9
1.3.1 Nhận xét các nghiên cứu tham khảo 9
1.3.2 Xác định khe hổng nghiên cứu 9
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 11
2.1 Giới thiệu sơ lược về ERP 11
2.1.1 Khái niệm về ERP 11
2.1.2 Đặc trưng của ERP 12
2.1.3 Phân loại ERP 13
2.1.3.1 Phần mềm đặt hàng do một nhóm lập trình viên trong nước viết 13
2.1.3.2 Phần mềm đặt hàng do một công ty trong nước viết 13
2.1.3.3 Phần mềm thiết kế sẵn do các công ty trong nước phát triển 14
2.1.3.4 Phần mềm nước ngoài cấp thấp 14
2.1.3.5 Phần mềm nước ngoài cấp trung bình 14
2.1.3.6 Phần mềm nước ngoài cấp cao 14
2.1.4 Đặc điểm-vai trò hệ thống ERP 15
2.1.5 Các ảnh hưởng Kế toán tài chính của hệ thống ERP 16
2.1.5.1 Những thay đổi về mặt quy trình 16
Trang 52.1.5.2 Những thay đổi về tổ chức bộ máy kế toán 18
2.2 Lợi ích kế toán ERP- sự cảm nhận từ người Kế toán 19
2.2.1 Khái niệm cơ bản về lợi ích kế toán ERP 19
2.2.2 Những lợi ích kế toán ERP 20
2.3 Sự hài lòng của người kế toán khi sử dụng ERP 22
2.3.1 Khái niệm sự hài lòng người sử dụng ERP 22
2.3.2 Các tiêu chí về sự hài lòng 23
2.4 Các lý thuyết nền tảng áp dụng 25
2.4.1 Lý thuyết “Kỳ vọng- Xác nhận”-Expectation Confirmation Theory 25
2.4.2 Lý thuyết diễn ngôn-Discourse Theory 26
2.4.3 Mô hình DeLone- McLean 27
2.4.4 Đánh giá về việc áp dụng lý thuyết 29
CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31
3.1 Quy trình nghiên cứu 31
3.2 Phương pháp nghiên cứu 32
3.3 Giả thuyết và mô hình nghiên cứu 33
3.3.1 Giả thuyết nghiên cứu 33
3.3.2 Mô hình nghiên cứu 33
3.4 Diễn đạt và xây dựng thang đo 34
3.5 Phương pháp chọn mẫu nghiên cứu 36
3.6 Phương pháp thu thập và quy trình xử lý dữ liệu 37
3.6.1 Phương pháp thu thập dữ liệu 37
3.6.2 Quy trình xử lý dữ liệu 38
3.6.2.1 Xử lý dữ liệu trùng 38
3.6.2.2 Phân tích hệ số tin cậy Cronbach Alpha 38
3.6.2.3 Phân tích nhân tố (EFA) 39
3.6.2.4 Tương quan Pearson 40
Trang 63.6.2.5 Phân tích hồi quy đa biến 41
CHƯƠNG 4 K ẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 44
4.1 Kết quả nghiên cứu 44
4.1.1 Mô tả dữ liệu thu thập 44
4.1.2 Nhận xét 45
4.2 Kết quả kiểm định độ tin cậy thang đo 45
4.3 Kết quả phân tích nhân tố EFA 47
4.4 Kiểm định các giả thuyết của mô hình 50
4.4.1 Phân tích tương quan 50
4.4.2 Phân tích hồi quy 52
4.5 Bàn luận kết quả nghiên cứu 55
CHƯƠNG 5 K ẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 59
5.1 Kết luận 59
5.2 Kiến nghị 60
5.3 Hạn chế của đề tài 61
5.3.1 Hạn chế về dữ liệu nghiên cứu 61
5.3.2 Hạn chế về phương pháp nghiên cứu 61
5.4 Hướng nghiên cứu tiếp theo 61
PH Ụ LỤC
Trang 7DANH M ỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
ERP (Enterprise Resource Planning): Hệ thống hoạch định nguồn lực doanh nghiệp
IT (Information Technology): Công nghệ thông tin
SME (Small and Medium Enterprise): Doanh nghiệp vừa và nhỏ
IS (Information System): Hệ thống thông tin
MRP (Manufacturing Resource Planning): Hoạch Định Nguồn lực sản xuất
Trang 8DANH M ỤC BẢNG BIỂU
Bảng 3.1 Mã hóa thang đo của các nhân tố
Bảng 3.2 Mã hóa thang đo định tính
Bảng 4.1 Thống kê mẫu khảo sát
Bảng 4.2 Kết quả đánh giá độ tin cậy thang đo
Bảng 4.3 Kết quả kiểm định KMO
Bảng 4.4 Kết quả phép xoay Ma trận đã xử lý
Bảng 4.5 Định nghĩa các nhân tố sau phân tích EFA
Bảng 4.6 Kết quả phân tích tương quan
Bảng 4.7 Hệ số xác định sự phù hợp của mô hình
Bảng 4.8 ANOVA
Bảng 4.9 Kết quả phân tích hồi quy của mô hình
Trang 10PH ẦN MỞ ĐẦU
1 Gi ới thiệu và lý do chọn đề tài
ERP (Enterprise Resource Planning) là hệ thống hoạch định nguồn lực doanh nghiệp, là một phần mềm quản lý tổng thể tài nguyên doanh nghiệp, cho phép doanh nghiệp tự kiểm soát được các nguồn lực của mình Từ đó đưa ra các kế hoạch khai thác tài nguyên một các hợp lý từ các quy trình nghiệp vụ đã xây dựng trong hệ thống
Một hệ thống đạt tầm ERP cần phải:
Được thiết kế theo từng phần nghiệp vụ (module): Ứng với từng chức năng kinh doanh sẽ một module phần mềm tương ứng Mỗi module trong đó sẽ đảm trách một chức năng
Có tính tích hợp chặt chẽ: Việc tích hợp các module cho phép các phòng ban có thể kế thừa và tiếp cận các thông tin với nhau; đảm bảo đồng nhất thông tin, giảm việc cập nhật xử lý dữ liệu tại nhiều nơi; cho phép thiết lập các quy trình luân chuyển nghiệp vụ giữa các phòng ban
Có khả năng phân tích: Hệ thống ERP cho phép phân tích và đánh giá hiệu
quả sản xuất kinh doanh
Tính mở: Thể hiện trong khả năng kết nối dữ liệu từ nhiều nguồn khác nhau,
từ nhiều CSDL khác nhau trong hệ thống
Tổng hợp thông tin từ các nguồn khác nhau, có thể thống kê thực tế áp dụng ERP
tại Việt Nam qua các năm như sau:
Trước năm 2010: Một số công ty lớn bắt đầu áp dụng ERP như: FPT, Petrolimex, Vietsovpetro…
Từ 2010 - 2015: Nhiều doanh nghiệp cỡ vừa và lớn triển khai ERP như Vietinbank, Hoàng Anh Gia Lai, Xi măng Thăng Long, thủy hải sản Minh Phú…
Từ 2015 - nay: Nhiều doanh nghiệp cỡ vừa và nhỏ đã tiến hành sử dụng ERP
Có thể nói rằng, ERP không còn là giải pháp chỉ dành cho doanh nghiệp lớn và xu
thế ứng dụng ERP tại Việt Nam là không thể quay ngược Tuy nhiên thực tế, tại Việt
Trang 11Nam, riêng trong khía cạnh lĩnh vực kế toán Tài chính, vẫn có rất ít nghiên cứu nêu
rõ cụ thể được lợi ích kế toán mà ERP mang lại, và đồng thời các nghiên cứu đó vẫn chưa xem xét rõ về mối liên hệ giữa các lợi ích kế toán đó với sự hài lòng của kế toán viên, nhất là dựa trên sự cảm nhận của mỗi người Đặc biệt, tại khía cạnh Kế toán, ERP giúp cho công việc nhân viên Kế toán trở nên hiệu quả, hiệu suất công việc tăng lên và giúp người quản lý có được cái nhìn tổng quan nhất về tài chính của công ty
Và tại thời điểm hiện nay, công ty Cổ phần Bán lẻ Kỹ thuật số FPT đã và đang ứng
dụng ERP để quản lý toàn bộ quy trình, hoạt động Chính vì lý do đó việc thực hiện
đề tài “Ảnh hưởng của lợi ích kế toán tác động đến sự hài lòng của kế toán viên trong môi trường ERP- nghiên cứu tại công ty Cổ phần Bán lẻ Kỹ thuật số FPT”
là cần thiết Hi vọng rằng kết quả nghiên cứu sẽ giúp doanh nghiệp thấy được các lợi ích kế toán mang lại từ ERP và thấy được mối liên hệ giữa các lợi ích đó với sự hài lòng từ những kế toán viên, nhờ đó người quản lý sẽ có được những quyết định tốt hơn
2 M ục tiêu và câu hỏi nghiên cứu
2.1 M ục tiêu nghiên cứu
2.1.1 M ục tiêu chung
Bài nghiên cứu được thực hiện, dựa trên các nghiên cứu đi trước, nhằm củng cố thêm kết luận các nghiên cứu về lợi ích kế toán và sự ảnh hưởng của các lợi ích kế toán này đối với người sử dụng ERP Đồng thời, nghiên cứu này cũng đưa ra một số
kiến nghị nhằm giúp cho người quản lý doanh nghiệp có thể hiểu rõ thêm về các lợi ích kế toán mà ERP mang lại, để có những quyết định mang tính phù hợp
2.1.2 M ục tiêu cụ thể
Bài nghiên cứu được thực hiện nhằm đạt được 3 mục tiêu cụ thể như sau:
Thứ nhất, tìm ra được những lợi ích kế toán có được trong môi trường tại công ty Bán lẻ Kỹ thuật số FPT- một doanh nghiệp tiên phong từ việc ứng dụng hệ thống ERP
Trang 12Thứ hai, đánh giá sự hài lòng của kế toán dựa trên các lợi ích mà họ cảm nhận được
Cuối cùng, bài nghiên cứu cố gắng tìm kiếm mối quan hệ giữa sự hài lòng của người sử dụng ERP với các lợi ích kế toán
2.2 Câu h ỏi nghiên cứu
Các câu hỏi sau sẽ định hướng cho việc thực hiện đề tài:
Kế toán viên có được các lợi ích gì khi sử dụng hệ thống ERP?
