Nội dung của dự án là thực hiện Hợp phần B và D với phương thức hoạt động là hỗ trợ đào tạo kỹ thuật canh tác lúa ba giảm ba tăng 3G3T, một phải năm giảm 1P5G cho hộ dân tham gia dự án v
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
-
NGUYỄN THỊ TRANG
SO SÁNH HIỆU QUẢ KINH TẾ TRỒNG LÚA CỦA
HỘ GIA ĐÌNH THAM GIA DỰ ÁN VNSAT VÀ HỘ GIA ĐÌNH SẢN XUẤT TỰ DO TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN GIỒNG RIỀNG TỈNH KIÊN GIANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2017
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
-
NGUYỄN THỊ TRANG
SO SÁNH HIỆU QUẢ KINH TẾ TRỒNG LÚA CỦA
HỘ GIA ĐÌNH THAM GIA DỰ ÁN VNSAT VÀ HỘ GIA ĐÌNH SẢN XUẤT TỰ DO TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN GIỒNG RIỀNG TỈNH KIÊN GIANG
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 60340410 LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS TS TRẦN TIẾN KHAI
TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi tên: Nguyễn Thị Trang, là sinh viên lớp Cao học quản lý kinh tế Kiên Giang khóa 26 Niên khóa 2016 - 2018, chuyên ngành Quản lý kinh tế Tôi xin cam đoan đề tài luận văn “So sánh hiệu quả kinh tế trồng lúa của hộ gia đình tham gia dự án VnSAT và hộ gia đình sản xuất tự do trên địa bàn huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang” là kết quả của cá nhân Tôi nghiên cứu thực tế vào năm
2017
Các số liệu phân tích trong luận văn được thu thập các nông hộ trồng lúa
có tham gia dự án VnSAT và sản xuất tự do trên 3 xã ở huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang ở hai vụ Đông Xuân 2016-2017, vụ Hè Thu 2017 Kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn này là quá trình nghiên cứu của cá nhân Tôi dưới sự giúp đỡ tận tình của giáo viên hướng dẫn là PGS TS Trần Tiến Khai
Tôi xin cam kết và chịu trách nhiệm về lời cam đoan của mình
TP Hồ Chí Minh, ngày 15 tháng 12 năm 2017
Học viên thực hiện
Nguyễn Thị Trang
Trang 4MỤC LỤC
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1
1 1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 4
1.2.1 Mục tiêu chung 4
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 4
1.3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU 4
1.4 PHẠM VI, ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU, THU THẬP SỐ LIỆU 5
1.4.1 Phạm vi nghiên cứu 5
1.4.2 Đối tượng nghiên cứu 5
1.4.3 Thu thập số liệu 5
1.5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 6
1.6 KẾT CẤU LUẬN VĂN 6
CHƯƠNG 2:CƠ SỞ LÝ THUYẾT 7
2.1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM LIÊN QUAN 7
2.1.1 Khái niệm về hộ, hộ nông dân, kinh tế hộ nông dân: 7
2.1.2 Hiệu quả kinh tế - xã hội, hiệu quả môi trường 8
2.2 LÝ THUYẾT VỀ KINH TẾ HỌC SẢN XUẤT 10
2.2.1 Hành vi ra quyết định của nông hộ trong sản xuất 10
Trang 52.2.2 Hành vi tối đa hóa sản lượng và hàm sản xuất 12
2.2.3 Hành vi tối thiểu hóa chi phí và hàm chi phí 13
2.2.4 Hành vi tối đa hóa lợi nhuận và hàm lợi nhuận 14
2.3 CÁC YẾU TỐ TỰ NHIÊN VÀ KINH TẾ - XÃ HỘI ẢNH HƯỞNG ĐẾN SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP 15
2.3.1 Các yếu tố thuộc về điều kiện tự nhiên 16
2.3.2 Các yếu tố thuộc về điều kiện kinh tế - xã hội 17
2.4 CÁC MÔ HÌNH CỦA DỰ ÁN 18
2.4.1 Mô hình 3 giảm 3 tăng 18
2.4.1.1 Lịch sử chương trình 3 giảm 3 tăng: 18
2.4.1.2 Nội dung chương trình 3 giảm 3 tăng là: 21
2.4.2 Mô hình 1 phải 5 giảm 22
2.4.3 Mô hình cánh đồng mẫu lớn 23
2.5 CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC 23
2.5.1 Các nghiên cứu ngoài nước 23
2.5.2 Các nghiên cứu trong nước 27
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 29
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30
3.1 DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU 30
3.1.1 Dữ liệu thứ cấp 30
3.1.2 Dữ liệu sơ cấp 30
3.2 PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH SỐ LIỆU 32
3.2.1 Quy trình sàng lọc và xử lý dữ liệu 33
3.2.2 Phân tích thống kê mô tả 33
3.2.3 Phương pháp phân tích dữ liệu 33
3.2.4 Phân tích định lượng 34
Trang 63.2.4.1 Thực hiện các kiểm định so sánh giữa tham gia dự án và sản xuất tự do 34
3.2.4.2 Đánh giá tác động của việc tham gia sản xuất trong và ngoài dự án theo phương pháp so sánh điểm xu hướng (PSM) 35
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 36
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 37
4.1 TỔNG QUAN VỀ HUYỆN GIỒNG RIỀNG 37
4.1.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội 37
4.1.2 Tình hình sản xuất lúa của huyện 38
4.2 CÁC HOẠT ĐỘNG CỦA DỰ ÁN VnSAT 40
4.2.1 Mục tiêu chung của dự án: 40
4.2.2 Mục tiêu cụ thể: 40
4.2.2.1 Hợp phần B: Hỗ trợ phát triển lúa gạo bền vững: 40
4.2.2.2 Hợp phần D: Quản lý dự án 42
4.3 THỐNG KÊ MÔ TẢ MẪU KHẢO SÁT 42
4.3.1 Đặc điểm chủ hộ 42
4.3.2 Đặc điểm hộ gia đình 44
4.3.3 Nhận thức về môi trường và hiệu quả về mặt xã hội 46
4.4 THỰC HIỆN CÁC KIỂM ĐỊNH SO SÁNH GIỮA HỘ THAM GIA DỰ ÁN VÀ HỘ SXTD 48
4.4.1 Kiểm tra sự tương đồng giữa hai nhóm 49
4.4.2 So sánh các khoản mục ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế của hộ trong dự án và hộ SXTD 50
4.4.2.1 So sánh các khoản mục chi phí đầu vào 50
4.4.2.2 So sánh lượng vật chất đầu vào, năng suất của nhóm hộ trong dự án và ngoài dự án 52
4.4.2.2 So sánh lượng vật chất đầu vào, năng suất của hai nhóm hộ 54
4.4.2.3 So sánh hiệu quả kinh tế trong và ngoài mô hình 55
4.4.3 Đánh giá tác động của việc tham gia dự án đến hiệu quả sản xuất lúa (kết quả mô hình PSM) 57
Trang 74.4.3.1 So sánh các khoản mục chi phícủa dự án VnSAT và SXTD 58
4.4.3.2 So sánh hiệu quả sản xuất lúa của dự án VnSAT và SXTD 59
KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 62
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ CHÍNH SÁCH 63
5.1 KẾT LUẬN 63
5.2 HÀM Ý CHÍNH SÁCH 68
5.2.1 Đối với tỉnh Kiên Giang 68
5.2.2 Đối với Dự án VnSAT: 68
5.2.3 Đối với UBND huyện Giồng Riềng 69
5.2.4 Đối với hộ nông dân 70
TÓM TẮT LUẬN VĂN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
BẢNG CÂU HỎI
PHỤ LỤC SỐ LIỆU
Trang 9Bảng 4.2.3 Nhận thức về môi trường và hiệu quả về mặt xã hội 48 Bảng 4.3.1 So sánh sự tương đồng của hai nhóm hộ 49 Bảng 4.3.2.1 So sánh chi phí đầu vào trong sản xuất lúa của hai nhóm hộ 51 Bảng 4.3.2.2 So sánh lượng vật chất đầu vào của hộ trong và ngoài
Bảng 4.3.2.3 Hiệu quả kinh tế giữa hộ trong dự án và hộ SXTD 57 Bảng 4.3.3.1.So sánh các khoản mục chi phícủa dự án VnSAT và SXTD 59 Bảng 4.3.3.2 So sánh hiệu quả sản xuất lúa của dự án VnSAT và SXTD 61
Trang 10TÓM TẮT LUẬN VĂN
Những năm gần đây, tình hình biến đổi khí hậu đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống, sản xuất của nông dân Hiện tượng hạn hán, lũ lụt, xâm nhập mặn… ngày càng diễn biến phức tạp Biến đổi khí hậu đã tác động đến việc thâm canh, tăng vụ, năng suất, sản lượng; thay đổi cơ cấu mùa vụ, quy hoạch vùng, giống-cây trồng, dịch hại.Bên cạnh đó, tập quán sản xuất truyền thống của người nông dân thường xuyên lạm dụngphân bón hóa học, thuốc bảo vệ thực vật…đã tạo điều kiện cho nhiều loài dịch hại bộc phát, làm giảm năng suất, chất lượng nông sản gây ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của người dân và ô nhiễm môi trường.Chính vì thế, việc hỗ trợ kỹ thuật sản xuất lúa, lựa chọn giải pháp canh tác thông minh để giúp nông dân thích nghi với diễn biến cực đoan của thời tiết là vấn đề hết sức quan trọng và cần thiết
Đứng trước những thực trạng và yêu cầu bức thiết trên, dự án VnSAT (Dự
án chuyển đổi nông nghiệp bền vững) ra đời nhằm giúp nông dân ứng dụng các biện pháp kỹ thuật tiên tiến vào đồng ruộng như: 3 giảm3 tăng, 1 phải5 giảm, IPM…với mục đích giảm chí phí sản xuất, tăng lợi nhuận, tăng tính cạnh tranh lúa gạo và định hướng lâu dài nền sản xuất theo hướng bền vững
Bằng phương pháp thuận tiện, tác giả chọn mẫu khảo sát 160 hộ để phục
vụ việc so sánh hiệu quả sản xuất lúa của hai mô hình, (1) là sản xuất theo các
mô hình của dự án gồm 60 hộ và (2) là sản xuất theo phương thức tự do gồm 100
hộ
Tác giả Thống kê mô tả các chỉ tiêu đặc điểm chủ hộ gồm giới tính chủ
hộ, dân tộc chủ hộ, tuổi chủ hộ, tham gia mô hình và chỉ tiêu đặc điểm hộ gia đình gồm quy mô hộ gia đình, thu nhập và chi tiêu hộ gia đình, diện tích sản xuất, kinh nghiệm sản xuất, trung bình thành viên trong độ tuổi lao động, trung bình thành viên tham gia trồng lúa Qua kiểm định trung bình các chỉ tiêu trên với mức ý nghĩa 1% cho thấy không có sự khác biệt giữa hai nhóm hộ
