1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Các nhân tố ảnh hưởng đến việc thực hiện kế toán ngân sách tại các đơn vị kho bạc nhà nước trên địa bàn tỉnh long an

109 241 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 109
Dung lượng 1,44 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC 1.1 Các nghiên cứu trên thế giới 1.1.1 Nghiên cứu về xu hướng cải cách kế toán ngân sách và việc vận dụng chuẩn mực kế toán công quốc tế tại cá

Trang 1

_

TRẦN ĐẶNG KIM ÂN

CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC

THỰC HIỆN KẾ TOÁN NGÂN SÁCH TẠI CÁC ĐƠN

VỊ KHO BẠC NHÀ NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH

LONG AN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP.Hồ Chí Minh – Năm 2017

Trang 3

_

TRẦN ĐẶNG KIM ÂN

CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC

THỰC HIỆN KẾ TOÁN NGÂN SÁCH TẠI CÁC ĐƠN

VỊ KHO BẠC NHÀ NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH

LONG AN

Chuyên ngành: Kế toán

Mã số: 60340301

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS PHẠM QUANG HUY

TP.Hồ Chí Minh – Năm 2017

Trang 5

sách tại các đơn vị kho bạc nhà nước trên địa bàn tỉnh Long An” do chính tác giả

thực hiện, các kết quả nghiên cứutrong luận văn là trung thực và chưa từng công bố trong bất kỳ công trìnhnghiên cứu nào khác Tất cả những phần kế thừa, tham khảo cũng như tham chiếuđều được trích dẫn đầy đủ và ghi nguồn cụ thể trong danh mục

tài liệu tham khảo

Tên tác giả

Trần Đặng Kim Ân

Trang 6

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu vả câu hỏi nghiên cứu 3

2.1 Mục tiêu chung 3

2.2 Mục tiêu cụ thể 3

2.3 Câu hỏi nghiên cứu 3

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

3.1 Đối tượng nghiên cứu 3

3.2 Phạm vi nghiên cứu 4

4 Phương pháp nghiên cứu 4

5 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài 4

6 Kết cấu của đề tài 5

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC 6

1.1Các nghiên cứu trên thế giới 6

1.1.1Nghiên cứu về xu hướng cải cách kế toán ngân sách và việc vận dụng chuẩn mực kế toán công quốc tếtại các nước……… …… 6

1.1.2Nghiên cứu về nguyên nhân dẫn đến cải cách kế toán ngân sách tại các quốc gia trên thế giới và những lợi ích khi vận dụng IPSAS 8

1.2Các nghiên cứu tại Việt Nam 14

1.2.1Nghiên cứu về thực trạng kế toán ngân sách 14

1.2.2Nghiên cứu về sự cần thiết và những lợi ích mang lại khi vận dụng IPSAS 16

1.2.3Nghiên cứu về những nhân tố ảnh hưởng và giải pháp thực hiện kế toán ngân sách……… 16

Trang 7

1.3.1.1 Đối với các nghiên cứu nước ngoài 20

1.3.1.2 Đối với các nghiên cứu trong nước 21

1.3.2 Khe hổng nghiên cứu 21

Kết luận chương 1 22

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 23

2.1 Cơ sở lý thuyết về kế toán ngân sách 23

2.1.1 Khái niệm và đặc điểm NSNN 23

2.1.2 Khái niệm kế toán ngân sách 24

2.1.3 Đối tượng của kế toán ngân sách 25

2.1.4 Nội dung của kế toán ngân sách và hoạt động KBNN 26

2.1.4 Nhiệm vụ của kế toán ngân sách và hoạt động KBNN 26

2.1.5 Phương pháp ghi chép và kỳ kế toán 26

2.1.6 Đối tượng sử dụng thông tin kế toán ngân sách 27

2.1.6.1 Trong nước 27

2.1.6.2 Ngoài nước 27

2.1.7 Ứng dụng công nghệ thông tin trong kế toán ngân sách 27

2.2 Một số vấn đề lý luận chung về KBNN và kế toán ngân sách tại các đơn vị KBNN……… ….28

2.2.1 Nhiệm vụ của KBNN về thực hiện kế toán ngân sách 28

2.2.2 Nội dung và yêu cầu chứng từ kế toán ngân sách 28

2.2.3 Hệ thống tài khoản 29

2.2.4 Mở sổ, ghi sổ khóa sổ kế toán 30

2.2.5 Nguyên tắc hạch toán theo kỳ 30

2.2.6 BCTC và báo cáo quản trị 30

2.2.6.1 BCTC……… … 30

2.2.6.2 Báo cáo quản trị 31

2.2.7 Quyết toán hoạt động nghiệp vụ KBNN 31

Trang 8

2.3.1 Tổng quan về các mô hình kế toán ngân sách tại các KBNN trên thế

giới……… … 32

2.3.1.1 Hoa Kỳ 32

2.3.1.2 Canada 32

2.3.1.3 Pháp.……… 33

2.3.2 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 33

2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc thực hiện kế toán ngân sách……… … 44

2.4.1 Cơ sở kế toán dồn tích……… … 44

2.4.2 Hệ thống pháp lý 45

2.4.3 Trình độ của kế toán viên 45

2.4.4 Hệ thống thông tin 46

2.4.5 Hoạt động thanh tra, giám sát 46

2.6 Các lý thuyết nền có liên quan 47

2.6.1 Lý thuyết đại diện (Agency theory) 47

2.6.2 Kinh tế học thể chế (Institutional economics) 48

Kết luận chương 2 38

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 39

3.1 Quy trình nghiên cứu 39

3.2 Mô hình nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu 40

3.2.1 Mô hình nghiên cứu 40

3.2.2 Giả thuyết nghiên cứu 41

3.3 Thiết kế nghiên cứu 42

3.3.1 Xây dựng thang đo 42

3.3.2 Xây dựng bảng câu hỏi 45

3.3.3 Chọn mẫu và thu thập dữ liệu 47

3.4 Phương pháp nghiên cứu 48

Trang 9

3.4.1.2 Phân tích nhân tố khám phá 49

3.4.1.3 Phân tích tương quan (Phân tích hệ số Pearson) 50

3.4.1.4 Phân tích hồi quy tuyến tính bội 50

Kết luận chương 3 52

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 53

4.1 Thống kê mô tả mẫu khảo sát 53

4.2 Phân tích hệ số Cronbach’s alpha 54

4.3 Phân tích nhân tố khám phá EFA 55

4.3.1 Biến độc lập 55

4.3.2 Biến phụ thuộc 58

4.4 Phân tích tương quan 60

4.5 Phân tích hồi quy tuyến tính 61

4.6 Bàn luận kết quả nghiên cứu 63

Kết luận chương 4 66

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 67

5.1 Kết luận kết quả nghiên cứu 67

5.2 Một số kiến nghị 67

5.2.1 Đối với nhân tố cơ sở kế toán dồn tích 67

5.2.2 Đối với nhân tố hệ thống pháp lý 68

5.2.3 Đối với nhân tố hoạt động thanh tra, giám sát 69

5.3 Hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo 71

5.3.1 Hạn chế……… 71

5.3.2 Hướng nghiên cứu tiếp theo 71

Kết luận chương 5……… ……… 71 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Danh mục tài liệu tiếng Việt

Danh mục tài liệu tiếng Anh

Trang 10

PHỤ LỤC 3: DANH SÁCH CÁC CHUYÊN GIA ĐƯỢC PHỎNG VẤN PHỤ LỤC 4: DANH SÁCH CÁC ĐỐI TƯỢNG ĐƯỢC KHẢO SÁT PHỤ LỤC 5: THỐNG KÊ MÔ TẢ

PHỤ LỤC 6: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỊNH LƯỢNG

Trang 11

1 BCTC Báo cáo tài chính

7 TABMIS Hệ thống Thông tin Quản lý

Ngân Sách và Kho bạc

Treasury And Budget Management Information System

Trang 12

Bảng 1.1 Các công trình nghiên cứu trên thế giới………11

Bảng 1.2 Các công trình nghiên cứu trong nước……….………….19

Sơ đồ 3.1: Quy trình nghiên cứu ………37

Sơ đồ 3.2: Mô hình nghiên cứu đề nghị……… Error! Bookmark not defined Bảng 3.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc thực hiện kế toán ngân sách tại các đơn vị KBNN trên địa bàn tỉnh Long An 42

