1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

nghiên cứu đo đạc một số chỉ tiêu chất lượng sống năm 2002 của thành phố hồ chí minh

131 186 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 131
Dung lượng 857,15 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT CEBCS Children Ever Born- Children Surviving Tổng số con đã sinh hiện còn sống ĐT 1-7-03 Điều tra trình độ văn hóa và điều kiện sống 1-7-2003 GDI Gender Developm

Trang 1

LỜI NÓI ĐẦU

Thành phố Hồ Chí Minh là một thành phố lớn nhất nước, nơi hoạt động kinh tế xã hội sôi động đang làm thay đổi hàng ngày bộ mặt của thành phố và đời sống của mỗi người dân đồng thời có ảnh hưởng đáng kể đến sự phát triển bền vững của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và cả nước trong thời kỳ công nghiệp hóa- hiện đại hóa Cần phải đánh giá trung thực, khách quan và định lượng hóa (nếu có thể) những đặc điểm của nguồn nhân lực thành phố theo từng giai đoạn Vì lẽ đó, Thường trực Thành ủy đã giao trách nhiệm cho Ban Tư tưởng – Văn hóa Thành ủy chủ trì một dự án nghiên cứu HDI của thành phố năm 2002 Ủy Ban Nhân dân thành phố cũng đã có văn bản số 1545/UBVX ngày 11/4/2003 gởi UBND các quận huyện và thủ trưởng các ban ngành thành phố yêu cầu phối hợp cùng Ban TT-VH Thành ủy triển khai thực hiện các nội dung của Dự án

Trong vòng 3 quý vừa bảo vệ đề cương dự án như một đề tài khoa học, vừa thu thập số liệu mới và tận dụng những dữ liệu được các ngành chuyên môn tích lũy và cung cấp, Ban Chủ nhiệm đề tài chúng tôi đã tập hợp và xử lý được nhiều thông tin cần thiết cho hoạt động quản lý thành phố khoảng 5,5 triệu dân này trong báo cáo khoa học trình ra đây Vì đề tài đề có nhiều nội dung vượt khỏi khuôn khổ HDI nên chúng tôi đã

đặït tên cho đề tài là “Nghiên cứu đo đạc một số chỉ tiêu chất lượng sống năm 2002

của thành phố Hồ Chí Minh” Trong báo cáo này, Ban Chủ nhiệm đề tài đã đối chiếu

những số liệu có được của thành phố trong nhiều lĩnh vực kinh tế- xã hội (thu nhập, sức khoẻ, giáo dục) để tính HDI của thành phố năm 2002, ngoài ra còn đối chiếu những số liệu thu thập đáng tin cậy để đối chiếu với một số các mục tiêu trong và ngoài khuôn khổ MDG (Millenium Development Goals) , VDG (Việt Nam Millenium Development Goals) trên các lĩnh vực nhà ở, sinh hoạt văn hóa tinh thần, môi trường, bình đẳng giới Trong phạm vi thông tin có được, chúng tôi có đối chiếu một vài chỉ số có thể so sánh được của thành phố trong những năm khác nhau với một số địa phương trong nước và ngoài nước, của 22 quậân huyện với nhau Hy vọng là những đánh giá

Đề tài:

NGHIÊN CỨU ĐO ĐẠC MỘT SỐ CHỈ TIÊU CHẤT LƯỢNG SỐNG NĂM 2002

CỦA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Chủ nhiệm đề tài: TS Hồ Thiệu Hùng

PHÓ TRƯỞNG BAN TƯ TƯỞNG- VĂN HOÁ THÀNH ỦY TP HỒ CHÍ MINH

Danh sách cộng tác viên

1 TS Lê thị Thanh Loan Cục Thống Kê TPHCM

4 Nguyễn thị Giáng Hương Cục Thống Kê TPHCM

5 ThS Nguyễn thị Thanh Kiều Ban TT-VH Thành ủy

Trang 2

định lượng nói trên sẽ giúp các cấp quản lý thấy rõ thực trạng địa phương mình, từ đó chấp nhận sử dụng một chuẩn chung để đo sự chuyển biến trong những năm tiếp theo Trong quá trình hình thành triển khai đề tài này, Ban Chủ nhiệm chúng tôi đã nhận được sự giúp đỡ rất kịp thời của các Sở, Ban, ngành thành phố- đặc biệt là đội ngũ các chuyên viên của Cục Thống kê, sự cộng tác của UBND và Ban Tuyên giáo 22 quận huyện, Hiệu trưởng 49 trường ĐH-CĐ trên thành phố và các em sinh viên tình nguyện Mùa Hè xanh 2003 của trường Đại học Mở Bán công Đặc biệt sự giúp đỡ của Ban Khoa Giáo TW, Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn quốc gia, Viện Nghiên cứu con người; của tiến sĩ Vũ Quốc Huy- Viện Kinh tế học- và của ông Robert P Glofcheski, Chuyên viên Kinh tế Trưởng của UNDP thường trú tại Hà Nội là hết sức quý báu Xin thay mặt nhóm nghiên cứu bày tỏ lòng biết ơn đến những người đã trực tiếp hoặc gián tiếp cùng góp sức với chúng tôi

Tháng 11 năm 2003

Chủ nhiệm đề tài

TS HỒ THIỆU HÙNG

Trang 3

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

CEBCS Children Ever Born-

Children Surviving

Tổng số con đã sinh hiện còn sống

ĐT 1-7-03 Điều tra trình độ văn hóa và điều

kiện sống 1-7-2003 GDI Gender Development Index Chỉ số phát triển giới

GDP Gross Domestic Product Tổng sản phẩm quốc nội

HDI Human Development Index Chỉ số phát triển con người

HPI Human Poverty Index Chỉ số nghèo

IMR Infant Mortality Rate Tỷ lệ tử vong trẻ em

MDG Millenium Development

Goals

Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ1

PPP Purchasing Power Parity Sức mua của đồng tiền

STD Sex Transmitted Diseases Bênh lây qua đường tình dục

UNDP United Nations’ Development

Program

Chương trình phát triển Liên Hiệp Quốc

VDG VietNam Development Goals Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ

của riêng Việt Nam2YMS Mean School Years Số năm học trung bình

1 Xem nội dung MDG trong Phu lục

2 Xem nội dung VDG trong Phu lục

Trang 4

DANH MỤC CÁC BẢNG

1 Tổng sản phẩm (GDP) trên địa bàn (theo giá thực tế) 32

6 Thu nhập bình quân đầu người theo 5 nhóm và ngành 36

7 Tỷ lệ người 15 tuổi trở lên biết đọc biết viết 38

8 So sánh tỷ lệ biết đọc biết viết năm 1999 với năm 2000 38

9 Tỷ lệ từ 6 đến 10 tuổi đến trường tiểu học 40

10 Tỷ lệ từ 11 đến 14 tuổi đến trường trung học cơ sở 41

11 Tỷ lệ từ 15 đến 17 tuổi đến trường trung học phổ thông 42

12 Tỷ lệ từ 18 đến 24 tuổi đi học trường đại học và cao đẳng 43

13 Tỷ lệ sinh viên là người có hộ khẩu thành phố trong dân cư từ

18-24 tuổi năm 2002

44

16 Xếp hạng quận huyện theo chỉ số giáo dục 48

18 Đối chiếu các chỉ số cơ bản dùng để tính HDI 50

20 Tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em ở một số thành phố lớn 52

21 Tình trạng suy dinh dưỡng của trẻ dưới 5 tuổi từ 1999 đến 2002 53

22 Tình trạng suy dinh dưỡng ở nội thành, ngoại thành- vùng ven 54

25 Người trong độ tuổi lao động phân theo tình trạng việc làm 58

26 Xếp hạng quận huyện theo tỷ lệ người nghiện ma túy 60

27 Số trường hợp nhiễm HIV phát hiện qua các năm 62

28 Kết quả giám sát dịch tễ trên các nhóm đối tượng 62

29 Các nhóm đối tượng có nguy cơ nhiễm HIV/AIDS cao 63

30 Thu nhập bình quân đầu người năm 2002 theo 5 nhóm 65

31 Thu nhập bình quân đầu người năm 2002 theo 10 nhóm 66

34 Tỷ lệ nghèo theo chuẩn của thành phố 69

Trang 5

36 Tỷ lệ hộ có hố xí hợp vệ sinh 70

38 Các chỉ số phân bổ công bằng theo giới 71

43 Tỷ lệ hộ dùng các loại phương tiện giao thông 76

44 Tỷ lệ hộ có máy thu thanh, TV, điện thoại cố định và di động,

máy vi tính và kết nối internet

76

45 So sánh năng suất lao động xã hội giai đoạn 2000- 2002 77

46 Giá trị sản xuất một số ngành kinh tế chia theo quận, huyện 79

47 Cơ cấu giá trị sản xuất của quận huyện phân theo ngành kinh

tế năm 2002 kể cả các đơn vị Trung ương và đầu tư nước ngoài đóng trên địa bàn

81

48 Cơ cấu giá trị sản xuất của quận huyện phân theo ngành kinh

tế năm 2002 không kể các đơn vị Trung ương và đầu tư nước ngoài đóng trên địa bàn