Trang 11Tác giả mô tả các khoản chi phí sản xuất gồm chi phí giống, chí phí phân bón, chi phí thuốc, chi phí lao động (làm đất, ngâm ủ, gieo sạ, dặm lúa, làm cỏ, bón phân, bơm nước, phun thuốc,thăm đồng, chi phí lao động khác), chi phí khác (chi phí nhiên liệu, chi phí khấu hao, chi phí thu hoạch) của hai mô hình.Qua phân tích các khoản chi phí cho thấy, chi phí sản xuất theo dự án thấp hơn so với SXTD ngoại trừ chi phí khác cao hơn nhưng không đáng là bao
Để đánh giá được hiệu quả kinh tế, tác giả sử dụng phương pháp kiểm định trung bình hai mẫu độc lập các chỉ tiêu tổng chi phí, tổng doanh thu, lợi nhuận, tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu, tỷ suất lợi nhuận trên chi phí của hai nhóm hộ cho thấy các chênh lệch đều có ý nghĩa thống kê Điều này chứng minh rằng hộ tham gia dự án sản xuất có hiệu quả hơn hộ sản xuất tự do
Trang 12CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU
1 1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Kiên Giang là tỉnh trọng điểm sản xuất lúa ở ĐBSCL Hàng năm Kiên Giang đóng góp sản lượng lúa gạo đáng kể cho quốc gia, cụ thể: năm 2010 với tổng diện tích gieo trồng lúa 642.625 ha, năng suất bình quân đạt 5,44 tấn/ha, sản lượng cả năm 3.497.053 tấn; năm 2011 với diện tích gieo trồng lúa 686.924 ha, năng suất bình quân đạt 5,71 tấn/ha, sản lượng cả năm 3.921.149 tấn; năm2012 với diện tích gieo sạ 725.127ha, năng suất bình quân 5,91 tấn/ha, sản lượng cả năm 4.287.175 tấn; năm 2013 với diện tích gieo trồng 770.379 ha, năng suất bình quân 5,8 tấn/ha, sản lượng 4.471.817 tấn; năm 2014 với diện tích gieo trồng lúa
cả năm là 754.211 ha, năng suất bình quân 6,0 tấn/ha, sản lượng 4.522.485 tấn; năm 2015 với diện tích gieo trồng 769.464 ha, năng suất bình quân 6,03 tấn/ha, sản lượng đạt 4.640.373 tấn (Sở Nông nghiệp &PTNT Kiên Giang 2015)
Tuy nhiên, thành tích về hiệu quả kinh tế, chất lượng lúa gạo không ấn tượng như thành tích về năng suất Hầu hết lúa gạo của ta bán ra đều thấp hơn giá các nước khác do còn thua kém về chất lượng và một số nguyên nhân khác Lợi nhuận của nông dân không là bao do chi phí sản xuất cao và chất lượng hạt gạo chưa thật tốt, môi trường nước, đất nông nghiệp thì ngày càng nguy hại
Hiện nay theo tập quán sản xuất nông dân thường sử dụng lượng giống gieo sạ còn quá cao Tập quán này không những tăng chi phí tiền giống mà mật
độ cây lúa dày nên cần nhiều chất dinh dưỡng, phải bón thêm phân, dễ làm phát sinh sâu bệnh trên ruộng lúa, tăng thêm số lần phun xịt thuốc Với quan niệm sạ thật dầy, bón thật nhiều phân đạm thì mới đủ số chồi để đạt được năng suất làm cho tình hình dịch hại ngày càng gia tăng Vì nóng lòng cho ruộng lúa của mình
mà nông dân đổ vào đồng ruộng một lượng thuốc hoá học ngày càng nhiều với hi vọng là sẽ tiêu diệt hết dịch hoạ Một sự thật hiển nhiên là nơi nào người nông dân phun nhiều thuốc trừ sâu, bệnh càng nhiều thì nơi ấy dịch hại ngày càng phát
Trang 13triển một nhiều thêm và những nơi ấy môi trường nước, đất ngày càng bị ô nhiễm (Võ Tòng Xuân, 1993)
Báo cáo của Ngân hàng Thế giới (WB) năm 2016 khẳng định tăng trưởng sản lượng nông nghiệp Việt Nam đạt được nhờ sử dụng ngày càng nhiều đầu vào với chi phí lớn hơn về môi trường Phần lớn tăng trưởng nông nghiệp Việt Nam cho đến nay dựa vào mở rộng sản xuất hoặc tăng cường sử dụng đất và các tài nguyên thiên nhiên khác, cũng như sử dụng khá nhiều phân bón và các hóa chất khác trong nông nghiệp Do đó, tăng trưởng nông nghiệp cũng đi kèm tác động xấu về môi trường như phá rừng, hủy hoại nguồn lợi thủy sản, suy thoái đất và ô nhiễm nước Nói cách khác, tăng trưởng nông nghiệp Việt Nam dựa khá nhiều vào sức lao động, tài nguyên thiên nhiên và hóa chất trong sản xuất Một số vấn
đề môi trường hiện đang ảnh hưởng xấu đến cả năng suất lao động và vị thế quốc
tế, sức cạnh tranh của nông sản Việt Nam
Nhằm tạo lập một nền nông nghiệp phát triển bền vững, ngày 29/5/2015
Bộ Nông nghiệp và PTNT đã ban hành Quyết định số 1992/QĐ-BNN-HTQT về Phê duyệt Báo cáo nghiên cứu khả thi Dự án “Chuyển đổi nông nghiệp bền vững tại Việt Nam” vay vốn Ngân hàng Thế giới (WB) Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn là cơ quan chủ quản, dự án được thực hiện từ năm 2015 đến năm 2020 với tổng vốn đầu tư là 6.472 tỷ đồng, với cơ cấu vốn ODA vay của Ngân hàng Thế giới (IDA) (chiếm 78,8%), vốn đối ứng của Chính phủ (9,6%) và vốn tư nhân (11,6%) Dự án đưa ra 3 mục tiêu: kinh tế, xã hội, môi trường Nội dung của dự án gồm 04 hợp phần: (1) Hợp phần A: tăng cường năng lực thể chế thực hiện tái cơ cấu ngành nông nghiệp gồm có 7 tỉnh lựa chọn thí điểm tái cơ cấu là Vĩnh Phúc, Nam Định, Thanh Hóa, Hà Tĩnh, Bình Định, Đồng Tháp, Lâm Đồng, (2) Hợp phần B: hỗ trợ phát triển lúa gạo bền vững gồm có 8 tỉnh vùng đồng bằng sông Cửu Long là An Giang, Cần Thơ, Đồng Tháp, Hậu Giang, Kiên Giang, Long An, Sóc Trăng, Tiền Giang; (3) Hợp phần C: phát triển cà phê bền vững gồm có 5 tỉnh vùng Tây Nguyên là Đắk Lắk, Đắk Nông, Gia Lai, Kon Tum, Lâm Đồng; (4) Hợp phần D: quản lý dự án và giám sát đánh giá
Trang 14Kiên Giang tham gia thực hiện dự án trên địa bàn 16 xã của 05 huyện trọng điểm Tổng vốn dự án là 14,579 triệu USD tương đương là 313,449 tỷ đồng, trong đó: vốn vay Ngân hàng Thế Giới (ODA) 202,229 tỷ đồng, vốn đối ứng ngân sách tỉnh 37,023 tỷ đồng, vốn nông dân hưởng lợi từ dự án là 74,197 tỷ đồng Thời gian thực hiện từ năm 2015-2020 Dự án có 04 mục tiêu cụ thể: (1) số
hộ nông dân hưởng lợi từ dự án là 14.446 hộ với tổng diện tích là 29.556 ha, 46 Hợp tác xã (HTX) trong đó có 20 HTX được hỗ trợ xây dựng và nâng cấp hạ tầng công phục vụ sản xuất; (2) có 75% diện tích tham gia dự án (22.170 ha) áp dụng thành công kỹ thuật canh tác 3 giảm 3 tăng (3G3T), có 50% diện tích (11.085 ha) áp dụng kỹ thuật 1 phải 5 giảm (1P5G) và tham gia cánh đồng lớn; (3) xây dựng cánh đồng lớn (10.000 ha) gắn với hợp đồng tiêu thụ sản phẩm với doanh nghiệp (DN); (4) thu nhập của nông dân trong vùng dự án tăng thêm 3,5-4,5 triệu đồng/ha Nội dung của dự án là thực hiện Hợp phần B và D với phương thức hoạt động là hỗ trợ đào tạo kỹ thuật canh tác lúa ba giảm ba tăng (3G3T), một phải năm giảm (1P5G) cho hộ dân tham gia dự án và xây dựng các mô hình trình diễn, các điểm thực hành VietGAP; xây dựng năng lực tổ chức nông dân;
hỗ trợ luân canh cây trồng, tận dụng sản phẩm phụ từ lúa gạo, sản xuất giống; thành lập Ban Quản lý Dự án, thuê một đội ngũ chuyên viên kỹ thuật chính để hỗ trợ quản lý và tư vấn kỹ thuật cho các Ban Quản lý Dự án tỉnh nhằm hỗ trợ và giúp đỡ cho Ban Quản lý Dự án tỉnh trong quản lý và thực hiện dự án Dự án cũng hỗ trợ thuê kiểm toán độc lập để tiến hành kiểm toán cho toàn dự án
Huyện Giồng Riềng nằm trong vùng Tây Sông Hậu thuộc tỉnh Kiên Giang nơi được mệnh danh vựa lúa của tỉnh, được thiên nhiên ưu đãi nhất là vụ Đông Xuân là vụ chủ lực trong năm Toàn huyện có 19 đơn vị hành chính, gồm 01 thị trấn và 18 xã Với diện tích tự nhiên 63.936 ha, trong đó đất sản xuất lúa 50.912
ha chiếm 79,63%; dân số 217.815 người, trong đó dân nông thôn 199.236 người chiếm 91,47% (theo số liệu của Chi cục Thống kê huyện Giồng Riềng năm 2016); là huyện có nguồn nước ngọt hầu như quanh năm rất thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt của nhân dân Với những thuận lợi trên, huyện
Trang 15được Ban quản lý dự án VnSAT Kiên Giang chọn 3 xã có cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp cao là: xã Thạnh Hưng với tỷ lệ đất nông nghiệp chiếm 84,77%, xã Ngọc Chúc với tỷ lệ đất nông nghiệp chiếm 90,52% và xã Hòa Hưng với tỷ lệ đất nông nghiệp chiếm 92,91% để tham gia dự án
Qua hơn 2 năm thực hiện dự án tại 03 xã với rất nhiều lớp tập huấn 3G3T, 1P5G, điểm trình diễn, tác giả chọn đề tài “So sánh hiệu quả kinh tế trồng lúa của
hộ gia đình tham gia dự án VnSAT và hộ gia đình sản xuất tự do trên địa bàn huyện Giồng Riềng tỉnh Kiên Giang” làm đề tài luận văn kết thúc khóa học Cao học quản lý kinh tế Mục tiêu của đề tài là so sánh hiệu quả sản xuất lúa của nông
hộ trong dự án và ngoài dự án Từ đó đánh giá được mức độ khả thi của dự án, đồng thời đề ra một số chính sách để khắc phục những hạn chế, khó khăn khi thực hiện dự án trong thời gian tới
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1.2.1 Mục tiêu chung
So sánh hiệu quả kinh tế của nông hộ trong vùng dự án so với ngoài vùng
dự án ở trên cùng địa bàn của huyện Giồng Riềng tỉnh Kiên Giang Đưa ra được những tác nhân làm tăng hiệu quả kinh tế từ đó giúp hộ nông dân lựa chọn phương thức canh tác lúa phù hợp, tham gia vào các hoạt động của dự án
1.3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
- Hộ tham gia Dự án VnSAT có giúp cải thiện năng suất và hiệu quả sản xuất lúa gạo của nông hộ hay không?
