Có thể nói vốn là nhân tố hàng đầu trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, nó đặt ra cho các doanh nghiệp là làm thế nào để quản lý và sử dụng có hiệu quả nhằm bảo toàn và tạo giá
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tên tôi là Trần Thị Minh Nguyệt, tác giả luận văn: "Một số biện pháp
nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty Cổ phần Bao bì Tiền Phong”
Tác giả xin cam đoan đây là đề tài nghiên cứu của riêng tác giả, không trùng lặp với bất kỳ công trình nghiên cứu nào đã được công bố trước đây Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực do tác giả tự thu thập tài liệu và
tự làm dưới sự hiểu biết thực tế của tác giả và vận dụng kiến thức đã học để hoàn thành, các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc Tác giả xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về những lời cam đoan này
Hải Phòng, tháng 03 năm 2016
Tác giả luận văn
Trần Thị Minh Nguyệt
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian tìm hiểu, nghiên cứu cùng với sự nỗ lực và nghiêm
túc, tác giả đã hoàn thành Luận văn “Một số biện pháp nâng cao hiệu quả sử
dụng vốn tại Công ty Cổ phần Bao bì Tiền Phòng”
Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các Thầy, Cô giảng viên Viện Đào tạo sau Đại học - Trường Đại học Hàng Hải Việt Nam, đã tạo mọi điều
kiện thuận lợi cho tác giả trong suốt thời gian học tập và hoàn thiện luận văn
tốt nghiệp
Đặc biệt, tác giả xin chân thành cảm ơn PGS.TS Nguyễn Hoàng Tiệm
- Giảng viên hướng dẫn đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và giúp đỡ để tác giả
hoàn thành Luận văn
Tác giả cũng xin trân trọng cảm ơn Ban giám đốc, các phòng nghiệp vụ Công ty Cổ phần Bao bì Tiền Phong đã tạo điều kiện thuận lợi cho tác giả
trong thời gian nghiên cứu tại Công ty
Trong quá trình nghiên cứu, mặc dù đã có nhiều cố gắng để hoàn thành luận văn bằng tất cả tâm huyết và năng lực của mình; nhưng do thời gian và
kiến thức còn hạn chế nên đã không thể tránh khỏi những thiếu sót Với tinh
thần cầu thị, tác giả mong nhận được nhiều ý kiến đóng góp bố sung vào luận
văn, để luận văn hoàn thiện hơn và có thể ứng dụng được trong thực tế tại
Công ty cổ phần Bao bì Tiền Phong
Xin chân thành cảm ơn!
Hải Phòng, tháng 03 năm 2016
Tác giả luận văn
Trần Thị Minh Nguyệt
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Trong nền kinh tế thị trường, đặc biệt là trong giai đoạn hội nhập với nền kinh tế khu vực và thế giới, các doanh nghiệp Việt Nam đứng trước nhiều
cơ hội và thách thức lớn, một trong những thách thức đó chính là vốn Vốn là chìa khóa, là phương tiện để biến các ý tưởng kinh doanh thành hiện thực, hiệu quả sử dụng vốn góp phần quyết định sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp, vì vậy bất kỳ một doanh nghiệp nào cũng quan tâm đến vốn và hiệu quả sử dụng vốn
Trong những năm vừa qua, hoạt động kinh doanh bao bì ở nước ta đã
có những chuyển biến sâu sắc Quy mô kinh doanh ngày càng mở rộng cả về
số lượng lẫn phạm vi, các loại hình kinh doanh đa dạng và phong phú hơn Các doanh nghiệp cạnh tranh ngày càng gay gắt trên thị trường, các doanh nghiệp đẩy mạnh việc tăng vốn kinh doanh của mình nhằm nâng cao năng lực
và uy tín trước các khách hàng trong và ngoài nước Năng lực tài chính nâng cao không những tạo niềm tin cho khách hàng và đối tác mà còn là cơ sở để doanh nghiệp triển khai các hoạt động trong sản xuất kinh doanh ngày càng
có hiệu quả cao hơn
Là Công ty chuyên sản xuất bao bì và các sản phẩm ống nhựa thì Công
ty Cổ phần Bao bì Tiền Phong rất cần mô ̣t lượng vốn lớn để tăng sản lượng và
có điều kiện để mở rộng sản xuất Trong nhiều năm qua, Công ty đã tạo dựng được thương hiệu và uy tín đối với khách hàng trong và ngoài nước Công ty
đã có những đóng góp nhất định cho sự phát triển kinh tế - xã hội của thành phố nói riêng và cả nước nói chung đồng thời là một trong những đơn vị tiêu biểu của ngành sản xuất bao bì của thành phố
Xuất phát từ tình hình trên, tác giả nhận thấy cần phải hoàn thiện hơn công tác quản lý và sử dụng nguồn vốn hiện có sao cho có hiệu quả, đúng mục đích, đúng đối tượng bởi thực tế cho thấy việc sử dụng có hiệu quả nguồn vốn của Công ty sẽ góp phần nâng cao khả năng hoạt động sản xuất
Trang 5kinh doanh của Công ty, mở rộng quy mô hoạt động sản xuất, tăng nhanh tốc
độ hoạt động của Công ty nhằm đem lại cho Công ty lợi nhuận ngày càng cao, góp phần tăng trưởng kinh tế xã hội
Nhận thức được tầm quan trọng trong quá trình quản lý và sử dụng vốn,
tác giả đã chọn đề tài: "Một số biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại
Công ty Cổ phần Bao bì Tiền Phong" làm đề tài nghiên cứu luận văn thạc sĩ
2 Mục đích nghiên cứu của luận văn
- Hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn về hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp
- Phân tích đánh giá thực trạng hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty Cổ phần Bao bì Tiền Phong giai đoạn 2011-2015
- Đề xuất một số biện pháp cơ bản nâng cao hiệu quả sử dụng vốn Công ty Cổ phần Bao bì Tiền Phong
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp
- Phạm vi nghiên cứu: Hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty Cổ phần Bao
bì Tiền Phong giai đoạn 2011 - 2015
4 Phương pháp nghiên cứu luận văn
Trong quá trình nghiên cứu tác giả sử dụng các phương pháp như : Phương pháp thống kê, phân tích và tổng hợp, so sánh, phương pháp toán học, phương pháp đánh giá dựa trên các tài liệu sưu tầm… kết hợp với suy luận để làm rõ những nội dung mà đề tài đề cập
5 Đóng góp mới của luận văn
Thông qua hệ thống hoá các vấn đề lý luận về vốn và hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp, các chỉ tiêu đánh giá và phân tích hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp Thông qua việc phân tích thực trạng nêu lên các nguyên nhân ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty Cổ phần Bao
bì Tiền Phong giai đoạn 2011-2015, và đề xuất những biện pháp và kiến nghị
Trang 6góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty Cổ phần Bao bì Tiền Phong
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu; Kết luận; Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận văn chia thành 3 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận về vốn và hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp
Chương 2: Phân tích đánh giá thực trạng hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty Cổ phần Bao bì Tiền Phong
