Đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu 3.1 Đối tượng nghiên cứu Luận văn nghiên cứu về mối liên hệ của tính thận trọng trong công tác kế toán đến hành vi đầu tư tại các công t
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HCM
-BÙI THỊ VĨNH HẰNG
MỐI LIÊN HỆ GIỮA HÀNH VI ĐẦU TƯ VÀ TÍNH THẬN TRỌNG TRONG CÔNG TÁC KẾ TOÁN DOANH NGHIỆP NGHIÊN CỨU TẠI CÁC CÔNG TY PHI TÀI CHÍNH
ĐƯỢC NIÊM YẾT TẠI VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Tp Hồ Chí Minh – Năm 2017
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HCM
-BÙI THỊ VĨNH HẰNG
MỐI LIÊN HỆ GIỮA HÀNH VI ĐẦU TƯ VÀ TÍNH THẬN TRỌNG TRONG CÔNG TÁC KẾ TOÁN DOANH NGHIỆP NGHIÊN CỨU TẠI CÁC CÔNG TY PHI TÀI CHÍNH
ĐƯỢC NIÊM YẾT TẠI VIỆT NAM
Chuyên ngành: Kế toán
Mã số: 60340301
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học:
PGS TS NGUYỄN XUÂN HƯNG
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài nghiên cứu này do chính tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Xuân Hưng Toàn bộ số liệu và kết quả nghiên cứu trong bài luận văn này là hoàn toàn trung thực và có nguồn gốc trích dẫn rõ ràng Các kết quả của luận văn chưa từng được công bố ở bất kỳ công trình nghiên cứu nào Đồng thời, tất
cả những phần kế thừa nghiên cứu trước đề có trích dẫn và nguồn cụ thể trong danh mục tài liệu tham khảo
TP Hồ Chí Minh, tháng 10 năm 2017 Người thực hiện luận văn
BÙI THỊ VĨNH HẰNG
Trang 4MỤC LỤC
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
PHẦN MỞ ĐẦU……… 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu 3
2.1 Mục tiêu nghiên cứu 3
2.2 Câu hỏi nghiên cứu: 3
3 Đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu 3
3.1 Đối tượng nghiên cứu 3
3.2 Phạm vi nghiên cứu 4
3.3 Phương pháp nghiên cứu 4
4 Đóng góp mới của nghiên cứu 5
5 Kết cấu của bài nghiên cứu 5
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 7
1.1 Tổng quan nghiên cứu nước ngoài 7
1.2 Tổng quan nghiên cứu trong nước 22
1.3 Tổng hợp kết quả nghiên cứu 26
1.4 Nhận xét các nghiên cứu trong và ngoài nước, xác định khe hổng nghiên cứu 28
1.4.1 Nhận xét các nghiên cứu trong và ngoài nước 28
1.4.2 Xác định các khe hổng nghiên cứu 28
TÓM TẮT CHƯƠNG 1 29
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 30
2.1 Tính thận trọng trong kế toán 30
Trang 52.1.2 Tầm quan trọng của tính thận trọng trong kế toán 31
2.1.3 Đo lường tính thận trọng trong kế toán 33
2.2 Tổng quan vê hành vi đầu tư 36
2.2.1 Định nghĩa hành vi đầu tư 36
2.2.2 Lý thuyết về hành vi nhà đầu tư 37
2.2.3 Đo lường hành vi nhà đầu tư 38
2.3 Mối liên hệ giữa thận trọng đến hành vi đầu tư 39
2.4 Lý thuyết cơ bản (Underlying Theories) 40
2.4.1 Lý thuyết về tính thận trọng trong kế toán 40
2.4.2 Lý thuyết bất cân xứng thông tin (Asysmmetry Theory) 43
2.4.3 Lý thuyết ủy nhiệm (Agency theory) 44
2.4.4 Lý thuyết tín hiệu (Signalling Theory) 46
2.5 Một số nhận xét khác 47
TÓM TẮT CHƯƠNG 2 48
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 49
3.1 Phương pháp kiểm định 50
3.2 Mô hình nghiên cứu và giả thiết nghiên cứu 52
3.2.1.1 Mô hình kiểm tra ảnh hưởng của tính thận trọng đối với đầu tư 52
3.2.1.2 Mô hình kiểm tra ảnh hưởng của quyền kiểm soát công ty trên mối liên hệ giữa đầu tư và tính thận trọng 53
3.2.2 Giả thuyết nghiên cứu 55
3.3 Mô tả biến 58
3.3.1 Biến phụ thuộc 58
3.3.2 Biến độc lập 59
3.4 Dữ liệu nghiên cứu 68
TÓM TẮT CHƯƠNG 3 72
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 74
4.1 Thống kê mô tả 74
Trang 64.1.1 Phân tích thống kê mô tả 74
4.1.2 Ma trận hệ số tương quan 75
4.2 Kết quả phân tích hồi quy và kiểm định 76
4.2.1 Mô hình kiểm tra mối liên hệ của tính thận trọng đối với đầu tư 77
4.2.2 Mô hình kiểm tra ảnh hưởng của quyền kiểm soát công ty trên mối liên hệ giữa đầu tư và tính thận trọng 80
4.3 Thảo luận kết quả nghiên cứu 84
TÓM TẮT CHƯƠNG 4 86
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 87
5.1 Kết luận 87
5.2 Kiến nghị 88
5.3 Hạn chế của đề tài 90
5.4 Hướng nghiên cứu tiếp theo 90
TÓM TẮT CHƯƠNG 5 91 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT
HNX Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội
FEM Fixed Effect Model (Mô hình ước lượng
tác động cố định)
OLS Ordinary least squares (Mô hình bình
phương nhỏ nhất)
REM Random Effect Model (Mô hình ước
lượng tác động ngẫu nhiên)
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Tổng hợp các nghiên cứu nước ngoài 16
Bảng 1.2 Tổng hợp các nghiên cứu trong nước 25
Bảng 1.3 Tổng hợp kết quả nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng
đến mối liên hệ của tính thận trọng lên hiệu quả đầu tư 26 Bảng 3.1 Bảng tổng hợp các biến nghiên cứu sử dụng 69
Bảng 3.2 Kì vọng dấu của các biến nghiên cứu 71
Bảng 4.2 Ma trận hệ số tương quan của các biến nghiên cứu 76
Bảng 4.3 Kết quả hồi quy mô hình (1) theo phương pháp OLS 77
Bảng 4.4 Thống kê mô tả các biến chính trong hai trường hợp 81
Bảng 4.5 Kết quả hồi quy đối với mô hình (2) và mô hình (3) 82
Trang 9PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong khái niệm số 2 của FASB, tính thận trọng được định nghĩa như “một phản ứng thận trọng với sự không chắc chắn để cố gắng đảm bảo những bất trắc và các rủi
ro vốn có trong các tình huống kinh doanh được xem xét đầy đủ” Trong khi đó theo
Ủy ban chuẩn mực kế toán quốc tế [Framework (1989).36-37] lại cho rằng “thận trọng dự đoán những yếu tố không chắc chắn và thêm một mức độ chắc chắn nào đó
để không làm tăng tài sản hoặc làm giảm thu nhập nhằm mục đích giảm các khoản
nợ và giảm chi phí”, “tính thận trọng được xem như là nguyên tắc quan trọng trong việc thực hiện và trình bày báo cáo tài chính cùng với các phương pháp kế toán và chính sách kế toán” Tính thận trọng còn được hiểu như là một trong những nguyên tắc cơ bản nhất của ước tính kế toán, có những ảnh hưởng quan trọng và sâu sắc đến các lý thuyết kế toán cũng như các thông lệ kế toán
Watts (2003) cho rằng tính thận trọng trong kế toán được bắt nguồn từ lý thuyết hợp đồng và nhu cầu của hợp đồng, ngoài ra nó còn bị ảnh hưởng bởi các yếu tố thể chế và động cơ của nhà quản lý Hơn thế nữa theo những nghiên cứu trước đây, tính thận trọng trong kế toán tồn tại ở hai khía cạnh chính: thứ nhất tính thận trọng không những cải thiện được hiệu quả độ tin cậy của thu nhập mà còn giảm thiểu được những chi phí tài chính bên ngoài như trong nghiên cứu của Ball (2001), Ahmed và các cộng
sự (2002), Watts (2003); thứ hai tính thận trọng trong kế toán được cải thiện có thể dẫn đến việc giảm bớt mâu thuẫn giữa nhà quản lý và cổ đông, và giảm được chi phí
ủy nhiệm Ball et al., (2000) nghiên cứu về “Ảnh hưởng của các yếu tố tổ chức quốc
tế đối với tài sản thu nhập kế toán”, ông cho rằng thận trọng không những là nguyên tắc quan trọng cần phải tuân thủ và áp dụng trong báo cáo tài chính mà còn là cơ chế hiệu quả để quản trị doanh nghiệp
Điển hình trong nghiên cứu của Xiaodong Xu, Xia Wang, Nina Han (2012) về
“Tính thận trọng trong kế toán, Quyền kiểm soát công ty và Hiệu quả đầu tư” tại thị
trường vốn Trung Quốc, nhóm tác giả tin rằng chức năng của tính thận trọng trong
