Theo nghĩa rộng thì vốn bao gồm toàn bộ các yếu tố kinh tế được bố trí để sản xuất hàng hóa, dịch vụ như tài sản hữu hình, tài sản vô hình, các kiến thức kinh tế, kỹ thuật của doanh nghi
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết và tính mới của đề tài
Công nghệ dệt may thường được gắn với giai đoạn phát triển ban đầu của nền kinh tế và đóng vai trò chủ đạo trong quá trình công nghiệp hóa ở nhiều nước Ngành dệt may có khả năng tạo nhiều việc làm cho người lao động, tăng thu lợi nhuận để tích lũy, làm tiền đề phát triển cho các ngành công nghiệp khác, góp phần nâng cao mức sống và ổn định tình hình chính trị
xã hội Vai trò của ngành dệt may đặc biệt to lớn đối với kinh tế của nhiều quốc gia trong điều kiện buôn bán hàng hóa quốc tế Xuất khẩu hàng dệt may đem lại nguồn thu ngoại tệ lớn để mua máy móc thiết bị, hiện đại hóa sản xuất, làm cơ sở cho nền kinh tế cất cánh Điều này đặc biệt thể hiện rõ trong lịch sử phát triển kinh tế của các nước như: Nhật, Trung Quốc, Anh, Nam Á
và Đông Nam Á
Tại Việt Nam, trong tương quan chung của các ngành kinh tế, dệt may vẫn luôn là lĩnh vực mũi nhọn với tốc độ tăng trưởng nhanh và mạnh Ngành dệt may không chỉ đóng vai trò quan trọng đối với mục tiêu phục hồi đà tăng trưởng kinh tế mà còn đảm bảo cân bằng cán cân thương mại của Việt Nam Theo các chuyên gia kinh tế, việc tham gia vào sân chơi WTO đã tạo ra những tác động tích cực cho dệt may Việt Nam và rõ nét nhất là tăng trưởng xuất khẩu và tăng thị phần xuất khẩu, đưa Việt Nam trở thành một trong những quốc gia có kim ngạch xuất khẩu dệt may hàng đầu thế giới
Theo Thời báo kinh tế Việt Nam ngày 23/11/2013 đưa tin: Hiệp hội dệt may Việt Nam (Vitas) đặt mục tiêu đạt kim ngạch xuất khẩu từ 25 đến 27 tỷ USD năm 2015, từ năm 2017 -2020, dệt may Việt Nam sẽ phấn đấu đứng thứ hai, thứ ba trong top các nước xuất khẩu dệt may lớn nhất trên toàn thế giới Đồng thời, khẳng định đến năm 2020 dệt may Việt Nam sẽ có từ 5-7% các thương hiệu lớn hội nhập với thị trường thế giới (Nguồn: Định hướng hoạt động của VITAS năm 2014)
Trang 2Để thực hiện các mục tiêu trên, ngoài những chính sách hợp lý của chính phủ, đội ngũ các nhà quản trị dệt may Việt Nam phải có tầm nhìn chiến lược sâu rộng và các biện pháp thích hợp cho từng doanh nghiệp như cải tiến công nghệ, mẫu mã, áp dụng công nghệ quản lý cao cấp nhằm tăng năng suất lao động Đồng thời, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cũng là một biện pháp cần thiết và có tác động lớn
Vốn là chìa khóa, là phương tiện để biến các ý tưởng trong kinh doanh thành hiện thực Sử dụng hiệu quả nguồn vốn sẽ góp phần quyết định sự thành bại của doanh nghiệp Chính vì vậy, bất kỳ một doanh nghiệp nào dù lớn hay nhỏ đều quan tâm đến vốn và vấn đề nâng cao hiệu quả sử dụng vốn
Vốn kinh doanh của các doanh nghiệp có thể thuộc sở hữu nhà nước, cá nhân, tập thể nhưng dù ở hình thức sở hữu nào thì vai trò của vốn cũng không thay đổi Với mọi doanh nghiệp dù ở hình thức nào thì muốn hoạt động được đều phải có lượng vốn nhất định Đây là điều kiện tiên quyết, quan trọng nhất cho sự ra đời, tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Chỉ khi doanh nghiệp có vốn thì doanh nghiệp mới có điều kiện trang bị các máy móc, thiết bị, cơ sở vật chất cần thiết cho hoạt động sản xuất kinh doanh như văn phòng, phương tiện hoạt động,… cùng với việc ứng dụng khoa học công nghệ vào hoạt động sản xuất kinh doanh Ngoài ra, vốn cũng quyết định đến khả năng đổi mới thiết bị, công nghệ, phương pháp quản lý… của doanh nghiệp trong suốt quá trình hoạt động
Trong cơ chế thị trường cùng với việc mở rộng quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong sản xuất kinh doanh, việc có vốn và tập trung vốn nhiều hay ít vào doanh nghiệp có vai trò cực kỳ quan trọng trong việc đẩy mạnh kinh doanh Đồng thời, nó cũng là nguồn lực để phát huy tài năng của ban lãnh đạo doanh nghiệp, là điều kiện để thực hiện các chiến lược, sách lược kinh doanh và nó cũng là một chất keo để chắp nối, kết dính các quá trình kinh tế, là dầu nhớt để bôi trơn cỗ máy kinh tế vận động Việc sử dụng vốn
Trang 3hiệu quả giúp doanh nghiệp chống đỡ được những tổn thất, rủi ro, biến động thị trường, khủng hoảng tài chính… trong quá trình hoạt động
Bên cạnh đó, sử dụng vốn hiệu quả nâng cao đáng kể việc gia tăng lợi nhuận Nhận biết được vai trò của vốn trong kinh doanh nhưng để có được lượng vốn cần thiết thì doanh nghiệp phải có các biện pháp tạo lập hữu hiệu
và phù hợp, đồng thời phải có chính sách sử dụng hiệu quả và hợp lý Mỗi doanh nghiệp đều có các đặc điểm riêng, có những lợi thế riêng và những hạn chế nhất định Chính vì vậy, mỗi doanh nghiệp phải tự đánh giá, phân tích những ưu và nhược điểm của mình để tìm ra những phương thức sử dụng vốn hiệu quả nhất phát huy khả năng tiềm ẩn và hạn chế nhược điểm của doanh
nghiệp mình Bởi vậy, em chọn nghiên cứu đề tài “Một số biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty Cổ phần Tổng công ty May Đáp Cầu” để dựa trên những số liệu, bằng chứng thực tế thu thập được có thể tìm
ra những biện pháp đúng đắn nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của Công
ty Cổ phần Tổng Công ty May Đáp Cầu Công ty Cổ phần Tổng Công ty May Đáp Cầu là công ty có vốn nhỏ, doanh thu liên tục tăng nhưng không tăng mạnh, công ty thường xuyên lâm vào tình trạng thiếu vốn
2 Mục tiêu và nội dung nghiên cứu
Đề tài đặt ra những mục tiêu cần nghiên cứu sau:
Tổng hợp lý luận về hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp
Đánh giá khái quát tình hình sử dụng vốn của Công ty, từ đó tìm ra những thành công, hạn chế trong việc sử dụng vốn của Công ty
Đề ra một số biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn để Công ty đạt được hiệu quả kinh doanh tốt hơn trong những năm tiếp theo
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Hiệu quả sử dụng vốn của Công ty Cổ phần Tổng công ty May Đáp Cầu
Trang 4Phạm vi nghiên cứu: Hiệu quả sử dụng vốn và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh trong 3 năm 2012 - 2014 của Công ty Cổ phần Tổng Công ty May Đáp Cầu
4 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thực nghiệm khoa học: Xem xét cách sử dụng vốn của Công ty trong giai đoạn 2012-2014 từ đó đánh giá ưu nhược điểm của việc sử dụng vốn này
Phương pháp phân tích tổng kết kinh nghiệm: Xem xét những ưu nhược điểm trong việc sử dụng vốn của Công ty từ đó tìm ra giải pháp hiệu quả cao
Phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết: Nghiên cứu các tài liệu,
lý luận khác nhau bằng cách phân tích chúng thành từng bộ phận để tìm hiểu sấu sắc về đối tượng; đồng thời liên kết từng mặt, từng bộ phận thông tin đã được phân tích tạo ra một hệ thống lý thuyết mới đầy đủ và sâu sắc về đối tượng
Trang 5CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN
CỦA DOANH NGHIỆP 1.1 Lý luận chung về vốn của doanh nghiệp
1.1.1 Khái niệm vốn của doanh nghiệp
1.1.1.1 Khái niệm về vốn
Vốn có vai trò hết sức quan trọng đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp nói riêng và nền kinh tế nói chung Do vậy, từ trước đến nay có rất nhiều quan niệm về vốn, ở mỗi một hoàn cảnh kinh tế khác nhau thì có những quan niệm khác nhau về vốn
“Vốn là một khối lượng tiền tệ nào đó được đưa vào lưu thông nhằm mục đích kiếm lời, số tiền đó được sử dụng muôn hình muôn vẻ Nhưng suy cho cùng là để mua sắm tư liệu sản xuất và trả công cho người lao động, nhằm hoàn thành công việc sản xuất kinh doanh hay dịch vụ nào đó với mục đích là thu về số tiền lớn hơn ban đầu Do đó vốn mang lại giá trị thặng dư cho doanh nghiệp Quan điểm này đã chỉ rõ mục tiêu của quản lý là sử dụng vốn, nhưng lại mang tính trừu tượng, hạn chế về ý nghĩa đối với hạch toán và phân tích quản lý, sử dụng vốn của doanh nghiệp.”
