1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC TỔ CHỨC TIỀN LƢƠNG TẠI XÍ NGHIỆP XẾP DỠ TÂN VŨ – CẢNG HẢI PHÒNG_2

83 60 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 83
Dung lượng 1,22 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để đạt được hiệu quả sản xuất kinh doanh, bố trí, phân công lao động khoa học và trả công lao động hợp lý thì đầu mỗi năm sản xuất kinh doanh Xí nghiệp phải luôn có những kế hoạch như kế

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chƣa đƣợc sử dụng để bảo vệ một học vị nào Mọi thông tin trích dẫn trong

luận văn đều ghi rõ nguồn gốc

Hải Phòng, ngày tháng năm 2015

Tác giả

Phạm Quang Tuấn

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Cho phép tôi được bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới các đơn vị, cá nhân đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành bản

luận văn này

Trước hết tôi xin chân thành cảm ơn sâu sắc tới thầy giáo PGS TS Dương Văn Bạo đã trực tiếp hướng dẫn và đã giúp đỡ, tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá

trình nghiên cứu và hoàn thành bản luận văn Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám

hiệu Trường Đại học Hàng hải, Viện Đào tạo sau đại học cùng toàn thể quý thầy cô

đã tận tình giúp đỡ trong quá trình học tập và nghiên cứu

Tôi xin chân trọng cảm ơn các các đồng nghiệp, các cơ quan ban ngành, Cục thuế thành phố Hải Phòng, đã giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập, tìm kiếm số

liệu, tài liệu

Xin cảm ơn các bạn đồng môn đã đóng góp ý kiến giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

BẢNG CHỮ VIẾT TẮT v

DANH MỤC CÁC BẢNG vi

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC TỔ CHỨC LAO ĐỘNG TIỀN LƯƠNG TRONG DOANH NGHIỆP 4

1.1 Công tác tổ chức lao động 4

1.1.1 Khái niệm tổ chức lao động 4

1.1.2 Một số khái niệm về mức và định mức lao động 4

1.1.3 Các phương pháp xây dựng định mức lao động 5

1.2 Công tác tổ chức tiền lương 8

1.2.1 Khái niệm về tiền lương 8

1.2.2 Những yêu cầu và nguyên tắc của tổ chức tiền lương 9

1.2.3 Các chế độ tiền lương 13

1.2.4 Công tác tổ chức tiền lương trong ngành hàng hải 18

1.3 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả công tác tổ chức lao động tiền lương trong ngành hàng hải 20

1.3.1 Chỉ tiêu kết cấu và biến động sức lao động 20

1.3.2 Chỉ tiêu quản lý và sử dụng thời gian lao động 21

1.3.3 Chỉ tiêu năng suất lao động 21

1.3.4 Chỉ tiêu tổ chức tiền lương 21

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC TỔ CHỨC LAO ĐỘNG TIỀN LƯƠNG TẠI XÍ NGHIỆP XẾP DỠ TÂN VŨ – CẢNG HẢI PHÒNG 23

2.1 Quá trình hình thành và phát triển của xí nghiệp xếp dỡ Tân Vũ 23

2.1.1 Đặc điểm về sản phẩm, công nghệ, tổ chức vận hành 28

2.1.2 Đặc điểm về sở hữu 30

Trang 4

2.1.3 Đặc điểm về cơ cấu tổ chức 30

2.2 Tình hình sản xuất kinh doanh của Xí nghiệp xếp dỡ Tân Vũ 36

2.3 Công tác tổ chức lao động của XNXD Tân Vũ 39

2.3.1 Đặc điểm lực lượng lao động tại XNXD Tân Vũ 39

2.3.2 Tình hình chất lượng lao động theo trình độ tại XNXD Tân Vũ 40

2.3.3 Công tác xây dựng định mức lao động 41

2.4 Công tác tổ chức tiền lương 43

2.4.1 Xây dựng đơn giá tiền lương 43

2.4.2 Lập kế hoạch tiền lương của công ty 45

2.4.3 Phân tích đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch tiền lương 59

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC TỔ CHỨC TIỀN LƯƠNG TẠI XÍ NGHIỆP XẾP DỠ TÂN VŨ – CẢNG HẢI PHÒNG 63

3.1 Định hướng phát triển 63

3.1.1 Định hướng phát triển của công ty TNHH MTV Cảng Hải Phòng 63

3.1.2 Định hướng phát triển của xí nghiệp xếp dỡ Tân Vũ 64

3.2 Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác tổ chức lao động tiền lương tại xí nghiệp xếp dỡ Tân Vũ 65

3.2.1 Tuyển dụng lao động 65

3.2.2 Sử dụng lao động 67

3.2.3 Quản lý lao động 68

3.2.4 Hoàn thiện phân phối tiền lương 71

TÀI LIỆU THAM KHẢO 76

Trang 5

BẢNG CHỮ VIẾT TẮT

1 CBCNV Cán bộ công nhân viên

4 CNVC Công nhân viên chức

11 NSLĐ Năng suất lao động

13 SXKD Sản xuất kinh doanh

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong nền kinh tế quốc dân, giao thông vận tải đóng vai trò quan trọng là nối liền nơi sản xuất với nơi tiêu thụ, di chuyển hàng hoá và hành khách theo yêu cầu

của nền kinh tế, sản xuất xã hội Xã hội phát triển nhu cầu của con người ngày

càng cao thì giao thông vận tải là một ngành không thể thiếu được trong nền kinh

tế quốc dân của bất cứ quốc gia nào Từ khi nền kinh tế Việt Nam chuyển sang nền

kinh tế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước, các ngành kinh tế có những bước

phát triển mạnh mẽ trong đó ngành vận tải biển có những đóng góp không nhỏ

Vận tải là nguồn thu ngoại tệ lớn cho nhu cầu phát triển kinh tế của một đất nước,

đã xoá bỏ sự khác biệt giữa các vùng, tạo điều kiện khai thác mọi khả năng tiềm

tàng của đất nước, tạo điều kiện cho sự phát triển quan hệ giữa các quốc gia trên

toàn thế giới

Trong xu thế đó, Xí nghiệp xếp dỡ Tân Vũ đã nắm bắt cơ hội và đã phát triển ngày càng lớn mạnh, có vai trò không nhỏ trong ngành vận tải biển nói riêng

và nền kinh tế quốc dân nói chung Để làm được điều đó, cùng với rất nhiều công

tác khác thì công tác tổ chức lao động tiền lương là một công tác vô cùng quan

trọng Công tác này có được thực hiện tốt thì mới khuyến khích, động viên người

lao động nhiệt tình lao động, hăng hái phấn đấu, không ngừng sáng tạo góp phần

nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của Xí nghiệp Chính vì tầm quan trọng

như vậy của công tác tổ chức lao động tiền lương mà phải luôn luôn chú ý tới, phải

được tổ chức thực hiện một cách khoa học, bên cạnh đó phải có các biện pháp cải

tiến, nâng cao để đảm bảo quyền lợi của người lao động đồng thời thực hiện đúng

với các chế độ chính sách của Nhà nước Trên ý nghĩa đó, tác giả lựa chọn đề tài:

“Một số biện pháp hoàn thiện công tác tổ chức lao động tiền lương tại xí nghiệp xếp dỡ Tân Vũ - Cảng Hải Phòng”

làm đề tài nghiên cứu luận văn thạc sĩ

2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

Thứ nhất, luận văn hệ thống hoá những lý luận căn bản về tiền lương và tổ

Trang 8

chức lao động tiền lương trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

Để đạt được hiệu quả sản xuất kinh doanh, bố trí, phân công lao động khoa học và trả

công lao động hợp lý thì đầu mỗi năm sản xuất kinh doanh Xí nghiệp phải luôn có

những kế hoạch như kế hoạch sản lượng, kế hoạch giá thành, kế hoạch năng suất, kế

hoạch tài chính, kế hoạch số lượng cán bộ công nhân viên chức, kế hoạch tiền lương

để từ đó bố trí phân công lao động và các nguồn lực khác của Xí nghiệp một cách

khoa học, trả công lao động hợp lý Để thực hiện tốt được điều đó, bên cạnh việc vận

dụng những quy định của Nhà nước, Xí nghiệp cần phải đề ra và thực hiện một số giải

pháp nhằm cải tiến, nâng cao hiệu quả công tác tổ chức lao động tiền lương cho người

lao động

Thứ hai, luận văn phân tích và đánh giá thực trạng công tác tổ chức lao động tiền lương tại Cảng Hải Phòng mà cụ thể là tại Xí nghiệp xếp dỡ Tân Vũ theo các

nội dung: Xây dựng và quản lý mức lương tối thiểu; Quản lý định mức lao động và

đơn giá tiền lương; Lập kế hoạch Quỹ tiền lương; Quy chế phân phối và các hình

thức phân phối tiền lương Nêu bật những thành công và tồn tại, hạn chế trong tổ

chức lao động tiền lương tại Xí nghiệp xếp dỡ Tân Vũ và nguyên nhân của tình

hình

Thứ ba, luận văn đề xuất những quan điểm và giải pháp nhằm hoàn thiện công tác tổ chức lao động tiền lương tại Xí nghiệp xếp dỡ Tân Vũ – Cảng Hải

