1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khía cạnh pháp luật kinh tế trong phòng và chống tội cho vay lãi nặng từ thực tiển tỉnh cà mau

66 357 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 66
Dung lượng 728,98 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tội CVLN xâm phạm trật tự quản lý tín dụng của Nhà nước và xâm phạm lợi ích hợp pháp về tài sản của người khác người đi vay.Đối tượng tài sản được sử dụng chủ yếu trong tội CVLN là tiền.

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM

TRẦN VĂN THI

KHÍA CẠNH PHÁP LUẬT KINH TẾ TRONG PHÒNG

VÀ CHỐNG TỘI PHẠM CHO VAY LÃI NẶNG TỪ

THỰC TIỄN TỈNH CÀ MAU

Chuyên ngành: Luật kinh tế

Mã số: 60380107

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS Phạm Duy Nghĩa

TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi tên: Trần Văn Thi - mã số học viên: 7701250968A, là học viên lớp Cao

học luật khóa 25, chuyên ngành Luật Kinh tế, Khoa Luật, Trường Đại học Kinh tế

thành phố Hồ Chí Minh, là tác giả của Luận văn thạc sĩ luật học với đề tài “Khía cạnh pháp luật kinh tế trong phòng và chống tội cho vai lãi nặng từ thực tiển tỉnh Cà Mau” (Sau đây gọi tắt là “Luận văn”)

Tôi xin cam đoan tất cả các nội dung được trình bày trong nội dung này là kết quả nghiên cứu độc lập của cá nhân tôi dưới sự hướng dẫn của người hướng dẫn khoa học Trong luận văn này có sử dụng trích dẫn một số ý kiến, quan điểm khoa học của một số tác giả.Các thông tin này điều được trích dẫn nguồn cụ thể, chính xác và có thể kiểm chứng Các số liệu, thông tin được sử dụng trong Luận văn là hoàn toàn khách quan và trung thực, có xác nhận của đơn vị chức năng

Người cam đoan

Trần Văn Thi

Trang 4

MỤC LỤC TRANG PHỤ BÌA

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

PHẦN MỞ ĐẦU 1

Chương 1: Các khía cạnh kinh tế, xã hội của hoạt động cho vay lãi nặng và pháp luật điều chỉnh 6

1.1 Khái quát về hiện tƣợng CVLN từ khía cạnh kinh tế, xã hội và pháp luật hiện nay điều chỉnh, phòng chống hiện tƣợng này 6

1.1.1 Các khái niệm về cho vay 6

1.1.2 Khái niệm tội phạm CVLN 7

1.1.3 Những vấn đề cần chứng minh đối với tội CVLN 9

1.1.4 Đặc điểm tội CVLN 10

1.1.5 Ý nghĩa của việc nghiên cứu tội CVLN 11

1.2 Một số quy định của pháp luật Việt Nam liên quan đến việc phòng và chống tội phạm CVLN .12

1.2.1 Các quy định của BLDS năm 2015 về cho vay, mƣợn tài sản 12

1.2.2 Các quy định của pháp luật hiện hành về tín dụng, ngân hàng, tài chính .15

1.3 Lịch sử hình thành và phát triển các quy định về tội CVLN trong Luật Hình sự Việt Nam 19

1.3.1 Giai đoạn BLHS 1985 có hiệu lực 19

1.3.2 Giai đoạn BLHS 1999 đến nay 20

1.4 Dấu hiệu pháp lý của tội CVLN theo quy định của Luật Hình sự Việt Nam 21

1.4.1 Khách thể của tội CVLN 22

1.4.2 Chủ thể của tội CVLN 23

1.4.3 Mặt khách quan của tội CVLN 23

1.4.4 Mặt chủ quan của tội CVLN 24

1.4.5 Trách nhiệm hình sự đối với tội CVLN đƣợc quy định trong Luật Hình sự hiện hành 24

1.4.5.1 Phạm tội CVLN không có các tình tiết định khung hình phạt 24

Trang 5

1.4.5.2 Phạm tội CVLN thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 163

BLHS 25

1.4.5.3 Hình phạt bổ sung đối với người phạm tội 26

1.5 Phân biệt tội CVLN với tội kinh doanh trái phép 26

Chương 2: Thực trạng và giải pháp phòng, chống hoạt động cho vay lãi nặng trên địa bàn tỉnh Cà Mau 28

2.1 Thực trạng về hành vi CVLN ở nước ta trong thời gian qua 28

2.2 Tình hình CVLN trên địa bàn tỉnh Cà Mau 31

2.3 Nguyên nhân của tình hình CVLN 42

2.3.1 Nguyên nhân khách quan 42

2.3.2 Nguyên nhân chủ quan 43

2.4 Một số bất cập trong công tác điều chỉnh PL đối với hoạt động CVLN 44 2.4.1 Bất cập về mặt pháp luật 44

2.4.2 Bất cập trong quá trình đấu tranh phòng, chống tội phạm CVLN 48

2.5 Một số bài học kinh nghiệm trong công tác quản lý và xử lý hành vi CVLN .50

2.6 Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm CVLN 51

2.6.1 Giải pháp về về mặt pháp luật 51

2.6.2 Các giải pháp đối với những tác động tiêu cực của nền kinh tế thị trường 53

2.6.3 Các giải pháp về nguyên nhân chủ quan xuất phát từ bản thân người phạm tội 54

2.6.4 Một số giải pháp khác nhằm góp phần phòng ngừa tội phạm CVLN 54

2.6.4.1 Các giải pháp phòng ngừa 54

2.6.4.2 Các giải pháp về điều tra 55

KẾT LUẬN……… 56

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT

PHỤ LỤC

Trang 6

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

ANQG: An ninh quốc gia ANTT: An ninh trật tự

BLHS: Bộ luật Hình sự BLDS: Bộ luật Dân sự

CVLN: Cho vay lãi nặng TTATXH: Trật tự an toàn xã hội TTXH: Trật tự xã hội

QCND: Quần chúng nhân dân UBND: Ủy ban nhân dân

Trang 7

trong BLHS Theo quy định tại Điều 163 BLHS, tội CVLN là hành vi cho người khác vay với mức lãi suất cao hơn mức lãi suất cao nhất mà pháp luật quy định từ mười lần trở lên và có tính chất chuyên bóc lột Người phạm tội lợi dụng việc cho

vay, lợi dụng hoàn cảnh khó khăn cấp bách của người đi vay để cho vay với lãi suất cao (lãi nặng) nhằm thu lợi bất chính mà thực chất là bóc lột người đi vay Tội CVLN xâm phạm trật tự quản lý tín dụng của Nhà nước và xâm phạm lợi ích hợp pháp về tài sản của người khác (người đi vay).Đối tượng tài sản được sử dụng chủ yếu trong tội CVLN là tiền.Số lượng tiền được sử dụng CVLN trong các trường hợp phạm tội cụ thể không giống nhau (vài triệu, vài chục triệu, hàng trăm triệu đồng thậm chí vài t ) Mức lãi suất (lãi nặng) mà người phạm tội cho vay trong các trường hợp phạm tội cụ thể c ng khác nhau, thường là cao hơn 10 lần nhưng c ng

có trường hợp người phạm tội cho vay với mức lãi suất cao hơn mức lãi suất cao nhất mà pháp luật quy định tới hàng chục lần Người phạm tội thu lợi bất chính từ việc CVLN thường là hàng chục, hàng trăm triệu đồng, thậm chí có trường hợp hàng t đồng

Trong những năm gần đây, Tội phạm CVLN có diễn biến phức tạp.Tội phạm CVLN đã gây ra những hậu quả nặng nề cho gia đình và xã hội, gây ảnh hưởng đến

sự phát triển kinh tế - xã hội.Chính từ tội phạm này đã làm phát sinh tội phạm khác xâm phạm về sở hữu và các loại tệ nạn xã hội và đây c ng chính là nguyên nhân phá vỡ hạnh phúc gia đình.Công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm CVLN trên thực tế trong thời gian qua đã thu được những kết quả đáng khích lệ Tuy nhiên, qua công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm CVLN c ng cho thấy còn nhiều vấn đề

Trang 8

bất cập từ quy định của pháp luật; quản lý nhà nước và những khó khăn nảy sinh trong quá trình phòng ngừa, điều tra, khám phá tội phạm này

Vào thời điểm tôi chọn đề tài viết luận văn thạc s thì tình hình tội phạm cho vay lãi nặng (tín dụng đen) trên địa bàn tỉnh Cà Mau diễn biến rất phức tạp, Đài truyền hình Việt Nam và các báo đồng loạt đưa tin “Cà Mau vỡ tín dụng đen – hàng chục gia đình mất đất”; Thủ tướng Chính phủ phải chỉ đạo tiến hành điều tra, xử lý nghiêm; Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Cà Mau tổ chức nhiều cuộc họp khẩn để chỉ đạo quyết liệt

Từ những lý do trên việc nghiên cứu các dấu hiệu pháp lý của tội CVLN

c ng như thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm này là một đòi hỏi cấp bách, nhằm góp phần bảo đảm cho việc thực hiện thắng lợi nhiệm vụ đấu tranh phòng, chống tội phạm, bảo vệ ANQG và giữ gìn TTATXH Chính vì thế, Tôi chọn nghiên

cứu đề tài: “Khía cạnh pháp luật kinh tế trong phòng và chống tội CVLN từ thực tiễn tỉnh Cà Mau” làm luận văn Thạc s Luật học là có ý nghĩa cả về lý luận và

thực tiễn

2 Câu hỏi nghiên cứu

Để làm rõ đề tài trên, cần phải giải quyết một số vấn đề sau:

- Tội phạm CVLN được quy định như thế nào trong pháp luật Việt Nam?