Chương 3: Một số biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty Cổ phần Bao bì Tiền Phong
Trang 7CHƯƠNG 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VỐN
VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN TRONG DOANH NGHIỆP
1.1 Vốn và vai trò của vốn trong doanh nghiệp
1.1.1 Khái niệm và đặc trưng của vốn
1.1.1.1 Khái niệm
“Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, vốn được quan niệm là toàn bộ những giá trị ứng ra ban đầu vào các quá trình sản xuất tiếp theo của doanh nghiệp” [3]
Khái niệm cho thấy vốn là một yếu tố quan trọng cho quá trình hoạt động sản xuất của mọi doanh nghiệp, nó không chia tách từng giai đoạn riêng biệt mà diễn ra liên tục trong quá trình sản xuất và phát triển của doanh nghiệp
Có thể nói vốn là nhân tố hàng đầu trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, nó đặt ra cho các doanh nghiệp là làm thế nào để quản lý và
sử dụng có hiệu quả nhằm bảo toàn và tạo giá trị gia tăng tối đa cho chủ sở hữu, do đó buộc các nhà quản lý phải quan tâm hơn về vốn cũng như những đặc trưng của vốn, tầm quan trọng và giá trị của đồng vốn để có thể sử dụng khai thác nó một cách có hiệu quả được
1.1.1.2 Các đặc trưng cơ bản của vốn
Vốn có các đặc trưng cơ bản sau:
“Thứ nhất: Vốn là đại diện cho một lượng giá trị tài sản, có nghĩa vốn là
biểu hiện bằng giá trị của các tài sản hữu hình và vô hình như: nhà xưởng, đất đai, máy móc, thiết bị, chất xám, thông tin,… Một lượng tiền phát hành đ• thoát lý giá trị thực của hàng hoá để đưa vào đầu tư, những khoản nợ không
có khả năng thanh toán thì không được coi là vốn” [3]
“Thứ hai: Vốn luôn vận động để sinh lời Vốn được biểu hiện bằng tiền
nhưng tiền chỉ là dạng tiềm năng của vốn Để biến thành vốn thì đồng tiền đó
Trang 8phải được đưa vào hoạt động kinh doanh nhằm kiếm lời Trong quá trình vận động, đồng vốn có thể thay đổi hình thái biểu hiện, nhưng điểm xuất phát và điểm cuối cùng của vòng tuần hoàn phải là giá trị- là tiền Đồng vốn phải quay về xuất phát với giá trị lớn hơn- đó là nguyên lý đầu tư, sử dụng và bảo toàn vốn Do vậy khi đồng vốn bị ứ đọng, tài sản cố định không được sử dụng, tài nguyên, sức lao động không được dùng đến và nảy sinh các khoản
nợ khó đòi… là đồng vốn “chết” Mặt khác, tiền có vận động nhưng bị phân tán quay về nơi xuất phát với giá trị thấp hơn thì đồng vốn cũng không được đảm bảo, chu kỳ vận động tiếp theo sẽ bị ảnh hưởng” [2]
“Thứ ba: Vốn không tách rời chủ sở hữu trong quá trình vận động, mỗi đồng
vốn phải gắn với một chủ sở hữu nhất định Nếu đồng vốn không rõ ràng về chủ sở hữu sẽ có chi phí l•ng phí, không hiệu quả Trong nền kinh tế thị trường, chỉ có xác định rõ chủ sở hữu thì đồng vốn mới được sử dụng hợp lý
và có hiệu quả cao Cần phải phân biệt giữa quyền sở hữu và quyền sử dụng vốn, đó là hai quyền khác nhau Tuy nhiên, tuỳ theo hình thức đầu tư mà người có quyền sở hữu và quyền sử dụng là đồng nhất hoặc riêng rẽ Và dù trong trường hợp nào, người sở hữu vốn vẫn được ưu tiên đảm bảo quyền lợi
và được tôn trong quyền sở hữu của mình Đây là một nguyên tắc để huy động và quản lý vốn” [2]
“Thứ tƣ: Phải xem xét về yếu tố thời gian của đồng vốn, điều này có nghĩa là
vốn có giá trị về mặt thời gian Trong điều kiện cơ chế thị trường, phải xem xét yếu tố thời gian vì ảnh hưởng sự biến động của giá cả, lạm phát nên giá trị của đồng tiền ở mỗi thời kỳ là khác nhau” [2]
“Thứ năm: Vốn phải được tập trung tích tụ đến một lượng nhất định mới có
thể phát huy được tác dụng Doanh nghiệp không chỉ khai thác tiềm năng về vốn của mình mà còn phải tìm cách thu hút nguồn vốn từ bên ngoài như phát hành cổ phiếu, liên doanh liên kết với các doanh nghiệp khác Nhờ vậy vốn của doanh nghiệp sẽ tăng lên và được gom thành món lớn” [2]
Trang 9“Thứ sáu: Vốn được quan niệm là một loại hàng hoá đặc biệt trong nền kinh
tế thị trường Nhưng người có vốn có thể cho vay và những người cần vốn sẽ
đi vay, có nghĩa là mua quyền sử dụng vốn của người có quyền sở hữu vốn Khi đó quyền sở hữu vốn không di chuyển nhượng qua sự vay nợ Người vay phải trả một tỷ lệ lãi suất hay chính là giá của quyền sử dụng vốn., vốn khi bán đi sẽ không mất quyền sở hữu mà chỉ mất quyền sử dụng trong một thời gian nhất định Việc mua này diễn ra trên thị trường tài chính, giá mua bán tuân theo quan hệ cung- cầu vốn trên thị trường” [2]
“Thứ bảy; Vốn không chỉ được biểu biện bằng tiền của những tài sản hữu
hình mà nó còn biểu hiện giá trị của những tài sản vô hình như nh•n hiệu, bản quyền, phát minh sáng chế, bí quyết công nghệ, vị trí địa lý kinh doanh… Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, sự tiến bộ của khoa học công nghệ thì những tài sản vô hình ngày càng phong phú và đa dạng, giữ vai trò quan trọng trong việc tạo ra khả năng sinh lợi của doanh nghiệp Do vậy, tất cả các tài sản này phải được lượng hoá để quy về giá trị Việc xác định chính xá giá trị của các tài sản nói chung và các tài sản vô hình nói riêng là rất cần thiết khi góp vốn đầu tư liên doanh, khi đánh giá doanh nghiệp, khi xác định giá trị để phát hành cổ phiếu” [2]
Những đặc trưng trên cho thấy rằng vốn kinh doanh được sử dụng cho sản xuất kinh doanh tức là mục đích tích luỹ chứ không phải là mục đích tiêu dùng như một số quỹ tiền tệ khác trong doanh nghiệp Vốn kinh doanh được ứng ra trước khi hoạt động sản xuất kinh doanh được bắt đầu Và sau một chu
kỳ hoạt động vốn kinh doanh phải được thu về để sử dụng cho các chu kỳ hoạt động tiếp theo
1.1.2 Phân loại vốn
1.1.2.1 Phân loại vốn theo nguồn hình thành
a) Vốn chủ sở hữu:
Trang 10“Vốn chủ sở hữu là số vốn của các chủ sở hữu, các nhà đầu tư góp vốn
và doanh nghiệp không phải cam kết thanh toán, do vậy vốn chủ sở hữu không phải là một khoản nợ” [3]
* Vốn pháp định:
“Vốn pháp định là số vốn tối tiểu phải có để thành lập doanh nghiệp do pháp luật quy định đối với từng ngành nghề Đối với doanh nghiệp Nhà nước, nguồn vốn này do ngân sách nhà nước cấp” [3]
* Vốn tự bổ sung:
“Thực chất nguồn vốn này là số lợi nhuận chưa phân phối (lợi nhuận lưu giữ) và các khoản trích hàng năm của doanh nghiệp như các quỹ xí nghiệp (quỹ đầu tư phát triển, quỹ dự phòng tài chính, quỹ phúc lợi…)”[3]
* Vốn chủ sở hữu khác: Thuộc nguồn này gồm khoản chênh lệch do đánh giá lại tài sản, do chênh lệch tỷ giá ngoại tệ, do được ngân sách cấp kinh phí, do các đơn vị phụ thuộc nộp kinh phí quản lý và vốn chuyên dùng xây dựng cơ bản
b) Vốn huy động của doanh nghiệp