Phòng phù hợp với yêu cầu quản lý của Công ty TNHH MTV Cảng Hải Phòng

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu công tác quản lý, xây dựng lương tối thiểu, định mức lao động, đơn giá tiền lương, quản lý quỹ tiền lương và cơ chế

phân phối tiền lương đến người lao động

Phạm vi nghiên cứu: Công tác tổ chức lao động tiền lương tại xí nghiệp xếp

dỡ Tân Vũ giai đoạn 2011 – 2014

4 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu hệ thống: Hệ thống tài liệu lý luận liên quan đến lao động và tiền lương

Trang 9

Phương pháp thống kê tổng hợp, khảo sát, thu thập các tài liệu, phương pháp phân tích số liệu để nghiên cứu một cách toàn diện về tổ chức lao động tiền

lương

Phương pháp so sánh, suy đoán logic, phương pháp chuyên gia…để phân tích đánh giá thực trạng, định hướng nhằm đưa ra các giải pháp

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Đề tài tổng kết và vận dụng những lý luận khoa học để tập trung phân tích, đánh giá cơ cấu tổ chức bộ máy lao động và công tác tổ chức quản lý tiền lương

của Xí nghiệp, trên cơ sở đó đề ra các giải pháp mang tính khả thi và lâu dài, giúp

công ty hoàn thiện công tác tổ chức và quản lý tiền lương của công ty, nâng cao

năng lực cạnh tranh trước những yêu cầu và thách thức của hội nhập kinh tế quốc

tế, giúp Công ty tồn tại và phát triển vững mạnh trong điều kiện khắc nghiệt của thị

trường

6 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, mục lục, kết luận và kiến nghị, nội dung luận văn gồm

Trang 10

CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC TỔ CHỨC LAO ĐỘNG TIỀN LƯƠNG TRONG DOANH NGHIỆP

1.1 Công tác tổ chức lao động

1.1.1 Khái niệm tổ chức lao động

Tổ chức lao động là quá trình tổ chức hoạt động của con người trong sự kết hợp giữa 3 yếu tố cơ bản của quá trình lao động và mối quan hệ qua lại giữa những

người lao động với nhau vào việc thực hiện mục đích nâng cao năng suất và sử

dụng đầy đủ các tư liệu sản xuất.[5, tr12]

Tổ chức lao động là một phạm trù gắn liền với lao động sống, với việc đảm bảo sự hoạt động của sức lao động Thực chất, tổ chức lao động trong phạm vi tập

thể lao động nhất định là một hệ thống các biện pháp đảm bảo sự hoạt động lao

động của người nhằm đạt được mục đích của quá trình đó

Tổ chức lao động là một bộ phận không thể tách rời của tổ chức sản xuất

Quá trình sản xuất được thực hiện trên cơ sở một tổng hợp trọn vẹn các quá trình

lao động mà mỗi quá trình lao động chỉ là một giai đoạn nhất định trong việc chế

tạo sản phẩm vì quá trình sản xuất thường bao gồm quá trình lao động và quá trình

tự nhiên, giữa chúng có mối quan hệ với nhau và có tính đồng nhất về mục đích

cuối cùng của sản xuất [7, tr5]

Tổ chức lao động giữ vai trò quan trọng trong tổ chức sản xuất là do vai trò quan trọng của con người trong quá trình sản xuất quyết định Cơ sở kỹ thuật của

sản xuất dù hoàn thiện cỡ nào đi chăng nữa, quá trình sản xuất cũng không thể tiến

hành được nếu không sử dụng sức lao động, không có sự hoạt động có mục đích

của con người đưa cơ sở kỹ thuật đó vào hoạt động Do đó lao động có tổ chức của

con người trong bất kỳ doanh nghiệp nào cũng là điều kiện tất yếu của hoạt động

sản xuất Tổ chức lao động không chỉ cần thiết trong lĩnh vực sản xuất mà nó cần

thiết trong các tập thể lao động trong lĩnh vực không sản xuất vật chất

1.1.2 Một số khái niệm về mức và định mức lao động

Định mức lao động trong doanh nghiệp là lĩnh vực hoạt động thực tiễn về xây dựng và thực hiện các mức lao động trong tất cả các dạng hoạt động lao động

Trang 11

Định mức lao động chịu tác động của các thành tựu tiến bộ khoa học kỹ thuật Trong nền sản xuất xã hội định mức lao động thực hiện nhiều chức năng

khác nhau Hiệu quả của nó tuỳ thuộc vào mức độ và tính chất tiên tiến, có căn cứ

khoa học của các mức lao động cụ thể [5, tr20]

Định mức lao động tạo khả năng kế hoạch tốt hơn, đảm bảo việc thực hiện

có hiệu quả việc tính toán chính xác lượng lao động cần thiết, số lượng máy móc

thiết bị, sử dụng hợp lý nguồn dự trữ trong sản xuất

Định mức lao động chỉ có tác dụng thực sự khi các doanh nghiệp đã áp dụng các mức có căn cứ khoa học là mức đã tính đến nhân tố xã hội, tâm sinh lý và kinh

tế tối ưu

Để có thể sử dụng các thành tựu khoa học và những kinh nghiệm tiên tiến trong định mức thì phải hiểu rõ và nắm chắc bản chất của các loại mức được áp

dụng trong thực tiễn sản xuất

Khái niệm mức lao động: Mức lao động là lượng thời gian hoặc lượng lao động cần thiết phải tiêu hao để hoàn thành một đơn vị sản phẩm hay một công việc

nào đó trong điều kiện tổ chức kỹ thuật nhất định [5, tr25]

Định mức kỹ thuật lao động là quá trình nghiên cứu, dự kiến và tính toán mức lao động cho từng hình thức lao động trên cơ sở áp dụng khoa học kỹ thuật và

các hình thức tổ chức lao động khoa học

Do khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển, vì thế thực tế sản xuất đòi hỏi phải tính toán đầy đủ hơn các yếu tố kỹ thuật trong định mức lao động Mặt khác,

mức lao động không chỉ dựa vào tài liệu kỹ thuật mà còn phải tính đến sức khoẻ

của con người trong quá trình lao động vì hiệu quả lao động phụ thuộc vào yếu tố

kỹ thuật và yếu tố con người, hơn nữa nó phụ thuộc vào những điều kiện mà ở đó

con người tiến hành công việc Từ đó các mức lao động phải tính đến các yếu tố kỹ

thuật, tổ chức, tâm sinh lý lao động và những kinh nghiệm tiên tiến trong sản xuất

1.1.3 Các phương pháp xây dựng định mức lao động

Trong thực tế hiện nay các phương pháp định mức lao động được áp dụng

có thể chia thành 2 nhóm [5, tr26-tr30]:

Trang 12

Các phương pháp tổng hợp

Các phương pháp xây dựng định mức không dựa trên cơ sở nghiên cứu phân tích các bộ phận của bước công việc và điều kiện tổ chức kỹ thuật thực hiện chúng,

thời gian hao phí chỉ được quy định cho toàn bộ bước công việc Nhóm này bao

gồm 3 phương pháp: thống kê, kinh nghiệm và dân chủ bình nghị

 Phương pháp thống kê: Phương pháp xây dựng mức dựa vào các tài liệu

thống kê về thời gian hao phí thực tế để hoàn thành bước công việc (giống nhau

hoặc tương tự) ở thời kỳ trước Lượng thời gian (sản lượng) được xây dựng là mức

lao động thường lấy giá trị trung bình

Phương pháp kinh nghiệm: Phương pháp xây dựng mức dựa vào kinh

nghiệm tích luỹ được của cán bộ định mức, quản đốc phân xưởng hoặc công nhân

sản xuất

 Phương pháp dân chủ bình nghị: Phương pháp xây dựng mức bằng cách cán

bộ định mức tính bằng thống kê hoặc kinh nghiệm rồi đưa ra cho công nhân thảo

luận, bình nghị, quyết định

Do đặc điểm của tất cả các phương pháp trên đây, nên có thể nói phương pháp tổng hợp không phải là phương pháp định mức khoa học vì bản thân phương

pháp thống kê mới chỉ xác định hao phí thời gian cho toàn bộ bước công việc mà

chưa cho biết hao phí thời gian của từng bộ phận bước công việc, bản thân phương

pháp kinh nghiệm mới chỉ nêu lên được một vài khía cạnh chủ quan của thực tế

sản xuất nhưng là thực tế đã qua nên chưa tính đến tình hình đổi mới của thực tế

sản xuất về nhiều mặt Tuy nhiên, nó có ưu điểm là đơn giản, tốn ít công sức, áp

dụng trong điều kiện tổ chức sản xuất và tổ chức lao động còn thấp

Các phương pháp phân tích

Phương pháp xây dựng mức bằng cách phân chia và nghiên cứu tỉ mỉ quá trình sản xuất, quá trình lao động, các bước công việc được định mức và các nhân

tố ảnh hưởng đến thời gian hao phí Trên cơ sở đó áp dụng các biện pháp hoàn

thiện quá trình lao động (quy định chế độ làm việc có hiệu quả hơn của máy móc

thiết bị, sử dụng các phương pháp và thao tác lao động hợp lý ) đồng thời loại trừ

Trang 13

những nhược điểm trong tổ chức nơi làm việc và điều kiện lao động Xuất phát từ

kết quả nghiên cứu để xác định hao phí thời gian cho mỗi yếu tố và thời gian mức

cho cả bước công việc nói chung

Các mức lao động được xây dựng bằng phương pháp này đều là có căn cứ khoa học, bao gồm:

 Phương pháp phân tích tính toán: Chủ yếu dựa vào tài liệu tiêu chuẩn hoặc

các công thức thực nghiệm biểu hiện sự phụ thuộc của thời gian hao phí với các

yếu tố ảnh hưởng

Đặc điểm của phương pháp này là dựa vào chứng từ kỹ thuật và các tài liệu chuẩn để xác định các loại hao phí thời gian Quá trình xây dựng mức chủ yếu

được tiến hành trong phòng làm việc của cán bộ định mức Phương pháp này áp

dụng thích hợp trong điều kiện sản xuất hàng loạt, vì nó cho phép xây dựng mức

nhanh, tốn ít công sức

Phương pháp phân tích khảo sát: Phương pháp xây dựng mức dựa vào tài

liệu nghiên cứu khảo sát tại nơi làm việc Các phương pháp khảo sát cơ bản để

nghiên cứu hao phí thời gian làm việc đó là chụp ảnh, bấm giờ hoặc kết hợp cả

chụp ảnh và bấm giờ Mặt khác có thể nghiên cứu hao phí của từng động tác, thao

tác của bước công việc nó còn giúp ta phát hiện được thời gian hao phí Qua phân

tích kết quả khảo sát xác định được kết cấu các loại thời gian trong ca, nội dung và

trình tự thực hiện bước công việc cuối cùng xác định được mức thời gian và mức

sản lượng

Đặc điểm của phương pháp này là xác định mức dựa vào các tài liệu trực tiếp tại nơi làm việc Nó không những cho phép xác định các mức lao động mà còn

hoàn thiện tổ chức sản xuất, tổ chức lao động, đúc kết kinh nghiệm tiên tiến trong

sản xuất và trong quản lý để phổ biến rộng rãi trong doanh nghiệp hoặc trong phạm

vi một ngành sản xuất

Phương pháp so sánh điển hình: Phương pháp xây dựng mức dựa trên những

hao phí của mức điển hình

Trang 14

1.2 Công tác tổ chức tiền lương

1.2.1 Khái niệm về tiền lương

Trả công lao động là một hoạt động quản lý nhân sự có ý nghĩa rất lớn trong việc giúp cho tổ chức đạt được hiệu suất cao cũng như tác động một cách tích cực

tới đạo đức lao động của người lao động Tuy nhiên, tác dụng của trả công còn tùy

thuộc vào khả năng chi trả và ý muốn trả công của công ty cho người lao động

trong tương quan với sự đóng góp của họ Về mặt bản chất thì khái niệm tiền công

và tiền lương là đồng nhất, tuy nhiên khi nói đến tiền công trên góc độ người lao

động quan tâm đến sự đánh đổi công sức mà họ bỏ ra với cái mà họ nhận được

Trong luận văn này tác giả đồng nhất hai khái niệm tiền công và tiền lương

Phạm trù tiền lương là một phạm trù kinh tế tổng hợp,chịu tác động của nhiều yếu tố kinh tế, chính trị, xã hội, lịch sử Ngược lại tiền lương cũng tác động

tới quá trình sản xuất kinh doanh, nó là một yếu tố quan trọng của chi phí sản xuất,

nó có quan hệ trực tiếp và có tác động nhân quả đến lợi nhuận của doanh nghiệp,

góp phần cải thiện đời sống và ổn định chính trị Chính vì thế phạm trù tiền lương

đã được quan tâm và nghiên cứu từ rất sớm và rất cụ thể Với mỗi chế độ, mỗi tổ

chức chính trị xã hội khác nhau thì có quan niệm về tiền lương khác nhau

Trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung, tiền lương được hiểu một cách thống nhất như sau:

“Về thực chất, tiền lương dưới CNXH là một phần thu nhập quốc dân, biểu hiện dưới hình thức tiền tệ, được nhà nước phân phối có kế hoạch cho công nhân

viện chức phù hợp với số lượng và chất lượng lao động của mỗi người đã cống

hiến Tiền lương phản ánh việc trả công cho công nhân viên chức dựa trên nguyên

tắc phân phối theo lao động nhằm tái sản xuất sức lao động”.[18, tr10]

Với quan niệm này ta thấy tiền lương không phải là giá cả sức lao động vì dưới CNXH sức lao động không phải là hàng hóa, cả trong khu vực sản xuất kinh

doanh cũng như khu vực quản lý nhà nước XH Tiền lương thuộc phạm trù phân

phối, tuân thủ những nguyên tắc của quy luật phân phối dưới CNXH là phân phối

công bằng theo số lượng và chất lượng lao động của công nhân viên chức đã hao

Trang 15

phí và được kế hoạch hóa từ cấp trung ương đến cơ sở, được nhà nước thống nhất

quản lý

Khi nền kinh tế chuyển sang nền kinh tế thị trường, sự thay đổi của cơ chế quản lý kinh tế đã bộc lộ những hạn chế, thiếu xót của những nhận thức trên về vai

trò của yếu tố sức lao động, và bản chất của tiền lương trong quan niệm mới là “

Tiền lương là giá cả của yếu tố sức lao động được hình thành trên cơ sở thỏa thuận

giữa người lao động và người sử dụng lao động phù hợp với quan hệ cung, cầu, giá

cả của thị trường và pháp luật hiện hành của Nhà nước”.[19]

Theo quan niệm này, coi sức lao động là một loại hàng hóa của thị trường yếu tố sản xuất Do vậy tiền lương là tiền trả cho việc mua sức lao động và đặc biệt

tiền lương là một bộ phận cơ bản trong thu nhập của người lao động đồng thời là

một trong các yếu tố chi phí đầu vào SXKD của Doanh nghiệp

Trong sản xuất kinh doanh, vì các chủ doanh nghiệp cho rằng tiền lương là một phần chi phí sản xuất kinh doanh nên họ luôn tính toán và quản lý chặt chẽ,

còn với người lao động thì tiền lương là thu nhập từ quá trình lao động của họ,

phần thu nhập chủ yếu đối với đại đa số lao động trong xã hội có ảnh hưởng trực

tiếp đến mức sống của họ

Trên phạm vi toàn xã hội, tiền lương được xem xét và đặt trong mối quan hệ

về phân phối thu nhập, quan hệ sản xuất - tiêu dùng, quan hệ trao đổi Nền kinh tế

thị trường càng phát triển và được xã hội hóa cao thì quan hệ cung ứng và sử dụng

sức lao động trên tất cả các lĩnh vực càng trở nên linh hoạt hơn, tiền lương trở

thành nguồn thu nhập, là mối quan tâm và là động lực lớn nhất của mọi đối tượng

cung ứng sức lao động Vì vậy các chính sách về tiền lương, thu nhập luôn là các

chính sách trọng tâm của mọi quốc gia

1.2.2 Những yêu cầu và nguyên tắc của tổ chức tiền lương

Nội dung cơ bản của tổ chức tiền lương là xác định được những chế độ và phụ cấp lương cũng như tìm được các hình thức trả lương phù hợp nhằm nâng cao

năng suất lao động, phát triển sản xuất và cải thiện đời sống vật chất tinh thần của

người lao động [2, tr10]

Trang 16

Khi tổ chức tiền lương cho người lao động cần phải đạt được những yêu cầu cơ bản sau:

 Bảo đảm tái sản xuất sức lao động và không ngừng nâng cao đời sống vật

chất và tinh thần cho người lao động

 Làm cho năng suất lao động không ngừng nâng cao

 Đảm bảo tính đơn giản, rõ ràng, dễ hiểu

Để phản ánh đầy đủ những yêu cầu trên, khi tổ chức tiền lương bảo đảm những nguyên tắc cơ bản sau đây:

 Phù hợp với quy luật phân phối theo lao động

Quy luật phân phối theo lao động đòi hỏi phải xác định chính xác lượng lao động hao phí và xác định chính xác tiền lương để có thể bù đắp lại lượng lao động

hao phí đó

Theo quy luật này, ai có sức lao động thì phải tham gia lao động và có quyền nhận tiền lương phù hợp với sức lao động của mình, lao động là quyền lợi và nghĩa

vụ của mọi người, là nhu cầu tồn tại và phát triển của xã hội Do đó việc bố trí sắp

xếp công việc cho mọi người lao động là nhiệm vụ cấp bách, trước mắt và lâu dài,

đảm bảo cho mọi người lao động có việc làm

 Trả lương ngang nhau cho những người lao động như nhau

Dưới chủ nghĩa xã hội áp dụng nguyên tắc trả lương ngang nhau cho những người lao động như nhau trong cùng một đơn vị sản xuất kinh doanh Điều đó trực

tiếp bắt nguồn từ nguyên tắc phân phối theo số lượng và chất lượng lao động Trả

lương ngang nhau cho những người lao động như nhau có nghĩa là khi quy định

các chế độ tiền lương, nhất thiết không quy định giới tính, tuổi tác, dân tộc

 Đảm bảo năng suất lao động tăng nhanh hơn tiền lương bình quân

Quy định năng suất lao động tăng nhanh hơn tiền lương bình quân là một nguyên tắc quan trọng khi tổ chức tiền lương Vì có như vậy mới tạo cơ sở cho

giảm giá thành, hạ giá cả và tăng tích luỹ

Có nhiều nhân tố tác động đến mối quan hệ này cho phép thực hiện các nguyên tắc trên