Trang 10kế toán, tín hiệu thị trường, và quản trị nội bộ, có tác động khác nhau, theo những môi trường và điều kiện khác nhau thì có những quyết định đầu tư khác nhau Khi nhu cầu vốn nội bộ không đủ cho việc đầu tư hiện tại và doanh nghiệp đang cần sự hỗ trợ tài chính từ bên ngoài, thì vai trò của tính thận trọng trong kế toán được xem như là tín hiệu thị trường chiếm ưu thế Tuy nhiên, tính thận trọng trong kế toán chủ yếu đóng vai trò quản trị nội bộ khi dòng tiền tự do trở thành nguồn tài trợ nội bộ đủ
để đầu tư, điều này bắt nguồn từ nhu cầu về vốn ở bên ngoài Thông qua việc quản trị nội bộ, tính thận trọng ngăn chặn việc đầu tư quá nhiều và giảm được chi phí ủy nhiệm, cuối cùng nếu chi phí sử dụng nguồn tài trợ bên ngoài cao hơn chi phí sử dụng vốn của nguồn tài trợ nội bộ, lúc này công ty sẽ cắt giảm đầu tư để tránh việc sử dụng chi phí vốn cao Chính vì vậy việc hạn chế tài chính sẽ dẫn đến việc thu hẹp mức độ đầu tư
Hiện nay, trong bất cứ các quyết định đầu tư nào cũng cần xem xét đến yếu tố tính thận trọng, nhà quản lý luôn xem xét đến lợi nhuận hay những rủi ro có thể xảy
ra Hơn thế nữa tính thận trọng còn giúp giảm thiểu được việc đầu tư dưới mức và quá mức, mặt khác tính thận trọng còn giúp nhà quản lý loại trừ sự bất cân xứng thông tin, giảm thiểu xung đột lợi ích giữa các bên, đồng thời giảm thiểu chi phí ủy nhiệm
và các chi phí vốn khác Việc đánh giá tính thận trọng đến những hành vi đầu tư chắc chắn tại các công ty phi tài chính được thực hiện như thế nào, liệu nó có bị ảnh hưởng bởi mức độ bất cân xứng về thông tin và các vấn đề ủy nhiệm hay không Tính thận trọng có mối liên hệ như thế nào đến đầu tư tại những công ty này hay không Chính
vì tầm quan trọng của mối quan hệ này, ở Việt Nam lại có khá ít những nghiên cứu
về vai trò của tính thận trọng trong kế toán đến hành vi đầu tư hay mối liên hệ giữa chúng có được nghiên cứu một cách toàn diện hay không Dựa trên những khe hổng
nghiên cứu đó và nhu cầu thực nghiệm, tác giả đã thực hiện đề tài “Mối liên hệ giữa
hành vi đầu tư và tính thận trọng trong công tác kế toán doanh nghiệp Nghiên cứu tại các công ty phi tài chính được niêm yết tại Việt Nam” làm đề tài Luận văn
Thạc sĩ của mình
Trang 112 Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu
2.1 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát
Nghiên cứu mối liên hệ giữa hành vi đầu tư và tính thận trọng trong công tác kế toán doanh nghiệp ở các công ty phi tài chính trên Sở giao dịch chứng khoán TP.HCM
và Hà Nội
Mục tiêu cụ thể
- Xác định mối liên hệ của tính thận trọng trong kế toán đến hành vi đầu tư trong công tác kế toán tại các công ty phi tài chính được niêm yết tại Sở giao dịch chứng
khoán tại TP.HCM và Hà Nội
-Sự tác động của mức độ bất cân xứng thông tin và vấn đề ủy nhiệm khi quyền
kiểm soát không thuộc về sở hữu vốn của các công ty cổ phần, có vốn sở hữu không
hoàn toàn thuộc về nhà nước đến tính thận trọng trong kế toán
2.2 Câu hỏi nghiên cứu:
Câu hỏi nghiên cứu sẽ được xác định tương ứng với từng mục tiêu cụ thể được trình bày như sau:
Câu hỏi nghiên cứu 1: Có tồn tại mối liên hệ giữa tính thận trọng trong kế toán và hành vi đầu tư chắc chắn tại các công ty phi tài chính được niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán TP.HCM & Hà Nội hay không?
Câu hỏi nghiên cứu 2: Có tồn tại sự tác động của mức độ bất cân xứng thông tin
và vấn đề ủy nhiệm khi quyền kiểm soát thuộc về sở hữu vốn của các công ty cổ phần,
có vốn sở hữu không hoàn toàn thuộc về nhà nước đến tính thận trọng trong kế toán
như thế nào?
3 Đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu về mối liên hệ của tính thận trọng trong công tác kế toán đến hành vi đầu tư tại các công ty phi tài chính được niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán Hồ Chí Minh và Hà Nội
Trang 12kế toán đến hành vi đầu tư trong doanh nghiệp nên mẫu nghiên cứu áp dụng đối với các công ty phi tài chính, không phù hợp khi chọn mẫu là các công ty tài chính Tác giả dựa trên dữ liệu bảng của 70 công ty tương ứng với 350 mẫu quan sát
3.3 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong bài nghiên cứu này là phương pháp nghiên cứu định lượng
Nghiên cứu của tác giả dựa trên bài nghiên cứu “Accounting conservatism, ultimate ownership and investment efficiency” của Xiaodong Xu, Xia Wang, Nina Han (2012)
Để giải quyết câu hỏi nghiên cứu thứ nhất và câu hỏi nghiên cứu thứ hai, tác giả
đã sử dụng các kỹ thuật phân tích thống kê với sự hỗ trợ của phần mềm STATA 12
Để lựa chọn mô hình phù hợp cho các kết quả kiểm định, tác giả thực hiện các phân tích ước lượng và kiểm định các mô hình, từ đó lựa chọn mô hình hợp lý nhất trong
ba mô hình hồi quy bình phương nhỏ nhất (OLS), mô hình hồi quy Ước lượng tác động cố định (Fixed – Effects Model), mô hình Ước lượng tác động ngẫu nhiên (Random Effect Model) Nhằm mục đích kiểm tra xem liệu rằng mối liên hệ giữa hành vi đầu tư và tính thận trọng trong kế toán có ảnh hưởng như thế nào đến các công ty phi tài chính được niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán TP.HCM và Hà Nội Ngoài ra còn có mối liên hệ nào khác tồn tại không, hay tính thận trọng trong kế toán có bị tác động bởi mức độ bất cân xứng thông tin và vấn đề ủy nhiệm khi quyền
Trang 13kiểm soát không thuộc về sở hữu vốn của các công ty cổ phần, có vốn sở hữu không
hoàn toàn thuộc về nhà nước
4 Đóng góp mới của nghiên cứu
Bài nghiên cứu của tác giả nghiên cứu về mối liên hệ của tính thận trọng trong
kế toán đến hành vi đầu tư tại các công ty phi tài chính được niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán TP.HCM và Hà Nội Bài nghiên cứu của tác giả có một số đóng góp cơ bản như sau:
-Còn khá ít các nghiên cứu về mối liên hệ của tính thận trọng trong kế toán đến hiệu quả đầu tư tại các công ty phi tài chính được niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán TP.HCM và Hà Nội Hơn thế mỗi quốc gia có nền kinh tế và chính trị khác nhau nên việc nghiên cứu vấn đề này ở Việt Nam là cần thiết
-Đóng góp về mặt thực tiễn trong nghiên cứu của tác giả chính là việc giúp nhà đầu tư và nhà quản trị trong công ty có cái nhìn tổng quan về hành vi đầu tư Cần có những hành động phù hợp với những tác động của các yếu tố bên ngoài, từ đó dẫn đến những quyết định phù hợp, tránh việc đầu tư quá nhiều có thể dẫn đến thiệt hại cho doanh nghiệp, hay giảm thiểu những rủi ro không đáng có trong các quyết định đầu tư thông qua tính thận trọng trong kế toán
-Tác giả xem xét mối liên hệ giữa hành vi đầu tư đến tính thận trọng trong công tác kế toán tại các công ty phi tài chính được niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán TP.HCM và Hà Nội trong giai đoạn từ 2011-2015 Khi nguồn vốn nội bộ không đáp ứng được nhu cầu của đầu tư thì tính thận trọng sẽ có chức năng thúc đẩy đầu tư bằng việc loại bỏ sự bất cân xứng thông tin từ bên ngoài, thúc đẩy việc huy động vốn từ bên ngoài và ngược lại
5 Kết cấu của bài nghiên cứu
Phần mở đầu: Tác giả trình bày lý do chọn đề tài nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu,
câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi, ngoài ra còn cung cấp cái nhìn tổng quan