Mức độ hài lòng của họ ra sao khi thực hiện công việc trong môi trường ERP?
Có mối quan hệ gì giữa sự hài lòng của người sử dụng ERP với các lợi ích
kế toán
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Trong luận văn này, đối tượng nghiên cứu là những người Kế toán viên, với cảm
nhận và sự hài lòng của họ về những lợi ích kế toán mà ERP mang lại
3.2 Ph ạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu sẽ tập trung về các lợi ích mà ERP mang lại cho công tác kế toán đồng thời dựa trên những đánh giá của các kế toán viên về sự hài lòng khi thực
hiện công việc trong môi trường ERP- cụ thể được khảo sát bằng bảng câu hỏi, được
giới hạn phạm vi tại phòng Kế toán của vùng Bắc-Trung-Nam tại công ty Cổ phần Bán lẻ Kỹ thuật số FPT
Trang 134 Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng phương pháp định lượng và kế thừa các nghiên cứu đi trước, đồng thời điều chỉnh bổ sung những lợi ích kế toán từ việc ứng dụng ERP Nghiên cứu được
thực hiện thông qua việc tìm hiểu các lý thuyết về ERP từ các nghiên cứu trước đây đồng thời cũng tiến hành khảo sát ý kiến từ những người kế toán sử dụng ERP Phương pháp định lượng được thực hiện nhằm giải quyết lần lượt các câu hỏi nghiên
cứu, và việc kiểm định thang đo và mô hình lý thuyết cùng với các giả thuyết đề ra
bằng kiểm định giá trị trung bình; hệ số tin cậy Cronbach Alpha; phân tích nhân tố khám phá EFA, hồi quy, và kết quả có được dựa trên thao tác xử lý số liệu thống kê
phần mềm SPSS, cụ thể như sau:
Thứ nhất, để khám phá những lợi ích kế toán từ việc ứng dụng ERP, bài nghiên
cứu sử dụng phương pháp kiểm định độ tin cậy thang đo và phân tích nhân tố khám phá EFA Biến độc lập trong mô hình là một số lợi ích kế toán từ việc ứng dụng ERP theo Doll và Torkzadeh (1988): Nội dung, độ chính xác, định dạng, dễ sử dụng và tính kịp thời Đánh giá và đo lường những lợi ích kế toán mang lại theo cảm nhận của
kế toán viên, bài nghiên cứu sử dụng thang đo Likert 7 điểm, với mức 1=hoàn toàn không, 2= mức độ rất thấp, 3= mức độ thấp, 4 = trung bình, 5 = mức độ cao, 6 = mức
độ rất cao, 7 = hoàn hảo
Thứ hai, để xem xét sự hài lòng của kế toán viên, bài nghiên cứu sử dụng phương pháp sử dụng phương pháp phân tích nhân tố khám phá EFA và kiểm định độ tin cậy thang đo Đo lường mức độ hài lòng của người sử dụng, theo Parasuraman, Zeithaml
và Berry (1985), mức độ hài lòng có thể đo lường với 5-7 khoảng cách, do đó đề xuất
tiếp tục sử dụng thang đo Likert 7 điểm để đánh giá mức độ hài lòng của người sử
dụng về hệ thống ERP
Cuối cùng, liên quan giữa sự hài lòng của người sử dụng ERP với các lợi ích kế toán, việc kiểm tra mối quan hệ này được tiến hành bởi xây dựng mô hình hồi quy đa
biến
Trang 145 Ý nghĩa thực tiễn nghiên cứu
Bài nghiên cứu góp phần bổ sung và củng cố cho những nghiên cứu về ERP trên
thế giới- chủ yếu ở lĩnh vực về lợi ích kế toán, và sự ảnh hưởng của các lợi ích này đến sự hài lòng của người sử dụng qua cảm nhận của họ Về mặt thực tiễn, thông qua
kết quả của nghiên cứu, doanh nghiệp sử dụng ERP sẽ có được những thông tin về các lợi ích kế toán mà ERP mang lại, đồng thời thấy được mức độ hài lòng khi sử
dụng ERP của nhân viên kế toán và các nhân tố lợi ích kế toán nào tác động đến mức
độ hài lòng này Mặt khác, nhà quản trị doanh nghiệp sẽ đưa ra các quyết định hợp lý
nhằm để nâng cao chất lượng hệ thống ERP và mức độ hài lòng của người dùng ERP, giúp ERP trở thành một công cụ hữu hiệu trong việc hỗ trợ công tác kế toán doanh nghiệp Ngoài ra, các doanh nghiệp đang có ý định triển khai ERP sẽ có cơ sở lựa
chọn một hệ thống ERP phù hợp với hoạt động của doanh nghiệp
6 C ấu trúc luận văn
PHẦN MỞ ĐẦU
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ LỢI ÍCH KẾ TOÁN VÀ SỰ HÀI LÒNG
CỦA NGƯỜI SỬ DỤNG ERP
CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN
CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Trang 15CHƯƠNG 1 T ỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
Ở Chương 1 này đưa ra các nghiên cứu trong và ngoài nước, cùng với việc xác định khe hổng nghiên cứu, nhằm để đưa ra được điểm mới trong nghiên cứu này
1.1 Các nghiên c ứu nước ngoài
Theo các nghiên cứu gần đây về lợi ích từ việc triển khai hệ thống ERP ảnh hưởng đến quy trình kế toán và vai trò của kế toán viên:
Booth et al (2000): đã kiểm tra về việc mở rộng phạm vi ứng dụng của một hệ
thống ERP có thể dẫn đến lợi ích về việc thay đổi, áp dụng một quy trình kế toán mới trong một doanh nghiệp
Nghiên cứu của Shang và Seddon (2002) đã phân loại lợi ích ERP vào năm hướng:
hoạt động, quản lý, chiến lược, cơ sở hạ tầng IT và tính tổ chức Và vào năm 2009, Esteves đã dựa trên phân loại này để phát triển một tập hợp các lợi ích do việc sử
dụng ERP đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SMEs) là: giảm chu kỳ thời gian,
giảm chi phí, nâng cao chất lượng, cải thiện việc ra quyết định, hỗ trợ thay đổi của tổ
chức, tăng cường năng lực IT và hoạt động kinh doanh linh hoạt Ông cũng cho thấy
lợi ích ERP theo các hướng được kết nối với nhau, liên tục theo thời gian triển khai ERP
Spathis (2006) thông qua nghiên cứu năm 2002 của Shang và Seddon đã phân loại
và kiểm tra lợi ích kế toán thu được từ việc áp dụng ERP Trong phân tích, Spathis
giải thích rằng những lợi ích kế toán được giải thích bởi các biến số: số lượng các lý
do triển khai hệ thống doanh nghiệp, số lượng các phân hệ, chi phí triển khai Kết
luận của Spathis: “Lợi ích kế toán quan trọng nhất mà một công ty có được là do các
bộ phận kế toán trong hệ thống ERP được tăng tính linh hoạt trong hệ thống thông tin, tăng cường sự tích hợp của các ứng dụng, cải thiện chất lượng của báo cáo, nâng cao khả năng ra quyết định dựa trên các thông tin kế toán kịp thời và đáng tin cậy và
giảm thời gian cho việc đóng tài khoản hàng năm”
Rom và Rohde (2006): cho rằng hệ thống ERP đã mang lại lợi ích về hỗ trợ, thu
thập dữ liệu và mở rộng quản trị kế toán của tổ chức
Trang 16Newman và Westrup (2005): sử dụng bằng chứng thực nghiệm chứng minh rằng
mối quan hệ của các kế toán và công nghệ như ERP đã trở nên ngày càng gắn bó với nhau, người kế toán thấy và cảm nhận được các lợi ích từ ERP
Grabski et al (2011): lưu ý rằng hệ thống ERP là một nguồn lực biến đổi trong nghề kế toán và các tổ chức luôn muốn tìm hiểu làm thế nào để sử dụng các hệ thống này và thu được các giá trị từ chúng
Nghiên cứu của Velcu (2007); Colmenares (2009): cho thấy lợi ích kế toán từ việc triển khai ERP làm công tác kế toán chính xác hơn và cải thiện theo hướng tích cực hơn