- Đánh giá thực trạng phòng chống tội phạm cho vay lãi nặng tại tỉnh Cà Mau, từ đó rút ra kết luận, kinh nghiệm, bài học tham khảo cho các địa phương khác?

- Trên cơ sở đó, cần đề xuất những giải pháp gì để góp phần nâng cao hiệu quả phòng, chống tội phạm CVLN thời gian tới?

3 Tình hình nghiên cứu

Qua tìm hiểu, tội phạm CVLN và công tác phòng, chống tội phạm nàyđã có

một số đề tài, luận văn, bài báo nghiên cứu như sau:

- Luận văn tốt nghiệp “Tội cho vay lãi nặng trong luật hình sự Việt Nam”- Ðại học luật Cần Thơ, Trần V Ngoan, năm 2012

- Ðề tài khoa học cấp cơ sở “Công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm CVLN trên địa bàn tỉnh Hậu Giang”, T49, Huỳnh Thanh Tuấn, năm 2011

- Bài báo “Tội cho vay nặng lãi - những bất cập của BLHS hiện hành và những giải pháp khắc phục”, ThS Nguyễn Văn Hương, Đại học Luật Hà Nội, năm

2015

Trang 9

Tuy nhiên, các đề tài, luận văn, bài báo trên chỉ tiếp cận một số góc độ

cụ thể và phạm vi khảo sát trong một địa phương nhất định Cho đến nay, chưa

có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện, đầy đủ, có hệ thống về tội phạm CVLN c ng như hoạt động đấu tranh phòng, chống tội phạm này ở tỉnh

Cà Mau Do đó, việc nghiên cứu đề tài trên s làm rõ thực trạng, tìm ra được nhữngsơ hở, thiếu soát, khó khăn, vướng mắc của hoạt động này, trên cơ sở đó

đề xuất các giải pháp để nâng cao hiệu quả hoạt động này trong thời gian tới trên địa bàn tỉnh Cà Mau là hết sức cần thiết

4 Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Mục đích nghiên cứu:

Luận văn đi sâu tìm hiểu toàn diện về tội CVLN, tìm ra những dấu hiệu pháp

lý đặc trưng của tội phạm, những vấn đề cơ bản về trách nhiệm hình sự của người phạm tội, đồng thời chỉ ra những thiếu sót trong công tác quản lý nhà nước của các

cơ quan có thẩm quyền có liên quan; đánh giá thực trạng công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm CVLN thời gian qua và đưa ra một số giải pháp thiết thực nhằm đấu tranh phòng, chống tội phạm này trong thời gian tớitrên địa bàn tỉnh Cà Mau Để đạt được mục tiêu trên, luận văn có các nhiệm vụ cơ bản sau:

- Những vấn đề lý luận về tội phạm CVLN theo quy định của pháp luật Việt Nam nói chung và Luật Hình sự nói riêng như: Khái niệm, đặc điểm, bản chất, dấu hiệu pháp lý, các giai đoạn thực hiện tội phạm

- Lịch sử hình thành và phát triển các quy định của Luật Hình sự về tội CVLN

- Làm rõ trách nhiệm pháp lý của người phạm tội CVLN

- Chỉ ra những sơ hở, thiếu sót, lõng l o của các cơ quan có thẩm quyền có liên quan để tội phạm cho vay lãi nặng lợi dụng hoạt động

- Thực trạng công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm CVLN thời gian qua trên địa bàn tỉnh Cà Mau, từ đó rút ra kết luận, kinh nghiệm, bài học tham khảo cho các địa phương khác

- Đề xuất một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả phòng, chống tội phạm CVLN thời gian tới

4.2 Đối tượng nghiên cứu:

Tội phạm CVLN theo quy định Luật Hình sự Việt Nam và công tác đấu tranh phòngngừa, đấu tranh, chống tội phạm này

Trang 10

4.3 Phạm vi nghiên cứu:

- Phạm vi về thời gian: Từ năm 2012 đến năm 2016

- Phạm vi về địa bàn nghiên cứu: Các huyện, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau

- Phạm vi về chủ thể:Lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự quản lý kinh tế và chức vụ, cán bộ có thẩm quyền về công chứng, chứng thực, quản lý đất đai

6 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp luận: Đề tài nghiên cứu dựa trên phép biện chứng duy vật của triết học Mác-Lênin, các quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về đấu tranh phòng, chống tội phạm

- Phương pháp nghiên cứu cụ thể:Trong quá trình nghiên cứu áp dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: Phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp khảo sát thực tế, phương pháp tổng kết kinh nghiệm, phương pháp thống kê, phương pháp điều tra xã hội học

7 Ý nghĩa và điểm mới của đề tài

7.1 Ý nghĩa:

- Những kết quả đạt được của đề tài này s góp phần bổ sung, hoàn chỉnh lý luận khoa học về tội phạm CVLN và lý luận về công tác phòng, chống tội phạm này của lực lượng Cảnh sát nhân dân

- Ðề tài còn giúp lãnh đạo và cán bộ trực tiếp làm công tác phòng, chống tội phạm CVLN của Công an tỉnh Cà Mau vận dụng thực hiện tốt nhiệm vụ này ở địa phương

- Đề tài còn có ý nghĩa là mở rộng phạm vi, giúp cho các cấp lãnh đạo, các

cơ quan quản lý nhà nước có liên quan của tỉnh, cấp huyện, cấp xã trong tỉnh Cà Mau thấy được những tồn tại, hạn chế, thậm chí là khuyết điểm của mình trong quản lý, để cho tôi phạm cho vay lãi nặng lợi dụng để hoạt động và có giải pháp hiệu quả để chỉ đạo, chấn chỉnh khắc phục

7.2 Ðiểm mới của đề tài:

- Làm rõ những vấn đề bất cập về pháp lý của tội CVLN và những khó khăn, vướng mắc trong đấu tranh phòng, chống tội CVLN ở tỉnh Cà Mau trong giai đoạn

từ năm 2012 đến năm 2016 để làm cơ sở cho việc xây dựng và triển khai các giải pháp trong hoạt động đấu tranh phòng, chống tội phạm này

Trang 11

- Hệ thống giải pháp được xây dựng là những biện pháp có tính khoa họcvận dụng sáng tạo, ph hợp với thực tiễn và có tính khả thi để hướng dẫn cho thực tiễn hoạt động phòng, chống tội phạm CVLN ở tỉnh Cà Mau nói riêng và các địa bàn khác nói chung, nhằm đảm bảo cho hoạt động phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm (chủ yếu là phòng ngừa) đạt hiệu quả cao nhất

8 Bố cục của Luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo, đề tài chia thành 2 Chương, cụ thể như sau:

CHƯƠNG 1: CÁC KHÍA CẠNH KINH TẾ, XÃ HỘI CỦA HOẠT ĐỘNG CHO VAY LÃI NẶNG VÀ PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG,BÀI HỌC KINH NGHIỆM RÚT RA TỪ THỰC TI N VÀ GIẢI PHÁP CÔNG TÁC PHÒNG, CHỐNG TỘI PHẠM CHO VAY LÃI NẶNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH CÀ MAU

Trang 12

Chương 1: Các khía cạnh kinh tế, xã hội của hoạt động cho vay lãi nặng và pháp luật điều chỉnh

1.1 Khái quát về hiện tượng CVLN từ khía cạnh kinh tế, xã hội và pháp luật hiện nay điều chỉnh, phòng chống hiện tượng này

1.1.1 Các khái niệm về cho vay

Ngày nay, để phát triển tình hình kinh tế nhằm nâng cao đời sống vật chất của người dân, thì việc đầu tư từ nguồn vốn để phát triển kinh tế, đồng thời tìm kiếm nguồn vốn, tài chính để phục vụ cho nhu cầu cuộc sống hàng ngày Với nguồn tài chính dồi dào nhằm để hổ trợ, giúp đỡ cho người khác và tăng nguồn thu nhập cho bản thân, nhiều cá nhân, tổ chức đã tiến hành lấy nguồn vốn của mình cho các chủ thể khác vay, mượn để sinh hoạt và sản xuất Để hiểu rõ thuật ngữ cho vay, người viết đưa ra một số khái niệm của pháp luật Việt Nam về thuật ngữ cho vay như sau:

Theo quy định của Luật dân sự: Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản c ng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định1

.Còn theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng thì cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo sự thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi2

Ngoài ra, theo từ điển luật học thì cho vay được hiểu là: Bên cho vay giao cho bên vay một khoản tiền hoặc vật c ng loại để làm sở hữu trong thời hạn hoặc các bên đã thỏa thuận Cho vay có thể có lãi hoặc không có lãi, người vay chỉ phải

trã lãi nếu các bên có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định

Theo từ điển tiếng Việt thì cho vay được khái niệm như sau: Đưa tiền cho vay trong một thời hạn nhất định rồi trả cả vốn lẫn t suất lại Theo từ điển tưởng giải và liên tưởng thì khái niệm cho vay là tạm cho người khác sử dụng một khoảng tiền hoặc vật dụng và s được hoàn lại theo thỏa thuận

