1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá và phân bổ rủi ro hợp lý cho các bên tham gia trong các dự án đầu tư theo hình thức đối tác công tư (PPP) tại thành phố hồ chí minh

133 224 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 133
Dung lượng 2,63 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài nghiên cứu “Đánh giá và phân bổ rủi ro hợp lý cho các bên tham gia trong các dự án đầu tư theo hình thức đối tác công tư PPP tại thành phố Hồ Chí Minh” nhằm tìm ra các rủi ro tiềm

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

HỒNG PHI VŨ

ĐÁNH GIÁ VÀ PHÂN BỔ RỦI RO HỢP LÝ CHO CÁC BÊN THAM GIA TRONG CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ THEO HÌNH THỨC ĐỐI TÁC CÔNG TƯ (PPP) TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Chuyên ngành : Quản lý công

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS SỬ ĐÌNH THÀNH

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – NĂM 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan rằng Luận văn “Đánh giá và phân bổ rủi ro hợp lý cho các bên

tham gia trong các dự án đầu tư theo hình thức đối tác công tư (PPP) tại thành phố Hồ Chí Minh” là công trình nghiên cứu do chính tôi thực hiện

Các số liệu thu thập và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn hợp pháp, trung thực Các tài liệu tham khảo có nguồn trích rõ ràng

Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung và tính trung thực của đề tài nghiên cứu./

Người thực hiện luận văn

Hồng Phi Vũ

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

MỤC LỤC ii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT v

DANH MỤC CÁC BẢNG, CÁC HÌNH vi

TÓM TẮT vii

Chương 1 GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI 1

1.1 Tên đề tài 1

1.2 Bối cảnh nghiên cứu 1

1.3 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu 2

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

1.5 Phương pháp nghiên cứu 3

1.6 Cấu trúc luận văn 4

Chương 2 TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC 5

2.1 Các khái niệm 5

2.1.1 Khái niệm liên quan đến đầu tư theo hình thức đối tác công tư (PPP) 5

2.1.2 Rủi ro, đo lường mức rủi ro trong các dự án PPP 6

2.1.3 Phân bổ rủi ro trong các dự án PPP 7

2.1.4 Quản lý rủi ro trong các dự án PPP 8

2.2 Tổng quan các nghiên cứu nước ngoài 9

2.2.1 Xác định (nhận diện) và đo lường mức rủi ro trong hình thức PPP 9

Trang 5

2.2.2 Phân bổ rủi ro trong hình thức PPP 11

2.3 Tổng quan các nghiên cứu trong nước 13

2.3.1 Xác định (nhận diện) và đo lường mức rủi ro trong hình thức PPP 13 2.3.2 Phân bổ rủi ro trong hình thức PPP 14

2.4 Kết quả rút ra từ các nghiên cứu trước 15

2.5 Mô hình nghiên cứu 17

Chương 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23

3.1 Quy trình nghiên cứu 23

3.2 Thiết kế bảng hỏi 24

3.3 Lựa chọn mẫu khảo sát 24

3.4 Thu thập dữ liệu 25

3.5 Phương pháp phân tích dữ liệu 25

Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÌNH LUẬN 26

4.1 Thông tin mẫu khảo sát 26

4.2 Thống kê mô tả thông tin về loại hợp đồng, lĩnh vực đầu tư 27

4.2.1 Loại hợp đồng 27

4.2.2 Lĩnh vực đầu tư 27

4.3 Kết quả kiểm định hệ số tương quan Kendall 28

4.4 Đánh giá Mức rủi ro trong các dự án đầu tư theo hình thức PPP tại TP HCM 33

4.5 So sánh Mức rủi ro các dự án BOT, BT, PPP 35

4.6 Phân bổ rủi ro các dự án đầu tư theo hình thức PPP tại TP HCM 41

Trang 6

4.8 So sánh phân bổ rủi ro các dự án PPP tại TP HCM với các nghiên cứu

trước 51

Chương 5 TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ KHUYẾN NGHỊ 56

5.1 Tóm tắt kết quả nghiên cứu 56

5.2 Khuyến nghị, giải pháp quản lý rủi ro 62

5.3 Hạn chế của đề tài 63

KẾT LUẬN 65

TÀI LIỆU THAM KHẢO 66

PHỤ LỤC 71

Trang 7

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

1 PPP Đối tác công tư

2 TP HCM Thành phố Hồ Chí Minh

3 BOT Hợp đồng Xây dựng - Kinh doanh - Chuyển giao

4 BTO Hợp đồng Xây dựng - Chuyển giao - Kinh doanh

5 BT Hợp đồng Xây dựng - Chuyển giao

6 BOO Hợp đồng Xây dựng - Sở hữu - Kinh doanh

7 BTL Hợp đồng Xây dựng - Chuyển giao - Thuê dịch vụ

8 BLT Hợp đồng Xây dựng - Thuê dịch vụ - Chuyển giao

9 O&M Hợp đồng Kinh doanh - Quản lý

10 CSHT Cơ sở hạ tầng

12 EFA Exploratory Factor Analysis

13 SPSS Statistical Package for the Social Sciences

14 UBND Ủy ban Nhân dân

16 ADB Ngân hàng phát triển Châu Á

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG VÀ HÌNH CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Danh mục các yếu tố rủi ro trong các dự án PPP tại TP HCM 18

Bảng 4.1 Kết quả thu thập phiếu điều tra 26

Bảng 4.2 Thống kê đối tượng tham gia trong các dự án PPP 26

Bảng 4.3 Thống kê về tiến độ xa nhất của dự án 26

Bảng 4.4 Thống kê loại hợp đồng trên kết quả khảo sát 27

Bảng 4.5 Thống kê về lĩnh vực đầu tư của người được hỏi 28

Bàng 4.6 Kết quả kiểm định hệ số tương quan Kendall 29

Bảng 4.7 Kết quả đánh giá mức rủi ro các dự án PPP 33

Bảng 4.8 So sánh kết quả đánh giá mức rủi ro các dự án BOT, BT, PPP 37

Bàng 4.9 Kết quả phân bổ rủi ro các dự án PPP 42

Bảng 4.10 So sánh kết quả phân bổ rủi ro hợp lý các dự án BOT, BT, PPP 47

Bảng 4.11 So sánh phân bổ rủi ro các dự án PPP tại TP HCM với các nghiên cứu trước 52

Bảng 5.1 Tổng hợp kết quả nghiên cứu (Mức rủi ro có giá trị 1-25) 57

CÁC HÌNH Hình 2.1 Mô hình nghiên cứu thực nghiệm về đánh giá và phân bổ các yếu tố rủi ro trong các dự án PPP tại TP HCM 22

Trang 9

TÓM TẮT

Đầu tư theo hình thức đối tác công tư (PPP) đã được triển khai thực hiện rất mạnh ở các nước với lợi thế là huy động được nguồn lực từ khu vực tư nhân như nguồn vốn, kỹ năng quản lý, tính năng động, Tại Việt Nam nói chung và thành phố

Hồ Chí Minh nói riêng giải pháp cho đầu tư phát triển, nâng cao chất lượng dịch vụ công là đẩy mạnh đầu tư theo hình thức đối tác công tư, phát huy nguồn lực từ khu vực tư nhân, trong khi nguồn vốn ngân sách Nhà nước không đáp ứng được yêu cầu phát triển

Nhiều dự án đầu tư theo hình thức PPP tại TP HCM đã được Thành phố kêu gọi nhưng không thu hút được các nhà đầu tư Một trong những nguyên nhân là các rủi ro trong đầu tư chưa được xác định và phân bổ hợp lý cho các bên đối tác công –

Đề tài nghiên cứu “Đánh giá và phân bổ rủi ro hợp lý cho các bên tham gia trong các dự án đầu tư theo hình thức đối tác công tư (PPP) tại thành phố Hồ Chí Minh” nhằm tìm ra các rủi ro tiềm ẩn, đánh giá đúng mức độ rủi ro nếu nó xảy ra và đồng thời phân bổ rủi ro hợp lý nhất theo nguyên tắc “rủi ro được phân bổ cho bên

có khả năng kiểm soát nó tốt nhất”

Xuất phát từ yêu cầu đánh giá và phân bổ rủi ro hợp lý trong các dự án đầu tư theo hình thức đối tác công tư (PPP) tại thành phố Hồ Chí Minh, tác giả đã lược khảo các tài liệu, các nghiên cứu trước, tham vấn chuyên gia và nhận diện được 58 yếu tố rủi ro được nhóm trong 9 nhóm rủi ro

Một cuộc điều tra với tổng cộng 295 phiếu khảo sát được phát hành, 103 phiếu trả lời thu được để phân tích dữ liệu Tác giả đã phân tích, xác định, đánh giá mức rủi

ro của 58 yếu tố rủi ro và xếp hạng các rủi ro theo mức độ rủi ro Kết quả đánh giá rủi ro: Chậm trễ trong quá trình phê duyệt và cấp phép dự án có Mức rủi ro cao nhất 12.67, Tham nhũng của quan chức Chính phủ xếp thứ 2, Các luật về PPP chưa đầy

đủ, rõ ràng, phù hợp xếp thứ 3, Thất bại hoặc chậm trễ trong thu hồi đất, bàn giao mặt