82

49 Chi phí cho học sinh/năm từ 2 nguồn theo cấp học 83

Trang 6

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

1 Tỷ lệ sinh viên trong dân số 18-24 tuổi 45

2 Tỷ lệ suy dinh dưỡng cân nặng theo tuổi 52

3 Tỷ lệ suy dinh dưỡng chiều cao theo tuổi 53

4 Tỷ lệ suy dinh dưỡng cân nặng theo chiều cao 53

5 Tình trạng suy dinh dưỡng trong vòng 4 năm 54

8 Tỷ lệ người nhiễm HIV dưới 30 tuổi/Số người nhiễm HIV mới

hàng năm

63

10 Tỷ lệ người nhiễm HIV nữ/Số người nhiễm HIV mới hàng năm 64

Trang 7

MỤC LỤC

B MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ SẢN PHẨM ĐĂNG KÝ trang 12

C PHƯƠNG PHÁP LUẬN NGHIÊN CỨU trang 17

D KẾT QUẢ CÔNG TRÌNH trang 31

I Chương I: KẾT QUẢ ĐO ĐẠC CÁC CHỈ TIÊU HDI trang 32

I.1 GDP của thành phố và GDP bình quân đầu người năm 2002 trang 32

I.2 Tuổi thọ trung bình trang 37

I.3 Trình độ giáo dục trang 38

I.3.1 Tỷ lệ người từ 15 đến 35 tuổi biết đọc biết viết

I.3.2 Tỷ lệ thanh thiếu niên từ 6 đến 24 tuổi đến trường

I.3.3 Số năm học trung bình người dân thành phố từ 7 tuổi trở lên

I.3.4 Chỉ số giáo dục và xếp hạng quận huyện theo chỉ số giáo dục

II Chương II: KẾT QUẢ ĐO ĐẠC CÁC CHỈ TIÊU MDG trang 52

II.1 Tỷ lệ trẻ em từ 5 tuổi trở xuống suy dinh dưỡng trang 52

II.2 Tỷ lệ bà mẹ tử vong khi sinh trang 56

II.3 Tỷ lệ người thất nghiệp trang 57

II.4 Tỷ lệ người nghiện ma tuý trang 60

II.5 Tỷ lệ nhiễm HIV/AIDS trang 62

II.6 Thu nhập trung bình của 5 nhóm dân cư trang 65

II.7 Tỷ lệ hộ và người nghèo theo chuẩn quốc gia và thành phố trang 67

II.8 Tỷ lệ hộ và dân được tiếp cận với nước sạch trang 70

II.9 Tỷ lệ hộ và dân có hố xí hợp vệ sinh trang 70

II.10 Bình đẳng giới trang 71

III Chương III: KẾT QỦA ĐO ĐẠC CÁC CHỈ TIÊU KHÁC

VỀ CHẤT LƯỢNG SỐNG trang 74

III.1 Tỷ lệ hộ có nhà kiên cố trang 74

III.2 Tỷ lệ hộ có điện sinh hoạt trang 75

III.3 Tỷ lệ hộ được thu gom rác trang 75

III.4 Tỷ lệ hộ dùng các loại phương tiện giao thông trang 76

III.5 Tỷ lệ hộ sử dụng các phương tiên thông tin điện tử

(TV, điện thoại cố định và di động, máy vi tính và internet) trang 76

III.6 Năng suất lao động xã hội trang 77

III.7 Giá trị sản xuất phân theo quận huyện trang 78

Trang 8

III.8 Mức chi cho đầu học sinh phổ thông mỗi cấp từ 2 nguồn trang 83

IV Chương IV: ĐÁNH GIÁ CHUNG trang 86

E KIẾN NGHỊ trang 89

F TÀI LIỆU THAM KHẢO trang 93

Trang 9

A- TOÅNG QUAN

Trang 10

Hơn một thập kỷ trước đây, một quan niệm khá phổ biến để xác định mức phát triển của một quốc gia, một địa phương là sử dụng GDP và GDP/ đầu dân Nước nào có GDP theo đầu dân cao được xem là nước phát triển cao, nước nào GDP theo đầu dân càng thấp bị xem là ít phát triển hơn Một cách vô tình, tăng trưởng kinh tế trở thành chìa khoá của sự phát triển, thành tiêu chí duy nhất đánh giá sự phát triển của quốc gia và con người Con người vốn là mục tiêu của sự phát triển đã bị đặt ở hàng thứ yếu

Cách nhìn nhận như vậy đã dẫn theo những hậu quả xấu cho sự phát triển bền vững Nhìn thấy hạn chế này, thế giới đã có cách tiếp cận mới về sự phát triển con người và đưa ra hệ thống tiêu chí mới để đo đạc mức phát triển đó Chỉ số phát triển con người (HDI) ra đời vào đầu thập kỷ 90 của thế kỷ trước đã tạo ra một đảo lộn trong việc xếp hạng mức phát triển của các quốc gia HDI đã nhanh chóng được đánh giá cao vì tính khoa học và tiến bộ của nó nên được áp dụng rộng rãi trên thế giới từ

đó đến nay Ở Việt Nam, đáp ứng yêu cầu rộng rãi của các tỉnh thành, sách Báo cáo Phát triển con người Việt Nam 2001 của TRUNG TÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ

NHÂN VĂN QUỐC GIA do Nhà Xuất bản Chính trị quốc gia ấn hành- Hà Nội 2001- đã công bố HDI từng tỉnh thành căn cứ vào số liệu thống kê 1999

Đây là thông tin rất quý cho các cấp lãnh đạo và nhà nghiên cứu để tìm hiểu về Việt Nam và mỗi tỉnh thành theo các tiêu chí được thế giới sử dụng Tuy nhiên, do mới lần đầu tiên thực hiện việc đo đạc HDI trên phạm vi toàn quốc nên các tỉnh thành chỉ biết thụ động tiếp nhận kết quả trên những lĩnh vực được đề cập Còn rất nhiều câu hỏi lại phải được chính địa phương tự giải đáp một cách thường xuyên và đúng theo giai đoạn phù hợp với yêu cầu quản lý của mình

Trong nước, ngoài tỉnh Quảng Ngãi có tổ chức điều tra và nghiệm thu một báo cáo HDI của tỉnh vào năm 2001, chưa có tỉnh nào (tính đến 4/2003) công bố số liệu tương tự Kinh nghiệm của tỉnh đi đầu trên lĩnh vực nghiên cứu này cho thấy mỗi địa

Trang 11

phương cần và có thể tự đo đạc mình với sự giúp đỡ của Viện Nghiên cứu con người theo các tiêu chí đã trở nên phổ biến trên thế giới

Lớp tập huấn của Ban Khoa giáo Trung ương tổ chức cho các tỉnh thành phía Nam tại thành phố Hồ Chí Minh cuối năm 2002 đã cung cấp những nội dung quan trọng cần thiết để mỗi tỉnh thành có thể đo đạc HDI của địa phương mình

Nghiên cứu các chỉ tiêu chất lượng sống của thành phố Hồ Chí Minh là một loại đề tài khoa học mới mẻ: mới về hệ thống nội dung cần điều tra; mới về tiêu chí; mới về cách thu thập, tổng hợp, tính toán và xử lý số liệu; mới về lực lượng tham gia Mặc dù hàng năm Cục Thống kê có công bố các số liệu về GDP của thành phố, thu nhập dân cư và một số số liệu thô vềgiáo dục, y tế nhưng các dữ liệu trên là chưa đủ và chưa hề được sử dụng để xác định các chỉ số cần thiết cho việc tính chỉ số phát triển con người - HDI- của thành phố qua từng giai đoạn Báo cáo khoa học, thành quả của đề tài này, là báo cáo đầu tiên do chính các ban ngành của thành phố cùng nhau cung cấp số liệu cho Ban Chủ nhiệm đề tài gạn lọc, xử lý, trình bày theo đúng các tiêu chuẩn của UNDP áp dụng cho các quốc gia trên thế giới khi tính HDI và các chỉ tiêu MDG Cũng lần đầu tiên, vị trí của 22 quận huyện cũng được thử xác định theo một tiêu chí chung, tổng hợp mức phát triển, cung cấp một cách nhìn tương đối bao quát, được định lượng hoá về từng quận huyện