1 Điều 463 BLDS năm 2015

2 Điều 4 Luật các tổ chức tín dụng 2010

Trang 13

Từ hai quy định trên của pháp luật và thực tiễn xã hội, từ điển việt nam

người viết đưa ra khái niệm về cho vay như sau: cho vay là việc cho người khác (người vay) sử dụng tài s n thuộc sở h u c a m nh (người cho vay) trong một thời gian ác định sau khi sử dụng ong người vay ph i hoàn tr s tài s n

g c đó cho bên người cho vay và một kho n lãi suất theo s th a thuậnc a hai bên (người cho vay và người vay)

1.1.2 Khái niệm tội phạm CVLN

Kinh tế ngày càng phát triển thì nhu cầu vay vốn để sản xuất, kinh doanh

và sinh hoạt cuộc sống ngày càng tăng cao; một số đối tượng, tổ chức đã lợi dụng vào hoàn cảnh khó khăn, cấp thiết của người khác để cho vay và thu lại lãi suất rất cao, làm cho người đi vay gặp nhiều khó khăn,vì phải trả lãi suất cao Mặt khác, trong xã hội c ng có không ít người vì ham chơi, đua đòi, háo thắng, sa vào các tệ nạn xã hội, như cờ bạc, số đề, ma túy, cá độ bóng đá thua thiệt trầm trọng phải cầm cố nhà cửa, ruộng vườn, đất đai để s n sàng vay lãi suất cao để rồi lâm vào cảnh nợ nầng chồng chất, không khả năng thanh toán Một số đối tượng xấu đã lợi dụng hoàn cảnh này để “lách luật” cho vay lãi cao, khi người vay hết khả năng trả nợ thì ép buộc người vay chuyển nhượng quyền

sử dụng nhà, đất; một số đối tượng lợi dụng sơ hở, sự thiếu hiểu biết của người

đi vay, bằng những thủ đoạn tinh vi làm thủ tục chuyển quyền sử dụng nhà, đất

về tay mình, đến khi xảy ra tranh chấp thì giấy tờ chuyển nhượng hợp pháp đã thể hiện đủ, làm cho cơ quan bảo vệ pháp luật không có chứng cứ nào để bảo

vệ quyền lợi của người đi thay

CVLN là hành vi cho người khác vay tiền với mức lãi suất cao hơn mức lãi suất cao nhất mà pháp luật quy định từ mười lần trở lên có tính chất chuyên bóc lột Tội cho vay lãi nặnglà tội phạm đã được quy định đầu tiên tại Điều 171 BLHS năm 1985, do câu chữ của điều luật chưa rõ ràng nên đã làm cho việc xác định hành vi đó có phải tội phạm hay không gặp nhiều khó khăn, hầu như không có trường hợp nào bị xử lý hình sự được mặc d tình trạng cho vay lãi nặng diễn ra khá phổ biến và phức tạp, làm ảnh hưởng không nhỏ đến trật tự,

Trang 14

So với quy định của BLHS năm 1985 thì quy định mới của tội cho vay lãi nặng trong BLHS năm 1999 đã cụ thể hơn Nếu BLHS năm 1985 quy định đối với hành vi cho vay lãi nặng “người nào CVLN”3, thì BLHS năm 1999 quy định rõ ràng

cụ thể hơn “Người nào cho vay với mức lãi suất cao hơn mức lãi suất cao nhất mà pháp luật quy định từ mười lần trở lên có tính chuyên bóc lột”4

Từ những phân tích trên và quy định của BLHS, ta có thể đưa ra khái niệm về tội cho vay lãi nặng như sau: CVLN là hành vi của bên cho vay cho người khác vay một số tiền, tài sản và lấy lãi suất cao hơn mười lần lãi suất cao nhất của pháp luật quy định và có tính chất chuyên bóc lột

Ví dụ: Ông X cho ông Y vay mười triệu đồng với thỏa thuận lãi suất là một triệu trăm nghìn đồng/ ngày tương đương 30%/tháng vượt mức hơn mười lần lãi suất cao nhất pháp luật quy định (ông X là người chuyên CVLN để kiếm sống) tại thời điểm Ngân hàng Nhà nước công bố lãi suất cơ bản là 9%/năm theo quy định của BLDS thì mức lãi suất cao nhất tại thời điểm là 13%/năm tương đương 1,125%/tháng Như vậy ông X có dấu hiệu phạm tội CVLN

Tuy nhiên, việc xử lý đối với loại tội phạm này vẫn tiếp tục gặp nhiều khó khăn do pháp luật quy định chưa rõ ràng mức lãi suất vẫn còn cao, cơ quan bảo vệ pháp luật rất khó tìm chứng cứ chứng minh tính chuyên bóc lột và người cho vay lãi nặng thường là thỏa thuận miệng hoặc viết tay không có ghi lãi suất

và việc thỏa thuận thường chỉ có hai người biết, không có người thứ ba chứng kiến

Từ đó, mà BLHS năm 2015 quy định về tội CVLN như sau:

“1 Người nào trong giao dịch dân sự mà cho vay lãi suất cao gấp 5 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự, thu lợi bất chính từ 30.000.000đ đến dưới 100.000.000đ hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 50.000.000đ đến 200.000.000đ hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm

2 Phạm tội thu lợi bất chính từ 100.000.000đ trở lên, thì phạt tiền từ 200.000.000đ đến 1.000.000.000đ hoặc phạt t từ 06 tháng đến 03 năm

3 Điều 171 BLHS năm 1985

4 Điều 163 BLHS năm 1999

Trang 15

3 Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 30.000.000đ đến 100.000.000đ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”5

Như vậy, tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự được hiểu là hành

vi cho vay với mức lãi suất cao hơn mức lãi suất cao nhất mà pháp luật quy định từ năm lần trở lên có tính chất chuyên bóc lột Tuy nhiên, do có nhiều sai sót trong biên soạn đến nay Bộ luật hình sự năm 2015 vẫn chưa có hiệu lực pháp luật6

1.1.3 Những vấn đề cần chứng minh đối với tội CVLN

Căn cứ vào điều 163 BLHS và đặc điểm pháp lý của tội cho vay lãi nặng, trong quá trình điều tra các vụ án cho vay lãi nặng, Cơ quan cảnh sát điều tra cần chứng minh, làm rõ được các vấn đề sau7

:

- Có vụ áncho vay lãi nặng xảy ra không? Hay là tin báo giả để nhằm mục đích che dấu vấn đề gì đó Nếu xác minh có vụ áncho vay lãi nặng xảy ra thì cần làm rõ thời gian, địa điểm xảy ra và lãi suất cho vay là bao nhiêu? Đặc điểm như thế nào? Vụ án xảy ra ở đâu? Ai là người bị hại?Ở đâu?

- Ai là người thực hiện hành vi phạm tội? có đồng phạm không? vai trò đồng phạm của từng đối tượng trong vụ án? tính chất, mức độ của từng đối tượng tham gia như thế nào? người thực hiện hành vi phạm tội phải có lỗi cố ý trong mặt chủ quan của tội phạm Người thực hiện hành vi phạm tội có đủ năng lực trách nhiệm hình sự hay không? nếu nghi ngờ người thực hiện hành vi phạm tội mắc bệnh tâm thần thì phải trưng cầu giám định

- Tính chất, mức độ, tổng lợi nhuận thu được là bao nhiêu?

- Làm rõ lai lịch, nhân thân, tuổi, nghề nghiệp, trình độ, hoàn cảnh gia đình, dân tộc, quốc tịch, tiền án, tiền sự…trong đó chú ý đến tiền án, tiền sự về hành vi chiếm đoạt?

- Làm rõ thủ đoạn, phương thức gây án của thủ phạm qua các giai đoạn phạm tội; công cụ, phương tiện phạm tội?

- Làm rõ động cơ, mục đích gây án, hậu quả của hành vi phạm tội gây ra?

Trang 16

- Những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của đối tượng

gây án?

1.1.4 Đặc điểm tội CVLN

Tội cho vay lãi nặng được quy định tại Điều 163 thuộc Chương XVI các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế của BLHS năm 1999 được sửa đổi, bổ sung năm 2009 và năm 2015c ng giống như những tội phạm khác đều có các đặc điểm riêng biệt để phân biệt giữa các loại tội phạm khác nhau Tội CVLN

có các đặc điểm cơ bản sau:

Thứ nhất, hầu hết các hành vi cho vay lãi nặng đều nhằm vào lợi ích vật

chất là số tiền lãi mà họ nhận được trong việc cho vay lấy lãi Hành vi cho vay này được các đối tượng cho vay với lãi suất rất cao, lãi suất cho vay cao hơn gấp mười lần (Bộ luật hình sự năm 1999); 05 lần trở lên (Bộ luật hình sự năm 2015) lãi suất cao nhất mà pháp luật quy định

Thứ hai, người cho vay thường lợi dụng hoàn cảnh khó khăn, cấp bách của

người đi vay để ép người vay phải trả lãi suất cao nhằm để thu hồi vốn nhanh và kiếm được số tiền lờibất chính từ 30.000.000đ trở lên từ việc cho vay đó

Thứ ba, hành vi cho vay lấy lãi rất cao của các đối tượng cho vay được

thực hiện với nhiều hình thức đa dạng khác nhau, với các hình thức cho vay tinh vi, lách luật, rất khó phát hiện, bởi việc cho vay này không thông qua sự quản lý của cơ quan chức năng, mà hầu như là các thỏa thuận ngầmgiữa hai bên