Ngoài ra, các nghiên cứu đi vào việc đánh giá sự thành công và hiệu quả tổng thể
của một hệ thống ERP thông qua việc đo lường sự hài lòng của người sử dụng, như : Bailey và Pearson (1983) phát triển một công cụ để đánh giá “sự hài lòng của người sử dụng” với các hệ thống thông tin, bao gồm 39 loại (như độ chính xác, kịp
thời, độ tin cậy, chính xác, đầy đủ, tiện ích nhận thức, tài liệu, bảo mật dữ liệu, vv)
Dựa trên nghiên cứu của Bailey và Pearson (1983), Ives et al (1983): đề xuất một công cụ chỉnh sửa bao gồm 13 hạng mục, trong đó đã bao gồm trong ba nhân tố đo lường: sản phẩm thông tin, nhân viên và dịch vụ IS, và kiến thức người dùng
Doll và Torkzadeh (1988): xây dựng dựa trên Ives et al (1983) đã phát triển một công cụ khảo sát 12 loại để đo lường mức độ hài lòng của người sử dụng Những loại này được tóm tắt trong năm dạng: Nội dung, độ chính xác, định dạng, dễ sử dụng và tính kịp thời Vào năm 2003, trong nghiên cứu của mình cùng các cộng sự, Somers
kiểm tra lại các công cụ khảo sát của Doll và Torkzadeh (1988) và một lần nữa xác
nhận rằng các công cụ này đạt kết quả ổn định khi áp dụng cho người sử dụng các
phần mềm ứng dụng ERP Bài nghiên cứu này đã mô tả sự hài lòng người sử dụng như mức độ mà một người sử dụng nhận thấy rằng một hệ thống ERP đáp ứng yêu
cầu thông tin của người đó
DeLone và McLean (1992) đã đề xuất một mô hình IS thành công gồm sáu yếu tố chính Nghiên cứu đề cập đến “chất lượng hệ thống và chất lượng thông tin đáng chú
ý cùng ảnh hưởng đến việc sử dụng và sự hài lòng của người sử dụng Việc sử dụng
Trang 17và sự hài lòng của người dùng là tiền thân trực tiếp đến tác động lên cá nhân; và cuối cùng, hiệu quả cá nhân sẽ tác động lên tổ chức” Năm 2003, trong việc tái nghiên
cứu, họ đã đề xuất cải tiến mô hình của họ, trong đó “chất lượng thông tin”, “chất lượng hệ thống” và “chất lượng dịch vụ” ảnh hưởng đến “ý định sử dụng, việc sử
dụng” và “sự hài lòng của người sử dụng” Ngoài ra, “ý định sử dụng, việc sử dụng”
và “sự hài lòng của người sử dụng” ảnh hưởng đến biến “lợi ích ròng”
Calisir và Calisir (2004) trong nghiên cứu của mình, đã tiến hành khảo sát với mục tiêu kiểm tra các yếu tố về năng lực sử dụng khác nhau ảnh hưởng đến sự hài lòng
của người dùng cuối cùng (end-user) đối với hệ thống ERP Kết quả cho thấy việc
nhận thức tính hữu dụng của ERP mang lại cũng như khả năng tìm hiểu là yếu tố quyết định đến sự hài lòng của người sử dụng hệ thống ERP
1.2 Các nghiên c ứu trong nước
Ở Việt Nam hầu như có rất ít nghiên cứu chuyên sâu khám phá những lợi ích kế toán từ việc ứng dụng ERP, cũng như xem xét về mối quan hệ giữa lợi ích và sự hài lòng của người sử dụng, cụ thể trong khía cạnh Kế toán tài chính ERP mới phát triển
những năm gần đây nên các nghiên cứu liên quan đến lĩnh vực ERP không nhiều Các nghiên cứu tham khảo tiêu biểu như:
Nghiên cứu của Nguyễn Bích Liên (2012) tiến hành phân tích, tìm kiếm những nhân tố ảnh hưởng chất lượng thông tin kế toán trong môi trường ứng dụng ERP Bài nghiên cứu đã tìm ra và đề cập đến các yếu tố mới ảnh hưởng đến chất lượng thông tin theo như đánh giá của người sử dụng bao gồm: (1) Năng lực, cam kết của Ban
quản lý và kiến thức nhà tư vấn triển khai; (2) Kinh nghiệm, phương pháp nhà tư vấn triển khai và chất lượng dữ liệu; (3) chất lượng phần mềm ERP; (4) Thử nghiệm hệ
thống và huấn luyện nhân viên; (5) Kiểm soát đảm bảo hệ thống ERP tin cậy; (6) Chính sách nhân sự và quản lý thông tin cá nhân Bên cạnh đó, bài nghiên cứu cũng
tiến hành phân tích so sánh mức độ đánh giá của ba nhóm đối tượng: nhà tư vấn triển khai, doanh nghiệp sử dụng và các nhà nghiên cứu và đưa ra kết luận: “Những yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng thông tin kế toán của ba nhóm này là khác nhau”
Trang 18Nguyễn Hữu Hoàng Thọ (2012) nghiên cứu về những yếu tố ảnh hưởng đến việc triển khai thành công của ERP dựa trên nghiên cứu của DeLone và McLean (2003) cho rằng yếu tố quyết định sự thành công của việc triển khai thuộc 3 nhóm yếu tố bao
gồm: chất lượng hệ thống, chất lượng thông tin và chất lượng dịch vụ
Ngô Duy Hinh (2013) nghiên cứu về những yếu tố quyết định sự thành công của
việc triển khai ERP chịu tác động dương của 6 nhân tố: (1) sự tham gia của lãnh đạo, (2) quản lý dự án hiệu quả; (3) tái cấu trúc quy trình kinh doanh; (4) sự phù hợp phần
mềm và phần cứng; (5) đào tạo; (6) người sử dụng Hay nghiên cứu của Trần Thị
Hồng Oanh (2015) về lợi ích ERP và các nhân tố ảnh hưởng đến việc ứng dụng thành công hệ thống ERP tại doanh nghiệp
1.3 Nh ận xét và xác định khe hổng nghiên cứu
1.3.1 Nh ận xét các nghiên cứu tham khảo
Nhìn chung, phần lớn các nghiên cứu về lĩnh vực của ERP ở Việt Nam không nhiều, có rất ít nghiên cứu khám phá những lợi ích riêng về kế toán, cũng như về sự khác nhau trong cảm nhận về những lợi ích này của các đối tượng kế toán- những người thường xuyên sử dụng và thao tác trên hệ thống ERP, là yếu tố chính dẫn đến
sự hài lòng Ngoài ra, nếu nói đến cả các nghiên cứu từ nước ngoài, hầu hết chỉ xem xét những yếu tố lợi ích về mặt tổng thể ERP tại tất cả lĩnh vực doanh nghiệp hoặc
chỉ nghiên cứu riêng về sự hài lòng của người sử dụng trong môi trường ứng dụng ERP
1.3.2 Xác định khe hổng nghiên cứu
Điểm mới trong nghiên cứu này, chính là xem xét duy nhất về khía cạnh sự cảm
nhận về lợi ích tại lĩnh vực Kế toán tài chính, song song đó chính là xem xét ảnh hưởng của các lợi ích đó đối với sự hài lòng của Kế toán viên, tại một doanh nghiệp
đã có kinh nghiệm về triển khai ERP như FPT, đồng thời đề cập đến liệu có mối quan
hệ giữa các lợi ích kế toán và sự hài lòng hay không
Trang 20CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT
Chương 1 đã giới thiệu khái quát về những mục tiêu, ý nghĩa cũng như phương pháp nghiên cứu của đề tài Trong Chương 2 này, tác giả sẽ giới thiệu một số khái
niệm về các cơ sở lý thuyết đề tài và một số nghiên cứu của các nhà nghiên cứu đã được công nhận trên thế giới cũng như các nghiên cứu tại Việt nam để từ đó rút ra
những kết luận và đề ra việc xây dựng thiết kế nghiên cứu về lợi ích kế toán và sự hài lòng của người sử dụng ERP
2.1 Gi ới thiệu sơ lược về ERP
quản lý hàng tồn kho và quá trình hoạt động khác thành các chức năng back-office như kế toán và nguồn nhân lực, lập ra giai đoạn mới cho sự phát triển ERP được biết đến phổ biến hiện nay