về các phương pháp được sử dụng trong bài nghiên cứu
Trang 14Ngoài phần mở đầu và phần phụ lục, phần kết luận, bài nghiên cứu của tác giả gồm
5 chương:
Chương 1 – Tổng quan các kết quả nghiên cứu trước đây: Chương này tác giả trình
bày tổng quan các nghiên cứu trong nước và ngoài nước nổi bật liên quan đến tác động của tính thận trọng trong kế toán đến các quyết định đầu tư, làm nền tảng cho việc nghiên cứu tác động của tính thận trọng trong kế toán đến các công ty phi tài chính được niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán TP.HCM và Hà Nội
Chương 2 – Cơ sở lý thuyết: Chương này trình bày các khái niệm cũng như các lý
thuyết có liên quan đến tính thận trọng và đầu tư, những vấn đề liên quan đến chi phí
ủy nhiệm và sự bất cân xứng về thông tin, tác động qua lại giữa chúng Thêm vào đó chương này cũng phân tích và phát triển các biến có liên quan đến mô hình của bài nghiên cứu
Chương 3 – Phương pháp nghiên cứu – Tác giả trình bày chi tiết cách xác định dữ
liệu, mẫu, cách thiết kế các biến và giả thiết kèm theo các phương pháp tác giả thực hiện trong bài nghiên cứu này
Chương 4 – Kết quả nghiên cứu và bàn luận – Chương này tác giả sẽ phân tích và
trình bày các kết quả có được từ mô hình hồi quy, các kiểm định liên quan nhằm đánh giá sự phù hợp giữa các phương pháp tác giả đưa ra Thêm vào đó, tác giả sẽ trình bày và thảo luận các kết quả thu được từ nghiên cứu
Chương 5 – Kết luận và kiến nghị – Tác giả sẽ trình bày tóm tắt các kết quả nghiên
cứu từ chương trước, đưa ra những kiến nghị, hạn chế của nghiên cứu và hướng mở rộng cho các nghiên cứu tiếp theo
Trang 15CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 1.1.Tổng quan nghiên cứu nước ngoài
Trong phần tổng quan nghiên cứu ở nước ngoài, tác giả phân loại các nghiên cứu theo nhóm như nhóm các nghiên cứu liên quan đến các khái niệm và vai trò của tính thận trọng, nhóm nghiên cứu liên quan đến các biến trong mối quan hệ của tính thận trọng
và đầu tư, nhóm nghiên cứu liên quan đến mối quan hệ của tính thận trọng trong kế toán đến hành vi đầu tư, từ đó đưa ra một số nhận xét và hướng nghiên cứu tiếp theo
của đề tài
*Nhóm nghiên cứu liên quan đến các khái niệm và vai trò về tính thận trọng:
[1] Nghiên cứu của Watts, R.L 2003 Conservatism in accounting part:
explanations and implications Accounting Horizons, Vol 17 No 3, pp 207-21
Nghiên cứu của Watts, R.L (2003) về “Tính thận trọng trong kế toán, Phần I: Sự giải thích và ý nghĩa hàm ý” tác giả trình bày các khái niệm về tính thận trọng, những quy định và thiết lập các tiêu chuẩn có liên quan Đồng thời tác giả phát triển hợp đồng chung để giải thích cho tính thận trọng gồm những giải pháp hạn chế sự ràng buộc về cổ tức trong hợp đồng nợ (Watts 1993), dự đoán rằng cũng có một số hợp đồng khác được thực hiện trong công ty như hợp đồng bồi thường về quản lý cũng sẽ đưa đến tính thận trọng trong mức độ hợp đồng Bài nghiên cứu của Watts cũng đưa ra nhận định mới rằng nếu không có những cân nhắc về hợp đồng thì quan điểm thông tin sẽ tạo ra tính thận trọng khi chi phí thông tin thay đổi và hành vi quản lý được đưa ra Nếu như phần I trong nghiên cứu của Watts (2003) trình bày các khái niệm về tính thận trọng, những quy định và thiết lập các tiêu chuẩn có liên quan thì phần II trong nghiên cứu này lại tóm tắt những bằng chứng về tính thận trọng, đánh giá khả năng của bằng chứng để phân biệt tính thận trọng và sự không thận trọng, sự gia tăng của tính thận trọng theo thời gian Watts cũng cảnh báo các nhà nghiên cứu nên lưu ý rằng ảnh hưởng của kế toán đối với hành vi quản lý đóng vai trò trung tâm trong sự tiến triển của kế toán đối với hành vi quản lý đóng vai trò quan trọng trong sự phát
Trang 16triển của báo cáo tài chính Việc đánh giá sự phù hợp của phương pháp kế toán với quyết định của người sử dụng báo cáo tài chính đòi hỏi phải đánh giá khả năng của các nhà quản lý trong việc có sử dụng các phương pháp kế toán để thao túng số liệu
và gian lận Cần có những biện pháp cụ thể để kiểm chứng lại sự bất cân xứng về thông tin nhằm hạn chế gian lận
Mặt khác Watts (2003) lại nhấn mạnh tính thận trọng trong kế toán bắt nguồn từ nhu cầu hợp đồng và chịu ảnh hưởng từ các quy định của pháp luật Vấn đề về mức lợi nhuận phân phối giữa cổ đông, nhà quản lý, và chủ nợ bên trong một công ty được xem như là hợp đồng quan trọng nhất của tính thận trọng trong kế toán
*Nhóm nghiên cứu liên quan đến các biến trong mối quan hệ của tính thận trọng và đầu tư:
[1] Nghiên cứu của Basu S 1997 The conservatism principle and the
asymmetric timeliness of earnings Journal of Accounting and Economics, Vol
24 No 1, pp 3-38
Bằng việc sử dụng mô hình hồi quy ngược và hệ số độ dốc R giống như nghiên cứu của Beaver và cộng sự (1980), Basu (1997) đã kiểm tra các giả thiết của mình nhằm làm rõ vai trò của tính thận trọng và sự bất cân xứng thông tin theo thời gian, thông qua tất cả các quan sát năm của công ty phi tài chính từ năm 1963 đến 1990 với dữ liệu từ CRSP NYSE/AMEX và các dữ liệu kế toán cần thiết Bài nghiên cứu đưa ra bằng chứng chứng minh những ảnh hưởng của tính thận trọng đối với báo cáo tài chính, tính thận trọng làm cho thu nhập phản ánh những tin xấu nhanh hơn tin tốt, chính vì báo cáo tài chính cần những bằng chứng chặt chẽ hơn cho việc ghi nhận “tin tốt” hơn là việc ghi nhận “tin xấu”, hơn thế Basu (1997) còn tin rằng ảnh hưởng của tính thận trọng trong thực tiễn kế toán đã được duy trì ít nhất trong 500 năm Kết quả nghiên cứu chứng minh được những mục tiêu nghiên cứu đã đề ra, ngoài ra nó còn làm rõ được tính thận trọng được thực hiện bằng cách thông qua các khoản mục dự phòng, từ đó có những khác biệt có thể dự đoán được về tài sản của dòng tiền và thu
Trang 17với các tin xấu thông qua tính thận trọng đã tăng lên theo thời gian, sự gia tăng này đồng nghĩa với việc trách nhiệm pháp lý của kiểm toán viên cũng cần tăng theo thời gian Thêm vào đó trong nghiên cứu của Basu (1997) cũng trình bày biến CFO (dòng tiền thuần từ hoạt động kinh doanh) sử dụng trong mô hình hồi quy ngược và tương quan dương
[2] Nghiên cứu của Givoly, D and Hayn, C 2000 The changing time-series properties of earnings, cash flows and Accruals: has financial accounting
become more conservative? Journal of Accounting and Economics, Vol.29 No.,
3, pp.287-320
Bài nghiên cứu phát triển và cung cấp bằng chứng về sự thay đổi trong các thuộc tính của thu nhập, tiền mặt, các khoản tạm ứng, cho thấy mối quan hệ giữa thu nhập kế toán và hiệu quả kinh tế của các doanh nghiệp không ổn định theo thời gian, thêm vào đó kết quả của một số bài nghiên cứu cho thấy tính thận trọng đang ngày càng cần thiết và gia tăng trong báo cáo tài chính Nghiên cứu này sử dụng mẫu rất lớn gồm các công ty phi tài chính từ giai đoạn 1950 đến 1998, tính thận trọng trong thu nhập dựa trên các khoản mục được trích trước được Givoly và cộng sự (2000) tính dựa trên lợi nhuận hoạt động của năm hiện tại, khấu hao tài sản cố định của năm hiện tại, dòng tiền thuần từ hoạt động kinh doanh của năm hiện tại trên giá trị sổ sách của tổng tài sản
