Trong chiến lược phát triển Dạy nghề thời kỳ 2011 – 2020 của Thủ tướng chính phủ phê duyệt theo quyết định số 630/QĐ-TTg ngày 29 tháng 5 năm 2012, đã xác định rõ mục tiêu phát triển dạy
Trang 1BỘ GIAO THÔNG VẬN TẢI BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÀNG HẢI VIỆT NAM
Trang 2BỘ GIAO THÔNG VẬN TẢI BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÀNG HẢI VIỆT NAM
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu do bản thân tôi thực hiện, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS TS Hồ Thị Thu Hòa;
Tất cả các dữ liệu nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa từng công bố trong các công trình khác
Tôi xin cam đoan rằng tất cả các thông tin trích dẫn trong luận văn được nêu rõ nguồn gốc
TÁC GIẢ
LÊ XUÂN
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Luận văn này được hoàn thành với sự hỗ trợ rất nhiều từ phía các đồng nghiệp tại Trường Cao Đẳng Nghề Hàng Hải Thành phố Hồ Chí Minh;
Lời đầu tiên tôi xin bày tỏ sự biết ơn sâu sắc đến PGS TS Hồ Thị Thu
Hòa người đã luôn theo sát, tận tình giúp đỡ hướng dẫn cho tôi trong toàn bộ quá
trình nghiên cứu và thực hiện Luận văn này;
Tiếp đến tôi xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu, Quý thầy cô của Trường cao đẳng nghề Hàng hải Thành phố Hồ Chí Minh đã quan tâm giúp đỡ, tạo điều
kiện thuận lợi cho tôi trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và thực hiện đề tài;
Và tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn đến Quý thầy cô của Trường Đại học Hàng hải Việt Nam đã cho tôi những kiến thức vô cùng quý báu trong suốt quá
Trang 5MỤC LỤC DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT VI
DANH MỤC CÁC BẢNG VII
DANH MỤC CÁC HÌNH VIII
LỜI MỞ ĐẦU IX
1 Tính cấp thiết của đề tài ix
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài x
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài x
4 Phương pháp nghiên cứu của đề tài x
5 Kết cấu của đề tài x
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài xi
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO NGHỀ 1
1.1 Khái niệm về đào tạo nghề 1
1.1.1 Khái niệm về nghề 1
1.1.2 Khái niệm về đào tạo nghề 3
1.2 Chất lượng đào tạo nghề 4
1.2.1 Khái niệm chất lượng dịch vụ 5
1.2.2 Khái niệm về chất lượng đào tạo nghề 8
1.2.3 Các tiêu chuẩn đánh giá đối tượng đào tạo nghề 13
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo nghề 15
1.4 Cơ sở pháp lý về chất lượng đào tạo nghề tại cơ sở đào tạo 16
1.5 Các tiêu chí, tiêu chuẩn đánh giá chất lượng đào tạo nghề 18
1.6 Kinh nghiệm trong và ngoài nước 18
1.6.1 Mô hình đào tạo kết hợp nâng cao kỹ năng chuyên môn tại doanh nghiệp của trường Cao đẳng nghề LILAMA2 18
1.6.2 Mô hình đào ta ̣o nghề “kép” ở Đức: 19
1.6.3 Mô hình đào tạo nghề ở Cộng hòa Ai-len 20
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO CỦA TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ HÀNG HẢI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 21
2.1 Giới thiệu tổng quan về trường Cao đẳng nghề Hàng hải Tp.HCM 21
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển 21
2.1.2 Chức năng, Nhiệm vụ 23
2.1.2.1 Chức năng 23
2.1.2.2 Nhiệm vụ 23
2.2 Thực trạng chất lượng đào tạo của trường Cao đẳng nghề Hàng hải Tp.HCM 33
2.2.1 Các nghề đào tạo và quy mô đào tạo 33
2.2.2 Cơ sở vật chất và tài chính 37
2.2.2.1 Về cơ sở vật chất 37
2.2.2.2 Về tài chính 38
2.2.3 Đánh giá chung về kết quả đào tạo nghề của trường Cao đẳng nghề Hàng hải Tp.HCM trong giai đoạn 2011 - 2015 39
2.2.4 Đánh giá của sinh viên – học sinh 42
Trang 62.2.6 Đánh giá của doanh nghiệp 48
2.2.7 Đánh giá của người học đã tốt nghiệp đi làm 52
2.3 Nhận xét chung về chất lượng đào tạo của Cao đẳng nghề Hàng hải Tp.HCM trong giai đoạn 2010- 2015 56
2.3.1 Ưu điểm: 56
2.3.2 Nhược điểm: 59
2.3.3 Nguyên nhân 61
2.3.3.1 Nguyên nhân khách quan 61
2.3.3.2 Nguyên nhân chủ quan 61
2.4 Những thách thức và cơ hội đối với việc nâng cao chất lượng đào tạo của trường Cao đẳng nghề Hàng hải Tp.HCM 63
2.4.1 Những thách thức đối với việc nâng cao chất lượng đào tạo của trường Cao đẳng nghề hàng Hải Tp.HCM 63
2.4.1 Những cơ hội đối với việc nâng cao chất lượng đào tạo của trường Cao đẳng nghề Hàng hải Tp.HCM 63
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO CỦA TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ HÀNG HẢI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRONG GIAI ĐOẠN 2016 - 2020 65
3.1 Cơ sở thực hiện các giải pháp 65
3.1.1 Quy hoạch nguồn nhân lực GTVT giai đoạn 2011 - 2020 65
3.1.2 Chiến lược phát triển trường Cao đẳng nghề Hàng hải Tp.HCM đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 66
3.2 Mục tiêu của các giải pháp 69
3.2.1 Về quy mô đào tạo 69
3.2.2 Về việc làm sau đào tạo 69
3.2.3 Về trình độ sinh viên – học sinh sau đào tạo 69
3.2.4 Về kiểm định chất lượng 69
3.2.5 Về giáo viên, giảng viên 70
3.2.6 Về quản trị nhà trường: 71
3.3 Một số giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo của trường Cao đẳng nghề Hàng hải Tp.HCM trong giai đoạn 2016 - 2020 71
3.3.1 Giải pháp đối với giáo viên 71
3.3.1.1 Giải pháp nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ năng ngoại ngữ tin học của giáo viên 71
3.3.1.2 Nâng cao năng lực giảng dạy 73
3.3.2 Giải pháp đối với hoạt động tự học tập và rèn luyện của sinh viên – học sinh 74
3.3.3 Giải pháp đối với công tác quản lý, biên soạn giáo trình; xây dựng chương trình 77
3.3.3.1 Giải pháp xây dựng chương trình 77
3.3.3.2 Giải pháp quản lý và biên soạn giáo trình 79
3.3.4 Giải pháp đối với nâng cấp cơ sở vật chất, thư viện, phòng Lab 80
3.3.5 Giải pháp liên kết doanh nghiệp 81
3.3.6 Giải pháp hợp tác quốc tế 83
Trang 73.4 Hiệu quả dự kiến của các giải pháp 84
KẾT LUẬN-KIẾN NGHỊ 85
TÀI LIỆU THAM KHẢO 87
PHỤ LỤC 89
DANH MỤC PHỤ LỤC 89
PHỤ LỤC 1 TIÊU CHÍ, TIÊU CHUẨN KIỂM ĐỊNH CHẤT LƯỢNG TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ 90
PHỤ LỤC 2 PHIẾU KHẢO SÁT (Dành cho sinh viên – học sinh) 94
PHỤ LỤC 3 PHIẾU KHẢO SÁT (Dành cho Cán bộ quản lý, Giáo viên) 96
PHỤ LỤC 4 KẾT QUẢ KHẢO SÁT SINH VIÊN – HỌC SINH 98
PHỤ LỤC 5 KẾT QUẢ KHẢO SÁT CÁN BỘ QUẢN LÝ, GIÁO VIÊN 103
Trang 8DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Bộ GD&ĐT Bộ Giáo dục và Đào tạo
Bộ LĐTB&XH Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội
CNH - HĐH Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa
Nghề ĐKTB Nghề Điều khiển tàu biển
Nghề KTDN Nghề Kế toán doanh nghiệp
Nghề KTMTT Nghề Khai thác máy tàu thủy
Nghề QTKD – VTB Nghề Quản trị kinh doanh Vận tải biển
Trang 92 Bảng 2.2 Quy mô tuyển sinh/năm và các nghề đào tạo 33
3 Bảng 2.3 Quy mô đào tạo và các nghề đào tạo trong giai đoạn
2011-2015
34
4 Bảng 2.4 Bảng so sánh quy mô đào tạo giữa các năm 36
6 Bảng 2.6 Định mức chi cho 1 học sinh/năm theo nghề và trình độ 38
7 Bảng 2.7 Thu chi tài chính trong hoạt động đào tạo giai đoạn
2011-2015
39
8 Bảng 2.8 Đánh giá tình hình Sinh viên – học sinh Tốt nghiệp các