“Theo nghĩa hẹp thì vốn là tiềm lực tài chính của mỗi cá nhân, mỗi doanh nghiệp, mỗi quốc gia Theo nghĩa rộng thì vốn bao gồm toàn bộ các yếu tố kinh tế được bố trí để sản xuất hàng hóa, dịch vụ như tài sản hữu hình, tài sản vô hình, các kiến thức kinh tế, kỹ thuật của doanh nghiệp được tích lũy, sự khéo léo về trình độ quản lý và tác nghiệp của các cán bộ điều hành, cùng đội ngũ cán bộ công nhân viên trong doanh nghiệp, uy tín của doanh nghiệp Quan điểm này có ý nghĩa quan trọng trong việc khai thác đầy đủ hiệu quả của vốn trong nền kinh tế thị trường Tuy nhiên, việc xác định vốn theo quan điểm này rất khó khăn phức tập nhất là khi nước ta trình độ quản lý kinh
tế còn chưa cao và pháp luật chưa hoàn chỉnh.”
Trang 6Theo quan điểm của Mác trong cuốn “Những nguyên lý cơ bản của Chủ Nghĩa Mác Lê-Nin” (Nguyễn Viết Thông, 2010), “dưới góc độ các yếu
tố sản xuất, Mác cho rằng: Vốn (tư bản) là giá trị đem lại giá trị thặng dư, là đầu vào của quá trình sản xuất Định nghĩa của Mác về vốn có tầm khái quát lớn vì nó bao hàm đầy đủ bản chất và vai trò của vốn Bản chất của vốn là giá trị, mặc dù nó được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau: tài sản cố định, nguyên vật liệu, tiền công… Tuy nhiên, do hạn chế về trình độ phát triển của nền kinh tế, Mác chỉ bó hẹp khái niệm về vốn trong khu vực sản xuất vật chất
và cho rằng chỉ có quá trình sản xuất mới tạo ra giá trị thặng dư cho nền kinh
tế Đây là một hạn chế trong quan niệm về vốn của Mác.”
Theo P A Samuelson trong cuốn “Economics: An Introductory Analysis” (1948), “đại diện tiêu biểu của học thuyết tăng trưởng kinh tế hiện đại, coi đất đai và lao động là các yếu tố ban đầu sơ khai, còn vốn và hàng hóa chỉ là kết quả của sản xuất Vốn bao gồm các loại hàng hóa lâu bền được sản xuất ra và được sử dụng như các đầu vào hữu ích trong quá trình sản xuất sau
đó Một số hàng hóa vốn có thể tồn tại trong vài năm, trong khi đó một số khác có thể tồn tại trong một thế kỷ hoặc lâu hơn Đặc điểm cơ bản nhất của hàng hóa vốn thể hiện ở chỗ chúng vừa là sản phẩm đầu ra vừa là yếu tố đầu vào trong sản xuất Về bản chất vốn là phương pháp sản xuất gián tiếp tốn thời gian.”
Theo David Begg, Stenley Ficher, Rudiger Darubused trong cuốn
“Kinh tế học” “(Nhà xuất bản thống kê, 2008) thì vốn hiện vật là giá trị của hàng hóa đã sản xuất được sử dụng để tạo ra hàng hóa và dịch vụ khác Ngoài
ra còn có vốn tài chính Bản thân vốn là một hàng hóa nhưng được tiếp tục sử dụng vào sản xuất kinh doanh tiếp theo Quan điểm này đã cho thấy nguồn gốc hình thành vốn và trạng thái biểu hiện của vốn nhưng hạn chế cơ bản là chưa cho thấy mục đích của việc sử dụng vốn.”
Trang 7Một số nhà kinh tế học khác trong cuốn “The Wealth of Nations” (1776) và “ Kinh tế học hài hước” “(Nhà xuất bản thế giới và Alphabooks, 2010) lại cho rằng: Vốn có nghĩa là phần lượng sản phẩm tạm thời phải hy sinh cho tiêu dùng hiện tại của nhà đầu tư, để đẩy mạnh sản xuất tiêu dùng trong tương lai Quan điểm này chủ yếu phản ánh động cơ về đầu tư nhiều hơn là nguồn vốn và biểu hiện của nguồn vốn Do vậy, quan điểm này cũng không đáp ứng được nhu cầu nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cũng như phân tích vốn.”
Có thể thấy, các quan điểm khác nhau về vốn ở trên, một mặt thể hiện được vai trò tác dụng trong điều kiện lịch sử cụ thể với các yêu cầu, mục đích nghiên cứu cụ thể Mặt khác, trong cơ chế thị trường hiện nay, đứng trên phương diện hạch toán và quản lý, các quan điểm đó chưa đáp ứng được đầy
đủ các yêu cầu về quản lý đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Trên cơ sở phân tích các quan điểm về vốn ở trên, khái niệm về vốn cần thể hiện được các vấn đề sau đây:
Nguồn gốc sâu xa của vốn kinh doanh là một bộ phận của thu nhập quốc dân được tái đầu tư, để phân biệt với vốn đất đai, vốn nhân lực
Trong trạng thái của vốn kinh doanh tham gia và quá trình sản xuất kinh doanh là tài sản vật chất (tài sản cố định và tài sản lưu động) và tài sản tài chính (tiền mặt gửi ngân hàng, các tín phiếu) là cơ sở đề ra các biện pháp quản lý vốn kinh doanh của doanh nghiệp một cách có hiệu quả
Phải thể hiện được mục đích sử dụng vốn đó là tìm kiếm các lợi ích kinh tế, lợi ích xã hội mà vốn đem lại, vấn đề này sẽ định hướng cho quá trình quản lý kinh tế nói chung, quản lý vốn doanh nghiệp nói riêng
1.1.1.2 Đặc trưng cơ bản của vốn
Vốn được biểu hiện bằng các tài sản của doanh nghiệp dùng vào hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc các hoạt động khác, tồn tại dưới dạng hữu
Trang 8hình hoặc vô hình Đó là các loại máy móc, thiết bị, nhà xưởng, nguyên vật liệu,… hay vị trí kinh doanh, nhãn hiệu sản phẩm, bản quyền phát minh…
“Vốn đưa vào sản xuất kinh doanh là nhằm mục tiêu sinh lời, đem lại lợi nhuận cho doanh nghiệp trong tương lai Do đó, vốn phải dược tích lũy đến một mức độ nhất định
Vốn có giá trị về mặt thời gian Nói chung, một đồng vốn ngày hôm nay có giá trị cao hơn một đồng vốn vào ngày mai Điều này có ý nghĩa quan trọng trong việc tính toán lựa chọn phương án đầu tư và đánh giá hiệu quả sử dụng vốn
Vốn phải gắn liền với chủ sở hữu nhất định, không thể có đồng vốn vô chủ Nếu không xác định rõ được chủ sở hữu vốn thì việc sử dụng vốn sẽ kém hiệu quả Đặc trưng này đòi hỏi chủ sở hữu vốn phải thực hiện quản lý vốn
Vốn là một loại hàng hóa đặc biệt Trước hết nói vốn là một loại hàng hóa bởi nó có giá trị sử dụng và giá trị Vốn là hàng hóa đặc biệt bởi lẽ quyền
sở hữu và quyền sử dụng có thể tách rời nhau, tức là vốn có thể được đem ra trao đổi lấy quyền sử dụng trên thị trường (thị trường vốn) (theo Luật tài chính Việt Nam, 2000).”