Trang 16- Thúc đẩy phát triển lúa gạo bền vững tại huyện Giồng Riềng tỉnh Kiên Giang như thế nào?
1.4 PHẠM VI, ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU, THU THẬP SỐ LIỆU 1.4.1 Phạm vi nghiên cứu
- Thời gian: thực hiện điều tra các nông hộ sản xuất vụ lúa Đông Xuân 2016-2017 và vụ Hè thu 2017, vụ Thu Đông không được xem xét vì có những hộ trồng lúa Thu Đông, có hộ không trồng Ngoài ra, khi khảo sát thì vụ Thu Đông chưa thu hoạch nên không có số liệu, vì vậy không tính vụ Thu Đông
- Không gian: địa điểm nghiên cứu thực hiện tại tại 03 xã tham gia dự án
là Thạnh Hưng, Ngọc Chúc, Hòa Hưng của huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang
- Nội dung: đề tài chú trọng nghiên cứu về hiệu quả kinh tế và kỹ thuật của việc canh tác lúa theo mô hình của VnSAT Hiệu quả xã hội là số nông dân tham gia dự án được tập huấn kỹ thuật canh tác khoa học, áp dụng biện pháp canh tác mới Hiệu quả môi trường chỉ được xem xét đánh giá trong phạm vi áp dụng kỹ thuật 3 giảm 3 tăng, cụ thể là giảm phân, thuốc BVTV, nước Đề tài không đánh giá các vấn đề liên quan đến khâu tiêu thụ, đồng thời không nghiên cứu thêm các vấn đề có liên quan trước và sau thời điểm nghiên cứu
1.4.2 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hiệu quả kinh tế trong sản xuất lúa của
hộ nông dân tham gia dự án VnSAT và hộ nông dân sản xuất tự do
1.4.3 Thu thập số liệu
Số liệu thứ cấp: từ Niên Giám thống kê tỉnh, sổ tay ghi chép tình hình sản xuất lúa, báo cáo kết quả điều tra chi phí sản xuất và giá thành lúa vụ Đông Xuân 2016-2017, các báo cáo tại các cuộc Hội nghị của tỉnh
Số liệu sơ cấp: từ phiếu điều tra các hộ nông dân Đề tài thu thập số liệu của của vụ lúa Đông Xuân 2016-2017, vụ Hè thu 2017 trong điều kiện dự án đã
Trang 17triển khai hoạt động hơn 2 năm khi các nông hộ trong dự án đã tiếp thu được phương pháp trồng lúa khoa học theo các chương trình tập huấn của dự án
1.5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Phương pháp nghiên cứu hồ sơ, tài liệu: tiến hành thu thập và phân tích những tài liệu có liên quan từ nhiều nguồn khác nhau
Phương pháp khảo sát bằng bảng câu hỏi: Bảng hỏi được xây dựng dựa trên sơ sở mô hình nghiên cứu của đề tài nhằm thu thập thông tin đưa vào phân tích và kiểm định các giả thuyết nghiên cứu
1.6 KẾT CẤU LUẬN VĂN
Bài luận văn gồm có 5 chương:
Chương 1 Giới thiệu nghiên cứu Trình bày tóm lược đặt vấn đề, câu hỏi nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, kết cấu của bài luận văn
Chương 2 Cơ sở lý thuyết Trình bày các cơ sở lý thuyết của bài luận văn
và tóm lược các nghiên cứu thực nghiệm có liên quan đến vấn đề nghiên cứu
Chương 3 Phương pháp nghiên cứu Chương này trình bày các vấn đề về phương pháp để thực hiện nghiên cứu, nguồn dữ liệu xây dựng mô hình nghiên cứu
Chương 4 Kết quả nghiên cứu Phân tích So sánh hiệu quả kinh tế sản xuất lúa giữa các hộ nông dân tham gia dự án với các hộ nông dân sản xuất tự do
ở 3 xã Thạnh Hưng, Hòa Hưng, Ngọc Chúc của huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang bằng phương pháp kiểm định t-test và phương pháp PSM
Chương 5 Kết luận và hàm ý chính sách Trình bày những kết quả đạt được của đề tài, gợi ý các chính sách nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất lúa khi thực hiện dự án, chỉ ra các hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo
Trang 18CHƯƠNG 2:CƠ SỞ LÝ THUYẾT
2.1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM LIÊN QUAN
2.1.1 Khái niệm về hộ, hộ nông dân, kinh tế hộ nông dân:
Theo Bài giảng Kinh tế nông hộ đưa ra khái niệm về hộ như sau:
Hộ là đơn vị cơ bản liên quan đến sản xuất, tái sản xuất đến tiêu dùng và các hoạt động khác
Hộ là những người có chung huyết tộc, có quan hệ mật thiết với nhau trong quá trình tạo ra sản phẩm để nuôi sống bản thân và cộng đồng
Hộ là một nhóm người có cùng chung huyết tộc hoặc không cùng chung huyết tộc ở trong một mái nhà và ăn chung một mâm cơm
Nhìn chung, quan niệm về hộ có những đặc điểm sau: chung hay không cùng chung huyết tộc, cùng chung sống dưới một mái nhà, cùng chung nguồn thu nhập, cùng ăn chung, cùng sản xuất chung
Quan niệm của Frank Ellis (1988) về hộ nông dân có thể tóm tắt như sau:
"Hộ nông dân là những hộ gia đình làm nông nghiệp (mặc dù các thành viên trong gia đình có thể tham gia vào nhiều hoạt động phi nông nghiệp) có đất đai, các tư liệu sản xuất thuộc sở hữu của hộ gia đình, có quyền sinh sống trên các mảnh đất đai của mình, sử dụng chủ yếu sức lao động gia đình Sản xuất của họ thường nằm trong hệ thống sản xuất lớn hơn và tham gia ở mức độ không hoàn hảo vào hoạt động của thị trường"
Theo Bài giảng kinh tế hộ và trang trại đưa ra khái niệm về kinh tế hộ nông dân:
Đặc điểm đặc trưng của đơn vị kinh tế mà chúng phân biệt gia đình nông dân với những người làm kinh tế khác trong một nền kinh tế thị trường là:
Trang 19Thứ nhất, đất đai Người nông dân với ruộng đất chính là một yếu tố hơn
hẳn các yếu tố sản xuất khác vì giá trị của nó; nó là nguồn đảm bảo lâu dài đời sống của gia đình nông dân trước những thiên tai
Thứ hai, lao động Sự tín nhiệm đối với lao động của gia đình là một đặc
tính kinh tế nổi bật của người nông dân Người “lao động gia đình” là cơ sở của các nông trại, là yếu tố phân biệt chúng với các xí nghiệp tư bản
Thứ ba, tiền vốn và sự tiêu dùng Người ta cho rằng: “người nông dân làm
công việc của gia đình chứ không phải làm công việc kinh doanh thuần túy” nó khác với đặc điểm chủ yếu của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa là làm chủ vốn đầu
tư vào tích lũy cũng như khái niệm hoàn vốn đầu tư dưới dạng lợi nhuận
Từ những đặc trưng trên có thể xem kinh tế hộ gia đình nông dân là một
cơ sở kinh tế có đất đai, các tư liệu sản xuất thuộc sở hữu của hộ gia đình, sử dụng chủ yếu sức lao động của gia đình để sản xuất và thường là nằm trong một
hệ thống kinh tế lớn hơn, nhưng chủ yếu được đặc trưng bởi sự tham gia cục bộ vào các thị trường có xu hướng hoạt động với mức độ không hoàn hảo cao
Tóm lại, trong nền kinh tế hộ gia đình nông dân được quan niệm trên các khía cạnh: Hộ gia đình nông dân (nông hộ) là đơn vị xã hội làm cơ sở cho phân tích kinh tế; các nguồn lực (đất đai, tư liệu sản xuất, vốn sản xuất, sức lao động…) được góp thành vốn chung, cùng chung một ngân sách; cùng chung sống dưới một mái nhà, ăn chung, mọi người đều hưởng phần thu nhập và mọi quyết định đều dựa trên ý kiến chung của các thành viên là người lớn trong hộ gia đình Gia đình (family) là một đơn vị xã hội xác định với các mối quan hệ họ hàng, có cùng chung huyết tộc Trong nhiều xã hội khác nhau các mối quan hệ họ hàng xây dựng nên một gia đình rất khác nhau Gia đình chỉ được xem là hộ gia đình (Household) khi các thành viên gia đình có cùng chung một cơ sở kinh tế
2.1.2 Hiệu quả kinh tế - xã hội, hiệu quả môi trường
Hiệu quả kinh tế của một dự án được xác định trên cơ sở lợi ích của nền kinh tế quốc dân Vì vậy, cơ sở để xác định hiệu quả kinh tế là các mục tiêu của
Trang 20nền kinh tế Thuật ngữ “kinh tế” ở đây là viết tắt của ba từ “kinh tế - xã hội- môi trường” (tam giác hiệu quả kinh tế quốc dân) là những lợi ích hoặc những thiệt hại của dự án đóng góp hoặc gây ra cho nền kinh tế quốc dân” (Nguyễn Bạch Nguyệt, 2007, trang 211) Dự án được xem là mang lại “hiệu quả kinh tế” khi nó đạt được các mục tiêu sau:
Về mặt kinh tế:
+ Nâng cao mức sống cho người dân: được thể hiện gián tiếp thông qua các số liệu cụ thể về mức gia tăng tổng sản phẩm quốc gia (GDP-Gross Domestic Product), sự gia tăng tổng sản lượng nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ; mức gia tăng thu nhập; tốc độ tăng trưởng và phát triển kinh tế