năm học trong giai đoạn 2011-2015
39
9 Bảng 2.9 Thống kê tốt nghiệp theo nghề đào tạo trong giai đoạn
2011-2015
41
10 Bảng 2.10 Tổng hợp kết quả khảo sát sinh viên – học sinh 43
11 Bảng 2.11 Tổng hợp kết quả khảo sát Cán bộ quản lý và Giáo viên 46
12 Bảng 2.12 Kết quả khảo sát chuyên gia – doanh nghiệp về chương
trình dạy nghề đáp ứng yêu cầu thị trường lao
50
13 Bảng 2.13 Tình hình việc làm của sinh viên – học sinh sau tốt nghiệp 52
14 Bảng 2.14 Mức độ liên quan của nghề được đào tạo đối với việc làm
của sinh viên – học sinh sau tốt nghiệp
53
15 Bảng 2.15 Sinh viên – học sinh sau tốt nghiệp đánh giá về kiến thức,
kỹ năng được đào tạo
53
16 Bảng 2.16 Sinh viên – học sinh sau tốt nghiệp đánh giá về giáo viên
có trình độ đáp ứng yêu cầu đào tạo
53
17 Bảng 2.17 Sinh viên – học sinh sau tốt nghiệp đánh giá Về giáo
trình và nội dung giảng dạy phù hợp nhu cầu thực tiễn
20 Bảng 2.20 Sinh viên – học sinh sau tốt nghiệp đánh giá về các lĩnh
vực cần được cải tiến
55
21 Bảng 2.21 Sinh viên – học sinh sau tốt nghiệp đánh giá về mức độ
hài lòng với chất lượng đào tạo
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH
1 Hình 1.1 Năm khoảng cách chất lượng dịch vụ - Parasuraman 6
2 Hình 1.2 Sơ đồ quan niệm về chất lượng đào tạo 10
3 Hình 1.3 Sơ đồ mối quan hệ giữa mục tiêu đào tạo và chất lượng
đào tạo
11
4 Hình 1.4 Mô hình TQM trong các cơ sở đào tạo 12
5 Hình 2.1 Cơ cấu tổ chức trường Cao đẳng nghề Hàng hải Tp.HCM 25
6 Hình 2.2 Biểu đồ quy mô đào tạo các nghề giai đoạn 2011-2015 35
7 Hình 2.3 Biểu đồ phân loại tốt nghiệp các năm học 40
Hình 2.4 Kết quả đánh giá của sinh viên – học sinh 44
8 Hình 2.5 Kết quả đánh giá của Cán bộ quản lý và giáo viên 47
Trang 11LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay, trong xu thế toàn cầu hoá, hội nhập kinh tế quốc tế đang tác động đến tất cả các lĩnh vực của đời sống nhân loại, mang lại cả cơ hội và thách
thức đối với mỗi quốc gia Trong đó, sự cạnh tranh giữa các quốc gia ngày càng trở
nên gay gắt, quyết liệt và lợi thế cạnh tranh sẽ thuộc về quốc gia nào sở hữu nguồn
nhân lực chất lượng cao Vì vậy, nguồn nhân lực chất lượng cao chính là yếu tố cơ
bản bảo đảm cho sự thành công của sự nghiệp CNH - HĐH đồng thời đảm bảo cho
sự tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững của Việt Nam
Trong chiến lược phát triển Dạy nghề thời kỳ 2011 – 2020 của Thủ tướng chính phủ phê duyệt theo quyết định số 630/QĐ-TTg ngày 29 tháng 5 năm 2012,
đã xác định rõ mục tiêu phát triển dạy nghề là: “Đến năm 2020, dạy nghề đáp
ứng được nhu cầu của thị trường lao động cả về số lượng, chất lượng, cơ cấu
nghề và trình độ đào tạo; chất lượng đào tạo của số nghề phải đạt được trình
độ ngang bằng với các nước phát triển trong khu vực ASEAN và trên thế giới;
hình thành một đội ngũ lao động lành nghề, góp phần nâng cao năng lực cạnh
tranh của quốc gia; phổ cập nghề cho người lao động, góp phần thực hiện
chuyển dịch cơ cấu lao động, nâng cao thu nhập, giảm nghèo vững chắc và
đảm bảo an sinh xã hội.”
Hệ thống đào tạo nghề của Việt Nam dù đã có rất nhiều nỗ lực để đổi mới, nâng cao chất lượng đào tạo nghề, tuy nhiên thực trạng vẫn còn gặp nhiều khó
khăn như: trang - thiết bị đầu tư cho dạy nghề vẫn còn thấp, chậm đổi mới chương
trình đào tạo nghề theo hướng đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh của các doanh
nghiệp, kiến thức và kỹ năng của đội ngũ giáo viên dạy nghề vẫn chưa phát triển
kịp với quá trình đổi mới công nghệ trong doanh nghiệp, xu hướng chọn vào các
trường Đại học của đa số phụ huynh học sinh và học sinh phổ thông…Nhiều người
sau khi tốt nghiệp các trường dạy nghề vẫn không đáp ứng được yêu cầu công việc
hoặc thường ít vận dụng được những gì sau khi học hay muốn được làm việc thì
phải chấp nhận qua quá trình “đào tạo lại” Điều này gây lãng phí rất nhiều về tiền
Trang 12Những hạn chế trên xuất phát từ nhiều nguyên nhân, song nguyên nhân cơ bản chính là xuất phát từ chất lượng đào tạo Với lý do đó, tôi xin chọn đề tài
“Nâng cao chất lượng đào tạo của trường Cao đẳng nghề Hàng hải Tp.HCM”
làm luận văn thạc sĩ của mình
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Đánh giá thực trạng chất lượng đào tạo của trường Cao đẳng nghề Hàng hải Tp.HCM từ đó đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo của Nhà
trường
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu: chất lượng đào tạo của trường Cao đẳng nghề Hàng hải Tp.HCM;
Phạm vi nghiên cứu: đề tài nghiên cứu về chất lượng đào tạo tại trường Cao đẳng nghề Hàng hải Tp HCM trong giai đoạn 2011 - 2015 và đề xuất giải pháp
nâng cao chất lượng đào tạo của Nhà trường trong giai đoạn 2016 - 2020
4 Phương pháp nghiên cứu của đề tài
Sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê nhằm thực hiện các mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Sử dụng phương pháp khảo sát bằng phiếu hỏi theo mẫu lựa chọn đối với cán bộ quản lý, giáo viên và sinh viên – học sinh đang học tại trường, người lao
động (là sinh viên – học sinh đã tốt nghiệp của nhà trường) đang công tác tại các
doanh nghiệp; các chuyên gia - doanh nghiệp (cán bộ kỹ thuật) hiện đang công tác
tại doanh nghiệp nhằm khảo sát, đánh giá thực trạng chất lượng đào tạo nghề của
nhà trường và thu thập thêm các thông tin có liên quan đến vấn đề nghiên cứu
Sử dụng phần mềm SPSS: dùng để xử lý các kết quả khảo sát
5 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, kết cấu luận văn gồm ba chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về chất lượng đào tạo nghề;
Chương 2: Thực trạng chất lượng đào tạo của trường Cao đẳng nghề Hàng hải Thành phố Hồ Chí Minh;
Trang 13Chương 3: Một số giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo của Nhà trường trong giai đoạn 2016 - 2020
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Ý nghĩa khoa học: Xác định rõ được khung lý thuyết và pháp lý về chất lượng đào tạo nghề tại cơ sở đào tạo
Ý nghĩa thực tiễn: Trên cơ sở khung lý thuyết và pháp lý về chất lượng đào tạo nghề, từ đó đánh giá thực trạng chất lượng đào tạo của trường Cao đẳng nghề
Hàng hải Tp.HCM, luận văn đưa ra một số giải pháp góp phần nâng cao chất lượng
đào tạo của Nhà trường
Trang 14CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO NGHỀ
1.1 Khái niệm về đào tạo nghề
1.1.1 Khái niệm về nghề
Nghề là một hiện tượng xã hội có tính chất lịch sử gắn liền với phân công lao động xã hội, tiến bộ khoa học kỹ thuật và nền văn minh nhân loại Khái niệm
nghề được nhiều ngành khoa học khác nhau nghiên cứu từ nhiều góc độ khác nhau
tại một số quốc gia như sau [6, Tr 11]:
+ Theo từ điển Bách khoa Liên Xô (cũ) định nghĩa nghề (professia) là loại hoạt động lao động đòi hỏi có sự đào tạo nhất định và thường là nguồn gốc của sự
sinh tồn
+ Trong tiếng Pháp, nghề (pro-fession) là một loại lao động có thói quen
và kỹ xảo của một người có thể làm việc chân tay hoặc trí óc mà người ta có thể
tạo ra được phương tiện sinh sống