ERP đã được định nghĩa bởi nhiều nghiên cứu khác nhau Rosemann (1999) định nghĩa hệ thống ERP như là một phần mềm tùy biến, ứng dụng tiêu chuẩn bao gồm các giải pháp tích hợp kinh doanh cho các quy trình cốt lõi (ví dụ như lập kế hoạch
sản xuất và kiểm soát, quản lý kho) và các chức năng quản lý chính (ví dụ như kế toán, quản lý nguồn nhân lực) của một doanh nghiệp Theo Marnewick và Labuschagne, 2005, hệ thống ERP là các gói phần mềm cho phép doanh nghiệp tự động và tích hợp phần lớn xử lý các hoạt động kinh doanh, chia sẻ dữ liệu chung cho
Trang 21các hoạt động toàn doanh nghiệp, tạo và cho phép truy cập thông tin trong môi trường
tập đoàn công ty lớn Mục tiêu tổng quát của hệ thống ERP là sử dụng các công cụ
hoạch định và lên kế hoạch nhằm đảm bảo sự đầy đủ và thích hợp các nguồn lựccủa doanh nghiệp khi cần Một phần mềm ERP là một phần mềm máy tính cho phép công
ty có thể theo dõi và tổng hợp số liệu của nhiều hoạt động khác nhau để đạt được mục tiêu trên ERP chính là sự lựa chọn tối ưu cho các doanh nghiệp, công ty từ quy mô
nhỏ đến tầm cỡ tập đoàn lớn đa quốc gia trong môi trường hoạt động kinh doanh năng động, chuyên nghiệp, đầy cạnh tranh và luôn biến động như hiện nay
2.1.2 Đặc trưng của ERP
Đặc trưng của phần mềm ERP là có cấu trúc phân hệ (module) Phần mềm có cấu trúc phân hệ là một tập hợp gồm nhiều phần mềm riêng lẻ, mỗi phần mềm có một
chức năng riêng Từng phân hệ có thể hoạt động độc lập nhưng do bản chất của hệ
thống ERP, chúng kết nối với nhau để tự động chia sẻ thông tin với các phân hệ khác
nhằm tạo nên một hệ thống mạnh hơn Một hệ thống ERP chung cho các doanh nghiệp
sẽ bao gồm các phân hệ:
Tài chính (Finance) gồm Sổ cái (General Ledger); Công nợ phải thu (Accounts Receivable); Công nợ phải trả (Account Payable); Tài sản cố định (Fixed Assets); Lập dự toán ngân sách (Budgeting); Báo cáo tài chính (Financial Statements)
Quản lý bán hàng và phân phối (Sales and Distribution) gồm Thông tin (cơ
sở dữ liệu) khách hàng (Customer files); Cập nhật đơn hàng và hóa đơn (Order Entry and Billing); Phân tích bán hàng (Sales Analysis); Lập kế
Trang 22hoạch giao hàng và vận chuyển (Delivery Planning and Shipment); Lập kế
hoạch và quản lý sản xuất (Production Planning and Control)
Quản lý dự án (Project Management)
Quản lý dịch vụ (Service Management)
Quản lý nhân sự (Human Resouce Management) gồm Lương và Chấm công
Quản lý mua hàng (Purchase Control) gồm Quản lý đơn hàng (Purchase Order); Nhận hàng (Receiving Transactions)
Quản lý hàng tồn kho (Stock Control) gồm Dữ liệu hàng hóa (Stock Item Data); Nhập xuất kho (Stock Transactions); Kiểm kê (Physical Count) ERP bao gồm nhiều phân hệ khác nhau, và ở mỗi phân hệ, mức độ tích hợp giữa chúng khác nhau Tại Việt Nam, các công ty thường bắt đầu sử dụng phân hệ kế toán
và sau đó có thể bổ sung các phân hệ khác khi nhu cầu sử dụng của họ tăng cao hơn
2.1.3 Phân lo ại ERP
Hiện nay, các loại phần mềm ERP ở Việt Nam cũng như trên thế giới là rất nhiều
và đa dạng, được cung cấp bởi các công ty lớn như SAP, Microsoft, Oracle,… và ở
từng thị trường riêng lẻ cũng có những công ty cung cấp những phần mềm nội địa
với quy mô nhỏ hơn Có nhiều tiêu chí khác nhau để phân loại ERP, cụ thể như sau:
2.1.3.1 Ph ần mềm đặt hàng do một nhóm lập trình viên trong nước viết
Được lập trình và viết theo yêu cầu riêng của công ty Lợi ích ở đây mang lại một
giải pháp phát sinh chi phí thấp, nhưng rủi ro trong trường hợp này là cao nhất do có
thể làm phát sinh thêm nhiều chi phí cho công ty về sau này khi các trục trặc nảy sinh
2.1.3.2 Ph ần mềm đặt hàng do một công ty trong nước viết
Được công ty phần mềm trong nước thiết kế theo đơn đặt hàng nhằm đáp ứng một
số yêu cầu cụ thể của công ty khách hàng
Trang 23Tuy nhiên, cần xem xét kỹ đến khả năng hỗ trợ trong tương lai từ nhà cung cấp và
khả năng nâng cấp phiên bản cao hơn trong tương lai của phần mềm mà không làm ảnh hưởng đến hoạt động của công ty
2.1.3.3 Ph ần mềm thiết kế sẵn do các công ty trong nước phát triển
Được thiết kế sẵn bởi các công ty trong nước phát triển Ngoài phân hệ kế toán,
một số phân hệ ERP khác được phát triển nhưng thường không đầy đủ so với các nhà cung cấp phần mềm từ nước ngoài
2.1.3.4 Ph ần mềm nước ngoài cấp thấp
Là các phần mềm nước ngoài được thiết kế dành cho các doanh nghiệp nhỏ, được phân phối trên thế giới Tuy nhiên, rủi ro ở đây là đa số các phần mềm này không có
dịch vụ hỗ trợ tại Việt Nam
2.1.3.5 Ph ần mềm nước ngoài cấp trung bình
Được thiết kế dành cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa, được phân phối rộng rãi trên
thế giới Các phần mềm này hỗ trợ hầu hết các quy trình hoạt động kinh doanh và được thiết kế sử dụng mạng lưới cấu trúc máy chủ (server)/ máy khách, cho phép nhiều máy khách truy cập từ mạng cục bộ LAN Các phần mềm này thường có giá cao từ vài chục ngàn đô la Mỹ, tính trên cả chi phí triển khai, và tùy theo số phân hệ được sử dụng
2.1.3.6 Ph ần mềm nước ngoài cấp cao
Được bán trên thế giới và được thiết kế dành cho các công ty đa quốc gia có nhiều địa điểm hoạt động, nhiều chi nhánh và nhiều người sử dụng cùng lúc Các phần mềm này rất đắt và nhằm phục vụ các quy trình kinh doanh phức tạp với những yêu cầu
hoạt động rất khắt khe Ví dụ: Oracle Financials, SAP, và PeopleSoft Chi phí cho các phần mềm này ít nhất là vài trăm ngàn đôla Mỹ, đặc biệt là khi cộng cả chi phí triển khai
Trang 242.1.4 Đặc điểm-vai trò hệ thống ERP
Đặc điểm chính của hệ thống ERP thể hiện rõ ràng qua 2 khía cạnh trong tên gọi
của chúng - Enterprise Resource Planning Trong đó:
Resource (tài nguyên): tất cả những tài sản vô hình và hữu hình có sẵn hoặc được
tạo ra hàng ngày mà doanh nghiệp đó sở hữu chính là tài nguyên Bao gồm cả nhân
lực, vật lực và tài chính của doanh nghiệp đó
Planning (hoạch định): là những kế hoạch và tương tác giữa các nhân viên, nhà
quản lý lên nguồn tài nguyên của doanh nghiệp để giải quyết các công việc diễn ra thường ngày
Hệ thống ERP giữ vai trò tạo ra một quy trình làm việc tự động bao gồm nhiều
chức năng khác nhau như kế toán, quản lý kho, quản lý nhân sự, quản lý hậu cần,
quản lý và quan hệ với khách hàng, hoạch định và sản xuất,…nhằm mục tiêu đảm
bảo nguồn tài nguyên của doanh nghiệp được cung cấp một cách đầy đủ và nhanh chóng khi cần thông qua các công cụ hoạch định và lên kế hoạch
Hệ thống ERP có thể được thiết kế mềm dẻo, linh hoạt phù hợp với đặc trưng hoạt động của từng doanh nghiệp và có thể mở rộng, phát triển theo thời gian của từng