Trang 12

B- MỤC TIÊU, NỘI DUNG

VÀ SẢN PHẨM

Trang 13

I MỤC TIÊU VÀ NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

Mục tiêu của đề tài là:

• Dùng các thước đo và công thức được UNDP áp dụng phổ biến trên thế giới để tính toán các chỉ số phát triển con người thành phố như tuổi thọ, thu nhập, giáo dục cùng một số chỉ tiêu khác liên quan đến chất lương sống, chất lượng nguồn nhân lực

tại thành phố và 22 quận huyện trong năm 2002

• Cung cấp những luận cứ khoa học để lãnh đạo thành phố, một số ngành và lãnh đạo quận huyện đánh giá một cách định lượng thực trạng và sự chuyển biến của đơn vị mình, tự định vị so với đơn vị bạn, xác định những chỉ tiêu cho tương lai một

cách khoa học hơn

Nội dung nghiên cứu cụ thể là:

• Trong khuôn khổ HDI: đo đạc

1 GDP của thành phố và GDP theo đầu người năm 2002

2 Tuổi thọ trung bình của người dân thành phố

3 Tỷ lệ dân từ 15 tuổi trở lên biết chữ trên thành phố và trên từng quận

huyện (Từ đây sẽ ký hiệu dấu * cho những chỉ tiêu tính được đến từng quận huyện; những chỉ tiêu không có dấu * có nghĩa là chỉ tính chung cho thành phố mà thôi)

4 Tỷ lệ nhập học tiểu học , trung học cơ sở, trung học phổ thông, CĐ- ĐH theo từng độ tuổi 6-10, 11-14, 15-17,18-24 và từng giới *

5 Số năm học trung bình (Yms) của người dân từ 7 tuổi trở lên *

6 HDI của thành phố năm 2002

7 Tỷ lệ thất nghiệp *

8 Tỷ lệ trẻ em từ 5 tuổi trở xuống suy dinh dưỡng

9 IMR-tỷ lệ trẻ tử vong đưới 1 tuổi

10 Tỷ lệ bà mẹ tử vong khi sanh

Trang 14

11 Tỷ lệ nhiễm HIV/AIDS

12 Tỷ lệ người nghiện ma túy *

13 Bình đẳng giới

14 Thu nhập trung bình của 5 nhóm dân cư

15 Tỷ lệ hộ, người nghèo theo chuẩn quốc gia và thành phố

16 Tỷ lệ hộ, người được tiếp cận với nước sạch

17 Tỷ lệ hộ, người có cầu tiêu hợp vệ sinh

Ngoài 2 lĩnh vực trên, đo đạc thêm:

18 Tỷ lệ hộ có nhà ở kiên cố

19 Tỷ lệ hộ có điện sinh hoạt

20 Tỷ lệ hộ được thu gom rác

21 Tỷ lệ hộ có phương tiện đi lại từ xe gắn máy trở lên

22 Tỷ lệ hộ có sử dụng các thiết bị radio, TV, ĐT, máy vi tính, có nối

mạng

23 Năng suất lao động xã hội của người lao động thành phố

24 Giá trị sản xuất trên địa bàn từng quận huyện

25 Mức chi cho đầu học sinh phổ thông mỗi cấp bậc học của thành phố từ

2 nguồn: nhà nước và gia đình

II GIỚI HẠN CỦA ĐỀ TÀI

Về thời điểm- chỉ đo đạc thực trạng năm 2002; về nội dung- chỉ đo đạc 25 chỉ số đã được nêu, không đo đạc toàn bộ 48 chỉ số thuộc cả 8 mục tiêu trong MDG

III Ý NGHĨA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

Từ nhận thức nguồn lực con người là “quý báu nhất, có vai trò quyết định đặc biệt đối với nước ta khi nguồn lực vật chất còn hạn hẹp”, Đại hội IX Đảng CSVN đã đề ra mục tiêu “nâng đáng kể chỉ số phát triển con người (HDI) của nước ta” Việc

Trang 15

“cung cấp luận cứ khoa học cho việc hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách phát triển kinh tế xã hội” cũng là nhiệm vụ mà Đại hội Đảng CSVN lần thứ IX đã giao cho khoa học

Hàng năm, nhất là vào năm chuẩn bị đại hội đảng bộ các cấp, việc đánh giá một cách định lượng và chính xác tình hình phát triển kinh tế-xã hội, đặc biệt là các tiêu chí liên quan đến nguồn nhân lực, luôn hết sức bức xúc Việc xây dựng nhiều mục tiêu, chỉ tiêu phát triển để đưa vào nghị quyết Đảng bộ cho giai đoạn tiếp theo chưa thật chặt chẽ do thiếu những số liệu đáng tin và có hệ thống Có số liệu rất cơ bản như số sinh viên đại học trên đầu dân, thành phố chúng ta cũng chưa có cách tính khoa học, phản ánh sát thực trạng mà vẫn thường gộp sinh viên của các tỉnh học tại đây để tính thành tỷ lệ cho thành phố Thực tiễn đòi hỏi phải áp dụng một hệ thống các tiêu chí vừa phản ánh được đúng thực trạng một số mặt liên quan đến nguồn nhân lực thành phố vừa có thể định lượng hóa được Các tiêu chí này phải được nhiều nước áp dụng trong hoạt động thống kê để số liệu của địa phương này (thành phố, quận huyện) có thể đem so sánh được với số liệu địa phương khác

Thực hiện Đề tài này chính là để cung cấp luận cứ khoa học cho việc hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách phát triển kinh tế-xã hội của thành phố và quận huyện; góp phần tích cực vào việc khắc phục dần tình trạng báo cáo không khách quan cùng tình trạng duy ý chí trong việc đề ra các mục tiêu tương lai

Cán bộ các ngành chuyên môn cấp thành phố và quận huyện (nhất là ngành thống kê) cũng được dịp thực tập áp dụng những thước đo mà thế giới đã sử dụng để tính toán cho địa phương mình, ngành mình, qua đó mà nâng cao trình độ nghiệp vụ, nâng cao độ tin cậy của các loại báo cáo chuyên môn

Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ thiết thực phục vụ cho lãnh đạo các quận huyện và lãnh đạo thành phố trong việc hoạch định các chủ trương chính sách nhờ nắm vững thực trạng địa phương mình một cách định lượng trên một số lĩnh vực quan trọng; phục vụ cho các nhà đầu tư nghiên cứu thị trường nhân lực và tiêu thụ hàng hóa;

Trang 16

phục vụ cho các cơ quan thống kê; phục vụ cho những cuộc đo đạc theo các tiêu chí thống nhất trên phạm vi cả nước

IV SẢN PHẨM CỦA ĐỀ TÀI

Báo cáo khoa học kèm các phụ lục

Sau khi biên tập lại, kết quả nghiên cứu có thể được xuất bản thành tài liệu

“Chất lượng sống năm 2002 của thành phố Hồ Chí Minh”

Trang 17

C- PHƯƠNG PHÁP LUẬN NGHIÊN CỨU

Trang 18

I NGHIÊN CỨU LÝ LUẬN VÀ CÁC TÀI LIỆU LIÊN QUAN

Tham khảo và sử dụng các kết quả được công bố trong ngoài nước về các vấn đề liên quan; nghiên cứu bộ tài liệu tập huấn cách tính HDI do Ban Khoa giáo Trung ương mở vào cuối năm 2002, các tham luận trong các cuộc hội thảo khoa học, sử dụng số liệu các báo cáo của các ngành chuyên môn theo ngành dọc (Sở GD-ĐT, Sở LĐTB-XH, Công An thành phố, Sở Y tế, Cục Thống kê), báo cáo của 49 trường ĐH-

CĐ đóng trên địa bàn thành phố, kết quả điều tra theo chuyên đề, kết quả các công trình nghiên cứu khoa học và báo cáo chuyên ngành của các tổ chức như Trung tâm Dinh dưỡng thành phố, Trung tâm Bà mẹ và KHHGĐ thành phố… đã được công bố và thừa nhận Phân tích, đối chiếu, diễn dịch các số liệu thu nhận qua từng thời kỳ

II PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRA, KHẢO SÁT, TÍNH TOÁN

II.1 Điều tra trình độ văn hóa và điều kiện sống 1-7-2003

Cuộc điều tra trình độ văn hóa và điều kiện sống 1-7-2003 được Cục Thống kê thiết kế và thực hiện nhằm thu thập những thông tin còn thiếu theo yêu cầu của đề tài nghiên cứu Đây là cuộc điều tra chọn mẫu Kết quả điều tra dùng để suy rộng cho thành phố, khu vực thành thị, nông thôn và các quận, huyện

Cuộc điều tra đã được tổ chức đúng theo yêu cầu khoa học, có phương án điều tra, sổ tay điều tra viên dùng để tập huấn và hướng dẫn điều tra viên phương pháp thu thập thông tin, giải thích các khái niệm chỉ tiêu điều tra thống nhất, đảm bảo chất lượng số liệu thu thập được

Đã phỏng vấn trực tiếp 19.416 hộ gia đình ở 210 địa bàn của 70 xã, phường và

22 quận, huyện; huy động 220 điều tra viên là sinh viên trường Đại học Mở bán công và 60 đội trưởng, giám sát viên là cán bộ Thống kê thành phố, quận, huyện

Trang 19

* Chọn mẫu, danh sách đơn vị mẫu

Mẫu điều tra được thiết kế theo phương pháp chọn mẫu hai giai đoạn

Giai đoạn 1: Đơn vị chọn mẫu là xã, phường Chọn xã, phường mẫu theo phương

pháp chọn mẫu theo xác suất tỷ lệ với qui mô dân số của xã, phường Số đơn vị mẫu là 70 xã, phường gồm 57 phường, 1 thị trấn và 12 xã

Aùp dụng phương pháp chọn mẫu theo xác suất tỷ lệ với qui mô dân số sẽ tạo ra mẫu tự gia quyền, dễ dàng cho việc ước luợng, suy rộng kết quả điều tra mẫu với sai số chọn mẫu thấp nhất so với các phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên khác

Giai đoạn 2: Đơn vị chọn mẫu là địa bàn Chọn mẫu theo phương pháp chọn mẫu

hệ thống Mỗi phường, xã mẫu chọn 3 địa bàn Tiến hành điều tra tất cả các hộ gia đình trong địa bàn mẫu

Số địa bàn mẫu là: 3 địa bàn x 70 phường, xã mẫu= 210 địa bàn

Số hộ điều tra được trong 210 địa bàn mẫu là: 19.416 hộ chiếm khoảng 1,6% số hộ của thành phố

* Suy rộng kết quả điều tra

Kết quả ĐT 1-7-03 được dùng để ước lượng và suy rộng các chỉ tiêu cho tổng thể như sau:

- Để tính dân số trung bình năm của toàn thành phố và quận, huyện chia theo độ tuổi, sử dụng 2 thông số sau: một là kết quả cơ cấu dân số theo từng độ tuổi của toàn thành phố, của mỗi quận, huyện từ cuộc điều tra 1-7-2003 có đối chiếu với Tổng điều tra dân số 1-4-1999; hai là dân số trung bình năm của toàn thành phố, của từng quận, huyện được ước lượng từ kết quả điều tra biến động dân số hàng năm

- Các chỉ tiêu về giáo dục như tỷ lệ dân số từ 15 tuổi trở lên biết đọc biết viết, số năm đi học bình quân của dân số từ 7 tuổi trở lên, tỷ lệ đi học đúng tuổi của các cấp được suy rộng theo phương pháp tỷ lệ phát triển Sử dụng kết quả điều tra năm

Trang 20

2003 so sánh với kết quả Tổng điều tra dân số và nhà ở 1-4-1999 cùng mẫu điều tra

210 địa bàn để tính tỷ lệ phát triển của năm 2003/1999 Suy rộng các chỉ tiêu giáo dục của toàn thành phố và quận, huyện bằng cách nhân tỷ lệ phát triển tính được của từng chỉ tiêu (toàn thành phố và từng quận, huyện) với kết quả điều tra toàn diện năm

1999 Cách suy rộng nầy cho kết quả ước lượng (suy rộng) không chệch, sai số thấp Khi tính tỷ lệ đi học các cấp, lấy kết quả suy rộng dân số theo độ tuổi làm mẫu số

- Các chỉ tiêu về điều kiện sống được suy rộng trực tiếp từ kết quả điều tra

II.2 Điều tra mức sống năm 2002

Cuộc điều tra mức sống hộ gia đình được thực hiện theo quyết định số 675/2001/QĐ-TCTK ngày 23 tháng 11 năm 2001 của Tổng Cục Thống kê Đây là cuộc điều tra nhằm thu thập thông tin phản ảnh mức sống các tầng lớp dân cư phục vụ cho việc hoạch định chính sách và lập kế hoạch phát triển kinh tế xã hội

Từ năm 2002 đến năm 2010, Tổng Cục Thống kê sẽ tiến hành Điều tra mức sống hộ gia đình 2 năm một lần (vào những năm chẵn) nhằm theo dõi và giám sát một cách có hệ thống mức sống các tầng lớp dân cư Việt Nam, đồng thời thực hiện trách nhiệm giám sát, đánh giá việc thực hiện Chiến lược toàn diện về tăng trưởng và xóa đói giảm nghèo được Thủ tướng phê duyệt Ngoài ra, cuộc điều tra nầy cũng sẽ góp phần đánh giá kết quả thực hiện các Mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ và các Mục tiêu phát triển kinh tế xã hội mà Chính phủ Việt Nam đã đề ra

Cuộc điều tra mức sống hộ gia đình là cuộc điều tra chọn mẫu, được thiết kế và thực hiện một cách công phu theo các chuẩn mực quốc tế Do yêu cầu thông tin của cấp tỉnh, thành phố nên mẫu của cuộc điều tra mức sống hộ gia đình trên cả nước năm 2002 được thiết kế khá lớn với 75.000 hộ gia đình3, đảm bảo việc suy rộng kết

3 Năm 1992-1993 và 1997-1998 dưới sự giúp đỡ về kỹ thuật và tài chính của các tổ chức quốc tế UNDP, SIDA, Ngân hàng Thế giới (WB) cùng Tổng Cục Thống kê đã thực hiện 2 cuộc điều tra mức sống hộ gia đình, qui mô mẫu của hai cuộc điều tra nầy lần lượt hơn 4.000 hộ và 6.000 hộ chỉ đủ để suy rộng cho cả nước, khu vực thành thị, nông thôn và các vùng kinh tế

Trang 21

quả điều tra đến cấp tỉnh, thành phố Trong đó mẫu điều tra của thành phố Hồ Chí Minh là 2.240 hộ gia đình rải đều khắp 22 quận, huyện của thành phố, mẫu được chọn đủ để suy rộng cho toàn thành phố và cho khu vực thành thị, nông thôn (tuy nhiên chưa đủ để suy rộng cho từng quận huyện) căn cứ trên danh sách các địa bàn điều tra của Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 1999 Mẫu điều tra được chọn theo phương pháp chọn mẫu phân tổ, ngẫu nhiên, tỷ lệ với qui mô dân số của tỉnh, thành phố

Theo phương pháp luận của cuộc điều tra nầy, mức sống không chỉ được thể hiện qua hai chỉ tiêu chủ yếu là thu nhập và chi tiêu của người dân Do đó cuộc điều tra nầy có nội dung thu thập rất phong phú (gồm 700 câu hỏi) nhằm phản ánh một bức tranh toàn diện, đầy đủ về mức sống dân cư, các nội dung thu thập thông tin bao gồm :

- Một số đặc điểm về nhân khẩu học của từng thành viên trong hộ gia đình

- Nhà ở, tiện nghi và đồ dùng lâu bền

- Tài sản cố định

- Chính sách ưu đãi đối với hộ nghèo

Ngoài nội dung thu thập thông tin ở các hộ gia đình, cuộc điều tra còn thu thập thông tin về những điều kiện kinh tế xã hội cơ bản ở các xã, phường có tác động đến mức sống của người dân Phiếu điều tra xã, phường gồm 220 câu hỏi