+ Trong tiếng Anh, nghề (pro-fession) là công việc chuyên môn đòi hỏi một sự đào tạo trong khoa học hoặc nghệ thuật và thường thuộc về lao động trí óc
hơn lao động chân tay, thí dụ như nghề dạy học, luật, thần học, Khi nói đến lao
động chân tay, người ta thường dùng từ chung là occupation hoặc từ vocation
+ Trong tiếng Đức, nghề (Beruf) là hoạt động cần thiết cho xã hội ở một lĩnh vực lao động nhất định Cơ sở của nghề là kiến thức, kỹ năng và kỹ xảo được
lĩnh hội bởi quá trình đào tạo có hệ thống
Theo Tổ chức Lao động quốc tế (ILO): Nghề là một hình thức phân công lao động đòi hỏi kiến thức lý thuyết tổng hợp và thói quen thực hành để hoàn thành
những công việc nhất định
Ở Việt Nam, nhiều định nghĩa “nghề” được đưa ra nhưng chưa được thống nhất, chẳng hạn có định nghĩa được nêu: "Nghề là một tập hợp lao động do sự
phân công lao động xã hội quy định mà giá trị của nó trao đổi được Nghề mang
tính tương đối, nó phát sinh, phát triển hay mất đi do trình độ của nền sản xuất và
nhu cầu xã hội”
Theo giáo trình Kinh tế Lao động của trường đại học Kinh tế quốc dân thì
Trang 15khái niệm nghề là một dạng xác định của hoạt động trong hệ thống phân công lao
động của xã hội, là toàn bộ kiến thức và kỹ năng mà một người lao động cần có để
thực hiện các hoạt động xã hội nhất định trong một lĩnh vực lao động nhất định
Sổ tay Tư vấn Hướng nghiệp và chọn nghề có định nghĩa về “nghề” như sau: “Trong đời sống sản xuất của xã hội, trong việc đào tạo cán bộ kỹ thuật, đào
tạo công nhân chúng ta thường nói đến một khái niệm khác: đó là nghề Những
chuyên môn có những đặc điểm chung, gần giống nhau được xếp thành một nhóm
chuyên môn và được gọi là nghề Nghề là tập hợp của một nhóm chuyên môn cùng
loại, gần giống nhau Chuyên môn là một dạng lao động đặc biệt, mà qua đó con
người dùng sức mạnh vật chất và sức mạnh tinh thần của mình để tác động vào
những đối tượng cụ thể nhằm biến đổi những đối tượng đó theo hướng phục vụ
mục đích, yêu cầu và lợi ích của con người" [4, Tr 11]
Hệ thống nghề nghiệp trong xã hội có số lượng nghề và chuyên môn rất phong phú và đa dạng Theo thống kê, trên thế giới hiện nay có khoảng 2.000 nghề
với hàng chục nghìn chuyên môn
Nghề nghiệp ra đời là do nhu cầu của cuộc sống, vì vậy xã hội phát triển thì nghề nghiệp cũng phát triển và ngược lại Nghề có thể sinh ra và mất đi theo sự
sinh tồn, tiêu vong của các nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của từng địa phương,
vùng, miền, quốc gia,… Đó là quy luật không thể tránh được Trên thế giới mỗi
năm có khoảng 500 nghề mất đi và có khoảng 600 nghề mới xuất hiện
Ở nước ta cả 3 hệ trường (dạy nghề, trung học chuyên nghiệp và cao đẳng - đại học) đào tạo trên dưới 300 nghề bao gồm hàng nghìn chuyên môn khác nhau
Khái niệm nghề dù được hiểu dưới nhiều góc độ khác nhau nhưng có một
số nét đặc trưng nhất định như sau [6, Tr 12]:
+ Đó là hoạt động, là công việc thuộc lao động của con người có tính chu kỳ;
+ Là sự phân công trong lao động xã hội, phù hợp yêu cầu xã hội;
+ Nhằm tạo ra của cải vật chất và các giá trị tinh thần để con người tồn tại
và phát triển, là phương tiện sinh sống (làm thuê hoặc tự làm cho bản thân);
Trang 16+ Là lao động có kỹ năng, kỹ xảo chuyên biệt, có giá trị trao đổi trong xã hội
Trong thời đại ngày nay, cùng với đặc điểm là khoa học kỹ thuật trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp xu thế phát triển của nghề tất yếu chịu tác động mạnh
mẽ của tác động khoa học kỹ thuật và chiến lược phát triển kinh tế của mỗi quốc
gia
1.1.2 Khái niệm về đào tạo nghề
Theo Karl Marx công tác dạy nghề phải bao gồm các thành phần sau:
“Một là: giáo dục trí tuệ Hai là: giáo dục thể lực như trong các trường Thể dục Thể thao hoặc bằng cách huấn luyện quân sự
Ba là: dạy kỹ thuật nhằm giúp học sinh nắm được vững những nguyên lí cơ bản của tất cả các quá trình sản xuất, đồng thời biết sử dụng các công cụ sản xuất
đơn giản nhất” [18]
Theo ILO, thuật ngữ đào tạo nghề là “Những hoạt động nhằm cung cấp kiến thức, kỹ năng và thái độ cần có cho sự thực hiện có năng suất và hiệu quả
trong phạm vi một nghề hoặc một nhóm nghề Nó bao gồm đào tạo ban đầu, đào
tạo lại, đào tạo nâng cao, cập nhật và đào tạo liên quan đến nghề nghiệp chuyên
sâu”[8,Tr 174]
Ngày 27/11/2014, Quốc hội đã ban hành Luật giáo dục nghề nghiệp số 76/2014/QH13 Tại điều 3 khoản 2 ghi rõ: “Đào tạo nghề nghiệp là hoạt động dạy
và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho
người học để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành
khóa học hoặc để nâng cao trình độ nghề nghiệp”
Theo khái niệm trên, đào tạo nghề không chỉ là dừng lại ở trang bị những kiến thức, kỹ năng cơ bản mà đào tạo nghề còn đề cập đến thái độ lao động cơ bản
Điều này thể hiện tính nhân văn, đề cao người lao động ngay trong quan niệm về
lao động chứ không chỉ coi lao động là một nguồn vốn nhân lực, coi người công
nhân như cái máy sản xuất với công nghệ và kỹ thuật tiên tiến hiện nay
Trang 17Đào tạo nghề là khâu quan trọng trong vấn đề giải quyết việc làm cho người lao động, tuy nó chưa tạo ra việc làm ngay nhưng nó lại là yếu tố cơ bản tạo
thuận lợi cho quá trình tìm việc làm và thực hiện công việc Đào tạo nghề nghiệp
nhằm giúp cho người lao động có kiến thức chuyên môn, kỹ năng và thái độ nghề
nghiệp cần thiết để từ đó họ có thể xin làm việc trong các cơ quan, xí nghiệp,
doanh nghiệp, hoặc có thể tự tạo ra công việc sản xuất cho bản thân
Đào tạo nghề ở Việt Nam hiện nay có một số đặc điểm sau:
+ Hoạt động dạy nghề gắn liền với việc làm, với cơ sở sản xuất, với doanh nghiệp;
+ Chương trình dạy nghề chú trọng chủ yếu vào hình thành kỹ năng thực hành cho người học (chiếm 50 – 70% thời gian học);
+ Hình thức dạy nghề rất đa dạng, phong phú như: Đào tạo mới, đào tạo lại, bồi dưỡng nâng cao tay nghề, đào tạo tập trung tại trường, lớp, đào tạo lưu
động, truyền nghề, dạy nghề từ xa, kèm cặp tại xưởng, vừa học, vừa làm;
+ Đối tượng học nghề có thể là người chưa tham gia quan hệ lao động, cũng có thể là người đã và đang có quan hệ lao động;
+ Đối tượng tuyển sinh (đầu vào) rất đa dạng (về trình độ văn hoá, chuyên môn, kỹ năng nghề và tuổi học nghề)
Chính những đặc điểm nói trên đã làm cho các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực dạy nghề rất đa chiều và phức tạp
1.2 Chất lƣợng đào tạo nghề
Trong suốt một thời gian dài giáo dục được xem như một hoạt động sự nghiệp đào tạo con người mang tính bao cấp, phi lợi nhuận nhưng qua một thời
gian sau khi đất nước hội nhập với các nước trên thế giới, thông qua các họat động
giao lưu văn hóa, hợp tác phát triển kinh tế, đặc biệt là tác động của nền kinh tế thị
trường đã khiến cho tính chất của hoạt động này không còn thuần túy là một phúc
lợi công mà dần thay đổi trở thành “dịch vụ giáo dục”, tức là một dịch vụ mà
người được thụ hưởng phải trả phí Đến nay, giáo dục trở thành một loại dịch vụ
hoàn chỉnh và khách hàng có thể bỏ tiền ra để đầu tư và sử dụng một dịch vụ mà