[3] Nghiên cứu của Liu và cộng sự 2003 The principle of ultimate ownership,
ownership structure and corporate performance Economic Research Journal,
No 4, pp.51-62 (in Chinese)
Kết quả của bài nghiên cứu này cho rằng hầu hết quyền sở hữu của các công ty niêm yết tại Trung Quốc chủ yếu do các cổ đông lớn năm giữ, hơn thế nữa việc phân bổ cơ cấu và tính chất quyền sở hữu thường được nắm giữ bởi các cổ đông lớn và phản ánh các vấn đề thông tin, vấn đề ủy nhiệm ở các mức độ khác nhau Bài nghiên cứu cũng chi ra rõ biến mức độ tập trung quyền sở hữu và biến hạn chế quyền sở hữu, hai biến này được xem như là biến thay thế cho thông tin và các vấn đề ủy nhiệm mà doanh
Trang 18nghiệp đang đối mặt Mặt khác, nghiên cứu của La Forta và cộng sự (2002) cho rằng việc tăng mức độ tập trung vốn chủ sẽ giúp giảm thiểu được vấn đề phân chia quyền
sở hữu và kiểm soát
[4] Nghiên cứu của Bushman, R.M., và cộng sự 2008 Investment-cash flow sensitives are really capital investment-working capital investment sensitivities,
working paper Kenan-Flagler Business School, University of North Carolina at
Chapel Hill, University of Chicago and Yale School of Management, available at:
http://papers.ssrn.com/sol3/papers.cfm?abstract id=842085
Nhóm tác giả phát triển một lý luận tập trung vào cấu trúc cơ bản của biến dòng tiền, làm rõ được sự nhạy cảm của dòng vốn đầu tư dùng tiền mặt Nghiên cứu thực nghiệm chính của nhóm tác giả này sử dụng mô hình hồi quy theo cách tiếp cận Hiệu ứng cố định của Fama-MacBeth (2001), tiếp theo đó nhóm tác giả có điều chỉnh lại để phù hợp với mô hình của mình Theo đó, chu kỳ lấy mẫu từ 1971 đến 2003, dữ liệu lấy mẫu trong 5 năm liên tiếp Kết quả nghiên cứu cho thấy biến dòng tiền được sử dụng trong việc ước tính độ nhạy cảm của dòng vốn đầu tư có ý nghĩa tích cực và tương quan dương, biến CFO trong mô hình này tương quan âm, cung cấp bằng chứng về mối quan hệ cơ bản giữa chi phí vốn và những thay đổi của vốn lưu động
[5] Nghiên cứu của García Lara và cộng sự 2010 Accounting conservatism and
firm investment efficiency Review of Accounting Studies (in press)
García Lara và cộng sự (2010) áp dụng mô hình nghiên cứu gốc của Biddle et al, (2009) và có điều chỉnh cho mô hình nghiên cứu của mình về mối quan hệ giữa tính thận trọng tác động lên hiệu quả đầu tư Bài nghiên cứu sử dụng mẫu dữ liệu trong
48 nhóm ngành công nghiệp tại Mỹ, sử dụng tối thiểu là 20 quan sát cho mỗi ngành công nghiệp trong giai đoạn từ 1990- mẫu quan sát công ty theo năm với dữ liệu sẵn
có để chạy thử nghiệm mô hình Kết quả nghiên cứu cho thấy có tồn tại độ nhạy cảm dương của tính thận trọng đến quyết định đầu tư; hơn thế nữa tính thận trọng có thể làm giảm được sự bất cân xứng về thông tin, từ đó gia tăng các quyết định đầu tư
Trang 19quyết định cho những dự án đầu tư kém hiệu quả, từ đó tạo điều kiện tiếp cận với nguồn tài chính từ bên ngoài với chi phí thấp hơn Ngoài ra, các biến kiểm soát trong
mô hình nghiên cứu bao gồm CFO, Đòn bẩy mang tương quan dương, bên cạnh đó biến Quy mô lại mang tương quan âm
[6] Nghiên cứu của Xiaodong Xu, Xia Wang, Nina Han 2012 Accounting
conservatism, ultimate ownership and investment efficiency, China Finance
Review International, Vol.2 No.1, 2012, pp.53-77
Xiaodong Xu và các cộng sự (2012) nghiên cứu về “Tính thận trọng trong kế toán,
Quyền kiểm soát công ty và Hiệu quả đầu tư” Mục đích của bài nghiên cứu này là phân tích và kiểm tra vai trò của tính thận trọng trong kế toán của hành vi đầu tư tại Trung Quốc Đồng thời bài nghiên cứu cũng cho thấy mối liên hệ giữa thận trọng trong kế toán và chi phí vốn có tích cực đáng kể khi vốn nội bộ không đủ để sử dụng cho đầu tư, tính thận trọng có thể làm tăng mức độ đầu tư bằng cách giảm thiểu sự bất cân xứng về thông tin và chi phí vốn; tuy nhiên, mối liên hệ giữa tính thận trọng trong kế toán và chi phí vốn thì tiêu cực đáng kể khi vốn nội bộ đủ để dùng cho việc đầu tư, thận trọng có thể rút ngắn mức độ đầu tư bằng cách làm giảm thiểu xung đột lợi ích giữa người quản lý và cổ đông bên ngoài với việc giảm thiểu chi phí ủy nhiệm Thêm vào đó, bài nghiên cứu cho thấy mức độ nghiêm trọng của vấn đề bất cân xứng
về thông tin và vấn đề ủy nhiệm ảnh hưởng đến vai trò thận trọng trong kế toán trên hành vi đầu tư của công ty, mối liên hệ giữa tính thận trong trong kế toán và chi phí vốn như thế nào so với các doanh nghiệp nhà nước hoặc cá nhân
Bài nghiên cứu của nhóm tác giả được thực hiện tại Trung Quốc trong các giai đoạn
từ 2003-2007 của cổ phiếu A thuộc tất cả các công ty niêm yết tại Thượng Hải và Thẩm Quyến Ngoài biến độc lập là INV, nhóm tác giả cũng sử dụng một số biến kiểm tra và biến kiểm soát, cụ thể như biến đo lường mức độ thận trọng, biến mức độ tập trung hay hạn chế vốn cổ phần…Bên cạnh đó nhóm tác giả cũng sử dụng một số biến giả để lượng hóa những biến định tính, như biến tài chính, biến địa phương, biến
tư nhân…Nhóm biến kiểm soát được đưa vào nhằm loại bỏ một số ảnh hưởng từ các
Trang 20yếu tố có liên quan khác trên mối quan hệ giữa tính thận trọng và đầu tư như CFO, tính thanh khoản, giá trị ròng… Nhóm tác giả tin rằng tính thận trọng trong kế toán, tín hiệu thị trường và yếu tố quản trị nội bộ có các tác động khác nhau, theo môi trường và điều kiện khác nhau, tạo nên những quyết định đầu tư Khi nhu cầu vốn nội
bộ không đủ cho việc đầu tư hiện tại và doanh nghiệp đang cần sự hỗ trợ tài chính từ bên ngoài, thì vai trò của tính thận trọng trong kế toán được xem như là tín hiệu thị trường chiếm ưu thế Tuy nhiên, tính thận trọng trong kế toán chủ yếu đóng vai trò quản trị nội bộ khi vốn nội bộ đủ để đầu tư, bắt nguồn từ nhu cầu về vốn ở bên ngoài Thông qua việc quản trị nội bộ, tính thận trọng ngăn chặn việc đầu tư quá nhiều và giảm được chi phí ủy nhiệm, cuối cùng thu hẹp vốn đầu tư
Nghiên cứu của nhóm tác giả đã cải tiến đáng kể và phát triển lĩnh vực nghiên cứu về chất lượng trình bày thông tin kế toán và hành vi đầu tư, thông qua những phân tích của môi trường và dưới điều kiện mà đầu tư bị ảnh hưởng bởi sự mất cân xứng về thông tin và ủy nhiệm, tác giả đã thành công trong việc xây dựng nên khung nghiên cứu hợp lý với ngăn chặn được các hiệu ứng của tính thận trọng trong kế toán trên đầu tư, có dữ liệu từ bằng chứng thực nghiệm Tác giả đã tìm thấy tính thận trọng trong kế toán có ý nghĩa lý thuyết và thực tiễn để nâng cao việc trình bày chất lượng thông tin của kế toán, nâng cao hiệu quả ra quyết định đầu tư công ty, bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư, phát triển và hoàn thiên các chức năng của thị trường vốn và tối
ưu hóa việc phân bổ tài nguyên
*Nhóm nghiên cứu liên quan đến mối quan hệ của tính thận trọng trong kế toán đến hành vi đầu tư
[1] Nghiên cứu của Stulz, R.M, 1990 Managerial discretion and optimal
financing policies Journal of Financial Economics, Vol 26 No 1, pp 3-27
Trong kết luận của Stulz, R.M (1990) tác giả cho rằng chi phí ủy nhiệm tồn tại khi việc quản trị được đánh giá cao hơn các cổ đông làm và có nhiều thông tin mà các cổ đông không có Chi phí đầu tư quá mức phát sinh do quản lý đầu tư quá nhiều trong