Cuộc điều tra mức sống hộ gia đình của thành phố năm 2002 đã được thực hiện nghiêm túc theo đúng phương án điều tra của Tổng Cục Thống kê Mẫu điều tra 2.240 hộ của thành phố đã được chia thành 3 mẫu con và thực hiện trong 3 quý 1, 2, 3 năm

2002 Số liệu về nhân khẩu, thu nhập, giáo dục, y tế, việc làm, nhà ở, xóa đói giảm

Trang 22

nghèo được thu thập trên mẫu 2.240 hộ, số liệu về chi tiêu được thu thập trên mẫu 755 hộ

Các kết quả chủ yếu của cuộc Điều tra mức sống hộ gia đình năm 2002 đã được Cục Thống kê biên soạn và công bố riêng

II.3 Một số cuộc điều tra chuyên ngành khác

Điều tra doanh nghiệp năm 2002; Tổng điều tra cơ sở kinh tế, hành chánh sự nghiệp năm 2002; các cuộc điều tra thường xuyên về nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản năm 2002; điều tra của các ngành giao thông vận tải, xây dựng năm 2002 và các báo cáo định kỳ năm 2002 của các đơn vị…

II.4 Tính GDP bình quân đầu người theo giá tương đương sức mua (PPP)

Để tính GDP bình quân theo đầu người theo giá tương đương sức mua (PPP), cần phải tính 1 USD theo giá tương đương sức mua là bao nhiêu Sử dụng chung tỷ giá VND so USD tính theo sức mua tương đương tính cho cả nước để tính GDP bình quân theo đầu người theo giá tương đương sức mua (PPP) của thành phố Hồ Chí Minh

Để tìm ra tỷ giá VND so USD tính theo sức mua tương đương năm 2001, 2002 của cả nước, phải căn cứ vào GDP bình quân đầu người cả nước năm 2001, 2002 (tính theo giá thực tế) và GDP bình quân đầu người cả nước năm 2001, 2002 (tính theo PPP)

Tính GDP bình quân đầu người của thành phố Hồ Chí Minh theo PPP năm

2001, 2002 bằng cách lấy chỉ tiêu GDP bình quân đầu người của thành phố Hồ Chí Minh năm 2001, 2002 tính theo giá thực tế chia cho tỷ giá VND so USD tính theo sức mua tương đương năm 2001, 2002 đã tính được ở trên

II.5 Tính giá trị sản xuất chia theo quận, huyện

Đề tài đã tính toán chỉ tiêu giá trị sản xuất một số ngành kinh tế chính như giá trị sản xuất công nghiệp, giá trị sản xuất nông lâm thủy sản, giá trị sản xuất ngành

Trang 23

thương mại, khách sạn, du lịch, giá trị sản xuất ngành xây dựng, giao thông vận tải và bưu điện chia theo quận, huyện

Giá trị sản xuất của các ngành kể trên được tính đầy đủ kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của tất cả các thành phần kinh tế nhà nước, dân doanh, đầu tư nước ngoài và tất cả các loại hình kinh tế như doanh nghiệp nhà nước, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, doanh nghiệp tư nhân, hợp tác xã, hộ sản xuất kinh doanh cá thể, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Kết quả tính giá trị sản xuất các ngành sản xuất kinh doanh theo từng quận, huyện dựa vào nguồn số liệu sau:

II.6 Sử dụng các công thức khác được UNDP sử dụng và số liệu thu nhận được để xác định những chỉ số chủ yếu

II.6.1 Số năm học trung bình (Yms) Mean school years –Yms- dịch là số năm học trung bình phản ánh mặt bằng

dân trí của địa phương, là kết quả của công tác xóa mù chữ, phổ cập giáo dục và phát triển giáo dục trên địa bàn Yms được UNDP quy định tính theo công thức dưới đây Để tính Yms, cần biết:

1 Số dân tại địa phương tại thời điểm đầu năm

2 Số dân tại địa phương từ 7 tuổi trở lên (M)

3 Trong đó

Phân loại trình độ hệ số được gán

a- Số dân không biết chữ 0

b- số dân biết đọc viết nhưng chưa học hết tiểu học 1

c- số dân học xong tiểu học 5

d- số dân học xong trung học cơ sở 9

e- số dân học xong trung học phổ thông 12

f- số dân học xong trung học chuyên nghiệp 14

g- số dân học xong cao đẳng 15

h- số dân học xong đại học 16

Trang 24

i- số dân có trình độ trên đại học 18

Công thức tính Yms là:

Yms= (ax0 + bx1 + cx5 + dx9 + ex12 + fx14 + gx15 + hx16 + ix18) / M

Ví dụ: trong một cộng đồng 1000 người có độ tuổi từ 7 trở lên (M =1000), qua

điều tra, ta có a= 50; b= 30; c= 400; d= 220; e= 180; f= 60; g= 30; h= 20; i= 10 vậy

Yms của cộâng đồng này là:

50x0 + 30x1 + 400x5 +220x9 + 180x12 + 60x14 + 30x15 + 20x16 + 10x18

1000

= (0+ 30 + 2000 + 1980 + 840 + 450 + 320 + 180) / 1000 = 7960/1000 = 7,96

Vậy cộng đồng dân cư này có số năm học trung bình là 7,96 năm

Ta gọi phương pháp trên là Phương pháp 1

• Ngoài ra, trong những năm 90, còn có cách tính Yms như sau cho dân số từ 6 tuổi trở lên theo quy định dưới đây:

a1 Số người biết đọc biết viết 1 a2 Số người học tiểu học 3

a4 Số người học THPT, KT 10.5 a5 Số người học CĐ-ĐH trở lên 17

Yms = (aox0 + a1x1 + a2x3 + a3x7 + a4x10.5 + a5x17)/ n

với n = a0+a1+a2+a3+a4+a5

• Cách tính của UNDP có thể được cải tiến để tính toán sát hợp với trình độ hơn

bằng cách tính theo đúng số năm học từ lớp 1 đến lớp 12, (số học trên lớp 12 vẫn

được giữ nguyên cách tính) rồi tính toán theo đúng số đã ghi Cách tính do nhóm tác giả chúng tôi đề nghị này – tạm gọi là Phương pháp 2 (PP2)- giúp cho những cộâng

Trang 25

đồng có đông người học chưa hết một cấp lớp có Yms phản ánh sát trình độ thực tế hơn Đối chiếu kết quả theo 2 phương pháp sẽ cho biết tình trạng bỏ học giữa chừng của người dân có phổ biến hay không

II.6.2 Chỉ số giáo dục

Chỉ số giáo dục (CSGD) là một loại thước đo thành tựu của một nước, một địa phương trên hai yếu tố: một là tỷ lệ người lớn biết chữ (a); hai là tỷ lệ nhập học các cấp – tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông và đại học (b)

Trong thực tế ở VN, do những khó khăn trong vấn đề điều tra trong phạm vi từng địa phương nên (b) chỉ tính tỷ lệ% đi học 3 cấp tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông trong dân cư từ 6 đến 17 tuổi, không tính tỷ lệ học đại học như trường hợp của Quảng Ngãi , tỉnh đầu tiên của Việt Nam tính HDI cho địa phương mình đã áp dụng trong năm 2001

Tỷ lệ huy động đi học cũng có 2 cách hiểu:

Tỷ lệ đi học thô - hiểu là cứ đi học thì tính là đã được huy động vào trường học,

dù học trễ tuổi Ví dụ 12 tuổi còn học ở tiểu học, 16 tuổi vẫn còn học trung học cơ sở,

19 tuổi vẫn còn học trung học phổ thông vẫn cứ được tính

Tỷ lệ đi học ròng (hay huy động tinh) - hiểu là học đúng tuổi của từng cấp

Nghĩa là nếu cuộc thống kê diễn ra trong quý 4 của năm thì 6 tuổi đã phải vào lớp 1 và 10 tuổi đang phải học lớp 5, 11 tuổi phải đang học lớp 6 còn 14 tuổi phải đang học lớp 9, 15 tuổi phải đang học lớp 10 và 17 tuổi phải đang học lớp 12 Trường hợp đi học trễ tuổi phải được loại ra Tính theo tỷ lệ đi học ròng khiến tỷ lệ huy động vào từng cấp thấp xuống do nhiều học sinh đã bị ở lại lớp hoặc đi học trễ so với độ tuổi quy định cho mỗi cấp

Trong công trình này, (b) được tính trên tỷ lệ huy động tinh, với 4 cấp và bậc học từ tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông và bậc đại học

Chỉ số giáo dục được tính theo công thức sau:

Trang 26

CSGD= a x 2/3 + b x1/3

Có thể thấy tỷ lệ người lớn biết chữ được gán cho hệ số gấp đôi tỷ lệ nhập học các cấp nên giữ vai trò quyết định giá trị của CSGD CSGD lớn nhất là bằng 1 và nhỏ nhất là bằng 0 CSGD càng gần giá trị 1 chứng tỏ địa phương có CSGD ấy phát triển giáo dục càng tốt

II.6.3 Chỉ số tuổi thọ trung bình

Một trong 3 thành phần hình thành nên HDI là tuổi thọ trung bình, ký hiệu là e0

Đây là số năm trung bình mà một đứa trẻ sinh ra có thể sống được nếu như trong cuộc đời của mình, đứa trẻ đó có nguy cơ chết theo độ tuổi giống như mức độ chết theo tuổi

(tỷ suất chết đặc trưng theo tuổi) của thời kỳ lập bảng sống

Tuổi thọ trung bình được tính bằng cách lấy tổng số năm mà toàn bộ thế hệ sống được ( tổng số năm người sống- T 0 ) chia cho tổng số sinh ban đầu của thế hệ đó (l 0 ) Tuổi thọ trung bình của dân số do vậy khác hẳn với tuổi trung bình của người chết, cũng khác hẳn với tuổi trung bình của dân số vào một thời điểm nhất định Trong

khi tuổi trung bình của người chết cũng như tuổi trung bình của dân số phụ thuộc rất nhiều vào sự thay đổi mức độ sinh qua các năm thì tuổi thọ trung bình hoàn toàn không liên quan đến mức độ sinh mà chỉ phụ thuộc vào mức chết theo độ tuổi

Xây dựng bảng sống và tính tuổi thọ trung bình dựa trên cơ sở số người chết chia theo độ tuổi của một thời kỳ nhất định và dân số chia theo độ tuổi của thời kỳ đó sẽ cho kết quả biểu thị chính xác mức độ chết và mô hình tử vong theo tuổi của thời kỳ đó Đây là phương pháp được các nước có nền thống kê tiên tiến áp dụng

Tuy nhiên, số lượng người chết thu thập qua các cuộc điều tra thường có nhiều sai sót Ví vậy mà tính e0 theo cách trình bày ở trên lại trở nên thiếu chính xác Trong

tài liệu này, e 0 được tính bằng kỹ thuật gián tiếp – phương pháp CEBCS dựa vào các

nhóm tuổi phụ nữ từ nhóm 15-19 tuổi dần lên đến nhóm 45-49 tuổi, tổng số con đã sinh (CEB) và số con hiện còn sống (CS) Số liệu đầu vào là kết quả điều tra biến

Trang 27

động dân số và KHHGĐ vào thời điểm 1/4/2002 Đây là cuộc điều tra mẫu toàn quốc với quy mô mỗi tỉnh thành khoảng 20.000 nhân khẩu thuộc 50 địa bàn điều tra Mẫu gồm 2 tầng với tầng chính là 61 tỉnh thành, mỗi tỉnh thành được chia theo 2 khu vực thành thị và nông thôn (quy mô mẫu của thành thị và nông thôn tỷ lệ thuận với tỷ trọng dân số thành thị và nông thôn), tạo nên tầng thứ cấp Trong cuộc điều tra này, mẫu của thành phố HCM có 49 địa bàn điều tra với 41 địa bàn thuộc khu vực thành thị và 8 thuộc khu vực nông thôn

Chỉ số tuổi thọ (CSTT) được xác định theo công thức sau:

Chỉ số tuổi thọ = (tuổi thọ trung bình – 25)/ (85- 25)

II.6.4 Chỉ số GDP bình quân đầu người

Chỉ số GDP bình quân đầu người đến cuối thập kỷ 80 của thế kỷ trước vẫn được sử dụng làm thước đo duy nhất sự phát triển của mỗi quốc gia Để tính chỉ số này, trước hết GDP bình quân người được điều chỉnh theo phương pháp tính tỷ giá PPP tức theo sức mua tương đương của đồng tiền GDP đầu người đạt đến một mức độ nhất định là đã có thể thoả mãn nhu cầu cơ bản của con người, vượt quá giới hạn đó thì tác dụng của thu nhập sẽ không tăng theo tỷ lệ thuận nữa mà sẽ bị hạn chế dần Vì vậy từ năm 1999, GDP được điều chỉnh theo công thức sau đây:

Chỉ số GDP = (log x i – log 100)/ (log 40.000- log100)

Trong đó xi là GDP bình quân đầu người đã được điều chỉnh theo sức mua tương đương của đồng tiền

II.6.5 Chỉ số HDI

HDI (Human Development Index) là chỉ số phát triển con người, được xây dựng từ 3 chỉ số thành phần là:

• Chỉ số tuổi thọ bình quân

• Chỉ số giáo dục (CSGD)

Trang 28

• Chỉ số GDP bình quân đầu người (CS GDP) có điều chỉnh và tính theo sức mua của đồng tiền – PPP

Công thức tính HDI là:

Theo Báo cáo phát triển người năm 2003 do UNDP công bố thì căn cứ vào các số liệu thống kê năm 2001 của 175 quốc gia và vùng lãnh thổ, Việt Nam được xếp hạng

109, thuộc loại quốc gia phát triển trung bình với chỉ số HDI bằng 0,688

Trong Báo cáo phát triển con người Việt Nam 2001 do Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn Quốc gia xuất bản với sự giúp đỡ của UNDP, chỉ số HDI của 61 tỉnh thành trên toàn quốc được xây dựng và công bố dựa theo số liệu thống kê 1999 và

được chia thành 3 nhóm: nhóm các tỉnh có chỉ số phát triển cao có HDI lớn hơn 0,7; nhóm các tỉnh có chỉ số phát triển con người trung bình có HDI từ 0,6 đến 0,7 và nhóm các tỉnh có chỉ số phát triển con người thấp có HDI dưới 0,6

HDI của thành phố Hồ Chí Minh theo số liệu thống kê và tính toán năm 1999

được công bố trong sách đã dẫn là 0,796, xếp sau Bà Rịa- Vũng Tàu- 0,825 và Hà

Nội- 0,798

II.6.6 Chỉ số phát triển giới GDI

Nếu HDI là chỉ số được dùng để đo thành tựu phát triển con người nói chung thì

GDI lại được dùng để đo và so sánh thành tựu phát triển con người theo giới, từ đó

phản ánh sự bất bình đẳng giữa nam và nữ theo 3 chỉ số thành phần đã được sử dụng để tính HDI Việc tính chỉ số GDI được thực hiện theo 3 bước sau:

Trang 29

Bước 1: tính 3 chỉ số thành phần cho riêng từng giới nam, nữ

Bước 2: Tính chỉ số phân bổ công bằng của từng chỉ số thành phần để xác định sự chênh lệch giữa nam và nữ trên 3 yếu tố- tuổi thọ, giáo dục, GDP Công thức tính như sau:

Chỉ số phân bổ công bằng = (tỷ lệ dân số nữ/ chỉ số nữ + tỷ lệ dân số nam/chỉ số nam) -1

Bước 3: Tính chỉ số GDI bằng cách tổng hợp 3 chỉ số phân bổ công bằng ứng với

3 chỉ số thành phần theo công thức sau:

Chỉ số GDI = (chỉ số công bằng về tuổi thọ + chỉ số công bằng về giáo dục +

chỉ số công bằng về GDP) / 3

GDI có giá trị bằng HDI nếu không có sự bất bình đẳng giới

II.6.7 Điểm phần trăm

Đây là một khái niệm dùng khi cần đối chiếu các tỷ lệ phần trăm với nhau Số điểm phần trăm là hiệu số của 2 tỷ lệ phần trăm của cùng một chỉ số nào đó Ví dụ khi một chỉ số nào đó từ 27% tăng lên thành 35% sau một thời gian nào đó- ta nói chỉ số này đã tăng 8 điểm phần trăm Một chỉ số khác giảm từ 3,1% còn có 1,9%, ta nói chỉ số này giảm 1, 2 điểm phần trăm

II.6.8 Xếp theo thứ hạng tổng hợp

Trong thực tế xếp hạng các đơn vị theo nhiều tiêu chí, cần thiết phải xếp thứ hạng tổng hợp để có một cách nhìn tổng hợp từng đơn vị trong mối tương quan với nhau theo các tiêu chí đã xét Công thức xếp hạng tổng hợp cho N đơn vị theo K tiêu chí được thành lập như sau:

Bước 1: Xếp hạng đơn vị i ( i = 1,2,… N) theo mỗi tiêu chí thứ hạng từ cao nhất đến thấp nhất

Bước 2: Cộng các thứ hạng của đơn vị i lại, ta được tổng số Ti

Bước 3: Chia Ti cho tích N x K, ta được số Qi

Bước 4: Lấy 1 trừ đi Qi , ta được giá trị Ti

Trang 30

Bước 5: Xếp hạng các đơn vị theo Ti, ta có thứ hạng tổng hợp của mỗi đơn vị

III SỬ DỤNG CHUYÊN GIA: của UNDP VN, Viện Kinh tế học, Trung tâm

nghiên cứu con người và chuyên gia Ban TT-VH Thành ủy, chuyên gia các ngành Thống kê, Giáo dục, TBLĐXH, Y tế tại thành phố Hồ Chí Minh và Trung ương

IV XỬ LÝ SỐ LIỆU

Số liệu được xử lý trên hệ thống máy tính của Cục Thống kê thành phố theo

các chương trình phần mềm chuyên dùng

Trang 31

D- KẾT QUẢ CÔNG TRÌNH

NGHIÊN CỨU

Trang 32

Bảng 1: Tổng sản phẩm (GDP) trên địa bàn theo ngành (giá thực tế)

Đvt: Tỷ đồng

1995 2000 2001 2002

Nông lâm thủy sản 1.207 1.487 1.595 1.632

Công nghiệp, xây dựng 14.402 34.446 39.190 45.045

Các ngành dịch vụ 21.366 39.929 44.067 49.853

Tỷ trọng GDP thành phố/ GDP cả nước

(%)

16,2 17,2 17,6 18,0

Nguồn :Cục Thống kê

Bảng 2: Tốc độ tăng GDP (%)

Giai đoạn 1995-2000 2001 so với 2000 2002 so với 2001

TP HCM Cả nước TP HCM Cả nước TP HCM Cả nước Tổng số 10,1 6,9 9,5 6,9 10,2 7,0

Công nghiệp, xây dựng 13,2 13,2 12,4 10,4 11,7 9,4

Nguồn: Cục Thống kê

GDP trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh chiếm tỷ trọng đáng kể trong GDP cả nước Năm 1995, tỷ trọng GDP của thành phố Hồ Chí Minh chiếm 16,2% trong GDP của cả nước Tỷ trọng nầy tăng dần qua các năm, đến năm 2002 thì tỷ trọng nầy đạt 18% Với tỷ trọng như thế tăng trưởng kinh tế của thành phố Hồ Chí Minh đã góp

Trang 33

phần quan trọng cho tăng trưởng kinh tế của cả nước Tốc độ tăng GDP của thành phố cũng cao hơn cả nước Trong thời kỳ 1995-2000, tăng trưởng bình quân năm của GDP trên địa bàn thành phố là 10,1%, của cả nước là 6,9% Tốc độ tăng GDP năm 2001 so với 2000 của thành phố là 9,5%, cả nước là 6,9%, năm 2002 so với năm 2001 của thành phố là 10,2%, cả nước là 7,0%; cả ba khu vực kinh tế nông lâm thủy sản, công nghiệp, xây dựng và dịch vụ đều phát triển qua các năm trong đó khu vực công nghiệp, xây dựng có tốc độ tăng cao nhất, rồi đến khu vực dịch vụ và thấp nhất là khu vực nông lâm thủy sản Tăng trưởng của khu vực dịch vụ bình quân năm của năm 1995-2000 là 8,3%, năm 2001 là 7,4% và năm 2002 là 9,2%

Sự chuyển dịch kinh tế của thành phố đang theo hướng tỷ trọng ngành công nghiệp, xây dựng tăng trong khi đó nông lâm nghiệp giảm dần

Bảng 3: Cơ cấu tổng sản phẩm trên địa bàn (%)

1995 2000 2001 2002

Nông lâm thủy sản 3,3 2,0 1,9 1,7 Công nghiệp, xây dựng 39,0 45,4 46,2 46,7 Các ngành dịch vụ 57,8 52,6 51,9 51,6

Nguồn: Cục Thống kê

Năm 1995, tỷ trọng ngành nông lâm thủy sản trong tổng sản phẩm của thành phố là 3,3% đến năm 2002 tỷ trọng nầy là 1,7% Trong khi đó ngành công nghiệp, xây dựng năm 1995 chiếm tỷ trọng là 39% đến năm 2002 đạt 46,7% Ngành dịch vụ vẫn tăng trưởng nhanh dần qua các năm tuy nhiên do tốc độ tăng của ngành dịch vụ thấp hơn ngành công nghiệp, xây dựng nên đã ảnh hưởng đến tỷ trọng của ngành dịch vụ trong tổng số Ngành dịch vụ chíếm tỷ trọng 57,8% năm 1995 nhưng đến năm 2002 tỷ trọng nầy giảm còn 51,6%

Về chỉ tiêu GDP bình quân đầu người của thành phố Hồ Chí Minh theo tỷ giá sức mua tương đương(PPP), căn cứ vào GDP bình quân đầu người tính theo tỷ giá sức mua

Trang 34

tương đương của cả nước, nhóm nghiên cứu đề tài đã tính được giá trị 1 USD theo PPP là:

2001 2002

Tỷ giá đồng VN so USD tính theo sức

mua tương đương (Đồng/USD) 2.954,9 3.039,4

Căn cứ vào tổng sản phẩm trên địa bàn và dân số trung bình của thành phố Hồ Chí Minh, GDP bình quân đầu người của thành phố như sau:

Bảng 4: GDP bình quân đầu người năm 2002

2001 2002 2002 so với 2001

GDP bình quân đầu người TP Hồ Chí

Minh tính theo 1000 đồng VN/người 16.054,0 17.714,5 110,34% GDP bình quân đầu người TP Hồ Chí

Minh tính theo PPP (USD-PPP/người) 5.433 5.828 107,28% GDP bình quân đầu người cả nước tính

theo theo PPP (USD-PPP/người) 2.070 2.212,3 106,88%

Nguồn: Cục Thống kê

GDP bình quân đầu người của thành phố Hố Chí Minh năm 2001 là 5.433 USD (PPP), năm 2002 là 5.828 USD (PPP) Qua 2 năm GDP bình quân đầu người tính theo giá sức mua tương đương tăng 7,2% So với cả nước, GDP bình quân đầu người của thành phố Hồ Chí Minh bằng 2,6 lần

Chỉ số GDP bình quân đầu người của thành phố được tính theo công thức:

log (GDP bình quân đầu người tính theo PPP)- log(100)

- - = 0,6785 ~ 0,68 log (40.000) – log (100)

tăng 1,76% so với năm 1999 (có chỉ số là 0,6668)

Có thể đối chiếu chỉ số GDP bình quân đầu người của thành phố Hồ Chí Minh năm 2002 với chỉ số một số quốc gia sau đây: Ukraina- 0,63; Venezuela-0,67;

Panama- 0,68; Iran- 0,68; Thổ Nhĩ Kỳ- 0,68; Thái lan- 0,69 Các quốc gia nói trên đều có thứ hạng cao hơn Việt Nam trong bảng xếp hạng chỉ số phát triển con người do

Trang 35

UNDP công bố trong BÁO CÁO PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI của UNDP công bố năm 20034 dựa vào số liệu thống năm 2001 Theo báo cáo này thì Việt Nam có chỉ số là 0,51

Mức thu nhập bình quân đầu người trên địa bàn thành phố năm 2002 là 908.280 đồng/tháng, hay 10,9 triệu đồng/năm Trong đó thành thị là 986.760 đồng/tháng và nông thôn là 549.060 đồng/tháng

So với cả nước và vùng Đông Nam Bộ thì mức thu nhập bình quân đầu người trên địa bàn thành phố năm 2002 bằng 2,45 lần so với mức thu nhập bình quân đầu người của cả nước và bằng 1,45 lần so với mức thu nhập bình quân đầu người của vùng Đông Nam Bộ

Bảng 5: Mức thu nhập bình quân người/ tháng (đồng)