Trang 18Đào tạo nghề chịu sự tác động của quy luật giá trị: Dịch vụ đào tạo là dịch
vụ đặc biệt, nhưng nó cũng có giá trị sử dụng và giá trị như các dịch vụ khác Giá
trị sử dụng của dịch vụ này chính là thỏa mãn nhu cầu được học nghề, để có trình
độ nghề nghiệp nhất định tham gia vào thị trường lao động, để có việc làm, nâng
cao thu nhập Giá trị của dịch vụ này chính là các chi phí phải bỏ ra để đào tạo
người học nghề để có kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo nhất định về một nghề hoặc một
số nghề Trong thị trường lao động, lao động có tay nghề, trình độ tay nghề càng
cao thì càng giá trị và được hưởng lương cao Chất lượng “sản phẩm đào tạo” được
đánh giá và thanh toán trong quá trình lao động và thông qua việc trả lương cho
người lao động, người học bỏ vốn đầu tư thông qua việc đóng học phí, thời gian,
sức lực (“mua sự học”) nhằm hy vọng sau khi được đào tạo có việc làm tốt hơn và
thu lại tiền lương, tiền công cao hơn Ngay trong quá trình đào tạo, nếu chất lượng
đào tạo tốt, đào tạo đáp ứng thị trường lao động thì người học hoặc người đặt hàng
đào tạo sẽ trả học phí cao hơn, giáo viên giảng dạy tốt sẽ được trả thù lao cao hơn
[7, Tr 11]
1.2.1 Khái niệm chất lƣợng dịch vụ
Dịch vụ bao gồm toàn bộ sự hỗ trợ mà khách hàng trông đợi, vượt ra ngoài dịch vụ cơ bản, phù hợp với giá cả, hình ảnh và uy tín có liên quan Dịch vụ có
những đặc điểm như sau: (i) Tính đồng thời, không chia cắt; (ii) Tính không đồng
nhất, không ổn định; (iii) Tính vô hình; (iv) Tính mong manh, không lưu giữ Để
hiểu rõ hơn về chất lượng dịch vụ, các học giả đã tiếp cận chất lượng dịch vụ trên
quan điểm của khách hàng Ở đây:
khách hàng đánh giá, mức độ hài lòng đó của khách hàng chính là hiệu số giữa
cảm nhận khi tiêu dùng dịch vụ đó của khách hàng và mong đợi của họ trước khi
sử dụng dịch vụ đó
Trang 19Năm 1988, Parasuraman, Berry và Zeithaml đã kết luận rằng chất lượng dịch vụ gồm năm thành phần cơ bản sau:
Hình 1.1: Năm khoảng cách chất lƣợng dịch vụ - Parasuraman
Nguồn: Tạ Thị Kiều An,Quản Lý Chất Lượng, NXB Thống kê, trang 102 + Sự tin cậy (Reliability): thể hiện khả năng thực hiện một dịch vụ phù hợp
và đúng thời hạn
+ Sự đảm bảo (Assurance): nhằm xây dựng lòng tin của khách hàng thông
qua sự chuyên nghiệp, thái độ lịch sự, tôn trọng khách hàng, khả năng giao tiếp và
thái độ quan tâm làm những điều tốt nhất cho khách hàng
Trang 20+ Yếu tố hữu hình (Tangibility): vẻ ngoài của cơ sở vật chất, thiết bị, trang
phục nhân viên, những vật dụng và những tài liệu dùng cho việc thông tin liên lạc
+ Sự cảm thông (Empathy): đề cập đến phong cách phục vụ của nhân viên thông qua việc quan tâm, chú ý đến khách hàng, hết lòng tìm hiểu nhu cầu của
khách hàng và tạo cảm giác yên tâm, an toàn cho khách hàng
+ Độ phản hồi (Response) thể hiện sự sốt sắng giúp đỡ khách hàng và
nhanh chóng khắc phục sự cố khi có sai sót hoặc tình huống bất ngờ xảy ra
Khoảng cách thứ nhất xuất hiện khi có sự khác biệt giữa mong đợi của khách hàng và nhận thức của nhà quản lý về kỳ vọng của khách hàng Điểm cơ bản
của khoảng cách này là do tổ chức không hiểu rõ hết những đặc điểm tạo nên chất
lượng dịch vụ của tổ chức cũng như cách thức chuyển giao, cung cấp dịch vụ để
thỏa mãn nhu cầu của khách hàng
Khoảng cách thứ hai là khoảng cách giữa nhận thức của ban lãnh đạo với những yêu cầu cụ thể về chất lượng dịch vụ Điều này có nghĩa là tổ chức gặp khó
khăn trong việc chuyển đổi những mong muốn của khách hàng thành những đặc
tính chất lượng dịch vụ Nguyên nhân có thể do năng lực hạn chế của đội ngũ nhân
viên dịch vụ cũng như yêu cầu cao của khách hàng làm cho tổ chức đáp ứng không
hoàn thiện
Khoảng cách thứ ba là khoảng cách giữa yêu cầu chất lượng dịch vụ và kết quả thực hiện dịch vụ Điều này xảy ra khi nhân viên không thực hiện đúng những
tiêu chí khách hàng đòi hỏi về dịch vụ
Khoảng cách thứ tư là khoảng cách giữa thực tế cung ứng dịch vụ và thông tin đối ngoại với khách hàng Những thông tin cung cấp cho khách hàng, những
hứa hẹn trong các chương trình cung cấp dịch vụ không thực hiện đúng sẽ làm
giảm sự kỳ vọng của khách hàng
Khoảng cách thứ năm giữa dịch vụ, khách hàng tiếp nhận thực tế với dịch
vụ khách hàng mong đợi Chất lượng dịch vụ phụ thuộc vào khoảng cách thứ năm
này Một khi khách hàng không cảm thấy sự khác biệt giữa dịch vụ thực tế được
tiếp nhận và những kỳ vọng, mong đợi thì chất lượng của dịch vụ được đánh giá là
hoàn hảo Bên cạnh đó khoảng cách thứ năm chịu sự tác động bởi bốn khoảng cách
Trang 21trước đó Do vậy, để giảm thiểu khoảng cách này hay tổ chức muốn tăng cường sự
thỏa mãn, hài lòng của khách hàng thì tổ chức phải giảm các khoảng cách này
1.2.2 Khái niệm về chất lƣợng đào tạo nghề
1.2.2.1 Các quan niệm về chất lượng đào tạo
+ Chất lượng đào tạo được đánh giá bằng “Đầu vào”
Theo quan điểm này, một trường tuyển được học viên giỏi, có đội ngũ cán
bộ giảng dạy uy tín, có nguồn tài chính cần thiết để trang bị các thiết bị tốt nhất
cho các phòng thí nghiệm, giảng đường, xưởng trường, khu thực hành… được xem
là trường có chất lượng cao
Quan điểm này đã bỏ qua sự tác động của quá trình đào tạo diễn ra rất đa dạng và liên tục trong thời gian ở các trường Thực tế, theo cách đánh giá này, quá
trình đào tạo được xem là một “hộp đen”, chỉ dựa vào sự đánh giá “đầu vào” và
phỏng đoán chất lượng “đầu ra”
+ Chất lượng đào tạo được đánh giá bằng “Đầu ra”
Một quan điểm khác về chất lượng đào tạo cho rằng “đầu ra” của đào tạo
có tầm quan trọng hơn nhiều so với “đầu vào” của quá trình đào tạo “Đầu ra”
chính là sản phẩm của đào tạo được thể hiện bằng năng lực, chuyên môn - nghiệp
vụ và tay nghề của người học tốt nghiệp hay khả năng cung cấp các hoạt động đào
tạo của trường đó Năng lực của người được đào tạo sau khi hoàn thành chương
trình đào tạo gồm 5 thành tố: khối lượng, nội dung và trình độ kiến thức được đào
tạo; kỹ năng, kỹ xảo thực hành được đào tạo; năng lực nhận thức; năng lực tư duy
được đào tạo; phẩm chất nhân văn được đào tạo
+ Chất lượng đào tạo được đánh giá bằng “Giá trị gia tăng”
Quan điểm thứ 3 về chất lượng đào tạo cho rằng một trường có tác động tích cực tới học viên khi nó tạo ra được sự khác biệt trong sự phát triển về trí tuệ và
tay nghề của người học “Giá trị gia tăng” được xác định bằng giá trị của “đầu ra”
trừ đi giá trị của “đầu vào”, kết quả thu được: là “giá trị gia tăng” mà trường đã
đem lại cho người học và được đánh giá là chất lượng đào tạo
Nếu theo quan điểm này về chất lượng đào tạo, một loạt vấn đề phương
Trang 22pháp luận nan giải sẽ nảy sinh, khó có thể thiết kế một thước đo thống nhất để
đánh giá chất lượng “đầu vào” và “đầu ra” để tìm ra được hiệu số của chúng và
đánh giá chính xác chất lượng của trường đó
+ Chất lượng đào tạo được đánh giá bằng “Giá trị học thuật”
Đây là quan điểm truyền thống của nhiều trường phương Tây, chủ yếu dựa vào sự đánh giá của các chuyên gia về năng lực học thuật và tay nghề của đội ngũ