+ Góp phần gia tăng nguồn thu ngoại tệ cho đất nước
+ Góp phần làm gia tăng số lao động có việc làm, chuyển đổi cơ cấu lao động, nâng cao năng suất lao động, đào tạo lao động có trình độ và tay nghề cao
Về mặt xã hội:
+ Phân phối thu nhập và công bằng: thể hiện qua sự đóng góp dự án đối với việc phát triển các vùng kinh tế kém phát triển, vùng hải đảo, xa xôi… và đẩy mạnh công bằng xã hội
+ Cải thiện điều kiện vật chất và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân, đạt được mục tiêu xóa đói giảm nghèo
+ Cải thiện điều kiện sức khỏe cho người dân: giảm tỷ lệ số người mắc bệnh, giảm tình trạng suy dinh dưỡng trẻ em, giảm tỷ lệ tử vong ở người lớn và trẻ nhỏ
+ Cải thiện môi trường làm việc, phát triển giáo dục nâng cao tỷ lệ giáo dục phổ cập, tăng tỷ lệ số học sinh đến trường
+ Tạo ra công ăn việc làm cho người dân địa phương
Trang 21+ Nâng cao sự gắn kết trong cộng đồng địa phương; lôi kéo sự tham gia của cộng đồng địa phương
+ Phải góp phần bảo tồn các di sản văn hóa dân tộc
Về mặt môi trường:
Việc thực hiện một dự án thường có những tác động nhất định đến môi trường sinh thái Các tác động này có thể là tích cực, nhưng cũng có thể là tiêu cực Tác động tích cực có thể là làm đẹp cảnh quan môi trường, cải thiện điều kiện sống, sinh hoạt cho dân cư địa phương…Các tác động tiêu cực bao gồm việc
ô nhiễm nguồn nước, không khí, đất đai, làm ảnh hưởng đến sức khỏe của con người và súc vật trong khu vực Vì vậy, trong phân tích dự án các tác động về môi trường đặc biệt là tác động tiêu cực phải được quan tâm thỏa đáng
Dự án mang lại hiệu quả môi trường khi dự án đó không làm suy thoái, ô nhiễm môi trường hay làm cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên Ngoài ra, dự án đó có thể mang lại những lợi ích cho môi trường như: góp phần ngăn chặn ô nhiễm khôi phục, cải tạo chất lượng môi trường sao cho tốt hơn so với trước
2.2 LÝ THUYẾT VỀ KINH TẾ HỌC SẢN XUẤT
2.2.1 Hành vi ra quyết định của nông hộ trong sản xuất
Theo David L Debertin (2012), sản xuất nông nghiệp là có liên quan chủ yếu với các lý thuyết kinh tế vì nó liên quan đến việc sản xuất các mặt hàng nông nghiệp Một số mối quan tâm lớn về kinh tế sản xuất nông nghiệp bao gồm những điều sau đây:
Mục tiêu và mục đích của người quản lý trang trại Nhà kinh tế nông nghiệp thường cho rằng mục tiêu của bất kỳ nhà quản lý trang trại là lợi nhuận tối đa Tuy nhiên, nông dân cá thể có những mục tiêu khác ví như quan tâm quyền sở hữu của trang trại lớn nhất trong vùng, quan tâm việc sở hữu các máy móc thiết bị tốt nhất, hay quan tâm trong việc giảm thiểu số nợ của mình Tuy nhiên, hầu hết các mô hình kinh tế được sử dụng để đại diện cho hành vi của các
Trang 22nhà quản lý trang trại cho rằng người quản lý trang trại quan tâm đến lợi nhuận tối đa, tức là tối đa hóa doanh thu hạn chế tối thiểu các chi phí
Lựa chọn sản phẩm sản xuất Một người quản lý trang trại phải đối mặt với việc lựa chọn sản xuất sản phẩm gì với nguồn lực sẵn có như: đất đai, lao động, máy móc, thiết bị
Phân bổ nguồn lực Khi đã quyết định được sản phẩm cần sản xuất, người nông dân phải phân bổ phù hợp nguồn lực sẵn có bởi vì nguồn lực có giới hạn
Giả định về rủi ro và sự không chắc chắn Mô hình kinh tế sản xuất thường xuyên giả định rằng người quản lý biết một cách chắc chắn lợi nhuận thu đượcsau khi bán sản phẩm Tuy nhiêngiả định này không chính xác Bởi vì trong sản xuất nông nghiệp phụ thuộc vàothời tiết,dịch bệnh
Mặc dù nông dân có thể hoàn toàn biết được chi phí các đầu vào như xăng dầu, phân bón, và hạt giống Tuy nhiên họ hầu như không bao giờ biết được giá sản phẩm được bán ra Giá không chắc chắn gần như cho bất kỳ loại hàng hóa nông nghiệp Bởi vì phải mất nhiều thời gian để sản xuất ra sản phẩm nông nghiệp, đồng thời nông dân còn phải đối mặt với giá cả cạnh tranh của thị trường
Sản xuất là quá trình phối hợp và điều hoà các yếu tố đầu vào (đất đai, lao động, máy móc…) để tạo ra các đầu ra (lúa, thịt, trứng, sữa ) Trình độ kết hợp giữa các yếu tố đầu vào trong sản xuất quyết định hiệu quả kinh tế trong việc sử dụng các yếu tố đó Hơn nữa trong nền kinh tế thị trường, mọi hàng hóa được sản xuất ra để trao đổi, lưu thông, do vậy đầu ra của sản xuất cũng phải hướng theo nhu cầu thị trường và việc xác định cơ cấu sản phẩm hợp lý trong mối quan hệ với các nguồn tài nguyên khan hiếm cũng có ý nghĩa kinh tế quan trọng Trong phần này, chúng ta sẽ xem xét những mối quan hệ có tính vật chất giữa các yếu
tố sản xuất với sản phẩm được sản xuất ra (1), giữa các yếu tố sản xuất với nhau (2) và giữa sản phẩm với sản phẩm (3)
(1) Mức độ thay đổi của sản lượng phù hợp với mức độ thay đổi của nguồn lực sử dụng trong sản xuất Mối quan hệ này gọi là mối quan hệ yếu tố sản
Trang 23xuất với sản phẩm được sản xuất hay là mối quan hệ giữa nguồn lực - sản lượng (input và output)
(2) Thay đổi sự kết hợp của hai hay nhiều loại nguồn lực khác nhau để sản xuất ra một sản lượng nhất định (như sự kết hợp giữa đất đai và lao động theo các
cơ cấu khác nhau để tạo ra một sản lượng lúa như nhau) Mối quan hệ này gọi là mối quan hệ giữa các yếu tố sản xuất với nhau
(3) Sản lượng hoặc sản phẩm khác nhau có thể thu được từ một tập hợp các nguồn tài nguyên (như các mức sản lượng sắn hoặc đậu khác nhau có thể thu được trên cùng một đơn vị diện tích) Mối quan hệ này gọi là mối quan hệ sản phẩm với sản phẩm
2.2.2 Hành vi tối đa hóa sản lượng và hàm sản xuất
Doanh nghiệp thường mong muốn đạt được sản lượng tối đa ứng với một khoản chi phí nhất định Để tối đa hóa sản lượng, nhà sản xuất sẽ lựa chọn tập hợp giữa vốn và lao động sao cho tại đó họ mua hết số tiền TC (tổng chi phí) sẵn
có và tỷ lệ thay thế kỹ thuật biên bằng với tỷ giá của lao động và vốn
Hàm sản xuất biểu hiện mối quan hệ về mặt kỹ thuật giữa các yếu tố sản xuất khác nhau theo một công nghệ đã lựa chọn nhất định để tối đa hóa đầu ra
- Hàm sản xuất có dạng tổng quát là Q = f (x1 , x2 ,…, xn )
với Q là sản lượng đầu ra và x1 , x2 ,…, xn là các yếu tố sản xuất đầu vào
- Nếu cố định các yếu tố sản xuất khác mà chỉ nghiên cứu, xem xét đến hai yếu tố là lao động và vốn thì chúng ta có hàm sản xuất là Q = f (K, L)
Dạng hàm sản xuất phổ biến và hữu dụng nhất mà chúng ta thường sử dụng là hàm Cobb – Douglas có dạng: Q = f (K, L) = a Kα Lβ với a là một hằng số; α và β là số mũ của K và L cho biết tầm quan trọng tương đối của hai yếu tố này trong quá trình sản xuất
Trang 24Hiệu suất của quy mô đề cập tới sự thay đổi của sản lượng đầu ra khi tất
cả các đầu vào có thể tăng theo cùng tỷ lệ trong dài hạn
- Khi tăng h lần các yếu tố đầu vào mà đầu ra tăng trên h lần thì đây là trường hợp hiệu suất tăng theo quy mô (đạt tính kinh tế): f (hK, hL) > hf (K, L)
- Khi tăng h lần các yếu tố đầu vào mà đầu ra tăng ít hơn h lần thì đây là trường hợp hiệu suất giảm theo quy mô (phi kinh tế): f (hK, hL) < hf (K, L)
- Khi tăng h lần các yếu tố đầu vào mà đầu ra tăng đúng h lần thì đây là trường hợp hiệu suất không đổi theo quy mô: f (hK, hL) = hf (K, L)
Đối với hàm sản xuất Cobb – Douglas, tổng các hệ số α và β có thể cho chúng ta biết hiệu suất của quy mô
- Nếu α + β = 1 thì hàm sản xuất phản ánh hiệu suất không đổi theo quy mô;
- Nếu α + β < 1 thì hàm sản xuất có hiệu suất giảm theo quy mô;
- Nếu α + β > 1 thì hàm sản xuất có hiệu suất tăng theo quy mô
2.2.3 Hành vi tối thiểu hóa chi phí và hàm chi phí