Thứ tư, các hành vi cho vay lãi nặng khi bị phát hiện thường là đã xảy ra

một khoảng thời gian dài khi con nợ không còn khả năng chi trả, các đối tượng cho vaysiết nợ, đe dọa và hành hung người vay, con nợ và làm xuất hiện thêm một số loại tội phạm mới như: Tội đe dọa giết người, tội cố ý gây thương tích, bắt giữ người trái pháp luật, tội cưỡng đoạt tài sản, tội công nhiên chiếm đoạt tài sản,…có khi vụ việc xảy ra nghiêm trọng mới được cơ quan chức năng phát hiện, xử lý

Thứ năm, người cho vay lãi nặng thường là các đối tượng sẵn sàng thực

hiện hành vi vi phạm pháp luật, với mọi thủ đoạn phạm pháp để đòi được nợ, vì vậy khi cho vay chỉ cần tờ ghi nhận nợ không có lãi suất hoặc có ghi lãi suất trong khuôn khổ pháp luật cho phép hoặc chỉ là lời nói không qua tổ chức và thủ tục chính thức nào, nên rất khó để xử lý, trừ phi những đối tượng này có đơn trình báo đến cơ quan chức năng, nhưng không có người đi vay nợ nào còn

Trang 17

tài sản màdám không trả, với những người vì lợi ích vật chất đem lại họ sẵn sàng ép người đi vay vào đường c ng, mặt cho hành vi của họ có vi phạm pháp luật hay không, các đối tượng đó luôn lạnh l ng, tàn nhẫn và xem thường pháp luật Đối tượng cho vay lãi nặngkhông có đăng ký kinh doanh, c ng như không

có giấy phép kinh doanh hoặc có giấy phép kinh doanh chủ yếu là dịch vụ cầm

đồ để núp bóng hoạt động hành vi cho vay lãi nặng

Thứ sáu, người cho vay lãi nặng thường có mối quan hệ rộng rãi, có kinh

nghiệm, hiểu biết pháp luật, có thể có mối quan hệ với những người có quyền lực trong cơ quan nhà nước am hiểu pháp luậtthậm chí có luật sư hướng dẫn, lợi dụng sơ hở của pháp luậtđể thực hiện hành vi phạm tội, nên khi thực hiện hành vi cho vay dễ dàng che dấu và khó phát hiện hành vi cho vay lãi nặng

1.1.5 Ý nghĩa của việc nghiên cứu tội CVLN

Để bảo vệ trật tự an toàn xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích của công dân, bảo vệ chế độ, đồng thời giáo dục mọi người đấu tranh phòng, chống tội phạm Tuy nhiên, trong thời kỳ nào c ng có các loại tội phạm mới xuất hiện làm xáo trộn xã hội, ảnh hưởng to lớn đến tình hình kinh tế, xã hội, đặc biệt khi đất nước ta đã là thành viên của WTO để bảo vệ quyền lợi của người dân của đất nước.Vì vậy, mọi cá nhân, tổ chức c ng nhau tăng cường đấu tranh phòng, chống tội phạm Hiện nay, với sự xuất hiện ngày càng nhiều các loại tội phạm, trong đó có tội phạm cho vay lãi nặng đã làm trì trệ đến nền kinh tế xã hội, ảnh hưởng đến trật tự quản lý kinh tế của nhà nước, ảnh hưởng đến quyền lợi của người dân và nhà nước Nhằm để tìm hiểu những nguyên nhân, điều kiện làm phát sinh tội phạm cho vay lãi nặng c ng như tìm ra các giải pháp để đấu tranh phòng chóng tội phạm người viết chọn đề tài tội cho vay lãi nặng để phân tích Sau khi phân tích về tội cho vay lãi nặng chúng ta s hiểu được như thế nào là hành vi cho vay lãi nặng và xác định được các yếu tố cấu thành tội cho vay lãi nặng, c ng như xác định được những chủ thể nào phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm này, đồng thời qua đó tìm hiểu được các nguyên nhân và điều kiện để tội phạm phát sinh, nhằm tìm ra những giải pháp tốt nhất phòng, chống nạn cho vay lãi nặng, hạn chế thấp nhất thiệt hại củangười dân do tội phạm này gây ra bởi vì hành vi cho vay lãi nặng không chỉ gây thiệt hại về vật chất mà tội phạm còn gây ra thiệt hại về tinh thần của người dân, làm ảnh hưởng đến uy tín, trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước, việc nghiên cứu tìm hiểu tội phạm này nhằm để tìm ra những điểm chưa ph hợp của pháp luật

Trang 18

hình sự, thực tế áp dụng pháp luật, các hoạt động kiểm tra, giám sát phòng, chống tệ nạn cho vay lãi nặng như thế nào, để tìm ra những giải pháp góp phần đấu tranh phòng, chống tội phạm và dần hoàn thiện quy định của pháp luật hình

sự

1.2 Một số quy định của pháp luật Việt Nam liên quan đến việc phòng và chống tín dụng đen, CVLN trong

1.2.1 Các quy định của BLDS năm 2015 về cho vay, mượn tài sản

- Các quy định về cho vay tài s n 8 :

BLDS năm 2015 quy định rõ hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản c ng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định

Bên vay trở thành chủ sở hữu tài sản vay kể từ thời điểm nhận tài sản đó Bên cho vay có nghĩa vụ: Giao tài sản cho bên vay đầy đủ, đúng chất lượng, số lượng vào thời điểm và địa điểm đã thỏa thuận; Bồi thường thiệt hại cho bên vay, nếu bên cho vay biết tài sản không bảo đảm chất lượng mà không báo cho bên vay biết, trừ trường hợp bên vay biết mà vẫn nhận tài sản đó; Không được yêu cầu bên vay trả lại tài sản trước thời hạn, trừ trường hợp thực hiện hợp đồng vay có kỳ hạn hoặc pháp luật có liên quan quy định khác Đối với hợp đồng vay có kỳ hạn và không có lãi thì bên vay

có quyền trả lại tài sản bất cứ lúc nào, nhưng phải báo trước cho bên cho vay một thời gian hợp lý, còn bên cho vay chỉ được đòi lại tài sản trước kỳ hạn, nếu được bên vay đồng ý Đối với hợp đồng vay có kỳ hạn và có lãi thì bên vay có quyền trả lại tài sản trước kỳ hạn, nhưng phải trả toàn bộ lãi theo kỳ hạn, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác

Nghĩa vụ trả nợ của bên vay được quy định cụ thể:Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật c ng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác; Trường hợp bên vay không thể trả vật thì có thể trả bằng tiền theo trị giá của vật đã vay tại địa điểm và thời điểm trả nợ, nếu được bên cho vay đồng ý; Địa điểm trả nợ là nơi cư trú hoặc nơi đặt trụ sở của bên cho vay, trừ trường hợp có thỏa thuận khác; Trường hợp vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì bên cho vay có quyền yêu cầu trả tiền lãi với mức lãi suất theo quy định tại khoản 2

8 Quy định từ điều 463 đến điều 471 BLDS năm 2015

Trang 19

Điều 468 của BLDS năm 2015 trên số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác; Trường hợp vay

có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi như sau:Lãi trên nợ gốc theo lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tương ứng với thời hạn vay mà đến hạn chưa trả; trường hợp chậm trả thì còn phải trả lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của BLDS năm 2015; Lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả bằng 150% lãi suất vay theo hợp đồng tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác

Lãi suất vay do các bên thỏa thuận Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác Căn cứ tình hình thực tế và theo đề xuất của Chính phủ, Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định điều chỉnh mức lãi suất nói trên và báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất.Trường hợp lãi suất theo thỏa thuận vượt quá lãi suất giới hạn được quy định tại khoản này thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực.Trường hợp các bên có thỏa thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất và có tranh chấp về lãi suất thì lãi suất được xác định bằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều 468 BLDS năm 2015 tại thời điểm trả nợ

Đối với hợp đồng vay không kỳ hạn và không có lãi thì bên cho vay có quyền đòi lại tài sản và bên vay c ng có quyền trả nợ vào bất cứ lúc nào, nhưng phải báo cho nhau biết trước một thời gian hợp lý, trừ trường hợp có thỏa thuận khác; Đối với hợp đồng vay không kỳ hạn và có lãi thì bên cho vay có quyền đòi lại tài sản bất cứ lúc nào, nhưng phải báo trước cho bên vay một thời gian hợp lý và được trả lãi đến thời điểm nhận lại tài sản, còn bên vay c ng có quyền trả lại tài sản bất cứ lúc nào và chỉ phải trả lãi cho đến thời điểm trả nợ, nhưng c ng phải báo trước cho bên cho vay một thời gian hợp lý

Đối với việc sử dụng tài sản vay, BLDS năm 2015 nêu rõ:Các bên có thể thỏa thuận về việc tài sản vay phải được sử dụng đúng mục đích vay Bên cho vay

có quyền kiểm tra việc sử dụng tài sản và có quyền đòi lại tài sản vay trước thời hạn nếu đã nhắc nhở mà bên vay vẫn sử dụng tài sản trái mục đích