Trang 17

Tiền lương bình quân tăng lên dựa vào các yếu tố chủ quan do nâng cao năng suất lao động (nâng cao trình độ lành nghề, giảm bớt tổn thất thời gian lao

động )

Năng suất lao động tăng không phải chỉ do các nhân tố trên mà còn trực tiếp phụ thuộc vào các nhân tố khách quan khác (áp dụng kỹ thuật mới, sử dụng hợp lý

tài nguyên thiên nhiên)

Như vậy, tốc độ tăng năng suất lao động rõ ràng là có khả năng khách quan lớn hơn tốc độ tăng của tiền lương bình quân

Một khi năng suất lao động tăng lên, sản phẩm ngày càng nhiều với chất lượng tốt hơn và rẻ hơn thì tiền lương bình quân cũng sẽ được tăng lên, ngược lại,

tiền lương bình quân tăng lên có tác dụng thúc đẩy tăng năng suất lao động Trong

mối quan hệ này thì năng suất lao động giữ vai trò chủ đạo quyết đinh, còn tiền

lương bình quân giữ vai trò bổ sung

Nhưng trong nền kinh tế quốc dân, không cần đòi hỏi ngành nào có năng suất lao động cao nhất thì tốc độ tăng tiền lương bình quân phải cao nhất Vì quy

định tốc độ tăng tiền lương bình quân phải cao nhất Tốc độ tăng tiền lương bình

quân giữa các ngành kinh tế quốc dân phải xét đến ý nghĩa kinh tế của mỗi ngành

đối với toàn bộ nền kinh tế quốc dân trong từng thời kỳ nhất định

 Đảm bảo mối quan hệ hợp lý về tiền lương bình quân giữa những người lao

động làm các nghề khác nhau trong nền kinh tế quốc dân

Quy định giữ vững mối quan hệ hợp lý về tiền lương bình quân giữa những người lao dộng làm các nghề khác nhau trong nền kinh tế quốc dân là một trong

những nguyên tắc quan trọng của tổ chức tiền lương

+ Trình độ lành nghề bình quân của người lao động ở mỗi ngành Tính chất phức tạp về kỹ thuật giữa các ngành trong nền kinh tế quốc dân đòi hỏi trình độ lành nghề bình quân của người lao động giữa các ngành khác

nhau

Trả lương cao hơn cho người lao động lành nghề một cách thích đáng sẽ khuyến khích họ nâng cao trình độ lành nghề và do đó làm cho số lượng người lao

Trang 18

động lành nghề ngày càng đông đảo Vì thế, trình độ lành nghề bình quân giữa các

ngành khác nhau sẽ làm cho tiền lương bình quân cũng khác nhau

+ Điều kiện lao động khác nhau Những người làm việc trong điều kiện nặng nhọc tổn hao nhiều năng lượng phải được trả lương cao hơn so với những người lao động làm việc trong điều kiện

bình thường để bù đắp lại sức lao động đã hao phí Trả công có tính đến điều kiện

lao động cũng có thể thông qua phụ cấp về điều kiện lao động để trả cho những

người làm việc trong môi trường độc hại đến sức khoẻ Từ đó các điều kiện lao

động đều ảnh hưởng nhiều hoặc ít tới tiền lương bình quân ở mỗi ngành nghề

+ Ý nghĩa kinh tế của mỗi ngành trong nền kinh tế quốc dân Trong từng thời kỳ xây dựng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa, các ngành chủ yếu quyết định sự phát triển của nền kinh tế quốc dân cần được đảm bảo tiền lương

cao hơn, có như vậy mới khuyến khích người lao động yên tâm làm việc lâu dài ở

những ngành có vị trí quan trọng phù hợp với yêu cầu phân phối sức lao động và

tầm quan trọng của các ngành trong từng thời kỳ

Vị trí của các ngành cần được chú ý trong khi xây dựng các phụ cấp lương hoặc cũng có thể xử lý bằng chính sách vĩ mô, không cần qua chính sách tiền công

+ Sự phân bố khu vực sản xuất của các ngành khác nhau Các ngành sản xuất phân bố ở những khu vực khác nhau trong mỗi nước, điều đó sẽ ảnh hưởng tới tiền lương bình quân của mỗi ngành, điều kiện sinh hoạt

chênh lệch tại các khu vực khác nhau Việc xác định các yếu tố để quy định phụ

cấp thường căn cứ vào chênh lệch giá cả, điều kiện khí hậu, những nơi xa xôi hẻo

lánh, nhu cầu về sức lao động… những sự chênh lệch đó phải được bù đắp lại bằng

tiền lương, phụ cấp cao hơn và ưu đãi khác Nếu làm khác đi sẽ không thu hút và

không khưyến khích được người lao động đén làm việc tại các vùng kinh tế mới,

giàu tài nguyên thiên nhiên nhưng lại thiếu nhân lực

+ Đảm bảo mối quan hệ hợp lý giữa tiền lương danh nghĩa, tiền lương thực tế

Vì sức lao động cũng là hàng hoá do đó nó cũng chịu sự điều tiết của quy luật giá trị, tiền lương là giá trị của sức lao động, vì vậy nó cũng chịu sự tác động

Trang 19

của quy luật này Mặt khác, tiền lương thực tế được thể hiện bằng số lượng tư liệu

sinh hoạt và dịch vụ mà người lao động có thể mua được bằng tiền lương danh

nghĩa, nếu giữa chúng không có sự phù hợp thì có nghĩa tự phá vỡ mối quan hệ

cung cầu, kìm hãm sự phát triển của sản xuất xã hội

1.2.3 Các chế độ tiền lương

Công tác tổ chức tiền lương trong các doanh nghiệp nói chung và trong các doanh nghiệp vận tải nói riêng là hệ thống các biện pháp và vận dụng các chế độ

chính sách và tiêu chuẩn về tiền lương do Nhà nước ban hành để trả công cho cán

bộ công nhân viên trong doanh nghiệp phù hợp số lượng và chất lượng lao động

của họ, đảm bảo tái sản xuất sức lao động một cách có kế hoạch

Các chế độ chính sách và tiêu chuẩn về tiền lương do Nhà nước ban hành là

cơ sở của công tác tổ chức tiền lương ở các doanh nghiệp Các chế độ chính sách

và tiêu chuẩn này bao gồm nhiều bộ phận khác nhau nhằm đảm bảo sự phù hợp

giữa tiền lương với số lượng, chất lượng của cán bộ công nhân viên Các bộ phận

Ngoài ra còn có các tiêu chuẩn quy định về chi phí tiền lương cho một đơn

vị sản phẩm, tiền lương bình quân, tổng quỹ lương…, các phương pháp tính toán

Trang 20

những công nhân cùng nghề hoặc cùng nhóm nghề giống nhau theo trình độ cấp

bậc của họ Mỗi thang lương bao gồm có một số các bậc lương và các hệ số phù

hợp với các bậc lương đó

 Mức lương

Mức lương là số lượng tiền tệ để trả công lao động trong một đơn vị thời gian (giờ, ngày, tháng) phù hợp với các bậc trong thang lương Thông thường chỉ

quy định mức lương bậc một, còn các mức lương bậc khác trong thang lương được

tính bằng cách nhân mức lương bậc 1 với hệ số lương của bậc lương tương ứng

Công thức tính mức lương của bậc nào đó như sau:

Si = S kiS: mức lương tối thiểu

Si: mức lương của công nhân bậc i

ki: hệ số lương của công nhân bậc i

Để đơn giản cho công tác tổ chức tiền lương trong phạm vi toàn quốc, Nhà nước chỉ quy định mức lương tháng còn mức lương giờ (ngày) do doanh nghiệp

tính ra trên cơ sở mức lương tháng

Mức lương giờ = Mức lương tháng và các khoản phụ cấp

Số giờ làm việc trong tháng

không có trình độ chuyên môn đều làm được, gọi là đơn giản, ví dụ: quét dọn

Tiền lương tối thiểu được Nhà nước quy định theo từng thời kỳ phù hợp với trình độ phát triển kinh tế của đất nước nhằm tái sản xuất mở rộng sức lao động (có

tính cả chi phí nuôi con)

Cơ cấu của lương tối thiểu bao gồm: ăn, mặc, ở và đồ dùng trong nhà, các khoản khác (chữa bệnh, học tập văn hoá, giao tiếp, đi lại, bảo hiểm )

Trang 21

Mức lương tối thiểu tiếp cận từ nhiều cách khác nhau, nhưng chủ yếu là từ nhu cầu của mức sống tối thiểu và quan hệ giữa tiền lương tối thiểu và quan hệ

cung cầu về sức lao động

 Tiêu chuẩn cấp bậc kỹ thuật

Tiêu chuẩn cấp bậc kỹ thuật là văn bản quy định về mức lương phức tạp của công việc và yêu cầu về trình độ lành nghề của công nhân ở bậc nào đó phải hiểu

biết những gì về mặt kỹ thuật và phải làm những gì về mặt thực hành

Như vậy, tiêu chuẩn cấp bậc kỹ thuật phản ánh yêu cầu về trình độ lành nghề của công nhân, có liên quan chặt chẽ với mức độ phức tạp của công việc Nói

cách khác: giữa cấp bậc công nhân và cấp bậc công việc có mối quan hệ chặt chẽ

Xác định cấp bậc đúng đắn có ý nghĩa to lớn trong tổ chức tiền lương: quy định được mức lương theo trình độ phức tạp của công việc, tạo điều kiện cho việc

trả lương theo chất lượng lao động

Để đánh giá thống nhất chất lượng, làm cơ sở để trả lương đối với công nhân cùng nghề hoặc khác nghề làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân, người ta

thường áp dụng hai loại tiêu chuẩn cấp bậc kỹ thuật sau:

+ Tiêu chuẩn cấp bậc kỹ thuật thống nhất của nghề chung tức là những nghề hiện có trong tất cả hoặc trong nhiều ngành sản xuất Những nghề này thường bao

gồm công nhân của các phân xưởng cơ khí, sửa chữa, công nhân sửa chữa và phục

Trang 22

thuật mà công nhân phải có để hoàn thành công việc với mức độ phức tạp nhất

Mỗi công nhân đều có một bậc thợ phù hợp với trình độ lành nghề của mình trong tiêu chuẩn cấp bậc kỹ thuật Tiêu chuẩn cấp bậc kỹ thuật nói chung được xây

dựng theo kết cấu thống nhất, bao gồm 2 thành phần: phần yêu cầu chung và phần

diễn giải theo trình độ lành nghề của công nhân

Chế độ tiền lương chức vụ

Chế độ tiền lương chức vụ chủ yếu áp dụng cho cán bộ và nhân viên trong các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế khác nhau

 Cơ sở xác định tiền lương chức vụ

Đối với cán bộ và nhân viên trong doanh nghiệp, thông thường ta áp dụng hình thức lương thời gian theo chế độ tiền lương chức vụ tháng

Chế độ tiền lương chức vụ được thể hiện thông qua thang bảng lương chức

vụ Bảng lương chức vụ bao gồm các nhóm chức vụ khác nhau được quy định trả

lương theo lao động của từng chức vụ (có tính đến những yếu tố trong đó có mức

độ phức tạp và khối lượng công việc phải hoàn thành cũng như các điều kiện khác

để thực hiện công việc đó) mỗi chức vụ đều quy định người ở chức vụ đó cần phải

có tiêu chuẩn bắt buộc về chính trị, văn hoá, chuyên môn để hoàn thành chức vụ

được giao Khi nói về trình độ chuyên môn của cán bộ lãnh đạo, nhân viên kỹ thuật

và các loại nhân viên khác cần phải hiểu nghĩa rộng hơn so với công nhân, không

chỉ phản ánh kiến thức, kinh nghiệm thực tế và một số nghề chuyên môn nào đó,

mà bao gồm cả sự hiểu biết toàn diện của họ về khoa học - kỹ thuật, kinh nghiệm

lãnh đạo và tổ chức sản xuất

Kiến thức đòi hỏi của từng nhóm người có khác nhau, năng lực quản lý và kiến thức kinh tế nói chung đòi hỏi ngày càng tăng ở những chức vụ quản lý có

nhiều trách nhiệm hơn Mối quan hệ về mức lương giữa các loại cán bộ lãnh đạo,

nhân viên kỹ thuật và các loại nhân viên khác cần được xác định đúng đắn thông

qua hệ thống bảng lương chức vụ Để xác định đúng đắn tiền lương chức vụ của

cán bộ và nhân viên phải:

 Xây dựng chức năng danh nghề của viên chức

Trang 23

Thông thường chức năng danh nghề của cán bộ nhân viên bao gồm:

+ Chức danh của viên chức lãnh đạo + Chức danh của viên chức làm công tác chuyên môn (kỹ thuật, nghiệp vụ) + Chức danh của viên chức thừa hành, dịch vụ, phục vụ

 Đánh giá sự phức tạp của lao động viên chức

Để đánh giá sự phức tạp của lao động viên chức, thường tiến hành phân tích nội dung công việc, hoặc nghề nghiệp của viên chức bằng phương pháp cho điểm

+ Yếu tố về chất lượng của nghề nghiệp hoặc công việc bao gồm: trình độ thành thạo theo yêu cầu của nghề nghiệp, công việc thâm niên công tác cần có để

tích luỹ kinh nghiệm thực tế

+ Yếu tố về trách nhiệm của nghề nghiệp hoặc công việc bao gồm: trách nhiệm đối với công cụ lao động, với tính mạng của con người, trách nhiệm trong

quan hệ đối nội, đối ngoại

Trong hai yếu tố trên, theo kinh nghiệm, yếu tố đầu thể hiện bằng quá trình đào tạo thường chiếm tỷ trọng đến 70% tổng số điểm, còn yếu tố sau chiếm

khoảng 30% tổng số điểm

 Xác định bội số, số bậc của bảng lương, xác định bội số của bảng lương viên

chức về cơ bản giống như của công nhân khi xây dựng các thang lương Còn số

bậc của bảng lương theo mức độ phức tạp của lao động tuỳ thuộc vào số chức danh

nghề được xác định

 Xác định mức lương bậc 1 và các mức lương khác trong thang bảng lương,

xác định mức lương bậc 1 bằng cách lấy mức lương tối thiểu được quy định nhân

với hệ số của mức lương bậc 1 Hệ số này lại là tích số của hệ số phức tạp của lao

động viên chức nhân với hệ số điều kiện lao động biểu hiện như tiêu hao năng

lượng của thần kinh, cơ bắp

Còn mức lương của các bậc khác trong bảng lương được xác định bằng cách lấy mức lương bậc 1 nhân với hệ số phức tạp của lao động và hệ số điều kiện lao

động của bậc đó so với bậc 1

 Nguyên tắc chung quy định bảng lương theo ngành

Trang 24

Khi quy định bảng lương chức vụ cũng phải đảm bảo nguyên tắc chung của việc trả lương cho người lao động Ngoài ra còn phải dựa vào nguyên tắc sau:

+ Trong cùng một đơn vị, mức lương của người lãnh đạo phải cao hơn mức lương của người dưới quyền

+ Mức lương của cán bộ quản lý doanh nghiệp tuỳ thuộc voà loại hạng doanh nghiệp mà và mức lương của trưởng ngành để quy định

+ Mức lương của trưởng ngành phụ thuộc vào mức lương của công nhân trong mỗi ngành, nói chung là cao hơn mức lương của công nhân bậc cao nhất

(nhưng không quá 10%) và cũng không vượt quá mức lương của phó giám đốc

phân xưởng trực tiếp lãnh đạo

+ Mức lương cao nhất của doanh nghiệp loại 1 không được vượt quá mức lương của cục phó cục quản lý doanh nghiệp đó

Ngoài ra còn phải xác định tỷ lệ cân đối về tiền lương giữa nhóm cán bộ nhân viên với nhau và so với công nhân Xác định những tỷ lệ cân đối này là

nhiệm vụ cơ bản khi nghiên cứu bảng lương chức vụ

1.2.4 Công tác tổ chức tiền lương trong ngành hàng hải

Tổ chức lao động và tiền lương là một bộ phận không thể tách rời của tổ chức sản xuất các doanh nghiệp Trong các chế độ kinh tế xã hội khác nhau thì

trình độ tổ chức lao động và tổ chức tiền lương cũng khác nhau Hơn nữa, mỗi

ngành nghề khác nhau thì trình độ tổ chức lao động và tổ chức tiền lương cũng

khác nhau Có sự khác biệt như vậy là do đặc điểm lao động của mỗi ngành, mỗi

nghề và mỗi hình thái kinh tế là không giống nhau Vì vậy, khi tiến hành công tác

tổ chức lao động tiền lương trong công ty vận tải biển thì ta phải nghiên cứu đặc

điểm lao động trong vận tải biển [6, tr12]

Vận tải biển là ngành sản xuất vật chất độc lập và đặc biệt, sản phẩm của nó

là sự dịch chuyển hàng hoá và hành khách trong không gian, là sự thoả mãn nhu

cầu vận chuyển, đối với nền kinh tế quốc dân là sản phẩm đặc biệt, vận tải không

trực tiếp tạo ra của cải vật chất cho xã hội, nó là khâu trung gian giữa sản xuất và

tiêu dùng, là việc tiếp tục quá trình sản xuất trong lưu thông, làm tăng thêm giá trị

Trang 25

cho sản phẩm [6, tr13]

Đặc điểm của lao động trong vận tải biển cũng như lao động trong các ngành khác, nó bao gồm yếu tố tâm lý, tâm lý lao động, thẩm mỹ học trong lao

động, những kinh nghiệm tích luỹ, khả năng tiếp thu kỹ thuật mới… Với mỗi

ngành khác nhau thì sự phát huy các yếu tố đó cũng khác nhau Vấn đề đặt ra ở đây

là khai thác triệt để các yếu tố đó trong quá trình lao động mà vẫn đảm bảo tái sản

xuất sức lao động một cách thường xuyên, điều này thể hiện tính ưu việt của chủ

nghĩa xã hội

Ngoài đặc điểm chung như các loại hình doanh nghiệp khác, doanh nghiệp ngành hàng hải còn có các đặc điểm riêng sau: [5, tr16]

 Lao động xa đất liền, xa tổ quốc, làm việc cả ngày lễ tết và chủ nhật, nếu không

có biện pháp bù đắp lại dẫn đến năng suất lao động bị hạn chế Luật lao động quy

định người lao động được nghỉ trong ngày lễ tết và chủ nhật Nó đề cập đến vấn đề

tôn trọng tín ngưỡng và vấn đề nghỉ ngơi của người lao động, riêng đối với lao động

trong ngành vận tải biển không được nghỉ trong thời gian đó, điều đó không thể

không ảnh hưởng tới thời gian và năng suất lao động Từ đòi hỏi này phải xây dựng

chế độ đảo ca hợp lý, nghiên cứu các chế độ đãi ngộ lao động, đào tạo và tuyển dụng

hợp lý

 Lao động trong điều kiện phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên và điều kiện thời tiết