Bảng 4.1: Hệ số Cronbach’s alpha của các thang đo còn lại 54

Bảng 4.3 Kiểm định KMO và Barlett’s 55

Bảng 4.4 Tổng phương sai trích (Total Variance Explained) 55

Bảng 4.5 Ma trận nhân tố sau khi xoay (Rotated Component Matrix) 56

Bảng 4.6 Kiểm định KMO và Barlett’s 57

Bảng 4.7 Tổng phương sai trích (Total Variance Explained) 57

Bảng 4.8 Ma trận nhân tố sau khi xoay (Rotated Component Matrix) 58

Bảng 4.9 Kiểm định KMO và Bartlett của biến phụ thuộc 59

Bảng 4.10 Tổng phương sai trích của biến phụ thuộc 59

Bảng 4.11 Ma trận nhân tố trước khi xoay của biến phụ thuộc 59

Bảng 4.12 Hệ số tương quan Pearson 60

Bảng 4.13 Bảng tổng hợp mô hình (Model Summaryb) 61

Bảng 4.14 ANOVAb 62

Bảng 4.15 Kết quả hệ số hồi quy 62

Bảng 5.1 Bảng sắp xếp thứ tự quan trọng theo hệ số Beta của các nhân tố 67

Trang 13

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Hệ thống kho bạc nhà nước (KBNN) trực thuộc Bộ Tài chính (BTC) được thành lập từ ngày 01/04/1990 với nhiệm vụ cơ bản là kế toán thu – chi Quỹ ngân sách nhà nước (NSNN), quản lý chặt chẽ nguồn thu và cấp phát nhu cầu chi tiêu kịp thời Trong 27 năm kể từ ngày thành lập, hệ thống KBNN ngày càng phát triển nhanh và toàn diện, cùng với ngành Tài chính, KBNN đã có những đóng góp lớn trong việc hoàn thành nhiệm vụ thu NSNN, kiểm soát chi tiêu NSNN chặt chẽ Thế nhưng, bên cạnh những thuận lợi và các kết quả đạt được thì vấn đề nan giải cho những người làm lãnh đạo, những người làm công tác tài chính hiện nay đó là bội chi ngân sách, nợ công còn cao, nhu cầu chi tiêu cho xây dựng cơ sở hạ tầng vượt

so với nguồn lực NSNN

Theo TS Vũ Đình Ánh, trong đóng góp và phân chia NSNN giữa các địa phương đang có sự mất cân đối1 Cụ thể, theo dự toán NSNN năm 2016, trong 63 tỉnh thành chỉ có 13 tỉnh thành có tỷ lệ điều tiết không nhận bổ sung cân đối từ NS trung ương Gánh nặng thu NSNN đang dồn lên 6 tỉnh thành Đông Nam Bộ có tốc

độ đô thị hóa và công nghiệp hoá cao2, thu hút được phần lớn nguồn vốn đầu tư trong và ngoài nước, trong khi đại đa số tỉnh còn lại vẫn dậm chân tại chỗ ở trình trạng kém phát triển, chưa khai thác được tiềm năng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế riêng vùng đồng bằng sông Cửu Long, có đến 12/13 tỉnh thành thường xuyên nhận

bổ sung cân đối từ ngân sách trung ương3

1Ngọc Khanh, 2016 Thu, chi ngân sách có cần cào bằng Tạp chí tài chính số 500, trang 30-32

2 6 tỉnh thành Đông Nam Bộ gồm: Thành phố Hồ Chí Minh, Bà Rịa – Vũng Tàu, Bình Dương, Bình Phước, Đồng Nai, Tây Ninh chiếm 42% tổng thu NSNN

3 13 tỉnh, thành phố Đồng bằng sông Cửu Long: Long An, Tiền Giang, Đồng Tháp, Vĩnh Long, Trà Vinh, Hậu Giang, Sóc Trăng, Bến Tre, An Giang, Kiên Giang, Bạc Liêu, Cà Mau và thành phố Cần Thơ (Cần Thơ không nhận bổ sung cân đối ngân sách)

Trang 14

Long An là một trong 13 tỉnh, thành phố thuộc đồng bằng sông Cửu Long Việt Nam, nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam4 Long An có lợi thế rất lớn trong việc thu hút, tiếp cận vốn đầu tư trong và ngoài nước Nơi đây được xác định

có vai trò đặc biệt quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế Việt Nam.5

Dù có được vị trí địa lý thuận lợi nhưng Long An vẫn chưa khai thác hết tiềm năng phát triển Vai trò của Long An trong việc phát triển kinh tế vùng còn nhiều hạn chế, đặc biệt công tác quản lý thu, chi ngân sách trên địa bàn tỉnh Long

An còn nhiều thách thức và khó khăn Tỉnh Long An là tỉnh thường xuyên nhận bổ sung ngân sách từ trung ương, đỉnh điểm năm 2013 là 2.486 tỷ đồng sau đó năm

2015 giảm còn 1.765 tỷ đồng6 Chỉ duy nhất năm 2004 lần đầu tiên Long An lọt vào danh sách 15 địa phương tự cân đối được thu chi7 Trong quá trình thực hiện thu, chi ngân sách trên địa bàn tỉnh Long An còn đối mặt với nhiều vấn đề như việc lập, chấp hành, quyết toán thực hiện còn chậm; tình trạng thất thoát thu, chi ngân sách

do chưa bao quát hết các nguồn thu và khoản chi vẫn còn xảy ra, số liệu thu, chi ngân sách ở các cơ quan có sự khác biệt, dẫn đến khó khăn cho việc phân tích, quản

lý, việc ghi nhận thu, chi ngân sách được thực hiện bởi nhiều đơn vị nhưng nội dung, chỉ tiêu báo cáo lại khác nhau,…

Trong mục tiêu, nhiệm vụ đề ra vào năm 2020 theo Quyết định số TTg ngày 03/10/2012, cùng với thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Cần Thơ, tỉnh Long An phấn đấu trở thành một trong ba trung tâm kinh tế của khu vực Để từ một tỉnh thường xuyên nhận hỗ trợ ngân sách từ trung ương, trở thành một tỉnh tự cân đối được thu, chi ngân sách vào năm 2018

4 Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam bao gồm 8 tỉnh, thành phố: Hồ Chí Minh, Tây Ninh, Bình Phước, Bình Dương, Đồng Nai, Bà Rịa – Vũng Tàu, Long An, Tiền Giang

5 Báo cáo số 4170/BC-UBND tỉnh Long An ngày 05/12/2011

6 Tổng hợp thu, chi ngân sách giai đoạn 2011-2015 và dự báo giai đoạn 2016-2020, Sở Tài Chính Long An

7 15 địa phương tự cân đối được thu chi năm 2004 gồm Quảng Ninh, Hà Nội, Hải Phòng, Vĩnh Phúc,

Đà Nẵng, Khánh Hòa, Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương, Tây Ninh, Bà Rịa – Vũng Tàu, Tiền Giang, Vĩnh Long, Cần Thơ

Trang 15

Câu hỏi đặt ra là làm cách nào có thể cải thiện tình trạng trên đồng thời phát huy vai trò vùng kinh tế trọng điểm của tỉnh Long An Chính vì vậy, việc nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến thực hiện kế toán ngân sách là hoàn toàn cần thiết đối với tỉnh Long An trong giai đoạn hiện nay Xuất phát từ những nguyên nhân

trên tác giả lựa chọn đề tài“Các nhân tố ảnh hưởng đến việc thực hiện kế toán

ngân sách tại các đơn vị Kho bạc nhà nước trên địa bàn tỉnh Long An” làm đề tài

2.3 Câu hỏi nghiên cứu

 Những nhân tố nào ảnh hưởng đến việc thực hiện kế toán ngân sách tại các đơn vị KBNN trên địa bàn tỉnh Long An?

 Những nhân tố có mức độ ảnh hưởng như thế nào đến việc thực hiện kế toán ngân sách tại các đơn vị KBNN trên địa bàn tỉnh Long An?

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các nhân tố ảnh hưởng đến việc thực hiện

kế toán ngân sách tại các đơn vị KBNN trên địa bàn tỉnh Long An Qua đó, luận văn xác định được sự tồn tại cũng như mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến việc thực hiệnkế toán ngân sách tại các đơn vị KBNN trên địa bàn tỉnh Long An

Với đề tài này, đối tượng khảo sát gồm:

Trang 16

- Nhóm các chuyên gia: Giám đốc, Phó Giám đốc, Kế toán trưởng, Kế toán tổng hợp có kinh nghiệm lâu năm, giảng viên bộ môn kế toán công tại một số trường Đại học, Cao đẳng

- Nhóm Giám đốc, Phó Giám đốc, Kế toán trưởng, kế toán viên công tác tại các đơn vị KBNN trên địa bàn tỉnh Long An

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu của luận văn là thực hiện khảo sát tại tất cả các đơn vị KBNN trên địa bàn tỉnh Long An gồm 13 huyện: Bến Lức, Cần Đước, Cần Giuộc, Châu Thành, Đức Hòa, Đức Huệ, Mộc Hóa, Tân Hưng, Tân Thạnh, Tân Trụ, Thạnh Hóa, Thủ Thừa, Vĩnh Hưng, 1 Thành phố Tân An, 1 thị xã Kiến Tường Thời gian nghiên cứu: đề tài được thực hiện từ tháng 11/2016-9/2017

4 Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng chủ yếu là phương pháp định lượng Trong đó, dựa trên

cơ sở của các nghiên cứu có liên quan trước để xác định các nhân tố ảnh hưởng đến việc thực hiệnkế toán ngân sách, thiết kế khảo sát Sau đó sử dụng công cụ khảo sát

là bảng câu hỏi được gửi trực tiếp, qua email và công cụ khảo sát trực tuyến là Google Docs đến các đối tượng khảo sát Các kỹ thuật phân tích với sự hỗ trợ của phần mềm SPSS 20.0 sau khi được sàng lọc và làm sạch thì dữ liệu được sử dụng