Trang 10

Thực trạng các rủi ro được phân bổ chủ yếu cho khu vực tư nhân (43/58 rủi ro) Có sự khác biệt rất lớn giữa Thực trạng phân bổ và Đề xuất phân bổ rủi ro hợp lý (49/58 rủi ro có sự khác biệt trong phân bổ) Điều này lý giải phần nào lý do các Nhà đầu tư đã phải gánh chịu quá nhiều rủi ro trong đầu tư các dự án theo hình thức PPP tại TP HCM nên đã ngần ngại, không tham gia thực hiện dự án

Kết quả phân bổ rủi ro hợp lý có 27/58 rủi ro được phân bổ cho khu vực Nhà nước, 19/58 rủi ro được chia sẻ giữa Nhà nước và tư nhân, 12/58 rủi ro do Tư nhân đảm nhận

Các dự án PPP khác nhau về loại hợp đồng (BOT, BT); các quốc gia, vùng có điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội khác nhau thì cũng có cách đánh giá và phân bổ rủi ro khác nhau

Nghiên cứu cung cấp danh mục các rủi ro, có đánh giá mức rủi ro và phân bổ hợp lý cho các dự án BOT, BT và tổng thể PPP (Bảng 5.1) Danh mục này góp phần giúp Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền và Nhà đầu tư xem xét các rủi ro và cách phân

bổ rủi ro hợp lý để thực hiện các dự án đầu tư theo hình thức đối tác công tư (PPP) trên địa bàn TP HCM

Luận văn cũng đã đưa ra 10 khuyến nghị, giải pháp nhằm giúp Cơ quan quản

lý Nhà nước, Nhà đầu tư xác định kịp thời các rủi ro và quản lý tốt các rủi ro trong các dự án đầu tư theo hình thức PPP tại TP HCM

Trang 11

Chương 1 GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI 1.1 Tên đề tài: “Đánh giá và phân bổ rủi ro hợp lý cho các bên tham gia trong các dự án đầu tư theo hình thức đối tác công tư (PPP) tại Thành phố Hồ Chí Minh”

1.2 Bối cảnh nghiên cứu

Với nhu cầu đầu tư phát triển hiện nay là rất lớn, trong khi nguồn vốn ngân sách còn hạn hẹp nên việc huy động các nguồn lực từ xã hội cho đầu tư là cần thiết Giải pháp cho đầu tư là kêu gọi theo hình thức đối tác công tư (PPP), với sự tham gia của khu vực tư nhân

Trong những năm gần đây, nhiều dự án đầu tư được kêu gọi theo hình thức đối tác công tư (PPP) tại TP HCM triển khai thực hiện chậm, không kêu gọi được nhà đầu tư Theo Báo cáo của Sở Kế hoạch và đầu tư TP HCM (2017), “Trong giai đoạn (2004 – 2017), có 23 dự án đầu tư theo hình thức BOT, BT, BTO, BOO đã hoàn thành

và đang được triển khai thực hiện với tổng mức đầu tư khoảng 71.172 tỷ đồng Trong

đó, lĩnh vực giao thông vận tải có 17 dự án, lĩnh vực môi trường có 02 dự án, lĩnh vực bãi đậu xe ngầm có 02 dự án, hạ tầng kỹ thuật có 01 dự án, Văn hóa có 01 dự án” (Phụ lục F)

Cũng theo Báo cáo của Sở Kế hoạch và đầu tư TP HCM (2017), “Hiện nay, trên địa bàn Thành phố có 20 dự án đầu tư theo hình thức đối tác công tư đã hoàn tất

ký kết hợp đồng dự án và triển khai thực hiện với tổng mức đầu tư khoảng 67 nghìn

tỷ đồng Hiện Thành phố đang nghiên cứu, kêu gọi đầu tư theo hình thức PPP trên

200 dự án, với tổng mức đầu tư khoảng 486 nghìn tỷ đồng”

Phải chăng đã có những rủi ro trong đầu tư mà các nhà đầu tư còn e ngại, không tham gia thực hiện dự án Việc phân bổ rủi ro giữa các đối tác chưa hợp lý

Với bối cảnh và tình hình này, vấn đề đặt ra là làm sao các dự án đầu tư theo hình thức đối tác công tư được triển khai thực hiện nhanh, hiệu quả, đáp ứng nhu cầu

Trang 12

hướng phân bổ rủi cho các bên tham gia sao cho hợp lý nhất để đẩy mạnh việc triển khai thực hiện các dự án (PPP) tại TP HCM trong thời gian tới

Mặt khác, theo tìm hiểu của tác giả thì hiện nay chưa có đề tài nào nghiên cứu

về xác định (nhận diện), đánh giá và phẩn bổ rủi ro trong các dự án đầu tư theo hình thức đối tác công tư tại TP HCM

Đề tài nghiên cứu “Đánh giá và phân bổ rủi ro hợp lý cho các bên tham gia trong các dự án đầu tư theo hình thức đối tác công tư (PPP) tại Thành phố Hồ Chí Minh” là cấp thiết, có ý nghĩa thực tiễn

1.3 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu

+ Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là nhằm (1) xác định và đánh giá mức rủi ro, (2) đánh giá thực trạng rủi ro được phân bổ, và (3) phân bổ các yếu tố rủi ro hợp lý cho các bên tham gia trong các dự án đầu tư theo hình thức PPP tại TP HCM Từ đó, đưa ra một số khuyến nghị giúp các bên đối tác quản lý tốt các rủi ro để thúc đẩy việc thực hiện các dự án đầu tư theo hình thức đối tác công tư (PPP) tại TP HCM

+ Câu hỏi nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu nghiên cứu cụ thể nêu trên, nội dung của luận văn phải trả lời được các câu hỏi nghiên cứu sau:

(1) Các dự án đầu tư theo hình thức PPP (tại TP HCM) có những yếu tố rủi

ro nào và mức độ rủi ro được đánh giá như thế nào?

(2) Các yếu tố rủi ro được phân bổ cho các bên tham gia trong các dự án đầu

tư theo hình thức PPP (tại TP HCM) có hợp lý chưa?

(3) Hướng phân bổ các yếu tố rủi ro như thế nào sao cho hợp lý nhất, đảm bảo thực hiện thành công các dự án PPP tại TP HCM?

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Trang 13

+ Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các yếu tố rủi ro trong các dự án đầu tư theo hình thức PPP tại TP HCM

+ Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi không gian: đề tài sẽ tiến hành nghiên cứu xác định, đánh giá và

phân bổ các yếu tố rủi ro trong các dự án đầu tư theo hình thức PPP tại TP HCM

- Phạm vi thời gian: thu thập tài liệu, số liệu nghiên cứu từ năm 2004 đến 2017

đối với các dự án đầu tư theo hình thức PPP tại TP HCM

1.5 Phương pháp nghiên cứu

Ngoài các phương pháp nghiên cứu như tổng hợp, phân tích, so sánh, luận văn sử dụng chủ yếu hai phương pháp nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng

để xác định kết quả nghiên cứu

(1) Nghiên cứu định tính là một phương pháp tiếp cận nhằm tìm cách nhận diện, mô tả và phân tích đặc điểm của các vấn đề nghiên cứu từ quan niệm được lựa chọn Trong phạm vi luận văn, phương pháp nghiên cứu định tính được thực hiện thông qua việc nghiên cứu tổng quan các tài liệu, công trình nghiên cứu trước đó, số liệu, tình huống nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận văn để khám phá kiến thức, tìm hiểu cơ sở lý luận Sử dụng phương pháp chuyên gia (phỏng vấn sâu với dàn bài soạn sẵn) để khai thác các nội dung xung quanh vấn đề nghiên cứu Trong nghiên cứu định tính với tình huống nghiên cứu và phỏng vấn sâu với dàn bài soạn sẵn, kích thước mẫu nghiên cứu thường <30 đơn vị Kết quả của quá trình nghiên cứu giúp tác giả hoàn chỉnh thang đo và khám phá những vấn đề mới

(2) Nghiên cứu định lượng là phương pháp xem xét hiện tượng theo cách có thể đo lường được trên các đối tượng nghiên cứu, bằng việc sử dụng các kỹ thuật thu thập dữ liệu như bảng hỏi có cấu trúc, quan sát,  Nghiên cứu định lượng với kích thước mẫu nghiên cứu >30 đơn vị Những phát hiện trong nghiên cứu định lượng

Trang 14

1.6 Cấu trúc luận văn

Luận văn được kết cấu gồm 5 chương như sau:

Chương 1 Giới thiệu đề tài

Chương 2 Tổng quan cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước Chương 3 Phương pháp nghiên cứu

Chương 4 Kết quả nghiên cứu và bình luận

Chương 5 Tóm tắt kết quả nghiên cứu và khuyến nghị

Trang 15

Chương 2 TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ THUYẾT

VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC 2.1 Các khái niệm

2.1.1 Khái niệm liên quan đến đầu tư theo hình thức đối tác công tư (PPP)

Có rất nhiều nghiên cứu và các tài liệu khác nhau đề cập tới khái niệm về hình thức PPP Tuy nhiên, khái niệm của ADB mô tả tương đối đầy đủ về hình thức PPP ADB (2008) trong tài liệu "Hướng dẫn về mối quan hệ hợp tác công tư", đã định

nghĩa thuật ngữ "PPP" là các mối quan hệ giữa Nhà nước và tư nhân liên quan đến quản lý, đầu tư trong lĩnh vực CSHT và các lĩnh vực dịch vụ khác thông qua các hợp đồng được thiết lập theo các mức độ nghĩa vụ, quyền lợi và rủi ro của hai bên đối tác