Đối với thuyền viên, lao động của họ xảy ra trong điều kiện sóng gió, thậm chí trong

cả những trận bão lớn, những điều kiện này xảy ra bất thường với nhiều mức độ khác

nhau Điều này đòi hỏi họ phải có ngoài sự hiểu biết về nghề nghiệp còn phải có một

thể lực tốt, một sức chịu đựng dẻo dai Rõ ràng phải có chế độ bồi dưỡng đặc biệt, có

thiết bị phòng hộ đặc biệt

 Lao động trong điều kiện nặng nhọc, chật hẹp và độc hại do họ phải làm việc

trong hầm hàng, hầm máy,… vận hành, điều khiển, điều chỉnh các máy móc thiết bị

trong điều kiện làm việc trên biển

 Lao động phụ thuộc nhiều vào tình hình hàng hoá, hàng hoá trong vận tải biển

phụ thuộc vào các yếu tố như tính chất lý hoá của hàng hoá, khối lượng và kết cấu

Trang 26

hàng hoá, chiều hàng, điểm bắt đầu và điểm kết thúc của việc vận chuyển và di

chuyển hàng hoá, tính chất bất bình hành hoặc mức độ căng thẳng về hàng hoá, điều

này đòi hỏi việc điều động phương tiện và nhân lực tích hợp, tránh lãng phí sức lao

động hoặc tăng cường độ lao động

 Lao động trong vận tải biển bao gồm nhiều ngành, nhiều nghề có mối quan hệ

mật thiết với nhau, nhiều dạng lao động khác nhau như lao động thủ công, điện, cơ

khí, vận hành, sửa chữa… Vì vậy, một mặt đòi hỏi phải đảm bảo đầy đủ các dạng lao

động đó, mặt khác phải xác định mối quan hệ thống nhất, tỷ lệ cân đối giữa các dạng

lao động này

Từ những đặc điểm trên, tổ chức lao động tiền lương đòi hỏi phải vận dụng đầy

đủ và triệt để những đặc điểm đó trong từng hình thức tổ chức lao động, đảm bảo

được điều đó mới sớm phát huy được sức lao động, thực hiện tiết kiệm và tái sản xuất

sức lao động

1.3 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả công tác tổ chức lao động tiền lương

trong ngành hàng hải

1.3.1 Chỉ tiêu kết cấu và biến động sức lao động

Lực lượng lao động của doanh nghiệp là toàn bộ cán bộ công nhân viên mà doanh nghiệp quản lý và trả lương, không kể biên chế chính thức hay hợp đồng, có

mặt hoặc không có mặt tại doanh nghiệp Khi xem xét số lượng lao động trong kỳ

là không hoàn toàn giống nhau, muốn nghiên cứu kết cấu và sự biến động về số

lượng lao động trước hết phải phân chia tổng số lao động của doanh nghiệp thành

nhiều loại theo nhiều tiêu thức khác nhau Mỗi cách phân chia như vậy có một kết

cấu lao động, có thể phân chia theo nghề, theo giới tính, chức năng, nghề nghiệp,

độ tuổi, trình độ học vấn, trình độ lành nghề Mỗi kết cấu ta xem xét kết cấu như

vậy ở kỳ nghiên cứu so với kỳ gốc có khác biệt hay không? Mức độ hợp lý của kết

cấu đó? Việc tăng giảm lao động đã đưa đến sự thay đổi kết cấu có hợp lý không?

Nguyên nhân của sự biến động đó? Để công tác đó có hiệu quả hơn cần tăng, giảm

lao động ở doanh nghiệp như thế nào? [3, tr18]

Trang 27

1.3.2 Chỉ tiêu quản lý và sử dụng thời gian lao động

Mục đích của việc phân tích tình hình quản lý và sử dụng thời gian lao động

là muốn tìm ra nguyên nhân gây lãng phí thời gian lao động, giảm hiệu suất sử

dụng quỹ thời gian làm việc của người lao động Đặc biệt, lao động của thuyền

viên trên các tàu vận chuyển hàng hoá là làm việc theo ca, khi không làm việc vẫn

ở trên tàu Lao động của thuyền viên có cách quản lý riêng là quản lý việc đi ca kết

hợp quản lý theo chức trách

Các chỉ tiêu: Số lao động bình quân trong kỳ, số ngày công lịch trong kỳ, số ngày nghỉ theo chế độ, số ngày làm việc theo chế độ, số ngày vắng mặt, số ngày

ngừng việc, số ngày ngừng việc được sử dụng, số ngày làm thêm, Hiệu quả kinh

tế của việc sử dụng thời gian có thể tính với giả định năng suất lao động không đổi

thì khi tăng, giảm ngày công sẽ dẫn đến sản lượng tăng giảm một lượng [3, tr20]

1.3.3 Chỉ tiêu năng suất lao động

Năng suất lao động là chỉ tiêu hiệu quả của hoạt động có ích của người lao động, nó phản ánh cụ thể kết quả của việc quản lý và sử dụng lao động của doanh

nghiệp Qua các cách tính, ta thấy, năng suất lao động bình quân năm phản ánh

tổng hợp nhất, nó cho biết cả tình hình quản lý, sử dụng ngày công, giờ công

Nghiên cứu các ảnh hưởng ta tìm ra được các nhân tố còn chưa được khai thác và khai thác chưa hết, các nhân tố kìm hãm sự phát triển của sản xuất Từ đó

có biện pháp cụ thể tăng năng suất lao động Qua so sánh kỳ nghiên cứu và kỳ gốc

xác định được tốc độ tăng năng suất lao động Để có thể đánh giá đầy đủ, ta có thể

so sánh tốc độ tăng năng suất lao động và tốc độ tăng tiền lương bình quân

Khi đưa ra các biện pháp tăng năng suất lao động cần tính đến hiệu quả của biện pháp ấy Hiệu quả được xác định bằng khả năng tăng năng suất lao động, mức

năng suất có thể đạt được khi sử dụng tốt nhất ngày công, giờ công và khai thác

các yếu tố tăng năng suất giờ [3, tr22-tr24]

1.3.4 Chỉ tiêu tổ chức tiền lương

Tổ chức tiền lương là một trong những hình thức tổ chức khoa học, nó có ảnh hưởng trực tiếp và ảnh hưởng lớn đến kết quả sản xuất kinh doanh của doanh

Trang 28

nghiệp Nếu tổ chức tiền lương tốt thì năng suất lao động tăng lên không ngừng,

sản lượng tăng, giá thành hạ và lợi nhuận tăng, đời sống của người lao động cũng

được nâng cao Kết quả của công tác này được thể hiện ở hai vấn đề lớn, đó là thực

hiện chi tiêu tổng quỹ tiền lương của công ty và thực hiện chỉ tiêu tiền lương bình

quân Nếu chi phí lương góp phần hạ giá thành sản phẩm và tốc độ tăng tiền lương

bình quân chậm hơn tốc độ tăng năng suất lao động thì việc tăng giảm quỹ lương là

tốt

Khi xem xét tiền lương giữa các bộ phận cần xét sự hợp lý về tỷ lệ giữa lương công nhân chính, công nhân trực tiếp, công nhân phụ; giữa lương công nhân

trực tiếp, công nhân gián tiếp; giữa các đơn vị trong doanh nghiệp Cần có sự khác

biệt giữa các loại lao động nhưng cũng không thể quá khác biệt, như vậy không tạo

điều kiện hợp tác lao động khoa học giữa họ được [3, tr27]

Trang 29

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC TỔ CHỨC LAO ĐỘNG TIỀN

LƯƠNG TẠI XÍ NGHIỆP XẾP DỠ TÂN VŨ – CẢNG HẢI PHÒNG

2.1 Quá trình hình thành và phát triển của xí nghiệp xếp dỡ Tân Vũ

Tên Việt Nam: Xí nghiệp xếp dỡ Tân Cảng

Tên quốc tê: Tan Cang Stevdoring Enterprises

Số điện thoại: 0313 262608

Địa chỉ: Khu công nghiệp Đình Vũ

Để đáp ứng nhu cầu thông qua lượng hàng hóa ngày càng tăng cao bằng đường biển và giảm tải cho các cảng trong nội thành, công ty TNHH MTV Cảng