để thực hiện phân tích thống kê mô tả, phương pháp phân tích nhân tố khám phá (EFA), phương pháp phân tích tương quan, phương pháp hồi quy tuyến tính được

sử dụng để xác định và đánh giá mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến việc thực hiện kế toán ngân sách tại các đơn vị KBNN trên địa bàn tỉnh Long An

5 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài

Thông qua đề tài nghiên cứu này, tác giả đã hệ thống hóa và trình bày các nghiên cứu trước trên thế giới và tại Việt Nam về các nhân nhân tố ảnh hưởng đến việc thực hiệnkế toán ngân sách Dựa trên kết quả nghiên cứu, luận văn cung cấp bằng chứng thực nghiệm chỉ ra sự tồn tại của từng nhân tố đồng thời đề xuất những kiến nghị thiết thực nhằm thực hiệnkế toán ngân sách tại các đơn vị KBNN trên địa bàn tỉnh Long An

Trang 17

Đề tài kỳ vọng mang lại những ý nghĩa khoa học và thực tiễn sau:

- Là cơ sở cho những hướng nghiên cứu tiếp theo về chủ đề này tại Việt Nam

- Bổ sung cho các kết quả nghiên cứu hiện có, cung cấp thêm bằng chứng thực nghiệm về sự tồn tại của các nhân tố ảnh hưởng đến việc thực hiệnkế toán ngân sách tại các đơn vị KBNN trên địa bàn tỉnh Long An

6 Kết cấu của đề tài

Kết cấu của đề tài gồm các phần như sau:

Phần mở đầu: Giới thiệu những ý tưởng chính của tác giả, sơ lược về nội

dung, ý nghĩa, phương pháp thực hiện đề tài

Chương 1: Tổng quan các nghiên cứu trước

Chương 2: Cơ sở lý thuyết về kế toán ngân sách nhà nước

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu

Chương 4: Kết quả nghiên cứu và bàn luận

Chương 5: Kết luận và kiến nghị

Trang 18

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC

1.1 Các nghiên cứu trên thế giới

1.1.1 Nghiên cứu về xu hướng cải cách kế toán ngân sách và việc vận dụng

chuẩn mực kế toán công quốc tế tại các nước

Các nước đang phát triển luôn phải đối mặt với hàng loạt những khó khăn

điển hình như là tình trạng tham nhũng, nguồn lực tài chính không đủ để chi trả cho

việc xây dựng cơ sở hạ tầng, hàng hóa và dịch vụ công cộng, rủi ro trong đầu tư tài

chính công, Để hỗ trợ cho việc quản lý hiệu quả chi tiêu công, cung cấp thông tin

minh bạch, đóng góp tích cực vào các mục tiêu phát triển đặc biệt là giảm nghèo,

theo Chan (2006) việc các nước phát triển thực hiện kế toán dồn tích và vận dụng

IPSAScho việc cải cách hệ thống kế toán nhà nước là cần thiết Chan cũng cho rằng,

sự thành công của quá trình cải cách phụ thuộc vào cơ sở kế toán, hệ thống pháp

luật, các nguồn lực ngân sách và nhân lực, công nghệ thông tin, ngoài ra việc

chuyển đổi sang cơ sở kế toán dồn tích là phương pháp mới và đòi hỏi kế toán có

nhiều kỹ năng như kiến thức tốt, cần phải đào tạo cao trình độ và kế toán viên

chuyên nghiệp

Việc vận dụng chuẩn mực kế toán công quốc tế (IPSAS) tại các quốc gia phụ

thuộc vào thành tựu của cuộc cải cách hệ thống kế toán ngân sách Roje và cộng sự

(2010) khi thực hiện nghiên cứu về việc chế độ kế toán ngân sách của các nước và

việc chuyển đổi sang thực hiện IPSAS nhận thấy: quá trình thực hiện cải cách cần

phải được tiến hành từng bước, có kế hoạch rõ ràng cụ thể, việc chuyển đổi từ kế

toán tiền mặt sang kế toán dồn tích sẽ đối mặt với những khó khăn như: các quy

định pháp luật, hạn chế về ngôn ngữ, nguồn tài trợ, hệ thống công nghệ thông tin, sự

hỗ trợ từ các cấp quản lý Nghiên cứu cũng chỉ ra nguyên nhân cản trở quá trình hài

hòa, thống nhất của hệ thống kế toán công tại 2 quốc gia Bosnia và Herzegovia đó

là việc phân cấp, phân quyền ở mức độ cao (Bosnia và Herzegovia gồm có 10 bang,

140 thành phố và 1 huyện, mỗi bang lại có hệ thống pháp lý cho kế toán ngân sách

khác nhau dẫn đến khó kiểm soát quản lý thu, chi ngân sách)

Trang 19

Cũng trong thời gian này, Adhkari & Mellemvik (2010) tiến hành nghiên cứu

về xu hướng vận dụng IPSAS ở các quốc gia Nam Á bao gồm 7 quốc gia, cụ thể là các nước: Bangladesh, Bhutan, Ấn Độ, Maldives, Nepal, Pakistan, Sri Lanka Về mặt địa lý, Nam Á là một vùng đất rộng lớn, chiếm 1/5 dân số thế giới Đây cũng là nơi tập trung nhiều người nghèo nhất thế giới, chỉ sau các nước khu vực châu Phi Một điểm chung của các nước Nam Á đó là phụ thuộc vào nguồn viện trợ quốc tế

và các khoản vay để phát triển hoạt động kinh tế Sự phụ thuộc này làm tăng mối lo ngại về trách nhiệm và quản lý ngân sách của các quốc gia Nam Á Nghiên cứu cho rằng phần lớn các nước Nam Á trong những năm gần đây bắt đầu cải cách quản lý khu vực công nhằm giảm thiểu tình trạng quan liêu, tăng cường quản lý chi tiêu ngân sách hiệu quả mà trọng tâm là việc cải thiện hệ thống kế toán ngân sách hiện hành theo hướng áp dụng IPSAS Việc áp dụng IPSAS là phương tiện cho các nước Nam Á sử dụng hiệu quả các nguồn lực của các tổ chức và các nhà tài trợ, điều kiện tiên quyết cho việc phê duyệt các khoản viện trợ và các khoản vay Nghiên cứu cũng chỉ ra những nhân tố ảnh hưởng đến việc cải cách hệ thống kế toán theo các yêu cầu của IPSAS đó là: giáo dục và đào tạo kế toán khu vực công, hệ thống công nghệ thông tin, hệ thống pháp luật của mỗi quốc gia

Cải cách hệ thống kế toán công và việc vận dụng IPSAS tại các quốc gia được thực hiện với nhiều mức độ khác nhau (Christiaens và cộng sự, 2013) Để giải thích các đặc điểm khác nhau của cải cách khu vực công tại các nước, các tác giả tiến hành khảo sát trên 81 quốc gia và chia thành 6 nhóm theo phong cách quản lý tài chính công khác nhau Nghiên cứu cho thấy các nhân tố ảnh hưởng đến cải cách

hệ thống kế toán khu vực công đó là: sự khác biệt về văn hóa, bối cảnh lịch sử hoặc đặc điểm hệ thống pháp luật của mỗi quốc gia Kết quả khảo sát cho thấy việc áp dụng kế toán dồn tích trong khu vực công tại các quốc gia theo 3 cấp độ khác nhau

đó là: nội dung, thời điểm áp dụng, cách thức thực hiện nguyên nhân dẫn đến sự khác biệt này là do nhiều quốc gia chỉ thực hiện theo nhu cầu riêng của mình và không đáp ứng tất cả các yêu cầu do IPSAS quy định, do đó việc cải cách kế toán dồn tích thực hiện không đồng nhất

Trang 20

1.1.2 Nghiên cứu về nguyên nhân dẫn đến cải cách kế toán ngân sách tại các

quốc gia trên thế giới và những lợi ích khi vận dụng IPSAS

Lợi ích của việc vận dụng IPSAS tại các nước đang phát triển đó là tăng

trách nhiệm giải trình của chính phủ, hạn chế thất thoát tài sản công, hạn chế tham

nhũng, nâng cao dân chủ đồng thời thu hút vốn tài trợ quốc tế Tuy nhiên, việc thực

hiện kế toán trên cơ sở dồn tích cho khu vực công tại các nước đang phát triểnsẽ

khó thực hiện hơn tại các nước phát triển bởi những hạn chế mà các nước đang phát

triển phải đối mặt đó là thâm hụt ngân sách, gánh nặng nợ công, lạm phát cao, yếu

kém trong quản lý tài chính công, nguồn nhân lực thiếu trình độ chuyên

môn,…(Ouda, 2004) Tác giả đã đề xuất mô hình các nhân tố giúp các nước đang

phát triển thực hiện cải cách kế toán trên cơ sở dồn tích cụ thể như sau: AC (ps) = f