Theo Nghị định 15/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 của Chính phủ về đầu tư theo hình thức đối tác công tư:

1 Đầu tư theo hình thức đối tác công tư (PPP) là hình thức đầu tư được thực hiện trên cơ sở hợp đồng giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án để thực hiện, quản lý, vận hành dự án kết cấu hạ tầng, cung cấp dịch vụ công

2 Hợp đồng Xây dựng - Kinh doanh - Chuyển giao (BOT) là hợp đồng được

ký giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng; sau khi hoàn thành công trình, nhà đầu tư được quyền kinh doanh công trình trong một thời hạn nhất định; hết thời hạn, nhà đầu tư chuyển giao công trình

đó cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền

3 Hợp đồng Xây dựng - Chuyển giao - Kinh doanh (BTO) là hợp đồng được

ký giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng; sau khi hoàn thành công trình, nhà đầu tư chuyển giao cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền và được quyền kinh doanh công trình đó trong một thời hạn nhất

Trang 16

4 Hợp đồng Xây dựng - Chuyển giao (BT) là hợp đồng được ký giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng; nhà đầu tư chuyển giao công trình đó cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền và được thanh toán bằng quỹ đất để thực hiện Dự án khác

5 Hợp đồng Xây dựng - Sở hữu - Kinh doanh (BOO) là hợp đồng được ký giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư để xây dựng công trình kết cấu

hạ tầng; sau khi hoàn thành công trình, nhà đầu tư sở hữu và được quyền kinh doanh công trình đó trong một thời hạn nhất định

6 Hợp đồng Xây dựng - Chuyển giao - Thuê dịch vụ (BTL) là hợp đồng được

ký giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng; sau khi hoàn thành công trình, nhà đầu tư chuyển giao cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền và được quyền cung cấp dịch vụ trên cơ sở vận hành, khai thác công trình đó trong một thời hạn nhất định; cơ quan nhà nước có thẩm quyền thuê dịch vụ và thanh toán cho nhà đầu

7 Hợp đồng Xây dựng - Thuê dịch vụ - Chuyển giao (BLT) là hợp đồng được

ký giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng; sau khi hoàn thành công trình, nhà đầu tư được quyền cung cấp dịch vụ trên cơ sở vận hành, khai thác công trình đó trong một thời hạn nhất định; cơ quan nhà nước có thẩm quyền thuê dịch vụ và thanh toán cho nhà đầu tư; hết thời hạn cung cấp dịch vụ, nhà đầu tư chuyển giao công trình đó cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền

8 Hợp đồng Kinh doanh - Quản lý (O&M) là hợp đồng được ký giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư để kinh doanh một phần hoặc toàn bộ công trình trong một thời hạn nhất định

2.1.2 Rủi ro, đo lường mức rủi ro trong các dự án PPP

Khái niệm rủi ro được hiểu chung trong các trường hợp là sự sai biệt giữa kỳ vọng và thực tiễn

Trang 17

Trong trường hợp cụ thể với tiếp cận theo quan điểm quản trị và phân loại rủi

ro theo các yếu tố là nguồn gốc phát sinh rủi ro trong hình thức PPP, khái niệm về

yếu tố rủi ro được đưa ra: Một sự kiện hoặc yếu tố là yếu tố rủi ro, nếu xảy ra, có tác

động tiêu cực hoặc cơ hội tới mục tiêu của dự án (về thời gian, chi phí, chất lượng

và lợi nhuận)

Một đặc điểm cơ bản trong việc xác định (nhận diện) rủi ro theo yếu tố là khả năng có thể xác định được về xác suất xuất hiện và mức độ tác động (Williams, 1996) Trong đó:

- Xác suất xảy ra yếu tố rủi ro là cơ hội để yếu tố rủi ro đó xảy ra tạo điều kiện

thuận lợi hoặc bất lợi cho dự án, có thể đo lường bằng cách xác định tỷ lệ về số lần yếu tố rủi ro đó xuất hiện trong tổng số

- Mức độ tác động của yếu tố rủi ro là mức độ mà yếu tố rủi ro đó (khi xảy ra)

tác động đến kết quả của dự án

Từ đó, các công trình nghiên cứu về rủi ro trong hình thức PPP đã tiếp cận

theo quan điểm quản trị đã đo lường mức rủi ro của mỗi yếu tố rủi ro bằng cách nhân

xác suất xảy ra yếu tố rủi ro với mức độ tác động của yếu tố rủi ro đó

2.1.3 Phân bổ rủi ro trong các dự án PPP

Phân bổ rủi ro trong các dự án PPP đề cập đến một biện pháp chính của sự phân công giữa những người tham gia trực tiếp của dự án, đó là giữa khu vực công

và khu vực tư nhân; nếu cả hai bên cùng chịu một kết quả rủi ro nhất định, đó là cơ chế chia sẻ rủi ro (Li và cộng sự, 2005)

Phân bổ rủi ro hiệu quả giữa Nhà nước và tư nhân trong các dự án phát triển CSHT theo hình thức PPP là nhân tố quan trọng để đạt được thành công của dự án và đạt được hiệu quả đầu tư

(i) Mục tiêu của chuyển giao rủi ro

Việc phân bổ rủi ro cho các bên trong hợp đồng và quản lý rủi ro đó là trọng

Trang 18

tâm của kế hoạch dự án PPP (ESCAP, 2011) Mục tiêu của việc chuyển giao rủi ro:

Để cải thiện chất lượng dịch vụ (Michel, 2003); để giảm chi phí dài hạn của một dự

án bằng cách phân bổ rủi ro cho bên tốt nhất có thể để quản lý một cách hiệu quả nhất

về chi phí (Michel, 2003); chắc chắn về thời gian (Mohammed và cộng sự, 2012); tăng doanh thu và tăng hiệu quả đầu tư thông qua hoạt động hiệu quả (Mohammed

và cộng sự, 2012)

(ii) Nguyên tắc của chuyển giao rủi ro

Nguyên tắc 1: Rủi ro phải được hiểu bởi tất cả các bên tham gia để chia sẻ

trách nhiệm, rủi ro và để tất cả các bên có thể tích cực quản lý và kiểm soát (WB, 2007)

Nguyên tắc 2: Cần thiết lập được một danh mục đầy đủ các yếu tố rủi ro trong

các dự án hình thức hợp tác công tư (Shen và cộng sự, 2006)

Nguyên tắc 3: Mỗi rủi ro cần phân bổ cho bên tốt nhất có thể kiểm soát tác

động của rủi ro tới kết quả dự án, và do đó đảm bảo rằng kết quả thực tế gần nhất có thể so với kết quả mong đợi (Padiyar, 2004)

Nguyên tắc 4: Nguyên tắc cốt lõi của bất kỳ dự án PPP thành công là mỗi rủi

ro cần được phân bổ cho bên có khả năng kiểm soát rủi ro với chi phí thấp nhất (Padiyar, 2004)

Tóm lại, nguyên tắc cốt lõi của việc phân bổ rủi ro trong hình thức PPP là các yếu tố rủi ro cần được xác định và sau đó phân bổ cho bên có khả năng quản lý các yếu tố rủi ro đó tốt nhất

2.1.4 Quản lý rủi ro trong các dự án PPP

Quản lý rủi ro có hệ thống cho phép phát hiện sớm các rủi ro và khuyến khích các bên liên quan theo hình thức PPP xác định, phân tích, định lượng và ứng phó các rủi ro cũng như có biện pháp để giảm nhẹ rủi ro (Broome và Perry, 2002; Akbiyikli

và Eaton, 2004)

Trang 19

Nhìn chung, các nghiên cứu đều thống nhất quy trình quản lý rủi ro gồm 3 bước chính: xác định rủi ro; ứng phó với rủi ro; và kiểm soát rủi ro

(1) Xác định rủi ro quá trình này bao gồm xác định và đánh giá mức rủi ro

bằng phương pháp phân tích định tính, định lượng dựa trên cơ sở sử dụng bảng hỏi

(danh mục các yếu tố rủi ro) để phỏng vấn và thu thập số liệu điều tra các bên chịu

tác động bởi rủi ro Trong đó, mức rủi ro của mỗi yếu tố rủi ro được đo lường bằng cách nhân xác suất xảy ra với mức độ tác động của yếu tố rủi ro đó

(2) Ứng phó với rủi ro sử dụng phương pháp phân bổ (chuyển giao) rủi ro để

ứng phó với rủi ro

Nếu tiếp cận quy trình quản lý rủi ro trong các dự án đầu tư theo hình thức PPP

theo hướng tiêu cực thì nội dung cụ thể của ứng phó với rủi ro là giảm nhẹ rủi ro hoặc loại bỏ rủi ro Nhưng, nếu tiếp cận theo quy trình quản lý rủi ro trong các dự án

theo hình thức PPP với quan niệm bao hàm cả tiêu cực và cơ hội thì ứng phó với rủi

ro sẽ sử dụng bao gồm cả phương pháp phân bổ rủi ro, với nguyên tắc "rủi ro nên được quản lý bởi bên có khả năng quản lý rủi ro đó tốt nhất"