1.1.1.3 Vai trò của vốn
“Vốn là một phạm trù kinh tế, là điều kiện tiên quyết cho bất cứ doanh nghiệp, ngành nghề kinh tế kỹ thuật, dịch vụ nào trong nền kinh tế Để tiến hành hoạt động kinh doanh được, doanh nghiệp cần phải nắm giữ một số vốn nhất định Số vốn này thể hiện giá trị toàn bộ tài sản và các nguồn lực của doanh nghiệp trong hoạt động kinh doanh Vì vậy, vốn có vai trò quyết định trong việc thành lập, hoạt động và phát triển của doanh nghiệp Cụ thể như sau:
Vốn có vai trò quyết định trong việc thành lập, hoạt động, phát triển của từng loại hình doanh nghiệp theo luật định Nó là điều kiện tiên quyết, quan trọng nhất cho sự ra đời, tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp Tùy
Trang 9theo nguồn của vốn, cũng như phương thức huy động vốn mà doanh nghiệp
có tên là công ty cổ phần, doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp liên doanh, công ty trách nhiệm hữu hạn, doanh nghiệp nhà nước,…”
Vốn là một trong số những tiêu thức để phân loại quy mô doanh nghiệp, xếp loại doanh nghiệp vào loại lớn, nhỏ hay trung bình và là một trong những tiềm năng quan trọng để doanh nghiệp sử dụng hiệu quả các nguồn lực hiện có và tương lai về lao động, nguồn cung ứng hàng hóa, mở rộng và phát triển thị trường, mở rộng lưu thông hàng hóa
Trong cơ chế kinh doanh mới, trong điều kiện mở rộng quyền tự chủ,
tự chịu trách nhiệm trong sản xuất kinh doanh, vốn bao giờ cũng là cơ sở, là tiền đề để doanh nghiệp tính toán, hoạch định các chiến lược và kế hoạch kinh doanh Nó cũng là chất kết nối các quá trình và quan hệ kinh tế, giúp cỗ máy kinh tế vận động hiệu quả
b Vốn vay
Vốn vay là khoản vốn đầu tư ngoài vốn pháp định được hình thành từ nguồn đi vay, đi chiếm dụng của các tổ chức, đơn vị cá nhân và sau một thời gian nhất định, doanh nghiệp phải hoàn trả cho người cho vay cả lãi và gốc
Trang 10Phần vốn này doanh nghiệp được sử dụng với những điều kiện nhất định (như thời gian sử dụng, lãi suất, thế chấp,…) nhưng không thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp Vốn vay có hai loại là vốn vay ngắn hạn và vốn vay dài hạn
1.1.2.2 Căn cứ theo thời gian huy động vốn
a Vốn thường xuyên
Vốn thường xuyên là nguồn vốn có tính chất ổn định và dài hạn mà doanh nghiệp có thể sử dụng để đầu tư vào tài sản cố định và một bộ phận tài sản lưu động tối thiểu thường xuyên cần thiết cho hoạt động doanh nghiệp Nguồn vốn này bao gồm vốn chủ sở hữu và vốn vay dài hạn của doanh nghiệp
b Vốn tạm thời
Vốn tạm thời là nguồn vốn có tính chất ngắn hạn (dưới một năm) mà doanh số có thể sử dụng để đáp ứng nhu cầu có tính chất tạm thời, bất thường phát sinh trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Nguồn vốn này bao gồm các khoản vay ngắn hạn và các khoản chiếm dụng của bạn hàng
1.1.2.3 Căn cứ theo công dụng kinh tế của vốn
a Vốn cố định
“Vốn cố định của doanh nghiệp là một bộ phận đầu tư ứng trước về tài sản cố định và tài sản đầu tư cơ bản, mà đặc điểm luân chuyển từng phần trong nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh và hoàn thành một vòng tuần hoàn khi tài sản cố định hết thời gian sử dụng Quy mô của vốn cố định quyết định quy mô của tài sản cố định nhưng các đặc điểm của tài sản cố định lại ảnh hưởng đến sự vận động và công tác quản lý cố định Muốn quản lý vốn cố định một cách hiệu quả thì phải quản lý sử dụng tài sản cố định một cách hữu hiệu Để quản lý chặt chẽ, hiệu quả tài sản cố định, có thể phân loại tài sản cố định theo các tiêu thức sau: “
Trang 11Bảng 1.1 Phân loại Tài sản cố định của Doanh nghiệp
Toàn bộ TSCĐ của doanh nghiệp
Căn cứ phân loại
Theo hình thái
biểu hiện
Theo nguồn hình thành
Theo công dụng kinh tế Theo tình hình sử dụng
bằng phát minh
TSCĐ
tự có như:
Doanh nghiệp nhà nước
là vốn ngân sách
TSCĐ đầu tư bằng vốn vay thuê ngoài
TSCĐ dùng trong sản xuất kinh doanh
cơ bản
TSCĐ dùng ngoài sản xuất kinh doanh
cơ bản
TSCĐ đang dùng
TSCĐ chưa cần dùng
TSCĐ không cần dùng
TSCĐ chờ thanh
lý
Nguồn: voer.edu.vn
b Vốn lưu động
Vốn lưu động của doanh nghiệp là số tiền ứng trước về tài sản lưu động
và tài sản lưu thông nhằm đảm bảo cho quá trình tái sản xuất của doanh nghiệp được thực hiện thường xuyên liên tục Tài sản lưu động là những tài sản ngắn hạn, thường xuyên luân chuyển trong quá trình kinh doanh Tài sản lưu động tồn tại dưới dạng dự trữ sản xuất (nguyên vật liệu, bán thành phẩm, công cụ, dụng cụ…), sản phẩm đang trong quá trình sản xuất (sản phẩm dở dang), thành phẩm, chi phí tiêu thụ, tiền mặt…trong giai đoạn lưu thông Trong bảng cân đối tài sản của doanh nghiệp thì tài sản lưu động chủ yếu được thể hiện ở các bộ phận là tiền mặt, các chứng khoán có thanh khoản cao,
Trang 12các khoản phải thu và dự trữ tồn kho Để quản lý vốn lưu động có hiệu quả, ta
có thể phân loại vốn lưu động như sau:
Bảng 1.2 Phân loại vốn lưu động của doanh nghiệp
Vốn lưu động của doanh nghiệp
Căn cứ phân loại
Căn cứ vào quá trình
tuần hoàn vốn
Căn cứ vào nguồn hình thành Căn cứ vào
hình thái biểu hiện
Căn cứ vào phương pháp xác định
sản phẩm
dở dang
Vốn lưu thông như:
thành phẩm
Vốn
tự có như:
vốn ngân sách cấp
Vốn liên doanh liên kết
Vốn vay tín dụng
Vốn phát hành chứng khoán
Vốn vật
tư bằng hàng hóa
Vốn tiền
tệ như:
vốn thanh toán
Vốn lưu động định mức
Vốn lưu động không định mức
Nguồn: voer.edu.vn
1.2 Khái quát chung hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp
1.2.1 Khái niệm và phân loại hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp
1.2.1.1 Khái niệm hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp
Hiệu quả sử dụng vốn là một phạm trù kinh tế phản ánh chất lượng của hoạt động sử dụng vốn vào giải quyết một nhu cầu nhất định trong phát triển sản xuất (đầu tư phát triển) và trong hoạt động sản xuất kinh doanh Hiệu quả
sử dụng vốn của doanh nghiệp là quan hệ giữa đầu ra và đầu vào của quá trình
Trang 13kinh doanh hay cụ thể là quan hệ giữa toàn bộ kết quả kinh doanh với toàn bộ
chi phí của quá trình kinh doanh đó Tuy nhiên, hiệu quả sử dụng vốn không
chỉ thể hiện đơn thuần ở kết quả kinh doanh và chi phí kinh doanh, mà nó còn
thể hiện ở nhiều mặt chỉ tiêu về kinh tế thanh toán, số vòng quay vốn Để
đánh giá một cách toàn diện về hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp, đồng thời phải xem xét những khó khăn, thuận lợi cũng như các nguy
cơ tiềm tàng của doanh nghiệp trong tương lai
Về mặt lượng, hiệu quả sử dụng vốn thể hiện ở mối tương quan giữa kết quả thu được từ hoạt động bỏ vốn đó mang lại với lượng vốn đã bỏ ra
Mối tương quan đó được biểu hiện dưới công thức:
Dạng thuận: Chỉ tiêu này dùng để xác định ảnh hưởng của hiệu quả sử dụng vốn đến kết quả kinh tế
H =
Kết quả
Vốn kinh doanh Dạng nghịch: Chỉ tiêu này là cơ sở để xác định quy mô tiết kiệm hay lãng phí nguồn lực
E = Vốn kinh doanh
Kết quả
Về mặt định tính, hiệu quả sử dụng vốn thể hiện trình độ khai thác, quản lý và sử dụng vốn của doanh nghiệp
1.2.1.2 Phân loại hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp
a Hiệu quả toàn bộ và hiệu quả bộ phân
Hiệu quả toàn bộ thể hiện mối tương quan giữa kết quả thu được với tổng số vốn bỏ ra để thực hiện nhiệm vụ sản xuất kinh doanh Nó phản ánh
hiệu quả sử dụng vốn chung của doanh nghiệp
(1.1)
[1.1] (1.2)
Trang 14Hiệu quả bộ phận cho thấy mối tương quan giữa kết quả thu được với từng bộ phận vốn (vốn chủ sở hữu, vốn cố định, vốn lưu động) Việc tính toán, phân tích này chỉ ra hiệu quả sử dụng từng loại vốn của doanh nghiệp
và ảnh hưởng của chúng đối với hiệu quả sử dụng vốn chung trong doanh nghiệp Về nguyên tắc, hiệu quả toàn bộ phụ thuộc vào hiệu quả bộ phận
b Hiệu quả tuyệt đối và hiệu quả so sánh