(MC + PBS + PAS + CS + WC + CC + BAC + SAI + + ITC + IFS) 8

Nghiên cứu của Sour (2012) cho thấy hơn một nửa dân số Mexico sống trong

nghèo đói và phải đối mặt với tình trạng thiếu hụt nghiêm trọng các dịch vụ công

cộng Hệ thống kế toán tài chính “mong manh” đã gây ra sự thiếu hụt các nguồn tài

nguyên phục vụ cho khu vực công, trong quá khứ nguồn thu NSNN không đủ cho

việc chi tiêu, cũng như giảm bớt sự bất bình đẳng ở Mexico Số liệu ngân sách chỉ

được ghi nhận qua một tài khoản duy nhất và những thông tin này không thể hiện

được chi phí hoạt động của đơn vị công Mexico không có số liệu rõ ràng để xác

định việc phân bổ các nguồn lực cho các chính sách tập trung vào việc xóa đói giảm

nghèo, cũng như không có dữ liệu dành cho những ai quan tâm để đánh giá hoạt

động đầu tư công và chất lượng chi tiêu công Vì những lý do trên năm 2012,

Mexico tiến hành cải cách Luật ngân sách thông qua ứng dụng các mô hình IPSAS

nhằm nâng cao tính minh bạch và trách nhiệm giải trình trong tất cả các cấp chính

quyền, đồng thời khắc phục sự thiếu hài hòa trong các thông tin kế toán ngân sách

tại Mexico Việc đánh giá tài chính các tài khoản công của liên bang và tiểu bang ở

8 Trong đó: Quản lý thay đổi văn hóa (MC); hỗ trợ chính trị (PBS);hỗtrợ học thuật (PAS); chiến lược truyền

thông (CS); động lực sẵn sàng thay đổi (WC); tư vấnvà điều phối (CC); NS và các chi phí cập nhật kế toán (BAC); các

vấn đề kế toán cụthể (SAI); nhất quán giữa NS và kế toán (ABC);năng lực công nghệ thông tin(ITC); hỗ trợ tài chính của

quốc tế (IFS)

Trang 21

Mexico dựa trên IPSAS 1, 2 và 17 do bản chất của nó tương ứng với mục tiêu của Luật ngân sách Mexico Nghiên cứu sử dụng chỉ số Herfindahl để phân tích đồng thời chỉ ra các nhân tố ảnh hưởng đến việc cải cách hệ thống kế toán công thông qua

mô hình IPSAS ở Mexico đó là chi phí thực hiện, hệ thống văn bản pháp luật, thói quen, cách thức quản lý hành chính và văn hóa của các đơn vị công

Đồng quan điểm với Sour (2012) về những lợi ích IPSAS mang lại khi thực hiện cải cách ngân sách là nâng cao trách nhiệm giải trình và minh bạch trong quản

lý tài chính, hỗ trợ các chính sách của Chính phủ, nghiên cứu của Gomes (2013) đã chỉ ra những hạn chế của hệ thống kế toán tiền mặt tại Malaysia Mặc dù phải đối mặt với những thách thức của việc thực hiện chuyển đổi sang IPSAS đó là hệ thống pháp lý, hệ thống thông tin, đào tạo nguồn nhân lực, Chính phủ Malaysia quyết định vận dụng IPSAS vào ngày 01/01/2015 là cơ sở cho việc từng bước xây dựng Malaysia trở thành nền kinh tế phát triển có thu nhập cao vào năm 2020

Bên cạnh việc đánh giá những lợi thế của IPSAS và mức độ vận dụng IPSAS tại các quốc gia nghiên cứu của Le Thi Nha Trang (2012) cũng đã chỉ ra những hạn chế ảnh hưởng đến việc vận dụng IPSAS tại Việt Nam đó là: kế toán ngân sách được thực hiện đồng thời bởi nhiều cơ quan (thuế, kho bạc, cơ quan tài chính, hải quan) do đó rất khó thu thập và tổng hợp dữ liệu về ngân sách quốc gia, thông tin; việc sử dụng cơ sở kế toán tiền mặt không thể đánh giá tình hình tài chính của NN; thiếu kế toán viên có trình độ và chuyên môn; hệ thống thông tin chưa đủ tốt để thực hiện IPSAS Nghiên cứu sử dụng phương pháp định tính với các công cụ nghiên cứu chủ yếu là phân tích dữ liệu và bảng câu hỏi tác giả đề xuất các giải pháp để cải thiện tình trạng trên gồm: từng bước áp dụng IPSAS theo cơ sở dồn tích, sửa đổi Luật ngân sách, đào tạo kế toán có trình độ lẫn chuyên môn cao, xây dựng, phát triển và nâng cấp hệ thống thông tin

Irina và Victoria (2013) khi thực hiện nghiên cứu về triển vọng thực hiện IPSAS tại Ukaraine nhận thấy hoạt động kế toán ngân sách tại đây có những hạn chế như: thiếu phương pháp tập trung; thông tin về tình hình tài chính của Nhà nước không được ghi nhận đầy đủ, chính xác; báo cáo ngân sách hợp nhất có nhiều thông

Trang 22

tin bị trùng lắp, tăng chi phí cho việc xử lý thông tin; quy trình làm việc thiếu hài

hòa, các đơn vị công sử dụng phần mềm kế toán không đồng nhất hoặc không sử

dụng khiến quá trình lập báo cáo ngân sách gặp khó khăn Ngày 16 tháng 1 năm

2007 Chính phủ Ukaraine đưa ra chiến lược hiện đại hóa hệ thống kế toán trong khu

vực công giai đoạn 2007-2017 với mục đích chính là cải cách hệ thống kế toán theo

hướng đáp ứng các yêu cầu của IPSAS Vấn đề chính của cải cách kế toán ngân

sách đó là Ukaraine cần phải: thay đổi hệ thống kế toán, xây dựng một hệ thống

thông tin hiện đại, tăng cường cơ chế kiểm soát ngân sách, đào tạo và bồi dưỡng

nguồn nhân lực

Việc cải cách hệ thống kế toán ngân sách và áp dụng IPSAS là hoàn toàn cần

thiết, nghiên cứu của Alshujairi (2014) cho thấyngân sách của Iraq và tất cả các

doanh nghiệp nhà nướcđược báo cáo trên cơ sở tiền mặt Sự thiếu hụt của hệ thống

thông tin tích hợp để quản lý tài chính dẫn đến có nhiều khác biệt trong việc hạch

toán ở các đơn vị công Trong nhiều thập kỷ, ngân sách quốc gia của Iraq đã bị chỉ

trích rộng rãi vì thiếu minh bạch, số liệu ngân sách không được công khai Ở Iraq tài

liệu về ngân sách chỉ sử dụng cho nội bộ chính phủ, việc phân bổ các nguồn lực

công và chi tiêu thực tế không được công khai rộng rãi, người dân không có quyền

tham gia thảo luận đưa ra ý kiến cho việc ban hành Luật Ngân sách Dựa trên dữ

liệu của Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) và Ngân hàng thế giới (WB) ước tính khoảng 65

tỷ đô la trái phép trời Iraq từ năm 2001 đến năm 2010, thực trạng tham nhũng, gian

lận, trốn thuế và rửa tiền đang tạo thành mối đe dọa cho chính phủ trong công cuộc

xây dựng đất nước Bằng việc áp dụng hợp lý các tiêu chuẩn IPSAS, hệ thống kế

toán ngân sách của Iraq sẽ cung cấp thông tin minh bạch, đảm bảo trách nhiệm hơn,

đồng thời giảm thiểu tham nhũng và đạt hiệu quả hơn so với phương pháp kế toán

tiền mặt truyền thống Ngoài ra, việc áp dụng IPSAS cũng sẽ mang lại thông tin tài

chính phù hợp, chuẩn hóa và có thể so sánh được Bằng phương pháp nghiên cứu

định tính sử dụng bảng câu hỏi gửi đến các nhà quản lý, Bộ Tài chính, Tổng Kiểm

Toán nhà nước Tác giả nhận định để thực hiện cải cách hệ thống kế toán chính phủ

Iraq cần thay đổi: thứ nhất, đó là Luật NSNN phải quy định rõ ràng về phân cấp

Trang 23

quản lý ngân sách Thứ hai, cần phải trao quyền tự chủ cho các đơn vị công Thêm nữa, những thách thức mà Iraq cần phải đối mặt đó là nguồn nhân lực thiếu trình độ chuyên môn và sự kém phát triển của hệ thống thông tin

Hệ thống chính trị mỗi quốc gia, cơ sở kế toán, trình độ nguồn nhân lực, hệ thống pháp lý và môi trường văn hóa của mỗi nước chính là các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình vận dụng IPSAS tại các nước liên minh Châu Âu (Sabrina Bellanca và Julien Vandernoot, 2014) Cuộc khủng hoảng nợ công năm 1999 do sự yếu kém của việc quản lý các quỹ công, tình hình tài chính, quy định chung về ngân sách, kiểm soát các khoản trợ cấp, đòi hỏi các nước thành viên của liên minh châu Âu (EU) phải cải cách khu vực công, xây dựng một mô hình kế toán mới Nghiên cứu cho rằng vận dụng IPSAS chính là công cụ cung cấp cái nhìn toàn diện, hỗ trợ cho việc giám sát ngân sách, báo cáo mức nợ và tình trạng thâm hụt của mỗi quốc gia, từ đó các nhà đầu tư cũng có thể so sánh và biết được hoạt động tài chính của chính phủ Ngay cả khi IPSAS không được áp dụng ở hầu hết các nước thành viên châu Âu, vẫn có một xu hướng sử dụng các hệ thống kế toán hiện đại dựa trên kế toán dồn tích gần IPSAS tồn tại