Trang 21nghiên cứu này cho thấy dòng tiền mặt theo từng giai đoạn biến động rất nhiều, các cổ đông thì luôn muốn tối đa hóa lợi ích của mình trong khi nhà quản lý hành xử không hoàn toàn vì lợi ích của cổ đông Kết quả nghiên cứu cho thấy chính sách tài chính có thể làm giảm chi phí ủy nhiệm thông qua những quyết định của nhà quản lý
Sự thận trọng về quản lý tồn tại ở hai chi phí: một là đầu tư quá mức do đầu tư quá nhiều, hai là đầu tư dưới mức do thiếu sự tín nhiệm của ban quản lý khi nguồn vốn nội bộ không đủ để tài trợ và phải cần nguồn tài trợ từ bên ngoài Hơn nữa, tồn tại vấn đề nợ đòi hỏi các nhà quản lý cần có biện pháp để giải quyết nhằm khôi phục lại vốn nội bộ Bên cạnh đó, bài nghiên cứu cho thấy việc phân phối dòng tiền mặt đang
có vấn đề theo từng giai đoạn, đưa ra các lý do làm giảm sự biến động của dòng tiền
Do sự biến động của dòng tiền trong một khoảng thời gian nhất định, nên ít có khả năng nguồn lực sẵn có cho quản lý sẽ khác biệt đáng kể so với những nguồn lực mà các cổ đông đang mong đợi
[2] Nghiên cứu của Zheng, J., He, X và Wang, H 2001 Financial constraints in the listed companies investment: explanation from the views of structure of
equity Journal of Financial Research, No 11, pp 92-9 (in Chinese)
Zheng và cộng sự (2001) cho rằng sự bất cân xứng về thông tin giữa công ty và nhà cung cấp tiền mặt xác định mức độ hạn chế về tài chính của các doanh nghiệp Sự can thiệp của Chính phủ trong việc phân bổ đầu tư tài chính đã dẫn đến các loại hình doanh nghiệp khác nhau phải đối mặt với nhiều điều kiện khác nhau trên thị trường tài chính Kết luận ước tính rằng những công ty có nhiều cổ phần thuộc quyền sở hữu nhà nước, có nhiều khó khăn về tài chính hơn đầu tư Điều này cũng cho thấy những hạn chế tài chính và sự thiếu hụt nghiêm trọng về vấn đề bất cân xứng thông tin trong đầu tư
Ngoài ra việc đầu tư quá mức hay đầu tư không đầy đủ cũng là một trong những lý
do về vấn đề đầu tư không hiệu quả, gây thiệt hại cho nhà đầu tư và còn làm lãng phí nguồn lực xã hội Tính thận trọng lúc này được xem như công cụ hữu hiệu trong việc quản lý và hạn chế những rủi ro có thể xảy ra đối với công ty
Trang 22[3] Nghiên cứu của Ahmed, S., Billings, B.K., Morton, R.M and Harriss 2002 The role of accounting conservatism in mitigating bondholder-
Stanford-shareholder conflicts over dividend policy and in reducing debt costs The
Accounting Review, Vol 77 No 4, pp 867-90
Trong nghiên cứu về “Vai trò của tính thận trọng trong kế toán trong việc giảm nhẹ
sự xung đột giữa người nắm giữ trái phiếu-cổ đông đối với chính sách chia cổ tức và giảm chi phí nợ”, Ahmed và nhóm tác giả (2002) sử dụng giá thị trường và giá thực
tế để đo lường tính thận trọng, nhóm tác giả cho rằng công ty sẽ có sự xung đột mạnh trên chính sách cổ tức trong việc sử dụng tính thận trọng trong kế toán Hơn nữa tính thận trọng trong kế toán có liên kết với chi phí khoản nợ thấp sau khi kiểm soát cho những khoản nợ được quyết định từ công ty khác Những bằng chứng của nhóm tác giả đóng vai trò quan trọng trong việc giảm nhẹ sự xung đột giữa người nắm giữ trái phiếu với cổ đông với chính sách chia cổ tức và giảm chi phí nợ Nhóm tác giả cũng tìm thấy mối tương quan đáng kể với hai trên ba phần ủy nhiệm cho sự xung đột của người nắm giữ trái phiếu – cổ đông đến chính sách cổ tức: sai lệch tiêu chuẩn của ROA và tỷ số cổ tức trên tài sản Điều này cho thấy dựa vào tính thận trọng, nhà quản
lý có thể cân nhắc những quyết định đầu tư phù hợp cho tình hình tài chính công ty
[4] Nghiên cứu Xin, Q Zheng, G.and Yang, D 2007 Corporate group,
government control and investment efficiency (Journal of Financial Research,
No 10, pp 123-42 (in Chinese)
Bài nghiên cứu về “Nhóm doanh nghiệp, sự kiểm soát của nhà nước và hiệu quả đầu tư” của Xin, Q Zheng, G và Yang, D (2007) khảo sát ảnh hưởng của nhóm kinh doanh và sự kiểm soát của chính phủ về hiệu quả đầu tư Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng việc so sánh với các công ty độc lập, hiệu quả mô hình đầu tư của các công ty thành viên nhóm bị giảm, giá trị thị trường bị thấp hơn Ngoài ra việc các công ty cổ phần có vốn đầu tư từ nhà nước kiểm soát các công ty niêm yết, việc tăng cường hiệu quả đầu tư được giới hạn thông qua việc liên kết các nhóm, gây những ảnh hưởng lớn đến giá trị đầu tư Kết luận này cho thấy kinh doanh theo nhóm ở Trung Quốc có hiệu
Trang 23quả làm tăng cường và làm suy giảm hiệu quả phân phối Đặc biệt, ảnh hưởng của những công ty này là một yếu tố quan trong quyết định lợi ích và chi phí liên kết nhóm
[5] Nghiên cứu của Hui, K.W., Matsunaga, S và Morse, D 2009 The impact of
conservatism on management earnings forecasts Journal of Accounting and
Economics, Vol 47 No 3, pp 192-207
Hui và những cộng sự của mình (2009) đã nghiên cứu về “Tác động của tính thận trong lên dự báo quản lý về thu nhập” Nhóm tác giả này nghiên cứu mối quan hệ thực nghiệm giữa tính thận trọng của kế toán trong công ty và việc ban hành dự báo
về thu nhập định lượng, nhóm tác giả tìm thấy mối liên hệ tiêu cực giữa tính thận trọng và tần suất, tính xác thực và tính kịp thời của các dự báo quản lý, các kết quả trong bài nghiên cứu của nhóm tác giả cho thấy tính thận trọng trong kế toán đóng vai trò thay thế cho các dự báo quản lý bằng cách giảm sự không đối xứng về thông tin trên thị trường và giảm khả năng kiện tụng thông qua việc báo cáo kịp thời những tin xấu Kết quả của nhóm tác giả ủng hộ quan điểm cho rằng tính thận trọng làm giảm sự bất cân xứng về thông tin trên thị trường và trình bày thông tin bổ sung Tính thận trọng cũng làm giảm chi phí kiện tụng dự kiến của nhà quản lý bằng cách tiết lộ đầy đủ về tác động của tin xấu, đưa ra những dự báo hữu ích cho các quyết định của nhà quản lý và nhà đầu tư
Trang 24Bảng 1.1 Tổng hợp các nghiên cứu nước ngoài Tên tác
Nhóm nghiên cứu liên quan đến các khái niệm và vai trò về tính thận trọng
Watts,
R.L
(2003)
Tính thận trọng trong
kế toán:
Phần I: Giải thích và ý nghĩa
Phần II:
Bằng chứng
để phân biệt tính thận trọng và sự gia tăng của tính thận trọng theo thời gian
Accounting Horizons, Vol.17 No.3, pp.207-21
Khái niệm
về tính thận trọng,
những quy định và thiết lập tiêu chuẩn có liên quan
Bằng chứng phân biệt tính thận trọng và ngược lại,
sự gia tăng tính thận trọng theo thời gian
Giải quyết được mục tiêu đề ra, nhấn mạnh đến vaii trò của lý thuyết hợp đồng Ảnh hưởng của kế toán đến hành vi của người quản lý đóng vai trò quan trọng đến tính trung thực của báo cáo tài chính
Nhóm nghiên cứu liên quan đến các biến trong mối quan hệ của tính thận trọng và đầu tư
Basu.S Nguyên tắc Journal of Vai trò của Tính thận trọng làm
Trang 25và tính kịp thời về sự bất cân xứng trong thu nhập
and Econimics, Vol.24, No.1, pp.3-38
trọng và tính kịp thời trong sự bất cân xứng trong thu nhập
ánh những tin xấu nhanh hơn là những tin tốt Mức độ nhạy cảm của thu nhập đối với các tin xấu thông qua tính thận trọng
đã tăng lên theo thời gian
Givoly
và cộng
sự (2000)
Thuộc tính chuỗi thời gian thay đổi của thu nhập, dòng tiền và các khoản dự phòng: Báo cáo tài chính có tồn tại tính thận trọng hay không?