(3) Kiểm soát rủi ro đã được chuyển giao trong mỗi bên trong các dự án đầu

tư theo hình thức PPP

2.2 Tổng quan các nghiên cứu nước ngoài

2.2.1 Xác định (nhận diện) và đo lường mức rủi ro trong hình thức PPP

Danh mục đầy đủ các yếu tố rủi ro sẽ là công cụ giúp các nhà đầu tư trong các

dự án đầu tư theo hình thức PPP ứng phó, kiểm soát rủi ro, giảm nhẹ hậu quả tiềm tàng và mang lại thành công cho các dự án

Tác giả đã xem xét các tài liệu, công trình nghiên cứu về xác định (nhận diện)

và đo lường mức rủi ro trong hình thức PPP phát triển CSHT ở các quốc gia với quan niệm rủi ro đơn giản là tiêu cực, hay bao gồm cả tiêu cực và cơ hội, trên phương diện

lý luận và thực tiễn

Trang 20

Cristina và Jonathan (2007) nghiên cứu về rủi ro ảnh hưởng tới các dự án theo hình thức PPP và đánh giá kinh nghiệm của Mỹ trong việc áp dụng hình thức PPP, cũng như các yếu tố rủi ro quan trọng trong hình thức PPP phát triển CSHT, căn cứ theo nguồn phát sinh rủi ro đã chia rủi ro thành hai loại rủi ro thông thường và rủi ro đặc biệt

Li và cộng sự (2005b) nghiên cứu phân bổ rủi ro trong các dự án phát triển CSHT theo hình thức PPP/PFI ở Anh Trên cơ sở tổng hợp các nghiên cứu trước đó

Li và cộng sự (2005b) đã thiết lập danh mục các yếu tố rủi ro dựa trên cách phân loại rủi ro căn cứ vào nguồn phát sinh rủi ro và dựa trên quan niệm rủi ro bao hàm cả tiêu cực và cơ hội

Sachs và cộng sự (2007) với bài viết phân tích rủi ro chính trị và cơ hội trong hình thức PPP ở Trung Quốc và một số nước châu Á (được lựa chọn) Sachs và cộng

sự (2007) đã phân loại rủi ro thành hai nhóm căn cứ vào nguồn phát sinh rủi ro, bao gồm: rủi ro có thể bảo hiểm và rủi ro không thể bảo hiểm Trên cơ sở danh mục rủi

ro được xác định, để định lượng rủi ro Sachs và cộng sự thực hiện khảo sát 14 nước châu Á bằng việc sử dụng bảng hỏi để xác định (nhận diện) rủi ro Sachs và cộng sự

đã xác định được các yếu tố rủi ro bằng phương pháp nghiên cứu định lượng chỉ với

29 phiếu khảo sát trả lời

Wang và cộng sự (2000) nghiên cứu xác định danh mục các yếu tố rủi ro trong các dự án BOT tại Trung Quốc Wang và cộng sự dựa vào nghiên cứu tài liệu và nghiên cứu điển hình ở một số dự án BOT tại Trung Quốc vào những năm 1990 đã đưa ra một danh mục các yếu tố rủi ro với 6 loại rủi ro căn cứ vào nguồn gốc phát sinh, và với quan niệm rủi ro là tiêu cực

Ke và Wang (2010a) nghiên cứu về xác định (nhận diện) rủi ro trong các dự

án phát triển CSHT giao thông Trung Quốc theo hình thức PPP Trên cơ sở danh mục

34 yếu tố rủi ro được tổng hợp từ các nghiên cứu trước đó thông qua phương pháp chuyên gia Ke và cộng sự bổ sung thêm 3 yếu tố rủi ro

Để đo lường mức độ rủi ro, các nghiên cứu trước đều thống nhất đo lường rủi

Trang 21

ro bằng cách nhân sác xuất xảy ra rủi ro với mức độ tác động của rủi ro đó (Li và cộng sự, 2005; Ke và Wang, 2010; Padiyar, 2004; Philippe Burger và cộng sự, 2009; Zou và cộng sự, 2008)

2.2.2 Phân bổ rủi ro trong hình thức PPP

- Li và cộng sự (2005b) nghiên cứu phân bổ rủi ro trong các dự án phát triển

CSHT theo hình thức PPP/PFI ở Anh Trên cơ sở tổng hợp danh mục các yếu tố rủi

ro từ các nghiên cứu trước đó tác giả tiến hành xây dựng bảng hỏi phân bổ rủi ro Sau

đó, tác giả tiến hành phát ra 500 phiếu khảo sát đến các bên liên quan trong các dự án phát triển CSHT theo hình thức PPP/PFI ở Anh, và thu về 53 phiếu Trên cơ sở kết quả khảo sát, tác giả sử dụng phương pháp  50% phân bổ các yếu tố rủi ro cho các bên tham gia dự án PPP/PFI ở Vương quốc Anh

Kết quả nghiên cứu, Li và cộng sự chỉ ra 5 yếu tố rủi ro sẽ do Nhà nước đảm nhiệm, bao gồm: Quốc hữu hóa/sung công; quá trình ra quyết định công yếu kém;

xung đột chính trị; rủi ro độ tin cậy của Chính phủ; thất bại hoặc chậm trễ trong thu hồi đất Với thời gian dài ổn định chính trị trong lịch sử đương đại của chính phủ Anh, rủi ro chính trị có xu hướng trở thành một tác động nhỏ trong các dự án xây dựng hình thức PPP/PPI ở Anh và Nhà nước có thể quản lý chúng với một chi phí tương đối thấp Vì vậy, ít có khả năng phân bổ chúng cho đối tác tư nhân Rủi ro thất bại hoặc chậm trễ trong thu hồi đất được giữ lại bởi Nhà nước, kể từ khi chính phủ Anh có kinh nghiệm và nguồn lực để đối phó với rủi ro này Rủi ro thu hồi đất cũng

có xu hướng được quản lý bởi Nhà nước trong các dự án PPP ở nước ngoài Mặc dù hầu hết các câu trả lời khảo sát đồng ý rằng rủi ro thu hồi đất nên được phân bổ cho Nhà nước, nhưng vẫn còn một tỷ lệ tương đối lớn số người được hỏi (27%) cho rằng rủi ro này cần được chia sẻ

Kết quả khảo sát cho thấy rằng với 70% của tất cả các yếu tố rủi ro, các yếu tố

rủi ro được đưa vào danh mục tốt nhất nên phân bổ cho đối tác tư nhân Điều này cho

thấy rằng trong các dự án phát triển CSHT theo hình thức PPP/PFI ở Anh đã đạt được

Trang 22

Rủi ro bất khả kháng, rủi ro thay đổi khuôn khổ pháp lý cần được chia sẻ bởi

- Ke và cộng sự (2010b) nghiên cứu về phân bổ rủi ro trong các dự án đầu tư

theo hình thức PPP ở Trung Quốc Ke và cộng sự (2010b) sử dụng phương pháp chuyên gia với bảng hỏi khảo sát phân bổ các yếu tố rủi ro (được xác định từ nghiên cứu trước đó - Ke và cộng sự, 2010a) Tổng cộng 46 bảng hỏi khảo sát phân bổ rủi

ro phù hợp được sử dụng trong nghiên cứu định lượng phân bổ rủi ro với phương pháp nửa điều chỉnh

Kết quả nghiên cứu bằng bảng hỏi khảo sát chuyên gia cho thấy các yếu tố rủi

ro Nhà nước cần quản lý gồm: Quốc hữu hóa và sung công; rủi ro độ tin cậy của

Chính phủ; quá trình ra quyết định công yếu kém; xung đột chính trị; tham nhũng của quan chức chính phủ; rủi ro khi thay đổi khuôn khổ pháp lý; thay đổi trong quy định

về thuế, đấu thầu không cạnh tranh,

Các yếu tố rủi ro được chia sẻ giữa hai bên, chủ yếu bao gồm các rủi ro về

điều phối: Rủi ro bất khả kháng; rủi ro lãi suất; rủi ro lạm phát; phân bổ rủi ro trong hợp đồng cho hai bên không phù hợp; thiếu kinh nghiệm trong hoạt động PPP; thiếu cam kết từ một trong hai đối tác; rủi ro trong tổ chức và điều phối; rủi ro về độ tin cậy của bên thứ ba; rủi ro về lượng cầu; rủi ro hợp đồng thay đổi

Đối tác tư nhân đảm nhận phần lớn các yếu tố rủi ro gồm những rủi ro chủ

yếu như: Rủi ro về giảm khả năng cung cấp vốn và với chi phí cao; rủi ro về khả năng thu hút tài chính của dự án; rủi ro về kỹ thuật; rủi ro thiết kế; rủi ro về chi phí và thời gian xây dựng, vận hành và bảo trì cao hơn dự kiến; rủi ro lao động; và chậm trễ trong cung ứng vật tư, máy móc thiết bị; rủi ro thay đổi nhà đầu tư tư nhân