cán bộ giảng dạy trong từng trường trong quá trình thẩm định công nhận chất
lượng đào tạo Điều này có nghĩa là trường nào có đội ngũ giáo viên giỏi, có uy tín
khoa học và tay nghề cao thì được xem là trường có chất lượng cao
+ Chất lượng đào tạo được đánh giá bằng "Văn hoá tổ chức"
Quan điểm này dựa trên nguyên tắc các trường phải tạo ra được “Văn hoá
tổ chức” riêng của mình, hỗ trợ cho quá trình liên tục cải tiến chất lượng Vì vậy
một trường được đánh giá là có chất lượng khi xây dựng được “Văn hoá tổ chức”
riêng với nét đặc trưng quan trọng là không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo
+ Chất lượng đào tạo được đánh giá bằng "Kiểm toán"
Theo quan niệm truyền thống, thuật ngữ “chất lượng” luôn gắn liền với sự xuất sắc hay nổi bật Ví dụ như tại Hoa Kỳ, từ cuối thế kỉ 19 trong bối cảnh người
Mỹ thấy khó khăn khi phân biệt thời điểm kết thúc giáo dục phổ thông và thời
điểm bắt đầu giáo dục đại học Hai trường đại học Yale và Havard đã được Hiệp
hội các trường Đại học và Phổ thông vùng New England mới thành lập lúc bấy giờ
lựa chọn là mô hình giáo dục xuất sắc duy nhất Do vậy tất cả các trường để được
lựa chọn và công nhận là trường đại học đều phải đáp ứng được các yêu cầu như
mô hình hai trường Yale và Havard [16, Tr 7-10]
Theo Edward Sallis chất lượng được phân thành 2 giá trị khác nhau đó là chất lượng tuyệt đối và chất lượng tương đối [20, Tr 22]
Với quan niệm chất lượng tuyệt đối thì “chất lượng” được dùng cho những sản phẩm, những đồ vật hàm chứa trong nó những phẩm chất, những tiêu chuẩn
cao nhất khó có thể vượt qua được Nó được dùng với nghĩa chất lượng cao, hoặc
chất lượng hàng đầu
Với quan niệm chất lượng tương đối thì “chất lượng” dùng để chỉ một số
Trang 23thuộc tính mà người ta gán cho sản phẩm, đồ vật Theo quan niệm này thì một vật,
một sản phẩm, hoặc một dịch vụ được xem là có chất lượng khi nó đáp ứng được
các mong muốn mà người sản xuất định ra và các yêu cầu người tiêu thụ đòi hỏi
Từ đó nhận ra rằng chất lượng tương đối có hai khía cạnh:
Thứ nhất, Đạt được mục tiêu (phù hợp với tiêu chuẩn) do người sản xuất đề
ra Khía cạnh này chất lượng được xem là “chất lượng bên trong”
Thứ hai, Chất lượng được xem là sự thoả mãn tốt nhất những đòi hỏi của
người dùng, ở khía cạnh này chất lượng được xem là “chất lượng bên ngoài”
Theo cách tiếp cận trên thì tại mỗi trường, cơ sở đào tạo cần xác định mục tiêu và chiến lược sao cho phù hợp với nhu cầu của người học, của xã hội để đạt
được “chất lượng bên ngoài” đồng thời phải cụ thể hóa các mục tiêu trên thông qua
quá trình tổ chức, phối hợp giữa các bộ phận các hoạt động của nhà trường sẽ
được hướng vào nhằm mục đích đạt mục tiêu đó để đạt “chất lượng bên trong”
Cách tiếp cận này được thể hiện qua hình 1.2 dưới đây
Hình 1.2: Sơ đồ quan niệm về chất lƣợng đào tạo
Nguồn:Trần Khánh Đức (2004), Quản lí và kiểm định chất lượng đào tạo nhân lực theo ISO &
TQM, Nhà xuất bản Giáo dục, trang 45
Sản phẩm của quá trình đào tạo là con người và các dịch vụ đào tạo (đầu ra) của quá trình đào tạo và được thể hiện cụ thể ở các phẩm chất, giá trị nhân văn
Trang 24và năng lực vận hành nghề nghiệp Với yêu cầu đáp ứng nhu cầu nhân lực của thị
trường lao động, quan niệm về chất lượng đào tạo không chỉ dừng ở kết quả của
quá trình đào tạo với những điều kiện đảm bảo chất lượng như: cơ sở vật chất, đội
ngũ giảng viên, mà còn phải tính đến mức độ phù hợp và thích ứng của học sinh
tốt nghiệp đối với yêu cầu công việc, nhu cầu của người sử dụng lao động và xã
hội
Tuy nhiên, cần nhấn mạnh rằng: chất lượng đào tạo trước hết phải là kết quả của quá trình đào tạo và được thể hiện trong hoạt động nghề nghiệp của người
học Quá trình thích ứng với thị trường lao động không chỉ phụ thuộc vào chất
lượng đào tạo mà còn phụ thuộc các yếu tố của thị trường như: quan hệ cung – cầu,
giá cả sức lao động, chính sách sử dụng và bố trí công việc của Nhà nước, người
sử dụng lao động Do đó khả năng thích ứng còn phản ánh cả về hiệu quả đào tạo
ngoài xã hội và thị trường lao động được thể hiện rõ hơn ở hình 1.3 dưới đây
Hình 1.3: Sơ đồ mối quan hệ giữa mục tiêu đào tạo và chất lƣợng đào tạo
Nguồn:Trần Khánh Đức (2004), Quản lí và kiểm định chất lượng đào tạo nhân lực theo ISO &
TQM, Nhà xuất bản Giáo dục, trang 62
1.2.2.2 Một số mô hình đánh giá chất lượng đào tạo
+ Mô hình quản lý chất lượng đồng bộ (Total Quality Managemetn)
Theo mô hình này, để có được chất lượng đầu ra tốt, phải có sự kết hợp chặt chẽ giữa yếu tố con người (tổ chức và quản lý) với các nguồn lực khác để cải
tiến chất lượng liên tục Vì vậy, các cơ sở đào tạo cần phải có những chính sách,
Trang 25phương pháp quản lý phù hợp nhằm phát huy được năng lực sáng tạo của con
người đồng thời áp dụng phương pháp quản lý tiên tiến trên cơ sở phù hợp với điều
kiện thực tế của đơn vị Mô hình TQM trong các cơ sở đào tạo được xác định rõ
hơn theo hình 1.4 dưới đây
Hình 1.4: Mô hình TQM trong các cơ sở đào tạo
Nguồn: Trần Khánh Đức (2004), Quản lý và kiểm định chất lượng đào tạo nhân lực theo ISO và
TQM, NXB Giáo dục, Hà Nội, trang 45 + Mô hình Kirpattrick
Kirpatrick đưa ra lý thuyết đánh giá chất lượng đào tạo của một chương trình đào tạo thể hiện ở 4 cấp độ: (i) Cấp độ 1: Phản ứng – độ hài lòng của học
viên; (ii) Cấp độ 2: Học hỏi – kiến thức, kỹ năng và thái độ mới học viên có được;
(iii) Cấp độ 3: Hành vi – những hành vi mới học viên vận dụng vào trong công
việc; (iv) Cấp độ 4: Kết quả - tác động của đào tạo đối với tổ chức [26, Tr 82]
- Cấp độ 1: Phản ứng, đo lường độ hài lòng của người học về chương
trình đào tạo, các tiêu chí đo lường thường là nội dung, giảng viên, cách tổ chức
hoạt động học tập Đánh giá cấp độ 1 thường được thực hiện tại thời điểm kết thúc
chương trình đào tạo với bảng khảo sát hoặc phỏng vấn
- Cấp độ 2: Học tập, đo lường về lượng những kiến thức, kỹ năng và thái
độ học viên có thêm thông qua chương trình đào tạo Các tiêu chí đánh giá cấp độ
2 tập trung vào sự ghi nhớ của học viên về những gì đó được học trong chương
trình Hình thức đánh giá cấp độ 2 thường là các bảng khảo sát, bài kiểm tra hoặc
phỏng vấn được tiến hành tại thời điểm kết thúc khóa đào tạo
- Cấp độ 3: Hành vi, mục tiêu của đánh giá cấp độ 3 là đo lường những
thay đổi về hành vi trong công việc sau khi học viên được đào tạo Nói cách khác,
Trang 26thái độ nào trong khóa học vào trong công việc thực tiễn và cải thiện chất lượng
công việc của cá nhân Việc đánh giá cấp độ 3 khó hơn nhiều so với 2 cấp độ
trước, vì trong thực tế, môi trường/điều kiện làm việc là những nhân tố ảnh hưởng
quan trọng tới việc vận dụng kiến thức/kỹ năng/thái độ học viên có được trong
thực tiễn công việc Để đánh giá đúng nhất cấp độ 3, cần mở rộng đối tượng đánh
giá, không chỉ bao gồm học viên được đào tạo, mà cả những người liên quan, như
cán bộ quản lý trực tiếp của học viên Việc so sánh kết quả công việc trước và sau