Hải Phòng đã đầu tư xây dựng bến tàu mới tại khu vực Đình Vũ Đây là những cầu

lớn, hiện đại, đủ năng lực bốc xếp cho tàu 2 vạn tấn vào làm hàng Để trực tiếp

điều hành sản xuất tại khu vực cầu tàu này, ngày 28/11/2008 cảng Hải Phòng đã

thành lập xí nghiệp xếp dỡ Tân Cảng theo quyết định số 4271/QĐ-HĐTV Xí

nghiệp xếp dỡ Tân Cảng là một xí nghiệp chi nhánh trực thuộc công ty TNHH

MTV Cảng Hải Phòng, có nhiệm vụ chính là tổ chức xếp dỡ, giao nhận, vận

chuyển hàng hóa tại khu vực Đình Vũ Đồng thòi kinh doanh vận tải hàng hóa

bằng đường thủy, đường bộ Cơ cấu lực lượng lao động trực tiếp của xí nghiệp

gồm: 1 đội cơ giới, 1 đội công nhân bốc xếp, 1 đội giao nhận tổng hợp Xí nghiệp

có 5 cầu tàu với tổng chiều dài 980m

Xí nghiệp dỡ Tân Cảng là đơn vị non trẻ nhất trong các thành viên của Công

ty TNHH MTV Cảng Hải Phòng, mới được hoạt động và triển khai hoạt động từ

ngày 04/12/2008 theo quyết định số 4271/QĐ-HĐTV ngày 25/11/2008 của Hội

Đồng thành viên Công ty TNHH MTV Cảng Hải Phòng Ra đời trong giai đoạn vô

cùng khó khăn sự khủng hoảng của nền kinh tế toàn cầu và thị trường hàng hóa

quốc tế và trong nước giảm mạnh

Nằm trong khu kinh tế Đình Vũ – Bán đảo Đình Vũ , vị trí 20050’ vĩ độ Bắc,

106046’ kinh độ Đông Xí nghiệp xếp dỡ Tân Cảng là đơn vị cung cấp dịch vụ

cảng biển với hệ thống cầu cảng lớn, độ sâu cốt luồng cảng theo tiêu chuẩn và

Trang 30

được trang bị trang thiết bị hiện đại có khả năng xếp dỡ 15 triệu tấn hàng hóa

thông qua/ năm

Dự án Tân Cảng Hải phòng tại Đình Vũ ( Tân Cảng Đình Vũ – Tân Vũ) được đầu tư bằng nội lực của cảng Hải Phòng, có qui mô 7 cầu tàu với chiều dài

1.405m giúp tàu 2 vạn tấn đẩy tải dễ dàng ra vào làm hàng Khi thực hiện dự án

này, Cảng Hải phòng được giao sử dụng quỹ đất rộng 55ha tại khu vực bán đảo

Đình Vũ để xây dựng phát triển cảng, nhằm đáp ứng nhu cầu hàng hóa thông qua

khu vực Hải Phòng cũng như toàn khu vực miền Bắc

Giai đoạn 1 Tân Cảng Đình Vũ ( gồm bến số 1, 2) với tổng kinh phí 1.934 tỷ đồng được khởi công xây dựng từ năm 2003 và hoàn thành vào năm 2007 Năm

2011, sản lượng hàng hóa thông qua khu vực này đạt 4,3 triệu tấn, doanh thu 420

tỷ đồng giai đoạn 2 gồm bến số 3,4,5,6 được hội đồng quản trị Tổng công ty hàng

hải Việt Nam (Vinalines) phê duyệt tháng 5/2005, với mục tiêu đáp ứng lượng

hàng hóa thông qua cảng vào năm 2010 khu vực Hải Phòng gồm 35 triệu tấn/ năm

riêng cảng Đình Vũ giai đoạn 2 là 8,5 triệu tấn và phù hợp với quy hoạch đô thị

của thành phố Hải Phòng Quy mô dự án gồm 4 bến cho tàu có trọng tải 20.000

tấn, tổng chiều dài 4 bến là 785m và các công trình bãi, kho chứa hàng, hệ thống

các công trình kiến trúc, công trình hạ tầng kỹ thuật đồng bộ, diện tích sử dụng đất

47,5 ha Tổng mức đầu tư 1.500 tỷ đồng, bằng nguồn vốn tự bổ sung và huy động

của cảng Hải Phòng Tiến độ xây dựng thực hiện từ năm 2006 đến năm 2011 Đầu

năm 2011, dự án Tân Cảng Đình Vũ giai đoạn 2 hoàn thành, đưa vào sử dụng 4

bến số 3,4,5,6 và 15 ha bãi sau bến 3,4 Lượng hàng hóa thông qua của Tân Cảng

Đình Vũ góp phần vào việc hoàn thành toàn diện kế hoạch sản xuất kinh doanh của

cảng Hải Phòng năm 2011 đạt 17,6 triệu tấn, cũng như đáp ứng sự tăng trưởng

hàng hóa qua cảng Hải Phòng

Dự án Tân Cảng Đình Vũ giai đoạn 3 được Vinalines chấp thuận chủ trương đầu tư Hội đồng thành viên công ty TNHH MTV cảng Hải Phòng phê duyệt và

được xây dựng liên tục Đến nay đã hoàn thành bến số 7 và một số công trình phụ

trợ khác Ngoài ra cảng Hải Phòng đang tiếp tục chuẩn bị thực hiện các dự án đầu

Trang 31

tư khác về cơ sở hạ tầng, thiết bị xếp dỡ, công nghệ thông tin trên mặt bằng Tân

cảng Hải Phòng

Trong quá trình thực hiện quy hoạch chung của các dự án đầu tư tại Tân Cảng, công ty điều chỉnh thay đổi quy hoạch, bổ sung năng lực phù hợp với yêu

cầu khai thác hàng container, đáp ứng yêu cầu tăng trưởng hàng hóa và đạt hiệu

quả cao so với các mặt hàng ngoài container Quy hoạch Tân Cảng là cơ sở để

triển khai thiết kế các công trình, hạng mục công trình tiếp theo Như vậy Tân

Cảng Hải Phòng tại Đình Vũ là cảng biển đầu tiên tại thành phố Hải Phòng có đủ

điều kiện cho phép tàu 2 vạn tấn đầy tải ra vào làm hàng Đó còn là sự nối dài

vươn ra biển của hệ thống cảng Hải phòng, là tiền đề phát triển cảng cửa ngõ Quốc

tế Hải Phòng tại Lạch Huyện, khẳng định chủ trương táo bạo đúng đắn trong việc

đầu tư phát triển, phù hợp với kế hoạch chi tiết nhóm cảng biển phía bắc định

hướng tới năm 2020 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt

Sự hình thành khu vực cảng Đình Vũ sẽ và đang làm tăng sức hấp dẫn thu hút đầu tư của các doanh nghiệp trong và ngoài nước cho việc phát triển khu công

nghiệp Đình Vũ nói riêng và thành phố Hải Phòng nói chung tạo cơ hội và kinh

doanh dịch vụ và tạo việc làm cho nhiều doanh nghiệp và bộ phận cư dân địa

phương, thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp –

dịch vụ - nông nghiệp, củng cố và tăng cường an ninh, quốc phòng, góp phần thực

hiện thắng lợi phát triển kinh tế biển Việt Nam

Nhiệm vụ chính của xí nghiệp xếp dỡ Tân Cảng là: tổ chức bốc xếp, giao nhận và bảo quản các loại hàng hóa xuất nhập khẩu… cung cấp dịch vụ đại lý tàu

biển và môi giới hàng hải, dịch vụ lai dắt và hỗ trợ tàu biển, dịch vụ đóng gói vận

tải hàng hải đường bộ, đường sông, đường biển

Điều kiện địa lý địa hình

- Xí nghiệp xếp dỡ Tân Cảng nằm trên luồng Bạch Đằng, cách Lạch Huyện

khoảng 6km, tọa độ 20°50N, 106°41E Với diện tích khu 61 ha (bao gồm cầu tàu

và bến bãi) Tại thời điểm hiện nay đã đưa vào sử dụng 15,7 ha, diện tích còn lại

đang trong quá trình xây dựng, hoàn thiện Phía Đông tiếp giáp với cảng Vinalines,

Trang 32

phía Tây giáp với cảng cổ phần Đình Vũ, phía Nam tiếp giáp với đường quốc lộ,

phía Bắc tiếp giáp với luồng hàng hải

- Xí nghiệp xếp dỡ Tân Cảng nằm trong tam giác châu thổ sông Hồng, có vị

trí địa lý thuận lợi về cả đường sông, đường bộ và đường hàng không

- Từ Hải Phòng đi Hà Nội, Việt Trì có thể bằng sông Cấm, sông Đuống và

sông Kinh Thầy, hoặc có thể đi theo sông Đào, sông Lạch Tray, sông Văn Úc,

sông Thái Bình, sông Luộc đến sông Hồng

- Từ Hải Phòng đi Móng Cái có thể theo sông Bạch Đằng, kênh Cái Tráp,

sông Lạch Huyện qua vịnh Hạ Long

- Về đường bộ: Đường 5 là đường quốc lộ cấp 1 nổi liền Hải Phòng- Hải

Dương- Hà Nội Đường 10 nối liền Hải Phòng- Thái Bình- Nam Định và có thể

theo quốc lộ 1A đi các tỉnh phía Nam

- Hệ thống đường hàng không cũng rất thuận lợi Hiện tại ở Hải Phòng có sân

bay Cát Bi, sân bay này đang từng bước được nâng cấp mở rộng

Đó là những điều kiện địa lý thuận lợi cho việc giao lưu vận chuyển hàng hóa, hành khách tới mọi miền Tổ Quốc

Điều kiện khí hậu và thời tiết

Xí nghiệp xếp dờ Tân Cảng chịu ảnh hưởng của gió mùa Gió này thường xuất hiện từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau và thổi theo từng đợt kéo dài 5-7 ngày