Trang 23

- Chan và cộng sự (2011) Nghiên cứu thực nghiệm về đánh giá và phân bổ

rủi ro các dự án hợp tác công tư tại Trung Quốc Tổng cộng 34 yếu tố rủi ro, Chan và cộng sự đã nghiên cứu định lượng phân bổ rủi ro với quan điểm thực nghiệm với 105 phiếu khảo sát Để kiểm định độ tin cậy của những người được hỏi, tác giả đã dùng

hệ số tương quan Kendall cho các nhóm khảo sát: tư nhân, Nhà nước, chuyên gia Tác giả đề xuất Phân bổ chủ yếu cho Nhà nước, chia sẻ rủi ro, chủ yếu cho Tư nhân; với thang Likert 5 điểm, tác giả phân bổ cho Nhả nước với điểm trung bình nhỏ hơn 2,875, từ 2,875 đến 3,125 phân bổ chia sẻ, lớn hơn 3,125 phân bổ cho Tư nhân

Kết quả nghiên cứu, tác giả đã phân bổ cho khu vực công và tư của 2 nhóm khảo sát Theo đó, khu vực công được phân bổ: 14 rủi ro cho Nhà nước, 12 chia sẻ,

8 cho tư nhân; khu vực Tư nhân được phần bổ: 14 cho Nhà nước, 3 chia sẻ, 17 cho

tư nhân; tổng hợp 2 khu vực: 15 phân bổ cho Nhà nước, 1 chia sẻ, 18 phân bổ cho tư nhân

Với cách phân bổ này, các dự án PPP cần được phân bổ mạnh, rõ ràng để các bên tính toán trong việc kiểm soát rủi ro ngay từ khi ký hợp đồng thực hiện dự án

2.3 Tổng quan các nghiên cứu trong nước

Với sự hiểu biết và cố gắng nghiên cứu của tác giả, trong nước có rất ít các công trình nghiên cứu về xác định và phân bổ rủi ro các dự án đầu tư theo hình thức đối tác công tư (PPP)

2.3.1 Xác định (nhận diện) và đo lường mức rủi ro trong hình thức PPP

Trịnh Thùy Anh (2006) "Nghiên cứu một số giải pháp quản lý rủi ro trong các

dự án xây dựng công trình giao thông ở Việt Nam" với quan niệm rủi ro là tiêu cực hoặc những tác động bất lợi đến các dự án công trình giao thông Tác giả đã thiết lập một danh mục rủi ro và đưa ra một số giải pháp quản lý rủi ro trong các dự án xây dựng công trình giao thông ở Việt Nam Tuy nhiên, danh mục các yếu tố rủi ro mà tác giả đưa ra chưa được các nghiên cứu trước đó chứng minh (thang đo chưa được kiểm định) Phạm vi nghiên cứu của tác giả là rủi ro trong các dự án xây dựng công

Trang 24

trình giao thông với hình thức đầu tư truyền thống (Nhà nước chịu toàn bộ rủi ro) Do

đó, trong nghiên cứu chỉ xuất hiện một số rủi ro đặc trưng của hình thức này như "bất bình đẳng do cơ chế xin cho; doanh nghiệp chạy theo thành tích; thủ tục trong thanh toán kéo dài; tiêu cực trong xây dựng cơ bản, " Vì vậy, trong phạm vi nghiên cứu chưa đề cập đến các yếu tố rủi ro mang tính đặc trưng của hình thức PPP như "phân

bổ rủi ro trong hợp đồng cho hai bên công tư không phù hợp; thiếu kinh nghiệm trong hoạt động PPP; rủi ro giá trị còn lại, "

Trên cơ sở các nghiên cứu nước ngoài trước đó, Thân Thanh Sơn (2015) trong nghiên cứu phân bổ rủi ro trong hình thức hợp tác công tư phát triển cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ Việt Nam đã tổng hợp 46 yếu tố rủi ro trong 8 loại rủi ro để thực hiện nghiên cứu định tính Sau phỏng vấn sâu các chuyên gia và đã nhận diện 54 yếu

tố rủi ro để thực hiện nghiên cứu định lượng Thang Likert 5 điểm được đo lường xác suất và mức độ tác động với 102 phiếu khảo sát hoàn chỉnh Sau khi tiến hành phân tích số liệu khảo sát (Crobat Alpha, EFA), tác giả đã xác định và đo lường mức rủi ro của 51 yếu tố rủi ro

Trần Nguyễn Ngọc Cương (2015) bài viết “Bước chuyển trong cơ chế quản lý rủi ro cho các dự án PPP” đã đưa ra các rủi ro chính trong dự án PPP thường bao gồm: (i) Rủi ro chính trị; (ii) Rủi ro thương mại; (iii) Rủi ro công nghệ; (iv) Rủi ro môi trường vá xã hội; (v) Rủi ro tài chính và hoái đoái; (vi) Rủi ro liên quan đến khuôn khổ pháp lý; (vii) Rủi ro bất khả kháng; và (viii) Rủi ro khác bao gồm cả quản

lý lực lượng lao động Tuy nhiên, Trần Nguyễn Ngọc Cương chưa đưa ra danh mục các rủi ro cụ thể và chưa có nghiên cứu phương pháp đo lường các rủi ro

2.3.2 Phân bổ rủi ro trong hình thức PPP

Phan Thị Bích Nguyệt (2013) “PPP – Lời giải cho bài toán vốn để phát triển

cơ sở hạ tầng giao thông đô thị tại TP Hồ Chí Minh” đã đưa ra đề xuất phân bổ rủi

ro hợp lý cho các bên trong các dự án PPP Theo đó, để quản trị rủi ro tối ưu cần phải xác định và phân loại các rủi ro; các nguyên tắc phân bổ rủi ro cho các dự án PPP giao thông đường bộ phải duy trì tính minh bạch để bảo đảm có thể quản lý được các

Trang 25

rủi ro, phân bổ nhiệm vụ và rủi ro cho bên nào có khả năng quản lý tốt nhất đối với từng loại rủi ro Tuy nhiên, nghiên cứu trên mang tính định hướng, chưa có phương pháp phân bổ rõ ràng

Trần Nguyễn Ngọc Cương (2015) trong bài viết “Bước chuyển trong cơ chế quản lý rủi ro cho các dự án PPP” cho rằng cách thức phân bổ rủi ro chính xác được xác định theo từng trường hợp cụ thể tùy theo khả năng tiếp cận, kiểm soát và xử lý rủi ro của bên đối tác thuộc khu vực công hay đối tác khu vực tư nhân Nguyên tắc quan trọng nhất trong các cơ chế phân bố rủi ro trong quan hệ đối tác công – tư là rủi

ro được tách nhỏ, lượng hóa và phân bổ cho bên có khả năng quản lý rủi ro một cách tốt nhất Hợp đồng đối tác công – tư được quản lý rủi ro tốt sẽ phân bổ rủi ro tối ưu giữa khu vực công và khu vưc tư nhân, tạo điều kiện nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực Tuy nhiên, bài viết nêu cách phân bổ rủi ro chỉ mang tính định hướng và chưa có phương pháp tính toán rõ ràng

Thực hiện phân bổ rủi ro cho 51 yếu tố rủi ro (sau khi xác định và đo lường mức rủi ro), Thân Thanh Sơn (2015) tiến hành nghiên cứu định lượng với thang Likert

5 điểm, 102 phiếu khảo sát Kết quả phân tích EFA và sử dụng phương pháp nửa điều chính, tác giả đã tiến hành phân bổ chuẩn cho tư nhân 20 rủi ro, Nhà nước 10 rủi ro, chia sẻ 21 rủi ro và so sánh thực tế phân bổ các yếu tố rủi ro: tư nhân 13, Nhà nước

10, chia sẻ 28 rủi ro Bên cạnh đó, Thân Thanh Sơn (2015) cũng đưa ra một số giải pháp để quản lý rủi ro cho các dự án phát triển hạ tầng đường bộ Việt Nam theo hình thức PPP Tuy nhiên, đề tài của tác giả chỉ giải quyết phân bổ rủi ro cho lĩnh vực giao thông đường bộ và trên phạm vi cả nước Một số địa phương với điều kiện kinh tế –

xã hội và tính đặc thù riêng, tất sẽ có các rủi ro khác nhau và sự phân bổ cũng khác nhau

2.4 Kết quả rút ra từ các nghiên cứu trước

Có rất nhiều nghiên cứu trong phát triển CSHT theo hình thức PPP với những mục đích và mức độ khác nhau cả trên phương diện lý luận và thực tiễn

Trang 26

Tuy nhiên, vẫn chưa có được một khái niệm thống nhất Một số nhà nghiên cứu mô

tả rủi ro với những hậu quả tiêu cực, trong khi các nhà nghiên cứu khác cho rằng rủi

ro bao gồm cả tiêu cực và cơ hội

Tiếp đến, các nghiên cứu cả lý thuyết và thực nghiệm với các mục tiêu khác

nhau đều thực hiện việc phân loại rủi ro trong các dự án theo hình thức PPP: Theo các giai đoạn phát triển của dự án; theo góc độ của các bên liên quan; căn cứ vào nguồn phát sinh rủi ro