khi được đào tạo cũng cần được thực hiện để làm rõ mức độ ảnh hưởng của
chương trình đào tạo tới sự thay đổi kết quả công việc của học viên
- Cấp độ 4: Kết quả, mục tiêu của đánh giá cấp độ 4 là đo lường tác động
của chương trình đào tạo đối với tổ chức của học viên Đo lường cấp độ 4 liên
quan tới đánh giá năng lực của tổ chức trước và sau khi chương trình đào tạo diễn
ra Đánh giá cấp độ 4 một cách chính xác là rất khó, do hiệu quả tổ chức phụ thuộc
vào nhiều yếu tố khó tách bạch Vì vậy, đánh giá cấp độ 4 thường chỉ được thực
hiện dưới dạng phỏng vấn cấp quản lý của tổ chức và đo lường theo những tiêu chí
định tính về sự thay đổi của tổ chức, nhờ việc có học viên tham gia chương trình
đào tạo
1.2.3 Các tiêu chuẩn đánh giá đối tƣợng đào tạo nghề
Chất lượng đào tạo thể hiện qua chính năng lực của người học sau khi hoàn thành chương trình đào tạo (Chất lượng đào tạo được đánh giá bằng “Đầu ra”)
Năng lực này bao gồm các thành tố sau [22, Tr 3-4]:
Khối lượng, nội dung và trình độ kiến thức được đào tạo;
Kỹ năng, kỹ xảo thực hành được đào tạo
Năng lực nhận thức và năng lực tư duy qua quá trình đào tạo
Phẩm chất nhân văn được đào tạo
1.2.3.1 Trình độ kiến thức được đào tạo
Khối lượng, nội dung và chương trình đào tạo do Bộ quy định trong
chương trình khung phù hợp với từng cấp và bậc học, đồng thời phải thực hiện
được các mục tiêu đào tạo đã đề ra
Trang 271.2.3.2.Về kỹ năng, kỹ xảo
Kỹ năng, kỹ xảo được phân thành 5 cấp độ từ thấp đến cao, cụ thể là:
Bắt chước: quan sát và lặp lại một kỹ năng nào đó
Thao tác: hoàn thành một kỹ năng nào đó theo chỉ dẫn, cấp độ này không
còn là bắt chước máy móc
Chuẩn hóa: lặp lại kỹ năng nào đó một cách chính xác, nhịp nhàng, thực
hiện một cách độc lập mà không cần hướng dẫn
Phối hợp: kết hợp được nhiều kỹ năng theo thứ tự xác định một cách nhịp
nhàng và ổn định
Tự động hóa: hoàn thành một hay nhiều kỹ năng một cách dễ dàng, không
đòi hỏi một sự gắng sức về thể lực và trí tuệ
1.2.3.3.Về năng lực nhận thức và tư duy
Năng lực nhận thức được chia thành 8 cấp độ như sau:
- Biết: ghi nhớ các sự kiện, thuật ngữ và các nguyên lý dưới hình thức mà học viên đã được học
- Hiểu: hiểu các tư liệu đã được học, học viên phải có khả năng diễn giải,
mô tả tóm tắt thông tin thu nhận được
- Áp dụng: áp dụng được các thông tin, kiến thức vào giải quyết các tình huống khác
- Phân tích: biết tách từ tổng thể thành bộ phận và biết rõ sự liên hệ giữa các thành phần đó đối với nhau theo cấu trúc của chúng
- Tổng hợp: biết kết hợp các bộ phận thành một tổng thể mới từ tổng thể ban đầu
- Đánh giá: biết so sánh, phê phán, chọn lọc, quyết định và đánh giá trên
Trang 28 Năng lực tư duy
Có thể chia thành 4 cấp độ như sau:
- Tư duy logic: suy luận theo một chuỗi có tuần tự, có khoa học và hệ thống
- Tư duy trừu tượng: suy luận một cách khái quát hóa, tổng quát hóa ngoài khuôn khổ có sẵn
- Tư duy phê phán: suy luận một cách hệ thống, có nhận xét, có phê phán
- Tư duy sáng tạo: suy luận các vấn đề một cách mở rộng và ngoài các khuôn khổ định sẵn, tạo ra những cái mới
công…; thị lực đối với nghề in, thủy thủ, phi công, …
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo nghề
+ Thứ nhất là nhận thức xã hội về đào tạo nghề
Khi xã hội nhận thức được rằng giỏi nghề là một phẩm chất quý giá của người lao động, là cơ sở vững chắc để có việc làm và thu nhập ổn định thì công tác
đào tạo nghề sẽ nhận được thêm nhiều nguồn lực hỗ trợ cần thiết của xã hội để
phát triển mạnh hơn
+ Yếu tố thứ hai là mục tiêu của đào tạo nghề
Mục tiêu đào tạo nghề không chỉ tạo ra lực lượng lao động có nghề mà còn gắn chặt với vấn đề việc làm cho người lao động sau khi học nghề, đó chính là
Trang 29hướng đi mới có thể đáp ứng được nhu cầu của thị trường về lao động có tay nghề
cao
+ Yếu tố thứ ba là đội ngũ giáo viên dạy nghề
Năng lực giáo viên dạy nghề tác động trực tiếp đến chất lượng giảng dạy và đào tạo nghề, học sinh nắm được lý thuyết và kỹ năng nhanh hay chậm phần lớn
phụ thuộc vào năng lực giáo viên dạy nghề…
+ Yếu tố thứ tư là chương trình, nội dung đào tạo nghề
Chương trình và nội dung đào tạo nghề càng sát với mục tiêu đào tạo nghề đặt ra bao nhiêu thì càng làm cho hiệu quả đào tạo người học càng cao bấy nhiêu
+ Yếu tố thứ năm là cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học
Điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy nghề càng tốt, càng hiện đại bao nhiêu, theo sát với máy móc phục vụ cho sản xuất bao nhiêu thì người học nghề có
thể thích ứng, vận dụng nhanh chóng với sản xuất trong doanh nghiệp bấy nhiêu
+ Yếu tố thứ sáu là hoạt động học tập của người học nghề
Hoạt động học tập của người học nghề ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng đào tạo nghề, người học nghề càng hăng say tích cực học tập càng dễ dàng thích
ứng nhanh với những dự biến đổi không ngừng của khoa học công nghệ, càng dễ
dàng tiếp cận với những máy móc công nghệ hiện đại
+ Yếu tố thứ bảy là hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của người
học
Hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của người học là nhiệm vụ không thể thiếu trong công tác đào tạo nghề Có kiểm tra mới đánh giá đúng chất
lượng của người học nghề [5]
1.4 Cơ sở pháp lý về chất lƣợng đào tạo nghề tại cơ sở đào tạo
Ngày 29/5/2012 Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 630/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược phát triển Dạy nghề thời kỳ 2011 – 2020 với
mục tiêu “thực hiện đổi mới cơ bản, mạnh mẽ quản lý nhà nước về dạy nghề, nhằm
tạo động lực phát triển dạy nghề theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa,
dân chủ hóa và hội nhập quốc tế”, “nâng cao chất lượng và phát triển quy mô dạy
Trang 30nghề” Một trong các giải pháp được đưa ra là “kiểm soát và đảm bảo chất lượng
dạy nghề”, trong đó yêu cầu “Thực hiện kiểm định cơ sở dạy nghề và kiểm định
chương trình Các cơ sở dạy nghề chịu trách nhiệm đảm bảo chất lượng dạy nghề;
đảm bảo chuẩn hóa "đầu vào", "đầu ra"; tự kiểm định chất lượng dạy nghề và chịu
sự đánh giá định kỳ của các cơ quan kiểm định chất lượng dạy nghề”
Theo quy định của Luật giáo dục nghề nghiệp năm 2014 thì “Kiểm định chất lượng giáo dục nghề nghiệp nhằm đánh giá, xác định mức độ thực hiện mục
tiêu, chương trình, nội dung dạy nghề đối với cơ sở dạy nghề” (Điều 65-70)
Như vậy, kiểm định chất lượng là một hệ thống đánh giá, công nhận các cơ
sở dạy nghề và các chương trình dạy nghề về mức độ hoàn thành, tính đồng bộ và
chất lượng làm cho cộng đồng giáo dục - đào tạo và công chúng tin cậy ở các cơ sở
dạy nghề Kiểm định chất lượng có một số chức năng quan trọng, trong đó có sự
khuyến khích mọi cố gắng của cả Nhà nước, các thành phần kinh tế có quan tâm
đến dạy nghề và các cơ sở dạy nghề để hướng tới hiệu quả đào tạo nghề có chất
lượng và hiệu quả nhất Quá trình kiểm định chất lượng, trước hết, đòi hỏi các cơ
sở dạy nghề phải tự đánh giá về mục tiêu, về hoạt động điều hành và kết quả đạt