loại hình doanh nghiệp mà không làm thay đổi cấu trúc của chương trình hiện có
Ưu điểm của hệ thống ERP mang lại cho doanh nghiệp có thể được nêu ra sau đây:
Hệ thống nguồn tài nguyên và quy trình quản lý đồng bộ, thống nhất
Các bộ phận chức năng có thể phối hợp với nhau một cách nhịp nhàng, nhanh chóng và chính xác nhất
Rút ngắn thời gian chuyển giao và quản lý nguồn dữ liệu
Tiết kiệm chi phí
Tăng khả năng cạnh tranh và cơ hội để doanh nghiệp phát triển lâu dài
Với 4 chức năng chính trong cùng một hệ thống là hoạch định, thực hiện, kiểm soát và ra quyết định, ERP được xem là giải pháp quản trị doanh nghiệp tối ưu nhất mang lại thành công cho hầu hết các doanh nghiệp trên thế giới hiện nay Thay vì sử
dụng nhiều phần mềm riêng lẻ vừa tốn kém chi phí vừa không thống nhất trong quá trình hoạch định, tương tác và quản lý thì một phần mềm đa năng như hệ thống ERP
Trang 25chính là giải pháp quản trị thông minh nhất nên được các doanh nghiệp hiện nay áp
dụng
2.1.5 Các ảnh hưởng Kế toán tài chính của hệ thống ERP
Theo Hồ Tuấn Vũ (2014) đề cập trong bài viết “Sự tác động của ERP đến tổ chức
hệ thống thông tin kế toán tại các doanh nghiệp”, phân hệ kế toán được xem là cốt lõi, do đó, yêu cầu đặt ra là cần được tổ chức hiệu quả nhằm tạo ra những thông tin
hữu ích, phù hợp với yêu cầu quản lý Sự tác động của của ERP đến tổ chức hệ thống thông tin kế toán thể hiện:
2.1.5.1 Nh ững thay đổi về mặt quy trình
tiết cũng được kiểm soát qua nhiều hệ thống mã khác nhau hơn
Xử lý dữ liệu
Do ERP là một cấu trúc tổng thể gồm nhiều phân hệ nên có một số điểm khác biệt
cơ bản trong quá trình xử lý dữ liệu:
Mọi hoạt động điều chỉnh của kế toán đều được ghi nhận qua hệ thống bao gồm
cả nội dung, thời gian và phân hệ điều chỉnh
Tính cập nhật cao: Khi có một bút toán được cập nhật một lần sẽ ảnh hưởng đến nhiều dữ liệu trong toàn bộ hệ thống Việc xử lý dữ liệu của kế toán sẽ ảnh hưởng trong phân hệ kế toán và các phân hệ khác
Trang 26Thực hiện tự động: ERP cho chép thực hiện tự động một số bút toán, tiết kiệm về
mặt thời gian đối với những nghiệp vụ thường xuyên diễn ra mang tính định kỳ và ít thay đổi (doanh thu, ghi nhận giá vốn hay thực hiện tự động khấu hao hàng tháng)
Kiểm soát: Do đặc thù của ERP là gồm nhiều phân hệ và tính liên kết cao nên nếu
một sai sót nào đó của một phân hệ sẽ ảnh hưởng đến toàn bộ hệ thống Chính vì thế,
để đảm bảo kết quả xử lý của kế toán đáng tin cậy, các thủ tục kiểm soát truy cập và phân quyền được thực hiện
Cung cấp thông tin
Nội dung: Thông tin được cung cấp thống nhất, đầy đủ và liên tục
Hình thức: Cho phép cung cấp thông tin ở nhiều mức độ khác nhau: từ mức độ chi
tiết cao đến mức độ chi tiết thấp Hệ thống cũng thực hiện một cách linh hoạt tùy theo đối tượng và đa dạng về hình thức, có thể truy xuất ra thành các định dạng khác nhau
Thời gian: Thông tin có thể được trích xuất theo từng thời điểm Bất cứ lúc nào
cần thông tin đều có thể đáp ứng trên cơ sở thống nhất về quy trình
Đối tượng cung cấp và đối tượng sử dụng thông tin: Người nào được phân quyền
và cấp phép sử dụng trên hệ thống đều có thể cung cấp/truy xuất thông tin một cách
Kiểm soát nguồn dữ liệu: cần thực hiện nhiều thủ tục kiểm soát trong từng ứng
dụng cụ thể như: hợp lý, giới hạn, nhập trùng, số tổng, có thực, tuần tự, mặc định, thông báo lỗi, vùng dữ liệu, số tự động, đầy đủ, định dạng, dấu, dung lượng
Trang 27Kiểm soát xử lý: cần có nhiều yêu cầu bắt buộc đến kiểm soát xử lý như: ràng buộc tính toàn vẹn dữ liệu, báo cáo các yếu tố bất thường, kiểm soát về xử lý tự động, xem xét việc thực hiện quy trình xử lý theo quy định
Kiểm soát kết quả xử lý: cần đảm bảo kết quả xử lý đến đúng đối tượng và kết quả
xử lý chính xác
2.1.5.2 Nh ững thay đổi về tổ chức bộ máy kế toán
Cơ cấu nhân sự
Có 4 trường hợp có thể xảy ra:
Thứ nhất, doanh nghiệp vẫn giữ toàn bộ nhân viên cũ và không tuyển nhân viên
mới
Thứ hai, doanh nghiệp vẫn giữ toàn bộ nhân viên cũ và tuyển thêm nhân viên mới
để đáp ứng yêu cầu tuân thủ về mặt quy trình, tiến độ hoàn thành công việc từ đó đảm
bảo tính kịp thời của việc cung cấp thông tin
Thứ ba, doanh nghiệp sẽ sa thải một số nhân viên cũ và tuyển thêm nhân viên mới Môi trường ERP đòi hỏi cả nhân viên và người quản lý cần có kiến thức nhất định về
tổ chức, kỹ năng và trình độ sử dụng công nghệ thông tin trong quá trình làm việc
Thứ tư, doanh nghiệp sa thải một số nhân viên cũ và không tuyển nhân viên mới Trường hợp này có thể xảy ra là do trong môi trường ERP, quá trình thu thập dữ liệu ban đầu chủ yếu liên quan đến các bộ phận khác, kế toán chỉ tham gia vào quá trình
xử lý, cung cấp thông tin và kiểm soát
Phân chia trách nhiệm
Trong môi trường ERP, một phần hành có thể do nhiều nhân viên kế toán đảm nhiệm hoặc một nhân viên kế toán có thể chịu trách nhiệm đồng thời nhiều phần hành
kế toán nhưng vẫn đảm bảo tính kiểm soát, không trùng lắp và không bỏ sót nghiệp
vụ
Trang 28 Phân quyền truy cập
Khi sử dụng ERP, có 3 nhóm chức năng liên quan mật thiết đến phần hành kế toán
là khai báo, nhập liệu và cung cấp thông tin
Khai báo: bao gồm khai báo thông tin chung và khai báo danh mục các đối tượng, được phân quyền cụ thể cho từng cá nhân chịu trách nhiệm, ảnh hưởng của nó có thể liên quan đến một hoặc nhiều phần hành kế toán và cả các phân hệ khác
Nhập liệu: bao gồm nhập số dư và nhập số phát sinh
Cung cấp thông tin: Đối với từng phần hành kế toán, phân quyền truy cập được
kiểm soát chặt chẽ trên các quyền: xem, thêm, sửa, xóa
2.2 L ợi ích kế toán ERP- sự cảm nhận từ người Kế toán
2.2.1 Khái ni ệm cơ bản về lợi ích kế toán ERP
Lợi ích của ERP là những gì doanh nghiệp đạt được từ việc triển khai và ứng dụng ERP Nếu triển khai thành công hệ thống ERP, sẽ đem lại cho doanh nghiệp rất nhiều
lợi ích ở nhiều phương diện khác nhau, cả về mặt lợi ích tổng thể của doanh nghiệp cũng như lợi ích của từng phòng ban
Emery (1971) đã nhận thấy rằng: "Lợi ích từ một hệ thống ERP có thể đến từ nhiều nguồn khác nhau Ông cho rằng lợi ích quan trọng nhất chính là giảm chi phí của các
hoạt động bên ngoài cho việc xử lý các thông tin trong hệ thống "
Maccarrone (2000) cho thấy rằng tất cả các nghiên cứu của ông đều đưa ra kết luận
dựa trên các hoạt động quản lý và trách nhiệm quản lý, chính sự linh hoạt của hệ
thống ERP là lợi ích
Nghiên cứu của Peter Booth và cộng sự (2000) cũng đã kết luận tổng thể từ các nghiên cứu của Fahy và Lynch (1999), Granlund và Malmi (2000), Lindvall (2000)