Nhìn chung, các nghiên cứu đều thống nhất quy trình quản lý rủi ro gồm 3

bước chính: Xác định rủi ro; ứng phó với rủi ro; và kiểm soát rủi ro

Về xác định và đo lường mức rủi ro các yếu tố rủi ro, tác giả nhận thấy có

điểm thống nhất chung ở một số rủi ro giữa các quốc gia phát triển và đang phát triển Tuy nhiên, một số yếu tố rủi ro chỉ xuất hiện ở các quốc gia đang phát triển nơi thiếu các luật quốc gia về PPP, tình trạng tham nhũng còn tồn tại, vẫn xảy ra rủi ro trong

phê duyệt và cấp giấy phép dự án, Trong phạm vi của mỗi quốc gia có điều kiện

chính trị - luật pháp - kinh tế - xã hội khác nhau có thể cũng sẽ xuất hiện một số yếu

tố rủi ro khác nhau Các nghiên cứu trước đều thống nhất cách đo lường Mức rủi ro bằng cách nhân Mức độ xảy ra rủi ro với Mức độ tác động của rủi ro đó

Đối với việc phân bổ (chuyển giao) rủi ro trong các dự án đầu tư theo hình

thức PPP của các quốc gia cũng được các nghiên cứu thực hiện, sử dụng các phương pháp: Phương pháp  50% (Li và cộng sự, 2005); phương pháp nửa điều chỉnh (Ke

và cộng sự, 2010); phương pháp điều chỉnh 3Chan và cộng sự, 2011) Kết quả cho thấy, một số yếu tố rủi ro phân bổ cho các bên đối tác có sự thống nhất chung, tuy nhiên, kết quả phân bổ của một số yếu tố rủi ro lại có sự khác biệt Bởi vì, hình thức PPP phụ thuộc rất nhiều vào môi trường đầu tư, đặc biệt là hệ thống chính trị, luật pháp và kinh tế, xã hội

Trên cơ sở tổng hợp các công trình nghiên cứu trước, sử dụng quan niệm rủi

ro bao hàm cả các yếu tố rủi ro có tác động tiêu cực hoặc cơ hội tới mục tiêu của dự

Trang 27

án (về thời gian, chi phí, chất lượng và lợi nhuận), và phân loại rủi ro dựa vào nguồn gốc của rủi ro, tác giả đã tổng hợp được một danh mục (sơ bộ) các yếu tố rủi ro trong các dự án đầu tư theo hình thức đối tác công tư (PPP) tại TP HCM gồm 71 yếu tố rủi

ro và được sắp xếp trong 9 nhóm rủi ro (Phụ lục A)

2.5 Mô hình nghiên cứu

Luận văn sử dụng mô hình Nghiên cứu thực nghiệm về đánh giá và phân bổ

rủi ro các dự án hợp tác công - tư tại Trung Quốc của Chan và cộng sự (2011)

Sau khi tiến hành nghiên cứu tài liệu mở rộng và tham vấn các chuyên gia trong lĩnh vực đầu tư theo hình thức PPP tại TP HCM (Sở Kế hoạch và đầu tư TP HCM, Sở Giao thông vận tải, Sở Tài nguyên và môi trường, Sở Văn hóa – Thể thao,

Sở Xây dựng, một số Nhà đầu tư đã tham gia đầu tư theo hình thức PPP tại TP HCM, các nhà nghiên cứu tại một số trường đại học, ), sử dụng quan niệm rủi ro bao hàm

cả các yếu tố rủi ro có tác động tiêu cực hoặc cơ hội tới mục tiêu của dự án (về thời gian, chi phí, chất lượng và lợi nhuận), và phân loại rủi ro dựa vào nguồn gốc của rủi

ro, luận văn đã tổng hợp được một danh mục các yếu tố rủi ro trong các dự án đầu tư theo hình thức đối tác công tư (PPP) tại TP HCM gồm 58 yếu tố rủi ro và được nhóm vào 9 nhóm rủi ro (Bảng 2.1), nội dung các rủi ro được thể hiện ở Phụ lục B

Một cuộc khảo sát dùng thang Likert 5 điểm để đo lường 4 mức độ: Mức độ xảy ra rủi ro (xác suất), Mức độ tác động của rủi ro, Thực trạng phân bổ rủi ro, Phân

bổ rủi ro hợp lý cho từng yếu tố rủi ro trong các dự án đầu tư theo hình thức đối tác công tư (PPP) tại TP HCM

Kiểm định tương quan Kendall với mức ý nghĩa 1% được sử dụng để đánh giá

độ tin cậy của mẫu khảo sát ứng với 4 mức độ được đo lường (Chan và cộng sự, 2011)

Đo lường “Mức rủi ro” bằng cách nhân Mức độ xảy ra rủi ro với Mức độ tác động của rủi ro, sau đó xếp hạng và đánh giá rủi ro quan trọng nhất (Chan và cộng

sự, 2011)

Trang 28

Bảng 2.1 Danh mục các yếu tố rủi ro trong các dự án PPP tại TP HCM

STT Các yếu tố rủi ro

Li và cộng

sự (2005)

Shen

và cộng

sự (2006)

Ibrah

im và cộng

sự (2006)

Yuan

và cộng

sự (2008)

Zhan

g (2005)

Singh

và cộng

sự (2006)

Ng và cộng

sự (2007)

Galli more

và cộng

sự (1997)

Hwan

g và cộng

sự (2013)

Chou

và cộng

sự (2012)

Ke và cộng

sự (2010)

Chan

và cộng

sự (2011)

Herav

i và cộng

sự (2012)

Thân Than

h Sơn (2015)

Số kết quả

1 1 Quốc hữu hóa và sung công * * * * * * * * * 9

2 2 Rủi ro độ tin cậy của Chính phủ * * * * * * * 7

3 3 Quá trình ra quyết định công yếu

4 4 Can thiệp của Chính phủ * * * * * * 6

5 5 Tham nhũng của quan chức Chính

1 6 Thay đổi các quy định về thuế * * * * * * * * 8

2 7 Các luật về PPP chưa đầy đủ, rõ

2 11 Rủi ro tỷ lệ lãi suất * * * * * * * * * * 10

3 12 Rủi ro tỷ giá hối đoái và chuyển

4 13 Biến động kinh tế * * 2

Thiếu các công cụ tài chính phù

Trang 29

STT Các yếu tố rủi ro

Li và cộng

sự (2005)

Shen

và cộng

sự (2006)

Ibrah

im và cộng

sự (2006)

Yuan

và cộng

sự (2008)

Zhan

g (2005)

Singh

và cộng

sự (2006)

Ng và cộng

sự (2007)

Galli more

và cộng

sự (1997)

Hwan

g và cộng

sự (2013)

Chou

và cộng

sự (2012)

Ke và cộng

sự (2010)

Chan

và cộng

sự (2011)

Herav

i và cộng

sự (2012)

Thân Than

h Sơn (2015)

Số kết quả

1 15 Bất khả kháng * * * * * * * * * * 10

2 16 Địa hình không lường trước * * * * * * * 7

3 17 Địa chất không lường trước * * * * * * * 7

1 18 Phản đối, từ chối đề xuất dự án * * * * * 5

2 19 Rủi ro phê duyệt và cấp giấy phép

3 20 Lựa chọn dự án không phù hợp * 1

4 21 Năng lực của doanh nghiệp dự án * * 2

5 22 Phân bổ rủi ro trong hợp đồng

6 23 Đấu thầu không cạnh tranh * * * * * * 6

7 24 Thất bại hoặc chậm trễ trong thu

8 25 Rủi ro thiết kế * * * * * * 6

9 26 Thay đổi quy mô dự án * * * 3

10 27 Khảo sát địa hình, địa chất sai sót * 1

1 28 Khả năng thu hút tài chính từ Nhà

2 29 Chi phí tài chính cao * * * * 4

3 30 Chi phí đấu thầu cao * * 2

Trang 30

STT Các yếu tố rủi ro

Li và cộng

sự (2005)

Shen

và cộng

sự (2006)

Ibrah

im và cộng

sự (2006)

Yuan

và cộng

sự (2008)

Zhan

g (2005)

Singh

và cộng

sự (2006)

Ng và cộng

sự (2007)

Galli more

và cộng

sự (1997)

Hwan

g và cộng

sự (2013)

Chou

và cộng

sự (2012)

Ke và cộng

sự (2010)

Chan

và cộng

sự (2011)

Herav

i và cộng

sự (2012)

Thân Than

h Sơn (2015)

Số kết quả

6 33 Chậm thanh toán * 1

7 34 Các Tổ chức tín dụng không muốn

8 35 Kiểm toán tài chính không đầy đủ * * * * 4

1 36 Thiếu cơ sở hạ tầng hỗ trợ * 1

2 37 Rủi ro chất lượng * * * 3

3 38 Vượt quá chi phí xây dựng * * * * * * * * * * 10

4 39 Kéo dài thời gian xây dựng * * * * * * * * * * 10

5 40 Giá các yếu tố đầu vào * * * 3

6 41 Rủi ro kỹ thuật, công nghệ * * * * 4

7 42 Thay đổi nhà đầu tư tư nhân, nhà

8 43 Chậm trễ trong cung ứng vật tư,

máy móc thiết bị * * * 3

9 44 Thay đổi, điều chỉnh thiết kế * * * * * 5

10 45 Rủi ro thiếu lao động * * * * * * * * * * * 11

11 46 Lựa chọn nhà thầu, tư vấn và giám

sát không phù hợp * 1

1 47 Doanh thu hoạt động dưới mức

2 48 Rủi ro về giá sản phẩm/ dịch vụ * * * 3

Trang 31

STT Các yếu tố rủi ro

Li và cộng

sự (2005)