Một khía cạnh khác của việc tối đa hóa lợi nhuận là các nhà sản xuất tìm kiếm một phương thức sản xuất ra một mức sản lượng nhất định có chi phí thấp nhất Bất cứ một nhà sản xuất nào cũng tìm kiếm kỹ thuật sản xuất với chi phí thấp nhất với khối lượng đầu ra cho trước hay tối đa hóa lợi nhuận với chi phí cho trước, vì giảm một đồng chi phí có nghĩa là tăng một đồng lợi nhuận Sản xuất với chi phí thấp nhất sẽ mang lại lợi nhuận cao nhất cho nhà sản xuất.Tối thiểu hóa chi phí là một trong những mục tiêu quan trọng của các doanh nghiệp
Để tối thiểu hóa chi phí sản xuất để sản xuất ra một mức sản lượng nhất định, nhà sản xuất sẽ chọn sản xuất tại điểm mà tỷ lệ thay thế kỹ thuật biên (giữa lao động và vốn) bằng với tỷ giá của lao động và vốn
Công thức: q0= f(K, L)
Trang 25Trong đó:
q0: sản lượng nhất định K: vốn
L: lao động
Công thức:
Trong đó:
MRTS: tỷ lệ thay thế kỹ thuật biên
MPL: năng suất lao động biên
MPK: năng suất vốn biên V: giá của vốn
W: giá của lao động
2.2.4 Hành vi tối đa hóa lợi nhuận và hàm lợi nhuận
Lợi nhuận là đại lượng phản ánh sự chênh lệch giữa doanh thu thu được với chi phí phải bỏ ra để đạt được doanh thu đó
Trang 26Doanh thu bình quân (ký hiệu là AR) là tổng doanh thu trên đơn vị sản phẩm bán được
+ Nếu MR<MC thì giảm Q sẽ tăng
+ Nếu MR=MC thì Q là tối ưu Q*, max Quy tắc chung:mọi doanh nghiệp sẽ gia tăng sản lượng đầu ra chừng nào doanh thu cận biên còn lớn hơn chi phí cân biên (MR>MC) cho tới khi có MR=MC thì dừng lại Tại đây doanh nghiệp lựa chọn được mức sản lượng tối ưu Q* để tối đa hóa lợi nhuận (max)
+ Nếu MR>MC thì tăng Q sẽ tăng
+ Nếu MR<MC thì giảm Q sẽ tăng
+ Nếu MR=MC thì Q là tối ưu Q*, max
2.3 CÁC YẾU TỐ TỰ NHIÊN VÀ KINH TẾ - XÃ HỘI ẢNH HƯỞNG ĐẾN SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP
Để đạt được hiệu quả trong sản xuất nông nghiệp thì cần phải quan tâm đến nhiều yếu tố tác động đến quá trình sản xuất như: điều kiện tự nhiên, kinh tế,
Trang 27xã hội, trình độ kỹ thuật, lực lượng lao động xã hội với sản xuất…là những yếu
tố tác động trực tiếp đến hiệu quả sản xuất
2.3.1 Các yếu tố thuộc về điều kiện tự nhiên
Nhân tố quan trọng hàng đầu đối với sản xuất nông nghiệp là đất đai rồi mới đến khí hậu và nguồn nước Đất đai ảnh hưởng quyết định đến qui mô, cơ cấu và phân bố nông nghiệp
Đất đai: trong các nhân tố thuộc về điều kiện tự nhiên, thông thường, nhân
tố đầu tiên mà người ta phải kể đến đó là điều kiện đất đai Đất đai nước ta rất đa dạng, có 14 nhóm khác nhau, trong đó chiếm diện tích lớn nhất là đất phù sa và đất feralit Đất phù sa khoảng 3 triệu ha, tập trung chủ yếu ở các đồng bằng, thích hợp cho trồng lúa nước và nhiều cây công nghiệp ngắn ngày, đất feralit khoảng
16 triệu ha, tập trung chủ yếu ở trung du và miền núi, thích hợp cho việc trồng cây công nghiệp lâu năm, cây ăn quả và một số cây ngắn ngày
Khí hậu: đối với sản xuất hàng hoá và chuyên môn hoá sản xuất nông nghiệp, đất đai tuy thường được xem xét trước, nhưng mức độ ảnh hưởng của nó đến sản xuất hàng hoá và chuyên môn hoá không mang tính quyết định bằng điều kiện khí hậu Nằm trong vòng đai nội chí tuyến Bắc bán cầu, khí hậu nước ta cơ bản là nhiệt đới, khí hậu nước ta lại có sự phân hoá đa dạng theo chiều Bắc - Nam, theo mùa và theo độ cao Ở Miền Bắc có khí hậu nhiệt đới, ẩm, gió mùa với một mùa Đông lạnh Ở vùng núi cao có sương giá và rét đậm Ở miền Nam khí hậu nhiệt đới điển hình với một mùa khô và mùa mưa Ở miền Trung là nơi giao thoa khí hậu giữa 2 miền Nam-Bắc
Với nguồn ánh sáng dồi dào, độ ẩm không khí cao, lượng mưa lớn tạo điều kiện cho cây trồng phát triển quanh năm và cho năng suất cao Cũng trong điều kiện nóng - ẩm còn giúp cho cây ngắn ngày tăng thêm từ 1 đến 2 vụ/năm; đối với cây dài ngày có thể khai thác được nhiều đợt, nhiều lứa/năm
Nguồn nước: ngoài đất đai và khí hậu, nguồn nước cũng cần được xem xét Nguồn nước bao gồm cả nước mặt và nước ngầm, hoặc khả năng đưa nước
Trang 28từ nơi khác đến vùng sản xuất mà chúng ta đang xem xét Nằm trong vùng nhiệt đới, vì vậy nước ta có nguồn nước khá dồi dào, lượng mưa trung bình năm khá lớn càng làm cho nguồn nước trên các sông của Việt Nam thêm phong phú Đối với sản xuất nông nghiệp, nước rất cần thiết Với mức tiêu thụ nước trong nông nghiệp khoảng 60 tỉ m3
thì về nguyên tắc chỉ cần khai thác 10-15% trữ lượng nước là đủ cho nhu cầu sản xuất và đời sống Mạng lưới sông ngòi phân bố rộng khắp và khá dày đặc, các hệ thống sông lớn lại bao phủ toàn bộ các vùng nông nghiệp trù phú Ngoài việc cung cấp nước cho sản xuất nông nghiệp, sông ngòi còn cung cấp lượng phù sa lớn Bên cạnh đó nước ta cũng có trữ lượng nước ngầm rất phong phú, mặc dù chưa thăm dò đánh giá đầy đủ Trữ lượng đã thăm
dò khoảng 3,3 tỉ m3
2.3.2 Các yếu tố thuộc về điều kiện kinh tế - xã hội
Yếu tố con người: đây là nhân tố quan trọng bậc nhất ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất của các ngành sản xuất kinh doanh Trong nông nghiệp con người
là nhân tố quyết định đến sản xuất, bố trí cây trồng vật nuôi, chuyển giao khoa học kỹ thuật vào sản xuất để mang lại hiệu quả kinh tế cũng nhưhiệu quả xã hội cao nhất
Yếu tố thị trường: thị trường luôn là khâu cuối cho mọi hoạt động sản xuất kinh doanh Thị trường tiêu thụ lúa gạo cũng vậy, do đặc điểm riêng của sản xuất nông nghiệp nên yếu tố này càng quan trọng hơn, nó ảnh hưởng đến quyết định
có sản xuất nữa hay không của người sản xuất hay nó tác động trực tiếp đến hiệu quả kinh tế của ngành
Yếu tố khoa học công nghệ: các tiến bộ kỹ thuật về giống, máy móc công
cụ, phân bón, bảo vệ thực vật…trong sản xuất nông nghiệp có tác động trực tiếp đến năng suất cây trồng Hiện nay việc áp dụng các công nghệ vào sản xuất nông nghiệp đã trở thành vấn đề quan trọng của người nông dân bởi kỹ thuật thâm canh càng cao thì sẽ tỷ lệ thuận với việc tăng năng suất và chất lượng thu được
Trang 29Chính sách nhà nước:từ những năm 1989 đến nay nhờ có các chính sách hợp lý của nhà nước ta như: các chính sách về thuế, khuyến nông, chính sách tín dụng, chính sách về nghiên cứu, hỗ trợ…vì vậy nền kinh tế nói chung và nền nông nghiệp nói riêng của nước ta có nhiều khởi sắc
2.4 CÁC MÔ HÌNH CỦA DỰ ÁN
2.4.1 Mô hình 3 giảm 3 tăng
2.4.1.1 Lịch sử chương trình 3 giảm 3 tăng:
Chương trình 3G3T trước đây còn được gọi là Quản lý dinh dưỡng và dịch hại tổng hợpviết tắt là ICM (Integrated Crop Management), đây là sự phối hợp của Quản lý Dinh dưỡng Tổng hợp (INM) và Quản lý Dịch hại Tổng hợp (IPM) trên cây lúa
Giải pháp 3 giảm 3 tăng đã được 3 nhà khoa học của Việt Nam đề nghị trong hội nghị Quốc tế “Quản lý dinh dưỡng và sâu bệnh trong hệ thống thâm canh lúa” tổ chức tại Viện nghiên cứu lúa Quốc tế IRRI từ ngày 20-22 tháng 05 năm 2005 Dựa trên những cơ sở khoa học, tất cả đều nhất trí cao và dự án mang tên "3 giảm 3 tăng" ra đời Tháng 11 năm 2005 dự án đã nhận được sự tài trợ của
tổ chức Quốc tế (SDC), Switzerland, phát động lần đầu tiên tại Sở Nông nghiệp
và Phát triển nôngthôn Cần Thơ, sau đó là Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Tiền Giang Một số nhà khoa học của Viện nghiên cứu lúa ĐBSCL và Trường Đại học Cần Thơ, Trung tâm BVTV phía Nam cùng tham dự tập huấn cho bà con nông dân Kết quả nghiên cứu từ 2 tỉnh Cần Thơ và Tiền Giang cho thấy thuốc trừ sâu sử dụng giảm từ 13 đến 33%, năng suất tăng từ 4,6 đến 5,6 tấn/ha (tăng 22%) ở tỉnh Cần Thơ và 4,5 đến 5,0 tấn (tăng 11%) ở Tiền Giang
Từ những kết quả trên, giải pháp 3 giảm 3 tăng được Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn công nhận đó là biện pháp kỹ thuật mới nhằm tăng hiệu quả trồng lúa
Năm 2008, 3 giảm 3 tăng được nhận giải thưởng của tổ chức Quốc tế DIABP (Dubai International Award for Best practices) là một trong 100 giải
Trang 30pháp tốt nhất về nông nghiệp của các nước Giải pháp này đang được bà con nông dân chọn lựa cho canh tác thâm canh bền vững.