Journal of Accounting and
Economics, Vol.29 No 3, pp.287-320
Làm rõ mối liên hệ giữa thu nhập và hiệu quả kinh tế của doanh
nghiệp không ổn định theo thời gian, có tồn tại tính thận trọng hay không?
Bài nghiên cứu phát triển và cung cấp bằng chứng về sự thay đổi trong thuộc tính của thu nhập, tiền mặt, các khoản tạm ứng, làm rõ mục tiêu nghiên cứu đã đề
ra Thêm vào đó, tính thận trọng đang ngày càng cần thiết và gia tăng trong báo cáo tài chính
Economic Research Journal, No.4,
Làm rõ quyền kiểm soát, cấu
Hầu hết quyền sở hữu của các công ty niêm yết tại Trung
Trang 26cấu trúc chủ
sở hữu, và đặc điểm công ty
pp 51-62 (in Chinese)
trúc chủ sở hữu và đặc điểm công
ty
Quốc chủ yếu do các cổ đông khác nắm giữ, ảnh hưởng đến các vấn đề thông tin
và vấn đề ủy nhiệm Bushman
và cộng
sự (2008)
Mức độ nhạy cảm của dòng vốn đầu tư dùng tiền mặt
Working paper Kenan-Flagler Business School, University of North Carolina
at Chapel Hill, University of Chicago and Yale School management
Cấu trúc cơ bản của biến dòng tiền và làm rõ được
sự nhạy cảm của vốn đầu
tư dung tiền mặt
Cung cấp bằng chứng thực nghiệm
để làm rõ mục tiêu Bên cạnh đó, thể hiện mối liên hệ giữa chi phí vốn và vốn lưu động
Garcia và
cộng sự
(2010)
Tính thận trọng trong
kế toán và hiệu quả đầu tư công
ty
Review of Accounting Studies (in press)
Làm rõ được tác động của tính thận trọng lên hiệu quả đầu
tư
Có tồn tại mối tương quan dương giữa tính thận trọng lên đầu tư, ngoài ra tính thận trọng còn có thể làm giảm được sự bất cân xứng về thông tin và
Trang 27từ đó gia tăng các quyết định đầu tư Xiaodong
Xu và
cộng sự
(2012)
Tính thận trọng trong
kế toán, quyền kiểm soát công ty
và hiệu quả đầu tư
China Finance Review
International, Vol.2 No 1,
2012,
pp.53-277
Phân tích và kiểm tra vai trò của tính thận trọng trong kế toán đến đầu
tư tại Trung Quốc
Bằng chứng thực nghiệm cho thấy đã đạt như mục tiêu đề
ra Mức độ ảnh hưởng của bất cân xứng về thông tin và vấn đề ủy nhiệm có ảnh huưưởng đến vai trò của tính thận trọng trong kế toán trên đầu tư
Nhóm nghiên cứu liên quan đến mối quan hệ của tính thận trọng trong kế toán đến hành vi đầu tư
Stulz,
R.M
(1990)
Quyền tự quản lý và chính sách tài chính tối
ưu
Journal of Financial Economics Vol.26 No.1, pp.3-27
Tác động của các chính sách tài chính đến quyền quản
lý của cổ
đông
Các chính sách tài chính phù hợp có thể làm giảm chi phí ủy nhiệm thông qua những quyết định của nhà quản lý Chi phí ủy nhiệm tồn tại khi việc quản lý công
ty phát huy tác dụng
Trang 28hơn so với cổ đông quản lý Chính sách tài chính có thể làm giảm đầu tư quá mức
và hạn chế đầu tư dưới mức Việc phân phối dòng tiền mặt đang có vấn đề theo từng giai đoạn, đưa
ra các lý do để làm ggiamr sự biến động của dòng tiền
Zheng và
cộng sự
(2001)
Những khó khăn về tài chính trong đầu tư của các công ty niêm yết:
Giải thích theo quan điểm của cơ cấu vốn chủ
sở hữu
Journal of Financial Research, No.11, pp.92-9 (in Chinese)
Trình bày những khó khăn về tài chính ở các công ty niêm yết chủ yếu là do sự bất cân xứng
về thông tin
Giải quyết được mục tiêu nghiên cứu đề
ra Cho rằng những công ty có nhiều cổ phần thuộc quyền sở hữu của nhà nước, có nhiều khó khăn về tài chính hơn đầu tư Do những hạn chế về tài chính và vấn đề bất cân xứng thông tin trong đầu tư
Trang 29Ahmed
và cộng
sự (2002)
Vai trò của tính thận trọng trong
kế toán trong việc giảm bớt sự xung đột giữa những người nắm giữ trái phiếu - cổ
đông đối với chính sách chia cổ
tức và giảm chi phí nợ
The Accounting Review, Vol.77 No., 4, pp.867-90
Cung cấp bằng chứng
về vai trò của tính thận trọng trong
kế toán dựa trên chính sách chia cổ
tức Giảm thiểu được
sự xung đột giữa các bên với nhau
Bằng chứng thực nghiệm chứng minh được vai trò quan trọng trong việc giảm nhẹ sự xung đột giữa những người nắm giữ trái phiếu với cổ đông với chính sách chia cổ tức và giảm chi phí
Journal of Financial Research, No.10, pp.123-
42 (in Chinese)
Ảnh hưởng của nhóm doanh
nghiệp, và
sự kiểm soát của chính phủ về hiệu quả đầu tư
Hiệu quả mô hình đầu tư của các công
ty thành viên nhóm
bị giảm, giá trị thị trường bị thấp hơn Ảnh hưởng của công
ty cổ phần có vốn đầu tư từ nhà nước là
Trang 30yếu tố quan trọng trong việc quyết định lợi ích và chi phí liên kết nhóm
Hui và
cộng sự
(2009)
Tác động của tính thận trọng lên dự báo quản lý về thu nhập
Journal of Accounting and
Economics, Vol.47 No 3, pp.192-207
Mối liên hệ thực nghiệm giữa tính thận trọng trong kế toán và dự báo về thu nhập định lượng
Kết quả cho thấy tính thận trọng trong kế toán đóng vai trò thay thế cho các dự báo quản lý bằng cách giảm sự không đối xứng về thông tin Tính thận trọng cũng làm giảm chi phí kiện tụng dự kiến của các nhà quản lý bằng việc giảm tác động của các tin xấu xuống
(Nguồn tác giả tự tổng hợp)
1.2.Tổng quan nghiên cứu trong nước
Trong phần tổng quan các nghiên cứu trong nước tác giả trình bày một số các nghiên cứu có liên quan đến những ảnh hưởng của tính thận trọng trong kế toán đến hành vi
đầu tư để từ đó đưa ra một số nhận xét và hướng nghiên cứu tiếp theo của đề tài
Trang 31[1] Nguyễn Thị Thúy Phượng, 2016 Ảnh hưởng của việc vận dụng nguyên tắc kế
toán thận trọng tới chính sách chia cổ tức bằng tiền tại các công ty niêm yết trên
sở chứng khoán HOSE-HNX Luận văn Thạc sĩ Trường Đại học Kinh tế Thành
phố Hồ Chí Minh
Nguyễn Thị Thúy Phượng (2016) sử dụng phương pháp hồi quy GMM có điều chỉnh sai số để tìm ra sự tác động trong việc vận dụng nguyên tắc thận trọng trong kế toán đến các chính sách chia cổ tức bằng tiền tại các công ty phi tài chính được niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán TP.HCM và Hà Nội trong giai đoạn từ 2009 đến 2015 Kết quả của bài nghiên cứu cho thấy thật sự có tồn tại mối liên hệ nghịch biến giữa việc vận dụng nguyên tắc tính thận trọng với chính sách chia cổ tức bằng tiền Nếu nguyên tắc thận trọng được vận dụng càng nhiều, đồng nghĩa với việc lượng tiền dùng