Hiệu quả tuyệt đối được tính bằng cách so sánh các chỉ tiêu hiệu quả tuyệt đối hoặc so sánh tương quan các đại lượng thể hiện chi phí hoặc kết quả của các phương án, các năm với nhau
1.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp
1.2.1 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn nói chung
1.2.1.1 Hiệu suất sử dụng vốn
Chỉ tiêu này phản ánh vốn của doanh nghiệp trong một kỳ quay được bao nhiêu vòng Qua chỉ tiêu này ta có thể đánh giá được khả năng sử dụng tài sản của doanh nghiệp thể hiện qua doanh thu thuần được sinh ra từ tài sản doanh nghiệp đã đầu tư Vòng quay càng lớn thì hiệu quả càng cao
Vòng quay toàn bộ vốn trong kỳ =
Doanh thu thuần trong kỳ
Số vốn sử dụng bình quân trong kỳ
1.2.1.2 Suất hao phí vốn
Là chỉ tiêu nghịch đảo với chỉ tiêu hiệu suất sử dụng vốn, phản ánh một đồng doanh thu cần có bao nhiêu đồng vốn
(1.4) (1.3)
Trang 151.2.1.3 Tỷ lệ doanh lợi trên tổng vốn
Chỉ tiêu này cho biết số lợi nhuận đƣợc tạo ra trên một đồng vốn sản xuất trong kỳ
1.2.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn cố định
1.2.2.1 Hiệu suất sử dụng vốn cố định
Đây là chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn cố định, nó giúp cho các nhà phân tích biết đƣợc đầu tƣ một đồng vốn cố định có thể tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu
1.2.2.2 Suất hao phí vốn cố định
Là đại lƣợng nghịch đảo của chỉ tiêu hiệu suất sử dụng vốn cố định Chỉ tiêu này phản ánh để tạo ra một đồng doanh thu cần phải bỏ vào sản xuất bao nhiêu đồng vốn cố định
1.2.2.3 Tỷ lệ doanh lợi trên vốn cố định
Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lời của vốn cố định Chỉ tiêu này thể hiện một đồng vốn cố định bỏ vào sản xuất đem lại bao nhiêu đồng lợi nhuận Khả năng sinh lời của vốn cố định càng cao thì hiệu quả sử dụng vốn càng tốt
(1.5)
(1.6)
(1.7)
(1.8)
Trang 161.2.3 Các chỉ tiêu đánh giá khả năng thanh toán
Tình hình và khả năng thanh toán của doanh nghiệp phản ánh rõ nét chất lượng công tác tài chính Nếu hoạt động tài chính tốt, doanh nghiệp sẽ ít công nợ, khả năng thanh toán dồi dào, ít bị chiếm dụng vốn cũng như ít đi chiếm dụng vốn Ngược lại, nếu hoạt động tài chính kém thì sẽ dẫn đến tình trạng chiếm dụng vốn lẫn nhau, các khoản công nợ phải thu, phải trả sẽ dây dưa, kéo dài
Khả năng thanh toán của doanh nghiệp chỉ tập trung vào thanh toán khoản vay nợ mà doanh nghiệp cần phải thanh toán trong năm Do vậy doanh nghiệp phải dùng toàn bộ tài sản thuộc quyền quản lý và sử dụng của mình để thanh toán nợ tới hạn Nếu khả năng thanh toán yếu, doanh nghiệp phải chịu lãi suất đồng thời làm ảnh hưởng đến các mối quan hệ kinh tế trong kinh doanh Vì vậy khi xét đến khả năng thanh toán người ta chỉ xét đến khả năng thanh toán nợ ngắn hạn
1.2.4 Các chỉ tiêu về khả năng hoạt động
Các chỉ tiêu này dùng để đo lường hiệu quả sử dụng vốn, tài sản của một doanh nghiệp bằng cách so sánh doanh thu với việc bỏ vốn vào kinh doanh dưới các loại tài sản khác nhau
1.2.4.1 Vòng quay hàng tồn kho
Số vòng quay hàng tồn kho là số lần mà hàng hoá tồn kho bình quân luân chuyển trong kỳ Số vòng quay hàng tồn kho càng cao thì việc kinh doanh được đánh giá càng tốt
1.2.4.2 Số ngày một vòng quay hàng tồn kho
Phản ánh số ngày trung bình của một vòng quay hàng tồn kho Công thức xác định là:
(1.14)
Trang 171.2.4.3 Vòng quay các khoản thu
Chỉ tiêu này phản ánh tốc độ chuyển đổi các khoản phải thu thành tiền mặt của doanh nghiệp
Vòng quay càng lớn chứng tỏ tốc độ thu hồi các khoản thu nhanh là tốt
1.4 Các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp
1.4.1 Các nhân tố chủ quan
1.4.1.1 Quy mô, cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp
“Doanh nghiệp có quy mô càng lớn thì việc quản lý hoạt động của doanh nghiệp càng phức tạp Do lượng vốn sử dụng nhiều nên cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp càng chặt chẽ thì sản xuất càng hiệu quả Khi quản lý sản xuất được quản lý quy củ thì sẽ tiết kiệm được chi phí và thu lợi nhuận cao Công cụ chủ yếu để theo dõi quản lý hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
là hệ thống kế toán tài chính Công tác kế toán thực hiện tốt sẽ đưa ra các số liệu chính xác giúp cho lãnh đạo nắm được tình tình tài chính của doanh nghiệp, trên cơ sở đó đưa ra các quyết định đúng đắn.”
1.4.1.2 Trình độ kỹ thuật sản xuất
“Đối với doanh nghiệp có trình độ sản xuất cao, công nghệ hiện đại sẽ tiết kiệm được nhiều chi phí sản xuất, từ đó hạ giá thành sản phẩm, tăng sức cạnh tranh trên thị trường Nhưng ngược lại trình độ kỹ thuật thấp, máy móc lạc hậu sẽ làm giảm doanh thu, ảnh hưởng đến tài chính của doanh nghiệp.”
“Các đặc điểm riêng về kỹ thuật tác động liên tục tới một số chỉ tiêu quan trọng phản ánh hiệu quả sử dụng vốn cố định như hệ số đổi mới máy
(1.15)
(1.16)
Trang 18móc thiết bị, hệ số sử dụng về thời gian, về công suất Nếu kỹ thuật sản xuất đơn giản, doanh nghiệp dễ có điều kiện sử dụng máy móc thiết bị nhưng lại phải đối phó với các đối thủ cạnh tranh và yêu cầu của khách hàng ngày càng cao về sản phẩm Do vậy, doanh nghiệp dễ dàng tăng doanh thu, lợi nhuận trên vốn cố định nhưng khó giữ được chỉ tiêu này lâu dài Nếu kỹ thuật sản xuất phức tạp, trình độ trang bị máy móc, thiết bị cao, doanh nghiệp có lợi thế trong cạnh tranh song đòi hỏi công nhân có tay nghề, chất lượng nguyên vật liệu cao sẽ làm tăng lợi nhuận trên vốn cố định.”
1.4.1.3 Trình độ đội ngũ cán bộ lao động sản xuất
“Trình độ tổ chức quản lý của lãnh đạo: vai trò của người lãnh đạo trong tổ chức sản xuất kinh doanh là rất quan trọng Sự điều hành quản lý phải kết hợp được tối ưu các yếu tố sản xuất, giảm chi phí không cần thiết, đồng thời nắm bắt được cơ hội kinh doanh, đem lại sự phát triển cho doanh nghiệp.”
“Trình độ tay nghề của người lao động: nếu công nhân sản xuất có trình
độ tay nghề cao phù hợp với trình độ dây chuyền sản xuất thì việc sử dụng máy móc sẽ tốt hơn, khai thác được tối đa công suất thiết bị làm tăng năng suất lao động, tạo ra chất lượng sản phẩm cao Điều này chắc chắn sẽ làm tình hình tài chính của doanh nghiệp ổn định
Để sử dụng tiềm năng lao động có hiệu quả nhất, doanh nghiệp phải có một cơ chế khuyến khích vật chất cũng như trách nhiệm một cách công bằng Ngược lại, nếu cơ chế khuyến khích không công bằng quy định trách nhiệm không rõ ràng sẽ làm cản trở mục tiêu nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.”
1.4.1.4 Chiến lược phát triển, đầu tư của doanh nghiệp
“Bất cứ một doanh nghiệp nào khi kinh doanh đều đặt ra cho mình kế hoạch để phát triển thông qua các chiến lược Để tình hình tài chính của doanh nghiệp được phát triển ổn định thì các chiến lược kinh doanh phải đúng
Trang 19hướng, phải cân nhắc thiệt hơn vì các chiến lược này có thể làm biến động lớn lượng vốn của doanh nghiệp.”
1.4.1.5 Cơ chế quản lý tài sản lưu động trong doanh nghiệp
“Tài sản lưu động là những tài sản ngắn hạn và thường xuyên luân chuyển trong quá trình kinh doanh Dựa vào việc nghiên cứu chu kì vận động của tiền mặt, có thể chia tài sản lưu động thành tiền mặt, các chứng khoán thanh khoản cao, phải thu và dự trữ tồn kho Việc quản lý tài sản lưu động có ảnh hưởng rất quan trọng đối với hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp.”
a Quản lý dự trữ tồn kho
“Trong quá trình luân chuyển vốn lưu động phục vụ cho sản xuất kinh doanh thì việc tồn tại vất tư hàng hóa dự trữ tồn kho là những bước đệm cần thiết cho quá trình hoạt động bình thường của doanh nghiệp Thông thường trong quản lý, vấn đề chủ yếu được đề cập là bộ phận dự trữ nguyên vật liệu phục vụ sản xuất kinh doanh đối với các doanh nghiệp sản xuất; còn đối với doanh nghiệp thương mại thì dự trữ nguyên vật liệu cũng là dự trữ hàng hóa
để bán.”