“Đối với một doanh nghiệp hoạt động trong nền kinh tế thị trường, vốn chủ sở hữu có vai trò rất quan trọng nhưng chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn Để đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp phải tăng cường huy động các nguồn vốn khác dưới hình thức vay nợ, liên doanh liên kết, phát hành trái phiếu và các hình thức khác” [3]
Trang 11- “Vốn vay trên thị trường chứng khoán Tại những nền kinh tế có thị trường chứng khoán phát triển, vay vốn trên thị trường chứng khoán là một hình thức huy động vốn cho doanh nghiệp Doanh nghiệp có thể phát hành trái phiếu, đây là một công cụ tài chính quan trọng dễ sử dụng vào mục đích vay dài hạn đáp ứng nhu cầu vốn sản xuất kinh doanh Việc phát hành trái phiếu cho phép doanh nghiệp có thể thu hút rộng rãi số tiền nhàn rỗi trong xã hội để mở rộng hoạt động kinh doanh của mình” [3]
* Vốn liên doanh liên kết:
“Doanh nghiệp có thể kinh doanh, liên kết, hợp tác với các doanh nghiệp khác để huy động thực hiện mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh Đây là một hình thức huy động vốn quan trọng vì hoạt động tham gia góp vốn liên doanh, liên kết gắn liền với việc chuyển giao công nghệ thiết bị giữa các bên tham gia nhằm đổi mới sản phẩm, khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Doanh nghiệp cũng có thể tiếp nhận máy móc, thiết bị nếu hợp đồng liên doanh quy định góp vốn bằng máy móc thiết bị” [3]
* Vốn tín dụng thương mại:
“Tín dụng thương mại là các khoản mua chịu từ người cung cấp hoặc ứng trước của khách hàng mà doanh nghiệp tạm thời chiếm dụng Tín dụng thương mại luôn gắn với một luồng hàng hoá dịch vụ cụ thể, gắn với một quan hệ thanh toán cụ thể nên nó chịu tác động của cơ chế thanh toán, của chính sách tín dụng khách hàng mà doanh nghiệp được hưởng Đây là phương thức tài trợ tiện lợi, linh hoạt trong kinh doanh và nó còn tạo khả năng mở rộng các quan hệ hợp tác kinh doanh một cách lâu bền Tuy nhiên các khoản tín dụng thương mại thường có thời hạn ngắn nhưng nếu doanh nghiệp biết quản lý một cách khoa học nó có thể đáp ứng phần nào nhu cầu vốn lưu động cho doanh nghiệp” [3]
* Vốn tín dụng thuê mua:
“Trong hoạt động kinh doanh, tín dụng thuê mua là một phương thức giúp cho các doanh nghiệp thiếu vốn vẫn có được tài sản cần thiết sử dụng
Trang 12vào hoạt động kinh doanh của mình Đây là phương thức tài trợ thông qua hợp đồng thuê giữa người thuê và người cho thuê Người thuê được sử dụng tài sản và phải trả tiền thuê cho người cho thuê theo thời hạn mà hai bên thoả thuận, người cho thuê là người sở hữu tài sản” [3]
1.1.2.2 Phân loại vốn theo phương thức chu chuyển
a) Vốn cố định:
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, sự vận động của vốn cố định được gắn liền với biểu hiện vật chất của nó là tài sản cố định Vì vậy, việc nghiên cứu về nguồn vốn cố định trước hết phải dựa trên cơ sở tìm hiểu về tài sản cố định
kỳ một bộ phận nào thì cả hệ thống không thể hoạt động được, nếu thoả mãn đồng thời cả ba tiêu chuẩn dưới đây thì được coi là tài sản cố định:
- Chắc chắn thu được lợi ích kinh tế trong tương lai từ việc sử dụng tài sản đó;
- Có thời gian sử dụng trên 1 năm trở lên;
- Nguyên giá tài sản phải được xác định một cách tin cậy và có giá trị
từ 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng) trở lên [12; tr7]
“Trường hợp một hệ thống gồm nhiều bộ phận tài sản riêng lẻ liên kết với nhau, trong đó mỗi bộ phận cấu thành có thời gian sử dụng khác nhau và nếu thiếu một bộ phận nào đó mà cả hệ thống vẫn thực hiện được chức năng hoạt động chính của nó nhưng do yêu cầu quản lý, sử dụng tài sản cố định đòi hỏi phải quản lý riêng từng bộ phận tài sản thì mỗi bộ phận tài sản đó nếu
Trang 13cùng thoả mãn đồng thời ba tiêu chuẩn của tài sản cố định được coi là một tài sản cố định hữu hình độc lập” [4]
Muốn nâng cao hiệu quả sử dụng của chúng cần thiết phải phân loại tài sản cố định
* Căn cứ vào tính chất tham gia của tài sản cố định trong doanh nghiệp thì tài sản cố định được phân loại thành:
- Tài sản dùng cho mục đích kinh doanh Loại này Bao gồm tài sản cố định hữu hình và tài sản cố định vô hình:
+ Tài sản cố định hữu hình: là những tư liệu lao động chủ yếu được biểu hiện bằng các hình thái vật chất cụ thể như nhà xưởng, máy móc thiết bị, phương tiện vận tải, các vật kiến trúc…Những tài sản cố định này có thể là từng đơn vị tài sản có kết cấu độc lập hoặc là một hệ thống gồm nhiều bộ phận tài sản liên kết với nhau để thực hiện một hay một số chức năng nhất định trong quá trình sản xuất kinh doanh
+ Tài sản cố định vô hình: là những tài sản không có hình thái vật chất
cụ thể, thể hiện một lượng giá trị đã được đầu tư có liên quan trực tiếp đến nhiều chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp như chi phí thành lập doanh nghiệp, chi phí về đất sử dụng, chi phí mua bằng sáng chế, phát minh hay nhãn hiệu thương mại…
* Vốn cố định của doanh nghiệp:
“Việc đầu tư thành lập một doanh nghiệp bao gồm việc xây dựng nhà xưởng, nhà làm việc và quản lý, lắp đặt các hệ thống máy móc thiết bị chế tạo sản phẩm, mua sắm các phương tiện vận tải,…Khi các công việc được hoàn thành và bàn giao thì doanh nghiệp mới có thể bắt đầu tiến hành sản xuất được Như vậy vốn đầu tư ban đầu đó đã chuyển thành vốn cố định của doanh nghiệp.Vậy, vốn cố định của doanh nghiệp là một bộ phận của vốn đầu tư ứng trước về tài sản cố định; đặc điểm của nó là luân chuyển dần dần từng phần trong nhiều chu kỳ sản xuất và hoàn thành một vòng tuần hoàn khi tài sản cố định hết thời hạn sử dụng Vốn cố định của doanh nghiệp đóng vai trò quan
Trang 14trọng trong sản xuất kinh doanh Việc đầu tư đúng hướng tài sản cố định sẽ mang lại hiệu quả và năng suất rất cao trong kinh doanh, giúp cho doanh nghiệp cạnh tranh tốt hơn và đứng vững trong thị trường” [3]
b) Vốn lưu động:
* Tài sản lưu động:
“Trong quá trình sản xuất kinh doanh bên cạnh tài sản cố định, doanh nghiệp luôn có một khối lượng tài sản nhất định nằm rải rác trong các khâu của quá trình sản xuất như dự trữ chuẩn bị sản xuất, phục vụ sản xuất, phân phối, tiêu thụ sản phẩm, đây chính là tài sản lưu động của doanh nghiệp Đối với các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, giá trị của tài sản lưu động thường chiếm 50% -70% tổng giá trị tài sản.Tài sản lưu động chủ yếu nằm trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và là các đối tượng lao động Đối tượng lao động khi tham gia vào quá trình sản xuất không giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu Bộ phận chủ yếu của đối tượng lao động sẽ thông qua quá trình sản xuất tạo thành thực thể của sản phẩm, bộ phận khác sẽ hao phí mất mát đi trong quá trình sản xuất Đối tượng lao động chỉ tham gia vào một chu kỳ sản xuất do đó toàn bộ giá trị của chúng được dịch chuyển một lần vào sản phẩm và được thực hiện khi sản phẩm trở thành hàng hoá.Đối tượng lao động trong các doanh nghiệp được chia thành hai thành phần: một bộ phận là những vật tư dự trữ đảm bảo cho quá trình sản xuất được liên tục, một bộ phận là những vật tư đang trong quá trình chế biến (sản phẩm dở dang, bán thành phẩm,…) cùng với các công cụ, dụng cụ, phụ tùng thay thế được dự trữ hoặc sử dụng, chúng tạo thành tài sản lưu động nằm trong khâu sản xuất của doanh nghiệp” [3]
“Bên cạnh tài sản lưu động nằm trong khâu sản xuất, doanh nghiệp cũng có một số tài sản lưu động khác nằm trong khâu lưu thông, thanh toán
đó là các vật tư phục vụ quá trình tiêu thụ, là các khoản hàng gửi bán, các khoản phải thu,… Do vậy, trước khi bước vào sản xuất kinh doanh các doanh nghiệp cần có một lượng vốn thích đáng để đầu tư vào những tài sản ấy, số
Trang 15tiền ứng trước về tài sản đó được gọi là vốn lưu động của doanh nghiệp” [3;
tr83]
* Vốn lưu động:
Vốn lưu động luôn được chuyển hoá qua nhiều hình thức khác nhau, bắt đầu từ hinh thái tiền tệ sang hình thái dự trữ vật tư hàng hoá và lai quay
trở về hình thái tiền tệ ban đầu của nó Vì quá trình sản xuất kinh doanh diễn
ra liên tục cho nên vốn lưu động cũng tuần hoàn không ngừng có tính chất
chu kỳ thành sự chu chuyển của vốn
Vậy, vốn lưu động của doanh nghiệp là số tiền ứng trước về tài sản lưu động nhằm đảm bảo cho quá trình sản xuất của doanh nghiệp được thực hiện
thường xuyên, liên tục [3; tr84]
Căn cứ vào vai trò từng loại vốn lưu động trong quá trình sản xuất kinh doanh, vốn lưu động bao gồm:
- Vốn lưu động trong khâu dự trữ sản xuất: là bộ phận vốn dùng để mua nguyên vật liệu, phụ tùng thay thế dự trữ và chuẩn bị sản xuất
- Vốn lưu động trong khâu sản xuất: là bộ phận vốn trực tiếp phục vụ cho giai đoạn sản xuất như: sản phẩm dở dang, nửa thành phẩm tự chế, chi
phí chờ phân bổ
- Vốn lưu động trong khâu lưu thông: là bộ phận trực tiếp phục vụ cho giai đoạn lưu thông như thành phẩm, vốn tiền mặt
Căn cứ vào hình thái biểu hiện vốn lưu động bao gồm:
- Vốn vật tư hàng hoá: là các khoản vốn lưu động có hình thái biểu hiện bằng hiện vật cụ thể như nguyên nhiên vật liệu, sản phẩm dở dang, bán thành
phẩm, thành phẩm
- Vốn bằng tiền: bao gồm các khoản vốn tiền tệ như tiền mặt tồn quỹ, tiền gửi ngân hàng, các khoản vốn trong thanh toán, các khoản đầu tư ngắn
hạn
1.1.2.3 Phân loại vốn theo thời gian huy động và sử dụng
a Nguồn vốn thường xuyên: Là nguồn vốn có tính chất ổn định,có thể
Trang 16sử dụng trong thời gian dài, bao gồm: Nguồn vốn chủ sở hữu và các khoản
nợ dài hạn Nguồn vốn này thường phục vụ như cầu đầu tư, mua sắm TSCĐ
và TSLĐ thường xuyên, cần thiết
b Nguồn vốn tạm thời: Là nguồn vốn có tính chất ngắn hạn (dưới 1 năm) mà doanh nghiệp có thể sử dụng để đáp ứng các nhu cầu về vốn có tính chất tạm thời, bất thường phát sinh trong hoạt động SXKD của doanh nghiệp bao gồm các khoản vay ngắn hạn ngân hàng và các khoản nợ ngắn hạn khác
1.1.2.4 Phân loại theo phạm vi huy động vốn
a Nguồn vốn bên trong doanh nghiệp: Là nguồn vốn có thể huy động được từ bản thân doanh nghiệp Đây là nguồn do doanh nghiệp chủ động, không bị phụ thuộc vào bên ngoài và có ưu điểm là chi phí vốn thấp, thời gian sử dụng dài tuy nhiên hạn chế của phương thức này quy mô vốn nhỏ và
có giới hạn nhất định Nguồn vốn này có thể được huy động từ các nguồn sau:
- Lợi nhuận giữ lại để tái đầu tư: Hàng năm, doanh nghiệp có thể sử dụng một phần lợi nhuận sau thuế để bổ sung tăng vốn, tự đáp ứng nhu cầu đầu tư tăng trưởng của doanh nghiệp
- Quỹ khấu hao TSCĐ: là một nguồn tài trợ rất quan trọng đối với doanh nghiệp Quỹ này phản ánh độ lớn của các khoản khấu hao tài sản cố định và gián tiếp phản ánh tốc độ đổi mới của doanh nghiệp Nếu doanh nghiệp có điều kiện khấu hao nhanh tài sản cố định của mình thì doanh nghiệp có thế đẩy nhanh việc hiện đại hoá máy móc, dây chuyền công nghệ nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm và từ đó càng có điều kiện chiếm lĩnh thị trường Doanh nghiệp cần coi đây là một nguồn vốn cơ bản để có biện pháp quản lý và khai thác có hiệu quả
Trong quá trình quản lý, lãnh đạo doanh nghiệp có thể điều chỉnh thời điểm và thời gian khấu hao tài sản cố định,tuy nhiên, việc điều chỉnh khấu hao không thể làm tuỳ tiện mà phải trên cơ sở kế hoạch tài chính dài hạn và ngắn hạn đã được xây dựng trước và phù hợp quy định cuả pháp luật, vì điều
Trang 17chỉnh tăng khấu hao tài sản cố định sẽ dẫn đến tăng chi phí kinh doanh khấu hao tài sản cố định làm tăng giá thành sản phẩm do đó cần phải được điều chỉnh phù hợp và đảm bảo lợi ích của doanh nghiệp
b Nguồn vốn bên ngoài doanh nghiệp: Là nguồn vốn mà doanh nghiệp có thể huy động từ bên ngoài Nguồn vốn này có thể được huy động từ:
- Cổ phiểu thường và việc huy động vốn bằng phát hành cổ phiếu thường
“Vốn qua phát hành cổ phiếu Gọi vốn qua phát hành cổ phiếu là hình thức doanh nghiệp được cung ứng vốn trực tiếp từ thị trường chứng khoán Khi có cầu về vốn và lựa chọn hình thức này, doanh nghiệp tính toán và phát hành cổ phiếu, bán trên thị trường chứng khoán Hình thức cung ứng vốn này
có đặc trưng cơ bản là tăng vốn mà không làm tăng nợ của doanh nghiệp bởi những người sở hữu cổ phiếu trở thành cổ đông của doanh nghiệp Vì lẽ này nên các nhà quản trị học coi hình thức gọi hùn vốn qua phát hành cổ phiếu là nguồn cung ứng nội bộ Tuy nhiên, không phải mọi doanh nghiệp được phép khai thác nguồn vốn này mà chỉ những doanh nghiệp được phép phát hành
cổ phiếu (công ty cổ phần, doanh nghiệp nhà nước có quy mô lớn)” [5]
- Cổ phiểu ưu đãi: Là chứng chỉ xác nhận quyền sở hữu trong công ty
cổ phần đồng thời cho phép người nắm giữ được hưởng một số quyền lợi ưu đãi hơn so với cổ đông thường
- Vay dài hạn gồm vay ngân hàng thương mại thời hạn dài và các tổ chức tín dụng khác; phát hành trái phiếu doanh nghiệp hoặc thuê tài chính
1.1.3 Vai trò của vốn đối với sản xuất kinh doanh
Để tổ chức vận hành doanh nghiệp dù quy mô lớn hay nhỏ doanh nghiệp cũng phải có vốn, đây là điều kiện bắt buộc cho sự ra đời và phát triển của các doanh nghiêp