Vận tốc trung bình khoảng l0 m/s

- Về mùa bão có thể chịu ảnh hưởng của các cơn bão hình thành ở quần đảo

Philippines đi theo hướng Tây và Tây Bắc Gió bão gây mưa lớn và ảnh hưởng tới

hoạt động của cảng

- Từ tháng 5 đến tháng 10 thường có gió Đông Nam

- Từ tháng 6 đến tháng 8 thường mưa tia và kéo dài nhiều ngày liền

- Gió cấp 5 trở xuống cảng vẫn có thể hoạt động bình thường, gió từ cấp 5-7

cảng vẫn có thể hoạt động nhưng gặp nhiều trở ngại và năng suất giảm đi rất nhiều

Gió từ cấp 7 trở lên cảng phải ngừng hoạt động

Thời tiết gây ảnh hưởng khoảng 9% T làm hàng của cảng hàng năm

Trang 33

Điều kiện thủy văn

Chiều dài (m) Chiều rộng

(m)

Độ sâu (m)

Trang 34

này có vị trí quan trong thúc đẩy nền kinh tế quốc dân đặc biệt trong hoạt động

xuất nhập khẩu Do tốc độ phát triển mạnh của nền kinh tế thế giới nói chung và

Việt Nam nói riêng, ngành khai thác dịch vụ cảng cũng có tốc độ tăng trưởng đều

đặn, bình quân trong suốt thập niên qua

Thời gian tiếp nhận tàu, giải phòng tàu không cố định, thời gian làm việc của công nhân là 24/24 được chia thành các ca Công nhân làm việc trong môi trường

độc hại, quá trình sản xuất kinh doanh phụ thuộc nhiều váo yếu tố thời tiết.Đặc

điểm này cho thầy cần phải có sự phân công và sử dụng lao động hợp lý để đảm

bảo sức khỏe và thời gian tái sản xuất sức lao động của công nhân Phải có các chế

độ phụ cấp độc hại, làm thêm giờ, bù giờ cho công nhân

Sử dụng nhiều máy móc, thiết bị trong quá trình giải phóng tàu nên phải đầu

tư đại tu sửa chữa nhiều Đặc điểm này đòi hỏi trong quá trình hoàn thiện công tác

tổ chức lao động tiền lương không chỉ xem xét các vấn đề liên quan đến tiền lương

sản xuất kinh doanh mà con phải quan tâm đến chi phí nhân công trong các công

tác đại tu, xây dựng cơ bản

Trang 35

máy bơm công suất lớn

5 Hệ thống kho chứa hàng, nhà cân, hệ

thống nhà xưởng, khu điện lạnh quy

chuẩn

Đang trong quá trình đầu

tư, đấu thầu và xây dựng

Trang 36

2.1.2 Đặc điểm về sở hữu

Từ khi thành lập đến nay Cảng Hải Phòng nói chung và XNXD Tân Vũ nói riêng vẫn thuộc sở hữu Nhà nước Nói cách khác toàn bộ hoạt động sản xuất kinh

doanh đều thuộc nhà nước, do nhà nước đầu tư vốn

2.1.3 Đặc điểm về cơ cấu tổ chức

Là một xí nghiệp thành viên, song XNXD Tân Cảng vẫn có đầy đủ các bộ

phận nghiệp vụ để tổ chức quản lý xí nghiệp, các đội công nhân, các phương tiện

xếp dỡ để tổ chức xếp dỡ hàng hóa Trong đó Giám đốc là người điều hành và giải

quyết mọi công việc của cảng, tham mưu cho Giám đốc là các Phó Giám đốc, các

trưởng phó các ban nghiệp vụ Bộ phận Khai thác kinh doanh là bộ phận nghiệp vụ

chủ chốt trong bộ máy tham mưu của Giám đốc điều hành mọi công việc trong sản

xuất kinh doanh Do đó mà tình hình sản xuất kinh doanh của cảng được Ban lãnh

đạo có nghiệp vụ nắm bắt chỉ đạo điều tiết một cách nhanh chóng, kịp thời, góp

phần vào việc tăng doanh thu cho cảng, đồng thời tăng thu nhập cho cán bộ công

nhân viên, cải thiện điều kiện cơ sở vật chất trong Cảng

Trang 37

SƠ ĐỒ CƠ CẤU TỔ CHỨC CỦA XÍ NGHIỆP

Trang 38

2.1.3.1 Ban lãnh đạo

Giám đốc

Là người lãnh đạo cao nhất trong xí nghiệp Giám đốc xí nghiệp xếp dỡ Tân

Vũ chịu trách nhiệm chung và cao nhất trước Đảng uỷ và giám đốc Cảng Hải

Phòng về việc nhận chỉ tiêu, kế hoạch của Cảng, đảm bảo đời sống cho cán bộ

CNV của xí nghiệp, chịu trách nhiệm trước các chính sách pháp luật của Nhà

Nước trong hoạt động sản xuất kinh doanh

Các phó giám đốc

 Phó giám đốc Nội chính kiêm Kho hàng:

+ Quản lý, chỉ đạo các ban nghiệp vụ như Tổ chức tiền lương, kế toán tài vụ, kinh doanh, hành chính y tế và công tác bảo vệ của xí nghiệp

+ Tham mưu cho giám đốc xây dựng các định mức lao động tiên tiến và tổ chức lao động kế hoạch

+ Theo dõi, áp dụng bảng lương, bảng chấm công, xác định lương cơ bản, lương trách nhiệm, phụ cấp ngoài giờ, kiểm tra thực hiện tổng quát lương

Tham gia nghiên cứu hợp đồng, tổ chức các phong trào thi đua, nghiên cứu cải tạo hệ thống tiền lương và áp dụng hình thức khuyến khích vật chất

Phụ trách việc kết toán hàng hoá xuất nhập khẩu đối với chủ hàng, chủ tàu

Quản lý nghiệp vụ của ban hàng hoá về công tác lưu kho, lưu bãi hàng hoá, đảm bảo hệ thống kho bãi an toàn, hàng hoá không bị hư hỏng mất mát

Trang 39

 Phó giám đốc kỹ thuật:

Chịu trách nhiệm về việc tổ chức sử dụng các loại phương tiện, thiết bị xếp

dỡ kịp thời cho công tác xếp dỡ, vận chuyển hàng hoá

Đảm bảo nguyên liệu, máy móc thiết bị để thực hiện công tác xếp dỡ, vận chuyển hàng hoá

2.1.3.2 Các ban nghiệp vụ

Ban tổ chức lao động tiền lương

XNXD Tân Vũ có ban tổ chức lao động tiền lương riêng Tuy nhiên công ngệ quản lý lao động tiền lương tại XN vẫn còn thủ công và thiếu chuyên nghiệp,

hầu như chưa có phần mềm nào được sử dụng thống nhất trên toàn XN Chính vì

thế làm cho trong nhiều trường hợp, vì các mục đích khác nhau hệ thống số liệu bị

bóp méo, dẫn tới những nhận định sai lạc trong việc đề ra các chính sách vĩ mô

Ban kinh doanh tiếp thị

Căn cứ vào kế hoạch của Cảng Hải Phòng đã giao cho xí nghiệp ban khai thác kinh doanh nghiên cứu, phân bổ kế hoạch cho các đơn vị bộ phận trong xí

nghiệp thực hiện, làm cơ sở cho việc đánh giá kết quả sản xuất kinh doanh

Ban tài chính kế toán

 Theo dõi các hoạt động tài chính của xí nghiệp, tập hợp, phản ánh các khoản

thu – chi trong xí nghiệp

 Kiểm tra chứng từ xuất nhập khẩu, nguyên vật liệu

 Báo cáo cho giám đốc kịp thời các trường hợp mất mát tài sản

Trang 40

 Quản lý việc tính toán và kiểm tra chi tiêu các quỹ tiền mặt, tiền lương, tiền

thưởng, các khoản phụ cấp cho CBCNV bằng tiền mặt đặc biệt là các tài sản thông

qua giá trị bằng tiền

 Đôn đốc, thu nợ các chủ hàng, theo dõi việc sử dụng tài sản cố định, tài sản

lưu động, tính khấu hao tài sản cố định theo tổng thời gian quy định

 Định kỳ tiến hành phân tích hoạt động kinh tế của đơn vị

 Thực hiện chế độ hạch toán kinh tế

 Lập báo cáo về tình hình tài chính, tình hình thu – chi

 Thiết lập các chứng từ liên quan đến việc giao nhận hàng hoá, thanh toán

cước phí, xác nhận sổ lương cho các đơn vị để làm cơ sở tính lương

Ban kỹ thuật vật tư

 Quản lý trên sổ sách các loại phương tiện, thiết bị, từ đó lập kế hoạch bảo

dưỡng, sửa chữa định kỳ cho các phương tiện, thiết bị và nghiện cứu cái tiến công

cụ xếp dỡ nhằm nâng cao khả năng khai thác của thiết bị

 Phải đảm bảo đầy đủ vật tư, nhiên liệu phục vụ cho các loại thiết bị và việc

khai thác xếp dỡ hàng hoá

2.1.3.3 Các đơn vị trực tiếp sản xuất

Các đội

 Đội cơ giới: Có trách nhiệm xếp dỡ hàng hoá trong Cảng theo các phương

án xếp dỡ, có chức năng, nhiệm vụ quản lý trực tiếp các phương tiện thiết bị như :

Xe hàng, xe nâng, xe cẩu… Tổ chức sản xuất, đồng thời có kế hoạch bảo dưỡng,

sửa chữa các thiết bị đó

Ngày đăng: 20/05/2018, 17:02

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w