“Quản lý dự trữ theo phương pháp cổ điển hay mô hình đặt hàng hiệu quả nhất (EOQ) Theo mô hình này có nhiều loại chi phí liên quan đến dự trữ hàng hóa nhưng tựu chung lại có 2 loại sau: chi phí lưu kho và chi phí đặt hàng Trong quá trình quản lý nguyên vật liệu, người ta tính toán sao cho chi phí quản lý là thấp nhất nhưng vẫn đảm bảo được hiệu quả sản xuất”
“Quản lý theo phương pháp cung cấp đúng lúc hay dự trữ bằng không: Các doanh nghiệp trong một số ngành có liên quan chặt chẽ với nhau hình thành nên những mối quan hệ, khi có một đơn đặt hàng nào đó sẽ tiến hành sử dụng những loại hàng hóa và sản phẩm dở dang của các đơn vị khác mà họ không phải dự trữ Phương pháp này giảm mức thấp nhất chi phí cho dự trữ
b Quản lý tiền mặt và các chứng khoán thanh khoản cao
Trang 20Tiền mặt là tiền tồn quỹ, tiền trên tài khoản thanh toán của doanh nghiệp ở ngân hàng Tiền mặt là tài sản không sinh lãi Vì vậy, cần phải quản
lý sao cho tối thiểu hóa lượng tiền mặt phải giữ Tuy nhiên việc giữ tiền mặt trong kinh doanh cũng là vấn đề cần thiết để đảm bảo giao dịch kinh doanh hàng ngày, để bù đắp cho ngân hàng về việc ngân hàng cung cấp những dịch
vụ cho doanh nghiệp, để đáp ứng nhu cầu dự phòng trong trường hợp biến động Tuy nhiên nếu số tiền mặt lớn sẽ gây khó khăn cho doanh nghiệp Vì vậy để quản lý thì cần dự trữ các chứng khoán có khả năng thanh khoản cao
để hưởng lãi suất Khi cần thiết có thể chuyển thành tiền mặt một cách dễ dàng và ít tốn kém chi phí “
Như vậy cần phải quản lý tiền mặt có hiệu quả trên cơ sở kết hợp những lợi ích có được và những chi phí mình bỏ ra khi giữ tiền mặt.”
c Quản lý các khoản phải thu
“Trong nền kinh tế thị trường, tín dụng thương mại có thể làm cho doanh nghiệp đứng vững trên thị trường nhưng có thể đem đến những rủi ro cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp cụ thể: tín dụng thương mại làm cho doanh thu của doanh nghiệp tăng lên, làm giảm chi phí tồn kho của hàng hóa, làm tăng chi phí hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Từ đó, làm giảm thuế Nếu khách hàng không trả tiền làm cho lợi nhuận bị giảm, nếu thời hạn cấp tín dụng càng dài thì rủi ro càng lớn.”
1.4.1.6 Cơ chế quản lý tài sản cố định và quỹ khấu hao tài sản cố định
Để quản lý tốt tài sản cố định, thông thường chúng được phân thành các loại sau: tài sản cố định phục vụ cho mục đích kinh doanh, gồm có tài sản
cố định vô hình và tài sản cố định hữu hình Tài sản cố định dùng cho mục đích phúc lợi, sự nghiệp an ninh quốc phòng
a Quản lý quỹ khấu hao
Trang 21“Trong quá trình sử dụng tài sản cố định bị hao mòn dần, đó là sự giảm dần về giá trị của tài sản Do tài sản cố định bị hao mòn nên trong mỗi chu kì sản xuất người ta tính chuyển một lượng tương đương với phần hao mòn vào giá thành sản phẩm Khi sản phẩm được tiêu thụ, bộ phận tiền này được trích lại thành một quỹ nhằm để tái sản xuất tài sản cố định Công việc này gọi là khấu hao tài sản cố định Như vậy đối với nhà quản lý cần xem xét tính toán mức khấu hao sao cho phù hợp với thực trạng kinh doanh của doanh nghiệp
Để quản lý hiệu quả khấu hao tài sản cố định cần phải lựa chọn các cách tính khấu hao phù hợp và phải có phương pháp quản lý số khấu hao lũy kế của tài sản cố định.”
b Quản lý cho thuê, thế chấp, nhượng bán thanh lý tài sản
:Cho thuê thế chấp tài sản: doanh nghiệp được quyền cho các tổ chức,
cá nhân trong nước thuê hoạt động các tài sản thuộc quyền quản lý và sử dụng của mình Đối với tài sản cho thuê hoạt động, doanh nghiệp phải tính khấu hao theo chế độ quy định Doanh nghiệp được đem tài sản thuộc quyền quản
lý và sử dụng của mình để cầm cố, thế chấp vay vốn hoặc bảo lãnh tại các tổ chức tín dụng theo đúng trình tự, thủ tục quy định của pháp luật
Nhượng bán thanh lý tài sản:
Nhượng bán: doanh nghiệp được nhượng bán các tài sản không dùng nữa do lạc hậu về kĩ thuật, để thu hồi vốn cho mục đích kinh doanh có hiệu quả hơn
Thanh lý: doanh nghiệp được quyền thanh lý những tài sản kém phẩm chất hư hỏng, không có khả năng phục hồi, tài sản lạc hậu kí thuật, không có nhu cầu sử dụng, hoặc sử dụng không có hiệu quả, không thể nhượng bán nguyên dạng được.”
c Xử lý tổn thất tài sản
Tài sản tổn thất do nguyên nhân chủ quan của tập thể cá nhân thì người gây tổn thất phải bồi thường theo quy định của pháp luật; mức độ bồi thường
Trang 22do doanh nghiệp quy định Tài sản đã mua bảo hiểm nếu tổn thất thì các tổ chức bảo hiểm bồi thường theo hợp đồng bảo hiểm
1.4.2 Các nhân tố khách quan
1.4.2.1 Thị trường
“Thị trường là nhân tố quan trọng quyết định tới hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Trong đó thị trường vốn quyết định tới việc huy động vốn của doanh nghiệp còn thị trường hàng hóa quyết định tới việc sử dụng vốn Thị trường tiêu thụ sản phẩm có tác động lớn đến doanh thu và lợi nhuận của doanh nghiệp Nếu các thị trường này phát triển ổn định sẽ là nhân tố tích cực thúc đẩy doanh nghiệp tái sản xuất mở rộng và tăng thị phần Nếu sản phẩm mang tính thời vụ thì ảnh hưởng tới doanh thu, quản lý sử dụng máy móc thiết
bị và tác động tới hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp Do đó, có thể nói, yếu tố thị trường có ảnh hưởng lớn đến tình hình tài chính của doanh nghiệp.”
1.4.2.2 Yếu tố khách hàng
“Ngày nay, nhu cầu sử dụng sản phẩm của khách hàng ngày càng cao đòi hỏi nhà cung cấp phải tạo ra được những sản phẩm độc đáo, hấp dẫn người mua Vì vậy, doanh nghiệp cần phải làm sao tạo ra được những sản phẩm đó với giá thành hợp lý để có lợi nhuận cao Doanh nghiệp sẽ phải bỏ ra chi phí hợp lý để nghiên cứu thị trường tìm hiểu các mặt hàng đang được ưa chuộng, tìm hiểu mẫu mã, bao bì đóng gói để từ đó có quyết định sản xuất cho hiệu quả Nhu cầu đòi hỏi của khách hàng càng cao thì doanh nghiệp càng phải tích cực hơn trong công tác tổ chức thực hiện làm cho hiệu quả hoạt động tốt hơn cũng có nghĩa tình hình tài chính được cải thiện.”
1.4.2.3 Trạng thái nền kinh tế
“Trạng thái nền kinh tế có ảnh hưởng gián tiếp tới tình hình tài chính của doanh nghiệp Khi nền kinh tế phát triển vững mạnh và ổn định sẽ tạo cho
Trang 23doanh nghiệp có nhiều cơ hội trong kinh doanh như: huy động vốn, đầu tư vào các dự án lớn, có cơ hội lựa chọn bạn hàng
Khi nền kinh tế phát triển cùng với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật thì hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp cũng được tăng theo Bởi lẽ khi khoa học công nghệ phát triển mạnh thì nó sẽ đặt doanh nghiệp vào môi trường cạnh tranh gay gắt Nếu như doanh nghiệp không thích ứng được môi trường này chắc chắn sẽ không tồn tại được Vì vậy, các doanh nghiệp luôn chú trọng việc đầu tư vào công nghệ Với những máy móc hiện đại không những tiết kiệm được sức lao động của con người mà còn tạo
ra được khối lượng sản phẩm cao với giá thành thấp thoả mãn nhu cầu của khách hàng Do đó, nó sẽ làm tăng doanh thu của doanh nghiệp, lợi nhuận của doanh nghiệp tăng lên càng khuyến khích doanh nghiệp tích cực sản xuất, tình hình tài chính của doanh nghiệp được cải thiện ngày càng tốt hơn Ngựơc lại, nếu trạng thái nền kinh tế đang ở mức suy thoái thì việc doanh nghiệp muốn cải thiện tình hình tài chính là rất khó khăn.”