Về mặt nguyên tắc: khi muốn thành lập doanh nghiệp thì điều kiện đầu tiên là phải có một lượng vốn nhất định, lượng vốn đó tối thiểu phải
Trang 18bằng lượng vốn pháp định khi đó địa vị pháp lý của doanh nghiệp mới được
xác lập và ngược lại Trong quá trình hoạt động sanr xuất kinh doanh, vốn
của doanh nghiệp không đạt điều kiện do bị sản xuất kinh doanh thua lỗ, mất
vốn sẽ dẫn đến phải phá sản, giải thể, sát nhập…
Về góc độ kinh tế: Vốn là yếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp, dùng để mua sắm trang bị máy móc, dây truyền công nghệ
phục vụ cho hoạt động sản xuất của doanh nghiệp được thường xuyên, liên
tục Quyết định đến năng lực sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và xác
lập vị thế của doanh nghiệp trên thương trường
Vốn cũng là yếu tố quyết định đến việc mở rộng hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Vốn phải được đầu tư đế sinh lời và từ đó doanh nghiệp
có thể tiến hành tái sản xuất mở rộng đưa doanh nghiệp phát triển
1.2 Hiệu quả sử dụng vốn
1.2.1 Quan điểm về hiệu quả sử dụng vốn
Hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được đánh giá trên hai khía cạnh đó là hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội Trong công tác quản
lý điều hành doanh nghiệp, người ta thường quan tâm đến hiệu quả kinh tế
nó phản ánh khả năng tận dụng các nguồn lực của doanh nghiệp để đạt được
kết quả tối ưu với chi phí tối thiểu Công tác phân tích kết quả sử dụng vốn
sẽ giúp doanh nghiệp thấy được hiệu quả đầu tư vốn của mình
“Hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ khai thác, sử dụng và quản lý nguồn vốn làm cho đồng vốn sinh
lời tối đa nhằm mục tiêu cuối cùng của doanh nghiệp là tối đa hoá giá trị tài
Trang 19- Phải quản lý tốt, không để lãng phí, sai mục đích, bị thất thoát
1.2.2 Phương pháp đánh giá hiệu quả sử dụng vốn
* Phương pháp so sánh:
- So sánh giữa kết quả thực hiện kỳ này với kết quả đạt được từ kỳ trước để xem xu hướng biến động của dòng vốn Xem doanh nghiệp tăng trưởng hay sụt giảm trong hoạt động kinh doanh để đưa ra các giải pháp khắc phục trong thời gian tới
- So sánh giữa số thực hiện với số kế hoạch
- So sánh giữa số liệu của doanh nghiệp với số liệu của ngành, của các doanh nghiệp khác
1.2.3 Các chỉ tiêu cơ bản về đánh giá hiệu quả sử dụng vốn
1.2.3.1 Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng toàn bộ vốn kinh doanh
- Chỉ tiêu hiệu suất sử dụng tổng tài sản
Hiệu suất sử dụng tổng tài sản =
Doanh thu Tổng tài sản
Chỉ tiêu này cho biết để có một đồng doanh thu thì tài sản đầu tư là bao nhiêu
- Chỉ tiêu Doanh lợi vốn:
Doanh lợi vốn = Lợi nhuận
Tổng tài sản
Chỉ tiêu này được dùng để đánh giá khả năng sinh lời vốn đầu tư Và cho biết một đồng vốn đầu tư đem đi đầu tư mang lại bao nhiêu lợi nhuận
Doanh lợi vốn chủ sở hữu =
Lợi nhuận Vốn chủ sở hữu
Trang 20Chỉ tiêu này cho thấy khả năng sinh lời của vốn chủ sở hữu, chỉ tiêu này càng lớn càng tốt
các chỉ tiêu trên cho ta một cái nhìn tổng quát về hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp và của từng bộ phận cấu thành nguồn vốn đó là vốn cố định và vốn lưu động
1.2.3.2 Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn cố định
Hiệu suất sử dụng Tài sản cố định =
Doanh thu thuần Nguyên giá BQ Tài sản cố định
Chỉ tiêu này chỉ ra rằng một đồng nguyên giá bình quân tài sản cố định đem lại mấy đồng doanh thu thuần
Suất hao phí Tài sản cố định =
Nguyên giá bq Tài sản cố định
Doanh thu thuần
Chỉ tiêu này phản ánh một đồng nguyên giá TSCĐ tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu thuần Hệ số này càng nhỏ càng tốt
Sức sinh lợi của Tài sản cố định =
Lợi nhuận thuần Nguyên giá bình quân tài sản
cố định
Chỉ tiêu này cho biết để có một đồng lợi nhuận thuần thì mất bao nhiêu đồng đồng nguyên giá bình quân TSCĐ Chỉ tiêu này càng lớn chứng
tỏ việc sử dụng TSCĐ là có hiệu quả
Ngoài ra để đánh giá trực tiếp hiệu quả sử dụng vốn cố định, doanh nghiệp sử dụng hai chỉ tiêu sau:
Hiệu suất sử dụng vốn cố định =
Doanh thu thuần VCĐ bình quân
Chỉ tiêu này phản ánh cứ một đồng vốn cố định có thể tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu thuần
Hiệu quả sử dụng VCĐ =
Lợi nhuận Vốn cố định bình quân
Trang 21Cả 2 chỉ tiêu này đều phản ánh khả năng sinh lời của việc sử dụng vốn
cố định
1.2.3.3 Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động
- Chỉ tiêu đảm nhiệm vốn lưu động:
Hệ số đảm nhiệm vốn lưu động =
VLĐ bình quân Doanh thu thuần
Chỉ tiêu này chỉ ra để có một đồng doanh thu thuần thì cần bỏ ra bao nhiêu vốn lưu động
- Chỉ tiêu sức sinh lợi của vốn lưu động:
Sức sinh lời của vốn lưu động =
Lợi nhuận VLĐ bình quân
Để xác định tốc độ và thời gian luân chuyển của vốn lưu động người ta tính như sau:
Số vòng quay của vốn lưu động =
Doanh thu thuần VLĐ bình quân Thời gian của một
Tỷ suất thanh toán ngắn hạn =
Tổng số tài sản lưu động Tổng số nợ ngắn hạn
Tỷ suất này cho thấy khả năng đáp ứng các khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp là cao hay thấp
Tỷ suất thanh toán tức thời =
Tổng số vốn bằng tiền Tổng số nợ ngắn hạn
tỷ suất này lớn hơn 0,5 thì tình hình thanh toán tương đối khả quan, còn nếu nhỏ hơn 0,5 thì doanh nghiệp có thể gặp khó khăn trong thanh toán
Trang 22công nợ
Số vòng quay các khoản phải thu =
Tổng doanh thu bán chịu Bình quân các khoản phải thu
Chỉ tiêu này chỉ ra mức hợp lý của các khoản phải thu, công tác thu hồi nợ
Thời gian một vòng quay các khoản phải thu =
Thời gian kỳ phân tích
Số vòng quay các khoản phải thu
Công thức này chỉ ra cần bao nhiêu thời gian để thu hồi được công nợ Trong tổ chức điều hành doanh nghiệp việc quản lý và sử dụng vốn luôn có nhiều nguyên nhân tác động Do vậy, khi xem xét hiệu quả sử dụng vốn thì chúng ta phải lọc ra xem những yếu tố nào có ảnh hưởng trực tiếp và yếu tố nào tác động gián tiếp tới việc sử dụng vốn để có giải pháp thích hợp
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới sử dụng vốn của doanh nghiệp
1.3.1 Các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp 1.3.1.1 Chu kỳ sản xuất
Đây là nội dung quan trọng có ảnh hưởng và tác động trực tiếp tới việc
sử dụng vốn của công ty Nếu thời gian sản xuất ngắn, doanh nghiệp sẽ thu hồi vốn nhanh và ngược lại doanh nghiệp sẽ ứ đọng vốn và chi phí lãi phải trả cho các món vay
1.3.1.2 Kỹ thuật sản xuất