Ngoài ra, BLDS năm 2015 c ng quy định rất rõ về họ, hụi, biêu, phường (sau đây gọi chung là họ) Theo đó, họ là hình thức giao dịch về tài sản theo tập quán trên cơ sở thỏa thuận của một nhóm người tập hợp nhau lại c ng định ra số người, thời gian, số tiền hoặc tài sản khác, thể thức góp, lĩnh họ và quyền, nghĩa vụ của các

Trang 20

thành viên.Việc tổ chức họ nhằm mục đích tương trợ trong nhân dân được thực hiện theo quy định của pháp luật.Trường hợp việc tổ chức họ có lãi thì mức lãi suất phải tuân theo quy định của Bộ luật này; Nghiêm cấm việc tổ chức họ dưới hình thức cho vay nặng lãi

- Các quy định về mượn tài sản9:

Hợp đồng mượn tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho mượn giao tài sản cho bên mượn để sử dụng trong một thời hạn mà không phải trả tiền, bên mượn phải trả lại tài sản đó khi hết thời hạn mượn hoặc mục đích mượn đã đạt được.Đối tượng của hợp đồng mượn tài sản là tất cả những tài sản không tiêu hao đều có thể là đối tượng của hợp đồng mượn tài sản

+ Đối với bên mượn tài sản:

Bên mượn tài sản có những nghĩa vụ sau: Giữ gìn, bảo quản tài sản mượn, không được tự ý thay đổi tình trạng của tài sản; nếu tài sản bị hư hỏng thông thường thì phải sửa chữa; Không được cho người khác mượn lại, nếu không có sự đồng ý của bên cho mượn; Trả lại tài sản mượn đúng thời hạn; nếu không có thỏa thuận về thời hạn trả lại tài sản thì bên mượn phải trả lại tài sản ngay sau khi mục đích mượn

đã đạt được; Bồi thường thiệt hại, nếu làm mất, hư hỏng tài sản mượn; Bên mượn tài sản phải chịu rủi ro đối với tài sản mượn trong thời gian chậm trả

Bên mượn tài sản có một số quyền như là: Được sử dụng tài sản mượn theo đúng công dụng của tài sản và đúng mục đích đã thỏa thuận; Yêu cầu bên cho mượn thanh toán chi phí hợp lý về việc sửa chữa hoặc làm tăng giá trị tài sản mượn, nếu

có thỏa thuận; Không phải chịu trách nhiệm về những hao mòn tự nhiên của tài sản mượn

+ Đối với bên cho mượn tài sản:

Bên cho mượn tài sản có nghĩa vụ: Cung cấp thông tin cần thiết về việc sử dụng tài sản và khuyết tật của tài sản, nếu có; Thanh toán cho bên mượn chi phí sửa chữa, chi phí làm tăng giá trị tài sản, nếu có thỏa thuận; Bồi thường thiệt hại cho bên mượn nếu biết tài sản có khuyết tật mà không báo cho bên mượn biết dẫn đến gây thiệt hại cho bên mượn, trừ những khuyết tật mà bên mượn biết hoặc phải biết

Bên cho mượn tài sản có các quyền đòi lại tài sản ngay sau khi bên mượn đạt được mục đích nếu không có thỏa thuận về thời hạn mượn; Nếu bên cho mượn có nhu cầu đột xuất và cấp bách cần sử dụng tài sản cho mượn thì được đòi lại tài sản

9 Quy định từ điều 495 đến điều 499, BLDS năm 2015

Trang 21

đó mặc d bên mượn chưa đạt được mục đích, nhưng phải báo trước một thời gian hợp lý; Đòi lại tài sản khi bên mượn sử dụng không đúng mục đích, công dụng, không đúng cách thức đã thỏa thuận hoặc cho người khác mượn lại mà không có sự đồng ý của bên cho mượn; Yêu cầu bồi thường thiệt hại đối với tài sản do bên mượn gây ra

1.2.2 Các quy định của pháp luật hiện hành về tín dụng, ngân hàng, tài chính

- Một s quy định về tín dụng 10 :

Tín dụng là hệ thống quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình một chủ thể trong xã hội huy động các phương tiện thanh toán tạm thời nhàn rỗi của các chủ thể khác theo nguyên tắc có hoàn trả nhằm đáp ưng nhu cầu về vốn Tín dụng có các

Tín dụng có thể phân loại gồm tín dụng thương mại, tín dụng ngân hàng và tín dụng nhà nước Tín dụng thương mại phát sinh trong quan hệ mua bán chịu hàng hóa khi bên mua chưa có đủ khả năng thanh toán cho bên bán Tín dụng ngân hàng

là quan hệ tín dụng giữa các ngân hàng thương mại, các tổ chức tài chính với các doanh nghiệp và cá nhân Tín dụng Nhà nước là quan hệ tín dụng giữa Nhà nước với các tổ chức cá nhân khác

- Một s quy định về ngân hàng 11 :

Ngân hàng là một ngành kinh tế với hoạt động chủ yếu là kinh doanh tiền tệ, tín dụng, ngoại hối và dịch vụ ngân hàng, tiếp nhận và quản lý sử dụng các nguồn vốn của Nhà nước, vốn viện trợ, tài trợ của cá nhân tổ chức trong và ngoài nước phục vụ nhu cầu sản xuất kinh doanh, đời sống của các chủ thể trong nền kinh tế xã

10 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2012

11 Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam năm 2010

Trang 22

hội

Lĩnh vực ngân hàng là chỉ phạm vi tổng thể các quan hệ tiền tệ và quan hệ tín dụng giữa các tổ chức tín dụng với nhau và với các chủ thể kinh tế khác trong xã hội được hình thành từ khâu phân phối và lưu thông của quá trình tái sản xuất xã hội

Quan hệ tiền tệ trong lĩnh vực ngân hàng là những quan hệ kinh tế nảy sinh trong quá trình trao đổi và lưu hành tiền tệ Tiền tệ xuất hiện với tư cách là một loại hàng hóa có tính chất đặc biệt xuất phát từ chức năng là phương tiện thanh toán, phương tiện cất trữ và trao đổi Tiền tệ có hóa tệ và tín tệ Hóa tệ là những hàng hóa thông thường nhưng thực hiện các chức năng của tiền tệ, gồm hóa tệ kim loại và hóa tệ không kim loại Tín tệ là loại tiền tệ mà bản thân nó có giá trị không đáng kể, song nhờ sự tín nhiệm của mọi người mà nó có giá trị trao đổi và được sử dụng trong lưu thông, gồm các loại tiền kim loại, tiền giấy, tiền ghi sổ (bút tệ), tiền điện

tử

Quan hệ tín dụng ngân hàng là những quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình huy động các phương tiện thanh toán tạm thời nhàn rỗi nhằm đáp ứng cho sự thiếu hụt tạm thời về vốn của các chủ thể trong nền kinh tế theo nguyên tắc cho vay có hoàn trả vốn và lãi trong một thời gian nhất định Với vai trò là doanh nghiệp hoạt động tín dụng, các tổ chức tín dụng c ng đặt mục tiêu cho mình là lợi nhuận Hàng hóa mua bán, trao đổi là quyền sử dụng vốn ngắn hạn và dài hạn Giá mua hàng hóa chính là lãi suất huy động, giá bán của nó chính là lãi suất cho vay Sự chênh lệch giữa lãi suất huy động và lãi suất cho vay chính là lợi nhuận trong hoạt động kinh doanh

Chủ thể chủ yếu trong ngành ngân hàng bao gồm:

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam là cơ quan của Chính phủ, có chức năng quản

lý nhà nước về tiền tệ và hoạt động ngân hàng đồng thời đóng vai trò là ngân hàng trung ương của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, là ngân hàng phát hành tiền, ngân hàng của các tổ chức tín dụng và ngân hàng làm dịch vụ tiền tệ cho Chính phủ

Các chủ thể kinh doanh trong ngành ngân hàng: Các ngân hàng thương mại; Ngân hàng thương mại nhà nước; Ngân hàng thương mại cổ phần; Ngân hàng chính sách xã hội; Ngân hàng liên doanh và Ngân hàng nước ngoài

Tổ chức tín dụng phi ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện một số hoạt động ngân hàng như là một nội dung kinh doanh thường xuyên nhưng

Trang 23

không được nhận tiền gửi không kỳ hạn, không làm dịch vụ thanh toán hoặc bị hạn chế về đối tượng huy động nhận tiền gửi và cho vay Tổ chức tín dụng phi ngân hàng gồm Công ty tài chính; Công ty cho thuê tài chính; Hợp tác xã tín dụng và

Qu tín dụng nhân dân

Các chủ thể khác: bao gồm các chủ thể kinh doanh trong lĩnh vực ngân hàng hoạt động theo sự cho phép của Ngân hàng Nhà nước như các Doanh nghiệp tư nhân kinh doanh vàng, bạc, đá quý, các cửa hàng cầm đồ, các điểm thu đổi ngoại tệ Một số nghiệp vụ cơ bản của hoạt động ngân hàng: Các nghiệp vụ liên quan đến tạo lập nguồn vốn kinh doanh; tín dụng cho vay; dịch vụ thanh toán; kinh doanh tiền tệ và các nghiệp vụ khác của tổ chức tín dụng(kinh doanh chứng khoán; dịch vụ thông tin, tư vấn; dịch vụ ủy thác; thực hiện các hoạt động kinh doanh tài chính qua các sàn giao dịch vàng, các công ty kinh doanh địa ốc, bất động sản