1.4.2.5 Nhà cung cấp
Muốn sản xuất kinh doanh thì doanh nghiệp phải có các yếu tố đầu vào như: nguyên vật liệu, máy móc, thiết bị, công nghệ thì doanh nghiệp phải mua ở các doanh nghiệp khác Việc thanh toán các khoản này sẽ tác động trực
Trang 24tiếp đến tài chính của doanh nghiệp Ví dụ như nhà cung cấp đòi hỏi doanh nghiệp phải thanh toán tiền ngay khi giao hàng thì sẽ dẫn đến lương tiền mặt hoặc tiền gửi ngân hàng của doanh nghiệp giảm xuống, doanh nghiệp sẽ khó khăn trong việc huy động vốn Hoặc doanh nghiệp phải vận chuyển nguyên vật liệu về kho sẽ làm tăng chi phí sản xuất làm giảm lợi nhuận của doanh nghiệp ”
Trang 25CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN TỔNG CÔNG TY MAY ĐÁP CẦU
TỪ NĂM 2012 - 2014 2.1 Tổng quan về Công ty Cổ phần Tổng công ty May Đáp Cầu
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển
2.1.1.1 Giới thiệu chung về Công ty
“Tên công ty: CÔNG TY CỔ PHẦN TỔNG CÔNG TY MAY ĐÁP CẦU Tên giao dịch: DAP CAU GARMENT CORPORATION JOINT STOCK COMPANY
Tên viết tắt: DAGARCO
Trang 2628 nước trên thế giới như Mỹ, Nhật, Cộng hòa liên bang Đức, Tây Ban Nha, Pháp, Đan Mạch, Thụy Điển, Thụy Sĩ, Hongkong, Đài Loan, Australia…
Số lượng cán bộ, công nhân viên: 2000”
2.1.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển qua từng giai đoạn
“Từ một cơ sở nhỏ bé, ít danh tiếng trong ngành Dệt – May Việt Nam, qua hàng chục năm đổi mới công nghệ và quản lý theo hướng hiện đại, Công
ty CP Tổng công ty May Đáp Cầu đã vươn lên thành một doanh nghiệp công
ty cổ phần, quy mô tương đối lớn, xuất khẩu sản phẩm may mặc có uy tín trên thị trường thế giới Tiền thân của Công ty CP Tổng công ty May Đáp Cầu là
xí nghiệp mày X-200, chính thức đi vào hoạt động từ ngày 2/2/1967
Trải qua các thời kỳ xây dựng và phát triển, các thế hệ cán bộ công nhân viên của Công ty đã vượt qua khó khăn, thử thách hoàn thành nhiệm vụ cấp trên giao, góp phần đắc lực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước,
đã được Nhà nước tặng huân chương lao động hạng Ba, Huân chương lao động hạng Nhì, Huân chương lao động Hạng nhất, chứng chỉ ISO 9001 và nhiều phần thưởng cao quý khác
Qua quá trình phát triển của mình, Công ty đã trải qua 4 lần đổi tên Vào tháng 2-1967, xí nghiệp may X2-200 được thành lập Đến tháng 8-1978,
xí nghiệp may X2-200 đổi tên thành Xí nghiệp may Đáp Cầu Tháng 1-1994,
xí nghiệp may Đáp Cầu đổi tên thành Công ty may Đáp Cầu Gần đây nhất là tháng 6-2014, Công ty may Đáp Cầu đổi tên thành Công ty CP Tổng công ty May Đáp Cầu
Các giai đoạn chủ yếu trên bước đường phát triển của Công ty gồm: Giai đoạn 1 (1966-1975): Xí nghiệp vừa xây dựng, vừa đào tạo, vừa củng cố sản xuất Các sản phẩm may của xí nghiệp được cung cấp ra các chiến trường, góp phần đắc lực vào cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, thống nhất Tổ quốc
Trang 27Giai đoạn 2 (1976-1986): Công ty bước đầu làm quen với hình thức xuất khẩu
Giai đoạn 3 (1987 đến nay): Đây là thời kỳ đổi mới toàn diện trên tất cả các lĩnh vực để từng bước hòa nhập vào nền kinh tế thị trường
Với những gì đã và đang đạt được của Công ty, ta có thể thấy được Công ty đã có sự phát triển nổi bật, sản lượng hàng hóa hàng năm tăng nhanh, đời sống người lao động dần cải thiện, Công ty thực hiện tốt nghĩa vụ và trách nhiệm với Nhà nước.”
2.1.2 Cơ cấu bộ máy tổ chức
2.1.2.1 Sơ đồ bộ máy tổ chức
“Do đặc điểm của Công ty là Công ty Cổ phần theo hình thức tập trung nên bộ máy tổ chức của Công ty tương đối gọn nhẹ, dễ quản lý Bộ máy tổ chức của Công ty chỉ gồm bốn cấp bậc: Tổng giám đốc, Phó tổng giám đốc, Khối phòng ban và Khối sản xuất.”
Sơ đồ 2.1: Sơ đồ cơ cấu tổ chức quản lý Công ty CP Tổng công ty May Đáp Cầu
Nguồn: Phòng Tổ chức Lao động Công ty CP Tổng công ty May Đáp Cầu
Khối sản xuất
Trang 282.1.2.2 Chức năng, nhiệm vụ các phòng ban
“ Ban Giám đốc:
Tổng giám đốc: Là người đứng đầu Công ty, có nhiệm vụ điều hành
chung mọi hoạt động của Công ty Tổng giám đốc là người có thẩm quyền cao nhất, chịu trách nhiệm trước pháp luật, nhà nước về mọi hoạt động kinh
doanh của Công ty
Phó tổng giám đốc: Là người giúp việc cho Giám đốc, thực hiện các
nhiệm vụ theo quyền hạn mà Tổng giám đốc giao phó Hàng tuần, Phó tổng giám đốc báo cáo lên Tổng giám đốc những tình hình xảy ra đối với chuyên môn mình phụ trách; tiến độ thực hiện công việc để từ đó Ban lãnh đạo Công
ty đề ra các phương hướng giải quyết
Khối Phòng ban:
Phòng Tổ chức Lao Động: Là đơn vị có nhiệm vụ tham mưu cho lãnh
đạo Công ty về công tác quản lý lao động, thực hiện các chế độ đối với người lao động; Thực hiện công tác hành chính quản trị, chăm lo cho đời sống, sức khỏe cán bộ công nhân viên chức; Quản lý, sử dụng, cân đối nguồn lao động
hiện có của Công ty
Phòng Tài chính Kế toán: Là đơn vị có nhiệm cụ tham mưu cho lãnh
đạo Công ty về các chế độ quản lý tài chính tiền tệ và thực hiện công tác xây dựng kế hoạch tài chính hàng năm, hạch toán kế toán theo hệ thống tài chính,
đồng thời quản lý tài chính tiền tệ thu chi của Công ty
Phòng Thị trường: Là đơn vị có nhiệm vụ nghiên cứu thị trường, tìm
kiếm đối tác phù hợp với từng giai đoạn của Công ty Từ đó, xem xét các hợp
đồng thích hợp đối với Công ty
Phòng Kế hoạch Vật tư: Là đơn vị có nhiệm vụ tham mưu cho lãnh đạo
Công ty công tác đầu tư xuất nhập khẩu, xây dựng kế hoạch sản xuất; thực hiện kế hoạch điều độ sản xuất, tiến độ sản xuất và giao hàng; tổ chức, thực hiện thanh toán quyết toán vật tư nguyên phụ liệu đối với nội bộ khách hàng
Trang 29Đồng thời, đây cũng là đơn vị tham mưu cho Tổng giám đốc trong công tác bảo quản, cấp phát sử dụng vật tư, hàng hóa đúng chế độ theo quy định của Công ty và luật kế toán, thống kê hiện hành; tổ chức thực hiện nhiệm vụ mua sắm vật tư hàng hóa theo kế hoạch của Công ty, đẩy mạnh khả năng tiêu thụ
nội địa những nguyên vật liệu, thành phẩm của Công ty
Phòng Kỹ thuật: Là đơn vị có nhiệm vụ tiếp nhận mẫu hàng của đối tác,
xây dựng quy cách kỹ thuật, thiết bị, dây chuyền sản xuất sao cho phù hợp với máy móc, thiết bị của công ty hiện có; hướng dẫn kỹ thuật cho công nhân đồng thời giác mẫu hướng dẫn để công nhân làm việc sao cho đảm bảo năng
suất, chất lượng và an toàn lao động
Phòng Quản lý chất lượng (KCS): Là đơn vị chịu trách nhiệm quản lý
và đảm bảo toàn bộ khâu chất lượng sản phẩm của công ty từ khâu nguyên liệu đến khâu cuối cùng, kiểm tra 100% nguyên liệu trước khi nhập kho và 100% sản phẩm trước khi xuất khẩu cho khách hàng để đảm bảo chất lượng
cũng như yêu cầu của khách hàng, tránh các trường hợp khiếu nại
Phòng Cơ điện: Là đơn vị có nhiệm vụ xây dựng phương án về quản lý
các quy trình kỹ thuật, an toàn thiết bị có điện, quản lý hướng dẫn vận hành máy móc thiết vị và hệ thống sửa chữa bảo dưỡng định kỳ, điều động thiết bị
máy móc để đáp ứng sản xuất
Ban nghiên cứu năng suất (IE): Là đơn vị có nhiệm vụ hỗ trợ khối sản
xuất khi cần thiết, đồng thời Ban IE cũng chịu trách nhiệm tìm lỗi sai sót, hạn
chế trong các dây chuyền, từ đó tìm ra biện pháp khắc phục kịp thời
Khối sản xuất: Các phân xưởng sản xuất tổ chức và thực hiện việc sản
xuất theo từng công đoạn nguyên liệu, sản phẩm; nhập kho theo đúng quy trình công nghệ mà công ty đã đưa ra từ trước Các phân xưởng sản xuất bao gồm: tổ thêu, Xí nghiệp May 1, Xí nghiệp May 2, Xí nghiệp May 3, Xí
nghiệp Kinh Bắc
Nhận xét: Với sự phân công về chức năng và nhiệm vụ chi tiết cho
từng phòng ban như trên phần nào thúc đẩy cho hoạt động sản xuất kinh
Trang 30doanh của công ty ngày càng đạt hiệu quả cao hơn Khi nhiệm vụ được phân công rõ ràng, tình trạng chồng chéo công việc lên nhau giữa các phòng ban sẽ không xảy ra Tuy mỗi bộ phận có chức năng riêng nhưng lại có mối quan hệ chặt chẽ với nhau do cùng nằm trong một bộ máy tổ chức của công ty Do vậy, hiệu quả công việc của từng bộ phận sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới kết quả sản xuất kinh doanh của công ty.”