“Các đặc điểm riêng có về kỹ thuật tác động liên tục tới một số chỉ tiêu quan trọng phản ánh hiệu quả sử dụng vốn cố định như hệ số đổi mới máy móc thiết bị, hệ số sử dụng về thời gian, về công suất.Nếu kỹ thuật sản xuất đơn giản, doanh nghiệp dễ có điều kiện sử dụng máy móc thiết bị, nếu kỹ thuật sản xuất phức tạp, phai trang bị máy móc thiết bị tiên tiến thì buộc công nhân phải có tay nghề, chất lượng nguyên vật liệu cao sẽ làm tăng lợi nhuận trên vốn cố định” [6]
1.3.1.3 Đặc điểm của sản phẩm
Trang 23Để tạo ra sản phẩm thì doanh nghiệp phải bỏ ra rất nhiều chi phí,nếu là sản phẩm trong lĩnh vực tiêu dung thì thường có vòng đời ngắn, thời gian tiêu thụ nhanh dẫn đến tốc độ thu hồi vốn nhanh, doanh nghiệp có thể tái sản xuất nhanh dẫn đến chi phí vốn giảm, doanh nghiệp chủ động sản xuất và có cơ hội chiếm lĩnh phân khúc thị trường của mình
1.3.1.4 Tác động của thị trường
Thị trường có tác động rất lớn tới hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp Nếu thị trường tiêu thụ sản phẩm ổn định doanh nghiệp có thị phần thì sẽ là yếu tố thúc đẩy cho doanh nghiệp đẩy mạnh sản xuất cung ứng hàng hóa ra thị trường còn sản phẩm chỉ được cung ứng ra theo thời điểm nhất định nào đó thì sẽ tạo khó khăn cho việc quản lý và sử dụng vốn của doanh nghiệp một cách thiếu chủ động
1.3.1.5 Trình độ đội ngũ cán bộ và lao động sản xuất
* Trình độ quản lý của nhà lãnh đạo:
Nếu người lãnh đạo có trình độ quản lý yếu sẽ rất dễ xảy ra thất thoát vốn và ngược lại nếu quản lý tốt sẽ tác động trực tiếp đến sự phát triển của doanh nghiệp làm tăng hiệu quả sử dụng vốn, lợi nhuận tăng trưởng mở ra nhiều cơ hội phát triển cho doanh nghiệp
* Về trình độ tay nghề của người lao động:
Cán bộ công nhân viên sản xuất có trình độ tay nghề cao giúp cho việc vận hành khai thác được hết công suất của dây truyền làm tăng năng suất nâng cao hiệu quả lao động
1.3.1.6 Trình độ tổ chức sản xuất kinh doanh
Quá trình diễn ra hoạt động sản xuất của đơn vị kinh doanh phải trải qua các giai đoạn là cung cấp đầu vào, sản xuất và bán hàng:
- Cung cấp nguyên liệu là quá trình chuẩn bị các yếu tố đầu vào cho sản xuất như hoạt động mua hàng hóa nguyên vật liệu về nhập kho Để doanh nghiệp tổ chức tốt hoạt động sản xuất của mình thì phải kết hợp tối ưu các yếu
tố con người, nguyên liệu đầu vào cho sản phẩm Nguyên liệu hàng hoá đầu
Trang 24vào phải được đảm bảo với chi phí tối ưu, quá trình sản xuất phải không bị ngắt quãng
- Khâu sản xuất trong giai đoạn này phải sắp xếp dây truyền sản xuất hợp lý giúp cho việc khai thác được tối đa công suất của máy móc
- Tiêu thụ và bán hàng hóa sản phẩm là khâu quan trọng quyết định đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp Vì vậy, doanh nghiệp phải tiết giảm được chi phí để có giá bán tối ưu đồng thời cũng phải có những giai pháp phát triển và thúc đẩy thị trường, đẩy mạnh bán hàng thu hồi vốn nhanh chóng
1.3.1.7 Trình độ quản lý và sử dụng các nguồn vốn
Việc sử dụng vốn của doanh nghiệp có đạt hiệu quả hay không phụ thuộc rất nhiều vào công tác quản trị của doanh nghiệp đó Để quản lý người
ta sử dụng công cụ hạch toán kế toán, nếu việc hạch toán kế toán thực hiện tốt
sẽ giúp có các số liệu phản ánh đẩy đủ hiện trạng giúp cho ban giám đốc chủ động trong tài chính đồng thời ra quyết định chính xác kịp thời có lợi nhất cho doanh nghiệp Việc kiểm soát nội bộ doanh nghiệp luôn gắn với tính chất tổ chức sản xuất của doanh nghiệp, vì vậy thông qua kế toán để theo sõi việc quản lý vốn của doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, yếu kém để có hướng khắc phục
1.3.1.8 Chính sách kinh tế của Nhà nước đối với doanh nghiệp
Các chính sách vĩ mô, chủ trương phát triển ngành công nghiệp từng thời kỳ, giai đoạn khác nhau của Nhà nước sẽ dẫn đến tăng hoặc giảm hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp Do vậy lãnh đạo phải am hiểu luật pháp, quan tâm nghiên cứu chính sách để áp dụng vào doanh nghiệp để tối đa hóa đồng vốn của mình
Trang 25
CHƯƠNG 2:
PHÂN TÍCH ĐÁNH GIÁTHỰC TRẠNG HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN TẠI
CÔNG TY CỔ PHẦN BAO BÌ TIỀN PHONG
2.1 Giới thiệu chung về Công ty Cổ phần bao bì Tiền Phong
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Công ty Cổ phần bao bì Tiền Phong
- Tên công ty: Công ty Cổ phần Bao bì Tiền Phong
- Tên viết tắt: TIFOPACK
- Logo Công ty Cổ phần Bao bì Tiền Phong
- Trụ sở: Số 2, An Đà, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng
- Điện thoại: 0313.640.551; Fax: 0313.640.932;
Email: bbtienphonganda@yaho.com
- Ngày thành lập: 19/3/1993
- Ngành nghề chính: Sản xuất bao bì nhựa PP, bao bì xi măng, giấy
các loại, màng phức hợp và các sản phẩm nhựa khác
- Đội ngũ nhân viên: tính đến tháng 12/2015 là 130 nguời trong đó:
Trang 26Về chất lượng nguồn nhân lực của Công ty là khá tốt, các cán bộ công nhân viên được đào tạo, làm việc lâu năm, có kinh nghiệm
Công ty Cổ phần Bao bì Tiền Phong tiền thân là Công ty Liên doanh bao bì Vinapac được thành lập vào năm 1993 giữa các đối tác gồm: Công ty Nhựa thiếu niên Tiền phong (Tifoplast)- Việt Nam; Sumittomo Corp- Nhật Bản; Tego Sendirian Berhad- Malaysia
Với công suất thiết kế là 25 triệu bao/năm, được sản xuất trên dây truyền công nghệ hiện đại của: Đức, Áo, Ấn độ và Nhật Bản, kết hợp với đội ngũ lao động có kinh nghiệm, kỹ thuật lành nghề tạo ra những sản phẩm có chất lượng cao thỏa mãn nhu cầu của quý khách hàng
Công ty đang cung cấp sản phẩm vỏ bao cho nhiều công ty lớn như: xi măng Chinfon, xi măng Thăng Long, xi măng Sông Thao, xi măng POMIHOA công ty nhựa và hóa chất TPC Vina, SIK Việt Nam, Dainichi Color Việt Nam, 3H Vinacom Bề dày kinh nghiệm trong ngành sản xuất bao bì, Công ty Cổ phần Tiền Phong luôn là nhà cung cấp đáng tin cậy sau thời gian hoạt động đến nay Công ty đã phát triển với số vốn đầu tư hiện nay là 10.000.000.000đ
2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ và bộ máy quản lý của Công ty
2.1.2.1 Chức năng, nhiệm vụ
- Chức năng:Kinh doanh các ngành nghề trong phạm vi đăng ký và phù hợp
với quy định của pháp luật
- Sản xuất các sản phẩm bao bì nhưa, bao bì xi măng, bao bì giấy và màng nhựa
Sản phẩm và dịch vụ chủ yếu: sản xuất bao bì các loại tiêu dùng nội địa và xuất khẩu, mua bán máy móc thiết bị, phụ tùng ngành may
- Nhiệm vụ: Là đơn vị sản xuất kinh doanh, hoạt động theo Luật Doanh
nghiệp, có nhiệm vụ xây dựng và thực hiện kế hoạch SXKD, bảo toàn và phát triển vốn Thực hiện chế độ hạch toán kinh tế, tự bù đắp chi phí, tự trang trải vốn và làm tròn nghĩa vụ nộp thuế và các khoản nộp khác theo quy định của pháp luật.Chăm lo đời sống vật chất và tinh thần cho người lao động của