Bảng 1.1 Các công trình nghiên cứu trên thế giới

STT

Tên đề tài Tác giả Năm Phương pháp

nghiên cứu Các nhân tố rút ra từ các nghiên cứu

Cơ sở kế toán, hệ thống pháp luật, sự hỗ trợ chính trị và quản lý, các nguồn lực ngân sách và nhân lực, công nghệ thông tin, trình độ kế toán viên

2004

Phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh đối chiếu, hồi quy

Quản lý thay đổi văn hóa; hỗ trợ chính trị ;hỗtrợ học thuật; chiến lược truyền thông; động lực sẵn sàng thay đổi; tư vấnvà điều phối; ngân sách và các chi phí cập nhật kế toán ; các vấn đề kế toán cụthể; nhất quán giữa ngân sách và kế toán;năng lực công nghệ thông tin; hỗ trợ tài chính của quốc

tế

Trang 24

STT

Tên đề tài Tác giả Năm Phương pháp

nghiên cứu Các nhân tố rút ra từ các nghiên cứu

2010

Phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh

Quy định pháp luật, hạn chế về ngôn ngữ, nguồn tài trợ, hệ thống công nghệ thông tin, sự hỗ trợ từ

Giáo dục và đào tạo kế toán khu vực công, hệ thống công nghệ thông tin, hệ thống pháp luật của

mỗi quốc gia

Phương pháp phân tích, tổng hợp, chỉ số Herfindahl

Chi phí thực hiện, hệ thống văn bản pháp luật, thói quen, cách thức quản lý hành chính và văn

hóa của các đơn vị công

2012

Phương pháp phân tích, tổng hợp, hồi quy

Hệ thống pháp lý, cơ sở kế toán, trình độ kế toán

viên, hệ thống thông tin

Phương pháp phân tích, tổng hợp

Hệ thống pháp lý, hệ thống thông tin, cơ sở kế toán, đào tạo nguồn nhân lực

Trang 25

STT

Tên đề tài Tác giả Năm Phương pháp

nghiên cứu Các nhân tố rút ra từ các nghiên cứu

2013

Phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh

Hệ thống kế toán; hệ thống thông tin; cơ chế kiểm tra, giám sát; đào tạo và bồi dưỡng nguồn nhân

ns, Christop

he Vanhee, Francesc

a Manes- Rossi and Natalia Aversan

o

2013

Phương pháp tổng hợp, so sánh, hồi quy

Khác biệt về văn hóa, bối cảnh lịch sử hoặc đặc điểm hệ thống pháp luật của mỗi quốc gia

ri

2014

Phương pháp tổng hợp, so sánh, hồi quy

Hệ thống pháp luật, hệ thống thông tin, nguồn

Phương pháp phân tích, tổng hợp

Hệ thống chính trị mỗi quốc gia, cơ sở kế toán, trình độ nguồn nhân lực, hệ thống pháp lý và môi

trường văn hóa của mỗi nước

(Nguồn: Tác giả tự tổng hợp)

Tóm lại, nhìn chung các nghiên cứu trên thế giới tác giả nhận thấy nguyên nhân chủ yếu dẫn đến việc thực hiện cải cách kế toán ngân sách tại các quốc gia đó

Trang 26

là hệ thống quản lý tài chính hiện hành có nhiều hạn chế, tình trạng tham nhũng,

lạm phát, hoạt động tổ chức kế toán thiếu thống nhất, tình hình tài chính Nhà nước

không được ghi nhận đầy đủ, thiếu chính xác…Các quốc gia có xu hướng chuyển

dần sang cơ sở kế toán dồn tích hoặc xây dựng hệ thống kế toán mới dựa trên

IPSAS Các nhân tố ảnh hưởng đến việc thực hiện cải cách hệ thống kế toán ngân

sách theo các bài nghiên cứu là văn hóa, bối cảnh các quốc gia; hệ thống pháp luật;

cơ sở kế toán; sự hỗ trợ từ các nhà quản lý, chi phí thực hiện; hệ thống thông tin;

nguồn nhân lực và hoạt động kiểm tra, giám sát

1.2 Các nghiên cứu tại Việt Nam

1.2.1 Nghiên cứu về thực trạng kế toán ngân sách

Ở Việt Nam NSNN là thống nhất nhưng để phản ánh việc thu chi NSNN lại

có nhiều chế độ kế toán khác nhau dẫn đến sự cồng kềnh, trùng lặp trong việc xử lý,

cung cấp thông tin và tổng hợp báo cáo thu, chi NSNN (Phạm Văn Đăng, 2005) Cụ

thể, về mặt kỹ thuật nghiệp vụ cùng là kế toán ngân sách nhưng cấu trúc của hệ

thống kế toán tại cơ quan thu chi ngân sách và đơn vị sử dụng ngân sách lại không

đồng nhất Các chế độ kế toán hiện hành chỉ quan tâm đến việc ghi chép kế toán

thu, chi quỹ ngân sách, sử dụng kinh phí ngân sách ở đơn vị thụ hưởng mà không

quan tâm đến hiệu quả hoạt động của tổ chức nên chưa giúp được các nhà quản lý

so sánh được chi phí thực tế bỏ ra với kết quả đạt được

Bên cạnh đó, kế toán NSNN Việt Nam có quá nhiều điểm khác biệt với

IPSAS như: quy định việc lập báo cáo quyết toán NSNN nhưng chưa xác lập được

nội dung, mẫu biểu và phương pháp hợp nhất Báo cáo tài chính (BCTC) Chính phủ;

các đơn vị kế toán Việt Nam đang áp dụng các cơ sở kế toán khác nhau (đơn vị thu

– chi ngân sách áp dụng cơ sở kế toán tiền mặt có điều chỉnh, đơn vị HCSN áp dụng

cơ sở kế toán dồn tích có điều chỉnh), thông tin đầu ra của kế toán Nhà nước mới

chỉ dừng lại quy định lập BCTC ở cấp đơn vị và có tổng hợp BCTC theo từng cấp

ngân sách phục vụ cho việc quyết toán kinh phí tại đơn vị, chưa có quy định về

BCTC hợp nhất, số lượng báo cáo phải lập là quá nhiều (đơn vị thu – chi ngân sách

phải lập 28 báo cáo) (Phạm Văn Đăng, 2007)

Trang 27

Ngoài ra, kế toán ngân sách và kế toán tài chính vẫn còn lẫn lộn và không được phối hợp tốt trong hệ thống kế toán công, công tác kế toán ngân sách chưa tập trung và thống nhất về tổ chức, phạm vi nội dung và phương pháp kế toán (Nguyễn Đăng Huy, 2008) Việc tổng hợp số liệu thu chi ngân sách giữa các đơn vị công chưa đáp ứng được yêu cầu phân tích dữ liệu cho mục đích quản lý ngân sách bởi nhiều nguyên nhân như: các quy định và các hướng dẫn liên quan quá phức tạp; thiếu hụt cơ sở hạ tầng và nguồn lực hạn chế về kinh nghiệm cùng với yêu cầu báo cáo tập trung quá nhiều chi tiết gây ra đình trệ và thiếu chính xác dữ liệu

Nghiên cứu của Đoàn Ngọc Xuân (2012) cũng đã chỉ ra một số bất cập tồn tại của pháp luật về NSNN hiện hành đó là: quy định về lập, phân bổ giao dự toán chưa phù hợp với yêu cầu công tác NSNN; các điều kiện về phân cấp quản lý ngân sách chưa phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; một số quy định chưa phù hợp (nguồn thu, nhiệm vụ chi chưa bao quát đầy đủ vào cân đối NSNN; chuyển nguồn, tạm ứng ngân sách, xử lý kết dư ngân sách, công tác kế toán

và quyết toán NSNN), thiếu kịp thời ban hành, sửa đổi định mức chi tiêu làm ảnh hưởng đến công tác lập, chấp hành sử dụng NSNN, quy định về kiểm tra, thanh tra, kiểm toán nhà nước chưa rõ ràng dẫn đến công tác kiểm tra, giám sát chưa hiệu quả vai trò của KBNN, kiểm toán nhà nước chưa được phát huy trong việc kiểm tra chi tiêu ngân sách (Phạm Quang Huy, 2012) Thông tin về ngân sách chưa đảm bảo tính kịp thời, việc tập hợp dữ liệu về NSNN trong cả nước vẫn còn chậm và nhiều khó khăn do chưa có sự thống nhất, chế độ kế toán của các đơn vị nhà nước chưa đồng

bộ, các khoản thu, chi ngân sách chưa đúng bản chất, chưa có sự tiếp thu kinh nghiệm và áp dụng các chuẩn mực trên thế giới (Đinh Thị Nga và Nguyễn Thị Thu Thủy, 2013) Thông tin về NSNN cũng chưa đảm bảo tính công khai, dễ tiếp cận, còn mang nặng tính hình thức Việc quản lý NSNN tập trung dẫn đến cơ chế xin – cho, tiêu cực, cơ chế phân chia khoản thu giữa các cấp NS nhiều khi chưa tạo động lực thực sự cho ngân sách cấp dưới chăm lo quản lý nguồn thu (Nguyễn Ngọc Hiệu, 2015)