Theo nhóm chuyên gia của tổ chức Nông Lương Thế Giới (FAO- Food and Agriculture Organization of the United Nations), Quản lý dịch hại tổng hợp: “ là một hệ thống quản lý dịch hại mà trong khung cảnh cụ thể của môi trường và những biến động quần thể của các loài gây hại, sử dụng tất cả các kỹ thuật và biện pháp thích hợp có thể được, nhằm duy trì mật độ của các loài gây hại ở dưới mức gây ra những thiệt hại kinh tế”
Theo Lê Văn Thuyết và Hà Minh Trung (1995) thì “IPM là một chiến lược nhằm làm cho các biện pháp phòng trừ có hiệu quả lâu dài về mặt kinh tế,
kỹ thuật, sức khỏe cộng đồng và bảo vệ môi sinh Chiến lược này không loại trừ hóa chất nông nghiệp mà cũng không dựa hẳn vào hữu cơ tự nhiên Đó là sự tổng hợp của sử dụng các giống kháng bền vững kết hợp với các biện pháp canh tác, sinh học và cả biện pháp hóa học khi cần thiết”
IPM là quản lý dịch hại tổng hợp được FAO chuyển giao và phổ triển cho Việt Nam kể từ năm 1992 IPM là giải pháp tiếp cận sinh thái để quản lý dịch hại, ứng dụng tổng hợp các biện pháp kỹ thuật để ngăn cản sự phát sinh, phát triển của dịch hại; hạn chế tối đa sử dụng hóa chất nông nghiệp để bảo vệ quần thể thiên địch và giảm thiểu rủi ro đối với sức khỏe con người và môi trường
Trước đây, công tác bảo vệ thực vật là nhằm đối phó với dịch hại và chủ yếu dựa vào thuốc hóa học, với quan điểm không chấp nhận sự hiện diện của các loài dịch hại, tìm mọi cách tiêu diệt hoặc để loại trừ chúng ra khỏi hệ sinh thái Tuy nhiên thực tế cho thấy, việc lạm dụng thuốc hóa học để khống chế dịch hại trong thời gian qua đã làm phát sinh ra nhiều loài dịch hại mới, làm bộc phát dịch hại mạnh hơn, làm xuất hiện tính kháng thuốc của dịch hại, gây ô nhiễm môi trường, hủy hoại hệ sinh thái, gây độc cho người, gia súc, cho thiên địch và nhiều loài động vật hoang dã khác Tóm lại, quan điểm phòng trừ dịch hại như trên là
Trang 31nguyên nhân gây mất ổn định cho nền sản suất Nông Nghiệp của chúng ta Từ thực tế đó, đã ra đời quan điểm bảo vệ thực vật bằng cách tổng hợp các biện pháp dựa trên cơ sở sinh thái và môi trường gọi tắt là IPM Theo quan điểm này thì giữa cây trồng, dịch hại, thiên địch và các yếu tố trong hệ sinh thái (đất, nước, thời tiết, khí hậu, sinh vật ), luôn luôn có mối quan hệ hữu cơ chặt chẽ với nhau
Sự phát sinh phát triển của yếu tố này sẽ là tác nhân thúc đẩy hoặc kiềm hãm yếu
tố khác
Tóm lại mục đích cuối cùng của Quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) là tìm ra những biện pháp có hiệu quả, có lợi về mặt kinh tế nhằm hạn chế tác hại của sâu bệnh, làm cho cây trồng đạt năng suất cao và phẩm chất nông sản tốt Trên ý nghĩa đó, Quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) không chỉ nhằm tiêu diệt nguồn sâu bệnh mà muốn điều hoà các mối cân bằng trong hệ sinh thái Như vậy, Quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) phải được giải quyết trên tinh thần: tổng hợp, toàn diện
và chủ động Nghĩa là phải áp dụng nhiều biện pháp khác nhau trong một hệ thống hoàn chỉnh và hợp lý Trong hệ thống đó, các biện pháp bổ sung cho nhau, phát huy kết quả lẫn nhau, tạo nên những tác động và sức mạnh tổng hợp phát huy đến mức cao nhất các đặc điểm có ích của cây trồng, loại trừ tác hại của sâu bệnh Tuy nhiên khi xây dựng chương trình Quản lý dịch hại tổng hợp cho cây trồng, áp dụng ở một vùng sản xuất nhất định, phải tuỳ thuộc vào các đặc điểm
về môi trường, thời tiết, khí hậu, tình hình dịch hại, trình độ nhận thức và khả năng kinh tế của nông dân để lựa chọn các biện pháp thích hợp
Quản lý dinh dưỡng tổng hợp (INM)
Quản lý Dinh dưỡng Tổng hợp gọi tắt là INM (Integrated Nutrient Management) là hình thức quản lý mà chất dinh dưỡng sẽ được cung cấp cho cây trồng dựa trên cơ sở đặc điểm của môi trường sinh thái (đất, nước, thời tiết khí hậu, ) của tình hình sinh trưởng và phát triển của cây trồng (tuỳ theo từng giai đoạn sinh trưởng của từng loại cây), của tình hình dịch hại, tức là, căn cứ vào mối tương quan nhiều mặt của các yếu tố trong hệ sinh thái mà loại cây trồng
Trang 32đang sinh sống Quản lý dinh dưỡng tổng hợp trong sản xuất nông nghiệp là khâu rất quan trọng trong xây dựng hệ thống nông nghiệp bền vững Mục đích của việc quản lý dinh dưỡng là nhằm đạt năng suất tối ưu nhưng giảm thiểu ô nhiễm môi trường do bón thừa dinh dưỡng mà phần lớn là thừa phân đạm, lượng đạm
dư thừa này chảy tràn xuống ao, hồ, sông, suối gây ô nhiễm môi trường
2.4.1.2 Nội dung chương trình 3 giảm 3 tăng là:
Theo Phạm Văn Dư (2009) nội dung của 3 giảm là: giảm lượng giống, giảm lượng phân đạm, giảm lượng thuốc BVTV
- Giảm lượng giống: theo truyền thống mật độ sạ của nông dân quá dày, bình quân 200 - 220 kg lúa giống/ha Mật độ sạ hiện nay được khuyến cáo 80 -
100 kg/ha Trên thực tế sản xuất trên diện rộng cho thấy tính toán trên của các nhà khoa học là hoàn toàn phù hợp với thực tiễn
- Giảm lượng phân đạm: phân bón là yếu tố quan trọng để nâng cao năng suất lúa Tuy nhiên hiện nay nhiều hộ nông dân còn sử dụng quá nhiều phân bón, nhất là phân đạm Nhiều hộ nông dân bón tới 130, thậm chí 150, 170 kg N/ha Sử dụng phân đạm quá nhiều hay không đúng cách còn làm cho chi phí sản xuất tăng, dịch hại phát triển nhiều, gây ô nhiễm môi trường và phát thải khí thải Lượng phân bón tối ưu phụ thuộc vào đặc tính giống, đặc tính đất và thời vụ Trên đất phù sa ngọt, với giống lúa cứng cây, lượng phân bón được khuyến cáo
là 100 - 110 kg N + 30 - 40 kg P2O5 + 30 kg K20 cho mỗi ha Với giống mềm cây, lượng phân đạm cần giảm xuống chỉ còn 90-100 kg N/ha Trên đất phèn nhẹ, lượng đạm cần giảm xuống còn 80-100 kg N/ha, nhưng tăng lân lên 40-50
kg P2O5/ha Trên đất phèn trung bình giữ nguyên đạm nhưng tăng lân lên 50-70
kg P205/ha Trên đất phèn nặng, tăng lân lên 70-90 kg P2O5/ha
- Giảm lượng thuốc BVTV: việc sử dụng thái quá thuốc BVTV đã gây nên những tác hại khôn lường cho sản xuất, môi trường và sức khỏe cộng đồng Để đạt được hiệu quả trong việc sử dụng thuốc BVTV, người nông dân và cán bộ kỹ thuật cần có ưu tiên trong việc lựa chọn giải pháp đối với việc sử dụng các biện
Trang 33pháp sinh học, thuốc BVTV sinh học Trong trường hợp bất khả kháng cần phải
sử dụng thuốc hóa học thì ngoài tuân thủ theo nguyên tắc 4 đúng (đúng thuốc, đúng liều lượng, đúng lúc, đúng cách), cần ưu tiên sử dụng những loại thuốc thế
hệ mới, ít độc hại, chỉ cần dùng với hàm lượng rất nhỏ nhưng hiệu quả đạt được cao
Nội dung của 3 tăng là: tăng năng suất lúa, tăng chất lượng lúa gạo, tăng hiệu quả kinh tế Như vậy, muốn tăng năng suất cần áp dụng đúng quy trình kỹ thuật trồng lúa, áp dụng 3 giảm Muốn tăng chất lượng lúa gạo cần sử dụng đúng giống lúa, bón phân cân đối hợp lý, chú ý các khâu kỹ thuật sau thu hoạch Nếu
áp dụng tốt chương trình 3 giảm và 3 yếu tố tăng kể trên thì việc tăng hiệu quả kinh tế cho người trồng lúa rất dễ dàng đạt được
Tóm lại, chương trình “3 giảm 3 tăng” là tiến bộ kỹ thuật về lĩnh vực bảo
vệ thực vật nhằm quản lý dinh dưỡng và dịch hại tổng hợp trên cây lúa một cách khoa học Áp dụng biện pháp này giảm được lượng lúa giống gieo sạ, giảm chi phí thuốc trừ sâu, điều chỉnh lượng phân bón phù hợp, tăng năng suất và hiệu quả kinh tế, tạo ra sản phẩm sạch, bảo vệ môi trường sinh thái và sức khoẻ cộng đồng
2.4.2 Mô hình 1 phải 5 giảm