2.1.2.3 Nguồn nhân lực
“Hiện nay tổng số người lao động tại Công ty Cổ phần Tổng Công ty May Đáp Cầu là 2.300 người, trong đó khoảng 55% có trình độ chuyên môn Trung cấp trở lên, 32% là công nhân kỹ thuật và 13% là lao động phổ thông (Theo Báo cáo của Phòng Tổ chức lao động, 2014) Lực lượng lao động của công ty tương đối trẻ, đầy nhiệt huyết, quyết tâm cao, được đào tạo bài bản về
kỹ thuật may và sửa chữa máy móc, thiết bị
Ngoài việc ổn định và không ngừng cải tiến cơ cấu tổ chức, Công ty luôn chú trọng công tác đào tạo chuyên môn và ngoại ngữ cho người lao động Chẳng hạn hằng năm, Công ty mở các lớp học miễn phí nhằm bồi dưỡng tay nghề cho công nhân may, đồng thời cử nhiều cán bộ phòng ban sang nước ngoài (Ấn Độ, Trung Quốc, Singapore, Thái Lan, Mỹ,… ) để học hỏi kinh nghiệm và trau dồi vốn ngoại ngữ Nâng cao đời sống văn hóa, tinh thần và cải thiện thu nhập cho người lao động luôn được Công ty coi là vấn
đề then chốt để phát triển nguồn nhân lực Công ty thường xuyên tổ chức hội thi tay nghề giỏi, phụ nữ đảm đang, thể thao xưởng may… để khích lệ, tăng thêm tinh thần đoàn kết trong cán bộ công nhân viên
Sau nhiều năm hoạt đồng, được đào tạo, phát triển, đội ngũ nhân lực của Công ty đã đạt được những bước tiến rất đáng kể, tích lũy nhiều kinh nghiệm và phát huy năng lực sáng tạo Với nguồn lực này, tiềm năng nghiên cứu, phát triển phương án kinh doanh, sản xuất hợp lý là yếu tố vô cùng quan trọng giúp Công ty ngày càng phát triển.”
Trang 312.1.3 Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh giai đoạn 2012- 2014
2.1.3.1 Thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh giai đoạn 2012-2014
“Thực tế, quá trình phân công lao động trên thế giới đã đưa Việt Nam trở thành một thị trường gia công nhiều hấp dẫn dựa trên lợi thế về lao động, với đội ngũ lao động trẻ, sáng tạo lại được thừa kế những kỹ năng truyền thống của dân tộc Nhờ những lợi thế này, Công ty CP Tổng công ty May Đáp Cầu đã có hướng đi đúng: từng bước hoàn thiện phương thức gia công và ngày càng phát triển Bên cạnh đó, Công ty luôn cố gắng thay đổi chính sách sản xuất đáp ứng những nhu cầu đặt ra trong giai đoạn, cố gắng mở rộng thị trường bằng cách duy trì bạn hàng cũ, tìm đối tác mới, đa dạng hóa sản phẩm, nâng cao năng suất lao động và chất lượng sản phẩm, nâng cao dần vị thế trên trường quốc tế Công ty đã chú trọng bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ chuyên môn cho cán bộ công nhân viên, phát động phong trào thi đua với nhiều hình thức khác nhau để duy trì hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001-2000 Kết quả đạt được là năng suất lao động tăng lên rõ rệt, tỷ lệ hàng mắc lỗi cũng giảm xuống Vì vậy, trong những năm gần đây, tình hình sản xuất kinh doanh của Công ty đã có sự phát triển đáng kể, điều này được thể hiện qua kết quả sản xuất kinh doanh (Bảng 2.1).”
Trang 32Bảng 2.1: Kết quả sản xuất kinh doanh của Công ty CP Tổng công ty
May Đáp Cầu giai đoạn 2012-2014
So sánh 2014/2013 Chênh
lệch
Tỷ lệ (%)
Chênh lệch
Tỷ lệ (%)
6 Chi phí sản xuất kinh doanh/
Nguồn: Phòng Kế toán Tài chính
Trang 33Biểu đồ 2.1 Tình hình doanh thu của Công ty giai đoạn 2012-2014
Đơn vị: tỷ VNĐ
0 100 200 300 400 500 600 700 800 900 1000
Da onh thu thuần tiêu thụ sản phẩm Doanh thu tài chính Thu nhậ p khác
Nguồn: Phòng Kế toán Tài chính
Biểu đồ 2.2 Sự tăng trưởng doanh thu và lợi nhuận của Công ty giai
Doa nh thu thuần bán hàng và cung cấp dịch vụ Tổng lợi nhuận trước thuế
Nguồn: Phòng Kế toán Tài chính
Trang 34Qua Bảng 2.1 và Biểu đồ 2.1, 2.2, ta thấy doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ giảm (năm 2013 tăng 209,6 tỷ so với năm 2012, tương ứng 30,97% Nhưng đến năm 2014 giảm 2 tỷ VNĐ so với năm 2013, tương ứng tỷ
lệ 0,22%) Lợi nhuận gộp thì tăng lên năm 2013 tăng 9,8 tỷ so với năm 2012, năm 2014 tăng 25,9 tỷ VNĐ so với năm 2013, điều này chứng tỏ công ty đã tiết kiệm chi phí, giảm giá thành sản phẩm Lợi nhuận sau thuế của Công ty tăng từ 13,7 tỷ VND của năm 2012, 18,6 tỷ VND của năm 2013 lên 40,3 tỷ VND của năm 2014, tăng 116,67% so với năm 2013 Điều này cho thấy Công
ty làm ăn có lãi Trong năm 2013, tỷ suất chi phí sản xuất của Công ty giảm 1,76% Nhưng năm 2014, tỷ suất chi phí sản xuất của Công ty đã tăng 1,76% Điều này khẳng định Công ty chưa thành công trong việc tiết kiệm chi phí đầu vào cho hoạt động sản xuất kinh doanh Tỷ suất lợi nhuận cũng tăng (năm
2013 tăng 0,08% so với năm 2012, năm 2014 tăng 2,46% so với 2013) Vì vậy, trong năm qua, Công ty đã hoàn thành tốt nhiệm vụ kinh doanh của mình
và đạt được kết quả cao trong hoạt động sản xuất
2.1.3.2 Thuận lợi
“Trải qua hơn 50 năm xây dựng, trưởng thành và phát triển với bao không khí thăng trầm cho đến nay Công ty CP Tổng Công ty May Đáp Cầu
đã đạt được những thành công nhất định, khẳng định được chỗ đứng của mình không chỉ tại thị trường trong nước mà cả trên trường quốc tế Để tạo được kết quả đó là do sự đóng góp công sức của rất nhiều người từ ban lãnh đạo, cán bộ, công nhân đến cả những bạn hàng trong nước và trên thế giới Bên cạnh đó, kinh tế nước ta đang ngày càng phát triển, Nhà nước tăng cường các hoạt động đối ngoại mở rộng thị trường, ngành Dệt – May được Chính phủ quan tâm phê duyệt chiến lược phát triển kèm theo các chính sách ưu đãi tạo điều kiện vươn lên hội nhập với khu vực và thế giới Việt Nam vẫn tiếp tục là điểm đến thu hút các nhà đầu tư, kinh doanh thế giới, trong đó có các nhà nhập khẩu bán lẻ hàng dệt may Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản đến mua hàng Các thị
Trang 35trường xuất khẩu của Công ty như EU, Hòa Kỳ, Nhật Bản,… vẫn tiếp tục tăng trưởng khá cả về giá và chất lượng.”
“Thêm vào đó, Công ty đã đầu tư đúng hướng tạo điều kiện cần thiết để hội nhập vào thị trường may mặc toàn cầu khi Việt Nam đã gia nhập WTO Công ty mua sắm máy móc, thiết bị hiện đại, tiên tiến, đáp ứng được các yêu cầu về chất lượng sản xuất, về đa dạng sản phẩm, về môi trường, về tiện dụng
sử dụng Đồng thời, công ty không ngừng nâng cao chất lượng cơ sở vật chất (hạ tầng) như đường xá, nhà cửa, các công trình phụ trợ, nhà kho… tất cả đảm bảo khang trang, sạch đẹp đáp ứng các yêu cầu nghiêm ngặt nhất của việc đánh giá khách hàng.”
“Công ty đã chấp hành nghiêm chỉnh tất cả các quy định của Nhà nước
về công tác đầu tư, xây dựng cơ bản cũng như các quy định về đấu thầu mua sắm, xây dựng Từ đó đảm bảo suất đầu tư bao giờ cũng có giá rất hợp lý, có thể nói là rẻ hơn các nơi khác nên hiệu quả sản xuất kinh doanh của Công ty luôn có được sau đầu tư, đảm bảo Công ty không ngừng lớn mạnh và phát triển.”