Trang 28

1.2.2 Nghiên cứu về sự cần thiết và những lợi ích mang lại khi vận dụng

IPSAS

Hệ thống chế độ kế toán NSNN hiện nay chưa được nâng tầm là chuẩn mực

mà chỉ dừng lại ở chế độ quy tắc, quy định và còn tản mát ở nhiều văn bản khác

nhau, thiếu tập trung và thiếu thống nhất (Đặng Văn Thanh, 2007) Việc đưa kế toán

nhà nước tiếp cận với các IPSAS là xu hướng tất yếu phải thực hiện khi mà “Hiện

tại có không ít quy định của Luật Ngân sách và cơ chế tài chính không phù hợp với

chuẩn mực kế toán công quốc tế” (Phạm Xuân Lực, 2009)

Việc áp dụng IPSAS sẽ mang lại nhiều lợi ích như thuận lợi cho việc công

khai, minh bạch, hợp nhất BCTC, dựa vào đó Chính phủ có được cái nhìn tổng quát,

toàn diện liên quan tài sản có, tài sản nợ mang tính chất trọng yếu của quốc gia,

giúp nâng cao hiệu quả quản lý NSNN, hỗ trợ việc ra quyết định điều hành Tuy

nhiên, vận dụng IPSAS vào hệ thống kế toán của một quốc gia không phải là một

công việc đơn giản, quá trình chuyển đổi này cần phải có thời gian, cần được tổ

chức nghiên cứu sâu đồng thời vận dụng kinh nghiệm áp dụng và triển khai IPSAS

từ các quốc gia trên thế giới (Vũ Đức Chính, 2015)

1.2.3 Nghiên cứu về những nhân tố ảnh hưởng và giải pháp thực hiệnkế toán

ngân sách

Để xây dựng một hệ thống kế toán NSNN thống nhất, vừa đáp ứng thông lệ

quốc tế, vừa phù hợp với thực trạng nền kinh tế Việt Nam, Phạm Văn Đăng (2005)

đề xuất các giải pháp như: xác định rõ phạm vi áp dụng của chế độ kế toán NSNN;

xây dựng chế độ kế toán NSNN vừa theo nguyên tắc tiền mặt, vừa theo nguyên tắc

dồn tích có điều chỉnh; xóa bỏ việc hạch toán các nghiệp vụ trùng trong các chế độ

kế toán công hiện hành, đưa ứng dụng tin học vào quản lý NSNN

Trên cơ sở hệ thống hóa các đặc điểm, giai đoạn phát triển của hệ thống kế

toán NSNN Việt Nam, đồng thời so sánh những điểm giống nhau và khác biệt giữa

kế toán NSNN Việt Nam và các quốc gia trên thế giới, luận án của Nguyễn Văn

Hồng (2007) đã chỉ ra các nhân tố ảnh hưởng đến cải cách kế toán NSNN Việt Nam

đó là: cơ sở pháp lý (luật NSNN, luật kế toán và chuẩn mực kế toán), cơ cấu tổ chức

Trang 29

và hoạt động của Bộ máy Nhà nước, sự hình thành và phát triển của các đơn vị thực hiện kế toán Nhà nước, cơ chế thị trường, hội nhập quốc tế, hệ thống công nghệ thông tin Luận án đã đưa ra những kiến nghị để thực hiệnkế toán NSNN như: từng bước áp dụng cơ sở kế toán dồn tích, thiết kế hệ thống thông tin trao đổi toàn diện, đào tạo đội ngũ cán bộ kế toán, xây dựng mô hình Tổng kế toán Nhà nước

Đồng quan điểm với tác giả Nguyễn Văn Hồng (2007), Phạm Văn Đăng cũng cho rằng cần thiết xây dựng một chuẩn mực kế toán công trên cơ sở IPSAS, cụ thể là tổ chức nghiên cứu, sửa đổi Luật NSNN và các văn bản quy định cơ chế tài chính cho các đơn vị thuộc lĩnh vực công để tiến tới hài hòa giữa kế toán NSNN Việt Nam với IPSAS Bên cạnh đó, cần xem xét và tổ chức lại nhu cầu về báo BCTC của các đơn vị công; xây dựng nhận thức cho đội ngũ kế toán viên; thành lập ủy ban nghiên cứu IPSAS và lộ trình áp dụng IPSAS thực hiện từng bước một (Nguyễn Đăng Huy, 2008)

Ngoài ra, để đảm bảo mô hình Tổng kế toán Nhà nước hiệu quả, thống nhất trong quản lý tài chính, phân công và phân cấp, công khai minh bạch thì cần tập trung các giải pháp về: cơ chế quản lý; tổ chức bộ máy và nhân sự; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát; đồng bộ hệ thống kế toán nhà nước thông qua việc áp dụng phương pháp kế toán dồn tích song song với phương pháp kế toán tiền mặt tại tất cả các đơn vị kế toán nhà nước; phát triển công nghệ thông tin (Lê Đức Hoàng, 2011)

Bên cạnh đó, việc ghi chép các khoản thu, chi ngân sách phải hướng đến vận dụng IPSAS cụ thể: xác định các hạn chế của quy trình lập dự toán, thành lập một tổ chức bao gồm các chuyên gia nghiên cứu sâu về mô hình quản trị tài chính công quốc tế vận dụng phù hợp cho Việt Nam, nâng cao trình độ của người thực hiện công việc kế toán ngân sách, báo cáo cung cấp thông tin theo hướng chuẩn mực quốc tế, cải thiện cơ chế kiểm tra, giám sát (Phạm Quang Huy, 2012), phát triển hệ thống thông tin về thực hiện và quản lý ngân sách qua Tabmis ; ban hành Luật ngân sách mới (Đinh Thị Nga và Nguyễn Thị Thu Thủy, 2013) Quá trình thực hiệnkế toán ngân sách có thể chịu sự tác động của mộtsố nhân tố: hệ thống kế toán hiện tại

và cơ sở kế toán sử dụng, cơ chế quản lý tài chính khu vực công, hệ thống chính trị,

Trang 30

hệ thống pháp luật, hệ thống kinh tế, sự phát triển của xã hội (Phạm Quang Huy,

2014)

Và để Luật ngân sách mới đạt hiệu quả, đảm bảo hệ thống NSNN vận hành

thông suốt, chặt chẽ, từ kinh nghiệm của Hoa Kỳ Nguyễn Ngọc Hiệu (2015) đã đề

xuất các giải pháp: đảm bảo Quốc hội và HĐND các cấp thực hiện được đầy đủ

quyền lực của mình về NSNN mà Luật đã quy định; phân cấp ngân sách ở địa

phương cần tăng cường tự chủ, tự chịu trách nhiệm; lập dự toán ngân sách phải đảm

bảo chất lượng, khả năng và mức độ chi tiết của dự toán ngân sách được Quốc hội

và HĐND các cấp thông qua trong thời gian ngắn; công khai và giám sát ngân sách

của cộng đồng đảm bảo hiệu quả; đánh giá việc thực hiện chi tiêu công một cách

thường xuyên

Bảng 1.2 Các công trình nghiên cứu trong nước

STT Tên đề tài Tác giả Năm Phương pháp

nghiên cứu Các nhân tố rút ra từ các nghiên cứu

2005

Phương pháp phân tích, tổng hợp

Hệ thống pháp lý, cơ sở kế toán, hệ thống thông

2007

Phương pháp phân tích và tổng hợp, so sánh, đối chiếu, lịch sử

và logic, biện chứng duy vật, phát triển

Hệ thống pháp lý pháp lý (luật NSNN, luật kế toán và chuẩn mực kế toán), trình độ công nghệ

Phương pháp phân tích, tổng

Hệ thống pháp lý

Trang 31

STT Tên đề tài Tác giả Năm Phương pháp

nghiên cứu Các nhân tố rút ra từ các nghiên cứu

2008

Phương pháp phân tích, tổng hợp

Cơ sở hạ tầng, trình độ kế toán viên

Phương pháp phân tích, tổng hợp

Hoạt động kiểm tra, giám sát; cơ sở kế toán; hệ

2012

Phương pháp phân tích, tổng hợp Hệ thống pháp lý

2012

Phương pháp phân tích, tổng hợp Cơ sở kế toán

2013

Phương pháp phân tích, tổng hợp

Hệ thống pháp lý; cơ sở kế toán; hoạt động kiểm tra, giám sát; hệ thống thông tin

Trang 32

STT Tên đề tài Tác giả Năm Phương pháp

nghiên cứu Các nhân tố rút ra từ các nghiên cứu

2014

Phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh Hệ thống pháp lý

2014

Phương pháp phân tích nhân tố khám phá, phân tích tương quan, hồi quy

Hệ thống kế toán hiện tại, cơ sở kế toán sử dụng,

cơ chế quản lý tài chính khu vực công, hệ thống chính trị, hệ thống pháp lý, hệ thống kinh tế, sự

phát triển của xã hội

2015

Phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh Hoạt động kiểm tra, giám sát

Tóm lại, có thể thấy đa số các nghiên cứu tại Việt Nam đều nêu lên thực

trạng kế toán ngân sách, sự cần thiết khi ban hành chuẩn mực kế toán công dựa trên