được của bản thân từng cơ sở dạy nghề, từng chương trình dạy nghề Tiếp đến là
việc đánh giá của cơ quan quản lý nhà nước về dạy nghề do các kiểm định viên và
chuyên gia đánh giá Cuối cùng sẽ là những khuyến nghị của cơ quan kiểm định
chất lượng nhằm từng bước khắc phục tồn tại và cải thiện chất lượng dạy nghề Vì
kiểm định chất lượng được tiến hành thường xuyên nên thông qua kiểm định chất
lượng, các cơ sở dạy nghề có động cơ phấn đấu hướng tới việc tự hoàn thiện để
nâng cao chất lượng dạy nghề
Kết quả kiểm định chất lượng giáo dục nghề nghiệp được sử dụng làm căn
Trang 313 Người sử dụng lao động tuyển dụng lao động;
4 Nhà nước thực hiện đầu tư, đấu thầu, đặt hàng và giao nhiệm vụ đào tạo cho cơ sở giáo dục nghề nghiệp
1.5 Các tiêu chí, tiêu chuẩn đánh giá chất lượng đào tạo nghề
Cơ sở cho đánh giá chất lượng đào tạo của Nhà trường dựa trên bộ tiêu chí, tiêu chuẩn kiểm định chất lượng trường cao đẳng nghề, ban hành kèm theo Quyết
định số 02/2008/QĐ-BLĐTB&XH ngày 17 tháng 01 năm 2008 của Bộ trưởng
Bộ LĐTB&XH
Bộ tiêu chí, tiêu chuẩn kiểm định chất lượng trường cao đẳng nghề bao gồm 9 tiêu chí với 50 tiêu chuẩn (xem phụ lục 1) Trong đó mỗi tiêu chuẩn kiểm
định có điểm tối đa là 2 điểm Tùy thuộc vào mức độ đạt được yêu cầu mà tiêu
chuẩn kiểm định đó có điểm từ 0 đến 2 điểm
Kết quả đánh giá cuối cùng của trường cao đẳng nghề được xếp theo ba cấp
độ sau:
Cấp độ 1: Trường cao đẳng nghề có tổng số điểm của các tiêu chí kiểm
định đạt dưới 50 điểm hoặc đạt từ 50 điểm trở lên nhưng có một trong các tiêu chí
đạt dưới 50% số điểm tối đa của tiêu chí đó;
Cấp độ 2: Trường cao đẳng nghề có tổng số điểm của các tiêu chí kiểm
định đạt từ 50 điểm trở lên và các điểm đánh giá của từng tiêu chí kiểm định đạt từ
50% trở lên số điểm tối đa, nhưng một trong các tiêu chí 4, 5 và 7 đạt dưới 80% số
điểm tối đa;
Cấp độ 3: Trường cao đẳng nghề có tổng số điểm của các tiêu chí kiểm
định đạt từ 80 điểm trở lên và các điểm đánh giá của từng tiêu chí kiểm định phải
đạt từ 50% trở lên số điểm tối đa, trong đó các tiêu chí 4, 5, và 7 phải đạt từ 80%
trở lên số điểm tối đa của từng tiêu chí kiểm định
1.6 Kinh nghiệm trong và ngoài nước
1.6.1 Mô hình đào tạo kết hợp nâng cao kỹ năng chuyên môn tại doanh
nghiệp của trường Cao đẳng nghề LILAMA2
“Trường Cao đẳng nghề LILAMA2 đã không ngừng đổi mới đào tạo và
Trang 32cập nhật chương trình, giáo trình theo tiêu chuẩn Quốc tế đồng thời ký hợp tác với
nhiều Tâp đoàn, Công ty lớn trong nước và ngoài nước như: City & Guilds, City of
Sunderland – Anh Quốc, CS Wind Tower, Đóng tàu, Thép, Đặc biệt là Trung
tâm Dịch vụ Kỹ thuật & Sản xuất LILAMA 2 đã kết hợp với Công ty Cổ phần
Dịch vụ Cơ khí Hàng hải PTSC thuộc Tập đoàn Dầu khí Việt Nam hợp tác thực
hiện: “Mô hình đào tạo kết hợp nâng cao kỹ năng chuyên môn tại doanh
nghiệp”
Như mô hình này tạo điều kiện môi trường thực hành thường xuyên, chuyên nghiệp Ngoài ra, sinh viên – học sinh còn được hỗ trợ mức lương 100.000
- 150.000 đồng/ngày Đây là nguồn thu nhập đáng kể cho những sinh viên – học
sinh nghèo hiếu học Trong thời gia tới Trung tâm Dịch vụ Kỹ thuật & Sản xuất
LILAMA 2 sẽ tiếp tục mở rộng loại hình đào tạo này để sinh viên – học sinh nâng
cao trình độ chuyên môn để sau này trở thành tổ trưởng, đốc công, giám sát thi
công cho các dự án lớn và trở thành nguồn lao động chất lượng cao cho xã hội”
[17]
Các trường nghề muốn xây dựng thành công “Mô hình đào tạo kết hợp
nâng cao kỹ năng chuyên môn tại doanh nghiệp” như cách làm của trường Cao
đẳng nghề LILAMA2 trước tiên phải không ngừng đổi mới công tác đào tạo đồng
thời xây dựng chương trình, giáo trình theo tiêu chuẩn nhằm nâng cao chất lượng
đầu ra, phải làm được điều này trước thì Doanh nghiệp mới có cơ sở để hợp tác với
các trường nghề
1.6.2 Mô hình đa ̀o ta ̣o nghề “kép” ở Đức:
Ở Đức, đào ta ̣o ngh ề “kép” (dual/two-track vocational training system), được thiết lập vững chắc trong hệ thống giáo d ục Đức có niên đa ̣i t ừ thời Trung
Cổ Một đặc tính quan trọng của hệ thống kép là sự hợp tác giữa các công ty (phần
lớn là các doanh nghi ệp tư nhân) và các trường da ̣y nghề công lập Sự hợp tác này
được quy định của pháp luật, chính phủ Liên bang ta ̣o mọi điều kiện để các doanh
nghiệp tham gia vào quá trình đào ta ̣o Theo đó, phía công ty không phải qua kiểm
tra về khả năng tổ chức, đào ta ̣o ngh ề, mà công tác này đư ợc tiến hành b ởi các
Phòng công nghiệp và thương ma ̣i
Trang 33Theo đó, trường da ̣y ngh ề sẽ ký với các doanh nghiệp mô ̣t h ợp đồng song phương Hợp đồng quy định, trong quá trình học, học viên sẽ làm việc ta ̣i doanh
nghiệp từ 3 đến 4 ngày/tuần Mặc dù nhận lương thấp, nhưng một người học nghề
chỉ tốn ít th ời gian và ti ền ba ̣c b ằng khoảng ½ mô ̣t sinh viên đa ̣i h ọc phải đầu tư
Ngoài ra, do sự liên kết chặt chẽ với các tập đoàn đầu tư, khả năng các học viên ra
trường nhận được việc làm ngay là rất cao
Hằng năm, số tiền mà chính ph ủ Đức kết hợp với các tập đoàn đầu tư vào dạy và đào tạo ngh ề lên đến 21,8 tỷ euro Không chỉ ở các ngành k ỹ thuật cơ khí
truyền thống, đào ta ̣o nghề còn được chú trọng ở các ngành mới như dịch vụ, quản
lý hay kinh tế thương mại
Như vậy, hệ thống kép c ủa Đức đào ta ̣o ngh ề kết hợp lý thuyết và th ực hành, kiến thức và k ỹ năng, học tập và làm vi ệc mô ̣t cách đ ặc biệt hiệu quả, đã
được chứng minh sự thành công c ủa nó trong mô ̣t th ời gian dài Lợi ích từ hệ
thống kép giúp gi ảm bớt gánh nặng cho ngân sách công bởi sự tham gia của các
doanh nghiệp và bằng cách giữ cho lực lượng lao đô ̣ng được cập nhật.[3, Tr 48]
1.6.3 Mô hình đào tạo nghề ở Cộng hòa Ai-len
Hiện nay, ở Ai-len có 7 trường đại h ọc và 14 viện công nghệ Các trường
đa ̣i học chủ yếu đào ta ̣o về lý thuyết, nghiên cứu khoa học Các viện công nghệ chủ
yếu là da ̣y ngh ề Trong các viện công nghệ đều có các trung tâm nghiên cứu, phát
triển Các Trung tâm nghiên cứu này nghiên c ứu các sản phẩm mới, phục vụ đào
tạo cho sinh viên trong Vi ện và đào ta ̣o la ̣i , đào ta ̣o nâng cao cho các công ty có
nhu cầu Sinh viên có 50% thời gian thực hành trong đó phần chính là học và thực
hành tại doanh nghiệp
Chính chất lượng đào ta ̣o ngh ề của Ai-len với các chính sách phát triển và
gắn liền với doanh nghiệp, đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp về nguồn nhân lực
Đây là lý do chính mà h ầu hết các công ty lớn trên thế giới đều muốn đ ến đầu tư
vào Ai-len Nhiều công ty hàng đ ầu thế giới đã đến đầu tư vào Ai-len như: Intel,
Google… 8/10 công ty dược lớn nhất thế giới đang đầu tư vào Ai-len, riêng Mỹ có
hơn 400 công ty [5, Tr 49]
Trang 34CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO CỦA TRƯỜNG
CAO ĐẲNG NGHỀ HÀNG HẢI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
2.1 Giới thiệu tổng quan về trường Cao đẳng nghề Hàng hải Tp.HCM
- Cơ sở 2: 131 Nguyễn Khoái, Phường 1, Quận 4, Tp.Hồ Chí Minh
- Cơ sở 3: 33 Nguyễn Khoái, Phường 1, Quận 4, Tp.Hồ Chí Minh