2.1.3.3 Khó khăn
“Về lao động: trong những năm gần đây lực lượng lao động của công
ty luôn biến động Lao động toàn Công ty tính đến ngày 31/12/2014 là 2.276
người, so với cùng kỳ năm ngoái giảm 258 người (Theo Phòng Tổ chức lao động), hầu hết số công nhân này đã thành thạo nghề Số lượng lao động thôi
việc hầu hết là do chuyển công ty khác hoặc thu hoạch vụ mùa, đi lao động xuất khẩu nước ngoài Điều này làm đảo lộn cơ cấu lao động của công ty Để thay thế số lao động thiếu hụt đó, hàng năm buộc Công ty phải tự đào tạo hoặc tuyển thêm công nhân, gây tốn kém nhiều thời gian và tiền bạc mà chất lượng tay nghề công nhân lại thấp Nhìn chung, mỗi lao động mới cần tham gia lớp học bồi dưỡng tay nghề do Công ty tổ chức miễn phí ít nhất 2 tháng
thì mới có thể thành thạo công việc (Theo Ban nghiên cứu năng suất: IE)
Trang 36Tình hình cán bộ quản lý kĩ thuật giỏi và công nhân có tay nghề còn thiếu nhiều so với nhu cầu và yêu cầu phát triển của sản xuất kinh doanh Đặc biệt
là ngành may, Công ty đang thiếu đội ngũ thợ lành nghề có kinh nghiệm, lý
do của sự thiếu hụt này phần lớn là do sự biến động về lao động hàng năm.”
“Về mặt kỹ thuật công nghệ: trong mấy năm gần đây, Công ty nhập nhiều máy móc thiết bị hiện đại mà khi đó tay nghề của công nhân còn thấp chưa thể sử dụng và hiểu hết tính năng của các thiết bị đó nên chưa khai thác hết công suất của máy móc thiết bị Vào năm 2014, Công ty đã trang bị hệ thống cắt tự động tại May 2 nhưng số lượng công nhân biết sử dụng và sử dụng chính xác còn hạn chế làm cho hệ thống cắt tự động phát huy hiệu quả không cao, trong khi chi phí bảo hành quá lớn.”
“Về nguyên liệu: Công ty chưa chú trọng đến việc khai thác thị trường trong nước như nhập bông từ Tây Nguyên mà lại chủ yếu nhập nguyên liệu từ thị trường nước ngoài (Trung Quốc, Thái Lan) Do đó, thời gian đợi chờ nguyên liệu về khá lâu làm chậm quá trình sản xuất
Về thị trường: Dự báo trong thời gian tới, cạnh tranh trên thị trường dệt may sẽ căng thẳng hơn Nhiều nước trên thế giới đang tập trung nâng cao đẳng cấp, chất lượng sản phẩm dệt may để cạnh tranh Trong khi đó, khủng hoảng toàn cầu cũng đang làm giảm đáng kể nhu cầu đối với hàng dệt may Yếu tố này cùng với việc Trung Quốc được Mỹ và EU bãi bỏ chế độ hạn ngạch, hàng dệt may của Việt Nam sẽ đứng trước nhiều sức ép cạnh tranh gay gắt với hàng dệt may từ Trung Quốc và các nước khác như Ấn Độ, Pakistan,
Bangladesh, Srilanka (Theo Thông tấn Việt Nam, Cafef).”
Trang 372.2 Phân tích hiệu quả sử dụng vốn của Công ty Cổ Phần Tổng Công ty May Đáp Cầu
2.2.1 Cơ cấu vốn và nguồn vốn của Công ty
2.2.1.1 Cơ cấu vốn
Công ty rất chú trọng vào việc bảo toàn và phát triển vốn ngày một gia tăng Vì trong kinh doanh, có được vốn lớn và ổn định sẽ tạo điều kiện thuận lợi để phát triển sản xuất kinh doanh, tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường nhờ vào việc thay đổi những máy móc, thiết bị lạc hậu bằng những máy móc mới với kỹ thuật hiện đại hơn nhiều nhằm giảm bớt sức người Nhờ đó mà công ty có thêm thời gian đầu tư vào việc đào tạo nguồn nhân lực để phát huy trí lực của họ ngày một nâng cao để quay lại tiếp tục điều khiển máy móc phục vụ cho công việc của mình tốt hơn từ đó có thể tăng năng suất, doanh thu và lợi nhuận cho công ty
Do đó, việc tổ chức cơ cấu vốn sao cho hợp lý là điều vô cùng quan trọng đối với lãnh đạo công ty cũng như đối với những người trực tiếp làm công tác quản lý vốn Qua Bảng 2.2 về tình hình vốn và hoạt động kinh doanh của Công ty, tỷ trọng vốn cố định của công ty ngày càng tăng Điều này là hợp lý và dễ hiểu đối với Công ty Cổ phần Tổng Công ty May Đáp Cầu do đặc điểm hoạt động của công ty là sản xuất nên lượng vốn cố định Công ty đã đầu tư vào việc mua sắm tài sản cố định để phục vụ cho quá trình sản xuất tại các nhà máy
Trang 38Bảng 2.2 Tổng hợp tình hình vốn và hoạt động kinh doanh của Công ty
Nguồn: Phòng kế hoạch Tài chính
Dựa vào những số liệu trong Bảng 2.2 có thể đánh giá chung tình hình quản lý và sử dụng vốn kinh doanh trong năm là tốt Mặc dù doanh thu bán hàng theo giá vốn giảm nhẹ gần 2.000 triệu VNĐ, tỷ lệ giảm 0,22%; lợi nhuận kinh doanh tăng 21.736 (triệu đồng), tỷ lệ tăng 116,9%; trong khi tổng vốn kinh doanh tăng 38.258 triệu VNĐ, tỷ lệ 18,05%
2.2.1.2 Cơ cấu nguồn vốn
Cơ cấu nguồn vốn của doanh nghiệp là quan hệ về tỷ trọng giữa vốn vay và vốn chủ sở hữu Cơ cấu nguồn vốn của doanh nghiệp thường biến động trong các chu kỳ kinh doanh và có thể ảnh hưởng tích cực đến lợi ích của chủ sở hữu Một cơ cấu vốn tối ưu là một cơ cấu có sự cân đối giữa rủi ro
và lợi nhuận sao cho doanh nghiệp kinh doanh đạt hiệu quả cao nhất Vì vậy, việc xem xét lựa chọn điều chỉnh cơ cấu nguồn vốn tối ưu luôn là một trong các quyết định tài chính quan trọng của doanh nghiệp Căn cứ Bảng cân đối
kế toán Công ty Cổ phần Tổng Công ty May Đáp Cầu qua các năm 2012,
Trang 392013, 2014, có thể tóm tắt một số chỉ tiêu thể hiện cơ cấu nguồn vốn của Công ty qua Bảng 2.3
Bảng 2.3 Cơ cấu nguồn vốn từ năm 2012 đến 2014
So sánh 2014/2013
Nguồn: Phòng kế hoạch tài chính
Qua Bảng 2.3 và Biểu đồ 2.3, ta thấy tổng nguồn vốn của Công ty đã tăng lên một cách rõ rệt, tăng từ 165 tỷ VND năm 2012 đến 250 tỷ VND năm
2014 Tuy nhiên, cơ cấu nguồn vốn cũng cho thấy rõ nguồn vốn chủ sở hữu (nguồn vốn chủ đạo) tăng nhiều (từ 41 tỷ VND năm 2012 đến 81 tỷ VND năm 2014) Trong khi đó nguồn vốn vay tăng khoảng 45 tỷ VND từ năm 2012 đến năm 2014, điều này chứng tỏ Công ty đang đầu tư vào nâng cấp và mở rộng sản xuất kinh doanh (xây dựng thêm nhà xưởng tăng quy mô sản xuất) Đây là điều hoàn toàn hợp lý trong tình hình có sự cạnh tranh gay gắt giữa các doanh nghiệp may trong nước và các doanh nghiệp may nước ngoài nhằm duy trì và mở rộng thị phần
Trang 40Biểu đồ 2.3: Tình hình vốn của Công ty giai đoạn 2012-2014
Đơn vị tính: tỷ VND
0 50 100 150 200 250 300
Năm 2012 Năm 2013 Năm 2014
Nợ phả i trả Nguồn vốn chủ s ở hữu Tổng nguồn vốn
Nguồn: Phòng Kế toàn Tài chính
2.2.2 Phân tích và đánh giá hiệu quả sử dụng vốn nói chung
2.2.2.1 Hiệu suất sử dụng vốn
Doanh nghiệp muốn đạt được mục tiêu tăng trưởng và tối đa hóa giá trị doanh nghiệp thì cần phải đặt vấn đề nâng cao hiệu suất sử dụng vốn lên hàng đầu Bởi hiệu suất sử dụng vốn chính là mối quan hệ giữa lượng chi phí bỏ ra
và kết quả đạt được
Hệ số quay vòng vốn của Công ty có xu hướng giảm Năm 2012, hệ số quay vòng vốn là 20,23 lần Năm 2013, hệ số quay vòng vốn là 24,81 lần Đến năm 2014, hệ số quay vòng vốn chỉ còn 15,15 lần do doanh thu giảm, vốn sử dụng bình quân tăng mạnh (63,36%) Nghĩa là một đồng vốn bình quân bỏ ra trong năm 2012 thu về 20,23 đồng doanh thu, năm 2013 thu về 24,81 đồng doanh thu, còn năm 2014 thì thu về 15,15 đồng doanh thu
Qua phân tích số vòng quay vốn cho thấy số lần vốn luân chuyển trong