IPSAS và các giải pháp để cải cách hệ thống kế toán ngân sách Các bài nghiên cứu

chủ yếu tập trung vào các nhân tố: cơ sở kế toán (chuyển từ cơ sở kế toán tiền mặt

sang cơ sở kế toán dồn tích), hệ thống pháp lý, trình độ kế toán viên, hệ thống thông

tin; hoạt động kiểm tra, giám sát; hệ thống chính trị; sự phát triển xã hội; cơ sở hạ

tầng

1.3 Nhận xét tổng quan các nghiên cứu và xác định khe hổng nghiên cứu

1.3.1 Nhận xét tổng quan các nghiên cứu trước

1.3.1.1 Đối với các nghiên cứu nước ngoài

- Các nghiên cứu đều gắn liền với nền kinh tế tại mỗi thời điểm, đa phần các

nghiên cứu được thực hiện tại nơi các tác giả sinh sống và làm việc

- Các nghiên cứu tập trung đánh giá những lợi ích và thách thức khi cải cách

hệ thống kế toán theo xu hướng vận dụng IPSAS, việc xác định các nhân tố ảnh

Trang 33

hưởng đến quá trình thực hiện chủ yếu là nghiên cứu định tính, chưa được thông qua khảo sát và kiểm định lại

1.3.1.2 Đối với các nghiên cứu trong nước

- Các nghiên cứu chủ yếu tập trung phân tích thực trạng khu vực công, hệ

thống kế toán ngân sách Việt Nam, những khó khăn và thách thức khi tiến hành cải cách hệ thống kế toán theo xu hướng vận dụng IPSAS

- Việc tìm hiểu các nhân tố ảnh hưởng đến việc thực hiệnkế toán ngân sách tại một địa phương cụ thể như tỉnh Long An là đề tài còn mới mẻ, hiện tại vẫn chưa

có nghiên cứu nào thực hiện

1.3.2 Khe hổng nghiên cứu

Nghiên cứu về cải cách hệ thống kế toán công cũng như việc kế toán NSNN cần áp dụng các IPSAS là nhu cầu cấp thiết cho sự phát triển kinh tế xã hội của quốc giavà là đề tài được nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới quan tâm, tiếp cận Tuy nhiên, đa phần các nghiên cứu được thực hiện tại những quốc gia có nền kinh tế phát triển, việc thực hiện nghiên cứu tại các nước đang phát triển mà cụ thể là Việt Nam chưa được nghiên cứu rộng rãi Các nghiên cứu thực hiện tại Việt Nam thì chỉ mang tính tổng quát, chưa đi sâu vào chi tiết, cụ thể Trên cơ sở kế thừa các nghiên cứu trên, tác giả lựa chọn nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến việc thực hiệnkế toán ngân sách tại các đơn vị KBNN trên địa bàn tỉnh Long An, đồng thời xây dựng

mô hình nghiên cứu và đo lường mức độ ảnh hưởng của các nhân tố, từ đó đưa ra các kiến nghị phù hợp

Trang 34

Kết luận chương 1

Trong chương này tác giả tổng hợp các nghiên cứu trong và ngoài nước có

liên quan đến đề tài, những kết quả đạt được cũng như những hạn chế, khía cạnh

chưa được nghiên cứu Theo dòng thời gian, nhờ kế thừa các nghiên cứu trước, các

nghiên cứu về sau ngày càng hoàn thiện hơn nội dung và ý nghĩa Dựa trên các

nghiên cứu trước, tác giả phân tích và xác định khe hổng nghiên cứu và sự cần thiết

khi thực hiện đề tài Trên cơ sở việc tổng quan các nghiên cứu, chương kế tiếp tác

giả sẽ trình bày cơ sở lý luận và các lý thuyết liên quan

Trang 35

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Cơ sở lý thuyết về kế toán ngân sách

2.1.1 Khái niệm và đặc điểm NSNN

Mặc dù được sử dụng rộng rãi trong đời sống kinh tế xã hội ở mọi quốc gia song định nghĩa về NSNN hiện nay lại chưa thống nhất, tùy theo trường phái và lĩnh vực nghiên cứu mà có các quan niệm khác nhau

Theo Philip E.Taylor (1953), NSNN là hoạt động tài chính chủ yếu của chính phủ, bao gồm các dữ liệu thu và chi trong một khoản thời gian tài khóa

Theo quan điểm kinh tế học cổ điển, NSNN là một bảng văn kiện tài chính của chính phủ được thiết lập hàng năm, mô tả các khoản thu và chi của Chính phủ

Theo từ điển bách khoa toàn thư của Nga, NSNN là bảng liệt kê các khoản thu, chi bằng tiền của nhà nước trong một giai đoạn nhất định

Theo Đinh Thị Nga và Nguyễn Thị Thu Thủy (2013), có rất nhiều quan niệm khác nhau về NSNN Ở nhiều quốc gia, NSNN được coi là một đạo luật tài chính cơ bản do quốc hội quyết định, thông qua đó các khoản thu, chi tài chính của nhà nước được thực hiện trong một niên khóa tài chính, NSNN có giá trị và địa vị pháp lý rất cao, tương đương với luật Thông qua NSNN có thể đánh giá được chính sách mà Chính phủ lựa chọn thực hiện

Theo Luật NSNN 2015 “ Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước được dự toán và thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định do

cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước”

Như vậy, có thể thấy có nhiều ý kiến khác nhau về định nghĩa NSNN Trong phạm vi nghiên cứu của bài viết này khái niệm NSNN được xem xét dưới góc độ kinh tế nên có thể hiểu NSNN là bảng dự toán các khoản thu, chi tiền tệ của một quốc gia, do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định thực hiện trong một khoản thời gian nhất định

Thu NSNN là quá trình huy động các nguồn lực tài chính, còn chi NSNN là quá trình sử dụng nguồn vốn, phân phối NSNN để thực hiện nhiệm vụ, chức năng

Trang 36

của Nhà nước Vì vậy, có thể nói về mặt hình thức hoạt động của nhà nước được thể

hiện thông qua thu, chi NSNN

Thu NSNN bao gồm: toàn bộ các khoản thu từ thuế, lệ phí; các khoản phí thu

từ các hoạt động dịch vụ do cơ quan nhà nước thực hiện, trường hợp được khoán chi

phí hoạt động thì được khấu trừ; các khoản phí thu từ các hoạt động dịch vụ do đơn

vị sự nghiệp công lập và doanh nghiệp nhà nước thực hiện nộp NSNN theo quy

định của pháp luật; các khoản viện trợ không hoàn lại của Chính phủ các nước, các

tổ chức, cá nhân ở ngoài nước cho Chính phủ Việt Nam và chính quyền địa phương;

các khoản thu khác theo quy định của pháp luật

Chi NSNN bao gồm: chi đầu tư phát triển; chi dự trữ quốc gia; chi thường

xuyên; chi trả nợ lãi; chi viện trợ; các khoản chi khác theo quy định của pháp luật

Đặc điểm NSNN: quy mô, tốc độ chất lượng phát triển của mỗi ngành, mỗi

vùng, địa phương sẽ quyết định các hình thức thu, chi NSNN và quy mô quỹ

NSNN; các quan hệ phân phối của NSNN chủ yếu dựa trên nguyên tắc không hoàn

trả một cách trực tiếp (tức là Nhà nước không mắc nợ khi thu và không hoàn trả khi

chi – trừ các khoản ngân sách cho vay); quản lý NSNN phải đảm bảo công khai,

minh bạch tránh thất thoát lãng phí; NSNN là một bảng dự toán thu chi, là cơ sở để

thực hiện các chính sách của Nhà nước Các cơ quan, đơn vị có trách nhiệm lập

NSNN và đề ra các thông số quan trọng có liên quan đến chính sách mà Nhà nước

phải thực hiện trong năm tài khóa tiếp theo

2.1.2 Khái niệm kế toán ngân sách

Theo Steiss và Nwagwu (2001), kế toán ngân sách cho phép so sánh các

khoản thu, chi thực tế ghi nhận trong năm tài chính với các khoản thu, chi ngân sách

mà cơ quan được cấp phát nhằm đánh giá kết quả hoạt động và thực hiện báo cáo

Theo Wascher (2008), mục đích chính của kế toán ngân sách là việc phân bổ

ngân sách cho cơ quan nhà nước sử dụng Hàng năm, cơ quan lập pháp hoặc Quốc

hội sẽ thông qua một ngân sách với số tiền cụ thể cho các cơ quan khác nhau Khi

cơ quan nhận được phải sử dụng các nguyên tắc kế toán để theo dõi chi tiêu

Trang 37

Theo Bergmann (2009), kế toán ngân sách là “cốt lõi” của kế toán toán khu vực công, cung cấp thông tin phục vụ nhu cầu của kiểm soát ngân sách, chịu trách nhiệm trình bày và báo cáo thực hiện ngân sách

Theo Đặng Thái Hùng (2011), NSNN là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước được thực hiện trong một năm đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt NSNN là phần quan trọng của thu nhập quốc gia trong năm tài chính, một bộ phận của cải xã hội được tập trung vào trong tay Nhà nước dưới hình thức cưỡng bức theo luật định hoặc tự nguyện và chi dùng cho các mục đích kinh tế, chính trị và

xã hội Về nguyên tắc mọi khoản thu của NSNN phải vào KBNN; mọi khoản chi của NSNN phải được cấp phát qua KBNN theo lệnh chi của cơ quan tài chính trên

cơ sở dự toán chi NSNN đã được phê duyệt Từ đó, kế toán ngân sách có ý nghĩa là công cụ quản lý, làm nhiệm vụ phản ánh tổng hợp và kiểm tra từng khoản thu, chi NSNN