Sau nhiều năm thực hiện, “3 giảm, 3 tăng” đã đem lại nhiều hiệu quả thiết thực trong sản xuất lúa ở ĐBSCL, tuy nhiên vẫn còn tồn tại những vấn đề cần phải giải quyết Do đó, tổ công tác của Bộ NN- PTNT, đứng đầu là Thứ trưởng Bùi Bá Bổng, đã đề xuất biện pháp kỹ thuật tổng hợp 1P5G Chương trình “1 phải, 5 giảm” được kế thừa từ mô hình 3 giảm 3 tăng Một phải là phải dùng giống tốt, giống xác nhận; còn 5 giảm gồm giảm giống gieo sạ, giảm lượng nước tưới, giảm phân đạm, giảm thuốc bảo vệ thực vật và giảm thất thoát sau thu hoạch (Bùi Thị Mai Phụng, 2012)
Một phải: phải sử dụng giống lúa cấp xác nhận hoặc nguyên chủng mà ngành Nông nghiệp địa phương khuyến cáo đưa vào sản xuất
Trang 34Năm giảm: giảm lượng hạt giống gieo trồng: sạ hàng từ 80 - 120kg/ha; giảm phân bón: bón phân cân đối và hợp lý Sử dụng bảng so màu lá lúa để kiểm soát việc thừa phân đạm; giảm sử dụng thuốc bảo vệ thực vật: áp dụng chương trình IPM Chỉ phun thuốc bảo vệ thực vật khi cần thiết và tuân thủ theo nguyên tắc 4 đúng; giảm lượng nước tưới: cây lúa không cần phải luôn ngập nước Có thể sử dụng phương pháp tưới “ngập khô xen kẽ” để tiết kiệm nước, làm thân cây lúa chắc, tránh đổ ngã Giúp tăng năng suất và giảm chi phí bơm tưới; giảm thất thoát sau thu hoạch: thu hoạch lúa bằng máy gặt đập liên hợp Không phơi lúa trên đường mà sử dụng phương pháp sấy lúa để đảm bảo chất lượng hạt lúa Bảo quản hạt lúa ở độ ẩm không quá 14%
2.4.3 Mô hình cánh đồng mẫu lớn
Trên thế giới, các nước không dùng khái niệm “cánh đồng mẫu lớn, hoặc cánh đồng lớn” mà có thể hiểu là các khu vực tập trung diện tích lớn, phát triển chuyên canh các loại cây trồng để đạt hiệu quả cao về kinh tế, xã hội, môi trường với việc áp dụng các công nghệ khoa học kỹ thuật hiện đại trong một hệ thống quản trị nhất định Tiếp cận về cánh đồng lớn trên thế giới thường được thực hiện bắt đầu bằng xác định các tiêu chí mà thị trường yêu cầu hoặc chính phủ áp đặt như về chất lượng sản phẩm, môi trường, kỹ thuật canh tác, kế hoạch sản xuất, hệ thống quản trị…để làm cơ sở xây dựng hành động tập thể của liên kết ngang và liên kết dọc Những cánh đồng lớn có thể ở một khu vực, vùng nhỏ, hoặc cả một lưu vực cho một sản phẩm chuyên môn hóa cao Một số mô hình cánh đồng mẫu lớn đã được thực hiện tại các nước trên thế giới và đã đạt được những thành công nhất định như: mô hình sản xuất rượu nho ở Pháp, mô hình trồng rau ở Philipines, mô hình sản xuất lúa ở Malaysia
2.5 CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC
2.5.1 Các nghiên cứu ngoài nước
Nghiên cứu của Vũ Trọng Bình, Đặng Đức Chiến (2013) dẫn chứng 3 mô hình hiệu quả trên thế giới
Trang 35Mô hình sản xuất rượu nho ở Pháp: tiêu biểu là vùng Bordeaux và một
số vùng khác Ở đó các nhà sản xuất và các tổ chức sản xuất (HTX, hiệp hội) thống nhất thực hiện quy hoạch vùng sản xuất, quy trình sản xuất, quy trình thu hoạch, quy trình chế biến, đóng gói thương hiệu trên thị trường Những quy hoạch đó, sau khi được thống nhất sẽ đề xuất lên các cơ quan nhà nước để được công nhận và trở thành công cụ có tính pháp lý để kiểm soát các hành động tập thể của nông dân, doanh nghiệp trong hoạt động sản xuất kinh doanh Khi đó các cơ quan nhà nước có trách nhiệm kiểm tra, giám sát theo các cam kết của nông dân; khuyên khích các tổ chức nông dân áp dụng các tiêu chuẩn môi trường, sinh thái
Mô hình trồng rau ở Philipines: mô hình trồng rau này được thực hiện bởi một tổ chức phi lợi nhuận, cung cấp dịch vụ cho những nông dân độc lập, hộ nông dân nhỏ, các quỹ phát triển, các trang trại, người cung cấp đầu vào và cung cấp dịch vụ, đơn vị thuộc chính quyền địa phươngcó tên gọi Normin Veggies Normin Veggies lập ra các nhóm làm thương mại cho từng sản phẩm, đứng đầu mỗi nhóm là một nông dân giỏi Các nhóm này được điều phối chung bởi Normincorp, một đơn vị có trách nhiệm kết nối các nhóm với thị trường Normicorp thu phí tính trên giá trị sản phẩm được giao dịch để duy trì hoạt động Normicorp tham gia giám sát để đảm bảo kế hoạch sản xuất đáp ứng được kế hoạch marketing, giám sát chất lượng sản phẩm, quản lý sau thu hoạch,
và giám sát hoạt động phân loại, vận chuyển, thu gom…trong mô hình này, chính phủ và các nhà tài trợ tư nhân hỗ trợ về tập huấn, công nghệ và phát triển sản phẩm, thị trường, cung cấp khoản tín dụng cho đầu tư vào công nghệ của Normin Veggies, cũng như các hỗ trợ nhằm duy trì khả năng đáp ứng thị trường nông dân
và giữ vị thế trên thị trường
Mô hình sản xuất lúa ở Malaysia: xuất phát từ tình trạng đất nông nghiệp nhỏ lẻ, manh mún Chính phủ đã áp dụng ba hình thức để tăng quy mô diện tích của các đơn vị sản xuất lúa đó là: doanh nghiệp thuê những mảnh đất nhỏ của nông dân và tổ chức sản xuất; nông dân tập hợp lại thành HTX và tổ chức sản
Trang 36xuất trên cánh đồng lớn từ những mảnh ruộng của xã viên; doanh nghiệp thu mua tích tụ ruộng đất từ các mảnh ruộng liền kề phát triển thành những cánh đồng lớn Đồng thời xây dựng hệ thống kênh mương thủy lợi, xây dựng cơ sở hạ tầng đường giao thông nông thôn phục vụ cho việc vận chuyển sản phẩm; áp dụng khoa học kỹ thuật, sử dụng máy móc trong sản xuất lúa; xây dựng các nhà máy gần khu sản xuất lúa Xu hướng dồn ruộng đất thành mảnh lớn ở Malaysia ngoài những lý do về giảm chi phí và tăng năng suất lúa, còn lý do khác là áp lực về lao động nông nghiệp ngày càng ít đi, trong khi đất lúa bị chuyển mục đích sử dụng sang cây trồng có lợi nhuận lớn hơn Mô hình tiêu biểu sản xuất lúa trên quy mô lớn của Malaysia là ở Seberang Perak được quản lý bởi Cơ quan Phục hồi và Củng cố đất liên bang (Federal Land Consolidation and Rehabilitation Authority
- FELCRA) trong khuôn khổ một dự án của chính phủ với Ngân hàng thế giới
Điển hình tại huyện Sekinchan thuộc bang Selangor, bang trù phú nhất của Malaysia, cách Kuala Lumpur khoảng 100 km Cánh đồng lớn này có diện tích 3.000 ha, nhưng được chia thành hơn 2.000 thửa, mỗi thửa có chiều dài trong khoảng 200 - 250 m, chiều rộng 45 - 60 m và diện tích là 1,2 ha Ngăn cách giữa hai thửa ruộng về chiều rộng là một mương tiêu nhỏ rộng một mét và ngăn cách
về chiều dài là một mương nổi cấp nước được xây dựng bằng bê tông, phía mỗi đầu bờ ruộng là mương tiêu chung rộng 4 m Hai bên mương tiêu chung là đường giao thông Trong đó, một đường bê tông nhựa, còn một đường cấp phối dành cho xe nông cơ các loại Hầu như toàn bộ công việc chính như cấy, cày bừa, trang đất đã được cơ giới hóa bằng máy móc Hệ thống thủy lợi hoàn chỉnh được tiến hành tự động Việc bón phân thì được cơ giới hóa một phần bằng việc sử dụng máy cao áp ở đầu bờ, chỉ việc kéo dây để phun; phun thuốc trừ sâu còn dùng máy đeo lưng nên hiệu suất chưa cao Khâu thu hoạch đã sử dụng máy gặt đập liên hợp, lúa hạt sau đó được bơm lên ô tô chở về kho của công ty mua lúa
Về máy móc, thiết bị canh tác, không phải nông dân trồng lúa nào ở đây cũng tự trang bị, mà chỉ có những người có 10 ha trở lên mới sắm máy riêng, còn phần lớn thuê dịch vụ của các công ty tư nhân nhỏ có văn phòng, trụ sở, kho tàng, bến
Trang 37bãi ngay tại cánh đồng và kinh doanh theo kiểu khép kín, từ cung ứng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật đến dịch vụ canh tác, thu hoạch – mua
Với năng suất khoảng 10-12 tấn/ha; tổng năng suất hai vụ đạt trên 20 tấn/ha, tức là ít nhất cũng cao gấp 3 lần so với năng suất trung bình của chính quốc gia này Giá thành sản xuất lúa bình quân mỗi kg lúa cả năm là khoảng 0,45