để chia cổ tức trong công ty càng ít Đồng thời tác giả bài nghiên cứu này cũng kiểm định thêm liệu việc đo lường nguyên tắc thận trọng cho lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh, lợi nhuận trước thuế, lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp, nhằm làm giảm bất đồng giữa chủ nợ và cổ đông, giảm thiểu mâu thuẫn giữa cổ đông với nhà quản lý
Đối với phần tổng quan nghiên cứu trong nước, có khá nhiều những bài nghiên cứu
có liên quan đến tính bất cân xứng thông tin hay vấn đề ủy nhiệm… nhưng đều thuộc chuyên ngành tài chính-ngân hàng Điển hình như Luận văn thạc sĩ của Chu Khánh Toàn (2016) nghiên cứu về “Tác động của hạn chế tài chính và chi phí đại diện đến đầu tư dưới mức hoặc đầu tư quá mức”, Luận văn thạc sĩ của Hồ Thu Hoài (2015) về
“Tính bất định trong dòng tiền và quyết định đầu tư”, hay như trong bài nghiên cứu
về “Mối quan hệ giữa quản trị công ty và bất cân xứng thông tin -Nghiên cứu thực nghiệm trên thị trường chứng khoán Việt Nam” của tác giả Nguyễn Anh Tuấn (2015) cho thấy với một cơ chế quản trị công ty trong đó gia tăng việc giám sát nhà quản lý làm giảm tính bất cân xứng về thông tin…
Tuy nhiên đối với chuyên ngành kế toán, còn có khá ít các nghiên cứu liên quan đến tính thận trọng trong kế toán, hoặc tác động của tính thận trọng đến hiệu quả hành vi
Trang 32đầu tư trong công tác kế toán Trong quá trình tìm kiếm các nghiên cứu có liên quan, tác giả cũng đã tìm trong trang web thư viện trường Đại học kinh tế TP.HCM lib.ueh.edu.vn, tạp chí nghiên cứu và phát triển…nhưng vẫn chưa tìm thấy nhiều nghiên cứu liên quan đến vấn đề này, chính vì vậy bài nghiên cứu của tác giả tiến hành kiểm tra sự tác động của tính thận trọng trong kế toán đến hiệu quả đầu tư nhằm cải thiện và nâng cao chất lượng trình bày thông tin của kế toán, phục vụ để nhà quản
lý đưa ra các thông tin đáng tin cậy cũng như các quyết định đầu tư kịp thời…Đây cũng được xem là điểm mới trong nghiên cứu của tác giả
Trang 33Bảng 1.2 Tổng hợp các nghiên cứu trong nước Tên tác
Mục tiêu nghiên cứu
Kết quả nghiên cứu
Nghiên cứu tìm
ra sự tác động của mức độ vận dụng nguyên tắc thận trọng đến chính sách chia cổ tức bằng tiền tại các công ty phi tài chính niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán HOSE và HNX
Bài nghiên cứu chỉ ra được có tồn tại sự tác động giữa mức độ vận dụng nguyên tắc thận trọng tới chính sách chia cổ tức bằng tiền của công ty, giảm thiểu sự mâu thuẫn giữa chủ nợ
và cổ đông, giảm thiểu bất đồng về quan điểm giữa cổ đông và nhà quản
lý
(Nguồn tác giả tự tổng hợp)
Trang 341.3.Tổng hợp kết quả nghiên cứu
Bảng 1.3 Tổng hợp kết quả nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến mối liên hệ
của tính thận trọng lên hiệu quả đầu tư
nghiên cứu
1 Chi phí chi cho
Bushman và cộng sự (2008), Garcia Lara và cộng sự (2011), Xiaodong
Xu và cộng sự (2012)
+/-
2 Mức độ thận trọng CONACC
Givoly và cộng sự (2000), Xiaodong Xu và cộng sự
(2012)
+/-
6 Nhà nước State Xiaodong Xu và cộng sự
Trang 35STT Biến Kí hiệu Tác giả nghiên cứu Kết quả
Xu và cộng sự (2012), Basu (1997)
Garcia Lara và cộng sự (2011), Xiaodong Xu và cộng sự (2012)
+/-
Garcia Lara và cộng sự (2011), Xiaodong Xu và cộng sự (2012)
+/-
Garcia Lara và cộng sự (2011), Xiaodong Xu và cộng sự (2012)
-
Trang 36STT Biến Kí hiệu Tác giả nghiên cứu Kết quả
(Nguồn: Tác giả tự tổng hợp)
1.4 Nhận xét các nghiên cứu trong và ngoài nước, và xác định khe hổng nghiên cứu
1.4.1 Nhận xét các nghiên cứu trong và ngoài nước
Sau khi tìm hiểu giữa các nghiên cứu trong và ngoài nước, tác giả nhận thấy:
Có khá nhiều các nghiên cứu ở nước ngoài nghiên cứu về việc vận dụng mối liên hệ giữa tính thận trọng và hành vi đầu tư Tính thận trọng được xem như là một công cụ hữu hiệu để giúp các nhà đầu tư và nhà quản lý có những quyết định phù hợp với tình hình kinh doanh của công ty, mở rộng đầu tư hay giảm thiểu đầu tư Bên cạnh đó tính thận trọng còn giúp giảm thiểu được các chi phí ủy nhiệm, giảm thiểu sự bất cân xứng thông tin và còn giúp nhà quản lý có thể tiếp cận, kêu gọi các nguồn tài chính bên ngoài với chi phí thấp…
1.4.2 Xác định các khe hổng nghiên cứu
Đối với sự tác động giữa tính thận trọng trong kế toán đến hiệu quả đầu tư ở mỗi quốc gia sẽ có những nhận định cũng như có nhiều khác biệt về kinh tế hay chính trị Chính
vì lý do này, vấn đề xem xét sự tác động của tính thận trọng trong kế toán đến mức
độ đầu tư nên được xem xét tại Việt Nam, đặc biệt là các công ty phi tài chính được niêm yết trên địa bàn TP.HCM và Hà Nội Hơn thế nữa, các nghiên cứu trong nước
về tác động của tính thận trọng trong kế toán đến đầu tư còn khá ít và khá mới, các nghiên cứu trong nước chủ yếu chỉ nghiên cứu một hoặc một vài yếu tố như các nhân
tố ảnh hưởng đến sự bất cân xứng thông tin, hay những tác động hạn chế tài chính, chi phí đại diện đến mức độ đầu tư dưới mức và quá mức nhưng đều thuộc lĩnh vực
Trang 37tài chính ngân hàng; chưa có nghiên cứu cụ thể nào về tác động của tính thận trọng
kế toán đến mức độ đầu tư thuộc về kế toán Chính vì những lý do trên, việc nghiên cứu đề tài này của tác giả sẽ có ý nghĩa thực tiễn đối với TP.HCM và Hà Nội
TÓM TẮT CHƯƠNG 1
Chương 1 tác giả trình bày các nghiên cứu nước ngoài có liên quan đến đề tài nghiên cứu, đối với các nghiên cứu trong nước tác giả vẫn chưa tìm được bài nghiên cứu nào liên quan đến vấn đề tài tác giả nghiên cứu Từ đó, tác giả xác định khe hổng nghiên cứu, làm cơ sở chứng minh tính cần thiết khi lựa chọn đề tài nghiên cứu Trên cơ sở
kế thừa và phát triển các nghiên cứu trước, tác giả sẽ lựa chọn nội dung phù hợp để tham khảo và làm rõ về đề tài nghiên cứu của mình Chương 2 sẽ trình bày cơ sở lý thuyết và phát triển
Trang 38CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT
Chương 2 tác giả trình bày chi tiết về tính thận trọng trong kế toán cũng như cách đo lường nó Hơn thế nữa chương 2 còn thể hiện các lý thuyết có liên quan đến bài nghiên cứu, mối liên hệ giữa tính thận trọng và đầu tư, một số quan điểm của tác giả
về tính thận trọng trong kế toán Thêm vào đó, ở chương này tác giả cũng lập ra bảng tổng hợp các biến được sử dụng trong bài nghiên cứu