Trang 27Công ty, giữ ổn định chính trị, trật tự an toàn trong SXKD, đảm bảo Công ty
an toàn về mọi mặt
2.1.2.2 Bộ máy quản lý của công ty
Hình 2.1 Cơ cấu tổ chức của Công ty Cổ phần bao bì Tiền Phong
Giám đốc: Là người được bầu ra trong cuộc họp Hội đồng quản trị
Giám đốc là người đại diện của công ty trước pháp luật và cũng là người thay mặt công ty chịu trách nhiệm trước pháp luật và trước hội đồng quản trị về việc thực hiện quyền và nhiệm vụ được giao, về kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty
Phòng Tài chính - Nhân sự: quản lý tài chính kế toán của công ty,
hướng dẫn, kiểm soát việc thực hiện chế độ kế toán, định kỳ báo cáo tình hình tài chính kế toán lên các cấp lãnh đạo của công ty xem xét và quyết định đồng thời quản lý điều hành lĩnh vực sắp xếp tổ chức bộ máy sản xuất kinh doanh của công ty, công tác cán bộ, điều hành các công việc cụ thể liên quan đến cán bộ công nhân viên của công ty như tuyển dụng, đào tạo nghiệp vụ, lương thưởng
Trang 28Phòng Quản lý chất lƣợng: Phòng quản lý chất lượng giúp cho giám
đốc quản lý các mặt về chất lượng của sản phẩm Quy trình quản lý chất lượng sản phẩm được áp dụng riêng cho từng loại sản phẩm cụ thể; song tất
cả đều được hệ thống hóa thông qua quy trình bảng biểu ghi nhận rõ ràng các nội dung từng loại sản phẩm
Phòng Kỹ thuật sản xuất: Được giao xây dựng một trình tự thống
nhất trong việc kiểm soát toàn bộ quá trình sản xuất, để sao cho tất cả các yếu
tố, điều kiện tham gia trong quá trình sản xuất đều được kiểm tra Nhằm đảm bảo cho quá trình sản xuất và chất lượng sản phẩm luôn ổn định
Phòng kinh doanh: Được phân công thực hiện các chức năng (thông
qua hệ thống hồ sơ) theo dõi thực hiện các hợp đồng, báo giá, tiếp nhận theo yêu cầu của khách hàng; đơn phiếu xuất kho, phiếu chấp nhận sản phẩm và quản trị bán hàng, dự trữ nguyên vật liệu, đáp ứng đầy đủ nguyên vật liệu
phục vụ sản xuất của công ty được liên tục
2.1.3 Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty giai đoạn 2011 –
2015
Trong giai đoạn 2011 – 2015, tình hình hoạt động SXKD của Công ty diễn ra trong sự biến động suy thoái của nền kinh tế thế giới Kinh tế trong nước gặp nhiều khó khăn như tỷ lệ lạm phát tăng cao, giá cả vật tư leo thang, chính phủ ban hành chính sách thắt chặt tiền tệ, đồng thời cắt giảm mạnh đối với cho vay bất động sản là ngành mũi nhọn ảnh hưởng đến tình hình tiêu thụ
xi măng, kéo theo sự sụt giảm về sản lượng vỏ bao bì xi măng, dẫn đến sự cạnh tranh về thị trường vốn đã khắc nghiệt nay càng nghiêm trọng hơn Trước tình hình đó, ban quản lý công ty luôn sát sao nắm tình hình đưa ra chính sách, kế hoạch phù hợp, kịp thời cho từng thời điểm Bên cạnh đó cùng với sự năng động sáng tạo của ban giám đốc chỉ đạo điều hành cán bộ công nhân viên phát huy hết tiềm năng sẵn có, tận dụng khai thác hết năng lực thiết
bị, nhằm giảm tối đa chi phí Vì vậy Công ty đã vượt qua khó khăn, phát triển
Trang 29và tăng trưởng ổn định, hoàn thành vượt mức các chỉ tiêu kế hoạch đã được đại hội đồng cổ đông thông qua, cụ thể:
Bảng 2.1 Kết quả SXKD giai đoạn 2011 - 2015
(Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh Công ty )
2.2 Thực trạng việc sử dụng vốn tại Công ty Cổ phần bao bì Tiền Phong
2.2.1 Đặc điểm cơ cấu tài sản – nguồn vốn
Trang 30(ĐVT: 1000 VND)
T
T Chỉ tiêu 2011 2012 2013 2014 2015
So sánh 2012/2011 2013/2012 2014/2013 2015/2014
Tuyệt đối
Tươn
g đối (%)
Tuyệt đối
Tươn
g đối (%)
Tuyệt đối
Tươn
g đối (%)
Tuyệt đối
Tươn
g đối (%)
Trang 31Sơ đồ 2.1 Cơ cấu tài sản – nguồn vốn giai đoạn 2011 – 2015
Qua bảng 2.2 và Sơ đồ cơ cấu tài sản – nguồn vốn của công ty trong giai đoạn 2011 – 2015, có thể thấy:
Về tài sản ngắn hạn thì mức tăng trưởng hàng năm là không đồng nhất, năm 2012 đã tăng 5.012.702 nghìn đồng tương đương tăng 21.76% so với năm 2011 Tới năm 2013 thì số tài sản ngắn hạn tăng thêm 3.862.265 nghìn đồng tương đương tăng 13.77%, tuy rằng số tài sản ngắn hạn vẫn tăng nhưng
sự gia tăng này đã có phần giảm so với năm trước Sang tới năm 2014 thì độ gia tăng đã không còn, khi số tài sản ngắn hạn của công ty giảm 1.749.471 nghìn đồng tương đương là -5.48% Cho tới năm 2015 thì số tài sản ngắn hạn
đã quay trở lại với mức tăng lên là 3.359.082 nghìn đồng tương đương là 11.14%
Đối với Tài sản dài hạn của công ty thì giá trị so với tài sản ngắn hạn không được lớn, cùng với đó là mức tăng hầu như là không có trong giai đoạn
2011 – 2015 Với năm 2012 số tài sản dài hạn so với 2011 là giảm đi 627.121 nghìn đồng tương đương -15.28% Năm 2013 mức giảm là 322.124 nghìn đồng, tương đương -9.27%, tỷ lệ giảm đã hạ bớt Và tới năm 2014 thì số tài
Trang 32sản dài hạn này mới tăng lên được 270.456 nghìn đồng tương đương tăng 8.57% so với năm 2013 Năm 2015 vừa qua là có mức tăng lớn nhất với 10.066.828 nghìn đồng so với năm 2014, tương đương tăng với con số đáng
kể là 293.92%
Xem về mặt cơ cấu tài sản thì toàn bộ vốn cố định và vốn lưu động của Công ty trong 5 năm vừa qua có xu hướng tăng vào 2 năm cuối 2014 và 2015, còn 3 năm đầu 2011 – 2013 thì không có sự ổn định và đa phần là giảm Còn xét về nguồn vốn thì nợ phải trả so với năm 2011 là tăng dần với 26.55%, 7.91% và 72.60% trong năm 2015, chỉ riêng năm 2014 là con số này bị giảm với mức 1.748.030 nghìn đồng so với năm 2013 tương đương -10.08% Tuy nhiên, nếu chỉ nhìn vào nợ phải trả thì chưa thể hiện rõ được nguồn vốn của công ty, đối với vốn chủ sở hữu thì qua bảng số liệu , có thể thấy con số này tăng dần theo từng năm Năm 2012 tăng 1.014.417 nghìn đồng so với năm
2011 tương đương à 7.02% Còn sang tới năm 2013 thì con số này đã tăng lên 14.67% so với năm 2012 tương ứng với 2.268.463 nghìn đồng Năm 2014 thì
số lượng này vẫn tăng nhưng mức tăng đã giảm, chỉ còn 1.52% so với năm
2013 tương đương là 269.014 nghìn đồng Nhưng tới năm 2015 thì mức tăng nhanh đã quay trở lại với 2.106.501 nghìn đồng so với năm 2014 và tương đương tăng 11.71%
2.2.2 Thực trạng sử dụng vốn tại Công ty Cổ phần bao bì Tiền Phong
Muốn tổ chức hoạt động sản xuất thì bắt buộc doanh nghiệp phải có tài sản, bao gồm: TSLĐ và khoản đầu tư ngắn hạn; TSCĐ và các khoản đầu tư dài hạn Do đó doanh nghiệp cần phải có vốn để đầu tư, như: vốn ngắn hạn và vốn dài hạn Với Công ty thì việc đầu tư cho máy móc thiết bị cần phải có lượng vốn lớn Vì vậy cần phải xây dựng kế hoạch huy động vốn rõ ràng cho từng thời điểm ưu tiên sử dụng nguồn vồn dài hạn nhằm tối đa hóa lợi ích cho doanh nghiệp Và để xác định Công ty hoạt động như thế nào, nguồn vốn hoạt động có được đảm bảo hay không thì chỉ tiêu đầu tiên cần xác định, đó chính