- 0,5 ringgit (3.200 - 3.500 VNĐ) Trong khi, giá bán lúa của nông dân là 1 ringgit (7.000 VNĐ) Bên cạnh đó, nông dân còn được nhận thêm khoản trợ cấp 0,2 ringgit/kg lúa của Chính phủ Malaysia Như vậy, lợi nhuận của nông dân trồng lúa đạt khoảng 50 - 55%, còn nếu tính cả khoản trợ cấp của Chính phủ thì lên tới 70 - 75% và tổng thu nhập đạt 98 - 105 triệu VNĐ/ha/năm, cao gấp nhiều lần so với canh tác lúa theo cách thức cổ truyền của chính quốc gia này
Có thể thấy rằng mô hình sản xuất nông nghiệp hàng hóa quy mô lớn như tại Malaysia là tương đối gần với các mô hình cánh đồng lớn đang hình thành và phát triển tại Việt Nam Đó là có sự liên kết chặt chẽ, công khai minh bạch giữa nông dân và doanh nghiệp mang lại hiệu quả kinh tế cao cho các bên tham gia liên kết Trong mô hình này đã có sự kết hợp của những người nông dân sản xuất riêng rẽ vào sản xuất cùng nhau trong cánh đống lớn để có quy hoạch và xây dựng hạ tầng đồng bộ phục vụ cho sản xuất, phát huy tối đa tính kinh tế của quy
mô Các liên kết được thực hiện hoàn thiện và đồng bộ từ sản xuất, quy hoạch, bảo quản, chế biến và bánsản phẩm cuối cùng Trong mô hình này không chỉ có các liên kết giữa nông dân và doanh nghiệp mà có sự gắn kết giữa những người nông dân trong mô hình với nhau Kinh nghiệm trong việc bố trí thể chế, không gian và hình thức liên kết cũng như sự vào cuộc của các đơn vị cung cấpdịch vụ công của nhà nước trong mô hình tại bang Selangor của Malaysia là bài học tốt cho việc định hình, nhân rộng và phát triển các mô hình liên kết cánh đồng lớn tại Việt Nam
Trang 382.5.2 Các nghiên cứu trong nước
Theo Nguyễn Trí Ngọc (2012) cánh đồng mẫu lớn tạo điều kiện cho nông dân tiết kiệm chi phí làm đất, chi phí thủy lợi, bảo vệ thực vật, gặt đập và phơi sấy Kết quả khảo sát ở 12 tỉnh Nam Bộ cho thấy, chi phí làm đất giảm 250.000 đồng/ ha, lượng giống giảm (10 kg/ha), phân bón giảm 480.000 đồng/ha, thuốc BVTV giảm 110.000 đồng/ha, hạ giá thành lúa, nâng cao hiệu quả kinh tế cao hơn so với sản xuất trên cánh đồng quy mô nhỏ
Bảng số2.5.2 Hiệu quả kinh tế từ các mô hình CĐML vụ hè thu 2011
Tỉnh
Năng suất (tấn/ha)
Tổng lợi nhuận bình quân/ha (triệu đồng)
Lợi nhuận tăng thêm
so với ngoài
mô hình (triệu đồng)
Giá thành sản xuất lúa (đồng)
Giá thành giảm so với ngoài
mô hình (đồng)
Giảm số lần phun thuốc BVTV (lần/vụ)
Đồng
Tháp 6,00 16 – 18 2,3 – 2,5 2.493 120 – 300 1,7 – 2,5 Long An 7,00 15 – 20 2,5 – 3,0 2.860 150 – 250 2,2 – 2,6 Bạc Liêu 6,00 19 – 20 2,8 – 3,0 2.763 200 – 360 1,8 – 2,0 Tây Ninh 5,00 15 – 16 2,2 – 2,4 3.100 150 – 200 1,2 – 4,0 Trà Vinh 7,23 26 – 27 7,0 – 7,5 2.300 500 – 600 1,5 – 2,0
Nguồn: Nguyễn Trí Ngọc, 2012
Theo Bản tin Khoa học và Đời sống số 04/2015 của Võ Thanh Thủy - Ban KHCN&TVPB - Liên hiệp Hội Quảng Ngãi: Sau 3 vụ sản xuất xây dựng cánh đồng lúa mẫu lớn trên đất lúa tại HTX nông nghiệp Bình Dương, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi đã mang lại kết quả đột phá Đối với cánh đồng mẫu lớn lúa lai, với diện tích gieo trồng 100ha/2 vụ sản xuất đạt năng suất bình quân 72,2 tạ/ha/vụ, cao hơn sản xuất lúa thuần ngoài đại trà 16,2 tạ/ha/vụ và lãi hơn 6,43 triệu đồng/ha/vụ Đối với cánh đồng mẫu lớn lúa thuần, với diện tích gieo trồng
Trang 39499,4 ha/3 vụ sản xuất, năng suất bình quân đạt 64,1 tạ/ha/vụ, cao hơn sản xuất lúa thuần đại trà 9,1 tạ/ha/vụ và lãi hơn 6,49 triệu đồng/ha/vụ
Nghiên cứu của Trần Thị Mộng Thúy (2015) về “So sánh hiệu quả kinh tế của nông hộ trồng lúa giữa phương thức hợp đồng và phương thức sản xuất tự
do tại huyện Long Mỹ tỉnh Hậu Giang” Qua phân tích của tác giả, khi nông hộ
tham gia mô hình cánh đồng lớn được hướng dẫn kỹ thuật canh tác khoa học của cán bộ kỹ thuật nông dân trong mô hình đa số sử dụng giống xác nhận và giảm lượng gieo sạ, giảm bón nhiều phân đạm, tuân thủ lịch thời vụ, phun thuốc theo
sự hướng dẫn của các cán bộ kỹ thuật Kết quả nông dân trong mô giảm được chi phí giống trung bình 271.298 đồng/ha/vụ, chi phí phân bón trung bình 388.830 đồng/ha/vụ, chi phí thuốc BVTV trung bình 325.314 đồng/ha/vụ, chi phí bơm nước trung bình 138.954 đồng/ha/vụ, chi phí lao động trung bình 450.000 đồng/ha/vụ,…từ đó tổng chi phí trung bình giảm 1.547.256 đồng/ha/vụ Trong khi chi phí sản xuất của hộ trong mô hình giảm nhưng năng suất tăng, giá lúa tăng dẫn đến doanh thu tăng từ đó tỷ suất lợi nhuận/tổng chi phí của các hộ trong
mô hình là 0,89 lần, hộ ngoài mô hình là 0,56 lần cao hơn các hộ bên ngoài mô hình 0,33 lần (ở mức ý nghĩa 1%) Điều này nói lên rằng khi hộ nông dân trong
mô hình đầu tư 1 đồng chi phí sẽ thu được 0,89 đồng lợi nhuận trong khi đó các
hộ bên ngoài mô hình đầu tư 1 đồng chi phí chỉ thu được 0,56 đồng lợi nhuận Tỷ suất lợi nhuận/doanh thu của các hộ trong mô hình là 0,46 lần, hộ ngoài mô hình
là 0,35 cao hơn tỷ suất lợi nhuận/doanh thu của các hộ bên ngoài mô hình 0,11 lần (ở mức ý nghĩa 1%) Điều này nói lên rằng trong 1 đồng doanh thu của hộ nông dân trong mô hình có 0,46 đồng lợi nhuận trong khi đó các hộ bên ngoài
mô hình chỉ có 0,35 đồng lợi nhuận trong 1 đồng doanh thu
Nghiên cứu của Trần Thị Mỹ Dung (2015) về “Hiệu quả kinh tế sản xuất lúa trong mô hình Cánh đồng lớn tại tỉnh Bến Tre” Kết quả nghiên cứu cho thấy
chi phí giống trung bình giảm 64.394 đồng/ha/vụ, chi phí phân bón trung bình giảm 247.970 đồng/ha/vụ, chi phí thuốc BVTV trung bình giảm 726.974 đồng/ha/vụ, chi phí bơm nước trung bình giảm 264.977 đồng/ha/vụ,…Trong khi
Trang 40chi phí sản xuất của hộ trong mô hình giảm nhưng năng suất tăng, giá lúa tăng dẫn đến doanh thu tăng từ đó tỷ suất lợi nhuận/ tổng chi phí của các hộ trong mô hình là 0,48 lần, hộ ngoài mô hình là 0,29 lần, cao hơn 0,19 lần (ở mức ý nghĩa 1%) Điều này nói lên rằng khi hộ nông dân trong mô hình đầu tư 1 đồng chi phí
sẽ thu được 0,48 đồng lợi nhuận trong khi đó các hộ bên ngoài mô hình đầu tư chỉ thu được 0,29 đồng lợi nhuận Tỷ suất lợi nhuận/doanh thu của các hộ trong
mô hình là 0,71 lần, hộ ngoài mô hình là 0,5 cao hơn tỷ suất lợi nhuận/doanh thu của các hộ bên ngoài mô hình 0,21 lần (ở mức ý nghĩa 1%) Điều này nói lên rằng trong 1 đồng doanh thu của hộ nông dân trong mô hình có 0,71 đồng lợi nhuận trong khi đó các hộ bên ngoài mô hình chỉ có 0,21 đồng lợi nhuận trong 1 đồng doanh thu
Tóm lại các nghiên cứu đã cho thấy rằng chi phí đầu vào như giống, phân, thuốc BVTV giảm đáng kể nhưng năng suất, giá bán tăng dẫn đến lợi nhuận của nhóm hộ trong mô hình cao hơn nhóm hộ ngoài mô hình
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2
Chương 2 trình bày cơ sở lý thuyết của đề tài Tác giả trình bày các khái niệm về hộ, hộ nông dân, kinh tế nông hộ, khái niệm về hiệu quả kinh tế - xã hội, môi trường Tổng hợp các lý thuyết về kinh tế học sản xuất gồm hành vi ra quyết định của nông hộ trong sản xuất, hành vi tối đa hóa sản lượng và hàm sản xuất, hành vi tối thiểu hóa chi phí và hàm chi phí, hành vi tối đa hóa lợi nhuận
và hàm lợi nhuận Trình bày các yếu tố tự nhiên kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp Nêu lên các mô hình của dự án như mô hình 3G3T, 1P5G,
mô hình CĐML đưa ra các nghiên cứu trước đây có liên quan đến đề tài Từ cơ
sở lý thuyết này, tác giả đưa ra phương pháp phân tích ở chương tiếp theo