Shen

và cộng

sự (2006)

Ibrah

im và cộng

sự (2006)

Yuan

và cộng

sự (2008)

Zhan

g (2005)

Singh

và cộng

sự (2006)

Ng và cộng

sự (2007)

Galli more

và cộng

sự (1997)

Hwan

g và cộng

sự (2013)

Chou

và cộng

sự (2012)

Ke và cộng

sự (2010)

Chan

và cộng

sự (2011)

Herav

i và cộng

sự (2012)

Thân Than

h Sơn (2015)

Số kết quả

4 50 Cạnh tranh thị trường (sản phẩm/

5 51 Vượt quá chi phí vận hành * * * * * * * * * * * * 12

6 52 Tần suất bảo trì lớn hơn dự kiến * * 2

7 53 Thay đổi dự án/ hoạt động * * 2

1 54 Phân bổ rủi ro và trách nhiệm

2 55 Hợp đồng thay đổi nhiều lần * * 2

3 56 Rủi ro giá trị còn lại * * * * * 5

4 57 Sự đồng thuận của chính quyền và

người dân địa phương * * * 3

5 58 Thay đổi tổ chức và nhân sự doanh

Nguồn: Tác giả tổng hợp sau khi tham vấn chuyên gia

Trang 32

Phân bổ rủi ro: Thực trạng phân bổ rủi ro và Phân bổ rủi ro hợp lý theo phương pháp điểm trung bình của mỗi yếu tố rủi ro: nhỏ hơn 2,875, phân bổ cho Nhà nước;

từ 2,875 đến 3,125, phân bổ chỉa sẻ; lớn hơn 3,125, phân bổ cho Tư nhân (Chan và cộng sự, 2011)

Trên cơ sở phân tích mô hình nghiên cứu của Chan và cộng sự (2011), Tác giả xây dựng mô hình nghiên cứu như Hình 2.1

Hình 2.1 Mô hình nghiên cứu thực nghiệm về đánh giá và phân bổ các yếu tố rủi ro trong các dự án PPP tại TP HCM

RỦI RO TRONG ĐẦU TƯ THEO HÌNH THỨC PPP TẠI TP HCM

lý (4 yếu tố

rủi ro)

Nhóm rủi ro

về kinh tế

(5 yếu

tố rủi ro)

Nhóm rủi ro

về điều kiện

tự

nhiên (3 yếu

tố rủi ro)

Nhóm rủi ro trong phát triển

dự án (10 yếu tố rủi ro)

Nhóm rủi ro tài chính của dự

án (8 yếu tố rủi ro)

Nhóm rủi ro trong xây

dựng (11 yếu tố rủi ro)

Nhóm rủi ro trong quá trình vận

hành (7 yếu

tố rủi ro)

Nhóm rủi ro trong điều

phối (5 yếu

tố rủi ro)

ĐÁNH GIÁ MỨC RỦI RO

58 yếu tố rủi ro

PHÂN BỔ RỦI RO Rủi ro phân bổ cho

Trang 33

Chương 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Quy trình nghiên cứu

Bước 1 Nghiên cứu định tính trên cơ sở tổng quan các công trình nghiên cứu

khoa học trước đó, tình huống nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận văn để khám phá kiến thức, tìm hiểu cơ sở lý luận, khung phân tích (71 yếu tố rủi ro)

Bước 2 Nghiên cứu định tính sử dụng phương pháp tham vấn chuyên gia

(phỏng vấn sâu) nhằm điều chỉnh, bổ sung danh mục các yếu tố rủi ro trong các dự

án đầu tư theo hình thức PPP tại TP HCM (58 yếu tố rủi ro)

Bước 3 Xây dựng bảng hỏi nghiên cứu định lượng (58 yếu tố rủi ro), dùng

thang Likert 5 điểm để đo lường 4 mức độ: Mức độ xảy ra rủi ro, Mức độ tác động của rủi ro đến dự án, Thực trạng phân bổ rủi ro, Phân bổ rủi ro hợp lý trong các dự

án đầu tư theo hình thức đối tác công tư (PPP) tại TP HCM

Bước 4 Tiến hành khảo sát, cở mẫu N=100 (Li và cộng sự, 2005 với 53 quan

sát; Ke và cộng sự 46 quan sát, Chan và cộng sự 105 phiếu khảo sát), khảo sát trên 4 đối tượng: Quản lý Nhà nước, Nhà đầu tư, tổ chức cho vay, và chuyên gia trong lĩnh vực đầu tư theo hình thức PPP

Bước 5 Tổng hợp số liệu khảo sát, kiểm định tương quan Kendall với mức ý

nghĩa 1% để đánh giá độ tin cậy của mẫu khảo sát ứng với 4 mức độ được đo lường (Chan và cộng sự, 2011)

Bước 6 Đánh giá “Mức rủi ro” của các yếu tố bằng cách nhân điểm trung bình

Mức độ xảy ra rủi ro với Mức độ tác động của rủi ro, sau đó xếp hạng và nhận định rủi ro quan trọng (Chan và cộng sự, 2011)

Bước 7 Phân bổ rủi ro: Thực trạng phân bổ rủi ro và Phân bổ rủi ro hợp lý

theo phương pháp điểm trung bình của mỗi yếu tố rủi ro: nhỏ hơn 2,875, phân bổ cho Nhà nước; từ 2,875 đến 3,125, phân bổ chỉa sẻ; lớn hơn 3,125, phân bổ cho Tư nhân (Chan và cộng sự, 2011)

Trang 34

Bước 8 Nhận định, so sánh và bình luận về kết quả nghiên cứu

Bước 9 Đề xuất, khuyến nghị nâng cao hiệu quả kiểm soát các yếu tố rủi ro từ

kết quả nghiên cứu

Phần II: Ý kiến đánh giá của người được khảo sát Phần này nhằm đo lường: Mức độ xảy ra rủi ro, Mức độ tác động của rủi ro, Thực trạng phân bổ rủi ro và Đề xuất phân bổ rủi ro hợp lý theo ý kiến của người được khảo sát cho 58 yếu tố rủi ro Thang Likert 5 điểm được sử dụng để đánh giá: Mức độ xảy ra rủi ro ứng với mức 1

là khả năng xảy ra rủi ro rất thấp, mức 5 là khả năng xảy ra rủi ro rất cao; Mức độ tác động ứng với mức 1 là tác động rất thấp đến dự án, mức 5 là tác động rất cao đến dự án; Thực trạng phân bổ rủi ro ứng với mức 1 là khu vực công chịu nếu rủi ro xảy ra, mức 5 là khu vực tư nhân chịu nếu rủi ro xảy ra; Đề xuất phân bỏ rủi ro hợp lý ứng với mức 1 là phân bổ cho khu vực công (Nhà nước) nếu rủi ro xảy ra, mức 5 là phân

bổ cho khu vực tư nhân nếu rủi ro xảy ra

Phần III: Câu hỏi mở Phần này hỏi thêm về rủi ro lớn nhất và đề xuất hướng giải quyết của người được hỏi

Chi tiết bảng hỏi được thể hiện Phụ lục C

3.3 Lựa chọn mẫu khảo sát

Về kích thước mẫu, theo Hair và cộng sự (1998) trong phân tích nhân tố khám phá EFA thì kích thước mẫu 100 đơn vị Đồng thời, kinh nghiệm về số quan sát đưa vào phân tích định lượng của các nghiên cứu xác định và phân bổ rủi ro đã được tổng

Trang 35

quan: Li và cộng sự, 2005b với 53 quan sát; Ke và cộng sự, 2010b với 46 quan sát;

Ke và cộng sự, 2010c với 34 quan sát; Chan và cộng sự, 2011 với 105 quan sát; Trên cơ sở đó, trong nghiên cứu này, tác giả lựa chọn kích thước mẫu là 100 quan sát

Về đối tượng khảo sát phải đủ các bên tham gia trong các dự án PPP tại TP HCM và đảm bảo tỷ trọng Các bên tham gia và tỷ trọng dự kiến: Quản lý nhà nước 30%; Nhà đầu tư, Doanh nghiệp dự án 50%; Tổ chức cho vay vốn 10%; Nhà nghiên cứu, chuyên gia 10%

Những người được khảo sát là người trực tiếp quản lý các dự án mà Cơ quan của họ đã hoặc đang tham gia các dự án đầu tư theo hình thức đối tác công tư (PPP) tại TP HCM Các dự án mà cơ quan của họ tham gia có tiến độ xa nhất từ đang xúc tiến dự án trở lên phải đảm bảo 80% trên tổng những người trả lời