TP Hồ Chí Minh Đông Nam Bộ Cả nước

Chung 908.280 622.950 356.800

Nguồn: Cục Thống kê

Về cơ cấu tổng thu nhập của dân cư thì tỷ lệ thu từ tiền lương tiền công chiếm 51,4%, thu từ nông lâm nghiệp, thủy sản chiếm 2,3%, thu từ công nghiệp, xây dựng chiếm 6,2%, thu từ thương mại, dịch vụ chiếm 21% và thu khác chiếm 19,1%

Xét thu nhập bình quân đầu người chia theo ngành sản xuất kinh doanh chính của hộ thì hộ nông nghiệp có thu nhập bình quân đầu người là 619.220 đồng/tháng, hộ công nghiệp là 895.310 đồng/tháng, hộ thương nghiệp là 903.710 đồng/tháng, hộ dịch vụ là 971.960 đồng/tháng Hộ lâm nghiệp là hộ có thu nhập thấp nhất (không có hộ thuộc vào nhóm 3,4,5), kế đến là hộ nông nghiệp và hộ thủy sản

4 Xem http://hdr.undp.org/reports

Trang 36

Thu nhập bình quân của 5 nhóm dân cư từ nghèo nhất đến giàu nhất chia theo ngành sản xuất kinh doanh chính của hộ như sau:

Bảng 6: Thu nhập bình quân đầu người theo 5 nhóm và ngành (ngàn đồng)

Chung Nhóm 1 Nhóm 2 Nhóm 3 Nhóm 4 Nhóm 5

Thu nhập bình quân đầu người 908,28 337,18 524,73 720,74 1.008,04 1.950,00

Nguồn: Cục Thống kê

Trong nhóm 20% hộ có thu nhập giàu nhất thì hộ thủy sản có thu nhập cao nhất: 2,8 triệu đồng/người/tháng cao hơn so với mức bình quân chung là 1,95 triệu đồng/người /tháng Có thể nói chính sách phát triển con tôm của thành phố đã làm biến đổi đáng kể bộ mặt nông thôn cũng như đời sống nhiều hộ dân ở các vùng nuôi tôm của huyện Cần Giờ và Nhà Bè

Trang 37

I.2 TUỔI THỌ TRUNG BÌNH e0

Tuổi thọ trung bình được tính bằng cách áp dụng phương pháp CEBCS với số liệu đầu vào là kết quả Điều tra biến động dân số và KHHGĐ thời điểm 1/4/2002 trên toàn quốc, chọn mẫu phân tầng với thành phố là tầng thứ nhất và thành thị-nông thôn là tầng thứ hai, thực hiện điều tra trên 41 địa bàn ở khu vực thành thị và 8 ở nông thôn

Vì mẫu thuộc khu vực nông thôn là quá ít- chỉ có 8 địa bàn- nên số liệu được điều chỉnh như sau: tính e0 cho khu vực nông thôn bằng cách lấy bình quân gia quyền (trung bình cộng có gán hệ số) e0 của chung thành phố và e0 của khu vực thành thị Tỷ trọng dân số của khu vực thành thị và nông thôn được sử dụng làm hệ số

Các số liệu cơ bản liên quan đến tuổi thọ người dân TP HCM năm 2002 được thu thập qua Điều tra biến động dân số và kế hoạch hóa gia đình 1-4-2002 toàn quốc là như sau :

IMR- tỷ lệ chết trẻ em dưới 1 tuổi là 17%0

trong đó của nam là 14,7%0

của nữ là 19,17%0

tuổi thọ người thành phố là 74,6 năm

trong đó, tuổi thọ người thành thị là 75,0 năm

tuổi thọ người nông thôn là 72,5 năm

tuổi thọ nam giới là 73,6 năm

tuổi thọ nữ giới là 76,8 năm

Chỉ số tuổi thọ = (74,6 – 25)/(85 – 25) = 0,8266

Trang 38

I.3 TRÌNH ĐỘ GIÁO DỤC

I.3.1 Tỷ lệ người từ 15 tuổi trở lên biết đọc biết viết

Số liệu điều tra mẫu suy rộng 2003 đối chiếu với số liệu Tổng Điều tra dân số 4-1999 cho biết kết quả sau đây:

1-Bảng 7: Tỷ lệ người từ 15 tuổi trở lên biết đọc biết viết (đv: %)

Nguồn: Cục Thống kê

Nhận định: Tỷ lệ biết đọc viết ở ngoại thành vẫn thấp hơn ở nội thành nhưng có xu

hướng tăng nhanh hơn nội thành (2,84 điểm phần trăm so với 2,02 điểm phần trăm trong vòng 4 năm) Sự bất bình đẳng giữa thành thị và nông thôn đang rút ngắn lại

Bảng 8: So sánh tỷ lệ biết đọc biết viết năm 1999 với năm 2002 (đv: %)

- Huyện Củ Chi 92,93 15 96,35 14

- Huyện Hóc Môn 94,03 12 97,38 6

- Huyện Bình Chánh 92,85 16 95,01 18

- Huyện Nhà Bè 89,10 20 92,87 21

- Huyện Cần Giờ 85,66 22 88,45 22

Trang 39

Nguồn: Cục Thống kê

Mọi quận huyện đều có tiến bộ trong chỉ số này nhưng với mức độ nhanh chậm khác nhau, những quận có tỷ lệ cao ( Bình Thạnh, Phú Nhuận, Gò Vấp) có mức tăng chậm hơn những quận huyện có tỷ lệ biết đọc viết thấp hơn (Quận 11, Nhà Bè, Cần Giờ) Nhưng do xuất phát điểm thấp nên những huyện phát triển giáo dục còn yếu như Nhà Bè và Cần Giờ vẫn còn phải mất nhiều thời gian mới có thể vươn lên kịp trình độ chung

Báo cáo của Sở GD-ĐT về tỷ lệ người biết chữ trong diện 15-35 tuổi cho thấy số liệu còn khả quan hơn, đặc biệt trong nữ giới (xem phụ lục)

I.3.2 Tỷ lệ thanh thiếu niên từ 6 đến 24 tuổi đến trường

Theo quy định chung, chỉ số giáo dục phải được tính trên tỷ lệ huy động tinh, tức là huy động đúng tuổi: Vào quý 3 hàng năm, trẻ 6 đến 10 tuổi phải vào tiểu học, 11-

14 tuổi –vào trung học cơ sở, 15-17 tuổi –vào trung học phổ thông, 18-24 tuổi – vào học đại học-Cao đẳng Để đáp ứng yêu cầu tính chỉ số giáo dục cho từng quận huyện, cần biết trẻ em cư ngụ tại mỗi quận huyện đã được huy động theo tỷ lệ nào Những yêu cầu trên chưa thể được đáp ứng bằng các số liệu của Sở GD-ĐT do yêu cầu thống kê của ngành không tách được số trẻ học đúng tuổi với số học quá tuổi, số học sinh từng Phòng GD-ĐT quận huyện lại bao gồm cả học sinh quận huyện khác kéo đến học (nên mới có nhiều quận huyện báo cáo số học sinh trong một cấp học của mình lên đến hơn 110% số trẻ em trong độ tuổi cấp học đó của địa phương) Số liệu báo cáo của Sở GD-ĐT được đưa vào các bảng phụ lục để tham khảo Trong đề tài này, chúng tôi sử dụng kết quả cuộc điều tra mẫu do Cục Thống kê tiến hành trên 22 quận huyện vào 1-7-2003 rồi đối chiếu với số liệu Tổng Điều tra dân số 1-4-1999 để điều chỉnh và suy rộng Kết quả được trình bày trong bảng tính dưới đây:

Trang 40

Bảng 9: Tỷ lệ từ 6 đến 10 tuổi đến trường tiểu học (đv: %)

Tỷ lệ học tiểu học (%)

- Huyện Củ Chi 96,08 95,90 96,26

- Huyện Hóc Môn 94,82 94,70 94,95

- Huyện Bình Chánh 92,94 92,93 92,94

- Huyện Nhà Bè 96,07 96,21 95,94

- Huyện Cần Giờ 88,41 88,28 88,55

Nguồn: Cục Thống kê

Trừ Cần Giờ có tỷ lệ huy động học tiểu học đúng tuổi thấp dưới 90%, tất cả các quận huyện còn lại đều có tỷ lệ huy động đúng tuổi tốt Sự khác biệt giữa thành thị và nông thôn hầu như không đáng kể Nữ được huy động đúng tuổi còn cao hơn nam ở khu vực thành thị lẫn nông thôn Có thể khẳng định công cuộc phổ cập tiểu học đã thu được thành quả vững chắc

Ngày đăng: 20/05/2018, 21:40

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w