và Maccarrone (2000) cho rằng hệ thống ERP cung cấp những lợi ích chung như tăng
hiệu quả xử lý giao dịch, chất lượng và khả năng truy cập thông tin và hỗ trợ tổng
hợp báo cáo tức thời
Ngoài ra, trong nghiên cứu của Oliver (1999) và nghiên cứu của Gargeya và Brady (2005) đã nêu lên rằng “Lợi ích từ việc ứng dụng ERP mang đến cho doanh nghiệp
Trang 29bao gồm cả sự kết hợp từ các nguồn lực bên trong, là giải pháp cho hệ thống lạc hậu
và thiếu sót, giúp cải thiện năng suất và chu kỳ kế toán tài chính
Dựa trên nền tảng kết luận về lợi ích chung từ ERP mang lại của Peter Booth và
cộng sự (2000) cùng với nhận định từ nghiên cứu của Oliver (1999), Gargeya và Brady (2005), ta có thể rút ra được lợi ích kế toán của ERP chính là những giá trị,
những hiệu quả về mặt kế toán sau khi doanh nghiệp triển khai và ứng dụng ERP, mang đến cho doanh nghiệp cả từ sự kết hợp từ các nguồn lực bên trong, là giải pháp
mới cho hệ thống lạc hậu và thiếu sót, giúp cải thiện năng suất và chu kỳ kế toán tài chính và lợi ích này được cảm nhận bởi những người kế toán đang sử dụng thực tế ERP tại doanh nghiệp đó
2.2.2 Nh ững lợi ích kế toán ERP
Có nhiều nghiên cứu liên quan xem xét phân tích các lợi ích thu được từ việc ứng
dụng hệ thống ERP Các nghiên cứu thường nhóm những lợi ích thành những nhóm
lợi ích riêng Các nhóm lợi ích có thể được phân tích, phân loại theo nhiều hướng khác nhau
Trong nghiên cứu của Ömür Y Saatçıoğlu (2009) cũng đã nêu ra các nhóm lợi ích khi doanh nghiệp ứng dụng ERP, bao gồm: lợi ích về mặt hoạt động, lợi ích về quản
trị, lợi ích về chiến lược, lợi ích về mặt kỹ thuật và lợi ích về mặt tổ chức
Xa hơn nữa, vào năm 2013, trong nghiên cứu thực nghiệm của mình, Kanelou và Spathis đã đưa ra kết luận về lợi ích mà hệ thống kế toán nhận được từ ERP, chi tiết liên quan tới 5 phân nhóm Cụ thể:
Nhóm 1- Lợi ích về mặt hệ thống
ERP tập hợp dữ liệu nhanh hơn
ERP đưa ra kết quả dễ dàng hơn
ERP xử lý kết quả nhanh hơn
ERP linh hoạt hơn
Nhóm 2-Lợi ích về hoạt động kế toán (thời gian)
Giảm thời gian khóa sổ
Trang 30 Giảm thời gian phát hành các báo cáo tài chính
Nhóm 3-Lợi ích về mặt tổ chức kế toán
Gia tăng tính cải thiện thông tin
Gia tăng tích hợp các ứng dụng kế toán
Cải thiện việc ra quyết định dựa trên thông tin tin cậy và kịp thời
Cải thiện chất lượng báo cáo và hệ thống tài khoản
Cải thiện công tác kiểm soát nội bộ
Nhóm 4-Lợi ích về mặt quản trị
Cải thiện kiểm soát vốn lưu động
Gia tăng việc phân tích các tỷ số tài chính
Giảm thời gian tính lương
Nhóm 5-Lợi ích về mặt hoạt động (chi phí)
Giảm thiểu chi phí nhân sự
Trong bài nghiên cứu này, sẽ lấy nghiên cứu của Kanelou và Spathis làm nền tảng,
do nghiên cứu này đã đi sâu hơn, nêu ra được lợi ích về mặt kế toán Khóa luận này cũng chỉ tập trung vào những lợi ích trong hoạt động xử lý kế toán, có thể thấy được
rằng, 3 phân nhóm đầu của nghiên cứu Kanelou và Spathis (2013) sẽ được lựa chọn
Do đó, về chi tiết, khái quát lại những lợi ích lựa chọn dựa vào nghiên cứu Kanelou
và Spathis như sau:
Hệ thống: Tập hợp dữ liệu kế toán nhanh hơn từ ERP; Tập hợp dữ liệu kế toán dễ dàng hơn từ ERP; Kết xuất kết quả dữ liệu từ ERP dễ dàng hơn; Kết
xuất kết quả dữ liệu từ ERP nhanh chóng hơn; Việc sử dụng ERP linh hoạt hơn
Về hoạt động kế toán: Phần mềm giúp giảm thời gian khóa sổ kế toán (hàng tháng/quý/năm); ERP làm giảm thời gian hoàn thành Báo cáo tài chính;
Chất lượng các Báo cáo và các tài khoản kết xuất từ ERP được nâng cao và
Tiết kiệm thời gian định khoản và ghi sổ kế toán
Về mặt tổ chức kế toán: ERP làm tăng tính linh hoạt thông tin kế toán; ERP làm tăng tính tích hợp của việc ứng dụng kế toán; Thông tin từ ERP cung
Trang 31cấp kịp thời và tin cậy; ERP làm nâng cao chức năng công tác kiểm soát nội
2.3 S ự hài lòng của người kế toán khi sử dụng ERP
2.3.1 Khái ni ệm sự hài lòng người sử dụng ERP
Theo DeLone-McLean, sự hài lòng người sử dụng được định nghĩa là mức độ hài lòng trong một tình huống nhất định nào đó, như tổng của cảm xúc và thái độ đối với
những yếu tố ảnh hưởng đến trạng thái của một người nào đó
Theo Lin (2003), sự hài lòng được định nghĩa như là kết quả của sự cảm nhận và
nhận thức, dựa trên một vài tiêu chuẩn được so sánh với sự cảm nhận được Nếu cảm
nhận về một sản phẩm thấp hơn mong đợi, thì người sử dụng không hài lòng Ngược
lại, nếu cảm nhận vượt quá sự mong đợi, người sử dụng sẽ hài lòng
Hay Kotler (2000) định nghĩa “Sự hài lòng như là một cảm giác hài lòng hoặc thất
vọng của một người bằng kết quả của việc so sánh thực tế nhận được của sản phẩm (hay kết quả) trong mối liên hệ với những mong đợi của họ” Theo ông, sự hài lòng
của khách hàng dựa trên ba cấp độ: nếu nhận thức nhỏ hơn kỳ vọng thì khách hàng
cảm nhận không hài lòng, nếu nhận thức bằng kỳ vọng thì khách hàng cảm nhận hài lòng, nếu nhận thức lớn hơn kỳ vọng thì khách hàng cảm nhận hài lòng hoặc thích thú
Theo Oliver, sự hài lòng của khách hàng được định nghĩa như “là kết quả của sự đánh giá cảm tính và nhận thức Hài lòng là hàm số của mong đợi, cảm nhận cùng
với khoảng cách giữa cảm nhận và mong đợi”
Dựa trên sự tổng hợp những định nghĩa trên, có thể hiểu sự hài lòng của một cá nhân là việc cá nhân đó căn cứ vào những hiểu biết của mình đối với một vấn đề nào
đó mà hình thành nên những đánh giá hoặc phán đoán chủ quan Đó là một dạng cảm
Trang 32giác về tâm lý sau khi nhu cầu của cá nhân được thỏa mãn Sự hài lòng của một cá
nhân được hình thành trên cơ sở những kinh nghiệm, đặc biệt được tích lũy khi sử
dụng hoặc thụ hưởng Sau khi sử dụng, cá nhân đó sẽ có sự so sánh giữa thực tế và
kỳ vọng, từ đó đánh giá là hài lòng hay không hài lòng Như vậy, có thể hiểu được sự hài lòng hoặc không hài lòng phát sinh từ việc so sánh giữa những lợi ích thực tế và
những kỳ vọng sau khi sử dụng hoặc thụ hưởng dựa vào cảm nhận của một người
Về bài nghiên cứu này, do sự hài lòng thể hiện qua cảm nhận chủ quan của từng cá nhân kế toán viên dựa trên từng lợi ích họ nhận được từ tương tác với hệ thống ERP mang lại nên việc đo lường mức độ hài lòng phải sử dụng những thang đo và thông qua khảo sát
2.3.2 Các tiêu chí v ề sự hài lòng
Về sự hài lòng của người sử dụng đối với ERP cũng vậy, người sử dụng ERP có
thể đánh giá được mức độ hài lòng của mình sau khi so sánh những lợi ích thu được
so với kỳ vọng trước khi triển khai Như đã đề cập ở trên, việc ứng dụng ERP trong
hoạt động của doanh nghiệp mang lại nhiều lợi ích Doanh nghiệp nào triển khai và