là xác định được lượng vốn lưu động thường xuyên của công ty
Trang 332.2.2.1 Hiệu quả sử dụng vốn trong hoạt động sản xuất kinh doanh
Vốn lưu động thường xuyên của Công ty được xác định thông qua bảng 2.3, sơ đồ 2.2 dưới đây:
Trang 34(ĐVT: 1000 VND)
TT Chỉ tiêu 2011 2012 2013 2014 2015
So sánh 2012/2011 2013/2012 2014/2013 2015/2014 Tuyệt
đối
Tương đối (%)
Tuyệt đối Tương
đối (%)
Tuyệt đối
Tương đối (%)
Tuyệt đối Tương
đối (%)
-(Nguồn: Báo cáo tài chính của Công ty )
Trang 350 5000000 10000000 15000000 20000000 25000000 30000000
Vốn dài hạn TSCĐ & ĐTDH VLĐ TX
2011 2012 2013 2014 2015
Sơ đồ 2.2 VLĐ thường xuyên của Công ty giai đoạn 2011- 2015
Qua bảng số liệu ta có thể thấy vốn dài hạn của công ty tăng qua từng năm, cụ thể: năm 2012 tăng 900.218 nghìn đồng tương đương 6.18% so với năm 2011, năm 2013 mức tăng lên tới 14.67% so với năm 2012 tương đương tăng 2.268.463 nghìn đồng Tuy nhiên sang năm 2014 thì mức tăng này đã giảm xuống đáng kể chỉ còn 1.52% so với năm 2013 tương đương tăng 269.014 nghìn đồng Và tới năm 2015 thì đạt mức tăng cao nhất trong 5 năm vừa qua với chỉ số tương đối là 40.51% so với 2014 tương đương với con số 7.290.343 nghìn đồng
Riêng về tài sản cố định của công ty thì không có sự ổn định qua các năm, từ 2011 – 2013 là quy trình giảm dần cho tới năm 2014 và 2015 thì mới
có sự tăng trở lại, cụ thể: 2012 giảm 651.318 nghìn đồng so với 2011 tương đương -15.95% Năm 2013 tiếp tục giảm 383.191 nghìn đồng so với năm
2012, tương đương giảm -11.17% Tới năm 2014 số tài sản cố định cũng như đầu tư dài hạn của công ty tăng lên 9.83% so với 2013 tương đương là 299.660 nghìn đồng Còn năm 2015 mức tăng này đạt được con số ấn tượng lên tới 297.53% so với năm 2014 và tương đương tăng 9.961.698 nghìn đồng
Trang 36Nhìn chung, trong 5 năm vốn lưu động thường xuyên của công ty có xu hướng giảm vào 2 năm cuối 2014 và 2015, cụ thể: Trong năm 2012 lượng vốn lưu động thường xuyên tăng 1.551.536 nghìn đồng, tương đương tăng được 14.81% Sang tới năm 2013 thì con số này tăng lên với mức 22.05% so với năm trước tương đương là 2.651.654 nghìn đồng Tuy nhiên quy trình tăng này không còn được giữ vào năm 2014 khi bị giảm -0.21% so với năm 2013 tương đương -30.646 nghìn đồng Tới năm 2015 thì con số này còn giảm nhiều hơn với mức -18.24% so với 2014 tương đương giảm 2.671.355 nghìn đồng
Như vậy, nếu xét về mặt tổng quan chung thì vốn lưu động thường xuyên của công ty là chưa ổn định và điều này có nghĩa là nó không đủ đáp ứng các nhu cầu đầu tư của công ty
Đối với việc sản xuất kinh doanh,không chỉ cần chuẩn bị về máy móc thiết bị mà còn cần phải đảm bảo được nhu cầu về vốn lưu động để đáp ứng được kịp thời cho sản xuất Trên thực tế, đối với Công ty bao bì Tiền Phong thì nhu cầu về vốn lưu động thường xuyên của trong giai đoạn 2011 đến 2015 được xác định dựa trên các số liệu về nợ ngắn hạn, các khoản phải thu cũng như lượng hàng tồn kho Các số liệu này được căn cứ theo bảng 2.4 dưới đây:
Trang 37Tuyệt đối
Tươn
g đối (%)
Tuyệt đối Tương
đối (%) Tuyệt đối
Tương đối (%)
1
Nợ ngắn
hạn 12,583,082 16,068,445 17,340,123 15,592,093 21,727,661 3,485,363 27.70 1,271,678 7.91
1,748,030 -10.08 6,135,568 39.35
-2
các khoản
phải thu 11,272,782 15,987,100 19,230,424 13,359,917 20,525,166 4,714,318 41.82 3,243,324 20.29
5,870,507 -30.53 7,165,249 53.63
-3
Hàng tồn
kho 8,959,732 7,901,161 11,105,662 11,648,566 10,462,600
1,058,571 -11.81 3,204,501 40.56 542,904 4.89
1,185,966 -10.18
-(Nguồn: Báo cáo tài chính của Công ty)
Trang 38Sơ đồ 2.3 Xác định nhu cầu VLĐ thường xuyên của Công ty (2011-2015)
Qua bảng số liệu 2.4 và sơ đồ 2.3 về việc xác định nhu cầu VLĐ thường xuyên của công ty có thể thấy không có sự ổn định, thay đổi tăng giảm thất thường qua các năm, cụ thể:
Về nợ ngắn hạn: Năm 2012 nợ ngắn hạn của công ty tăng 3.485.363 nghìn đồng so với năm 2011, tương đương với mức tăng 27.70% Năm 2013 con số này vẫn tăng nhưng mức tăng chỉ đạt 7.91% so với năm 2012, tương đương với con số 1.271.678 nghìn đồng Bắt đầu sang năm 2014 thì số nợ ngắn hạn của công ty giảm -10.08% so với năm trước (2013) tương đương là -1.748.030 nghìn đồng Năm 2015 thì con số này đã tăng lên đáng kể, tăng 6.135.568 nghìn đồng tương đương với mức tăng 39.35%
Các khoản phải thu của công ty cũng không ổn định qua các năm như trong năm 2012 thì tăng 4.714.318 nghìn đồng tương đương 41.82% so với năm 2011 Năm 2013 tiếp tục tăng với con số 3.243.324 nghìn đồng so với năm 2012 tương đương mức tăng 20.29% Còn riêng 2014 thì giảm -5.870.507 nghìn đồng tương đương -30.53% so với năm trước (2013) Và
Trang 39cũng như mục nợ ngắn hạn của công ty thì vào năm 2015 con số này lại tăng trở lại với mức tăng 53.63% tương đương tăng so với 2014 là 7.165.249 nghìn đồng
Hàng tồn kho: khác với hai chỉ tiêu trên, hàng tồn kho của công ty vào năm 2012 đã giảm so vơi 2011 là 1.058.571 nghìn đồng, tương đương giảm 11.81% Năm 2013 lại tăng cao với 3.204.501 nghìn đồng so với năm 2012 tương đương tăng 40.56% Năm 2014 tiếp tục tăng thêm với 542.904 nghìn đồng, tương đương 4.89% so với 2013 Tới năm 2015 thì con số này giảm mạnh tới 1.185.966 nghìn đồng so với 2014 tương đương giảm được 10.18%
Nhìn chung về việc xác định yêu cầu vốn lưu động thường xuyên thì có
sự tăng giảm không đồng nhất, vào năm 2012 và 2013 so với 2011 thì tăng với mức tăng lần lượt là 2.23% và 66.19% Tới năm 2014 – 2015 thì giảm lần lượt 27.54% và 1.66% tương đương với các con số giảm lần lượt là -3.579.573 nghìn đồng và -156.285 nghìn đồng
Để có cái nhìn rõ hơn về sự biến động này, cần thông qua việc sử dụng vốn cố định tại công ty
2.2.2.2 Hiệu quả sử dụng vốn cố định tại Công ty Cổ phần bao bì Tiền Phong
TSCĐ được hiểu là biểu hiện vật chất của vốn cố định cho nên việc đánh giá cơ cấu tài sản cố định của công ty có tầm quan trọng rất lớn trong việc đánh giá tình hình vốn cố định của doanh nghiệp Qua đó ta có thể thấy rõ hơn công tác đầu tư dài hạn của công ty, về việc năng lực sản xuất của công
ty Cụ thể cơ cấu tài sản cố định của Công ty được thể hiện trong thời gian qua như sau:
Trang 40Bảng 2.5 Cơ cấu TSCĐ của công ty năm 2011
(Nguồn: Báo cáo tài chính của công ty)
Bảng 2.6 Cơ cấu TSCĐ của công ty năm 2012
(Nguồn: Báo cáo tài chính của công ty)
Bảng 2.7 Cơ cấu TSCĐ của công ty năm 2013