- Một s quy định về tài chính 12 :

Tài chính là tổng thể các mối quan hệ trong quá trình tạo lập và sử dụng các qu tiền tệ tập trung hay không tập trung nhằm phát triển sản xuất, cải thiện đời sống và thỏa mãn nhu cầu chung của xã hội Hay nói cách khác là tài chính trong nền kinh tế

là hệ thống mối quan hệ kinh tế giữa các thực thể tài chính phát sinh trong quá trình hình thành, phân phối và sử dụng các nguồn lực tài chính

Khái niệm lĩnh vực tài chính là chỉ một phạm vi bao gồm tập hợp hệ thống quan hệ kinh tế trong nền kinh tế quốc dân dưới hình thức giá trị, trong đó có các chủ thể gắn với qu tiền tệ và sự vận động của tiền tệ Như vậy với góc độ nhận diện về lĩnh vực để phục vụ công tác phòng ngừa diều tra khám phá tội phạm kinh

tế, có thể thấy rằng lĩnh vực tài chính có các vấn đề cần quan tâm là:

- Lĩnh vực tài chính là nơi tập trung qu tiền tệ của xã hội

- Lĩnh vực tài chính chứa đựng quan hệ giao dịch, vận động, lưu chuyển của đồng tiền dưới nhiều hình thức vay, mượn, thu, chi, cấp vốn, đóng góp, cho thuê, thanh toán…

- Chủ thể tham gia lĩnh vực là các tổ chức cá nhân có quyền sở hữu, quyền sử dụng các qu tiền tệ như Nhà nước, doanh nghiệp, tổ chức xã hội, hộ gia đình, cá nhân

- Cơ sở pháp lý của các quan hệ giao dịch là hệ thống chính sách, pháp luật của Nhà nước và các chế ước xã hội

12 Luật Ngân sách Nhà nước năm 2002

Trang 24

Hoạt động của lĩnh vực tài chính có vai trò quan trọng trong đời sống xã hội

nó liên quan gắn bó với quá trình tập trung và phân phối của cải của xã hội Đối với lực lượng Cảnh sát kinh tế nhận thức đúng về hoạt động tài chính để giúp xác định phướng hướng tổ chức đấu tranh phòng chống tội phạm kinh tế sát hợp, có hiệu quả

Hệ thống tài chính là tổng hợp những khâu tài chính trong các lĩnh vực khác nhau nhưng giữa chúng có mối quan hệ hữu cơ với nhau trong quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng các nguồn lực tài chính Nó là tổng thể các hình thức thể hiện tài chính trong thực tiễn gắn với các qu tiền tệ đặc trưng và cơ cấu tổ chức của các

chủ thể kinh tế xã hội

Căn cứ vào hình thức sở hữu các nguồn lực tài chính, hệ thống tài chính gồm 2

bộ phận cấu thành: Tài chính công và tài chính tư Tài chính công gắn với các hoạt động kinh tế của khu vực nhà nước Tài chính tư gắn với các hoạt động kinh tế của khu vực tư nhân biểu hiện qua hoạt động kinh doanh và dịch vụ của các doanh nghiệp và các cá nhân trong nền kinh tế hỗn hợp Căn cứ vào đặc điểm hình thành, phân phối sử dụng các nguồn lực tài chính hình thành 5 khâu của hệ thống tài chính

là khu vực nhà nước có tài chính nhà nước; khu vực sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ phi tài chính có tài chính của khu vực phi tài chính; khu vực sản xuất kinh doanh dịch vụ tài chính có tài chính khu vực tài chính; khu vực sản xuất và tiêu

d ng ở các hộ gia đình có tài chính hộ gia đình, khu vực hoạt động của các tổ chức chính trị, xã hội không vì mục đích kinh doanh có tài chính các tổ chức chính trị, xã hội

Trong nền kinh tế thị trường nước ta hiện nay hệ thống tài chính bao gồm nhiều khâu có quan hệ chặt ch tác động qua lại với nhau như: Ngân sách nhà nước, tín dụng, dự trữ bảo hiểm, tài chính doanh nghiệp, tài chính tổ chức chính trị, xã hội

và tài chính dân cư Quan hệ tài chính đó diễn ra thông qua môi trường là thị trường tài chính Việc nhận thức đúng đắn các khâu đó giúp chúng ta hiểu rõ hơn bản chất của tài chính và hoạt động tài chính

Các quan quan hệ xã hội phát sinh liên quan đến hoạt động vay, mượn có thể khái quát bằng sơ đồ dưới đây:

Trang 25

1.3 Lịch sử hình thành và phát triển các quy định về tội CVLN trong Luật Hình sự Việt Nam

1.3.1 Giai đoạn BLHS 1985 có hiệu lực

Sau khi giành chính quyền từ năm 1945 nước ta vẫn còn nhiều khó khăn trong quá trình quản lý đất nước, chưa có nhiều quy định pháp luật cụ thể để điều chỉnh cácquan hệ xã hội làm phát sinh nhiều tội phạm, trong đó tội cho vay lãi nặng chưa xử lý được chính xác, nên nhiều tội phạm xuất hiện ngày càng nhiều Với nhu cầu khách quan đó, ngày 27/6/1985, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa VII, tại kỳ hợp thứ 9, đã thông qua BLHS,

có hiệu lực từ ngày 01/01/1986 BLHS năm 1985 là BLHS đầu tiên của chế độ dân chủ nhân dân, đã kế thừa và phát huy những thành tựu của Luật Hình sự Việt Nam trong giai đoạn trước đó

BLHS 1985 quy định về tội CVLN như sau: “Người nào CVLN có tính chất chuyên bóc lột th bị phạt c nh cáo, c i tạo không giam gi đến một năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến hai năm” 13 Hành vi CVLN đã được quy định

13 Điều 171 BLHS năm 1985

Trang 26

trong luật hình sự với khung hình phạt đến hai năm của khoản 1 điều Điều 171 BLHS 1985 mặc d chưa đủ sức răn đe hành vi vi phạm nhưng đã thể hiện được sự quan tâm bước đầu cho việc phòng, chống tội phạm cho vay lãi nặng trong thời kỳ đầu và hình phạt được thể hiện nghiêm khắc hơn khi phạm tộisử dụng công qu tại Khoản 2 Điều 171 với mức hình phạt lên đến năm năm t

1.3.2 Giai đoạn BLHS 1999 đến nay

Pháp luật hình sự là công cụ sắc bén của nhà nước để quản lý xã hội, phòng, chống tội phạm Tuy nhiên, với sự điều chỉnh của BLHS 1985 chưa xác định rõ được các hành vi như thế nào là phạm tội hình sự, làm cho việc điều tra, xử lý gặp phải nhiều khó khăn, không trấn áp được tội phạm, gây bất ổn trong xã hội Việc ban hành bộ BLHS mới, thay thế BLHS năm 1985 là nhu cầu khách quan, tất yếu của đất nước Để đáp ứng được yêu cầu đó, ngày 21/12/1999, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, khóa X, tại

kỳ họp thứ 6, đã thông qua BLHS năm 1999, thay thế cho BLHS năm 1985 BLHS năm 1999 có hiệu lực kể từ ngày 01/7/2000 Trong BLHS năm 1999 đã

có những quy định mới về tội cho vay lãi nặng, được quy định tại Điều 163, thuộc chương XVI, đã có những thay đổi cơ bản về nhận thức c ng như lý luận

về loại tội phạm này và có khả năng đấu tranh, phòng chống hiệu quả tội phạm này trong thời gian tới

So với tội cho vay lãi nặng được quy định tại Điều 171 của BLHS năm

1985 thì tội cho cho vay lãi nặng được quy định tại Điều 163 của BLHS năm

1999 đã thể hiện rõ hành vi như thế nào là cho vay lãi nặng nên dễ dàng áp dụng hơn trước đây BLHS 1999 quy định về Tội cho vay lãi nặng như sau:

“Người nào cho vay với mức lãi suất cao hơn mức lãi suất cao nhất mà pháp luật quy định từ mười lần trở lên có tính chất chuyên bóc lột, th bị phạt tiền từ một lần đến mười lần s tiền lãi hoặc phạt c i tạo không giam gi đến một năm” 14 Điều luật đã quy định cụ thể: Cho vay với mức lãi suất cao hơn mười

lần lãi suất cao nhất mà pháp luật quy định và có tính chuyên bóc lột so với BLHS năm 1985 thì không biết được hành vi nào là cho vay lãi nặng.Đồng thời luật mới đã bổ sung thêm tình tiết tăng nặng là thu lợi bất chính lớn được quy định tại Khoản 2 Điều 163 c ng thể hiện được mức độ quan tâm của nhà nước đối với các cá nhân khác, không giống như BLHS năm 1985 quy định “Phạm

14 Điều 163 BLHS năm 1999

Trang 27

tội trong trường hợp sử dụng công qu thì bị phạt t từ một năm đến 05 năm”15

điều này chỉ thể hiện được sự bảo vệ đối với tài sản là công qu , tuy nhiên Khoản 2 Điều 163 BLHS năm 1999 lại không được giải thích thu lợi bất chính bao nhiêu là lớn nên c ng khó mà xác định, làm cho các cơ quan khó xử lý được tội phạm thuộc khoản 2 của điều này