Tóm lại, có thể thấy khái niệm kế toán ngân sách được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau nhưng điểm chung của các quan điểm trên kế toán ngân sách là một

hệ thống các nghiệp vụ kế toán như việc ghi nhận, xử lý, phân bổ ghi chép các khoản có tính chất NSNN hoặc do nhà nước cấp Dựa vào kế toán ngân sách, các nhà làm quản trị biết được thông tin về tình hình tài chính để ra quyết định phù hợp

2.1.3 Đối tượng của kế toán ngân sách

Theo Thông tư số 77/2017/TT-BTC ngày 28 tháng 07 năm 2017 đối tượng của kế toán ngân sách gồm:

+ Tiền và các khoản tương đương tiền;

+ Các khoản thu, chi NSNN theo các cấp ngân sách, các khoản thu, chi các quỹ tài chính khác của Nhà nước;

+ Các khoản vay và tình hình trả nợ vay của NSNN;

+ Các khoản thanh toán trong và ngoài hệ thống KBNN;

+ Tiền gửi của các đơn vị, tổ chức, cá nhân tại KBNN;

+ Các khoản kết dư NSNN các cấp;

+ Dự toán và phân bổ dự toán kinh phí các cấp;

Trang 38

+ Các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn và dài hạn;

+ Các loại tài sản của Nhà nước được quản lý tại KBNN

2.1.4 Nội dung của kế toán ngân sách và hoạt động KBNN

Theo Thông tư số 77/2017/TT-BTC ngày 28 tháng 07 năm 2017: Kế toán

NSNN và hoạt động nghiệp vụ KBNN là việc thu thập, xử lý, kiểm tra, giám sát,

phân tích và cung cấp thông tin một cách kịp thời, đầy đủ, chính xác, trung thực,

liên tục và có hệ thống về: Tình hình phân bổ dự toán kinh phí NSNN; Tình hình

thu, chi NSNN; Tình hình vay và trả nợ vay của NSNN; Các loại tài sản của nhà

nước do KBNN đang quản lý và các hoạt động nghiệp vụ KBNN

2.1.4 Nhiệm vụ của kế toán ngân sách và hoạt động KBNN

Theo Thông tư số 77/2017/TT-BTC ngày 28 tháng 07 năm 2017 nhiệm vụ của

kế toán ngân sách và hoạt động KBNN gồm:

+ Thu thập, ghi chép, xử lý và quản lý dữ liệu tập trung trong toàn hệ thống về

tình hình quản lý, phân bổ dự toán chi ngân sách các cấp; Tình hình thực hiện thu,

chi NSNN các cấp; Các khoản vay và tình hình trả nợ vay của NSNN; Các loại tài

sản do KBNN quản lý và các hoạt động nghiệp vụ KBNN

+ Kiểm soát việc chấp hành chế độ quản lý tài chính, chế độ thanh toán và các

chế độ, quy định khác của Nhà nước liên quan đến thu, chi NSNN, vay, trả nợ vay

của NSNN và hoạt động nghiệp vụ KBNN trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của

KBNN

+ Chấp hành chế độ BCTC, báo cáo quản trị theo quy định; Cung cấp đầy đủ,

kịp thời, chính xác các số liệu, thông tin kế toán cần thiết, theo yêu cầu về việc khai

thác thông tin, cơ sở dữ liệu kế toán trên TABMIS theo phân quyền và quy định

khai thác dữ liệu, trao đổi, cung cấp thông tin giữa các đơn vị trong ngành Tài chính

với các đơn vị liên quan theo quy định; Đảm bảo cung cấp kịp thời thông tin kế toán

phục vụ việc quản lý, điều hành, quyết toán NSNN, công tác quản lý nợ và điều

hành các hoạt động nghiệp vụ của các cơ quan tài chính và hệ thống KBNN

2.1.5 Phương pháp ghi chép và kỳ kế toán

Trang 39

Phương pháp ghi chép kế toán NSNN là phương pháp “ghi sổ kép” Phương pháp “ghi sổ đơn” được áp dụng trong từng trường hợp theo quy định cụ thể

Kỳ kế toán được áp dụng để khóa sổ kế toán và lập BCTC theo quy định gồm

Kỳ kế toán tháng (từ ngày 01 đến hết ngày cuối cùng của tháng -dương lịch) và kỳ

kế toán năm (niên độ kế toán- là khoảng thời gian được tính từ ngày 01/01 đến hết ngày 31/12 - dương lịch)

2.1.6 Đối tượng sử dụng thông tin kế toán ngân sách

2.1.6.1 Trong nước

Đối với cơ quan quản lý: thông tin do kế toán ngân sách cung cấp sẽ giúp cho

cơ quan quản lý đánh giá tình hình hoạt động, kiểm tra, giám sát, quản lý quá trình hình thành và sử dụng các nguồn lực tài chính trong đơn vị công từ đó có những quyết định phù hợp cho việc khai thác, phân bổ nguồn lực tài chính trong từng giai đoạn, thời kỳ

Đối với cơ quan giám sát và nhân dân: Luật NSNN mới tăng cường việc giám sát của Quốc hội và nhân dân, theo đó hoạt động thu, chi NSNN, các khoản nhân dân đóng góp, tình hình tài chính ngân sách, quá trình thông qua dự toán và quyết toán NSNN ngày càng được công khai, chi tiết Ngoài ra, Kiểm toán nhà nước, thanh tra chính phủ cũng thể hiện vai trò của mình nhằm gia tăng độ tin cậy của thông tin kế toán thông qua việc kiểm tra mức độ tuân thủ quy định pháp luật về thu, chi NSNN

2.1.6.2 Ngoài nước

Cùng với xu hướng hội nhập và hợp tác quốc tế nếu các số liệu, thông tin về tình hình tài chính, khả năng trả nợ của Nhà nước được cung cấp một cách tin cậy, đầy đủ, trung thực, có khả năng so sánh được giữa các quốc gia sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc vay nợ và nhận viện trợ từ các tổ chức nước ngoài Để đáp ứng yêu cầu đó, kế toán ngân sách giữa các đơn vị cần có sự thống nhất đồng thời từng bước vận dụng IPSAS

2.1.7 Ứng dụng công nghệ thông tin trong kế toán ngân sách

Trang 40

Hệ thống thông tin quản lý Ngân sách và Kho bạc (TABMIS - Treasury And

Budget Management Information System) là cấu phần quan trọng nhất trong Dự án

cải cách quản lý tài chính công của BTC Dựa trên việc thiết kế, xây dựng một hệ

thống thông tin theo công nghệ hiện đại phù hợp với đặc điểm NSNN Việt Nam,

mục tiêu chung của dự án này đó là nâng cao tính minh bạch trong công tác quản lý

tài chính công; hạn chế tiêu cực trong việc sử dụng ngân sách; đảm bảo an ninh tài

chính trong quá trình phát triển và hội nhập; hiện đại hóa công tác quản lý NSNN;

đẩy mạnh việc lưu trữ dữ liệu và khả năng lập báo cáo; tăng cường trách nhiệm

ngân sách của BTC

TABMIS được xây dựng, triển khai và vận hành tại các đơn vị kho bạc và

các cơ quan tài chính từ Trung ương địa phương Nhờ có Tabmis việc nhập dữ liệu,

xử lý thông tin và quản lý thông tin giữa các cơ quan được liên kết một cách chặt

chẽ, giúp các cơ quan thực hiện các chức năng, nhiệm vụ về quản lý, điều hành, kế

toán, báo cáo và quyết toán ngân sách Cụ thể, tất cả dữ liệu về thu, chi ngân sách

trong hệ thống Tabmis được được vào cùng một đầu mối và được chia sẻ, sử dụng

tùy theo nhu cầu của mỗi đơn vị

Hệ thống Tabmis vận hành dựa trên phần mềm Oracle (Oracle Public Sector

Financial Application - phần mềm ứng dụng về tài chính công) với các chức năng

và các phân hệ: phân bổ ngân sách, sổ cái, quản lý quỹ chi, cam kết chi, quản lý quỹ

thu, báo cáo

2.2 Một số vấn đề lý luận chung về KBNN và kế toán ngân sách tại các đơn vị

KBNN

2.2.1 Nhiệm vụ của KBNN về thực hiện kế toán ngân sách

Tổ chức hạch toán kế toán ngân sách, các quỹ và tài sản của Nhà nước được

giao quản lý, các khoản viện trợ, vay nợ, trả nợ của Chính phủ và chính quyền địa

phương; báo cáo tình hình thực hiện thu, chi NSNN cho cơ quan tài chính cùng cấp

và cơ quan nhà nước có liên quan; tổng hợp, lập quyết toán NSNN hàng năm trình

BTC

2.2.2 Nội dung và yêu cầu chứng từ kế toán ngân sách

Ngày đăng: 20/05/2018, 22:08

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w