sử dụng hiệu quả thì càng nhận được nhiều lợi ích từ hệ thống ERP mang lại Tuy nhiên, mỗi người sử dụng khác nhau có thể cảm nhận những lợi ích này một cách khác nhau và sự hài lòng của từng nhóm sử dụng có thể sẽ khác nhau
Đối với người kế toán khi sử dụng ERP, sự hài lòng của họ xuất phát từ những lợi ích kế toán có được từ việc triển khai và ứng dụng ERP Cũng như bất cứ một công
cụ nào khác, khi chúng mang lại nhiều lợi ích thì người sử dụng cảm thấy hài lòng nhiều hơn Trên phương diện lợi ích kế toán, sẽ có hai hướng tác động đến sự hài lòng của người sử dụng Thứ nhất là số lượng lợi ích kế toán, thứ hai là mức độ cảm
nhận về lợi ích kế toán của người sử dụng Điều này có nghĩa là khi việc triển khai ERP mang lại càng nhiều lợi ích thì sự hài lòng của người sử dụng càng ở mức cao
và nếu người sử dụng đánh giá cao về những lợi ích có được đó thì sự hài lòng của
họ cũng sẽ cao hơn
Trang 33Nghiên cứu của Calisir và Calisir (2004) đã tiến hành khảo sát nhằm hiểu rõ hơn
những yếu tố nào ảnh hưởng đến sự hài lòng của người sử dụng cuối cùng của ERP
Một công cụ đã được xây dựng và gồm có 28 biến đo lường sáu tính năng sử dụng,
cụ thể là: "sự ổn định của hệ thống", "tính tương thích", “tính linh hoạt”, "hướng dẫn người sử dụng", "khả năng học hỏi", "tối thiểu bộ nhớ sử dụng"- đồng nghĩa với "nhận
thức sự hữu ích" và "nhận thức tính dễ sử dụng" Từ đó, bài nghiên cứu kết luận được
"nhận thức sự hữu ích" và "khả năng học hỏi" là yếu tố chính quyết định đến sự hài lòng của người dùng cuối ERP
Zviran và cộng sự (2005) đã kiểm tra, trong bối cảnh sử dụng ERP, có mối quan
hệ giữa sự hài lòng của người dùng ERP và nhận thức tính hữu ích Hơn nữa, sáu đặc tính người dùng, cụ thể là: module mà người dùng sử dụng, vị trí trong hệ thống phân
cấp tổ chức, trình độ học vấn, tuổi tác, kinh nghiệm máy tính và giới tính đã được
khảo sát liệu có ảnh hưởng đến sự hài lòng của người dùng ERP và nhận thức tính
hữu ích Dựa vào kết quả thu được, tác giả kết luận rằng nhận thức tính hữu ích chính
là yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của người dùng ERP Bên cạnh đó, sự hài lòng
của người dùng ERP cũng như sự nhận thức về tính hữu ích không bị ảnh hưởng bởi sáu đặc tính người dùng nêu trên
Theo nghiên cứu của Somers, Nelson và Karimi (2003), đã nêu ra các tiêu chí về
sự hài lòng của người kế toán khi sử dụng ERP dựa trên các lợi ích họ nhận và được
tổng hợp theo các câu hỏi sau:
Phần mềm có cung cấp các thông tin, số liệu có ích và kịp thời cho tôi?
Thông tin và dữ liệu đầu ra cung cấp bởi phần mềm có chính xác và đầy đủ?
Dữ liệu được cung cấp bởi hệ thống ERP có được cập nhật liên tục theo
mục đích của tôi ?
Phần mềm mà tôi sử dụng phải đối mặt với những sự cố bất ngờ về hệ thống, gây khó khăn cho công việc của tôi?
Phần mềm có dễ sử dụng?
Trang 34 Phần mềm có giúp tôi làm việc hiệu quả hơn và tác động tích cực đến năng
suất làm việc của tôi không?
Nhìn chung, dựa trên các nghiên cứu đã nêu, khóa luận sẽ lựa chọn nghiên cứu của Zviran và cộng sự (2005); Somers, Nelson và Karimi (2003) để làm nền tảng nghiên
cứu, do các nghiên cứu trên đã chứng minh rằng sự hài lòng của người sử dụng ERP
xuất phát từ sự nhận thức về tính hữu ích của ERP, đồng nghĩa với việc người kế toán khi sử dụng ERP, sẽ có cảm nhận cá nhân riêng về các lợi ích họ nhận được
2.4 Các lý thuy ết nền tảng áp dụng
2.4.1 Lý thuy ết “Kỳ vọng- Xác nhận”-Expectation Confirmation Theory
Một lý thuyết thông dụng để xem xét sự hài lòng của khách hàng là lý thuyết “Kỳ
vọng-Xác nhận” Lý thuyết được phát triển bởi Oliver (1980) và bao gồm bốn cấu trúc chính: Sự kỳ vọng, Sự cảm nhận khi sử dụng, Đánh giá dựa trên so sánh với kỳ
vọng và Sự hài lòng Lý thuyết này được sử dụng rất nhiều tại các lĩnh vực nghiên
cứu: Tiêu dùng, Tâm lý, Marketing và kể cả Hệ thống thông tin
Hình 2.1 Sơ đồ mô hình Lý thuyết “Kỳ vọng- Xác nhận” (nguồn: wiki)
Lý thuyết bao gồm hai quá trình nhỏ có tác động độc lập đến sự hài lòng của người
Trang 35Trước hết, người sử dụng hình thành trong suy nghĩ của mình những kỳ vọng về
những yếu tố cấu thành nên chất lượng sản phẩm/ dịch vụ mà họ sẽ có được trước khi
họ sử dụng sản phẩm/ dịch vụ đó
Sau đó việc sử dụng sản phẩm/ dịch vụ sẽ đóng góp vào cảm nhận của người sử
dụng về hiệu năng thực sự của sản phẩm/ dịch vụ mà họ đang sử dụng
Sự thỏa mãn đi đến sự hài lòng của người sử dụng chính là kết quả của sự đánh giá cảm nhận riêng của mỗi người sử dụng về hiệu quả mà sản phẩm/ dịch vụ đó mang lại giữa những gì mà họ kỳ vọng trước đó, sẽ có 3 trường hợp:
Sự hài lòng được xác nhận nếu hiệu quả của sản phẩm/ dịch vụ đó hoàn toàn trùng với kỳ vọng của người sử dụng;
Sẽ thất vọng nếu hiệu quả của sản phẩm/ dịch vụ không phù hợp với kỳ
vọng, mong đợi của người sử dụng;
Sẽ hài lòng nếu như những gì họ cảm nhận khi đã sử dụng sản phẩm/ dịch
vụ vượt qua những gì mà họ mong đợi và kỳ vọng trước khi sử dụng
Ở đây, việc sử dụng lý thuyết này để nghiên cứu sự hài lòng của người sử dụng khi nhận được các lợi ích kế toán của ERP là hoàn toàn phù hợp Xét ở góc độ khi Kế toán viên sử dụng ERP, có sự liên hệ giữa Sự cảm nhận về các lợi ích mà ERP mang
lại với Sự kỳ vọng trong công việc của họ Điều này dẫn đến ở mỗi cá nhân Kế toán hình thành nên những cảm nhận, những đánh giá riêng khi họ sử dụng ERP, dẫn đến
liệu họ có hài lòng với những lợi ích mà họ đang có được từ ERP hay không
2.4.2 Lý thuy ết diễn ngôn-Discourse Theory
Lý thuyết dựa trên ba cơ sở định nghĩa:
Thứ nhất, diễn ngôn định hướng cho sự tác động đến hiện thực
Thứ hai, diễn ngôn là “một nhóm các nhận định được cá thể hóa”
Thứ ba, diễn ngôn “như một hoạt động được kiểm soát/ điều chỉnh nhằm
tạo nên một tập hợp các nhận định” là định nghĩa có ảnh hưởng nhất Nghiên cứu của Kanellou và Spathis (2013) đã đề cập đến lý thuyết diễn ngôn và cho rằng đây là một lý thuyết tốt có thể giúp thuyết giải thích cho sự thay thế một
Trang 36công nghệ này từ một công nghệ khác (chẳng hạn sự thay thế của hệ thống kế toán
Hình 2.2 Sơ đồ mô hình Lý thuyết Diễn ngôn (nguồn: wiki)
Việc sử dụng Lý thuyết Diễn ngôn trong nghiên cứu này nhằm để thấy được các
cảm nhận đánh giá thực tế qua khảo sát từng cá nhân, từ đó thấy được mối liên hệ
giữa các Lợi ích kế toán với sự hài lòng của người sử dụng ERP, từ đó có thể làm rõ
và chứng minh được giả thuyết lúc đầu được đặt ra: “Người sử dụng ERP sẽ đạt được
sự hài lòng như kỳ vọng”
2.4.3 Mô hình DeLone- McLean
Mô hình thành công của hệ thống thông tin của Delone và McLean là một lý thuyết