Tội cho vay lãi nặng đã được BLHS năm 1999 cụ thể hơn so với luật hình sự trước đây Tuy nhiên, đã bộc lộ nhiều khuyết điểm cần phải giải quyết sớm, với điều luật hiện tại chưa được cụ thể nên khó áp dụng và các đối tượng luôn tìm cách

“lách luật”, sơ hở của pháp luật để né tránh nên khó xử lý tội phạm này Chính sách pháp luật của nhà nước chưa chú trọng đến tội cho vay lãi nặng, chưa thấy được tầm quan trọng của nguồn tín dụng, c ng như chưa thấy được hậu quả nặng nề của tội phạm này gây ra, với sự bất cập đó đã làm tình hình tội phạm cho vay lãi nặng phát triển mạnh, uy hiếp nền tài chính của Quốc gia Để giải quyết tình hình tội phạm cho vay lãi nặng như hiện nay thì cần phải có những giải pháp phòng chống tội phạm đúng đắng, kịp thời, thay đổi bổ sung những quy định ph hợp và phải chú ý đến tội phạm này nhiều hơn

Vì l đó mà Bộ luật hình sự năm 2015 lại một lần nữa sửa đổi, bổ sung điều luật quy định về tội phạm cho vay lãi nặng như đã nói ở phần trên Tuy nhiên, điều luật đến nay vẫn chưa được triển khai thực hiện trong thực tiễn đời sống xã hội Nhưng theo người viết nhận định với thủ đoạn “lách luật” của các đối tượng cho vay lãi nặng như hiện nay thì Nhà nước cần phải có một giải pháp đồng bộ về mặt xã hội kết hợp với pháp luật để phòng ngừa, đấu tranh với tội phạm cho vay lãi nặng, góp một phần giữ vững nền kinh tế phát triển ổn định

1.4 Dấu hiệu pháp lý của tội CVLN theo quy định của Luật Hình sự Việt Nam

Vào thời điểm người viết chọn đề tài cho vay lãi nặng (tín dụng đen) để làm luận văn thạc s thì Bộ luật hình sự năm 2015 chưa công bố ban hành và

do Bộ luật hình sự năm 1999 đến nay vẫn còn hiệu lực thi hành, nên người viết vẫn lấy quy định tội phạm cho vay lãi nặng theo Điều 163 Bộ luật hình sự năm

Trang 28

“1 Người nào cho vay với mức lãi suất cao hơn mức lãi suất cao nhất

mà pháp luật quy định từ mười lần trở lên có tính chất chuyên bóc lột, th bị phạt tiền từ một lần đến mười lần s tiền lãi hoặc phạt c i tạo không giam gi đến một năm

2 Phạm tội thu lợi bất chính lớn th bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm

3 Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ một lần đến năm lần s lợi bất chính, cấm đ m nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm” 16

Theo đó, Dấu hiệu pháp lý và trách nhiệm hình sự đối với tội cho vay lãi nặngtheo quy định của Luật Hình sự Việt Nam hiện hành như sau:

1.4.1 Khách thể của tội CVLN

Tội CVLN xâm phạm quy định của Nhà nước về quản lý hoạt động tín dụng, xâm phạm lợi ích của công dân.Khách thể của tội phạm này là trật tự quản lý kinh tế mà cụ thể là trật tự trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ

Có ý kiến cho rằng, ngoài lĩnh vực kinh doanh tiền tệ, tội CVLN còn bao gồm cả lĩnh vực kinh doanh khác như: Cho thuê tài sản (kể cả bất động sản và động sản), vì trên thực tế không chỉ cho vay tiền mà còn cho thuê, mướn tài sản với số tiền thuê rất cao và c ng có tính chất bóc lột, nếu chỉ giới hạn trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ thì chưa đáp ứng được tình hình, nhất là trong một nền kinh tế thị trường

Quan điểm trên c ng có nhân tố hợp lý nhưng tội phạm này, nhà làm luật chỉ quy định hành vi cho vay mà không quy định hành vi cho thuê tài sản, thực

ra hành vi cho vay, xét về bản chất c ng là hành vi cho thuê, nhưng là cho thuê tiền, song không ai gọi là cho thuê tiền Hơn nữa, việc cho vay tiền còn có quy định của ngân hàng về lãi suất, trên cơ sở lãi suất do ngân hàng quy định để xác định người cho vay đã lấy lãi từ mười lần trở lên hay không.Tuy nhiên, ngoài việc cho vay tiền, hiện nay trong xã hội còn có dịch vụ cầm đồ, mà dịch vụ này

c ng là một thủ đoạn để người nhận cầm đồ lấy lãi suất rất cao Nếu nhận cầm

đồ với lãi suất cao hơn mức lãi suất cao nhất mà pháp luật quy định từ mười lần trở lên thì c ng bị coi là hành vi CVLN, bởi l : Cầm đồ thực chất là hành vi cho vay có bảo đảm bằng hình thức “cầm cố” Theo hướng dẫn tại Thông tư số 13/1999/TT-BTM về lãi suất đối với dịch vụ cầm đồ s do hai bên thoả thuận

16 Điều 163 BLHS năm 1999

Trang 29

nhưng không được quá 3%/tháng Trường hợp cho vay dưới 10 ngày thì lãi suất không được quá 0,3%/ ngày Hoạt động theo hình thức này, có nghĩa là tội phạm cho vay lãi nặng đã núp bóng doanh nghiệp kinh doanh có điều kiện về

an ninh trật tự để hoạt động

Đ i tượng tác động c a tội phạm này là số tiền mà người phạm tội cho

người khác vaylãi suất cao hơn mức quy định của Nhà nước, d ng tiền để kinh doanh bất hợp pháp, thu lợi bất chính

1.4.2 Chủ thể của tội CVLN

Chủ thể của tội phạm này có thể là bất kỳ người nào từ đủ 16 tuổi trở lên

có năng lực trách nhiệm hình sự Nếu người phạm tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong quản lý công qu và d ng công qu để CVLN với tính chất chuyên bóc lột thì vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội này với tình tiết tăng nặng Trường hợp do cho vay mà để mất công qu thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội sử dụng trái phép tài sản (Điều 142 BLHS) hoặc tội cố ý làm trái các quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng (Điều

165 BLHS)

1.4.3 Mặt khách quan của tội CVLN

Mặc khách quan của tội phạm này được thể hiện ở hành vi cho người khác vay (tiền, vàng, ngoại tệ) với lãi xuất rất cao Lãi suất rất cao là mức lãi xuất vượt mứclãi suất cao nhất mà Ngân hàng Nhà nước quy định khi cho vay trong hoạt động tín dụng

Hành vi CVLN chỉ cấu thành tội phạm nếu mức lãi suất cao từ mười lần trở lên(Bộ Luật hình sự năm 1999); 5 lần trở lên (Bộ Luật hình sự năm 2015)so với mức lãi suất cao nhất mà pháp luật quy định và cho vay mang tính chất bóc lột Tính chất bóc lột thể hiện ở chổ người phạm tội thường xuyên cho người khác vay với mục đích thu lãi suất rất cao và nguồn thu lợi bất chính này là nguồn thu nhập của chính người đó

Mức lãi suất cao nhất mà ngân hàng nhà nước quy định khác nhau theo từng thời kỳ khác nhau Ví dụ, hiện nay mức lãi suất cơ bản mà Ngân hàng Nhà nước quy định là 9%/năm, thì lãi suất do các bên thỏa thuận nhưng không được vượt quá 150%, nghĩa là lãi suất cao nhất được quy định là 13,5%/năm tương đương 1,125%/tháng, khi lãi suất vượt quá 10 lần lãi suất cao nhất pháp luật quy định thì có dấu hiệu của hành vi CVLN, nghĩa là lãi suất cao hơn 135%/năm, tương đương 11,25%/tháng thì có dấu hiệu của tội CVLN Tội

Trang 30

phạm hoàn thành kể từ thời điểm cho vay với thỏa thuận mức lãi suất rất cao như luật định

Nếu hành vi có tính chất tương trợ, giúp đỡ nhất thời hoặc do người trả mang ơn tự trả với lãi suất rất cao thì hành vi đó không cấu thành tội CVLN, vì hành vi đó không mang tính chất chuyên bóc lột mặc d lãi suất có thể cao hơn gấp 10 lần lãi suất cao nhất mà pháp luật quy định

Hậu quả của hành vi CVLN là những thiệt hại vật chất và phi vật chất cho xã hội như: Tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự của con người, những thiệt hại về tài sản cho xã hội và những thiệt hại khác về chính trị, kinh

tế, văn hoá, xã hội… Hậu quả trực tiếp của hành vi CVLN là gây thiệt hại cho người vay, làm cho người vay phải chịu mức lãi quá cao Đối với tội CVLN, hậu quả không phải là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm Tuy nhiên, việc xác định hậu quả s có ý nghĩa trong việc đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi CVLN khi quyết định hình phạt

1.4.4 Mặt chủ quan của tội CVLN

Người thực hiện hành vi CVLN là do cố ý (cố ý trực tiếp hoặc cố ý gián tiếp), tức là nhận thức rõ hành vi của mình là trái pháp luật, biết rõ hành vi của mình là gây thiệt hại cho người vay, nhưng vì lợi nhuận nên vẫn thực hiện