3.4 Thu thập dữ liệu

Để tiến hành khảo sát thông tin, tác giả đã thu thập danh sách 190 nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án đã và đang thực hiện hoặc quan tâm các dự án đầu tư theo hình thức đối tác công tư tại TP HCM (Phụ lục D); 35 cơ quan quản lý Nhà nước (Phụ lục E) Với nội dung phiếu khảo sát, 10 điều tra viên được tập huấn để thực hiện cuộc khảo sát

Đối tượng khảo sát được tập trung vào 4 đối tượng: Quản lý Nhà nước; Nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án; Tổ chức tín dụng; Nhà nghiên cứu, chuyên gia

Phương pháp thu thập dữ liệu được tiến hành qua 4 kênh thông tin: Phỏng vấn trực tiếp, Phát bảng hỏi trực tiếp đến đối tượng khảo sát (bản giấy), Phát hành bảng hỏi qua Email và Khảo sát trực tuyến (Google Drive)

3.5 Phương pháp phân tích dữ liệu

Sử dụng phần mền Excel để nhập dữ liệu và phần mền SPSS để phân tích dữ liệu sau khi chọn lọc những phiếu khảo sát đạt yêu cầu về nội dung

Trang 36

Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÌNH LUẬN

4.1 Thông tin mẫu khảo sát

Sau một tháng tiến hành khảo sát, thu thập thông tin từ đối đượng khảo sát, tổng số phiếu khảo sát phát ra 295 phiếu, thu về 142 phiếu (Bảng 4.1)

Bảng 4.1 Kết quả thu thập phiếu điều tra

Số phiếu phát ra Số phiếu thu về

Trong 103 người trả lời, có 80,58% (Bảng 4.3) người trả lời các dự án PPP của

họ hoặc cơ quan của họ có tiến độ thực hiện dự án xa nhất từ đã xúc tiến đầu tư đến đang khai thác dự án

Bảng 4.3 Thống kê về tiến độ xa nhất của dự án

Quan tâm Đã xúc tiến

đầu tư

Đã tham gia đấu thầu

Đã triển khai dự án

Đang khai thác dự án

Tổng cộng

Trang 37

Với thông tin mẫu quan sát N=103, so sánh với mẫu quan sát của Li và cộng

sự (2005) là N=53, Ke và cộng sự (2010) N=46, Chan và cộng sự (2011) N=105, mẫu quan sát đảm bảo đủ để phân tích, đánh giá thông tin nghiên cứu Tỷ trọng giữa các đối tượng trả lời đảm bảo tính đại diện cho phân tích dữ liệu Trên 80% người trả lời các dự án PPP của họ hoặc cơ quan của họ có tiến độ thực hiện dự án xa nhất từ đã xúc tiến đầu tư đến đang khai thác dự án, điều này khẳng định những người trả lời đã

và đang trực tiếp tham gia các dự án PPP tại TP HCM

4.2 Thống kê mô tả thông tin về loại hợp đồng, lĩnh vực đầu tư

4.2.1 Loại hợp đồng

Trong 103 người trả lời phiếu khảo sát, loại hợp đồng các dự án đầu tư theo hình thức PPP mà người trả lời hoặc tổ chức của họ đang thực hiện, số lượng cụ thể được thể hiện tại Bàng 4.4 Ta thấy, chủ yếu các dự án được thực hiện theo hình thức PPP tại TP HCM là hợp đồng BOT (62) và BT (70) Điều này cho thấy, các loại hợp đồng khác ít được quan tâm của các Nhà đầu tư Do đó, Chúng ta cần quan tâm phân tích chủ yếu trên 2 loại hợp đồng này và giữa chúng có sự khác biệt trong việc phân

bổ rủi ro từng loại hợp đồng hay không

Bảng 4.4 Thống kê loại hợp đồng trên kết quả khảo sát

BOT BTO BT BOO BTL BLT O&M

4.2.2 Lĩnh vực đầu tư

Trong 103 phiếu khảo sát, có 61 người trả lời có tham gia lĩnh vực Giao thông,

hạ tầng kỹ thuật; 45 thuộc lĩnh vực xây dựng Rõ ràng lĩnh vực cơ sở hạ tầng đang được Thành phố và Nhà đầu tư rất quan tâm để đẩy mạnh phát triển Thành phố Chi tiết được thể hiện tại Bảng 4.5

Trang 38

Bảng 4.5 Thống kê về lĩnh vực đầu tư của người được hỏi

Xây dựng

4.3 Kết quả kiểm định hệ số tương quan Kendall

Để kiểm định độ tin cậy của nhóm người đánh giá từng chỉ tiêu, mức độ rủi ro hay phân bổ rủi ro, sử dụng hệ số tương quan Kendall để đánh giá (Chan và cộng sự, 2011) Bảng 4.6 thể hiện hệ số Kendall của đánh giá Mức độ xảy ra rủi ro là 0.130, Mức độ tác động 0.093, Thực trạng rủi ro được phân bổ 0.034, Đề xuất phân bổ rủi

ro hợp lý 0.081 Các giá trị tính toán của Ws có ý nghĩa thống kê ở mức ý nghĩa 1%

(Bảng 4.6) Có thể giải thích rằng có sự đồng ý đáng kể giữa những người trả lời về

các đánh giá về các rủi ro của các dự án PPP tại TP HCM

Trang 39

Bàng 4.6 Kết quả kiểm định hệ số tương quan Kendall

Mã Các yếu tố rủi ro Mức độ xảy ra rủi ro Mức độ tác động Thực trạng rủi ro được phân bổ Đề xuất phân bổ rủi ro hợp lý

1 Quốc hữu hóa và sung công 1.94 1.037 2.88 1.517 3.19 1.261 2.52 0.958

2 Rủi ro độ tin cậy của Chính phủ 2.83 1.014 3.18 1.349 3.23 1.190 2.41 0.933

3 Quá trình ra quyết định công yếu kém 3.22 1.188 3.28 1.208 3.28 1.232 2.57 0.986

4 Can thiệp của Chính phủ 2.95 1.324 3.45 1.227 3.45 1.186 2.63 0.980

5 Tham nhũng của quan chức Chính phủ 3.59 1.200 3.50 1.187 3.44 1.210 2.43 0.996

6 Thay đổi các quy định về thuế 3.07 1.031 3.08 1.135 3.51 1.092 2.88 0.993

7 Các luật về PPP chưa đầy đủ, rõ ràng, phù

11 Rủi ro tỷ lệ lãi suất 3.41 0.933 3.46 0.968 3.50 0.999 2.83 0.772

12 Rủi ro tỷ giá hối đoái và chuyển đổi ngoại

Trang 40

Mã Các yếu tố rủi ro Mức độ xảy ra rủi ro Mức độ tác động Thực trạng rủi ro được phân bổ Đề xuất phân bổ rủi ro hợp lý

19 Chậm trể trong phê duyệt và cấp giấy phép

dự án 3.63 0.918 3.49 1.018 3.39 1.122 2.57 0.881

20 Lựa chọn dự án không phù hợp 2.88 1.149 3.26 1.335 2.90 1.062 2.82 0.926

21 Năng lực của doanh nghiệp dự án 3.17 1.213 3.54 1.385 3.01 1.200 3.32 1.104

22 Phân bổ rủi ro trong hợp đồng không phù

hợp 2.82 0.968 2.94 0.938 3.21 0.925 2.95 0.662

23 Đấu thầu không cạnh tranh 3.58 1.249 3.25 1.161 3.34 1.107 2.83 0.912

24 Thất bại hoặc chậm trễ trong thu hồi đất,

bàn giao mặt bằng 3.03 0.954 4.05 0.845 3.43 0.956 2.57 0.914

25 Rủi ro thiết kế 2.54 1.064 3.15 1.216 3.15 1.088 3.05 0.890

26 Thay đổi quy mô dự án 2.65 1.091 2.86 1.076 3.03 1.043 2.85 0.733

27 Khảo sát địa hình, địa chất sai sót 2.51 1.037 3.17 1.307 3.25 0.987 3.11 0.815

28 Khả năng thu hút tài chính từ Nhà đầu tư 2.72 1.088 3.03 1.287 3.01 1.071 2.94 0.873

29 Chi phí tài chính cao 3.22 1.075 3.58 1.142 3.02 1.204 3.17 1.014

30 Chi phí đấu thầu cao 2.71 1.025 2.65 0.936 3.29 1.185 2.97 0.954

31 Không có khả năng trả nợ 2.98 1.146 3.32 1.315 3.17 1.138 3.02 0.918

32 Thiếu sự đảm bảo tài chính của Chính phủ 2.74 0.990 3.21 1.226 3.25 1.064 2.52 0.698

33 Chậm thanh toán (từ khu vực công) 3.27 1.262 3.50 1.162 3.52 1.228 2.70 0.765

34 Các Tổ chức tín dụng không muốn nhận rủi

ro cao 2.84 1.170 3.19 1.164 3.20 1.106 2.89 0.862

35 Kiểm toán tài chính không đầy đủ 2.99 1.159 3.33 1.124 2.74 1.129 2.63 0.950

36 Thiếu cơ sở hạ tầng hỗ trợ 2.57 1.025 3.01 1.125 3.07 1.140 2.68 0.931

37 Rủi ro chất lượng 2.91 1.139 3.42 1.192 3.00 1.120 3.27 0.920

Ngày đăng: 20/05/2018, 22:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w