2.1 Tính thận trọng trong kế toán
2.1.1 Định nghĩa tính thận trọng trong kế toán
Trong khái niệm số 2 của FASB, tính thận trọng được định nghĩa như “một phản ứng thận trọng với sự không chắc chắn để cố gắng đảm bảo những bất trắc và các rủi ro vốn có trong các tình huống kinh doanh được xem xét đầy đủ” Trong khi đó theo Ủy ban chuẩn mực kế toán quốc tế [Framework (1989).36-37] lại cho rằng “thận trọng
dự đoán những yếu tố không chắc chắn và thêm một mức độ chắc chắn nào đó để không làm tăng tài sản hoặc làm giảm thu nhập nhằm mục đích giảm các khoản nợ
và giảm chi phí”, “tính thận trọng được xem như là một nguyên tắc quan trọng trong việc thực hiện và trình bày báo cáo tài chính cùng với các phương pháp kế toán và chính sách kế toán” Tính thận trọng còn được xem là một trong những nguyên tắc
cơ bản nhất của ước tính kế toán, có những ảnh hưởng quan trọng và sâu sắc đến các
lý thuyết kế toán cũng như các thông lệ kế toán Hơn thế nữa tính thận trọng đã đáp ứng như một nguyên tắc quan trọng cho việc ghi nhận, đo lường và trình bày thông tin báo cáo tài chính trước khi chuẩn mực kế toán ra đời
Đối với nghiên cứu của Watt (2003) về “Tính thận trọng trong kế toán, Phần I: Giải thích và thực nghiệm”, ông lại tóm lược một số nhận đinh của các nhà nghiên cứu trước và đồng thời bổ sung vào nhận định của mình như sau:
Watt (2003) tổng hợp nhận định của Bliss (1924) cho nghiên cứu “Quản lý thông qua
tài khoản” Bliss (1924) cho rằng tính thận trọng trong kế toán theo cách truyền
thống được định nghĩa “là những dự đoán không có lợi nhuận, nhưng dự đoán
Trang 39được mọi tổn thất có thể xảy ra” Lợi nhuận dự kiến là việc ghi nhận lợi nhuận dựa
trên mức doanh thu có thể kiểm chứng được Tính thận trọng ngụ ý rằng tất cả những dòng thu nhập cần phải được ghi nhận trước khi lợi nhuận được ghi nhận nhưng phải được kiểm chứng
Hay như trong bài nghiên cứu về “Nguyên tắc thận trọng, tính kịp thời về sự bất cân
xứng trong thu nhập” của Basu (1997) lại cho rằng “tính thận trọng trong kế toán
được xem như là một xu hướng kế toán đòi hỏi những bằng chứng chặt chẽ hơn
để nhận ra những tin tốt hơn là những tin xấu” Tính thận trọng là yếu tố ngăn
chặn sự bất cân xứng giữa những lợi ích và tổn thất Kết quả quan trọng của việc xử
lý sự bất cân xứng đối với lợi nhuận và tổn thất của tính thận trọng là sự suy giảm liên tục các giá trị tài sản ròng Những nhà quản lý thị trường vốn, các nhà nghiên cứu thì phê bình tính thận trọng vì họ cho rằng sự suy giảm trong giai đoạn hiện tại
có thể dẫn đến tình trạng quá mức trong thu nhập ở các kỳ tiếp theo bằng cách giảm mức chi phí trong tương lai Tính thận trọng đề cập đến các ảnh hưởng tài chính tích lũy thể hiện trong bảng cân đối kế toán và đến thu nhập tích lũy kể từ khi công ty bắt đầu hoạt động Ảnh hưởng của tính thận trọng đến thực tiễn kế toán có ảnh hưởng trong thời gian dài Hơn thế nữa trong mô hình của Basu (1997) đã cho rằng tính thận trọng đã có ảnh hưởng đến thực tiễn kế toán ít nhất là 500 năm Sterling (1970) xem tính thận trọng là nguyên tắc có ảnh hưởng nhất trong định giá về kế toán Các nghiên cứu thực nghiệm gần đây nghiên cứu tính thận trọng không chỉ thực tiễn kế toán là thận trọng mà chính thực tiễn kế toán đã áp dụng tính thận trọng trong suốt 30 năm qua Sự tồn tại lâu dài của tính thận trọng và sự phục hồi rõ ràng của nó đối với những lời chỉ trích mạnh mẽ cho thấy các nhà nghiên cứu đã bỏ qua nhiều lợi ích đáng kế của nó
2.1.2 Tầm quan trọng của tính thận trọng trong kế toán
Trong bài nghiên cứu về “Vai trò của tính thận trọng trong kế toán trong thị trường vốn cổ phần: Bằng chứng thực nghiệm từ các khoản đầu tư cổ phần đầy đủ” của Yongtae Kim và các cộng sự (2012) bàn luận về vai trò của tính thận trọng trong kế
Trang 40bày bốn giải thích khác nhau của tính thận trọng là hợp đồng, các vấn đề tranh chấp của cổ đông, luật thuế và các quy định kế toán Watts (2003) phần II cho rằng vấn đề hợp đồng và tố tụng là quan trọng nhất, cụ thể việc giải thích cho lý thuyết hợp đồng
cho thấy tính thận trọng có thể làm giảm chi phí ủy nhiệm liên quan đến sự bất
cân xứng trong thông tin, việc tổn thất giữa các bên ký kết và không có khả năng xác minh thông tin cá nhân của các bên có thông tin (LaFond và Watts 2008)
Trong khi đó Gao (2012) trong nghiên cứu “Tiếp cận đo lường đến Tính thận trọng
và Quản lý lợi nhuận” lại cho rằng tính thận trọng trong kế toán là quy tắc đo lường tối ưu khi các nhà quản lý có thể tham gia quản lý lợi nhuận trước Tiếp theo, nhóm tác giả đã tập trung nghiên cứu tính thận trọng trong thị trường nợ và nhận định vai
trò của tính thận trọng trong kế toán trong thị trường chứng khoán làm giảm bớt các
vấn đề lựa chọn bất lợi phát sinh từ sự bất cân xứng trong thông tin, qua đó làm giảm chi phí huy động vốn cổ phần
Ngoài ra LaFond và Watts (2008) còn cho rằng sự bất cân xứng thông tin giữa những người trong công ty và các nhà đầu tư bên ngoài cũng dẫn đến sự cần thiết của tính thận trọng trong các báo cáo tài chính Theo nhận định của Watss (2003) phần I,
LaFond và Roychowdhury (2008), LaFond và Watts (2008) cho rằng tính thận trọng
có thể làm giảm chi phí ủy nhiệm liên quan đến sự bất cân xứng thông tin, bằng cách cung cấp cho các nhà đầu tư công cụ tốt hơn để theo dõi và hạn chế khả năng bóp méo thông tin của các nhà quản lý Hơn thế nữa, tính thận trọng trong kế toán
cũng giúp cải thiện môi trường thông tin, tính thận trọng giúp phát hiện những thông
tin mà các nhà quản lý không muốn cung cấp và cho phép các lợi ích có thể kiểm chứng được công nhận trong báo cáo tài chính Ngoài ra, giúp các nhà đầu tư có thể
so sánh, dự đoán và phân tích các số liệu từ nhiều nguồn khác nhau (Watts 2006),
giúp giảm thiểu được những sự lựa chọn bất lợi phát sinh từ sự bất cân xứng trong
thông tin trong các khoản đầu tư cổ phần đầy đủ (SEO)
Hay như trong nghiên cứu của Ahmed và các cộng sự (2002) về “Vai trò của tính thận trọng trong kế toán trong việc giảm nhẹ sự xung đột giữa người nắm giữ trái