Động cơ, mục đích của người phạm tội này không phải là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm Tuy nhiên, người phạm tội CVLN bao giờ c ng

vì động cơ tư lợi

1.4.5 Trách nhiệm hình sự đối với tội CVLN được quy định trong Luật Hình sự hiện hành

1.4.5.1 Phạm tội CVLN không có các tình tiết định khung hình phạt

Đây là trường hợp phạm tội quy định tại khoản 1 Điều 163 BLHSnăm

1999, là cấu thành cơ bản của tội CVLN, người phạm tội có thể bị phạt tiền từ một lần đến mười lần số tiền lãi hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến một năm, là tội phạm ít nghiêm trọng

So với tội CVLN quy định tại Điều 171 BLHS năm 1985, thì khoản 1 Điều 163 BLHS năm 1999 nhẹ hơn, và nếu so sánh giữa Điều 163 BLHS năm

1999 với Điều 171 BLHS năm 1985 thì Điều 163 BLHS năm 1999 là điều luật nhẹ hơn Vì vậy, hành vi phạm tội CVLN được thực hiện trước 0 giờ 00 ngày 1-

Trang 31

7-2000 mà sau 0 giờ 00 ngày 1-7-2000 mới bị phát hiện xử lý thì được áp dụng khoản 1 Điều 163 BLHS năm 1999 đối với người phạm tội

Khi quyết định hình phạt đối với người phạm theo khoản 1 Điều 163 BLHS, ngoài việc phải căn cứ vào các quy định về quyết định hình phạt tại Chương VII BLHS ( từ Điều 45 đến Điều 54) Nếu người phạm tội có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điều 46 BLHS, không có tình tiết tăng nặng hoặc tuy có nhưng mức độ tăng nặng không đáng kể, thì có thể được áp dụng hình phạt tiền với mức thấp; Toà

án chỉ áp dụng hình phạt tiền ở mức cao (8,9 hoặc 10 lần số tiền lãi) hoặc áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ trường hợp người phạm tội có nhiều tình tiết tăng nặng quy định tại Điều 48 BLHS, không có tình tiết giảm nhẹ hoặc nếu có nhưng mức độ giảm nhẹ không đáng kể

1.4.5.2.Phạm tội CVLN thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 163

BLHS

Khoản 2, Điều 163 BLHS chỉ quy định một trường hợp phạm tội đó là: Phạm tội thu lợi bất chính lớn Trường hợp phạm tội này c ng tương tự như trường hợp thu lợi bất chính lớn đối với một số tội phạm khác, là số tiền lời mà người phạm tội thu được do cho vay

Trong khi chưa có hướng dẫn của các cơ quan chức năng, căn vào tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm này, đối chiếu với một số tội phạm khác, có thể coi thu lợi bất chính lớn nếu người phạm tội CVLN thu lợi bất chính từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng

Người phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 của điều luật, có thể bị phạt t từ sáu tháng đến ba năm, là tội phạm ít nghiêm trọng So với khoản 2 Điều 171 BLHS năm 1985 thì khoản 2 Điều 163 BLHS năm 1999 nhẹ hơn, và nếu so sánh giữa Điều 163 BLHS năm 1999 với Điều 171 BLHS năm

1985 thì Điều 163 BLHS năm 1999 là điều luật nhẹ hơn Vì vậy, hành vi phạm tội CVLN mà thu lợi bất chính lớn thực hiện trước 0 giờ 00 ngày 1-7-2000 mà sau 0 giờ 00 ngày 1-7-2000 mới bị phát hiện xử lý thì được áp dụng khoản 2 Điều 163 BLHS năm 1999 đối với người phạm tội

Khi quyết định hình phạt đối với người phạm tội đầu cơ theo khoản 2 Điều 163 BLHS, nếu người phạm tội có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điều 46 BLHS, không có tình tiết tăng nặng hoặc tuy có nhưng mức độ tăng nặng không đáng kể, thì Toà án có thể phạt người phạm tội dưới sáu tháng t

Trang 32

hoặc chuyển sang loại hình phạt khác được quy định tại khoản 1 của điều luật Nếu người phạm tội có nhiều tình tiết tăng nặng quy định tại Điều 48 BLHS, không có tình tiết giảm nhẹ hoặc nếu có nhưng mức độ giảm nhẹ không đáng kể thì có thể bị phạt đến ba năm t

1.4.5.3.Hình phạt bổ sung đối với người phạm tội

Ngoài hình phạt chính người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ một lần đến năm lần số lợi bất chính, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm

So với Điều 185 BLHS năm 1985 quy định về hình phạt bổ sung đối với người phạm tội này, thì khoản 3 Điều 163 BLHS năm 1999 nhẹ hơn, cụ thể như sau:

Nếu Điều 185 BLHS năm 1985 quy định: “có thể bị phạt tiền đến mười lần số lợi bất chính” thì khoản 3 Điều 163 BLHS năm 1999 quy định: “có thể

bị phạt tiền từ một lần đến năm lần số lợi bất chính”

Nếu Điều 185 Bộ Luật hình sự năm 1985quy định: “có thể bị cấm đảm nhiệm những chức vụ, làm những nghề hoặc những công việc nhất định từ hai năm đến năm năm”, thì khoản 3 Điều 163 BLHS năm 1999 quy định: “Có thể cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm”

Vì vậy, nếu người phạm tội CVLN xảy ra trước 0 giờ 00 ngày 1-7-2000 mà sau 0 giờ 00 ngày 1-7-2000 mới bị phát hiện xử lý áp dụng khoản 3 Điều 163 BLHS năm 1999 để quy định hình phạt bổ sung đối với người phạm tội

1.5 Phân biệt tội CVLN với tội kinh doanh trái phép

Theo quy định tại Điều 159 BLHS năm 1999 thì tội kinh doanh trái phép là“Người nào kinh doanh không có đăng ký kinh doanh, kinh doanh không đúng với nội dung đã đăng ký hoặc kinh doanh không có giấy phép riêng trong trường hợp pháp luật quy định phải có giấy phép thuộc một trong các trường hợp sau đây:

đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 153, 154, 155, 156, 157, 158, 160, 161, 164, 193,

194, 195, 196, 230, 232, 233, 236 và 238 của Bộ Luật này, chưa được xoá án tích

mà còn vi phạm”

Theo khái niệm của tội kinh doanh trái phép và khái niệm về tội cho vay lãi nặngthì cả hai tội phạm đều là vi phạm pháp luật hình sự trong hoạt động kinh doanh, đều xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của nhà nước

Trang 33

Tuy nhiên, sự khác nhau giữa hai khái niệm về hai tội phạm này là: Đối với tội kinh doanh trái phép thì vi phạm về vấn đề đăng ký kinh doanh, còn đối với tội cho vay lãi nặng thì vấn đề vi phạm là mức lãi suất phải trả của người đi

vay cao hơn mức lãi suất cao nhất mà pháp luật quy định từ mười lần trở lên

2.3.2 Sự khác biệt giữa tội CVLN (Điều 163) với tội kinh doanh trái phép (Điều 159)

Qua phân tích các dấu hiệu pháp lý của tội phạm cho vay lãi nặngĐiều 163

và dấu hiệu pháp lý của tội kinh doanh trái phép Điều 159, hai tội phạm này đều thuộc tội phạm ít nghiêm trọng và thuộc phần các tội xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế Tuy nhiên, hai tội phạm này vẫn có một số điểm khác nhau:

Thứ nhất, khách thể của tội kinh doanh trái phép xâm hại đến trật tự

quản lý của nhà nước về hoạt động kinh doanh thương mại, còn khách thể của tội cho vay lãi nặng xâm phạm đến trật tự quản lý của nhà nước về hoạt động kinh doanh tiền tệ

Thứ hai, Tội kinh doanh trái phép có khung hình phạt cao nhất nhẹ hơn

khung hình phạt cao nhất của tội cho vay lãi nặng; ngoài ra, tội cho vay lãi nặng còn có thể cấm người phạm tội đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định trong một khoảng thời gian

Tóm lại, tội cho vay lãi nặng xâm phạm đến khách thể được luật hình sự

bảo vệ đó là trật tự quản lý của nhà nước về kinh tế, cụ thể đó là xâm phạm đến trật tự quản lý trong hoạt động kinh doanh tiền tệ của nhà nước Tội phạm được hình thành khi mức lãi suất cho vay vượt quá mức giới hạn cho phép đó là mức lãi suất cao hơn mười lần mức lãi suất cao nhất mà pháp luật quy định và người phạm tội thực hiện tội phạm với tính chất chuyên bóc lột Người phạm tội thực hiện tội phạm với lỗi cố ý và phải đạt độ tuổi từ 16 tuổi trở lên mới có thể trở thành chủ thể của tội phạm này Về hình phạt của tội phạm này là tương đối nhẹ vì đây là tội phạm với tính chất ít nghiêm trọng với mức hình phạt cao nhất

là ba năm t , so với tội phạm khác như tội kinh doanh trái phép thì tội cho vay lãi nặng có c ng là hoạt động kinh doanh vi phạm pháp luật xâm phạm đến trật

tự quản lý kinh tế của nhà nước, tuy nhiên tội kinh doanh trái phép là vi phạm trong hoạt động kinh doanh thương mại và vi phạm về vấn đề đăng ký kinh doanh, còn tội cho cho vay lãi nặng thì vi phạm trong hoạt động kinh doanh tiền tệ và vi phạm về mức lãi suất cao hơn nhiều lần so với quy định pháp luật

Ngày đăng: 20/05/2018, 22:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w