Ngày 27 tháng 2 năm 1976, Chính phủ nước cộng hoà Miền nam Việt Nam
mà đại diện là Tổng cục trưởng Tổng cục giao thông vận tải đã ký quyết định số
144/TC thành lập Trường “Công nhân kỹ thuật” trực thuộc Cục đường biển Miền
Nam
Trang 35vụ Hàng hải II và Trường Công nhân kỹ thuật lặn thuộc Xí nghiệp liên hợp Trục
vớt Cứu hộ thành “Trường Kỹ thuật và Nghiệp vụ Hàng hải Tp.Hồ Chí Minh”
Ngày 02 tháng 12 năm 1996 Bộ trưởng Bộ GTVT tải ký quyết định số
3200 QĐ/TCCB - LĐ thành lập “Trường Trung học Hàng hải II” trên cơ sở nâng
cấp “Trường Kỹ thuật và nghiệp vụ Hàng hải Tp.Hồ Chí Minh”
Giai đoạn 2007 đến nay
Ngày 31 tháng 12 năm 2007 Bộ trưởng Bộ LĐTB&XH ký quyết định số
1874/QĐ -BLĐTBXH thành lập “Trường Cao đẳng nghề Hàng hải Tp.Hồ Chí
Minh” trên cơ sở nâng cấp “Trường Trung học Hàng hải II”;
Ngày 18 tháng 1 năm 2008 Bộ trưởng Bộ GTVT ra Quyết định số 18/QĐ- BGTVT về việc quy định nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm và cơ cấu tổ chức của
Trường Cao đẳng nghề Hàng hải Tp.Hồ Chí Minh
Ngày 01 tháng 04 năm 2008 Cục trưởng Cục Hàng hải Việt Nam ký quyết định số 193/QĐ-CHHVN về việc ban hành Quy chế tổ chức và họat động của
Trường Cao đẳng nghề Hàng hải Thành phố Hồ Chí Minh
Ngày 23 tháng 11 năm 2010 Cục trưởng Cục Hàng hải Việt Nam ký quyết định số 947/QĐ-CHHVN về việc phê duyê ̣t Đi ều lệ trường Cao đẳng nghề Hàng
hải Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 362.1.2 Chức năng, Nhiệm vụ
2.1.2.1 Chức năng
Trường Cao đẳng nghề Hàng hải Thành Phố Hồ Chí Minh là cơ sở công lập đào tạo, bồi dưỡng cán bộ có trình độ cao đẳng nghề, các kỹ thuật viên, nhân
viên có trình độ trung cấp nghề, sơ cấp nghề, trung cấp chuyên nghiệp và các lọai
hình đào tạo khác (theo quy định của luật giáo dục và luật dạy nghề) trong các lĩnh
vực kinh tế, kỹ thuật, dịch vụ hàng hải thuộc hệ thống giáo dục Nước Cộng Hoà
Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam; đồng thời là cơ sở nghiên cứu, triển khai ứng dụng,
chuyển giao khoa học - công nghệ phục vụ sự phát triển kinh tế - xã hội của ngành
Hàng hải và của toàn xã hội
Nhà trường chịu sự quản lý trực tiếp của Cục Hàng hải Việt Nam - Bộ Giao thông Vận tải, sự quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo của Bộ Lao động -
Thương binh và Xã hội; được hưởng các chính sách, chế độ của Nhà nước áp dụng
cho hệ thống các trường Cao đẳng nghề, Trung học nghề và Dạy nghề, có tư cách
pháp nhân và được sử dụng con dấu riêng
2.1.2.2 Nhiệm vụ
1 Tổ chức đào tạo nhân lực kỹ thuật trực tiếp trong sản xuất, dịch vụ ở các trình độ cao đẳng nghề, trung cấp nghề và sơ cấp nghề nhằm trang bị cho người
học năng lực thực hành nghề tương xứng với trình độ đào tạo, có sức khoẻ, đạo
đức lương tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, tạo điều kiện
cho họ có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc tiếp tục học lên trình độ cao
hơn, đáp ứng yêu cầu thị trường lao động
2 Tổ chức xây dựng, duyệt và thực hiện các chương trình, giáo trình, học liệu dạy nghề đối với ngành nghề được phép đào tạo
3 Xây dựng kế hoạch tuyển sinh, tổ chức tuyển sinh học nghề
4 Tổ chức các hoạt động dạy và học; thi, kiểm tra, công nhận tốt nghiệp, cấp bằng, chứng chỉ nghề theo quy định của Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương
binh và Xã hội, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Giao thông Vận tải
Trang 375 Tuyển dụng, quản lý đội ngũ giáo viên, cán bộ, nhân viên của trường đủ
về số lượng; phù hợp với ngành nghề, quy mô và trình độ đào tạo theo quy định
11 Thực hiện chế độ báo cáo định kỳ và đột xuất theo quy định
12 Thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật
2.1.3 Cơ cấu tổ chức và nhân sự
Trường Cao đẳng nghề Hàng hải Tp.Hồ Chí Minh có cơ cấu tổ chức hợp
lý, phù hợp với quy định của nhà nước cũng như với các mục tiêu, nhiệm vụ phát
triển của trường Sơ lược cơ cấu tổ chức của Nhà trường theo hình 2.1 dưới đây
Trang 39Cơ cấu tổ chức bộ máy hiện nay của Nhà trường được thành lập phù hợp với chức năng, cơ cấu ngành nghề, qui mô đào tạo và theo đúng Điều lệ trường,
hiện nay bao gồm: 08 phòng, 06 khoa, 01 xưởng, 02 trung tâm và 01 đội tàu Huấn
luyện Chức năng nhiệm vụ của bộ máy quản lý của Nhà trường cụ thể như sau:
1 Quyết nghị về phương hướng, mục tiêu, chiến lược, quy hoạch, các dự
án và kế hoạch phát triển của trường;
2 Quyết nghị về Điều lệ hoặc sửa đổi, bổ sung Điều lệ của trường trình cấp
có thẩm quyền phê duyệt;
3 Quyết nghị chủ trương sử dụng tài chính, tài sản và phương hướng đầu
tư phát triển của nhà trường theo quy định pháp luật;
4 Giám sát việc thực hiện các nghị quyết của hội đồng trường và việc thực hiện quy chế dân chủ trong các hoạt động của trường;
5 Giới thiệu người để cơ quan có thẩm quyền bổ nhiệm hiệu trưởng;
6 Quyết nghị những vấn đề về tổ chức, nhân sự của nhà trường theo quy định của pháp luật
Thành phần tham gia hội đồng trường gồm: đại diện tổ chức Đảng, ban giám hiệu, giáo viên, cán bộ quản lý, đại diện các đơn vị sản xuất, doanh nghiệp
của trường Tổng số các thành viên hội đồng trường là một số lẻ, gồm chủ tịch,
phó chủ tịch hội đồng và các thành viên khác Chủ tịch và phó chủ tịch hội đồng do
các thành viên của hội đồng trường bầu theo nguyên tắc đa số phiếu
Nhiệm kỳ của hội đồng trường là 05 năm Hội đồng trường được sử dụng
bộ máy tổ chức và con dấu của nhà trường trong phạm vi chức năng nhiệm vụ của
hội đồng trường
Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính
Trang 40phủ, Người đứng đầu cơ quan Trung ương của tổ chức chính trị - xã hội, Chủ tịch
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định việc thành lập,hoạt động, quyền hạn và nhiệm
vụ cụ thể của hội đồng trường đối với trường cao đẳng nghề công lập trực thuộc
Hội đồng trường họp thường kỳ ít nhất ba tháng một lần và do chủ tịch hội đồng triệu tập Quyết định của hội đồng trường chỉ có hiệu lực khi có quá nửa
thành viên hội đồng nhất trí Trường hợp số phiếu ngang nhau thì quyết định cuối
cùng thuộc về phía có ý kiến của chủ tịch hội đồng
+ Ban Giám hiệu:
Thành phần bao gồm 01 Hiệu trưởng và 4 Phó hiệu trưởng Trong đó có 02
Phó hiệu trưởng phụ trách Đào tạo, 01 Phó hiệu trưởng phụ trách Nội chính và 01
Phó hiệu trưởng phụ trách Dự án; các lãnh đạo Nhà trường có những chức năng
nhiệm vụ như sau:
2 Quản lý cơ sở vật chất, tài sản, tài chính của trường và tổ chức khai thác,
sử dụng có hiệu quả các nguồn lực huy động được để phục vụ cho hoạt động dạy
nghề theo quy định của pháp luật;
3 Thường xuyên chăm lo cải thiện điều kiện làm việc, giảng dạy và học tập cho cán bộ, giáo viên và người học
4 Tổ chức và chỉ đạo xây dựng môi trường sư phạm lành mạnh; đảm bảo
an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội trong nhà trường;
5 Thực hiện quy chế dân chủ trong nhà trường; thực hiện các chính sách, chế độ của Nhà nước đối với cán bộ, giáo viên và người học trong trường;
6 Tổ chức các hoạt động tự thanh tra, kiểm tra, kiểm định chất lượng dạy