về hệ thống thông tin (IS) nhằm giải thích cho sự thành công của hệ thống thông tin
bằng cách xác định, mô tả và giải thích các mối quan hệ của sáu yếu tố quan trọng
của sự thành công thông qua hệ thống thông tin Sự phát triển ban đầu của lý thuyết được thực hiện bởi William H DeLone và Ephraim R McLean vào năm 1992, đến
Giả thuyết: Người sử dụng
ERP đạt được sự hài lòng
Lợi ích thực tế Cảm nhận-
đánh giá ERP
Trang 37năm 2003 đưa ra điều chỉnh lại mô hình lý thuyết Và trong vòng một thập niên sau,
mô hình này đã được các nhà nghiên cứu khác tiếp tục bổ sung và hoàn thiện hơn Sáu yếu tố được nêu ra trong mô hình là: chất lượng thông tin, chất lượng hệ thống,
chất lượng dịch vụ, ý định sử dụng, sự hài lòng của người dùng và lợi ích hệ thống mang lại
Hình 2.3 Mô hình DeLone - McLean (2003)
Yếu tố “chất lượng hệ thống” và “chất lượng thông tin” ảnh hưởng riêng lẻ và ảnh hưởng kết hợp đến cả “ý định sử dụng” và “sự hài lòng của người sử dụng” Ngoài
ra, “ý định sử dụng” có thể ảnh hưởng đến “sự hài lòng của người sử dụng” (tích cực hay tiêu cực và ngược lại)
Yếu tố “ý định sử dụng” và “sự hài lòng của người sử dụng” có mối liên hệ chặt
chẽ “Ý định sử dụng” phải đi trước “Sự hài lòng của người sử dụng và “ý định sử
dụng” tích cực sẽ dẫn đến “sự hài lòng của người sử dụng” cao hơn trong ý nghĩa mối quan hệ nhân quả Tương tự, việc gia tăng “sự hài lòng của người sử dụng” sẽ dẫn đến tăng “ý định sử dụng” và kết quả là sẽ tạo ra “lợi ích ròng”
Nhưng đáng lưu ý hơn, chính là, trong mô hình này, tác giả đã đưa ra kết luận:
“Khi yếu tố “lợi ích ròng” mang tính tích cực, sẽ ảnh hưởng và củng cố kết quả của
yếu tố “ý định sử dụng” và “sự hài lòng của người sử dụng” Ngược lại, khi yếu tố
chất lượng thông tin
Trang 38“lợi ích ròng” là tiêu cực có khả năng dẫn đến giảm sử dụng và không tiếp tục hệ
thống.” Do đó, việc sử dụng mô hình này trong luận văn nhằm giải thích và củng cố
chặt chẽ hơn mối quan hệ giữa yếu tố Lợi ích và yếu tố Sự hài lòng của người sử
dụng trong một hệ thống thông tin
2.4.4 Đánh giá về việc áp dụng lý thuyết
Qua hai lý thuyết trên cùng với mô hình thành công hệ thống thông tin của McLean (2003), có thể thấy được sự kết nối giữa các lợi ích kế toán và sự hài lòng
DeLone-của người kế toán thông qua sự cảm nhận riêng của mỗi người Nghiên cứu này chỉ
ra rõ được: Chính mỗi người kế toán sẽ cảm nhận được những lợi ích từ ERP mang
lại, và dựa trên kỳ vọng mỗi người, họ lại đánh giá và so sánh kỳ vọng đó với lợi ích
nhận được, từ đó mới có được sự hài lòng với hệ thống ERP
Dựa trên các nghiên cứu sau, có thể hiểu rõ về mối liên hệ giữa lợi ích kế toán với
sự hài lòng của người sử dụng ERP:
Nghiên cứu Yu (2005) nhấn mạnh “Một hệ thống mà mọi người không hài lòng chính là ít có khả năng được sử dụng và tạo ra kết quả có lợi cho người
sử dụng”
Trong nghiên cứu của Yang và cộng sự (2006), đã nhận xét “Không thể thành công trong một ứng dụng ERP trừ khi mọi người có thái độ tích cực
về nó và hành xử theo những cách có thể thu được lợi ích từ nó”
Trong mô hình nghiên cứu của Ömür Y Saatçıoğlu (2009) đã nêu ra kết
luận rằng các lợi ích có ảnh hưởng lên sự hài lòng của người dùng Tác giả đưa ra kiến nghị, nếu giải quyết những khiếm khuyết và rủi ro của ERP,
những lợi ích người dùng nhận được sẽ có ảnh hưởng hiệu quả hơn lên sự hài lòng của họ
Do đó, từ các nghiên cứu trên, có thể thấy, việc hệ thống ERP đem lại các lợi ích cho người kế toán, sẽ chính là nguyên nhân tác động, và ảnh hưởng đến cảm nhận
của họ, và thông qua cảm nhận, sẽ dẫn đến mức độ hài lòng của từng người dùng
Trang 39K ết luận
Chương 2 đưa ra những vấn đề cơ bản về ERP và quan trọng hơn là lý thuyết về
những lợi ích kế toán của ERP và sự hài lòng của người sử dụng Từ những nội dung
giới thiệu về ERP như khái niệm, phân loại, đặc điểm ERP, chương này giúp hiểu rõ hơn về ERP cũng như việc sử dụng ERP ở Việt Nam Và qua khái niệm về những lợi ích kế toán mà việc ứng dụng ERP mang lại, bài nghiên cứu liệt kê và làm rõ những
lợi ích đó thông qua cách tiếp cận các nghiên cứu khác nhau đã đi trước Bên cạnh
đó, cũng cho thấy được khái niệm và các tiêu chí về sự hài lòng của người sử dụng
xuất phát từ những cảm nhận lợi ích kế toán mà việc ứng dụng ERP mang lại Từ
những cơ sở lý thuyết này, tác giả sẽ tiến hành để đo lường và đưa ra kết quả phân tích cuối cùng trong các chương sau
Trang 40CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trong chương 2 tác giả đã giới thiệu một số khái niệm về các cơ sở lý thuyết đề tài và một số nghiên cứu của các nhà nghiên cứu đã được công nhận trên thế giới cũng như các nghiên cứu tại Việt nam để từ đó rút ra những kết luận Chính các cơ
sở lý thuyết này làm nền tảng cho nghiên cứu trong chương 3 này Ở chương này, tác
giả sẽ giới thiệu các phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong đề tài nghiên cứu này
3.1 Quy trình nghiên c ứu
Quy trình nghiên cứu này được tóm tắt như sau: Sau khi xây dựng các bảng câu
hỏi và phân loại các nhóm lợi ích kế toán có được từ việc ứng dụng ERP dựa trên
những nghiên cứu đã tham khảo, tác giả tiến hành nghiên cứu nhằm trả lời các câu
hỏi nghiên cứu ban đầu với các bước thực hiện như sau:
Thứ nhất, sau khi xây dựng bảng câu hỏi khảo sát, tiến hành chọn mẫu và thu thập
số liệu, đồng thời đánh giá về độ tin cậy thang đo Giai đoạn này là giai đoạn xây
dựng dữ liệu nghiên cứu, nên cần được thực hiện với nguyên tắc hợp lý và tin cậy,
tiến hành chọn lọc và rà soát những bảng câu hỏi khảo sát thu thập được, và thang đo
phải phù hợp đảm bảo độ tin cậy của dữ liệu nghiên cứu
Thứ hai, là giai đoạn phân tích nhân tố EFA Giai đoạn này nhằm để khám phá
những nhân tố quan trọng, có ý nghĩa về lợi ích kế toán theo cảm nhận của người sử
dụng ERP và sự hài lòng của họ Đồng thời, sử dụng phương pháp này sẽ giúp rút
gọn dữ liệu để có thể dễ dàng tiến hành xây dựng mô hình thực nghiệm Mục đích
của phân tích nhân tố EFA một mặt là để thấy rõ được các nhóm nhân tố, một mặt
nhằm đảm bảo sự phù hợp của dữ liệu trong mô hình hồi quy đa biến
Thứ ba, tiến hành kiểm định hệ số tương quan để kiểm tra mối quan hệ tuyến tính
giữa các biến độc lập và các biến phụ thuộc và giữa các biến độc lập với nhau Nếu các biến có tương quan chặt thì phải lưu ý đến vấn đề đa cộng tuyến
Cuối cùng là xây dựng mô hình hồi quy đa biến Mô hình hồi quy đa biến nhằm
mục tiêu xem xét về mối quan hệ giữa các lợi ích kế toán với sự hài lòng của người